“CHỦ NHẬT BUỒN” BẢN TÌNH CA “TUYỆT MẠNG”

BẢN TÌNH CA “TUYỆT MẠNG”

HUYỀN THOẠI VỀ CA KHÚC

“CHỦ NHẬT BUỒN” 

Nhạc sĩ Seress Rézso và ca khúc “Chủ nhật buồn”, nguyên tác tiếng Hung.

http://nghenhac.info/Album/Nhac-tre/7224/Chu-nhat-buon-Nhung-ca-khuc-bat-tu-2-Nhieu-ca-si.html

 “Ca khúc chết người”, “Quốc ca của những kẻ tự tử”, đó là những cái tên mà người đời đã đặt cho bài “Chủ nhật buồn” (Gloomy Sunday, Sombre Dimanche). Nguyên tác tiếng Hungary là Szomorú vasárnap, đây là một ca khúc được liệt vào hàng bất tử trong lịch sử âm nhạc đại chúng thế giới.

Rất nhiều người Việt đã quen thuộc với giai điệu quen thuộc của ca khúc “Chủ nhật buồn”, được nhạc sĩ Phạm Duy viết lời Việt và phổ biến. Thế nhưng ít ai chú ý rằng đó là một bài hát xuất xứ từ Hungary, từng đi chinh phục thế giới qua các phiên bản tiếng Anh – Gloomy Sunday – hay tiếng Pháp – Sombre Dimanche.

Mang tựa gốc là Szomorú vasárnap, từng được mệnh danh là “Ca khúc chết người”, “Quốc ca của những kẻ tự tử”, ngay tại Hungary, bài “Chủ nhật buồn” được xem như thương hiệu tầm cỡ thế giới bậc nhất của Hungary trong âm nhạc, còn tại nước Pháp, vào năm 1999, ca khúc này được bình chọn là bản nhạc tình buồn nhất của thế kỷ XX.

Bài hát u sầu này đã được dịch ra hơn 100 thứ tiếng trên thế giới (trong đó có cả tiếng Việt và Quốc tế ngữ esperanto), thu hút không biết bao nhiêu là đại danh ca của thế giới, từ Billie Holiday, Ray Charles, Ricky Nelson, tại Mỹ, cho đến Sarah Brightman tại Ireland, Björk tại Iceland hay Serge Gainsbourg tại Pháp…, không kể đến các các ca sĩ hát tiếng Nhật, tiếng Hoa, tiếng Hàn…

Một trong những ca sĩ được cho là đã thể hiện hay nhất bài hát này là nữ danh ca Mỹ người da đen Billie Holliday, mà cách thể hiện đầy cảm xúc, đã khiến cho bài hát của cô bị cấm tại Anh Quốc vào năm 1941 vì bị cho là làm nản lòng người nghe vào lúc nước này cần động viên tinh thần dân chúng để chống Phát xít Đức.

Ngoài cách thể hiện đầy u uẩn, ray rứt của Billie Holiday, ca khúc Gloomy Sunday cũng từng được nhiều ca sĩ khác trình bày với một phong cách nhẹ nhàng hơn, chẳng hạn như phiên bản của ca sĩ Mỹ Ricky Nelson, từng nổi tiếng trong giới hát nhạc ‘’đồng quê’’ (country music).

“Chủ nhật buồn” xuất xứ từ một bài thơ… thất tình

Theo thông tín viên Hoàng Nguyễn từ thủ đô nước Hung, ca khúc “Chủ nhật buồn”, nhạc của Seress Rezső, lời thơ của Jávor László và Seress Rezső, ra đời vào giữa thập niên 30 thế kỷ trước tại Budapest. Tất cả xuất phát từ một bài thơ… thất tình của Jávor László, khi đó 26 tuổi, phóng viên hình sự một tờ báo ở Budapest.

Ðó là năm 1933. Chàng trai Jávor László buộc phải chia tay với người yêu, khi đó đã là vợ kẻ khác. Tương truyền, trong buổi hẹn hò bí mật cuối cùng, Jávor tuyên bố chấm dứt hoàn toàn mối quan hệ và đối với chàng, cô gái không còn tồn tại nữa.

Bài thơ “Chủ nhật buồn” đã ra đời như thế, như một kỷ niệm cho mối tình đã chết, đầy tang tóc với câu mở đầu : “Chủ nhật buồn với muôn cành hoa trắng – Anh chờ em với lời kinh cầu”, để rồi khi mối tình không còn và ngày chủ nhật đối với anh chỉ còn là nước mắt và nỗi âu sầu.

Sau khi ra đời, bài thơ không được ai biết tới và tác giả thi phẩm đã đề nghị Seress Rezső, một nhạc sĩ tự học, phổ nhạc cho bài thơ đó. Sau vài tháng, bài hát “Chủ nhật buồn” ra đời, và người nhạc sĩ không hề biết nhạc lý đã phải huýt sáo để nhờ một thanh niên thạo nhạc ghi lại với giá 5 đồng.

Tiếng tăm của bài ca “tuyệt mạng”

Trong khi các tác giả đang buồn bã vì ca khúc không chạy như ý muốn thì đột nhiên, báo chí Hungary loan tin trong vòng 2 tuần liền, đã có hai người tự sát bên bản nhạc “Chủ nhật buồn”. Tháng 11/1935, báo chí Hungary mở cuộc tấn công phê phán ca khúc và gọi nó là “bài ca giết người”.

Lúc đó, báo chí Thụy Sĩ, Ý, Pháp, Ðức bắt đầu viết về “Chủ nhật buồn”, nơi khen, nơi chê, và truyền thông quốc tế bắt đầu gọi ca khúc là “Quốc ca của những kẻ tự tử”. Từ Châu Âu lan sang Bắc Mỹ, tờ New York Times còn loan tin tại Budapest, đã có một làn sóng người nhảy xuống dòng Danube tự tử khi nghe bài hát.

Tất nhiên, đây chỉ là một trong những “huyền thoại đô thị” mà Budapest cũng có không ít, nhưng điều đáng chú ý là cơn sốt “Chủ nhật buồn” khi đó mới có ở một số nước, chứ chưa hề có ở Hungary. Chỉ khi một ông bầu âm nhạc người Pháp sang Budapest để nghe ca khúc, rồi mang bản nhạc về và cho dựng tại Paris, lúc đó cả thế giới mới biết đến Seress, người nhạc sĩ.

“Chủ nhật buồn” bắt đầu chinh phục thế giới bằng cơn sốt như vậy. Cả châu Âu hướng về mốt… đau buồn tập thể, dẫn đến… tự sát, như thế ! Jávor, chàng trai thất tình, bỗng nổi tiếng với bài thơ “Chủ nhật buồn”, đã nói với báo giới khi nghe phong thanh về thành công “chết người” của mình : “Giờ, người ta nghĩ đến tôi như kẻ đào mồ với chiếc xẻng trong tay”.

Giải mã ‘’ma lực’’ của ca khúc ‘’Chủ nhật buồn’’

Người ta nói nhiều đến “Chủ nhật buồn” như một bài ca có ma lực vô cùng đặc biệt, khiến người nghe ảo não, sầu muộn đến độ phải tự tìm đến cái chết. Không thể biết được đâu là sự thật, đâu là chứng cuồng tầm cỡ thế giới, và đâu là món nghề quảng cáo của sự kinh doanh nghề sân khấu.

Quả thực, cạnh thi thể nhiều người tự vẫn, có bản nhạc của ca khúc, nhất là ở Hungary. Nhưng xứ sở này, dù có “Chủ nhật buồn” hay không, cũng đã được liệt vào hàng những quốc gia hàng đầu thế giới trong các thống kê về số người tự sát !

Thời kỳ 1935-36, khi bài hát ra đời, nhân loại đang đứng trước cuộc Thế chiến thứ hai sắp bùng nổ và cuộc khủng hoảng kinh tế đang ở độ trầm trọng. Khi tìm hiểu nguyên do và bản chất của hiện tượng “Chủ nhật buồn”, những luận văn “nặng ký” đã không quên điều đó.

Tuy nhiên, như mọi người đều nhận thấy, giai điệu đơn điệu, lặp đi lặp lại theo cung đô thứ của bài ca, đã thể hiện một cái gì đó đáng kể. Và quả thực, mỗi thời đại đều có một “bài ca chết người” của mình.

Chỉ vài năm sau khi bài thơ của Jávor László ra đời, “Chủ nhật buồn” – kèm giai điệu của Seress Rezső – đã được dịch ra gần 30 thứ tiếng; bản nhạc và những chiếc đĩa hát “Chủ nhật buồn” tràn ngập thị trường thế giới, gieo rắc không khí buồn đau, chết chóc khắp châu Âu, Mỹ, Phi và lan sang cả Trung Quốc…

Thành công của thi phẩm “Chủ nhật buồn” vượt xa mọi mong đợi. Cố nhiên, ngoài sự đau khổ của Jávor László, cần một ai khác phổ nhạc cho những vần thơ tang tóc đó. Ðó là Seress Rezső, một nhạc sĩ tự học, vụng về nhưng thiên tài : từ Quận VII bùn lầy nước đọng của thủ đô Budapest, ông đã có một bài ca được các cây đại thụ trong làng nhạc quốc tế xưng tụng.

Seress Rezső, nhạc sĩ thiên tài nhưng không biết nhạc lý

Seress chào đời năm 1899 trong một gia đình gốc Do Thái và thường được gọi với cái tên “Seress bé nhỏ” vì ông chỉ cao hơn 1m55 chút đỉnh. Cả đời chỉ chơi nhạc buổi tối ở Kulacs và Kispipa, hai tiệm ăn nhỏ và đầy khói thuốc lá ở Budapest, nơi đầu thập niên 30 từng là nơi gặp gỡ của tầng lớp tiểu thị dân nghèo khó.

Như hồi tưởng của người đương thời, chỉ ở giữa tiệm ăn họa chăng còn chút hơi ấm của chiếc lò sưởi gạch màu nâu, chứ khách khứa ngồi gần cửa ra vào vẫn phải mặc nguyên áo khoác vì lạnh lẽo. Hầu như thực khách không mấy khi thấy rõ Seress ngồi khuất sau chiếc dương cầm.

Miệng phì phép thuốc lá, giọng khản đặc, chỉ chơi dương cầm kiểu “mổ cò” với hai ngón của bàn tay phải, lần mò tìm nốt nhạc, vậy mà theo lời kể của người đương thời, hàng ngày, từ 6 giờ tối đến rạng sáng, Seress đã tạo nên một bầu không khí “bốc lửa” tại nơi ông chơi nhạc.

Otto Klemperer, nhạc trưởng lừng danh người Đức đã có lời nhận xét ngắn gọn về Seress : “Không phải nhạc sĩ – chỉ là thiên tài”. Chắc chắn như thế, vì trong 40 năm ròng rã của đời nghệ sĩ, Seress không hề biết viết, biết đọc bản nhạc, ông cũng không biết hát theo nghĩa thực của từ này.

Cách sáng tác của Seress cũng đặc biệt : vừa huýt sáo, ông vừa ngẫm nghĩ và khi được giai điệu nào “hợp lý”, ông nhờ người ghi lại thành bản nhạc. Thô sơ vậy nhưng Seress là tác giả của ít nhất 40 ca khúc đỉnh cao mà nhiều người Hungary cho rằng không tồi hơn, thậm chí, có thể còn hay hơn “Chủ nhật buồn” !

Vào thời điểm “Chủ nhật buồn” ra đời, báo chí đã viết về người nhạc sĩ như sau : “Ở nước ngoài, nếu một nhạc sĩ chỉ sáng tác được một phần tư số ca khúc được ưa thích so với Seress, thì người ấy hẳn phải sống vương giả, có nhà lầu, xe hơi, và có thể lựa chọn các hợp đồng phim ảnh. Còn Seress thì chơi dương cầm ở một quán nhỏ, thù lao “vương giả” mỗi tối là vài đồng và một bữa tối thanh đạm”.

Cho dù đã có rất nhiều tiền tác quyền trong các ngân hàng ngoại quốc, nhưng Seress không bao giờ đặt chân ra nước ngoài và cũng không bao giờ đụng chạm được đến những khoản tiền đó. Sau Ðệ nhị Thế chiến, Hungary về phe thua cuộc và số tiền của ông đã bị “đóng băng” với lý do… nước Hung phải bồi thường thiệt hại chiến tranh cho Đồng minh !

Không chỉ là tác giả phần nhạc của “Chủ nhật buồn”, Seress Rezső còn đặt lời hai cho ca khúc, biến bài hát từ một bản tình ca thành một tác phẩm với âm hưởng của ngày tận thế với những câu như: “Mùa thu tới và lá vàng rơi – Tình người chết rục trên đất này”.

Seress Rezső : Từng thoát chết trong gang tấc để rồi lại tự vẫn quyên sinh

Cảm hứng ấy được tạo bởi những trải nghiệm cá nhân : cuối Đệ nhị Thế chiến, vì nguồn gốc Do Thái của mình, Seress Rezső bị bắt vào trại tập trung và trong khoảnh khắc kinh hoàng, khi phải tự đào hố chôn mình, một sĩ quan Đức từng nghe ông hát “Chủ nhật buồn” tại Budapest trước đó vài năm đã cứu ông khỏi cái chết chắc chắn.

Những năm tháng sau đó dưới thời Cộng sản, cái tên Seress Rezső cũng bị đưa vào danh mục cấm vì chính quyền cho rằng các sáng tác của ông mang yếu tố độc hại, hơn nữa, theo cách nói thời bấy giờ, chúng “phục vụ cho chủ nghĩa đế quốc”.

Năm 1956, khi mấy trăm ngàn dân Hung di tản sau cuộc cách mạng mùa thu bị Liên Xô đàn áp, Seress đã có thể ra nước ngoài và bạn bè ông cũng khuyên nhà nhạc sĩ như vậy. Nhưng không gì khiến Seress rời nước Hung ! Ông quá yêu vô mảnh đất Budapest và trong 10 năm cuối đời, không bao giờ ông bước khỏi Quận VII nơi ông sinh sống và chơi nhạc.

Lúc sáu mươi chín tuổi, tháng 1/1968, khi biết mình lâm trọng bệnh, Seress đã tìm đến cái chết vào một ngày thứ Hai buồn bã bằng cách nhảy từ cửa sổ căn hộ ông sống, tại tầng 4 một tòa nhà. Cả đời bị ám ảnh bởi cái chết, bài ca do ông phổ nhạc và đặt một lời cũng là một “tình ca chết chóc”, vậy mà chính cái chết đã đưa Seress vào bất tử, như bản “Chủ nhật buồn” trước đó 35 năm.

Phiên bản tiếng Việt của Phạm Duy dựa theo bản tiếng Pháp

Không chỉ nổi tiếng trên thế giới, “Chủ nhật buồn” còn được biết đến ở Việt Nam rất sớm, từ đầu thập niên 50, qua lời Việt của nhạc sĩ Phạm Duy. Trong một hồi tưởng, nhạc sĩ cho biết trong thời gian du học ở Pháp, ông rất yêu những bản nhạc tình của một nữ nhạc sĩ Pháp đương thời và có soạn lời tiếng Việt cho một số bài của cô, trong đó, có bản “Chủ nhật buồn” mà Phạm Duy nghĩ là đã được phóng tác từ dân ca Hung-gia-lợi.

Ca từ của bản tiếng Việt, mặc dù, như lời Phạm Duy, là được phỏng theo bản tiếng Pháp, nhưng lại theo sát và phản ánh tinh thần của nguyên bản một cách tài tình và đáng phục : “Chủ nhật buồn, đi lê thê – Cầm một vòng hoa đê mê – Bước chân về với gian nhà – Với trái tim cùng nặng nề…”

Bài ca do Phạm Duy đặt lời được du nhập vào Việt Nam đúng lúc đất nước phân ly, lòng người tan nát và tao loạn. Như Phạm Duy nhận xét, “Chủ nhật buồn” có thể đã ảnh hưởng nhiều đến dòng nhạc tình nói về thân phận những cặp tình nhân yêu nhau trong cơn mê sảng và nhức nhối, với tâm thức có thể xa nhau (vĩnh viễn) bất cứ lúc nào, xuất hiện ở miền Nam cuối thập niên 50 thế kỷ trước.

Phạm Duy nhìn thấy ảnh hưởng và dấu ấn khá rõ ràng của “Chủ nhật buồn” trong “Lời buồn thánh”, một nhạc phẩm tân lãng mạn của Trịnh Công Sơn, hoặc trong nỗi buồn của ngày Chủ nhật mùa mưa ở ca khúc “Tuổi đá buồn” : “Trời còn làm mưa, mưa rơi mênh mang – Từng ngón tay buồn em mang em mang – Đi về giáo đường, ngày Chủ nhật buồn…”.

Ra đời cách đây gần 8 thế kỷ, cho đến nay, “Chủ nhật buồn” vẫn là nguồn cảm hứng cho nhiều ca sĩ, ban nhạc với những cách thể hiện khác nhau của bài hát. Mang tâm tình của một cá nhân (Jávor László), được thăng hoa bởi nét nhạc và tâm tự sầu cảm của Seress Rezső, “Chủ nhật buồn” xứng đáng là một ca khúc vượt thời gian của dòng nhạc tình quốc tế thế kỷ thứ XX! (Theo Hoàng Nguyễn )

LỜI BÀI HÁT

“CHỦ NHẬT BUỒN”

(lời Việt : Phạm Duy)

– Chủ nhật buồn

đi lê thê

cầm một vòng hoa đê mê

bước chân về với gian nhà

với trái tim co’n nặng nề

– xót xa gì ?

oán thương gì ?

đã biết nuôi hương chia ly

trót say mê

đã yêu thì dẫu vô duyên còn nặng thề

– ngồi một mình

nghe mưa rơi

mặc lệ tràn câu thiên thu

gió hiên ngoài

nhắc một loài dế giun hoài ru thương ru

ru ơi ru… hời

– Chủ nhật nào

tôi im hơi……

đợi chờ không nguôi ngoai

bước chân người

nhớ thương tôi !!!

đến với tôi thì muộn rồi………

– trước quan tài

khói hương mờ bốc lên như vạn ngàn lời

dẫu qua đời

mắt tôi cười vẫn đăm đăm nhìn về người

– hồn lìa rồi

nhưng anh ơi …..

tình còn nồng đôi con ngươi

nhắc cho ai biết cuối đời

có một người yêu không thôi

ơi hỡi ơi…… người ……

Mời các bạn ngge ca khúc này qua 2 nữ ca sĩ trình bày (một nhạc Pháp, một lời Việt)

http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=42in3J80JO

http://youtu.be/oswOfn5uMqg

Mục Lục Nhạc Lời Việt Phạm Duy

Trong khi dọn nhà tôi tìm được tài liệu này, các ca khúc của nhạc sĩ Phạm Duy được “Việt hóa” sắp phân loại theo thứ tự ABC. Xin post lên đây để các bạn nào yêu thích lời Việt Phạm Duy có thêm một tài liệu để tham khảo.

Đa số lời nhạc các bài nhạc ngoại quốc được “Việt hóa” có thể tìm thấy nơi những đường dẫn sau đây :

http://www.phamduy2010.com/04loiviet/

hay tại http://loivietphamduy.blogspot.com/ (là một trang tôi dùng để phân loại bài hát theo nhãn, từ thường dùng …)

Một bài viết khác rất thú vị của nhạc sĩ, kể về sự học nhạc từ nhạc Classic:

http://www.phamduy2010.com/02sokhao/10hoc_o_classic.php

DƯƠNG THIỆU TƯỚC

NHẠC SĨ KHAI PHÁ

DÒNG NHẠC VIỆT

Tên thật Dương Thiệu Tước, sinh ngày 15/5/1915 tại làng Vân Đình, huyện Sơn Lãng, phủ Ứng Hòa, tỉnh Hà Đông. Ngày ông mất 1/8/1995 tại Sài Gòn.

Ông xuất thân trong một gia đình Nho học truyền thống, cháu nội cụ nghè Vân Đình Dương Khuê, nguyên Đốc học Nam Định. Thuở nhỏ ông học ở Hà Nội, những năm 30 ông gia nhập nhóm nghệ sĩ tài tử Myosotis (Hoa lưu ly) gồm Thẩm Oánh, Lê Yên, Doãn Mẫn, Vũ Khánh… Dương Thiệu Tước là người có sáng kiến soạn các nhạc phẩm thuộc loại “bài Tây theo điệu ta”. Phần lớn nhạc của ông lúc đầu đều bằng tiếng Pháp đó là một thể loại đầu tiên ở nước ta và chính nó đã mở ra một hướng mới cho nền tân nhạc Việt Nam.

Những nhạc phẩm như Vầng trăng sáng, Thuyền mơ, Bến xuân xanh, Dưới nắng hồng… của ông khi ra mắt được mọi người tiếp đón thưởng ngoạn nồng nhiệt, tạo cho nét nhạc dân tộc bay bổng trên nền nhạc hiện đại.

Những năm chiến tranh Việt Pháp và hòa bình được tái lập (1954), nhạc sĩ Dương Thiệu Tước vẫn sáng tác đều tay, có lúc ông dạy ở Trường Quốc gia âm nhạc Sài Gòn.

Tác phẩm của Dương Thiệu Tước sẽ sống mãi với lịch sử âm nhạc Việt Nam, vì nhạc ông “là loại nhạc tình tứ, nhưng rất sang trọng. Đó là những ca khúc tình ái, thốt lên từ con tim nhạy cảm của một nhạc sĩ từng trải”.

Một số sáng tác của nhạc sĩ Dương Thiệu Tước : Áng mây chiều, Bạn cùng tôi, Bến Hàn Giang, Bến Xuân Xanh, Bóng chiều xưa (với Minh Trang), Buồn xa vắng (với Minh Trang), Cánh bằng lướt gió, Chiều (thơ Hồ Dzếnh), Đêm ngắn tình dài, Đêm tàn bến Ngự, Dưới nắng hồng, Dưới trăng, Giáng xuân, Hội hoa đăng, Hờn sóng gió, Khúc nhạc dưới trăng (với Minh Trang), Kiếp hoa, Mơ tiên, Ngọc Lan, Nhớ cánh uyên bay, Ôi quê xưa (với Minh Trang), Ơn nghĩa sinh thành, Phút say hương, Sóng lòng, Thuyền mơ, Tiếng xưa, Tình anh, Trời xanh thẳm, Ước hẹn chiều thu, Uống nước nhớ nguồn (với Hùng Lân), Vầng trăng sáng, Vui xuân (với Minh Trang)…

Những sáng tác của nhạc sĩ Dương Thiệu Tước được đánh giá là những ca khúc trữ tình thời nhạc tiền chiến, và ông được coi là một trong những nhạc sĩ tiền phong của nền tân nhạc Việt Nam. Mặc dù theo học nhạc Tây, nhưng nhạc của ông vẫn thắm đượm hồn dân tộc. Trong một ấn phẩm viết tay, ông ngỏ ý : “Theo tôi tân nhạc Việt Nam phải thể hiện rõ cá tính Việt Nam. Để đạt được điều này, người sáng tác phải hiểu rõ nhạc Việt qua cách học nhạc cụ cổ truyền cũng như hát được các điệu hát cổ truyền“.

