PHỤ NỮ SÀI GÒN THẬP NIÊN 60

PHỤ NỮ SÀI GÒN ĂN MẶC

CHƠI SANG TỪ THẬP NIÊN 1960

Sài Gòn trong những bức ảnh xưa hiện lên với những quý cô xinh đẹp, phóng khoáng và chịu chơi… luôn khiến người ta thích thú.

Sài Gòn đã bước qua những giai kỳ hoa lệ khác nhau, giai kỳ nào cũng tân thời và phồn hoa. Thế kỷ trước, Sài Gòn được những tao nhân mặc khách mà giờ chắc đã ra thiên cổ gần phân nửa ưu ái gọi bằng cái tên Hòn ngọc Viễn Đông.

Tôi luôn tự hỏi, điều gì khiến Sài Gòn được ưu ái gọi tên như thế, do vị trí địa lý phù hợp với những cuộc kinh thương ngoại quốc, do đất chật người đông, ồn ào náo nhiệt với những vũ trường, rạp hát ken đặc người…? Không, có lẽ Sài Gòn được ví như ngọc là bởi con người, nhất là phụ nữ Sài Gòn thời đó.

Phụ nữ Sài Gòn nửa thế kỷ trước, có thể nói là từ năm 1960 đã biết ăn mặc sao cho thật có gu và tạo nên cho mình một hào quang riêng biệt. Từ một cô gái xa lạ băng ngang qua đường với kiểu tóc “bình bông” và đôi kính râm thôi cũng đủ khiến cánh đàn ông đang đọc nhật trình gần đó phải ngẩn ngơ ngước nhìn.

Hay những cô nàng mặc áo dài đáy thắt lưng ong, mắt kẻ viền đen, tay cầm dù hoa đang vội vàng nhảy lên một chiếc xích lô gần đó để đi cho kịp giờ coi hát cũng đủ khiến các ông các anh chạy theo, xin một lần hò hẹn. Và cả những người đàn bà buôn gánh bán bưng nhưng biết chăm chút từng nét chỉ, thớ vải áo dài để bước xuống đường sao cho ra dáng Sài Thành nhất…

Ngắm nhìn những bức ảnh phụ nữ Sài Gòn thế kỷ trước, tôi đồ rằng đó là phố thị duy nhất trên thế giới nơi một người đàn bà bình thường trên phố cũng mang phong thái của một quý bà dạ hội.

H1: Phụ nữ Sài Gòn nửa thế kỷ trước đã biết ăn mặc sao cho thật có gu và tạo nên cho mình một hào quang phong thái riêng biệt. H2: Áo dài, nón lá và đôi guốc vài phân là những món đồ thời trang không thể thiếu của phụ nữ Sài Gòn thời trước.

H3: Sự giao thoa giữa tân thời và truyền thống đã được phụ nữ Sài Gòn xưa áp dụng triệt để, nhưng không vì thế mà nó kém xinh, ngược lại nó tôn lên vẻ hiện đại nền nã của phụ nữ thời đó. H4: Cách ăn mặc và ngôn ngữ cơ thể cũng đủ để chứng minh đặc tính phóng khoáng của phụ nữ Sài Gòn nửa thế kỷ trước. Áo dài nền nã là vậy, phụ nữ Sài Gòn dường như vẫn chẳng e ấp mà rất cởi mở, tự tin trong phong thái.

H5: Sơ mi trắng và chân váy ngang đầu gối cũng là một mốt thời mấy chục năm trước của những cô nàng trẻ trung hiện đại. H6: Nhìn lướt qua thôi cũng nhận ra đây đích thực là phụ nữ Sài Gòn. H7: Sự hòa trộn tinh tế giữa tân thời và nét cổ Á Đông. H8: Appe Three (Ba trái táo) ban nhạc 3 cô gái chuyên biểu diễn ở các hộp đêm với lối ăn mặc vô cùng gợi cảm.

H9: Nhưng suy cho cùng, dù Sài Gòn ngày ấy có tân thời cách mấy, những người phụ nữ vẫn ưu ái chọn chiếc áo dài mỗi khi xuống phố. H10: Sài Gòn luôn nắng nóng quanh năm nên dù cũng là phụ kiện không thể thiếu của chị em thời đó.