Nhạc sĩ Dương Thiệu tước vào Nam sinh sống từ năm 1954. Tại Sài Gòn ông làm chủ sự phòng văn nghệ tại Đài phát thanh Sài Gòn đồng thời được mời làm giáo sư dạy đàn Lục huyền cầm/Tây Ban Cầm tại trường Quốc Gia Âm Nhạc. Sau ngày 30/4/1975, nhạc của ông bị cấm đoán và ông cũng bị mất chỗ dạy học tại trường Quốc Gia Âm Nhạc.

Vợ chính thất cũng là vợ đầu của ông là bà Lương Thị Thuần, hiện con cái đang sống tại Đức và Hoa Kỳ. Vợ sau của ông là Minh Trang, một ca sĩ nổi tiếng của thập niên 1950. Đầu thập niên 1980 ông về sống với bà Nguyễn Thị Nga tại quận Bình Thạnh và được bà chăm lo cho tuổi về chiều.

Quế Phượng tổng nhợp chuyển tiếp

Advertisements

BÍ MẬT CỦA NÀNG MONA LISA

BÍ MẬT THÂN PHẬN THẬT

CỦA NÀNG MONA LISA

Mona Lisa là một bức chân dung thế kỷ 16 được vẽ bằng sơn dầu trên một tấm gỗ dương tại Florence bởi Leonardo da Vinci trong thời kì Phục Hưng Italia.

Trước khi những bí mật về nàng Mona Lisa được hé mở, đã có nhiều giả thiết về thân phận thật của nàng,thậm chí có người cho rằng nàng là người tình bí mật của danh họa Leonardo da Vinci. Nụ cười của nàng đã khiến hàng triệu người trên thế giới bị mê hoặc nhưng không ai hiểu được bí mật đằng sau nụ cười đó như thế nào.

Nàng là ai, nàng từng sống như thế nào vẫn là một câu hỏi lớn. Tuy nhiên từ sau năm 2005 tới nay, với sự hỗ trợ những công nghệ kỹ thuật cao, bí mật về thân phận của nàng Mona Lisa dần dần được hé mở.

Liên quan tới thân phận thật của nàng Mona Lisa, vài trăm năm trước đã có nhiều cách giải thích khác nhau, có người nói rằng nàng là mẹ của danh họa Leonardo da Vinci, có người lại nói nàng là người tình bí mật của ông, hay Mona Lisa là gái làng chơi ở thành Florence tuy nhiên giả thiết Mona Lisa là bức chân dung tự họa của Leonardo da Vinci được nhiều người đồng tình nhất.

Vào thế kỷ 16, nhà sử học nghệ thuật nổi tiếng – Vasari nói rằng nàng Mona Lisa là vợ của một thương gia giàu có ở Florence nhưng quan điểm của ông không được nhiều người quan tâm. Tới năm 2005, chuyên gia nghiên cứu bản thảo trường đại học Heidelberg (Đức) cho biết đã tìm thấy chứng cứ quan trọng trong đống sách cổ ở thư viện, một cuốn sách cổ năm 1503. Chủ sở hữu cuốn sách này là một người bạn tốt của Leonardo da Vinci-Vespucci.

Trên cuốn sách có dòng chữ mà Vespucci viết vội : “Leonardo da Vinci đã sáng tạo ra ba bức họa nổi tiếng, trong đó có một bức họa là chân dung Gherardini”. Điều này trùng với tuyên bố của Vasari thế kỷ 16. Ông từng nói “vợ của Francesco del Giocondo” là Gherardini, tên đầy đủ là Lisa Gherardini del Giocondo, trong đó del Giocondo là họ chồng bà.

Sau hai năm, thư viện Đại học Heidelberg cho rằng phát hiện của tiến sỹ Giuseppe Pallanti đã khiến những giả thiết về thân phận của nàng Mona Lisa bị loại bỏ cũng như mở ra những bí ẩn về nàng trong suốt mấy trăm năm.

Mona Lisa sinh ngày 15 tháng 6 năm 1479 trong một gia đình từng định cư lâu đời ở thành phố Florence, là con cả trong số 7 anh chị em. Khi đó, cả châu Âu đang bước vào giai đoạn đầu của thời kỳ Phục Hưng, là một trong những thành phố lớn nhất, Florence được coi là biểu tượng của thành công và giàu có. Tuy nhiên, cuộc sống của những người dân ở đây lại không đẹp như những gì mà thơ ca ca ngợi vì sự phân biệt giàu nghèo quá lớn. Lisa xuất thân trong một gia đình quý tộc nhưng theo thời gian, gia đình nàng cũng mất dần sức ảnh hưởng của mình.

Ngày 5 tháng 3 năm 1495, Lisa đi lấy chồng khi nàng tròn 16 tuổi. Chồng nàng là một thương gia tơ lụa có tiếng trong thành và Lisa là vợ thứ 3 của ông. Của hồi môn của Lisa là 170 đồng vàng Florin và một nông trang ở vùng ngoại ô. Cuộc hôn nhân này đã khiến địa vị xã hội của Lisa được nâng cao vì chồng nàng là một người cực kỳ giàu có, không những thế Francesco del Giocondo cũng được lợi từ vợ của mình vì Gherardini là một dòng họ cao quý. Họ đã có với nhau 5 người con.

Ngày 5 tháng 3 năm 1503, Lisa và chồng chuyển tới một căn hộ ở gần Via della Stufa, nơi ông cụ thân sinh của Leonardo – ông Piero da Vinci đang sinh sống. Ông Piero da Vinci và vợ chồng Lisa nhanh chóng trở thành hàng xóm thân thiết của nhau.

Cũng giống như nhiều gia đình giàu có ở Florence, mỗi khi gia đình có sự kiện trọng đại, vợ chồng Lisa và các con lại mời các họa sỹ tới vẽ chân dung kỷ niệm. Năm 1503 là một năm quan trọng đối với gia đình del Giocondo khi họ chuyển tới ngôi nhà mới của mình, hơn nữa Lisa lại mới mang thai đứa con thứ ba. Ông del Giocondo đã mời 4 nghệ sỹ tới nhà để trang trí cho ngôi nhà mới, Leonardo da Vinci, con trai của người hàng xóm mới cũng được mời tới để vẽ chân dung Lisa.

Những năm 1503, Leonardo da Vinci rơi vào tình cảnh khốn đốn, ông không có nguồn thu nhập nào và lời mời tới vẽ chân dung cho một quý bà khiến ông cảm thấy rất phấn khởi và có lẽ đó là động lực để có được một tác phẩm tuyệt vời. Tay phải của Lisa đặt lên tay trái để toát lên vẻ hiền thục và thủy chung của nàng. Bộ đồ mà Lisa mặc rất thời trang, có người cho rằng thần thái của Lisa trên bức tranh còn thật hơn ở ngoài đời.

Leonardo da Vinci đã mất 10 năm để hoàn thành bức chân dung nàng Mona Lisa. Nhưng cuối cùng ông đã không giao lại bức họa này cho Lisa. Một số học giả ban đầu nhận định có lẽ vì không được trả tiền thù lao nên Leonardo mới làm thế. Nhưng sau khi nghiên cứu kỹ lưỡng người ta mới phát hiện rằng nguyên nhân không đơn giản như vậy.

Trên thực tế, trong thời gian ở Florence, Leonardo đã có quan hệ khá mật thiết với gia đình quý tộc Giuliano de Medici. Đây là một trong những dòng họ danh tiếng nhất ở Italy vào thế kỷ 15-16. Gia đình Giuliano de Medici rất đam mê nghệ thuật nên họ đã không ngần ngại bỏ tiền ra để tài trợ cho các nghệ sỹ trong đó có cả Leonardo da Vinci, tuy nhiên khoản tiền này lại là tiền cướp từ mồ hôi, xương máu của người dân thường.

Vì thế, các gia đình quý tộc khác ở thành Florence tỏ ra không hài lòng về chuyện này, gia đình Gherardini cũng vậy. Năm 1503, trong lúc Leonardo da Vinci vẽ chân dung nàng Lisa, gia tộc Giuliano de Medici và gia tộc Gherardini đã xảy ra mâu thuẫn lớn. Leonardo da Vinci là người ở giữa nên đành phải cắt đứt quan hệ với gia đình Lisa. Năm 1511, Florence bị quân Giáo hoàng tấn công, gia tộc Gherardini phải sống lưu vong. Trong những năm 1517, Leonardo da Vinci đã phải mang theo bức họa nàng Mona Lisa rời khỏi Florence sang Pháp. Từ đó cũng không ai biết tin gì về nàng Lisa nữa.

Mãi cho tới năm 2007, nhà sử học nghiệp dư Giuseppe Pallanti mới tìm thấy một tờ giấy khai tử đã ố vàng của Lisa Gherardini. Trong tờ giấy khai tử có viết: chồng bà Lisa mất năm 1538, thọ 79 tuổi còn Lisa mất 4 năm sau đó khi 64 tuổi và được chôn cất tại tu viện trung tâm Tuscan.

Lan caysu chuyển tiếp

BÀ BẦU KIM CHƯỞNG

ĐỆ NHẤT ANH HÙNG LƯU DIỄN

– Soạn giả Nguyễn Phương

Cuộc đời của nữ nghệ sĩ Kim Chưởng là tấm gương của người đam mê nghệ thuật sân khấu, học hỏi không ngừng. Sự thành tựu của nghệ sĩ Kim Chưởng gắn liền với sự phát triển của nghệ thuật sân khấu trong các thập niên 50, 60, 70.

Cô Kim Chưởng tên thật là Cao Thị Chưởng, sinh năm 1929, tại Cồn Ông, xã Trường Long Hòa, huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh, là con áp út trong gia đình có 7 anh chị em.

Khi cô Chưởng lên tám tuổi, ba của cô là ông Cả ở Cồn Ông, Ba Động qua đời. Vì cha cô bịnh lâu mới mất, gia sản tiêu tan lần hồi theo tiền thuốc thang chữa trị nên khi ba của cô mất, chôn cất xong là má cô rời bỏ làng quê, dẫn cô về thị xã Trà Vinh, sống bằng nghề mua gánh bán bưng.

Cô Kim Chưởng phải thức khuya dậy sớm giúp mẹ gói bánh tét, bánh ú đem ra chợ bán, gia đình bữa đói bữa no. Trong lúc đi bán bánh ở chợ, cô nghe máy hát hát những bài ca vọng cổ, cô học theo để ca nghêu ngao những khi buồn. Anh Hai của cô nghe cô ca, bèn nói với mẹ là giọng ca của con Chưởng nghe ngọt lắm, xin mẹ cho cô đi theo gánh hát, học hát. Mẹ cô Chưởng không muốn xa con, do dự mãi, đến khi thấy là bà không đủ sức nuôi dưỡng và giúp cho con có một nghề để sinh sống nên bà mới bằng lòng cho cô Chưởng theo đoàn hát.

Anh của cô Chưởng quen anh Tư Sum nên nhờ Tư Sum giới thiệu cho cô Chưởng theo gánh hát để học hát. Anh Tư Sum là anh chị bự, một võ sĩ có hạng được bầu gánh hát mướn gát cửa để ngăn ngừa bọn du đảng quấy phá. Vì địa vị của Tư Sum trong gánh hát thấp kém nên cô Chưởng được Tư Sum giới thiệu vào thì cũng chỉ được làm người ở đợ không lương, giúp việc vặt cho ông bà bầu và đào kép chánh.

Công việc của cô Chưởng làm trong gánh hát là buổi sáng phụ bếp nấu cơm hội cho nghệ sĩ, giặt đồ của ông bà bầu và buổi tối bán nước sâm của bà tẩm khậu nấu, mỗi tối được bà tẩm khậu cho vài đồng bạc tiêu xài. Cô Chưởng còn giặt đồ, đấm bóp cho cô Mỹ Giàu, đào chánh để được Mỹ Giàu dạy cho ca các bản cổ nhạc nhỏ.

Hằng đêm, khi đoàn đang hát thì cô Chưởng ngồi một góc rạp xem và học nhẩm theo cách ca của cô đào chánh Mỹ Giàu. Khi màn bỏ xuống thì cô bưng nước sâm đi bán. Mỗi đêm học hát như vậy, cô Chưởng thuộc nhiều vai tuồng của cô Mỹ Giàu, thần tượng của cô.

Cô Chưởng theo các cô vũ nữ trong đoàn học múa, siêng năng học kỏi nhưng chưa được lên sân khấu lần nào. Nhưng rồi có dịp may, một cô vũ nữ bịnh bất ngờ, cô Chưởng được ông bầu cho lên múa thế. Cô Chưởng được người giúp đánh phấn thoa son, mặc y phục vũ nữ, cô múa rất đẹp và rất đúng như cô đã được ông thầy dạy vũ dạy trức tiếp. Đêm đó là đêm hạnh phúc nhứt của cô, vừa được múa hát trên sân khấu, vừa được hưởng lương của một người vũ nữ.

Năm sau, anh rể của cô gởi cho cô theo đoàn hát Tân Thiếu Niên của ông bầu Ba Đô. Cô làm em nuôi của đào chánh Ba Quyên và làm tỳ nữ trong các tuồng của thầy Ba Đô. Làm em nuôi giống như ở đợ, phải giặt quần áo, dọn dẹp tủ làm tuồng trước và sau khi hát cho chị nuôi, có nhiều đêm phải đấm bóp cho chị nuôi để được chị nuôi dạy cho hát vài ba câu hát. Cô Chưởng còn âm thầm tự học, ca nhái theo mỗi khi cô núp bên cánh gà xem cô Quyên hát.

Nhiều tháng trôi qua, cô Chưởng thuộc nhiều vai tuồng hát của cô Ba Quyên, cô Chưởng được ông thầy đờn đờn cho cô ca thử, ông bầu Ba Đô nghe qua thích lắm.

Cô Chưởng tự học thêm bằng cách núp bên cánh gà xem các nghệ sĩ hát, cô chú ý các vai đào mùi, đào độc, cả vai mụ, cách hát ra sao, bộ đi, cách đứng, đưa tay múa như thế nào. Ban ngày cô ra sau rạp hát hay lựa chỗ vắng người, hát lại cho thuộc, tập múa lại cho quen các động tác đã học lóm được của các diễn viên trong đoàn.

Sáu tháng sau, trong dịp Tết cô đào chánh Ba Quyên bỏ đoàn bất ngờ, đi hát cho gánh khác. Đêm đó bán vé hát complet mà gần đến giờ mở màn ông bầu Ba Đô mới biết là cô đào chánh Ba Quyên đã chở rương tráp đi mất. Không thể nghỉ hát hoàn tiền cho khán giả vì ông đã dùng tiền bán vé hát đó để phát trước cho nghệ sĩ trong dịp Tết, ông phải kiếm người thế tuồng cô đào chánh.

Các cô đào kia không người nào thuộc tuồng và không ai dám thế vai cô Ba Quyên. Khi ông hỏi đến cô Chưởng thì cô nói cô thuộc tuồng nhưng không biết hát thế cô Quyên được không ? Ông Ba Đô nói : Mầy thuộc là được rồi, cứ ra hát giống như nó. Tao ở trong cánh gà, nhắc lớp hát cho mầy. Cứ bình tĩnh, tao làm mặt cho mày…(tức là đánh phấn tô son hóa trang cho nhân vật)

Đêm đó cô Chưởng thế tuồng cho cô đào chánh Ba Quyên, cô hát như một cô đào chánh chánh hiệu. Cả gánh hát đều mừng vì đêm đó mùng 1 Tết, đoàn khỏi phải trả vé và cô Chưởng hát thế vai mà được khán giả nhiệt liệt ngợi khen. Từ hôm đó cô Chưởng trở thành đào chánh, cô hát thế tất cả những vai của cô Quyên, hát hay hơn, ca hay hơn cô đào chánh cũ.

Năm đó cô Chưởng mới được 13 tuổi, là đào chánh trẻ nhứt, đẹp nhứt, ca hay nhứt. ông thầy Ba Đô đặt nghệ danh cho cô là Kim Chưởng. Ông Ba Đô nói: Theo chữ nho Chưởng là trồng, Kim là vàng, Kim Chưởng là trồng vàng. Ông Ba Đô dạy thêm cho cô Kim Chưởng về nghệ thuật diễn xuất và ca cổ nhạc: ba Nam sáu Bắc. Nghề nghiệp Kim Chưởng ngày càng vững vàng, cho đến năm 1943, ông Ba Đô giải tán gánh hát Tân Thiếu Niên, Kim Chưởng được đoàn Văn Hí Ban mời cộng tác.

Cô Kim Chưởng còn cộng tác với đoàn hát Tân Xuân của bầu Tư Hélène (bà ngoại của nghệ sĩ Thanh Hằng, Thanh Ngân), đoàn hát Tân Tiến của cô Giáo Lựu, đoàn Tương Lai của Bầu Sinh và đoàn Bầu Bòn (năm 1948).

Cô Kim Chưởng được ông Bầu Bòn chỉ dạy thêm về diễn xuất. Năm 1949, cô Kim Chưởng kết hôn với anh Hai Thâu (tên thật là Nguyễn văn Sen) con trai của ông Bầu Bòn. Vợ chồng cô Kim Chưởng chung sống 50 năm, có được 3 trai, hai gái. Ba con trai của cô hiện định cư tại Đức và Mỹ, hai cô con gái là giáo sư Đại Học Anh Văn tại Saigon. Chồng của cô Kim Chưởng mất năm 1999 tại Saigon.

Thời gian hát cho gánh Bầu Bòn, ngoài việc được học thêm về diễn xuất, cô Kim Chưởng giúp cho cha chồng trong việc chăm sóc sân khấu (mà sau này người ta gọi với danh từ Đài Trưởng). Cô cũng học cách quản lý gánh hát từ việc tổ chức phòng bán vé hát đến việc quảng cáo, chọn bãi bến mới cho đoàn diễn, cô biết những việc làm của người quản lý của gánh hát. Điều này giúp cho cô rất nhiều khi cô là bầu gánh hát liên tục trong 20 năm (từ năm 1955 đến năm 1975).

Cô Kim Chưởng cộng tác với đoàn hát Phụng Hảo năm 1951 và năm 1953 cô hát cho đoàn Thanh Minh Bầu Nghĩa, cùng đứng chung sân khấu với danh ca Út Trà Ôn, Năm Nghĩa, Phước Trọng, các nữ danh ca Kim Anh, Thúy Nga.

Năm 1955, cô Kim Chưởng cùng với các nghệ sĩ Út Trà Ôn, Thanh Tao, Thúy Nga, Phước Trọng rời đoàn Thanh Minh, họ chung vốn thành lập đoàn Kim Thanh – Út Trà Ôn.

Đoàn hát Kim Thanh – Út Trà Ôn chỉ trong vòng 6 tháng là thu đủ vốn, trả hết nợ nầng, hai năm sau (1957) dứt hợp đồng, bốn nghệ sĩ chủ bầu gánh Kim Thanh – Út Trà Ôn tách ra lập thành bốn đoàn hát. Út Trà Ôn hợp tác với kép độc Hoàng Giang lập thành gánh hát Thống Nhứt – Út Trà Ôn. Kim Chưởng kết hợp với danh ca Thanh Hương lập gánh hát Kim Chưởng – Thanh Hương. Thúy Nga – Phước Trọng lập gánh hát Thúy Nga và Thanh Tao lập gánh hát Thanh Tao.

Nghệ sĩ Kim Chưởng có giọng ca trong trẻo, khoẻ khoắn, có lối diễn xuất sống động, nóng sân khấu do ảnh hưởng của lối hát bội pha cải lương mà cô được cha chồng là ông Bầu Bòn truyền dạy. Nữ nghệ sĩ Kim Chưởng đem áp dụng kinh nghiệm bản thân ngay khi mới được làm bầu gánh hát.

Cô nói: Khán giả đi xem hát là muốn giải trí. Họ thích nghe ca cổ nhạc, thích xem nghệ sĩ múa, hát, mặc trang phục đẹp, cốt chuyện tuồng thì đủ hỉ, nộ, ái, ố… trung thắng nịnh, ở hiền gặp lành, làm ác gặp dữ, tình yêu của nhân vật chánh thì lúc đầu gặp trắc trở nhưng kết cuộc thì đoàn tụ, hạnh phúc. Nếu dang dở thì nhân vật nữ đi tu, nhân vật nam thất tình thì say rượu liên miên…Có nhiều vở tuồng văn chương, thơ nhạc rất hay, rất trữ tình.

Thế nhưng tác giả dường như mê mải làm văn mà quên mất là mình đang viết tuồng cải lương. Tuồng cải lương đâu có giống như tiểu thuyết và khác xa với thoại kịch…Nếu không chú trọng đến phần diễn xuất cá nhân của từng nhân vật (tức là từng diễn viên) cũng như những mảng miếng mà sân khấu cải lương cần phải có thì không thể nào lôi cuốn được khán giả suốt hai tiếng đồng hồ của một đêm hát cải lương.

Nghệ sĩ Kim Chưởng còn cho là khán giả luôn thích xem tuồng mới, họ là lớp người bình dân, ở các thành phố nhỏ xa Saigon thì họ thích cải lương hơn người dân ở tại thành phố lớn. Do đó đoàn Kim Chưởng thường lưu diễn ở các tỉnh Hậu Giang, Tiền Giang, ở miền Trung và có nhiều khi vô hát ở các huyện xa xôi. Báo chí kịch trường tặng cho đoàn Kim Chưởng mỹ hiệu là Anh Hùng Lưu Diễn.

Soạn giả cộng tác thường trực của đoàn hát Kim Chưởn có Thu An, Hoài Linh, Phong Anh, Thanh Cao, Quy Sắc.

Nghệ sĩ đoàn Kim Chưởng có : Út Bạch Lan, Thành Được, Ngọc Hương, Ngọc Lan, Phương Quang, Ngọc Giàu, Trường Xuân, Diệp Lang, Trương Ánh Loan, Ánh Hồng, Phượng Liên, Thanh Nguyệt, Đức Lợi, Dũng Thanh Lâm, Thanh Hải, Quang Nhiều,… Trong số nghệ sĩ này có 6 nghệ sĩ được sự đào luyện của nữ nghệ sĩ Kim Chưởng mà nhận được huy chương vàng diễn viên xuất sắc giải Thanh Tâm: Ngọc Giàu, Diệp Lang, Thanh Nguyệt, Trương Ánh Loan, Ánh Hồng, Phượng Liên.