H11: Đừng nghĩ phụ nữ Sài Gòn cách đây nửa thế kỷ chỉ biết ăn diện mua sắm, mà đọc báo cũng là một thú tao nhã của chị em. Trong ảnh là một cô gái đứng mua báo tại một kiôt góc đường Tự Do – Nguyễn Văn Thinh (nay là Đồng Khởi – Mạc Thị Bưởi). H12: Ngoài đi bộ dạo phố, nhiều quý bà, quý cô còn chọn xích lô làm phương tiện di chuyển hàng ngày.

H13: Một “Paris Phương Đông” phồn thịnh với cub, vespa và những quý cô hợp mốt. Vespa, váy bút chì, tóc bob, kính râm thì còn gì hiện đại hơn ?

H14: Áo dài và xe đạp là hình ảnh thường thấy trong những hình chụp phụ nữ Sài Gòn hơn nửa thế kỷ trước. H15: Áo dài thướt tha, tóc bay trong gió thì luôn có những ánh mắt dõi theo. H16: Quần ống loe – mốt của những năm 70 được phụ nữ Sài Gòn nhiệt liệt chào đón. H17: Ngoài những cây dù, kính râm cũng là một phụ kiện không thể thiếu của các quý cô Sài Gòn xưa, vì nó giúp họ toát lên sự thời thượng, sang trọng.

MỘT CA KHÚC Ý KHIẾN

AI CŨNG NGỠ LÀ QUỐC CA

Một ca khúc tuyệt vời tới mức người ta gọi là “dân ca Ý”, được nhiều ca sĩ dấn thân cả ở phong cách cổ điển và đại chúng. Mỗi phong cách đều thể hiện những nét đẹp tuyệt vời với những ca từ cao vút và những nốt nhạc hạnh phúc, hoàn mỹ, bay bổng, tràn ngập tình yêu… Đó là ca khúc nào vậy ?

Đó chính là O sole Mio (Mặt trời của tôi), một bản nhạc được ví như “Quốc ca Ý” ở nước ngoài, và thường được công chúng trên thế giới gọi là dân ca, vì cảm thấy nó quá kinh điển, ai ai cũng biết, ai ai cũng yêu mến ca khúc.

Mặt trời của tôi đã được nhiều ca sĩ thể hiện cả ở phong cách cổ điển và đại chúng. Mỗi phong cách đều thể hiện một những nét đẹp tuyệt vời với những ca từ cao vút và những nốt nhạc hạnh phúc, hoàn mỹ, bay bổng, tràn ngập tình yêu…

Lời dịch bài hát Ý khiến người ta ngỡ ngàng bởi ca từ đẹp và hạnh phúc hiếm thấy : Chàng trai đang ca ngợi vầng thái dương, đột nhiên có sự so sánh bất ngờ: Có ánh sáng tuyệt vời, ấm áp hơn mặt trời, đó chính là nụ cười của người tôi yêu. Em hỡi, vầng thái dương thân yêu, với nụ cười tươi, thắm tô cuộc đời…

Đoạn này cũng chính là cao trào của bản nhạc, là điệp khúc thăng lên với những nốt nhạc cao chót vót như niềm hạnh phúc tràn ngập thăng hoa. Người nhạc sĩ viết nhạc đã quá tài hoa khi đẩy điệp khúc cao trào tới khúc ca từ này…

Người ta tưởng đây là một bản dân ca !

Bản nhạc da diết O Sole Mio (Mặt trời của tôi) này trên thực tế không phải một bản dân ca, mà là sáng tác của nhà soạn nhạc người Ý kiêm ca sĩ Eduardo di Capua (1865-1917), lời thơ của nhà thơ Giovanni Capurro  (1859-1920), và danh ca Italia giọng tenor Enrico Caruso (1873-1921) là ca sĩ thể hiện đầu tiên.

Ba con người tài hoa này đều cùng một thế hệ với nhau và họ đều sinh ra ở Napoli, Ý, nên khi ca khúc vang rộng vang xa khắp chốn khắp cõi, thì nó không chỉ là niềm tự hào của Napoli, mà còn là niềm tự hào của nước Ý. Nhạc sĩ Eduardo Di Capua sáng tác O Sole Mio trong một chuyến lưu diễn cùng cha ông là Jacob-vốn là một cây violinist cừ khôi, tại Odessa, Ucraina.