Tuồng hát trên sân khấu Kim Chưởng: Người Anh Khác Mẹ, Chưa Tắt Lửa Lòng, Lá Đào Rơi, Con Gái Nữ Thần, Oan Hồn Trên Tháp Đá, Tiếng Hát Đề Bá Lạc, Trăng Nửa Đêm, Hai Chiều Ly Biệt, Áo Trắng Nàng Mộng Trinh, Lá Huyết Thư, Người Gọi Đò Bên Sông, Quỷ Bão, Thần Điêu Đại Hiệp Song Long Thần Chưởng, Nước Mắt Kẻ Sang Tần, Kiếm Mộng Phù Tang, Nhặt Cánh Mai Vàng, Thuyền Ra Cửa Biển, Nửa Bản Tình Ca, Mùa Trăng Nhiều Nước Mắt, Tỉnh Mộng, Trăng Nước Lam Giang, Người Đi Chẳng Hẹn Về, Mặt Trời Đêm, Người Đẹp Kinh Bắc, Bên Đồi Trăng Cũ, Theo Chân Người Đao Phủ Thủ, Ảo Ảnh Châu Bích Lệ, Cô Gái Sông Đà…

Khi hỏi sau năm 1975 tại sao cô không lập gánh hát mặc dù tài chánh cô không thiếu, không cần đi vay mượn ai ? Cô Kim Chưởng cho biết là năm 1976, cô lập gánh hát Hoa Lan Kim Chưởng nhưng khi gánh hát hoạt động được đều đặn, hát có doanh thu thì cô được lịnh “Tập Thể Hóa” đoàn hát. Cô giao gánh hát cho Sở Văn Hóa tỉnh Cần Thơ, họ đổi thành đoàn cải lương Cần Thơ, quyền làm chủ là Sở VH mà đại diện là cán bộ của Sở đưa xuống với các nghệ sĩ được bầu vô Ban Quản Trị. Bà lui về sống với các con.

Nhiều nghệ sĩ lão thành từng góp công xây dựng nền nghệ thuật sân khấu cải lương lần lượt qua đời sau tháng tư năm 1975. Trong số đó có các nam nghệ sĩ Năm Châu, Ba Vân, Năm Nở, Sáu Thoàng, Ba Thâu, Hai Tiền, Thanh Tao, Bảy Cao, Mai Lan Phương Ngọc Chiếu, các nữ nghệ sĩ Năm Đồ, Hai Nữ, Kim Thoa, Kim Cúc, Kim Lan, Sáu Ngọc Sương, Sáu Nết, Bảy Nam, Phùng Há…

Mỗi lần làm lễ an táng, khi đọc điếu văn, nhà cầm quyền và các cán bộ có chức có quyền trong lãnh vực nghệ thuật sân khấu đều nói là họ rất tiếc không có thu hình hoặc ghi chép lại được kinh nghiệm sáng tác hay ca diễn của các nghệ sĩ tài danh đó để truyền dạy lại cho các nghệ sĩ kế thừa…

Nói là nói vậy để cho các nghệ sĩ và mọi người tưởng là họ quý trọng tài năng sân khấu của dân tộc nhưng thật ra là từng bước họ xóa dần những thành quả nghệ thuật của các tài năng đó.

Khi nghệ sĩ Năm Châu còn sống, các tác phẩm của ông không được sử dụng, ông phải chuyển thể các kịch bản miền Bắc, hát trên sân khấu đoàn cải lương Saigòn 1 để có thu nhập sống qua ngày như các vở tuồng Nghêu Sò Óc Hến, Bình Tây Đại Nguyên Soái… Sáng tác mới của ông không được Hội đồng kiểm duyệt cho phép và người ta cũng không dùng ông làm giáo sư kịch nghệ như thời trước năm 1975.

Nghệ sĩ Bảy Cao mất, người ta đọc điếu văn, nói là tiếc chưa khai thác được kinh nghiệm của Bảy Cao trong việc phối hợp nghệ thuật sân khấu và điện ảnh, chưa tổng kết được kinh nghiệm và xảo thuật của đoàn hát Hoa Sen khi đoàn này diễn tuồng xã hội chiến tranh. Nói là vậy nhưng họ không thu dụng nghệ sĩ Bảy Cao ở các đoàn hát thành phố mà để cho ông trôi dạt kiếm sống theo các đoàn hát nhỏ ở tỉnh.

Nữ nghệ sĩ Kim Luông, vợ của nghệ sĩ Bảy Cao thì cho theo đoàn cải lương Tiếng Ca Sông Cữu để làm bà Từ, đốt nhang và trông coi bàn thờ Tổ. Khi đoàn hát ở rạp nào đó thì nữ nghệ sĩ Kim Luông ngồi gác cửa sau. Nữ nghệ sĩ Kim Lan, một thời là đào chánh đoàn hát Việt Kịch Năm Châu, sau năm 1975, nghệ sĩ Kim Lan cũng làm bà Từ và gác cửa sau của đoàn cải lương Saigon 3…

Nếu kể ra thêm thì còn nhiều nghệ sĩ tiền phong đã mất mà những tài năng và kinh nghiệm của họ không lưu lại được gì cho các nghệ sĩ các thế hệ sau. Người ta vẫn nói là rất tiếc nhưng ngay khi các nghệ sĩ tài danh đó còn sống, còn sức khỏe và còn hoạt động nghệ thuật được thì người ta không làm gì hoặc là nghĩ đến việc ghi lại hình ảnh, âm thanh và kinh nghiệm của những nghệ sĩ tài danh đó.

Buồn cho con nhện giăng tơ !

Cải Lương ngày cũ, bây giờ ra tro !

Yên Huỳnh chuyển tiếp 

PHỤ NỮ SÀI GÒN THẬP NIÊN 60

PHỤ NỮ SÀI GÒN ĂN MẶC

CHƠI SANG TỪ THẬP NIÊN 1960

Sài Gòn trong những bức ảnh xưa hiện lên với những quý cô xinh đẹp, phóng khoáng và chịu chơi… luôn khiến người ta thích thú.

Sài Gòn đã bước qua những giai kỳ hoa lệ khác nhau, giai kỳ nào cũng tân thời và phồn hoa. Thế kỷ trước, Sài Gòn được những tao nhân mặc khách mà giờ chắc đã ra thiên cổ gần phân nửa ưu ái gọi bằng cái tên Hòn ngọc Viễn Đông.

Tôi luôn tự hỏi, điều gì khiến Sài Gòn được ưu ái gọi tên như thế, do vị trí địa lý phù hợp với những cuộc kinh thương ngoại quốc, do đất chật người đông, ồn ào náo nhiệt với những vũ trường, rạp hát ken đặc người…? Không, có lẽ Sài Gòn được ví như ngọc là bởi con người, nhất là phụ nữ Sài Gòn thời đó.

Phụ nữ Sài Gòn nửa thế kỷ trước, có thể nói là từ năm 1960 đã biết ăn mặc sao cho thật có gu và tạo nên cho mình một hào quang riêng biệt. Từ một cô gái xa lạ băng ngang qua đường với kiểu tóc “bình bông” và đôi kính râm thôi cũng đủ khiến cánh đàn ông đang đọc nhật trình gần đó phải ngẩn ngơ ngước nhìn.

Hay những cô nàng mặc áo dài đáy thắt lưng ong, mắt kẻ viền đen, tay cầm dù hoa đang vội vàng nhảy lên một chiếc xích lô gần đó để đi cho kịp giờ coi hát cũng đủ khiến các ông các anh chạy theo, xin một lần hò hẹn. Và cả những người đàn bà buôn gánh bán bưng nhưng biết chăm chút từng nét chỉ, thớ vải áo dài để bước xuống đường sao cho ra dáng Sài Thành nhất…

Ngắm nhìn những bức ảnh phụ nữ Sài Gòn thế kỷ trước, tôi đồ rằng đó là phố thị duy nhất trên thế giới nơi một người đàn bà bình thường trên phố cũng mang phong thái của một quý bà dạ hội.

H1: Phụ nữ Sài Gòn nửa thế kỷ trước đã biết ăn mặc sao cho thật có gu và tạo nên cho mình một hào quang phong thái riêng biệt. H2: Áo dài, nón lá và đôi guốc vài phân là những món đồ thời trang không thể thiếu của phụ nữ Sài Gòn thời trước.

H3: Sự giao thoa giữa tân thời và truyền thống đã được phụ nữ Sài Gòn xưa áp dụng triệt để, nhưng không vì thế mà nó kém xinh, ngược lại nó tôn lên vẻ hiện đại nền nã của phụ nữ thời đó. H4: Cách ăn mặc và ngôn ngữ cơ thể cũng đủ để chứng minh đặc tính phóng khoáng của phụ nữ Sài Gòn nửa thế kỷ trước. Áo dài nền nã là vậy, phụ nữ Sài Gòn dường như vẫn chẳng e ấp mà rất cởi mở, tự tin trong phong thái.

H5: Sơ mi trắng và chân váy ngang đầu gối cũng là một mốt thời mấy chục năm trước của những cô nàng trẻ trung hiện đại. H6: Nhìn lướt qua thôi cũng nhận ra đây đích thực là phụ nữ Sài Gòn. H7: Sự hòa trộn tinh tế giữa tân thời và nét cổ Á Đông. H8: Appe Three (Ba trái táo) ban nhạc 3 cô gái chuyên biểu diễn ở các hộp đêm với lối ăn mặc vô cùng gợi cảm.

H9: Nhưng suy cho cùng, dù Sài Gòn ngày ấy có tân thời cách mấy, những người phụ nữ vẫn ưu ái chọn chiếc áo dài mỗi khi xuống phố. H10: Sài Gòn luôn nắng nóng quanh năm nên dù cũng là phụ kiện không thể thiếu của chị em thời đó.

H11: Đừng nghĩ phụ nữ Sài Gòn cách đây nửa thế kỷ chỉ biết ăn diện mua sắm, mà đọc báo cũng là một thú tao nhã của chị em. Trong ảnh là một cô gái đứng mua báo tại một kiôt góc đường Tự Do – Nguyễn Văn Thinh (nay là Đồng Khởi – Mạc Thị Bưởi). H12: Ngoài đi bộ dạo phố, nhiều quý bà, quý cô còn chọn xích lô làm phương tiện di chuyển hàng ngày.

H13: Một “Paris Phương Đông” phồn thịnh với cub, vespa và những quý cô hợp mốt. Vespa, váy bút chì, tóc bob, kính râm thì còn gì hiện đại hơn ?

H14: Áo dài và xe đạp là hình ảnh thường thấy trong những hình chụp phụ nữ Sài Gòn hơn nửa thế kỷ trước. H15: Áo dài thướt tha, tóc bay trong gió thì luôn có những ánh mắt dõi theo. H16: Quần ống loe – mốt của những năm 70 được phụ nữ Sài Gòn nhiệt liệt chào đón. H17: Ngoài những cây dù, kính râm cũng là một phụ kiện không thể thiếu của các quý cô Sài Gòn xưa, vì nó giúp họ toát lên sự thời thượng, sang trọng.

MỘT CA KHÚC Ý KHIẾN

AI CŨNG NGỠ LÀ QUỐC CA

Một ca khúc tuyệt vời tới mức người ta gọi là “dân ca Ý”, được nhiều ca sĩ dấn thân cả ở phong cách cổ điển và đại chúng. Mỗi phong cách đều thể hiện những nét đẹp tuyệt vời với những ca từ cao vút và những nốt nhạc hạnh phúc, hoàn mỹ, bay bổng, tràn ngập tình yêu… Đó là ca khúc nào vậy ?

Đó chính là O sole Mio (Mặt trời của tôi), một bản nhạc được ví như “Quốc ca Ý” ở nước ngoài, và thường được công chúng trên thế giới gọi là dân ca, vì cảm thấy nó quá kinh điển, ai ai cũng biết, ai ai cũng yêu mến ca khúc.

Mặt trời của tôi đã được nhiều ca sĩ thể hiện cả ở phong cách cổ điển và đại chúng. Mỗi phong cách đều thể hiện một những nét đẹp tuyệt vời với những ca từ cao vút và những nốt nhạc hạnh phúc, hoàn mỹ, bay bổng, tràn ngập tình yêu…

Lời dịch bài hát Ý khiến người ta ngỡ ngàng bởi ca từ đẹp và hạnh phúc hiếm thấy : Chàng trai đang ca ngợi vầng thái dương, đột nhiên có sự so sánh bất ngờ: Có ánh sáng tuyệt vời, ấm áp hơn mặt trời, đó chính là nụ cười của người tôi yêu. Em hỡi, vầng thái dương thân yêu, với nụ cười tươi, thắm tô cuộc đời…

Đoạn này cũng chính là cao trào của bản nhạc, là điệp khúc thăng lên với những nốt nhạc cao chót vót như niềm hạnh phúc tràn ngập thăng hoa. Người nhạc sĩ viết nhạc đã quá tài hoa khi đẩy điệp khúc cao trào tới khúc ca từ này…

Người ta tưởng đây là một bản dân ca !

Bản nhạc da diết O Sole Mio (Mặt trời của tôi) này trên thực tế không phải một bản dân ca, mà là sáng tác của nhà soạn nhạc người Ý kiêm ca sĩ Eduardo di Capua (1865-1917), lời thơ của nhà thơ Giovanni Capurro  (1859-1920), và danh ca Italia giọng tenor Enrico Caruso (1873-1921) là ca sĩ thể hiện đầu tiên.

Ba con người tài hoa này đều cùng một thế hệ với nhau và họ đều sinh ra ở Napoli, Ý, nên khi ca khúc vang rộng vang xa khắp chốn khắp cõi, thì nó không chỉ là niềm tự hào của Napoli, mà còn là niềm tự hào của nước Ý. Nhạc sĩ Eduardo Di Capua sáng tác O Sole Mio trong một chuyến lưu diễn cùng cha ông là Jacob-vốn là một cây violinist cừ khôi, tại Odessa, Ucraina.

Đó là năm 1898, nhạc sĩ Eduardo Di Capua nhận lời đề nghị viết nhạc từ nhà thơ Giovanni Capurro sau khi nhà thơ đã hoàn thành bài thơ O sole mio của mình.

Ca khúc lời Việt “Mặt trời của tôi”

– O Sole Mio – Mặt Trời Của Tôi – Bằng Kiều, Trọng Tấn Opera

https://www.youtube.com/watch? v=rbgosiy8yVw

Lời ca khúc bằng tiếng Việt được nhạc sĩ Phạm Tuyên viết lời đã thể hiện được gần như hoàn thiện tinh thần của ca khúc gốc. Những giọng ca thính phòng đỉnh cao Việt Nam và cả những giọng ca nhạc nhẹ xuất sắc đều muốn thể hiện ca khúc này:

Những Ông Hoàng, ông Vua các thể loại nhạc, từ thính phòng tới nhạc đại chúng  đặt giọng ca mình vào những cung bậc hạnh phúc nhất này:

– “Vầng mặt trời nước Ý” Luciano Pavarotti.

https://www.youtube.com/watch? time_continue=5&v=d_mLFHLSULw

Không thể không kể đến Pavarotti, ca sĩ được ví như “Vầng mặt trời của âm nhạc nước Ý”, giữ vững hai vị trí trong sách kỷ lục Guiness. Ông là ca sĩ được khán giả vỗ tay mời ra hát lại nhiều nhất (165 lần) và Ca sĩ có album nhạc cổ điển bán chạy nhất mọi thời đại cùng với ban nhạc The Three Tenors – 3 giọng tenor tuyệt vời nhất nước Ý (album Carreras, Domingo, Pavarotti: The Three Tenors in Concert).

– “Ông Hoàng” Elvis Presley đã hát O sole Mio bằng tiếng Anh với cái tên It’s now or never (Ngay bây giờ hoặc là không bao giờ), khiến người nghe lập tức muốn nhún nhảy theo giọng ca vàng của nước Mỹ này:

https://www.youtube.com/watch? time_continue=1&v=QkMVscR5YOo

– Cả nam ca sĩ Bryans Adam cũng muốn thể hiện bên cạnh Mặt trời nước Ý:

https://www.youtube.com/ watch?v=5a0juQ0aeGI

– Bông hồng rực rỡ, giọng nữ cao Sandra Plamenats thể hiện Mặt trời của tôi:

https://www.youtube.com/watch? v=fbhdiDEI2CQ

ĐIỀU GÌ ẨN GIẤU ĐẰNG SAU BẢN

SONATA ÁNH TRĂNG

CỦA BEETHOVEN ?

Sonata Ánh trăng có thể nói là một bản nhạc đánh dấu sự thay đổi trong phong cách sáng tác âm nhạc của nhà soạn nhạc thiên tài Beethoven. Nó vừa có một cái gì đó như là tiếc thương, mất mát, vừa có những lời nguyện cầu, vừa có sự dữ dội như bão tố. Đằng sau bản sonata nổi tiếng này là rất nhiều câu chuyện…

Bản sonata cung Đô thăng thứ dành cho piano mang tên “Quasi una fantasia” thường được biết đến dưới cái tên bản sonata Ánh trăng, là một tác phẩm của nhà soạn nhạc thiên tài Ludwig van Beethoven sáng tác vào năm 1801. Ngày nay, nó là bản nhạc nổi tiếng nhất của ông dành cho piano, và ngay cả thời bấy giờ nó cũng là bản nhạc được rất nhiều người yêu thích. Nói về sự phổ biến của sonata Ánh trăng, nó đã làm Beethoven phát bực. Ông từng nói với học trò Czerny của mình rằng : “Thầy còn viết nhiều bản hay hơn thế”, ấy vậy mà người ta cứ nhắc mãi về sonata Ánh trăng…

Có rất nhiều câu chuyện được kể để giải thích cho sự ra đời của bản sonata Ánh trăng. Vào giữa thế kỷ 19, người ta bắt đầu đồn đại về cuộc gặp gỡ của Beethoven với một cô gái mù. Theo đó, khi gặp cô bé mù đang ngồi bên cạnh một chiếc đàn piano, Beethoven đã rất đỗi cảm thương. Ông ngồi xuống chính chiếc đàn piano đó và đột nhiên cảm nhận được ánh trăng đang chiếu vào qua cửa sổ. Như được truyền cảm hứng, Beethoven đánh lên những nốt nhạc của bản sonata nổi tiếng. Trong một phiên bản khác của câu chuyện, nhà soạn nhạc đã ngắm nhìn ánh trăng chiếu vào cô gái mù trong khi ông đang chơi đàn cho cô và anh trai cô. Và rồi ông nhận được linh cảm để sáng tạo nên “Quasi una fantasia”. Lại có người cho rằng đây là bản nhạc dành cho một tình yêu không trọn vẹn của nhà soạn nhạc thiên tài…

Dẫu sao, đó cũng chỉ là những “truyền thuyết”. Ánh trăng không phải là cái tên do Beethoven đặt cho bản sonata cung Đô thăng thứ (C♯ minor) này. Cái tên sonata “Ánh trăng” chỉ xuất hiện vài năm sau khi Beethoven đã qua đời. Vào năm 1836, nhà phê bình âm nhạc Đức, Ludwig Rellstab, chia sẻ rằng bản sonata này gợi lên trong ông hình ảnh ánh trăng phản chiếu trên hồ Lucerne. Kể từ đó, cái tên sonata Ánh trăng mới trở thành tên gọi “chính thức” một cách không chính thức của bản nhạc.

Beethoven không sáng tác sonata Ánh trăng theo mô thức truyền thống là nhanh – chậm – nhanh. Nó bắt đầu với thể Adagio (cung Đô thăng thứ) chậm, rồi nối tiếp bằng Allegretto (cung Rê giáng trưởng) chậm và kết thúc bằng Presto agitato (cung Đô thăng thứ) dữ dội. Phần thứ nhất thật là nhẹ nhàng, sâu lắng, và buồn. Nhà soạn nhạc người Pháp Berlioz bình luận rằng nó như “một thứ thơ mà ngôn ngữ con người không thể nào cất lên được”. Còn học trò của Beethoven, Carl Czerny thì cho rằng nó miêu tả một “màn đêm, với những âm thanh ảm đạm vọng tới từ phương xa”. Cũng có người cảm tưởng rằng mình đang bước đi trong đêm tối dưới ánh trăng chiếu rọi.

Phần thứ hai, Allegretto (cung Rê giáng trưởng), lại mang người nghe bình tĩnh trở lại với những nốt nhạc có phần tươi tắn hơn, trong sáng hơn, đem đến hy vọng. Phần thứ hai rất ngắn, dường như chỉ là cây cầu nối cho phần thứ nhất và phần thứ ba. Nhà soạn nhạc Franz Liszt đã ví phần thứ hai này như là “một bông hoa giữa hai vực thẳm” vậy. Bông hoa của Beethoven cứ nở rồi lại thu về rồi lại nở, tuần hoàn lặp lại trên nền nhạc.

Phần thứ ba là phần “bão tố” của sonata Ánh trăng. Những nốt nhạc nhanh và mạnh mẽ bộc lộ một cảm xúc dữ dội.

Bên cạnh những “truyền thuyết” lãng mạn về bản sonata Ánh trăng, người ta không thể lãng quên một thực tế rằng vào giai đoạn sau 1801, Beethoven bắt đầu nếm trải sự tuyệt vọng trong tâm hồn khi phải cố gắng chấp nhận việc mình bị mất thính giác. Người ngoài nhìn vào thì thấy Beethoven có một cuộc sống lý tưởng, là một nghệ sỹ piano bậc thầy và là một nhà soạn nhạc thành công hàng đầu ở Vienna. Tuy nhiên, Beethoven bắt đầu rời xa khỏi xã hội và bè bạn vì lo lắng rằng mọi người sẽ biết việc mình sẽ bị điếc. Người ta thì cảm thấy ông khó gần…

Beethoven đã sống nhiều năm trong tịch mịch và cô đơn cho tới lúc điếc hẳn. Hoàn cảnh đó đã ảnh hưởng sâu sắc đến tinh thần và sự sáng tạo của ông trong âm nhạc. Giai đoạn 1800 – 1802 đánh dấu một bước ngoặt trong cuộc đời Beethoven và cũng khởi đầu cho giai đoạn sáng tác tiếp theo của ông. Khi tai không còn nghe được nữa, Beethoven bắt đầu lắng nghe bằng tâm hồn của mình.

Beethoven đã tìm cách điều trị tại một ngôi làng ở Heilgenstadt vào cuối mùa xuân năm 1802 cho đến tháng 10 cùng năm đó. Quá tuyệt vọng vì việc chữa trị không thành công, ông từng có ý định tự kết liễu đời mình. Trong một bức thư, ông kể: “Nhờ nghệ thuật mà tôi đã không kết liễu đời mình bằng việc tự sát”.

Lặp đi lặp lại trong âm nhạc của Beethoven chính là tinh thần vượt qua nghịch cảnh. Những xung đột nội tâm ông trải qua đều có thể tìm thấy trong âm nhạc, đó là việc vượt lên tất cả để chiến thắng sự tuyệt vọng và đau buồn. Cũng qua những giằng xé trong tâm tưởng đó, Beethoven đã học được cách sống cùng với tật mất thính giác và trở thành một thiên tài âm nhạc với các kiệt tác vô cùng vĩ đại.