Đó là năm 1898, nhạc sĩ Eduardo Di Capua nhận lời đề nghị viết nhạc từ nhà thơ Giovanni Capurro sau khi nhà thơ đã hoàn thành bài thơ O sole mio của mình.

Ca khúc lời Việt “Mặt trời của tôi”

– O Sole Mio – Mặt Trời Của Tôi – Bằng Kiều, Trọng Tấn Opera

https://www.youtube.com/watch? v=rbgosiy8yVw

Lời ca khúc bằng tiếng Việt được nhạc sĩ Phạm Tuyên viết lời đã thể hiện được gần như hoàn thiện tinh thần của ca khúc gốc. Những giọng ca thính phòng đỉnh cao Việt Nam và cả những giọng ca nhạc nhẹ xuất sắc đều muốn thể hiện ca khúc này:

Những Ông Hoàng, ông Vua các thể loại nhạc, từ thính phòng tới nhạc đại chúng  đặt giọng ca mình vào những cung bậc hạnh phúc nhất này:

– “Vầng mặt trời nước Ý” Luciano Pavarotti.

https://www.youtube.com/watch? time_continue=5&v=d_mLFHLSULw

Không thể không kể đến Pavarotti, ca sĩ được ví như “Vầng mặt trời của âm nhạc nước Ý”, giữ vững hai vị trí trong sách kỷ lục Guiness. Ông là ca sĩ được khán giả vỗ tay mời ra hát lại nhiều nhất (165 lần) và Ca sĩ có album nhạc cổ điển bán chạy nhất mọi thời đại cùng với ban nhạc The Three Tenors – 3 giọng tenor tuyệt vời nhất nước Ý (album Carreras, Domingo, Pavarotti: The Three Tenors in Concert).

– “Ông Hoàng” Elvis Presley đã hát O sole Mio bằng tiếng Anh với cái tên It’s now or never (Ngay bây giờ hoặc là không bao giờ), khiến người nghe lập tức muốn nhún nhảy theo giọng ca vàng của nước Mỹ này:

https://www.youtube.com/watch? time_continue=1&v=QkMVscR5YOo

– Cả nam ca sĩ Bryans Adam cũng muốn thể hiện bên cạnh Mặt trời nước Ý:

https://www.youtube.com/ watch?v=5a0juQ0aeGI

– Bông hồng rực rỡ, giọng nữ cao Sandra Plamenats thể hiện Mặt trời của tôi:

https://www.youtube.com/watch? v=fbhdiDEI2CQ

ĐIỀU GÌ ẨN GIẤU ĐẰNG SAU BẢN

SONATA ÁNH TRĂNG

CỦA BEETHOVEN ?

Sonata Ánh trăng có thể nói là một bản nhạc đánh dấu sự thay đổi trong phong cách sáng tác âm nhạc của nhà soạn nhạc thiên tài Beethoven. Nó vừa có một cái gì đó như là tiếc thương, mất mát, vừa có những lời nguyện cầu, vừa có sự dữ dội như bão tố. Đằng sau bản sonata nổi tiếng này là rất nhiều câu chuyện…

Bản sonata cung Đô thăng thứ dành cho piano mang tên “Quasi una fantasia” thường được biết đến dưới cái tên bản sonata Ánh trăng, là một tác phẩm của nhà soạn nhạc thiên tài Ludwig van Beethoven sáng tác vào năm 1801. Ngày nay, nó là bản nhạc nổi tiếng nhất của ông dành cho piano, và ngay cả thời bấy giờ nó cũng là bản nhạc được rất nhiều người yêu thích. Nói về sự phổ biến của sonata Ánh trăng, nó đã làm Beethoven phát bực. Ông từng nói với học trò Czerny của mình rằng : “Thầy còn viết nhiều bản hay hơn thế”, ấy vậy mà người ta cứ nhắc mãi về sonata Ánh trăng…

Có rất nhiều câu chuyện được kể để giải thích cho sự ra đời của bản sonata Ánh trăng. Vào giữa thế kỷ 19, người ta bắt đầu đồn đại về cuộc gặp gỡ của Beethoven với một cô gái mù. Theo đó, khi gặp cô bé mù đang ngồi bên cạnh một chiếc đàn piano, Beethoven đã rất đỗi cảm thương. Ông ngồi xuống chính chiếc đàn piano đó và đột nhiên cảm nhận được ánh trăng đang chiếu vào qua cửa sổ. Như được truyền cảm hứng, Beethoven đánh lên những nốt nhạc của bản sonata nổi tiếng. Trong một phiên bản khác của câu chuyện, nhà soạn nhạc đã ngắm nhìn ánh trăng chiếu vào cô gái mù trong khi ông đang chơi đàn cho cô và anh trai cô. Và rồi ông nhận được linh cảm để sáng tạo nên “Quasi una fantasia”. Lại có người cho rằng đây là bản nhạc dành cho một tình yêu không trọn vẹn của nhà soạn nhạc thiên tài…