Sau đợt điều trị, Beethoven tỏ vẻ không hài lòng với các tác phẩm của mình và theo như học trò của ông, Czerny, thì “ông quyết tâm đi trên một con đường mới”. Sự thay đổi đó thể hiện qua tiết tấu mạnh mẽ trong những bản sonata, sự kịch tính, sự bất cân đối…

Sonata Ánh trăng có thể được xem là sáng tác đầu tiên khi Beethoven bước sang giai đoạn dần mất đi thính lực cho đến lúc điếc hẳn. Sự tiếc thương và mất mát trong tác phẩm, những lời nguyện cầu, và cả bão tố đã tạo nên một thứ âm nhạc tuyệt hảo, thứ âm nhạc khởi đầu cho những kỳ tích mang tên Beethoven. (theo Thanh Nhã)

Xuân Mai tổng hợp chuyển tiếp

BÍ ẨN XUNG QUANH

MỘT TUYỆT TÁC

SUÝT LÀ BIỂU TƯỢNG

CỦA SÀI GÒN

Lăng Ông – lăng mộ đức Tả quân tổng trấn Gia Định thành Lê Văn Duyệt nằm ở vị trí ‘long mạch’, vùng ‘sơn thủy chi giao’ chứa nhiều điều bí ẩn, ít ai biết từng có thời được định chọn làm biểu tượng cho Sài Gòn.

Nằm trong khuôn viên rộng 18.500 m2, kế bên hông chợ Bà Chiểu (số 126 đường Đinh Tiên Hoàng, Q.Bình Thạnh), lăng Ông – còn có tên gọi phổ biến là lăng Ông Bà Chiểu, là một công trình kiến trúc nghệ thuật độc đáo của vùng đất Nam Bộ, có mặt chính hướng ra phía Cầu Bông. Ngày xưa nơi đây là vùng đất hoang rậm của thượng du Nghi Giang nên bây giờ vẫn còn tồn tại nhiều loại cây xanh, gỗ quý như: dầu, giá tỵ, bằng lăng, thốt nốt… rợp mát bước chân du khách.

Vì sao Lăng Ông mà lại có mộ… bà ?

Sử sách xưa ghi lại : “Tháng 7 năm 1832 (Nhâm Thìn), tả quân Lê Văn Duyệt mất được an táng tại làng Bình Hòa (bây giờ là Q.Bình Thạnh). Tuy nhiên, do mối tị hiềm với tả quân nên vua Minh Mạng đã ghép ông vào 11 trọng tội và “đến chỗ mả đắp, san làm đất bằng”, dựng bia khắc 8 chữ “Quyền yêm Lê Văn Duyệt phục pháp xử (Chỗ tên hoạn quan Lê Văn Duyệt chịu tội).

Đến năm 1841, khi Thiệu Trị con trai trưởng vua Minh Mạng lên ngôi thì nỗi oan khiên trên mới được giải. Vua cho xuất tiền kho xây đắp lại mộ cho tả quân Lê Văn Duyệt khang trang”.

Mặc dù có tên gọi là lăng Ông nhưng bên trong khu lăng vẫn có… bà được chôn cất theo. Chánh thất tả quân phu nhân tên là Đỗ Thị Phận được song táng nằm song song với chồng. Hai ngôi mộ đều có hình thức, kích thước và chất liệu kỹ thuật giống hệt nhau. Thoạt nhìn như hai quả trứng ngỗng xẻ theo chiều dọc úp trên hình chữ nhật có tác dụng như đế mộ, theo kiểu phối hợp tấm liếp (kệ bên dưới) và trứng ngỗng (phần úp bên trên).

Điều khá bất ngờ là thực ra thời điểm đó bà Phấn cũng bị khép tội như chồng nhưng vì Lê Văn Duyệt có tật “ẩn thân” nên về lý không thể là vợ của ông, do đó triều đình mới tạm tha. Bà về ở với mẹ ruột trong một ngôi chùa ở Chợ Lớn, khi mất đi được người thân an táng tại khuôn viên trong vườn. Sau này, tả quân Lê Văn Duyệt mất các bộ hạ thân tín mới đem hài cốt của bà bí mật mang vào chôn bên cạnh ông để hai vợ chồng điền viên nơi chín suối.

Toàn bộ tường xây xung quanh hai ngôi mộ hiện nay sử dụng đá ong trát xi măng gọi là Uynh Thành. Mặt ngoài bình phong tiền có chạm hình con chim đậu trên cành cây trong tư thế xõa cánh, còn mặt trong đắp hình hai con hổ: một lớn, một nhỏ. Bình phong hậu đắp nổi một mặt rồng, chân có bốn móng trông rất uy nghi, trang nghiêm.

Huyền thoại xung quanh cuộc đời Tả Quân

Có nhiều huyền thoại và câu chuyện lưu truyền trong dân gian về cuộc đời của nhân vật đặc biệt xuất chúng của vùng đất Nam Bộ. Điều đó cũng hoàn toàn bình thưởng vì lúc còn sống, tả quân Lê Văn Duyệt là nhân vật rất có quyền uy, được người dân kính nể khi hai lần ông được vua triều Nguyễn cử giữ chức Tổng trấn Gia Định thành (1812 – 1815) và (1820 – 1832), cai quản cả một vùng rộng lớn của đất phương Nam.

Theo nghiên cứu của tác giả Bùi Thị Ngọc Trang trong cuốn Nghệ thuật kiến trúc, trang trí, lễ hội lăng Tả quân Lê Văn Duyệt : “Tả quân Lê Văn Duyệt có “tướng tinh”, nghĩa là con cọp bạch. Vì vậy, lúc ông chưa phò chúa Nguyễn khi ngủ có người thấy thấp thoáng bóng con cọp bạch hiện ra. Lại có truyền tụng rằng những con hổ mà Lê Văn Duyệt nuôi để mang đi giao đấu rất sợ và tuân lời ông răm rắp. Nhiều khi chúng đang nổi giận gặp cái gì cũng giày xéo nhưng thấy thấp thoáng bóng tướng quân là ngoan ngoãn, điềm tĩnh ngay lại”.

Chuyện xưa còn kể rằng, khi đang giữ chức tổng trấn, một lần đi lên núi Bà Đen (Tây Ninh bây giờ) viễn cảnh, ông được báo ứng biết trước hậu vận là sẽ bị hành hạ, mả mồ bị xiềng xích, tên tuổi bị đục khoét rồi mới được minh oan mà sau này diễn tiến đúng y như thật.

Việc ông tạ thế cũng có thêm huyền thoại, như sách đã dẫn : “Lúc Lê Văn Duyệt ngã bệnh, cột cờ trong thành Gia Định không có gió mà tự nhiên gãy. Một tháng sau, lúc có việc đi kinh lý biên giới, vừa ra khỏi thành thì con voi ông cưỡi thình lình nằm bẹp dí xuống đất, cất tiếng rống thảm thiết dù bắt ép thế nào cũng không đứng dậy.

Cuối cùng ông phải dùng ngựa mà đi, Lê Văn Duyệt thấy có điềm lạ nên mới cho mọi người hay biết mình đang bị bệnh. Việc ông mất bị hàm oan, thể xác hành hạ và mồ mả bị xiềng xích cũng khiến cho khu lăng mộ này trở nên linh thiêng và huyền bí hơn”.

Được biết, trước đây có một thời và có người đã từng muốn lấy hình ảnh lăng tả quân Lê Văn Duyệt làm biểu tượng cho Sài Gòn nhưng rồi không thành. Tuy nhiên, hiện nay du khách mỗi khi đến Sài Gòn đều muốn đến viếng và tham quan lăng Ông Bà Chiểu, một công trình di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia độc đáo, có một không hai của Sài Gòn và rất nhiều lễ hội hàng năm cũng được tổ chức tại đây, thu hút rất đông khách thập phương. (theo Lê Công Sơn)

Hai Điếu ĐĐ chuyển tiếp

BÍ ẨN TRONG CÁC BỨC DANH HỌA

NHỮNG BÍ ẨN ĐƯỢC GIẤU

TRONG CÁC BỨC TRANH NỔI TIẾNG

Đằng sau những lớp sơn, lớp màu tạo nên các tác phẩm nghệ thuật nổi tiếng toàn thế giới là những hình họa mà họa sĩ đang muốn tìm cách giấu đi.

1/. Mona Lisa của Leonardo da Vinci : Mona Lisa có lẽ là bức tranh nổi tiếng nhất trên giới. Nụ cười bí ẩn quyến rũ đã nắm bắt bao con tim trong giới nghệ thuật vậy mà danh tính của người mẫu giúp làm nên bức tranh nổi tiếng đó vẫn mãi là một vấn đề đầy tranh cãi.

Nhiều người cho rằng cô gái đó là Lisa del Giocondo (hay Lisa Gherardini), vợ của một thương nhân ở Florentine. Thế nhưng một khám phá gần đây đã làm vỡ mộng không ít người.

Có đến hai bức tranh khác nhau được tìm thấy dưới bức Mona Lisa. Một trong những bức hoạ được cho rằng đã vẽ lại chân dung thực của Lisa. Khoa học gia người Pháp Pascal Cotte cho rằng kết quả tìm thấy dưới bức Mona Lisa có thể hoá giải mọi bí ẩn và thay đổi lại cái nhìn của mọi người về kiệt tác này.

Thế nhưng những nhà sử gia khác lại không đồng ý và cho rằng những bức tranh được tìm thấy bên dưới chỉ có thể chứng tỏ quá trình sáng tạo của da Vinci, cách mà tranh của ông biến đổi và phát triển. Cho đến nay, đại diện của bảo tàng Louvre ở Paris vẫn chưa đưa ra bình luận gì về vấn đề này.

2/. Bức Woman at a Window của Palma Vecchio : Một lần phục hồi tranh đã để lộ ra phiên bản đầu tiên được giấu bên dưới bức tranh. Giống như trường hợp của bức Madame X, bức tranh Woman at a Window cũng đã bị chỉnh sửa nặng nề để bớt khiêu gợi và trở nên đứng đắn hơn cho phù hợp với xã hội thời bấy giờ.

Một lần phục hồi tranh đã để lộ ra phiên bản đầu tiên được giấu bên dưới bức tranh. Trong bức tranh gốc cô gái có mái tóc vàng, đôi mắt xa xăm và bộ ngực nở làm người ta liên tưởng đến một kỹ nữ. Vecchio đã sửa lại màu tóc, đôi mắt, khuôn mặt và che lại bộ ngực, khiến hai bức tranh trông như hai người hoàn toàn khác hẳn nhau.

3/. Bức Madame X của John Singer Sargent : Khi vừa ra mắt, bức tranh này nhanh chóng trở thành tiêu điểm của nhiều tranh cãi. Khi bức Madame X được triển lãm lần đầu tiên vào năm 1884, nó đã nhanh chóng trở thành tiêu điểm của nhiều tranh cãi. Nhiều nhà bình luận và người xem đã tỏ vẻ không thích bức tranh vì mô tả một người phụ nữ mặc một chiếc váy đen có quai đeo tuột xuống một bên vai là không đứng đắn.

Người mẫu cho bức tranh chính là Madame Pierre Gautreau, một expat đến từ New Orleans. Nhờ nhan sắc bản thân, cô đã tạo nên tên tuổi cho mình trong cộng đồng ở Paris. Cuối cùng, gia đình của Pierre Gautreau thấy quá xấu hổ và yêu cầu gỡ bức tranh khỏi cuộc triển lãm.

Sợ rằng gia đình Gautreau sẽ huỷ bức tranh đi, Sargent quyết định sửa lại để quai váy “đứng đắn” nằm trên vai của người mẫu. Đầu năm 2016, phiên bản đầu tiên được phát hiện và trưng bày tại Bảo tàng Nghệ thuật Metropolita.

4/. Bức Still Life with Meadow Flowers and Roses của Vincent van Gogh : Mất 10 năm, các nhà nghiên cứu mới đưa ra được kết luận: đây chính là một bức tranh Van Gogh chính hiệu.

Thật ra kể từ năm 1974, đã có nhiều nghi vấn đặt ra về việc liệu van Gogh có phải là tác giả thật sự của bức tranh này hay không. Các chuyên gia nghiên cứu bố cục, chất liệu thậm chí là cả chỗ ký tên trên tranh để tìm lời giải và kết luận rằng có quá nhiều điểm không giống với các tác phẩm khác của van Gogh. Kể từ đó bức tranh bị gỡ khỏi bộ sưu tập tranh van Gogh.

Mãi cho đến khi người ta phát hiện ra một bức hình khác bên dưới. Đó là một bức tranh mô tả hình hai người đàn ông đang vật lộn với nhau được nhiều chuyên gia nhận định rất có thể là một bức tranh mà van Gogh đã vẽ đè lên để tiết kiệm tiền mua nguyên vật liệu.

Mất đến 10 năm nghiên cứu, cả việc kiểm tra chất màu trong tranh, các chuyên gia mới đi đến kết luận rằng đó là một bức tranh Van Gogh chính hiệu. Van Gogh đã từng nhắc đến bức tranh hai người đàn ông vật nhau trong một bức thư viết năm 1886: “Tuần này, tôi vừa vẽ hai bộ ngực trần ở khổ lớn–hai đô vật”. Ông cũng viết thêm rằng ông rất hài lòng với kết quả đạt được.

5/. Bức Isabella de’ Cosimo I de Medici : Các chuyên gia cho rằng bức tranh đã được chỉnh sửa để trở nên dễ nhìn và dễ bán hơn. Sau khi nhiều chuyên gia tỏ ý nghi ngờ về tính xác thực của bức chân dung con gái của công tước xứ Tuscany, một cán bộ bảo quản ở Bảo tàng Carnegie, Pittsburg, đã lôi bức tranh ra kiểm tra kỹ càng bức tranh từ thế kỷ 16 này.

Kết quả là bức tranh là chuẩn thật thế nhưng lại giấu một bí mật kinh người có lẽ là một trong những nỗ lực đầu tiên của con người nhằm “photoshop” chỉnh sửa ảnh tự sướng. Giấu dưới gương mặt trẻ trung, xinh đẹp là một gương mặt thật của con gái ngài công tước: già hơn, nhiều nếp nhăn hơn và tất nhiên là xấu hơn gương mặt đã được chỉnh sửa.

Những chỉnh sửa này được thực hiện từ thế kỷ 19 khiến trong suốt nhiều năm, người ta đã ngộ nhận về sắc đẹp trong tranh. Các chuyên gia cho rằng bức tranh đã được chỉnh sửa để trở nên dễ nhìn và dễ bán hơn.

6/. Bức Portrait of Don Ramon Satue của Francisco de Goya : Có lẽ Goya đã vẽ đè lên bức tranh cũ vì vẽ một vị tướng của thời vua cũ là quá nguy hiểm khi vua mới đã lên ngôi. Chân dung một người đàn ông mặc quân phục được phát hiện bên dưới bức chân dung đã hoàn thành. Bởi vì gương mặt của người đàn ông chưa hoàn thành nên danh tính của người đàn ông này vẫn là một ẩn số.

Bộ quân phục trong tranh cho thấy người này có phẩm cấp rất cao trong dòng hiệp sĩ thành lập bởi Joseph Bonaparte, anh trai của Napoleon Bonaparte và vua của xứ Tây Ban Nha. Tính ra trong lịch sử chỉ có khoảng 15 vị tướng là đủ phẩm cách mặc bộ quân phục này thế nhưng các chuyên gia vẫn không thể giới hạn danh sách lại ngắn hơn.

Joseph Bonaparte có thời gian trị vì từ năm 1808 đến 1813. Sau đời vua Bonaparte, Goya tiếp tục làm hoạ sĩ trong hoàng cung cho vị vua sau. Có lẽ Goya đã vẽ đè lên bức tranh cũ vì vẽ một vị tướng của thời vua cũ là quá nguy hiểm khi vua mới đã lên ngôi.

7/. Bức Young Woman Powdering Herself của George Seurat : Người mẫu cho bức tranh Young Woman Powdering Herself của George Seurat không ai khác chính là người tình của ông. Trong bức tranh, một người phụ nữ đang ngồi trang điểm. Trên bức tường là một chiếc gương nhỏ phản chiếu lại hình ảnh một lọ hoa đặt trên bàn. Seurat đã vẽ lọ hoa đó để che đi hình phản chiếu của gương mặt ông.

Trước khi đem tranh đi trưng bày, Seurat có nhờ bạn đánh giá bức tranh và bạn ông, không biết chuyện Seurat ngoại tình, thẳng thắn nhận xét rằng gương mặt trong gương trông quá khôi hài. Vậy nên Seurat quyết định sẽ tiếp tục giữ kín chuyện ngoại tình.

8/. Bức Patch of Grass của Vincent van Gogh : Vincent van Gogh, họa sĩ có cuộc đời đầy bi kịch, vẽ kiệt tác Patch of Grass ở Paris vào năm 1887. Thế nhưng các nhà khoa học từ Hà Lan và Bỉ đã thành công bật mí ra một bức chân dung bị che giấu đằng sau kiệt tác này năm 2008 với sự giúp sức của tia X.

Bức Patch of Grass có màu chủ đạo là xanh lá và xanh da trời còn bức chân dung bí ẩn lại có màu đỏ và nâu tả lên chi tiết khuôn mặt của một người phụ nữ nông dân. Các chuyên gia nghệ thuật nhất trí rằng van Gogh thường vẽ đè lên tranh để tiết kiệm tiền.

9/. Bức View of Scheveningen Sands của Hendrick van Anthonissen : Bức tranh View of Scheveningen Sands của họa sĩ Hendrick van Anthonissen được hoàn thành vào năm 1641 và được tặng lại cho Bảo tàng Fitzwilliam năm 1873. Bức tranh mô tả một bãi biển yên bình với vài người lang thang trên cát trong một ngày mùa đông. Bức tranh trông khá bình thường.

Thế nhưng khi một thực tập sinh được giao nhiệm vụ tẩy một vết sơn vàng trên tranh, cô đã tình cờ phát hiện ra một bí mật thú vị. Sát với chiếc thuyền buồm lờ mờ phía đường chân trời là hình một con cá voi nằm trên cát. Còn chiếc thuyền buồm lại chính là đuôi của con cá. Các chuyên gia sau đó cho rằng con cá heo này đã bị che lại vào thế kỷ 18 hoặc 19 vì hình mô tả các con vật chết được cho là phản cảm.

10/. Bức tranh The Wood Sawyers của Jean-Francois Millet : Khi sử dụng tia hồng ngoại để chụp bức tranh The Wood Sawyers của Jean-Francois Millet, một chiếc đầu người lờ mờ hiện lên ngay bên trên vai của một trong những người đàn ông đang cưa gỗ trong tranh. Sau khi bức tranh được quét toàn diện và đánh giá một cách kỹ càng, người ta phát hiện ra bên dưới bức tranh hoàn chỉnh là hình vẽ bức tượng La Republique nổi tiếng ở Pháp.

Alfred Sensier, người viết tiểu sử của Millet, khẳng định rằng hình bức tượng vốn được dùng để dự thi nhưng không giành được giải thưởng nào. Vậy nên Millet đã vẽ bức tranh mới đè lên để có thể tiết kiệm tiền. Ngoài ra người ta cũng tìm thấy vài vết rách, lỗ vá có lẽ là kết quả khi Millet điều chỉnh khung tranh để vẽ bức tranh mới.

11/. Sự trả thù của họa sỹ Salvador Dali : Bức họa Figure at a Window (tạm dịch Bóng hình bên cửa sổ) được họa sỹ Dali vẽ vào năm 1925, lúc ông mới chỉ 21 tuổi. Và lúc đó, Dali chưa hề gặp vợ mình, Gala, vì thế mà nguồn cảm hứng của bức tranh đến từ cô chị của họa sỹ, Ana Maria. Thời gian trôi qua, mối quan hệ giữa ông và cô chị trở nên xấu đi và họa sỹ Dali thậm chí đã từng nói: “Đôi khi nhìn vào nó, tôi lại nhổ một bãi nước bọt vào bức họa mới cảm thấy dễ chịu”. Điều này khiến Ana Maria rất tức giận.

Năm 1949, Ana Maria đã viết một cuốn sách về Dali với tựa đề: “Salvador Dali, qua con mắt của người chị (Salvador Dali, Seen Through the Eyes of His Sister). Việc này một lần nữa lại làm quan hệ của họ càng thậm tệ hơn.

Cuối cùng, năm 1954, họa sỹ Dali vẽ bức tranh “Young Virgin Autosodomized by her Own Chastity'” với vị trí các phần, mái tóc, khung cảnh và màu sắc của bức họa đều gợi về bức họa “Bóng hình bên cửa sổ” ngày xưa như một phiên bản lỗi đầy sự căm ghét và phỉ báng. Người ta cho rằng, bức tranh thứ hai của Dali chính là sự trả thù đối với những gì cô chị đã viết về ông trong cuốn sách đó.

12/. Khuôn mặt biến hóa khôn lường trong bức tranh The Old Fisherman : Năm 1902, họa sỹ người Hungary, Csontváry Kosztka Tivadar vẽ bức tranh “Ông lão đánh cá” (The Old Fisherman). Khi nhìn vào bức tranh có vẻ không có gì đặc biệt. Tuy nhiên, nếu ai đó đặt một tấm gương vào giữa bức tranh thì bạn sẽ nhận ra hai khuôn mặt với hai vẻ mặt trái ngược.

Đặt gương phản chiếu vẻ mặt bên phải, bản sẽ thấy khuôn mặt của ông lão bỗng biến sắc trở thành một người hung dữ, nhưng khi phản chiếc vẻ mặt bên trái, ông lão bỗng trở nên hiền dịu với đôi tay chắp lại, phía sau là vùng biển hoàn toàn tĩnh lặng. (theo Dân Trí)

LỊCH SỬ CỦA NHỮNG

CHÚ HỀ QUÁI ĐẢN TRÊN MÀN ẢNH

Trên màn ảnh, nỗi sợ về những chú hề kinh dị đã nhen nhóm từ đầu thế kỉ 20 và được thổi bùng lên trong khoảng thời gian gần đây.

Trong hàng trăm năm, chúng ta sống trong thế giới mà những chú hề được sinh ra với mục đích mua vui cho khán giả. Với áo quần sặc sỡ và trang điểm lòe loẹt, nhân vật hề đã trở nên quá quen thuộc trong văn hóa Tây phương. Các ngôi sao nhạc pop thì hát Everybody Loves a Clown và Send in the Clowns. Các bậc phụ huynh thì thuê những người đóng hề về làm trò ảo thuật cho bữa tiệc sinh nhật của trẻ nhỏ.

Gã hề Ronald McDonald thì bán hamburger. Emmett Kelly và Red Skelton dường như đã quá quen mặt trên truyền hình. Văn hóa đại chúng cho phép nhân vật hề điềm nhiên bước vào thế giới của những người dân bình thường, để đem lại tiếng cười và đôi khi cả những nỗi sợ hãi khủng khiếp nhất cho họ.

Một vài người sẽ nói: “Ôi đối với tôi những thằng hề trông cứ ghê ghê thế nào ấy”. Họ không quá quắt, khi chứng bệnh Coulrophobia – nỗi ám ảnh với gương mặt hề đang dần trở nên phổ biến trong cộng đồng với con số 12% dân số Mỹ mắc phải. Tỉ lệ này rất có thể sẽ còn tăng lên khi mới đây, những vụ tấn công, dọa dẫm liên quan đến những kẻ quá khích hóa trang thành ma hề, hề giết người… ngày càng trở nên đáng báo động. Năm 2016 đánh dấu đỉnh điểm của nỗi sợ hãi về những chú hề, khắp mọi nơi người ta truyền tai nhau những câu chuyện kinh dị.

Làm sao từ một nhân vật với nhiệm vụ đem lại tiếng cười cho tất cả lại có số phận như vậy ? Truyền thông, mà cụ thể là điện ảnh đóng một vai trò quan trọng. Sự xuất hiện ngày càng nhiều của những nhân vật hề đáng sợ thời gian gần đây là cảm hứng vô tận cho trang phục hóa trang, cũng đồng thời thổi bùng lên nỗi sợ khuôn mặt trắng những phấn và chiếc mũi đỏ. Dưới đây là lược sử của nhân vật hề kinh dị trên màn ảnh.

1/- He Who Gets Slapped (1924)  Từ nửa đầu thế kỉ 20, điện ảnh đã khai thác thế giới kì quặc trong các gánh xiếc và lễ hội hóa trang. Tuy nhiên, các nhà làm phim và cả khán giả thời ấy thường cho rằng những người lùn, người có thân hình dị dạng (bị gọi chung với cái tên ghẻ lạnh là “freaks” hay “lũ dị hợm” ) và những bà đồng cốt lại là những nhân vật đáng sợ hơn là lũ hề.

Trừ một ngoại lệ trong đó Lon Chaney vào vai nhân vật chính. Một tác phẩm vừa kinh dị vừa đắng cay, trong đó gã hề của Lon Chaney cố gắng giải cứu người phụ nữ trẻ mà gã yêu thương người từng phản bội gã. Tác phẩm là lá cờ đầu của hình tượng hề kinh dị và là cơn ác mộng đối với tất cả những nạn nhân của hội chứng Coulrophobia.

2/- Terror on Tour (1980)  Nội dung của phim tập trung vào ban nhạc rock mang tên The Clowns rơi vào rắc rối khi đột nhiên nhiều cô gái mại dâm bị giết chết từng người một bởi sát nhân trông giống các thành viên của ban nhạc. Mặc dù không phải là “sát thủ hề” theo đúng nghĩa truyền thống, tuy nhiên Terror on Tour chính xác là một trong những tác phẩm đầu tiên vẽ nên hình ảnh nụ cười gần với con dao đầy máu mà sau này đã trở nên quen thuộc trên màn ảnh.

3/- Poltergeist (1982)  Hãy hỏi một người lớn tuổi về khoảnh khắc nào trên màn ảnh đã chính thức tàn phá tuổi thơ của họ về hình ảnh chú hề, nhiều người sẽ không ngần ngại chỉ ngay vào cảnh phim kinh điển trong Poltergeist, khi cậu bé Robin bị những chú hề tấn công. Hiệp hội các nhà phê bình phim Chicago từng bầu chọn Poltergeist vào danh sách “Bộ phim đáng sợ nhất từng thực hiện trong thế kỷ 20”. Phim cũng nằm top 100 bộ phim “sởn da gà” nhất của Mỹ.

4/- Funland (1987) / Blood Harvest (1987) / Out of the Dark (1989)  Đây là thời điểm mà ý tưởng về những chú hề giết người được hoàn thiện. Nửa cuối thập niên 80 thế kỉ trước, bộ ba tác phẩm này đã hoàn toàn xây dựng được hình ảnh những “killer clowns” như chúng ta thấy nhan nhản ngày nay. Được thúc đẩy bởi sự sụp đổ từ niềm tin chính trị cuối thời Reagan, người Mỹ muốn truyền tải sự đe dọa đằng sau lớp hóa trang dày cộm và nụ cười thường trực của những chú hề mà câu chuyện bề nổi luôn hàm ý một nhân vật đáng sợ.

5/- Killer Klowns from Outer Space (1988) / Clownhouse (1989) / Carnival Of Souls (1998)  Đợt phim này đại diện cho sự phát triển tiếp theo của trào lưu ghét hề – khi quan niệm ghê sợ hề đang dần phổ biến. Nỗi sợ vốn mơ hồ nay đã trở nên ăn sâu bám rễ tới mức các nhà làm phim đối xử với những quái vật khuôn mặt méo mó trong Killer Klowns from Outer Space (1988) cứ như chúng có thể gây ra tận thế vậy.

Trong khi đó, Clownhouse học tập phong cách hề sát thủ của Halloween nhưng lại thêm yếu tố bí hiểm và bất ngờ. Carnival of Souls thì lấy cảm hứng từ một bộ phim cùng tên năm 1962 nói về tên hề biến thái rình rập một phụ nữ trẻ. Cho tới năm 1998, “lễ hội” thì có nghĩa là “hề”, mà “hề” thì suy ngay ra là “giết người”.

6/- Joker trong loạt phim về Batman : Đây là ví dụ gần nhất cho những con quỷ với nụ cười thường trực. Hình ảnh Joker gắn với hình tượng một gã hề đã trở nên quá quen thuộc trong văn hóa đại chúng trên thế giới. Với khuôn mặt trắng bệch và nụ cười nham nhở rạch tới tận mang tai, Joker là cơn ác mộng kinh hoàng với tất cả những người sợ hề, là sự kết hợp ám ảnh giữa sự đùa cợt và một trí tuệ biến thái độc ác.

7/- House of 1000 Corpses (2003) / The Devil’s Rejects (2005) / 31 (2016)  Rob Zombie nổi đình nổi đám qua 2 tác phẩm đầu tay House of 1000 Corpses (2003) và 2 năm sau là The Devil’s Rejects. Cả hai đều có chứa những cảnh kinh dị “nặng đô” có thể khiến người xem chóng mặt buồn nôn. Tất nhiên trong đó đều không thể thiếu hình ảnh những chú hề. Thật không gì kinh khủng bằng đã zombie lại còn hề kinh dị xuất hiện chung trong một bộ phim. Năm 2016, Rob cho ra mắt tác phẩm mới nhất của mình với cái tên 31 và nội dung tương tự.

8/- Fear of Clowns (2004) / Drive-Thru (2007) / 100 Tears (2007) / The Last Circus (2010) / Stitches (2012) / All Hallows’ Eve (2013)  6 tác phẩm được ra mắt trong những năm gần đây đại diện cho sự quá tải của hình ảnh hề sát thủ trên màn ảnh. Vô danh, máu lạnh, thậm chí máu lạnh một cách bản năng và ngu ngốc, biểu tượng của chuỗi thức ăn nhanh ngày nào đã trở thành chủ đề quen thuộc của các phim kinh dị đầu thế kỉ 21, thậm chí còn được phát triển thành phiên bản truyền hình dài tập.

9/- Clown (2014) / ClownTown (2016) Cả hai tác phẩm đều là những cái tên khá mới, và cùng đi theo một hướng khai thác mới mẻ khi nhân vật chính không phải là những gã hề ngay từ đầu. Tập trung phân tích sự giằng xé và quá trình biến đổi từ người thành quỷ, đây có lẽ sẽ là một hướng đi mới trong bối cảnh đã có quá nhiều phim về hề được ra mắt và sẽ còn nhiều nữa trong thời gian tới.

Xuân Mai tổng hợp chuyển tiếp

CA KHÚC BẤT HỦ BÉSAME MUCHO

BÉSAME MUCHO

– Thạch Bích

Tôi đang nhớ về Sài gòn một đêm vừa mưa, vừa gió… Cơn mưa rào miền Nam không những xoa dịu hơi nóng hầm hập suốt ngày, những luồng gío nhẹ luồn qua chắn song cửa đủ mang đến chút lành lạnh, khiến tôi nằm trong giường đã phải chùm chiếc chăn mỏng màu huyết dụ, có điểm những bông hoa trắng nhỏ li ti, Bố Mẹ mang theo từ hồi di cư vào Nam. Những đêm như thế, kéo chăn lên tới tận cổ, nằm đọc truyện hay nghe nhạc thì chắc không còn thú nào hơn …

Hồi đó tôi đang tuổi mới lớn, đã biết chăm sóc diện mạo của mình, đã biết vui buồn vu vơ… và cũng mới quen với anh T., một học sinh bên trường HNC. Thời ấy tôi có thói quen đêm đêm đón nghe chương trình “Tiếng nói Dạ Lan”, tiếng nói của em gái hậu phương gửi các anh trai ngoài trận tuyến… Tôi không phải là lính, thế mà tôi vẫn mê cái giọng Bắc ngọt ngào, dễ thương của Dạ Lan.

Nhưng lý do chính khiến tôi thích nghe chương trình này, là những bài nhạc tình lồng trong những buổi phát thanh đó, nhất là những bài nhạc ngoại quốc. Chỉ riêng điệu nhạc chính dùng đệm nền “Walk don´t run” do ban nhạc “The Venture” trình bày đã đủ làm tôi mê mẩn… Rồi tôi còn nhớ thật rõ ràng, vào đêm Sài gòn có mưa, có gió đó tôi đã lần đầu tiên được nghe trong chương trình “Dạ Lan” bài nhạc ngoại quốc rất lạ : Bésame mucho …

Vào cuối thập niên 60 những ban nhạc theo kiểu The Beatles : Một chàng gõ trống, ba, bốn chàng ôm đàn guitar điện gảy từng tưng và lắc lư qua lại như có chút men rượu… xuất hiện thể nấm rừng gặp mưa…  Nào là “The Shadows” với bài “Apache”, (mà anh T. kể, bọn học sinh lớp anh đã ngổ ngáo đặt lời : “Kìa xem … Thầy Tổng đen … treo toòng teng …”, để ngạo Thầy Tổng giám thị có làn da ngăm ngăm và rất ư là nghiêm khắc). Còn ban nhạc “The Animals” được biết đến qua bài “The house of rising sun”… Những bài “Yesterday”, “Hey Jude” … giới trẻ chúng tôi ai chả đã từng nghe ?

Từ năm 1963 chiến trận bùng nổ khắp miền Nam, nhất là sau khi Mỹ đã đổ gần nửa triệu quân vào tham chiến… Thế nhưng Sài gòn vẫn ăn chơi phè phỡn, vẫn tóc dài (con trai), váy ngắn (con gái) và không hề bị “Mỹ hóa” hoàn toàn, trái lại dân Sài gòn rất… Tây ! Con ông lớn, bà bé, những cậu ấm, tiểu thư con nhà giàu, trưởng gỉa, đua nhau theo học các trường theo chương trình Pháp, đắt è cổ : J. J. Rousseau, Marie Curie, Lasan Taberd, Couvent des oiseaux… Và một ngày đẹp giời, dạo phố Lê Lợi, thế nào cũng gặp những cặp choai choai dung dăng, dung dẻ với nhau, miệng bi bô :

Tous les garçons et les filles de mon âge

Se promènent dans la rue deux par deux

Tous les garçons et les filles de mon âge

Savent bien ce que c’est d’être heureux

Et les yeux dans les yeux

Et la main dans la main …

(Tous les garçons et les filles – François Hardy)

Từ những kiosks thâu băng nhạc trên đường Nguyễn Huệ vẫn văng vẳng tiếng hát của cô đầm tóc vàng Silvie Vartan:

… La plus belle pour aller danser …

Nên hồi đó, với tôi, trên đời này những bản tình ca chỉ có thể bằng tiếng Anh, Pháp và… Việt Nam ! Vẫn biết rằng còn có tiếng Tàu, tiếng Nhật… và sau này, khi đi du học, tôi còn học thêm tiếng Đức nữa. Nhưng những thứ ngôn ngữ ấy làm sao có được những câu nhẹ nhàng, lãng mạn, trữ tình tựa như :

Trời ươm nắng cho mây hồng / Mây qua mau em nghiêng sầu / Còn mưa xuống như hôm nào em đến thăm, / mây âm thầm mang gió lên. / Người ngồi đó trông mưa nguồn / Ôi yêu thương nghe đã buồn / Ngoài kia lá như vẫn xanh, ngoài sông vắng nước dâng lên hồn muôn trùng. (Mưa hồng – Trịnh công Sơn)

Thế mà bài “Bésame mucho” này bằng tiếng gì lạ hoắc, tôi không thể nào hiểu được lời nhạc ! Nhưng điệu nhạc êm dịu, giọng ca của nữ ca sĩ tôi không biết tên thật ấm áp, thật truyền cảm và mang một thoáng buồn đã mê hoặc tôi. Tôi cảm nhận một chuyện tình si mê, đắm đuối, nhưng cũng có chia ly, tan tác … Từ đấy tôi lắng nghe, mỗi khi bài hát được truyền đi trên đài phát thanh Sài gòn, nhưng tôi không nhớ được gì ngoài… Bésame  mucho ! Mà ngay chỉ hai chữ đó tôi cũng chả biết nghĩa là gì nữa, vậy mà tôi vẫn rung động, vẫn thấy thích mỗi khi nghe bài nhạc ấy…

Sau này khi qua sống bên Âu châu, tôi tìm hiểu, mới biết bài hát đó là tiếng Tây Ban Nha (Spain), một ngôn ngữ (cùng với tiếng Bồ Đào Nha / Portuguese) phổ biến trong khắp vùng Trung và Nam của châu Mỹ, từ Cuba, Mexico tới Argentina, Brazil… nơi xuất phát những điệu vũ say mê, sôi động, nồng nhiệt : Tango, Samba, Rumba… Và tôi đã biết : Bésame = kiss me, mucho = much; bésame mucho = kiss me much / kiss me a lot, cũng như tôi đã kiếm được lời cả bản nhạc và tạm dịch qua tiếng Việt : (Xem ảnh minh họa)

Hóa ra lời nhạc thật giản đơn, thật cô đọng như những câu thơ, như những nét chấm phá trong bức tranh thủy họa của Tàu. Nhưng chỉ vài câu rất đơn giản ấy đã đủ diễn tả hết sự si mê, đắm đuối, nỗi đau buồn chia ly trong cuộc tình…

Có lẽ cái hay của bài Bésame Mucho này trước hết chính là điệu Boléro nhẹ nhàng, chầm chậm, nhưng thấm sâu vào tâm gan người nghe, gây ra một nỗi buồn man mác. Chả thế đa số những bài “nhạc vàng”của Việt Nam cũng hay sử dụng điệu nhạc này. Trong khi vũ nhạc điệu Tango được coi như của Argentina, Samba của Brazil, thì Bboléro đã được cải biến từ vũ nhạc điệu Trova hồi cuối thế kỷ 19 và rất được ưa chuộng ở Cuba và sau này lan rộng sang Mexico.

Thứ đến có lẽ vì các tình tiết của bản nhạc đã phản ảnh phần nào tâm tư, mộng ước của chính tác gỉa, nữ nhạc sĩ và danh thủ đàn dương cầm người Mexico, Consuelo Velázquez : Bà vẫn được cho là bị long đong, lận đận trên tình trường. Năm 1941, lúc đó bà gần 25 tuổi (vì năm sinh của bà không chính xác, nên có tài liệu ghi tuổi của bà chênh lệch đến 10 tuổi), sau lần dự buổi nhạc cảnh (opera) Goyescas của soạn giả người Tây Ban Nha Enric Granados, bà đã có ngẫu hứng và sáng tác bài Besame Mucho.

Trong lần phỏng vấn mấy năm trước khi bà mất vào năm 2005, bà đã tiết lộ : Tới thời điểm sáng tác bài nhạc đó, bà chưa từng hôn ai, ôm hôn thắm thiết người bà mong đợi vẫn chỉ là ước mơ thầm kín…

Tài năng về âm nhạc của Consuelo Velázquez đã được ghi nhận rất sớm : Mới 7 tuổi bà đã biễu diễn đàn dương cầm trước công chúng. Khi 17 tuổi bà thành giáo sư âm nhạc và sau này bà là nhạc công (đàn dương cầm) trong ban nhạc cộng hưởng quốc gia của Mexico. Bà đã sáng tác nhiều nhạc phẩm được ưa chuộng như : No me pidas nunca, Pasional, Déjame quererte, Que seas feliz, Yo no fui, Chatito, chachito… Nhưng nhạc phẩm Bésame Mucho đã đưa bà Velázquez lên đỉnh danh vọng.

Không thể kể hết các ca sĩ nổi tiếng đã trình bày nhạc phẩm Bésame mucho, hai videos dưới đây sẽ giới thiệu hai giọng hát tuyệt vời : Cesária Évora và Andrea Bocelli. Tôi đã chọn hai người này không chỉ vì họ là những ca sĩ thượng hạng, mà cả về cuộc đời rất đặc biệt của họ.

– Bà Cesária Évora sinh năm 1941 (cùng năm bài Bésame mucho được sáng tác) ở Cap Vedes, một quần đảo phía bờ biển Tây của châu Phi, trong một “gia đình yêu âm nhạc”, thân phụ của bà đàn vĩ cầm. Sau khi thân phụ mất sớm, bà đã vào ở trong một cô nhi viện, trước khi được một gia đình nhận về nuôi. Bà sinh sống bằng cách đi hát trong các nhà hàng, phòng trà…

Mãi tới khi 47 tuổi bà mới nhận được hợp đồng với một hãng đĩa nhạc. Nhưng chỉ một thời gian ngắn sau khi đĩa nhạc của bà phát hành, bà đã trở thành một ca sĩ nổi tiếng trên thế giới. Một điều đặc biệt khác: Bà không bao giờ mang giày, vớ khi lên trình diễn trên sân khấu, vì thế bà vẫn được mệnh danh là “Nữ hoàng chân đất”…

Xin click vào đường dẫn :

http://www.youtube.com/watch?v=Esdl_3kKSBk

– Andrea Bocelli sinh năm 1958 tại Lajatico, miển Trung nước Ý. Bị bệnh bẩm sinh, mắt của Bocelli mờ dần và thành bị mù khi 12 tuổi. Cũng chính trong năm đó Bocelli đã đoạt giải nhất trong một kỳ thi tuyển ca nhạc với bài hát nổi tiếng “O sole mio – Mặt trời của tôi”. Tuy bị mù, Bocelli sống rất lạc quan, nhưng không tiếp tục theo đuổi nghiệp cầm ca, mà theo học ngành Luật và trình luận án Tiến sĩ tại Đại học Pisa.

Sau một năm hành nghề luật sư, Bocelli theo học thanh nhạc với Luciano Bettarini. Mặc dù đã đoạt nhiều giải trong một số kỳ thi tuyển ca nhạc, nhưng phải mất 5, 6 năm Boccelli mới có được những thành qủa đầu tiên, sau khi gặp và được Zucchero và Casselli nâng đỡ. Bây giờ Bocelli được coi là ca sĩ tenor thành công nhất thế giới, với hơn 70 triệu đĩa nhạc đã bán được …

Xin click vào đường dẫn :

http://www.youtube.com/watch?v=gPRESlT4Ccg

Dưới đây Bésame mucho kiểu Mỹ qua sự trình bày của tài tử Hollywood, gốc Ý, Dean Martin :

Xin click vào đường dẫn : http://www.youtube.com/watch?v=Ab7e8y_IODk

– Và nghe Bésame mucho từ tiếng hát Ngọc Lan một danh ca người Việt (đã qua đời tại Hoa Kỳ)

https://youtu.be/-Xb-wpLQb5s

Nhớ về Sài gòn ngày xưa, cũng là nhìn lại quãng đời đã qua  Tuổi mộng mơ đã xa ! Qúa nửa đời người tôi đã biết… yêu, đã vui nhiều, đã thao thức, đã ưu tư… Hạnh phúc từng có trong tay, nhưng mất mát, đổ vỡ cũng đã chịu ! Nên bây giờ may mắn có được người “bạn đời” sánh bước, đi hết đoạn đường còn lại, tôi có những ước mong, thấy thích bản dịch kiểu … Mỹ hơn. Và tôi muốn cất tiếng hát nho nhỏ cho người tôi yêu : Bésame, bésame mucho ! …

Thạch Bích

NGÔ THỤY MIÊN

NHỮNG TÌNH KHÚC BẤT HỦ

Nhạc sĩ Ngô Thụy Miên sinh ngày 26 tháng 9 năm 1948 tại Hải Phòng, và là con thứ nhì trong một gia đình bảy người con. Ông lớn lên trong môi trường sách vở và thơ văn, do gia đình ông có mở một nhà sách tên Thanh Bình ở thành phố Hải Phòng, và sau này ở trên đường Phan Đình Phùng (nay là đường Nguyễn Đình Chiểu) khi vào định cư ở Sài Gòn. Tại đây, ông học trường Trung học Nguyễn Trãi. và sau đó là Trường Đại học Khoa học Sài Gòn.

Trong thập niên 1960, Ngô Thụy Miên có theo học vĩ cầm với Giáo sư Đỗ Thế Phiệt, và nhạc pháp với Giáo sư Hùng Lân tại Trường Quốc gia Âm nhạc Sài Gòn. Thời gian học ở đây, ông quen biết với Đoàn Thanh Vân (con gái của diễn viên Đoàn Châu Mậu), và hai người đã có một mối tình.

oOo

Từ năm 1970-1975, Ngô Thụy Miên làm kiểm soát viên không lưu tại  phi trường Tân Sơn Nhất. Cũng khoảng thời gian đó, ông là Trưởng ban nhạc Luân Phiên tại Đài phát thanh Quân đội

Năm 1963, ông bắt đầu viết nhạc. Tình khúc đầu tiên mà ông sáng tác là bài “Chiều nay không có em” hoàn tất vào tháng 2/1965 được giới sinh viên học sinh lúc bấy giờ hưởng ứng rất nồng nhiệt.