Dẫu sao, đó cũng chỉ là những “truyền thuyết”. Ánh trăng không phải là cái tên do Beethoven đặt cho bản sonata cung Đô thăng thứ (C♯ minor) này. Cái tên sonata “Ánh trăng” chỉ xuất hiện vài năm sau khi Beethoven đã qua đời. Vào năm 1836, nhà phê bình âm nhạc Đức, Ludwig Rellstab, chia sẻ rằng bản sonata này gợi lên trong ông hình ảnh ánh trăng phản chiếu trên hồ Lucerne. Kể từ đó, cái tên sonata Ánh trăng mới trở thành tên gọi “chính thức” một cách không chính thức của bản nhạc.

Beethoven không sáng tác sonata Ánh trăng theo mô thức truyền thống là nhanh – chậm – nhanh. Nó bắt đầu với thể Adagio (cung Đô thăng thứ) chậm, rồi nối tiếp bằng Allegretto (cung Rê giáng trưởng) chậm và kết thúc bằng Presto agitato (cung Đô thăng thứ) dữ dội. Phần thứ nhất thật là nhẹ nhàng, sâu lắng, và buồn. Nhà soạn nhạc người Pháp Berlioz bình luận rằng nó như “một thứ thơ mà ngôn ngữ con người không thể nào cất lên được”. Còn học trò của Beethoven, Carl Czerny thì cho rằng nó miêu tả một “màn đêm, với những âm thanh ảm đạm vọng tới từ phương xa”. Cũng có người cảm tưởng rằng mình đang bước đi trong đêm tối dưới ánh trăng chiếu rọi.

Phần thứ hai, Allegretto (cung Rê giáng trưởng), lại mang người nghe bình tĩnh trở lại với những nốt nhạc có phần tươi tắn hơn, trong sáng hơn, đem đến hy vọng. Phần thứ hai rất ngắn, dường như chỉ là cây cầu nối cho phần thứ nhất và phần thứ ba. Nhà soạn nhạc Franz Liszt đã ví phần thứ hai này như là “một bông hoa giữa hai vực thẳm” vậy. Bông hoa của Beethoven cứ nở rồi lại thu về rồi lại nở, tuần hoàn lặp lại trên nền nhạc.

Phần thứ ba là phần “bão tố” của sonata Ánh trăng. Những nốt nhạc nhanh và mạnh mẽ bộc lộ một cảm xúc dữ dội.

Bên cạnh những “truyền thuyết” lãng mạn về bản sonata Ánh trăng, người ta không thể lãng quên một thực tế rằng vào giai đoạn sau 1801, Beethoven bắt đầu nếm trải sự tuyệt vọng trong tâm hồn khi phải cố gắng chấp nhận việc mình bị mất thính giác. Người ngoài nhìn vào thì thấy Beethoven có một cuộc sống lý tưởng, là một nghệ sỹ piano bậc thầy và là một nhà soạn nhạc thành công hàng đầu ở Vienna. Tuy nhiên, Beethoven bắt đầu rời xa khỏi xã hội và bè bạn vì lo lắng rằng mọi người sẽ biết việc mình sẽ bị điếc. Người ta thì cảm thấy ông khó gần…

Beethoven đã sống nhiều năm trong tịch mịch và cô đơn cho tới lúc điếc hẳn. Hoàn cảnh đó đã ảnh hưởng sâu sắc đến tinh thần và sự sáng tạo của ông trong âm nhạc. Giai đoạn 1800 – 1802 đánh dấu một bước ngoặt trong cuộc đời Beethoven và cũng khởi đầu cho giai đoạn sáng tác tiếp theo của ông. Khi tai không còn nghe được nữa, Beethoven bắt đầu lắng nghe bằng tâm hồn của mình.