Vài năm sau, ông cho xuất bản một tập nhạc đầu tay lấy tựa “Tình khúc Đông Quân” (Đông Quân chính là bút hiệu đầu đời của ông trước khi đổi qua bút hiệu Ngô Thụy Miên bây giờ) in ronéo phát hành tại Sài Gòn năm 1969. Trong đó có nhiều bài đáng chú ý như : Giáng ngọc, Mùa thu này cho em (sau đổi là Mùa thu cho em), Gọi nắng (sau đổi là Giọt nắng hồng), Dấu vết tình yêu (sau đổi là Dấu tình sầu), Cho những mùa thu (sau đổi là Thu trong mắt em), Tình khúc tháng 6, Mùa thu về trong mắt em (sau đổi là Mắt thu) và Ngày mai em đi

Tiếp theo, Ngô Thụy Miên có những nhạc phẩm phổ từ thơ của thi sĩ Nguyên Sa như: Áo lụa Hà Đông, Paris có gì lạ không em, Tuổi 13

Năm 1974, Ngô Thụy Miên thực hiện băng nhạc đầu tay Tình Ca Ngô Thụy Miên gồm 17 tình khúc đã được viết trong khoảng thời gian 1965-1972. Với sự góp mặt của các ca sĩ và nhạc sĩ như Khánh Ly, Duy Trác, Thái Thanh, Lệ Thu, Thanh Lan, Duy Quang,…

Sau ngày 30/4, ông vượt biên đến tị nạn tại đảo Pulau Bidong của Mã Lai Á, và chính thức ra mắt một sáng tác viết từ năm 1975 là bài Em còn nhớ mùa xuân gởi tặng riêng cho người yêu của ông là Đoàn Thanh Vân. Sau sáu tháng ở trại tị nạn, nhạc sĩ được nước thứ ba bảo lãnh cho sang Montréal (Canada) tháng 4/1979.

Từ SanDiego (Hoa Kỳ) Đoàn Thanh Vân được tin người yêu đã đến được Canada, đã bay sang nối kết lại cuộc tình đã bị dở dang vì thời cuộc. Cùng năm 1979, cả hai qua sống tại San Diego rồi dời lên Orange County Qua năm 1980, Ngô Thụy Miên bắt đầu đi làm về ngành điện toán cho trường UCLA, tại thành phố Olympia thuộc tiểu bang Washington.

Trong thập niên 1990, nhạc sĩ tiếp tục sáng tác với những ca khúc mới như Cần thiết, Em về mùa thu, Trong nỗi nhớ muộn màng… và nhất là Riêng một góc trời. Tổng cộng đến nay, nhạc sĩ Ngô Thụy Miên đã sáng tác được trên 70 ca khúc, với khoảng 20 bài từ trong nước. Theo đánh giá của nhiều người, thì Ngô Thụy Miên chính là “một nhạc sĩ tài hoa đích thực”…

Trung tâm Thúy Nga từng thực hiện Paris By Night 21: Tình ca Ngô Thụy Miên (1993)Paris By Night 66: Người tình và Quê hương (2002) (cùng với Trần Trịnh và Nhật Ngân) để vinh danh ông và những sáng tác của ông.

– Những tác phẩm tiêu biểu: https://youtu.be/Y0Z510osXaI

– Tình Ca Ngô Thụy Miên (1:27’)

15 Bản tình ca hay nhất của Ngô Thụy Miên

https://youtu.be/5AoMQnPuqsU

CON GÁI NHÀ THƠ QUANG DŨNG

VÀ NHỮNG HỒI ỨC VỀ CHA

Ngày 27/2 năm 2015, Trung đoàn 52 Tây Tiến long trọng kỷ niệm 70 năm ngày thành lập, chị Bùi Phương Thảo, con gái út nhà thơ Quang Dũng ( tên thật là Bùi Đình Dậu) lại bồi hồi nhớ về cha, đại đội trưởng của Trung đoàn Tây Tiến năm xưa và những thăng trầm của bài thơ “Tây Tiến”.

Là con gái út trong gia đình, nên có thể nói chị Phương Thảo được cha cưng chiều nhất và cũng hay tâm sự nhiều nhất. Chị Thảo kể : “Khi còn nhỏ, tôi được gần gũi với cha lâu nhất. Tôi rất  hay quan sát bố  viết bài hoặc  giao du với bạn bè.

Nhà tôi ngày xưa ở phố Bà Triệu, nhà tuy nhỏ và nghèo, nhưng lại rất hiếu khách. Bố tôi thường hay có nhiều bạn bè đến chơi. Bây giờ nhớ lại, tôi thầm ước nếu hồi đó mà có những thước phim ghi lại thì đó là những thước phim vô giá.

Bởi lẽ, có rất nhiều nhân vật văn học điển hình của nước mình thường hay đến nhà tôi chơi, trong đó có bác Tô Hoài,  Nguyễn Công Hoan, Phạm Hổ, Nguyễn  Tuân, Nguyễn Đình Thi, cô Xuân Quỳnh, họa sỹ Phan Kế An… Khách đến chơi nhà nhiều khi chỉ có đĩa lạc hay ít đậu phụ thôi, mà mọi người trò chuyện như ngô rang “.

Gia tài tinh thần đầy ắp của người cha

Theo lời chị Thảo, bố chị mất đi  không để lại của cải vật chất gì nhiều, nhưng để lại cho con cháu kho gia tài tinh thần đồ sộ. Trong số những đứa con tinh thần của nhà thơ Quang Dũng, bài thơ  “Tây Tiến” được ông tâm đắc hơn cả. Nó có thể coi là đứa con cả khỏe mạnh nhất, vạm vỡ nhất.

Bài thơ “Tây Tiến” sau này được đưa vào sách giáo khoa và được nhiều thế hệ học sinh biết tới. Thế nhưng, ít ai biết rằng, khi nhà thơ Quang Dũng còn sống, bài thơ này đã từng bị ” xét lại” vì cho rằng đi chiến đấu gian khổ mà lại mơ tưởng xa hoa, lãng mạn.

Chị Thảo cho biết, chỉ vì câu thơ ” Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm” mà bài thơ của ông bị một số chỉ trích. Thế nhưng, ai cũng hiểu thời của của các cụ, toàn các thanh niên Hà Nội, những chàng trai được cho là giai cấp tiểu tư sản bỏ lại tất cả để đi theo kháng chiến, có xá chi đâu. Còn cái lãng mạn đó là bản chất, tích tụ trong con người.Chính sự lãng mạn đó đã khiến cho người lính quên đi mọi khó khăn gian khổ và vượt lên phía trước.

Sau này, với tư tưởng cởi mở hơn, bài thơ “Tây Tiến” đã được ghi nhận.Cho tới năm 1988, lần đầu tiên bài thơ “Đôi mắt người Sơn Tây” của ông được nhạc sỹ Phạm Đình Chương phổ nhạc và phát trên Paris by night, một video ca nhạc hải ngoại, cũng khiến nhà thơ lo lắng. Chị Thảo nhớ lại: “Lúc đó ông hay lo sợ lắm. Rất may, đó thời kỳ đầu của cải cách mở cửa, nên tư tưởng cũng đã bắt đầu thoáng hơn. Chứ trước đó, câu thơ “Mắt em dìu dịu buồn  Tây Phương” trong bài thơ “Đôi mắt người Sơn Tây” cũng bị qui chụp là tơ tưởng đến một cô gái phương Tây nào đó…”

Thực ra, chị Thảo cho biết, sinh thời nhà thơ Quang Dũng cũng ít nói chuyện văn chương với con gái, cũng vì những lo lắng trên. Còn cô con gái Phương Thảo thì là một người mến mộ thơ ông, mà theo ngôn ngữ ngày nay gọi là “fan cuồng”. Chị thuộc lòng các bài thơ của bố. Sau này, khi tham gia Câu lạc bộ văn nghệ sỹ  Xứ Đoài, quê cha, chị mới  biết nhiều hơn về bố mình qua câu chuyện của các bạn văn chương của bố.

Nhà thơ Quang Dũng qua con mắt của con gái Phương Thảo là một người cha mẫu mực, chịu thương chịu khó. Ông luôn giành những việc nặng nhọc nhất trong gia đình về mình vì ông bảo, ông là người khỏe nhất. Ông thường dậy từ 4 giờ sáng để đi lấy nước cho cả gia đình, trong khi mọi người vẫn đang chìm trong giấc ngủ.

Thơ và tranh đều đem tặng bạn

Chị Thảo bộc bạch, bố chị ít lưu lại những bút tích của mình và hay thường tặng cho bạn bè. Chính vì thế, sau khi nhà thơ mất, chị Thảo đã lặn lội tìm đến bạn bè cha với hy vọng tìm được di cảo của cha. Những bài thơ “Nhớ chuyện xa” hay “Cô gái mùa ổi”… là những bài thơ ông chép trong cuốn sổ tay tặng bạn học từ những năm 1940.

Trong cuốn “Nhà thơ Quang Dũng trong hồi ức của người thân”, chị Thảo viết: “Cha tôi vốn là người không lưu tâm giữ lại những tác phẩm mình sáng tác, có những bài thơ làm xong thì tặng ngay cho người bạn mình quý mến hoặc tự tay chép thơ tặng nhưng lại chép vào sổ của bạn và quên mất mình đã có những bài thơ như thế…”

Cũng trong lần đi tìm di cảo của cha, chị Thảo đã được xem bức ảnh bà Giáng Kiều, nghệ sỹ trong đoàn kịch của Thế Lữ, tên thật là Kiều Dinh, một trong bốn chị em gái rất đẹp ở phố Hàng Bông những năm 1940, “người tình trong mộng” của người bạn thân. Chữ kiều trong tên bà Kiều Dinh ngày ấy được cho là nhà thơ “mượn” để làm danh từ chung trong bài thơ “Tây Tiến”, làm nên một hình ảnh lãng mạn : “Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”.

Ngoài ra, nhà thơ Quang Dũng có vẽ khá nhiều tranh, trong đó ông tặng bạn bè khá nhiều. Hiện nay, chị Thảo còn lưu giữ tại nhà một số bức tranh quí của ông như bức Mây đầu ô, Ba Vì…

Chị Bùi Phương Thảo, con gái út nhà thơ Quang Dũng sinh năm 1962. Chị hiện là Phó hiệu trưởng trường tiểu học Võ Thị Sáu, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.

Phan Tất Đại chuyển tiếp

“TÂY DU KÝ” THIÊN CỔ ĐỆ NHẤT KỲ THƯ

“TÂY DU KÝ” ĐƯỢC COI LÀ

THIÊN CỔ ĐỆ NHẤT KỲ THƯ ?

Nếu như hơn 30 năm trước, bộ phim “Tây Du Ký” của đạo diễn Dương Khiết đã đưa người xem đến với hành trình thỉnh kinh cùng những cảnh trảm yêu bắt quái ly kỳ; thì ngày hôm nay, những phân cảnh “Tây Du Ký” trên sân khấu của Đoàn Nghệ thuật Thần Vận lại mở ra trước mắt chúng ta một thế giới thần thoại chân thực đến ngỡ ngàng.

Những tiết mục biểu diễn sâu sắc và thấm đẫm nhân văn ấy đã làm chấn động lòng người. Khi tấm màn hạ xuống, người ta lại tự hỏi : “Tây Du Ký” rốt cuộc là tác phẩm thế nào ? Trong kho tàng văn hóa Thần truyền, vì sao “Tây Du Ký” có vị trí quan trọng đến như vậy ? Chúng ta hãy cùng trở lại với nguyên tác của Ngô Thừa Ân để tìm hiểu, điều gì đã làm nên một thiên cổ kỳ thư vĩ đại nhường ấy?

“Tây Du” kỳ thư

“Tây Du Ký” được Ngô Thừa Ân viết vào giữa thời kỳ nhà Minh trong thế kỷ 16. Tác phẩm kể về hành trình của bốn thầy trò Đường Tăng sang Tây Thiên thỉnh cầu Phật Pháp.

Đường Tăng là một nhân vật có thật trong lịch sử. Ông họ Trần, tên Y, pháp danh là Huyền Trang, vốn là người ở huyện Câu Thị, Lạc Châu (ngày nay là Yến Sư, tỉnh Hà Nam). Huyền Trang sinh ra vào năm thứ hai niên hiệu Nhân Thọ, thời Tùy Văn Đế (năm 602), lên 11 tuổi thì xuất gia. Từ nhỏ Huyền Trang đã nổi tiếng là thông minh đĩnh ngộ, tư chất siêu phàm, trở thành tăng nhân nổi tiếng khắp kinh thành khi đó.

Vì Phật Pháp lưu truyền tại Trung Thổ thời bấy giờ còn có nhiều chỗ không rõ ràng, nên vào năm thứ 3 niên hiệu Trinh Quán (năm 629), Huyền Trang đã từ kinh đô Trường An nhà Đường sang Tây Thiên thỉnh kinh. Suốt dọc đường ông đã đi qua Tân Cương, Trung Á, trải qua 17 năm ròng rã, trèo đèo lội suối hơn 5 vạn dặm đường. Cho tới năm thứ 19 niên hiệu Trinh Quán (năm 645), ông đã về đến Trường An, mang theo 657 bộ kinh Phật tiếng Phạn.

Sau đó ông lại tổ chức phiên dịch kinh sách, dịch ra 75 bộ Kinh, Luận, tổng cộng là 1335 quyển. Huyền Trang đã trở thành nhà Phật học, nhà phiên dịch, nhà lữ hành đầu tiên trong lịch sử có cống hiến đặc biệt trong việc lưu truyền Phật Pháp vào phương Đông.

Từ sau đời nhà Đường, câu chuyện Huyền Trang sang Tây Trúc thỉnh kinh được lưu truyền rộng rãi, dần dần trở thành truyền kỳ nửa thực nửa hư, phong phú ly kỳ. “Tây Du Ký” dựa trên câu chuyện Đường Tăng cầu Pháp, rồi thêm vào đó các tình tiết huyền ảo, mang màu sắc thần tiên. Khi tác phẩm vừa mới ra đời, Đường Tăng, Ngộ Không, Bát Giới, và Sa Tăng đã trở thành những nhân vật nhà nhà đều biết, người người đều hay.

Những câu chuyện như “Đại náo thiên cung”, “Ba lần đánh Bạch Cốt Tinh”, “Ba lần mượn quạt Ba Tiêu”, “Tây Lương nữ quốc”, v.v. đã trở thành bộ phận độc đáo hấp dẫn lòng người của văn hóa Trung Hoa.

Duyên khởi lấy kinh

Trong “Tây Du Ký”, cuộc thỉnh Kinh bắt đầu từ một niệm phổ độ chúng sinh của Phật Đà. Đức Phật Như Lai nói : “Ta xem trong bốn đại bộ châu, chúng sinh thiện ác có khác nhau. (…) Duy có người Nam Thiệm Bộ Châu tham dâm gây họa, hay giết hay tranh, chính là nơi đánh nhau cãi cọ, bể ác thị phi”.

Sau đó, Đức Phật muốn tìm người có pháp lực sang phương Đông chọn lấy một thiện tín, bảo người ấy chịu đựng gian khổ, vượt qua muôn núi nghìn sông, đến đất Phật cầu lấy chân kinh để lưu truyền sang phương Đông mãi mãi, khuyến hóa chúng sinh. Quan Âm Bồ Tát lĩnh mệnh, quả nhiên đã tìm được thầy trò năm người, trải qua chín chín tám mươi mốt kiếp nạn, cuối cùng đã lấy được chân kinh, năm người đồng thời cũng tu thành chính quả.

Nói đến thầy trò Đường Tăng, mỗi người đều có lai lịch đặc biệt. Đường Tăng vốn là Kim Thiền Tử, là đồ đệ thứ hai của Như Lai Phật Tổ. Vì khinh mạn Phật Pháp mà bị giáng xuống hạ giới, thác sinh thành Đường Huyền Trang.

Tôn Ngộ Không vốn là khỉ đá trong Thủy Liêm động trên núi Hoa Quả Sơn. Bởi nhận thấy sinh mệnh vô thường, Ngộ Không đến Tây Ngưu Hạ Châu tìm học thuật trường sinh, học được 72 phép thần thông biến hóa và thuật cân đẩu vân. Về sau bởi tâm tranh đấu không bỏ, đại náo thiên cung, Ngộ Không bị Như Lai Phật Tổ đè xuống núi Ngũ Hành suốt 500 năm.

Trư Bát Giới nguyên là Thiên Bồng Nguyên Soái trấn giữ Thiên Hà, bởi uống rượu say chọc ghẹo Hằng Nga, bị Ngọc Đế phạt đánh hai trăm chùy, đày xuống phàm trần. Sau cùng chuyển sinh vào bụng heo, trở thành hình dáng xấu xí mũi dài tai rộng.

Sa hòa thượng vốn là Quyển Liêm đại tướng ở điện Linh Tiêu, bởi sơ ý làm vỡ chén ngọc lưu ly mà bị Ngọc Đế đày xuống hạ giới, bị trừng phạt phi kiếm xuyên ngực ở Lưu Sa Hà, chịu đói chịu rét, phải bắt người ăn thịt mà sống qua ngày.

Còn Bạch Long mã vốn là con trai của Tây Hải Long vương Ngao Nhuận, bởi phóng hỏa đốt cháy viên minh châu trong điện nên phụ thân tâu lên thiên đình, tố cáo tội ngỗ nghịch, khiến Ngọc Đế phạt treo thân trên không trung, đánh ba trăm gậy, chuẩn bị nhận án tử hình.

Quan Âm Bồ Tát đến Đông Thổ tìm người đi lấy kinh là vào năm 13 Trinh Quán nhà Đường. Lúc ấy, vua Đường Thái Tông tổ chức đại hội Thủy Lục, thỉnh mời cao tăng đắc đạo tới giảng kinh thuyết pháp – vị cao tăng đó cũng chính là hòa thượng Huyền Trang. Quan Âm Bồ Tát hóa thân thành lão hòa thượng chốc đầu, điểm hóa Huyền Trang đến đất Phật Như Lai ở chùa Đại Lôi Âm, nước Thiên Trúc để thỉnh cầu Phật Pháp. Sau đó, Thái Tông kết nghĩa huynh đệ với Huyền Trang, rồi cử người hộ tống Huyền Trang sang Tây Thiên thỉnh kinh.

Dọc đường, Huyền Trang đã thu nhận Ngộ Không, Bát Giới, Sa Tăng làm đồ đệ, còn Tiểu Bạch Long đang chờ xử trảm cũng hóa thành ngựa trắng đưa Đường Tăng lên đường. Thầy trò năm người, đồng tâm hiệp lực, vượt qua muôn vàn khó khăn nguy hiểm, trải qua hết thảy 81 nạn, cuối cùng công đức viên mãn.

Nét đặc sắc trong Tây Du Ký

1/- Cảnh giới : Điều kỳ diệu trong “Tây Du Ký” chính là ở cảnh giới. Khác với việc lấy kinh trong lịch sử, câu chuyện trong “Tây Du Ký” vượt qua Tứ Đại Bộ Châu, thế giới mười phương, không kể là bảo điện Linh Tiêu của Ngọc Hoàng Đại Đế hay là bảo điện Lôi Âm của Phật Như Lai, không kể là Tứ Hải long cung hay là U Minh địa phủ, cũng bất kể là Thông Thiên hà sóng nước cuồn cuộn hay Hỏa Diệm sơn ngọn lửa hừng hừng, hết thảy đều đã trở thành sân khấu biểu diễn của người thỉnh chân kinh.

2/- Tình tiết : Điều ly kỳ trong “Tây Du Ký” chính là ở tình tiết. Thạch hầu vốn là một tảng đá hấp thụ thiên chân địa tú, tinh hoa nhật nguyệt trên Hoa Quả Sơn. Chỉ nói riêng đến xuất thân thì câu chuyện của Ngộ Không đã rất ly kỳ rồi. Nhưng đặc biệt hơn cả, thạch hầu sẵn sàng từ bỏ vinh hoa phú quý ở Hoa Quả Sơn và cuộc sống tự tại tiêu diêu nơi Thủy Liêm động mà quyết chí vân du tầm sư học đạo.

Ngộ Không gặp được Sư Tổ Bồ Đề đã học biết 72 phép biến hóa thần thông; sau lại xuống Long Cung của Đông Hải Long Vương lấy được cây định hải thần châm, có thể biến hóa tự do như ý; đến khi đại náo Thiên Cung, bị nhốt trong lò luyện đan của Thái Thượng Lão Quân lại luyện được hỏa nhãn kim tinh, có thể lên trời xuống đất, hô phong hoán vũ, thật quá ly kỳ.

Nhưng điều ly kỳ hơn là, dù con khỉ ấy có thần thông quảng đại đến đâu, vẫn không nhảy ra khỏi lòng bàn tay của Như Lai. Mỹ hầu vương có thật có giả, Đường Tăng có thật có giả, Lôi Âm tự có thật có giả, đều đã ly kỳ lắm rồi. Càng ly kỳ hơn nữa, là ngay đến cả kinh Phật ở Tây Thiên Phật thổ cũng có thật có giả.

Những màn khác như đấu phép ở Xa Trì quốc, hái trộm nhân sâm ở Ngũ Trang quán, ba lần đánh Bạch Cốt Tinh, uống nước sông Mẫu Tử rồi mang thai, đàm luận thơ từ ở am Mộc Tiên, thật là kỳ diệu ngoài sức tưởng tượng của con người.

3/- Nhân vật : Đặc sắc của tác phẩm nằm ở nhân vật. Thế giới “Tây Du Ký” không chỉ có người phàm nơi nhân thế mà còn có Thần Phật nhiều không đếm xuể; trong đó không chỉ có Như Lai, Bồ Tát, La Hán, Kim Cang của Phật gia, mà còn có Ngọc Đế, Vương Mẫu, Lão Quân, Thiên Vương của Đạo gia; không chỉ có chính Thần, mà còn có các dạng yêu ma quỷ quái, quỷ mị võng lượng.

Trong năm thầy trò, Bạch Long hóa ngựa đã ly kỳ rồi, càng ly kỳ hơn là Sa Tăng ở Lưu Sa Hà ăn thịt người sống qua ngày, một khi quy y Chính Pháp thì lại chịu cực chịu khổ, đạo tâm kiên cường bất phá. Bát Giới tham ăn biếng làm, sắc tâm không bỏ, ở rể Cao Lão trang đã rất thú vị rồi; càng thú vị hơn là huynh trưởng

Ngộ Không giỏi hàng yêu bắt quái, với bản lĩnh lên trời xuống đất, trước sau một lòng bảo hộ Đường Tăng thân phàm xác thịt sang Tây Thiên lấy kinh. Chỗ đặc sắc hơn cả, vẫn là Đường Huyền Trang, một khi đã thề sang Tây Thiên thì dẫu chết cũng không hối hận, tuy trên đường đâu đâu cũng đều có yêu ma quỷ quái chờ ăn thịt, nhưng nhờ vào sự giúp đỡ của bốn vị cao đồ và sự bảo hộ của Thần Phật và Bồ Tát các nơi, mỗi nạn Đường Tăng đều gặp dữ hóa lành, chuyển nguy thành an, cuối cùng đến được Đại Lôi Âm, công đức viên mãn.

Diệu lý huyền cơ

Tục ngữ có câu : “Trong nghề xem lề lối, ngoài nghề xem náo nhiệt”. Với “Tây Du Ký”, điều độc giả yêu thích nhất là những tình tiết biến hoá ly kỳ, những câu nói hài hước dí dỏm, những nhân vật sống động chân phương. Nhưng với những người có hiểu biết nhất định về Phật gia và Đạo gia, thì sẽ không khó phát hiện rằng đây là bộ tiểu thuyết viết về tu luyện, khắp “Tây Du Ký” đâu đâu cũng đầy ắp những diệu lý huyền cơ.

1/, Mỗi quan nạn đều là chấp trước cần phải tống khứ trong quá trình tu hành : Sau khi Đường Tăng thu nhận Ngộ Không làm đồ đệ, quan nạn đầu tiên gặp phải chính là lục tặc (sáu kẻ cướp đường), gồm có : Nhãn Khán Hỷ (Mắt thấy mừng), Nhĩ Thính Nộ (Tai nghe giận), Tỵ Khứu Ái (Mũi ngửi thích), Thiệt Thường Tư (Lưỡi nếm nghĩ), Thân Bổn Ưu (Thân vốn lo), Ý Kiến Dục (Ý thấy muốn).

Sáu tên giặc này ẩn dụ cho lục căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) mà Phật gia nói đến. Đánh chết sáu tên giặc này cũng có nghĩa là bài trừ mọi can nhiễu và phiền não mà cảm quan của nhục thân mang đến cho người tu luyện.

81 kiếp nạn, mỗi một nạn đều đối ứng với tâm chấp trước cần phải trừ bỏ. Phá trừ những quan nạn này, không phải là tiêu diệt số yêu ma quỷ quái hữu hình kia, mà là tu bỏ ma chướng trong tâm người tu luyện. Vậy nên, trong số 81 nạn, có nạn thì nhắm vào tâm sợ hãi của Đường Tăng, có nạn thì nhắm vào tâm tranh đấu của Ngộ Không, có nạn lại nhắm vào tâm tham lam lười biếng và háo sắc của Bát Giới.

Trong hồi thứ 50, khi Ngộ Không ra ngoài xin cơm chay, Đường Tăng, Bát Giới, Sa Tăng đến một gian nhà cũ và nhìn thấy trên bàn có những chiếc áo chẽn bằng gấm. Lúc này tiết trời đang lạnh, Bát Giới và Sa Tăng không chịu nổi cám dỗ, bèn mặc thử cho ấm tấm lưng. Không ngờ vừa mới khoác áo lên người, ngay lập tức bị hai chiếc áo trói chặt lại. Ngộ Không đã phải nhiều phen lao đao vất vả, cuối cùng mới được Thái Thượng Lão Quân ra tay hàng phục Kim Đâu Đại Vương, cũng chính là con trâu xanh của Ngài.

Hồi thứ 98 trong “Tây Du Ký”, thầy trò Đường Tăng trải qua muôn vàn cực khổ, cuối cùng mới đến được chùa Đại Lôi Âm ở Tây Thiên, hai vị Tôn giả A Nan, Ca Diếp phụng mệnh Phật Như Lai dẫn thầy trò đến bảo các lấy kinh. Hai vị Tôn giả xin lễ vật không thành, bèn trao cho họ kinh Phật không có chữ. Hành giả đến cáo trạng với Như Lai, không ngờ Phật Tổ nói rằng :

“Nhà ngươi cứ bình tĩnh. Việc hai người vòi lễ các ngươi ta đã biết rồi. Có điều kinh cũng không phải trao cho một cách dễ dàng, không thể lấy không được. Trước kia các Tỳ Kheo thánh tăng xuống núi cũng đem kinh này tụng hết một lượt cho nhà trưởng giả họ Triệu ở nước Xá Vệ, giúp cho nhà ấy người sống yên ổn, kẻ chết siêu thoát, thế mà chỉ lấy có ba đấu ba bơ vàng cốm của họ mang về thôi. Ta còn bảo họ bán kinh rẻ quá, con cháu đời sau lấy tiền đâu mà tiêu. Nhà ngươi tay không đến cầu, nên họ mới trao cho những quyển trắng tinh. Quyển trắng tinh là chân kinh không chữ, cũng là những kinh hay. Các ngươi là chúng sinh ở cõi Đông u mê ngu tối, lẽ ra chỉ nên trao cho những thứ đó thôi”.

Hai tôn giả lại dẫn bốn thầy trò đến dưới lầu ngọc gác báu, nhưng vẫn đòi Đường Tăng phải đưa tiền lễ vật. Tam Tạng không có gì dâng lên, đành phải bảo Sa Tăng lấy bát tộ vàng tía dâng lên. A Nan “hổ thẹn, mặt mũi nhăn nhúm, nhưng tay vẫn giữ chặt lấy cái bát tộ”.

Tình tiết này, trước nay đều bị người đời xem là ngòi bút trào phúng của Ngô Thừa Ân : ngay đến cả Thế giới Tây Thiên Cực Lạc cũng có chuyện tham ô nhận hối lộ. Thật ra, người tu luyện với mọi tâm chấp trước đều phải dứt bỏ mới có thể công thành viên mãn.

Tham luyến của Đường Tăng với cái bát tộ vàng, đó đã là có tâm tham tài ái vật, lại có nhân tình với vua Đại Đường trong đó, mà những thứ này vừa khéo lại là tâm mà người tu luyện phải trừ bỏ. Nếu như không thể trừ bỏ những tâm này, thì tâm hữu lậu, không thể nói đến chuyện công đức viên mãn được.

2/, Mọi quan nạn đều là an bài khéo léo của Thần Phật : Mỗi một quan mỗi một nạn trên đường lấy kinh mà thầy trò Đường Tăng gặp phải, đều là an bài khéo léo của Như Lai Phật Tổ và Quan Âm Bồ Tát.

Hoàng Phong quái là con chuột lông vàng đắc đạo dưới chân núi Linh Sơn của Linh Cát Bồ Tát. Hoàng Bào quái là Khuê Mộc Lang – một trong số nhị thập bát tú. Kim Giác Đại Vương, Ngân Giác Đại Vương là hai đồng tử Kim Ngân của Thái Thượng Lão Quân. Linh Cảm Đại Vương là con cá vàng được nuôi trong ao sen của Quan Âm Bồ Tát. Độc Giác Đại Vương là vật cưỡi của Thái Thượng Lão Quân.

Hoàng Mi Lão Quái là đồng tử lông mày vàng gõ chuông khánh của Phật Di Lặc. Thanh Mao Sư Tử quái, Hoàng Nha Lão Tượng quái là vật cưỡi của hai vị Bồ Tát Văn Thù và Phổ Hiền; Đại Bàng tinh là cậu của Phật Như Lai. Quan Âm Bồ Tát lợi dụng quan hệ nhân duyên giữa các sinh mệnh, vừa kết thúc nợ nghiệp giữa các sinh mệnh, lại giúp đỡ thầy trò Đường Tăng tu tâm trừ nghiệp, tu luyện viên mãn.

“Tây Du Ký” xây dựng trên văn hóa tu luyện bác đại tinh thâm trong văn hóa truyền thống Trung Quốc. Những tình tiết, nhân vật, đối thoại, thơ từ trong sách, toàn bộ đều có hàm ý thâm sâu, chứ không phải là những phóng túng nghệ thuật đơn thuần. Bởi vậy, “Tây Du Ký” xứng đáng là báu vật trong kho tàng văn học kim cổ đông tây, mãi mãi tỏa sáng đến ngàn đời. (theo Secretchina)

CẦU NGÓI THANH TOÀN XỨ HUẾ 

– Võ Quang Yến

Thời Thuộc địa, một công chức người Pháp ở Huế, ông Edmond Gras, chịu khó đi tìm xem cầu ngói Thanh Toàn (cầu mái ngói) cách xa thành phố khoảng 10km. Ông đi ngựa cùng với một viên chức địa phương, mất một buổi chiểu mà tìm không ra.

Tuy nhiên ông nhí nhảnh thuật lại trong tờ Đô thành Hiếu cổ BAVH (1917) cuộc hành trình thú vị. Trời hè nóng nhưng mát nhờ con đường đầy bóng cây uốn khúc trên bờ mương, lên xuống mỗi khi qua chiếc cầu tre lắc lư dưới chân ngựa.

Hai bên đường, làng xóm kín đáo núp mình sau các dãy hàng rào cao dày, những ngôi chùa hiu quạnh yên tĩnh dưới bóng cây tối sẩm. Thỉnh thoảng một lỗ trống trong bụi tre xanh để lộ ra một sân nhà quét dọn sạch sẽ quanh đống rơm xây đắp tươm tất, đàn gà con ríu rít bíu chân mẹ, chú heo đen kêu en éc trong rọ mây.

Trong một kiệt nhỏ, mùi hương thơm hoa sứ ngào ngạt như để át mùi phân trâu, phân bò. Một cậu bé trần truồng bất thình lình thấy chúng tôi, lấy roi đập đẩy đàn trâu sang môt bên như để dọn đường rồi nhảy xuống mương… Nhưng chiếc cầu thì vẫn không tìm ra vì như tuồng người dẫn đường cũng chưa khi nào lại viếng cầu !

Trời tối dần, cả hai lấy đò trở về. Trên nền trời đen thẩm, những đám cháy nhắc ông Edmond Gras nhớ đến những ngọn lửa Saint-Jacques ở quê Provence xa xăm của ông. Thì ra người nào đi xa cũng luôn ấp ủ trong lòng hình bóng quê hương của mình.

Ông đã trờ lại Thanh Toàn với cha Leopold Cadière, tổng biên tập tờ BAVH, lần nầy đi xe kéo và thấy được cầu. Thì ra cầu có thật : cột gỗ dài cao trên mặt nước, lợp mái ngói tráng men, hình cong trông từ xa như một con rồng uốn lưng. Trên cầu, những người rảnh rang dạo lượn chân không, học sinh đua thử thăng bằng trên các rầm kèo,… Ông không quên vẽ một bức tranh minh họa bài báo trong tương lai.

Cũng trong cùng tờ báo BAVH còn có hai bài viết về chiếc cầu Thanh Toàn của ông Công sứ Richard Orband, quan chức hành chính dân sự (cùng năm 1917) và của ông Hippolyte Lebreton Hiệu trương trường Quốc học, mười sáu năm sau (1933). Cả hai tác giả nầy đều cỏ miêu tả tỉ mỉ con đường từ Huế về cầu, kiến trúc cây cầu đồng thời lượt thuật lịch sử một kiệt tác hiếm có.

Ở miền Trung, hai chiếc cẩu có lối kiến trúc đặc biệt và giá trị nghệ thuật cao nhất Việt Nam là cầu Nhật Bản tức Chùa Cầu ở Hội An (lúc bấy giờ gọi Faifo) và cầu Thanh Toàn cạnh Huế. Cầu ngói Thanh Toàn có cầu kết thượng gia hạ kiều (trên nhà dưới cầu), là một tác phẩm kiến trúc nhỏ nhắn dài 16,85m (43 thước mộc), rộng 4,63m (14 thước mộc), gồm có bảy gian, gian giữa dùng để thờ cúng.

Hệ thống trụ đỡ sắp thành ba hàng, có chung một khối mộng để chống lún. Mỗi hàng có trụ bằng đá, sáu cột. Hai đầu là hai mố cầu, trang bị bảy hệ thống thống thoát nước. Hệ thống trụ đỡ nối liền các đầu mối cầu. Các thanh bê tông chay dọc từ hai đầu vào giữa dốc dần lên đến gần gian giữa thì nằm ngang.

Tư thế nầy khiến cả mặt cầu lẫn mái cầu trông như gãy khúc, nâng cổng giữa lên cao tạo một hình dáng duyên dáng, khỏe mạnh, đồng thời giúp ghe thuyền qua lại dễ dàng. Trên cầu, các hệ thống trụ cầu có dầm gỗ bắc ngang thành cơ sở dựng cột làm khung nhà. Mỗi vi có bốn hàng cột, giữa hai cột là lòng cầu làm lối đi lại. Từ hai bên cột cái trở ra là cột hiên nâng lên cao làm chỗ hóng mát. Bên ngoài có lan can chấn song để ngồi khỏi ngã. Mọi phần đều thông thoáng, chỉ có phần sườn cầu làm bàn thờ thì bịt kín. Các hệ thống xà thượng, xà hạ đều sắp xếp theo lối xà kép, xà trên nằm trên đầu cột, xà dưới di chuyển qua mộng cột.

Các bộ phận kiến trúc đều bằng gỗ, nhưng không chạm khắc hay trang trí mà chỉ gồm hai loại tiết diện tròn và vuông. Các nghệ nhân đã chạm khắc hình con vật với chủ đề tứ linh ở bộ mái cây cầu : long lân quy phụng. Về trang trí, trước đó chỉ có con giao long, sau này nhường chỗ cho con rồng ở hai đầu và đôi phượng chầu mặt trời ở giữa.

Sử sách ghi làng cũ mang tên Thanh Toàn từ hồi 12 vị tộc trưởng khai canh thế kỷ XVI. Những vị nầy phần lớn là người Việt quê gốc Thanh Hỏa theo chúa Nguyễn Hoàng vào Thuận Hóa (có tài liệu cho là chậm hơn), nhưng cũng có người Chăm đã sống tại chỗ từ trước. Cũng có thể hai dân tộc sống chung đụng với nhau, ngay cả trong cùng một tộc.

Qua thời Thiệu Trị (1841-1847) chữ Hoàng là tên húy ( ?) nên làng đổi tên thành Thanh Thủy. Làng đông người nên chia ra hai : Thanh Thủy Chánh và Thanh Thủy Thượng, tên giữ nguyên vẹn cho đến nay. Cầu ngói Thanh Toàn nằm ở làng Thanh Thủy Chánh thuộc xã Thủy Thanh, hượng Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Lịch sử cầu dính liền với tiểu sử bà Trần Thị Đạo. Bà người làng Thanh Thủy, cháu sáu đời một trong 12 vị khai canh làng. là vợ của Khâm sai, Chủ sự Hoàng cung, Tổng chỉ huy bộ binh và thủy binh, Tổng đốc của ba huyện Hương Trà, Phú Vang và Quảng Điền, Tứ Xuyên Hầu Phan Trọng Phiên, Nhất trụ triều đình. Vào thời nhà Trịnh đánh chiếm Phú Xuân,

Bà theo chồng ra bắc, nhưng được một thời gian bà trở về bản quán sinh sống. Bà không ngần ngại vượt qua bao mệt nhọc để theo đuổi cuộc hành trình cùng với đoàn của vua. Bà đã dũng cảm làm trọn ba nhiệm vụ của phái nữ. Bà còn để lại cho làng bà nhiều ân huệ mà người ta cần lưu niệm .

Làng Thanh Thủy có một con mương chảy qua, thường hằng ngày dân địa phương phải dùng thuyền, không thì mất thì giờ đợi đò ngang, rất vất vả khi trời đông giá, rét mướt. Mang một bụng dạ thương người, tấm lòng đức độ, thấu hiểu nỗi khó nhọc của người dân quê, bà bỏ tiền túi thuê làm chiếc cầu có mái lợp phòng khi trời mưa gió, cũng là nơi dừng chân của khách bộ hành tìm bóng mát những ngày nắng nóng.

Bà không dè cầu lại là nơi ngắm trăng, hóng gió. Tuy cầu được cấu trúc như một ngôi nhà bình thường nhưng lại là một ngôi nhà ấm áp khi đông về và mát mẻ khi nắng lên. Cầu cũng là nơi dạt dào tình thương nên trai thanh gái lịch trong vùng lại ca hát, giao duyên, hẹn hò, tình tứ.

Ở hai lối vào cầu có hai hàng câu đối chữ Hán được khắc lên trên cầu, nhưng thời gian làm hao mòn nên khó tìm ra câu nguyên vẹn : Kiệt cấu thiên thu truyền thắng tích, ngỏa kiều thắng cảnh cựu quy mô. Tạm dịch : Kiệt tác kiến trúc này là một di tích lưu truyền mãi nghìn năm sau, cầu ngói là một thắng cảnh làm theo quy mô cũ. Còn có câu: Tế xuyên mâu bửu phiệt, thanh thủy thắng hồng lâu. Tạm dịch : Qua sông là bè quý, nghỉ mát ấy gác son.

Căn cứ vào tờ Sắc của vua Lê Hiển Tông niên hiệu Cảnh Hưng thứ 7 thì cầu được xây vào năm 1776. Theo sử sách năm 1925 ghi lại thì vua Khải Định đã ban tặng cho bà Trần Thị Đạo tước vị “Dực Bảo Trung Hưng Linh Phù”. Vua còn hạ lệnh cho dân làng lập bàn thờ trên cầu để thờ bà và mong bà phù hộ độ trì cho dân làng.

Bên phần dân làng cũng không nề hà và lại sinh hoạt quanh cầu. Phía chân cầu là một vùng đất rộng, người ta đến đây để vui chơi và họp chợ. Giữa vùng đất còn có một cái đình không biết xây từ bao giờ, giao lưu buôn bán cũng không ai rõ từ hồi nào.

Người xưa kể lại chợ trước đây không lớn như bây giờ, buôn bán chỉ có những mặt hàng rất nhỏ như mớ rau, mớ cá, trái cau, lá trầu… Riêng tôi còn thấy trẻ chăn trâu, người đánh cá, hai bà già ngồi cạnh cầu bán cau trầu, thuốc lá trước khi có hội hè đình đám.

Trong rất lâu, người dân đánh cá, bắt cua đưa đến đây trao đổi với nhau qua thời gian tạo nên cái chợ làng. Dần dần đời sống phát triển, các mặt hàng xuất hiện ngày càng đa dạng hơn, hình thức buôn bán cũng trở nên to lớn hơn. Nhưng chợ luôn tự nhiên giới hạn và luôn còn mang nét quê Việt Nam.

Chính vì mang đậm nét bản thể thôn dã cho nên nơi đây được chọn làm hội chợ quê, vào những ngày lễ hội trong thời kỳ festival Huế. Cần phải nhận định, như việc mở mang cần thiết phố xá ngoại ô thành phố, cái bản sắc làng quê căn bản cuộc phát triển liệu rồi có bị hao mòn tiêu biến không.

Ngoài lễ hội chợ quê hai năm một lần thì vào ngày mồng ba tết nguyên đán hàng năm, nơi đây còn tổ chức cuộc đánh bài chòi. Đây là một trò chơi dân gian xưa mang đậm bản sắc và văn hóa người Việt Nam. Ngoài ra còn có một đám lễ nữa cũng được tổ chức linh đình không kém vào ngày rằm tháng tám, theo người dân địa phương thì là ngày giỗ của bà Trần Thị Đạo.

Họ rước bà từ đình ra cầu cúng lễ, rồi lại rước bà trở lại đình. Sau lễ, các trò chơi cho nhân dân trong làng như ca hát, hò giả gạo, đua thuyền trên mương và kéo co được tồ chức, gây thư giản cho dân quê suốt năm cặm cụi công việc.đồng án.

Yên Huỳnh tổng hợp chuyển tiếp

CA KHÚC MỚI CỦA ĐẶNG THẾ PHONG

NHỮNG KẺ ĐỐT ĐỀN

Ngôi đền Artemis nổi tiếng đã bị

phá hủy như thế nào?

Một đêm hè oi bức năm 356 trước CN, có một người rón rén đi trên các đường phố của Ephesus (thành phố ngày nay thuộc Thổ Nhĩ Kỳ). Anh ta mang một bó đuốc nhỏ cố tránh thu hút sự chú ý của mọi người. Khi gặp người qua đường tình cờ lúc ban đêm, anh ta sợ hãi lấy chiếc áo mưa rộng thùng thình của mình để che giấu.

Lén lút nhìn quanh một hồi, cuối cùng anh ta đã lẻn đến ngôi đền lớn màu trắng vươn cao ở một vùng ngoại ô thành phố. Đội canh gác ngủ say nên anh ta đã đột nhập điện thánh chẳng gặp trở ngại gì. Và chính ở đây anh ta đã gây nên chuyện làm chấn động thế giới văn minh : dùng đuốc đốt một số đồ thờ cúng và tặng vật thiên liêng.

Bức màn che trước tượng thần bốc lửa cháy, ngọn lửa lan đến các cửa ra vào bằng gỗ tẩm dầu, rồi táp lên mái nhà. Trong chốc lát điện thánh biến thành những đống đổ nát, khói lửa mù mịt, dưới bầu trời đen tối chỉ còn thấy nhô lên hình bóng những chiếc cột đá cẩm thạch điêu tàn.

Tại phiên tòa xét xử kẻ phạm tội ác man rợ, hắn thừa nhận rằng hắn đã đốt đền để được lưu danh muôn thuở. Để loại trừ kẻ điên cuồng háo danh, những người dân thành phố Ephesus đã nhất quyết quên và không bao giờ nhắc đến tên hắn ta, những có lẽ chính vì thế mà tên hắn lại lưu truyền đến chúng ta ngày nay : Herostratus.

Còn nói về đền thờ đã bị hắn đốt biến thành tro tàn và đổ nát thì, theo lời nhà lịch sử học cổ đại Ampêli, đó la một ngôi đền “uy nghi và lớn nhất thế giới đã tìm được”, và theo sự xác nhận của Plini, một đồng nghiệp khác của Ampêli, thì đây là “đài  kỷ niệm thực là kỳ diệu của nền văn hóa Hy Lạp, khiến mọi người kinh ngạc về sự tráng lệ của nó”. Đấy là ngôi đền thờ nữ thần Artemis ở Ephesus, xây bằng cẩm thạch – kỳ quan thứ tư trong số bảy kỳ quan thế giới.

Tính đến thời gian đó thì ngôi đền đã tồn tại trên một nghìn năm. Cuối thiên niên kỷ thứ hai trước CN, một bộ phận người lônit – trong khi đi tìm không gian sinh hoạt mới –  đã di dân từ lục địa Hy Lạp sang Tiểu Á và định cư trên vùng duyên hải đối diện với hòn đảo Xamôxơ, thành phố Ephesus.

Thành phố cảng này nhanh chóng biến thành trung tâm buôn bán nhộn nhỊp với những ngôi nhà lớn, đẹp và những căn lều nhỏ hẹp, những đường phố sạch sẽ và quảng trường rộng lớn, thường là những nơi họp chợ, đông đúc người. Việc buôn bán của những người Hy Lạp ở đây rất sầm uất, y như ở quê hương cũ của họ vậy. Ephesus đã nhanh chóng trở thành một trong những thành phố lớn nhất của thế giới cổ đại.

LỜi BÀN CỦA CAO BỒI GIÀ :

Đọc mẫu chuyện kẻ đốt đền thờ nữ thần Artemis ở Ephesus, hồi năm 356 TrCN, và kẻ đốt đền là Herostratus. đã lên tiếng nhận hắn đốt đền để được lưu danh muôn thuở.

Nay suy ngẫm về vụ xả súng ờ Las Vegas mới đây : Cảnh sát trưởng Las Vegas Joseph Lombardo cho biết, tên Paddock là nghi phạm chính vụ xả súng khiến 58 người chết và gần 600 người bị thương nặng nhẹ, tại lễ hội âm nhạc tối 1/10/2017, theo cuộc điều tra Paddock lên kế hoạch trốn thoát sau khi thực hiện vụ thảm sát nhưng bất thành, nên đành tự xử sau đó.

Phải chăng tên Paddock cũng muốn như Herostratus thời cổ Hy Lạp ? Tức muốn ghi danh thiên cổ ?! Vì đến giờ các nhà điều tra chưa tìm thấy “đồng đảng” hay ý đồ gây ra cuộc thảm sát của tên Paddock !

Và mời các bạn đọc tiếp về một kẻ đốt thành Roma :

KẺ ĐỐT THÀNH ROMA

Năm 64 sau Công nguyên đã xảy ra một trận hỏa hoạn vô cùng dữ dội kéo dài suốt hơn một tuần liền khiến cho PHẦN LỚN THÀNH Roma bị hủy hoại. Ngay sau đó đã dấy lên tin đồn cho rằng hoàng đế Nero chính là kẻ đã châm ngòi cho ngọn lửa.

Trận hỏa hoạn dữ dội chưa từng thấy

Việc thành phố Roma bị lửa thiêu rụi quả là một bi kịch quốc gia. Thảm họa này không chỉ nổi tiếng vì quy mô lớn chưa từng có mà còn bởi vì kẻ gây ra nó được cho là … hoàng đế Nero ?!?

Vào đêm 18 rạng sáng 19 tháng 7 năm 64, các kho hàng nằm gần Đại Đấu Trường bỗng vô cớ bốc cháy. Gặp gió mạnh, ngọn lửa nhanh chóng bốc cao, lan về hướng đồi Palatin rồi tỏa xuống các con phố dọc đồi Quirinal, đồi Viminal và đồi Esquiline. Bị đánh thức trong cơn say ngủ, người dân thành phố nháo nhào chạy ra đường trong hoảng loạn.

Mỗi người nếu không tự thoát thân thì cũng lo cứu người thân hoặc cứu lấy của cải. Lính gác đêm, tức những người có nhiệm vụ phòng cháy và dập cháy, không cách nào ngăn chặn được ngọn lửa do bị màn đêm dày đặc cùng đám đông hỗn loạn gây trở ngại.

Trận hỏa hoạn không những không lắng xuống mà còn tiếp tục hoành hành trong suốt 7 ngày đêm. Khi nhà cầm quyền tưởng đã khắc chế được ngọn lửa thì nó lại đột ngột bùng lên ở một con phố khác. Mãi đến ngày thứ 9, ngọn lửa mới tắt hẳn. Roma lúc này chỉ còn là một đống hoang tàn đổ nát.

Thành Roma bị thiêu rụi

Trong số 14 khu phố ở Roma, chỉ có 4 khu là không hề hấn gì. 10 khu còn lại thì có khu bị thiêu hủy hoàn toàn, khu bị thiêu hủy một phần. Không thể tổng kết số nạn nhân của trận hỏa hoạn, nhưng có lẽ phải đến hơn 200.000 người Roma phải ra đường ở do nhà cửa bị thiêu hủy. Nơi bị cháy nặng nhất là những khu phố bình dân có nhiều nhà cho thuê.

Các công trình cổ kính mà người Roma vô cùng trân trọng chỉ còn là những đống gạch vụn. Các tác phẩm nghệ thuật đưa từ Hy Lạp và Phương Đông về đễ trang trí các nơi công cộng đều hư hại nặng. Sách cổ chép tay trong các thư viện công cộng cũng không thể cứu vãn.

Tin đồn động trời

Ngay từ lúc thảm họa mới xảy ra, mọi người đã tìm hiểu xem ai là người gây ra hỏa hoạn. Ngọn lửa lan nhanh đến mức nhiều người cho rằng trận hỏa hoạn không phải là ngẫu nhiên. Một số người kể rằng họ nhìn thấy nhiều người ném đuốc vào các căn nhà. Chẳng bao lâu, toàn bộ dân chúng thành Roma đều cho rằng người gây ra thảm họa kinh hoàng này không ai khác hơn là Nero.

Người thì nói rằng hoàng đế vì muốn xây dựng lại kinh đô nên đã tìm cách san bằng các khu phố cũ. Kẻ lại cho rằng Nero vì muốn tìm cảm hứng cho thiên anh hùng ca “Chinh phục thành Troy” mà ngài đang sáng tác nên đã ra lệnh phóng hỏa chính thành phố của mình.

Nero thoát tội

Khi nghe khắp nơi đồn mình là kẻ phóng hỏa, Nero hoảng sợ. Quần chúng đang cần 1 con tốt thí, vì thế nhà vua phải nhanh chóng chỉ ra kẻ phạm tội để thoát khỏi trách nhiệm này. Quả thật, dân chúng đã nguôi ngoai khi tội ác được đổ lên đầu một Giáo phái nhỏ.

Các tín đồ của giáo phái này bị vu cáo đã thực hiện những nghi lễ bí ẩn làm phật lòng các vị thần hộ mệnh của Roma. Khoảng 200 tín đồ của giáo phái đó bị bắt và hành quyết. Họ bị biến thành những ngọn đuốc sống để soi sáng các lễ hội mà Nero tổ chức cho dân chúng thành Roma.

Cho đến nay vẫn chưa ai chứng minh được một cách chắc chắn rằng hoàng đế Nero đã gây ra chuyện này. Thay vì tìm kẻ phóng hỏa, ta hãy trở về với lời giải thích hợp lý và đơn giản nhất : ngọn lửa đã bốc lên từ những khoang chứa dầu và kho lúa ở bến tàu rồi nhanh chóng bị gió thổi lan ra. Do thảm họa xảy ra ngay giữa mùa hè nên lính cứu hoả gần như bất lực vì nguồn nước dự trữ của họ rất hạn chế.

Lan Hương tổng hợp chuyển tiếp

KẺ CẮP GẶP… CHUYÊN VIÊN

Hai thầy trò vừa nhận phòng được mấy giờ tại khách sạn 9 sao, Sếp bất thình lình kêu mất cái phong bì 10 ngàn đô, tôi chết đứng. Mới có 1 cô hầu phòng vào cung cấp nước uống, khăn mặt, kem đánh răng…

Vậy thì ai lấy trộm 10 ngàn đô của Sếp đây ? Nhưng bị mất trộm mà mặt Sếp vẫn tỉnh như quả bơ chín. Tại sao nhỉ ?!

Phải tìm cho ra thằng ăn trộm mới được, đích thân tôi, chuyên viên giỏi nhất cơ quan sẽ giải quyết vụ này, tạm thời chưa báo công an. Mà không hiểu sao đi công tác mấy ngày mà Sếp mang đi nhiều tiền quá thế ? Chả nhẽ công ty nào vừa biếu phong bì này hay sao, nghi ngờ tí cho có vẻ thám tử.

Tôi quyết định triển khai truy tìm nguồn gốc cái phong bì 10 ngàn đô này trong thời gian nhanh nhất. Sếp đồng ý để tôi áp dụng mọi biện pháp nghiệp vụ, kể cả khám xét khắp phòng tìm dấu vết tên trộm.

Tôi lật tung 2 cái giường, tủ đồ, tủ lạnh, thùng rác trong phòng vệ sinh, thậm chí khám cả túi quần Sếp nhưng vô vọng. Tên trộm này quá giỏi, chắc chắn được đào tạo bài bản ở một trường gián điệp bên Tây.

Thời gian hứa với Sếp sắp kết thúc, nếu không tìm ra cái phong bì này thì toi là cái chắc rùi, bao nhiêu công lao phấn đấu coi như vứt đi, kể cả chân ứng viên chức phó văn phòng. Đầu óc tôi gần như phát điên, bây giờ mà tóm được thằng trộm này thì bố tùng xẻo mày giải hạn. Kiếp trước chắc chắn tôi nợ thằng trộm này khá nhiều tiền.

Bóp nát quả chuối chín trứng cuốc, tôi chạy ra sảnh gọi điện cho vợ: “Cô gửi gấp cho tôi 10 ngàn đô la. Nếu không có thì tôi chính thức bị kỷ luật ! Nếu không có số tiền này thì đời tôi chính thức xuống dốc !” Chạy ra ngân hàng rút tiền, tôi cho vào cái phong bì rồi chạy về phòng báo cáo Sếp :

 – Dạ thưa thủ trưởng kính mến, em đã túm được tên trộm rùi ạ. Thằng này vô cùng giỏi, hình như nó là thằng trộm chuyên nghiệp khét tiếng. Em nhìn nó ngồi uống bia cỏ ở bờ sông nên xông vào tóm liền. Cái phong bì của Sếp vẫn còn nguyên trong túi quần nó, may là bà bán bia hơi chỉ lấy tiền Việt. Xin mời Sếp đến lại xem còn đủ 10 ngàn đô không ạ !

Sếp bình tĩnh đếm lại tiền cẩn thận, gật đầu khen tôi sái cổ :

– Hay lắm, cậu đúng là một chuyên viên vô cùng đa tài, viết báo cáo cũng giỏi mà bắt trộm cũng giỏi. Chân phó văn phòng chắc chắn là của cậu rùi. Chỉ có điều cậu giúp tớ thêm một vụ nữa: Bà xã tớ cũng mới bị mất trộm 5 cây vàng… (Lê Tự theo Dân Việt)

Huỳnh Công Khanh chuyển tiếp

TỘI NGHIỆP ANH QUANG !!!

Anh Nguyễn Xuân Quang đương kim Phó Cục trưởng Cục kiểm soát ô nhiễm của Tổng cục Môi trường, Bộ Tài Nguyên và Môi trường, vừa vào miền Nam kiểm tra tình trạng ô nhiễm tại các doanh nghiệp hồi cuối tháng Chín này. Vậy mà mới mấy ngày sau, anh Quang đã bị đạo chích đột nhập phòng khách sạn cuỗm mất gần 400 triệu đồng.

Đời thuở nào mà chấp nhận được bọn đạo chích bất lương, nhẫn tâm và bất chấp đạo lý đến vậy ?!

oOo

Anh Quang bị mất trộm ở một khách sạn tại thành phố Tân An (tỉnh Long An), lúc điều tra viên đến ghi nhận hiện trường, còn phát hiện một giấy chuyển tiền vào ngân hàng trước lúc bị mất trộm một ngày. Trong phòng còn có tiền đô, tiền Việt và một cơ số phong bì đã bị bóc vỏ.

Tui biết là dư luận nghe đến đây dư luận đã vội hồ nghi anh Quang ảnh nhận tiền của doanh nghiệp hay ảnh trục lợi cho cá nhân từ chuyến công tác kiểm tra này rồi. Ai nói gì thì nói, ai đồn gì thì đồn, ai nghi gì thì nghi nhưng cá nhân tui tin chắc anh Quang ảnh không có vậy đâu.

oOo

Cứ nhìn vào thực tế đi, ngành Môi trường của nước mình rất có trách nhiệm trong việc giám sát lẫn xử lý doanh nghiệp xã thải bậy, trong việc bảo vệ môi trường sống của người dân. Mà giám sát chặt chẽ vậy, xử lý nghiêm minh vậy thì làm gì kiếm chác được.

Lúc báo đăng công ty này xả thải ra sông, công ty kia xả thải ra biển, công ty kia chôn bùn thải xuống khu vực gần khu bảo tồn… lãnh đạo ngành Tài nguyên đều lên tiếng ủng hộ quyết liệt thấy không ? À, tui nhầm. Lãnh đạo ngành Tài nguyên không phải ủng hộ mà họ lý giải có tình có lý vì sao doanh nghiệp làm vậy, vì sao làm vậy là đúng luật, vì sao làm vậy là an toàn, vì sao làm vậy là không có ảnh hưởng gì hết.

Họ đàng hoàng như vậy thì lấy đâu là chuyện tư túi tư lợi ở đây, doanh nghiệp nào mua chuộc được họ. Đừng có nghĩ là doanh nghiệp dùng tiền mua ai cũng được, nghĩ vậy là không có đúng, là không có chuẩn, là rất dễ lâm vào tình cảnh nhìn cuộc đời một màu đen thui lui như nước sông bị nhiễm chất bẩn từ nước thải mà doanh nghiệp bất lương xả ra.

oOo

Ví như anh Quang ảnh đi công tác hai tuần, mà đi công tác nghĩa là phải xa vợ xa con, nghĩa là phải xa bữa ăn ấm cúng, chiếc giường ngủ thân thuộc, hơi thở của hiền thê, giọng nói cười của nhi tử… Ảnh đi công tác mà lại là kiểm tra doanh nghiệp xem doanh nghiệp có hoạt động trên cơ sở đảm bảo sự ổn định về môi trường hay không ?

Có lén lút làm chuyện đặt ống ngầm xả thải chưa qua xử lý ra sông hồ hay không, có bớt xén trong khâu xử lý nước thải để giảm đầu tư nhằm tăng lợi nhuận hay không, có phương pháp để chắc rằng khói bụi thải ra khi sản xuất đạt mức cho phép hay không…

Anh Quang ảnh hy sinh cái cá nhân, ảnh hy sinh cái riêng tư, ảnh hy sinh nhiều thứ lắm để bảo vệ sức khỏe cho nhân dân, để bảo vệ môi trường cho quốc gia. Thiệt, cái tình đó lớn lắm, cái công đó vĩ đại lắm.

Vậy mà, bọn trộm lại ác nhơn đến mức nhắm vào cá nhân như vậy để hành nghề thì thiệt là quá đáng, thì thiệt là không còn coi luân thường đạo lý nhân quả ở đời ra cái gì nữa hết.

Còn dư luận nữa, dư luận nghi ngờ cái gì mà nghi ngờ. Anh Quang ảnh đi công tác xa nhà, ảnh sợ của nả để lại có gì bất trắc không may, nên ảnh mang toàn bộ gia sản chắt chiu dành dụm được có thể do từ chạy xe ôm thâu đêm lúc trẻ, từ nuôi heo lúc tốt nghiệp đại học, từ buôn chổi đót khi vừa mới có việc làm…

oOo

Tiền của ảnh là minh bạch, việc làm của anh là minh bạch, chỉ có thái độ của dư luận mới mờ mịt thôi.

Anh Quang hãy vững tin, tui luôn thấu hiểu và thông cảm cho anh. Thói đời ngày càng trớ trêu thiệt !!! Bọn đạo chích ngày càng tinh ranh, ngày càng biết lựa người mà. (Quan Quan theo Tuổi Trẻ Cười)

Khách Giang Hồ chuyển tiếp

VỪA TÌM THẤY MỘT NHẠC PHẨM

CỦA ĐẶNG THẾ PHONG

Cho đến nay, giới nghiên cứu âm nhạc chỉ biết Đặng Thế Phong qua đời ở tuổi 22 và có 3 bài hát : Con thuyền không bến, Đêm thu và Giọt mưa thu. Nhưng ông còn có nhạc phẩm Gắng bước lên chùa.

Trong đó, Con thuyền không bến lúc đầu có tên Vạn cổ sầu. Thông qua Lê Thương, Thế Lữ, Lưu Hữu Phước, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Cao Luyện, Nguyễn Đình Phúc, Nguyễn Văn Thương, v.v…, tôi được biết: Đặng Thế Phong còn là tác giả một số nhạc phẩm khác. Đồng thời, ông còn có mối quan hệ về mặt sáng tác với nhà văn chuyên viết truyện trinh thám Phạm Cao Củng.

Bộ sưu tập các bài hát Việt Nam từ khoảng 1937 tới 1975 của tôi không có nhạc phẩm nào mà Đặng Thế Phong và Phạm Cao Củng là đồng tác giả.

Cho tới một hôm…

Cuối năm 1993, tôi lên Đà Lạt dự kỷ niệm Đà Lạt một trăm tuổi. Một buổi chiều, đang đắm mình trong cảnh vật trầm lắng của một ngôi chùa lớn, giữa tiết trời mưa rét, tôi nghe tiếng hát của một người khoảng trên năm mươi tuổi đứng gần cổng chùa. Người đó hát nhè nhẹ, cách hát tỏ rõ ông hiểu âm nhạc.

Tôi làm quen với ông. Tôi bảo ông có giọng hát khá hay. Ông cười và hát lại cả bài. Tôi ngạc nhiên vì bài hát nói về chuyện lên chùa qua những âm điệu gần gũi với đặc trưng nơi cửa Phật.

Tôi nói : Lần đầu tiên, tôi được biết bài này. Nó làm cho tôi nhớ tới ca khúc Kinh khổ (Lời và nhạc: Trầm Tử Thiêng) mặc dầu hai ca khúc có nhiều nét khác nhau.

Ông khen tôi biết thẩm âm. Rồi ông cho biết: Bài hát vừa rồi có tên Gắng bước lên chùa – Nhạc: Đặng Thế Phong. Lời: Phạm Cao Củng.

Tôi hỏi : Có phải Đặng Thế Phong tác giả Con thuyền không bến và Phạm Cao Củng tác giả nhiều truyện trinh thám hay không ?

Ông nói : Đúng, đúng ! Rồi ông hẹn tôi : Hôm sau, khoảng 15 giờ, cũng tại chùa này, đến gặp ông để tiếp tục câu chuyện liên quan đến bài hát nói trên. Đúng hẹn, tôi đến. Trời vẫn rét nhưng khô ráo.

Người đàn ông mang theo một cây đàn ghita. Ông hát và tự đệm đàn bài hôm trước. Giọng trầm ấm và thiết tha. Sau đó, ông cho tôi xem một bức ảnh chụp ca khúc Gắng bước lên chùa do chính tay Đặng Thế Phong viết nắn nót cả nhạc lẫn lời.

Dưới đầu đề Gắng bước lên chùa, Đặng Thế Phong ghi rõ: Nhạc: Đặng Thế Phong. Lời: Phạm Cao Củng. Cuối ca khúc, có dòng chữ: Tặng Hoàng Quý – Hà Nội, 1 Mai 1940 (tức mồng 1 tháng 5 – 1940).  Ông cho biết thêm : Bức ảnh này do cụ Phúc Lai, một chủ hiệu ảnh rất nổi tiếng ở Hà Nội và Hải Phòng lúc bấy giờ, chụp tại Hà Nội cho bố ông khoảng cuối năm 1940.

Ảnh chụp từ bản có dòng chữ đề tặng nói trên cho nhạc sĩ Hoàng Quý (tác giả Cô láng giềng, Cảm tử quân) – anh ruột của Hoàng Phú tức GS nhạc sĩ Tô Vũ. Nhạc sĩ Hoàng Quý quen bố ông và đã cho bố ông mượn bài hát có lời đề tặng ấy để bố ông nhờ cụ Phúc Lai chụp làm kỉ niệm. Bố ông qua đời tại Đà Lạt năm 1991. Nhưng khoảng năm 1970, tại Sài Gòn, bố ông đã góp phần vào việc xuất bản tuyển tập nhạc Hoàng Quý.

Tôi hỏi tên ông và tên cụ nhưng ông trả lời: Vì lí do riêng, không thể cho biết. Tuy nhiên, ông nhiệt tình nói rõ: Ca khúc này, theo bố ông, đã in trên nhật báo Tin Mới khoảng đầu năm 1940.

Hồi giải phóng Sài Gòn, cùng cả gia đình dời Sài Gòn lên Đà Lạt, bố ông bỏ lại hết, kể cả trọn bộ tạp chí Nam Phong và trọn bộ báo Phụ Nữ Tân Văn.

Mùa đông. Chưa đến xế chiều trời đã trở nên mờ xám. Gió lạnh. Tôi phải đi xe ôm về nhà trọ ở xa ngôi chùa chúng tôi đang trò chuyện khoảng 5 cây số. Vì thế, không thể đi phô-tô-cóp-pi bức ảnh chụp bài hát nói trên được. Thật đáng tiếc !

Từ đó đến nay, tôi không được gặp lại người bạn quý ấy nữa.

Gần hai tuần sau, trở về Sài Gòn, tôi gặp ngay người chủ một tiệm sách báo cũ mà từ mười mấy năm nay tôi là khách quen, hỏi anh có báo Tin Mới hay không. Anh bảo: Khó lắm ! Để em tìm !  Tôi ghi số điện thoại bàn cho anh chủ tiệm.

Mãi đến… mười năm sau

Một chiều cuối thu 2003, anh chủ tiệm sách cũ điện thoại cho tôi, bảo đến tiệm anh ngay. Tôi vừa tới, anh lập tức đưa ra hai tập Tin Mới đóng gáy da từ tháng Giêng đến hết tháng Chạp 1940, trong đó khoảng bốn chục số bị mất.

Rất mừng : Có một số in bài hát Gắng bước lên chùa. Đó là số Jeudi 4 Avril 1940 (tức thứ Năm, mồng 4 tháng 4 năm 1940).

Tôi nghẹn ngào tưởng như Đặng Thế Phong đang đứng trước mặt, và, những trang truyện trinh thám Phạm Cao Củng hồi nhỏ tôi đọc ở Thủ đô Hà Nội bỗng hiện ra trước mắt, chập chờn !!!  Tôi đề nghị anh chủ tiệm đi cùng tôi đến một cửa hàng ở đường Hai Bà Trưng để photocopy và xin anh nhận một số tiền nào đó tương đối lớn của tôi.

Anh bảo : Mười năm lặn lội đi tìm một bản nhạc của một nhạc sĩ lỗi lạc. Mười mấy năm anh mua sách báo cũ của em và nhiều tiệm khác… Em chẳng những không lấy một đồng của anh mà còn biếu anh tiền photocopy bài hát đó.

22 giờ, trời se lạnh. Tôi ôm một tập Tin Mới ngồi sau xe máy do anh chủ tiệm sách báo cũ điều khiển phóng đến một cửa hàng photocopy trên đường Hai Bà Trưng (Tân Định, quận 1).  Xong việc, anh đèo tôi về tiệm của anh để tôi lấy xe đạp. Tôi nâng niu hồi lâu ca khúc Gắng bước lên chùa trước khi bắt tay cảm ơn anh bạn, ra về.

Gần 23 giờ. Đường vắng. Trong gió se lạnh phả vào mặt, tôi đạp xe từ từ trên đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa. Khi qua cửa chùa Vĩnh Nghiêm, tôi chợt nghĩ : Thế là… mình đã Gắng bước lên chùa

Đã hơi khuya. Gió heo may có vẻ mạnh hơn.  Đêm nay thu sang cùng heo may… Bến mơ dù thiết tha, thuyền ơi đừng chờ mong… (theo tác giả Nhật Hoa Khanh)    

Thái Thanh với 3 ca khúc của Đặng Thế Phong

https://youtu.be/WefG2bi00AM

Phan Tất Đại chuyển tiếp