Beethoven đã tìm cách điều trị tại một ngôi làng ở Heilgenstadt vào cuối mùa xuân năm 1802 cho đến tháng 10 cùng năm đó. Quá tuyệt vọng vì việc chữa trị không thành công, ông từng có ý định tự kết liễu đời mình. Trong một bức thư, ông kể: “Nhờ nghệ thuật mà tôi đã không kết liễu đời mình bằng việc tự sát”.

Lặp đi lặp lại trong âm nhạc của Beethoven chính là tinh thần vượt qua nghịch cảnh. Những xung đột nội tâm ông trải qua đều có thể tìm thấy trong âm nhạc, đó là việc vượt lên tất cả để chiến thắng sự tuyệt vọng và đau buồn. Cũng qua những giằng xé trong tâm tưởng đó, Beethoven đã học được cách sống cùng với tật mất thính giác và trở thành một thiên tài âm nhạc với các kiệt tác vô cùng vĩ đại.

Sau đợt điều trị, Beethoven tỏ vẻ không hài lòng với các tác phẩm của mình và theo như học trò của ông, Czerny, thì “ông quyết tâm đi trên một con đường mới”. Sự thay đổi đó thể hiện qua tiết tấu mạnh mẽ trong những bản sonata, sự kịch tính, sự bất cân đối…

Sonata Ánh trăng có thể được xem là sáng tác đầu tiên khi Beethoven bước sang giai đoạn dần mất đi thính lực cho đến lúc điếc hẳn. Sự tiếc thương và mất mát trong tác phẩm, những lời nguyện cầu, và cả bão tố đã tạo nên một thứ âm nhạc tuyệt hảo, thứ âm nhạc khởi đầu cho những kỳ tích mang tên Beethoven. (theo Thanh Nhã)

Xuân Mai tổng hợp chuyển tiếp

BÍ ẨN XUNG QUANH

MỘT TUYỆT TÁC

SUÝT LÀ BIỂU TƯỢNG

CỦA SÀI GÒN

Lăng Ông – lăng mộ đức Tả quân tổng trấn Gia Định thành Lê Văn Duyệt nằm ở vị trí ‘long mạch’, vùng ‘sơn thủy chi giao’ chứa nhiều điều bí ẩn, ít ai biết từng có thời được định chọn làm biểu tượng cho Sài Gòn.

Nằm trong khuôn viên rộng 18.500 m2, kế bên hông chợ Bà Chiểu (số 126 đường Đinh Tiên Hoàng, Q.Bình Thạnh), lăng Ông – còn có tên gọi phổ biến là lăng Ông Bà Chiểu, là một công trình kiến trúc nghệ thuật độc đáo của vùng đất Nam Bộ, có mặt chính hướng ra phía Cầu Bông. Ngày xưa nơi đây là vùng đất hoang rậm của thượng du Nghi Giang nên bây giờ vẫn còn tồn tại nhiều loại cây xanh, gỗ quý như: dầu, giá tỵ, bằng lăng, thốt nốt… rợp mát bước chân du khách.

Vì sao Lăng Ông mà lại có mộ… bà ?

Sử sách xưa ghi lại : “Tháng 7 năm 1832 (Nhâm Thìn), tả quân Lê Văn Duyệt mất được an táng tại làng Bình Hòa (bây giờ là Q.Bình Thạnh). Tuy nhiên, do mối tị hiềm với tả quân nên vua Minh Mạng đã ghép ông vào 11 trọng tội và “đến chỗ mả đắp, san làm đất bằng”, dựng bia khắc 8 chữ “Quyền yêm Lê Văn Duyệt phục pháp xử (Chỗ tên hoạn quan Lê Văn Duyệt chịu tội).

Đến năm 1841, khi Thiệu Trị con trai trưởng vua Minh Mạng lên ngôi thì nỗi oan khiên trên mới được giải. Vua cho xuất tiền kho xây đắp lại mộ cho tả quân Lê Văn Duyệt khang trang”.

Mặc dù có tên gọi là lăng Ông nhưng bên trong khu lăng vẫn có… bà được chôn cất theo. Chánh thất tả quân phu nhân tên là Đỗ Thị Phận được song táng nằm song song với chồng. Hai ngôi mộ đều có hình thức, kích thước và chất liệu kỹ thuật giống hệt nhau. Thoạt nhìn như hai quả trứng ngỗng xẻ theo chiều dọc úp trên hình chữ nhật có tác dụng như đế mộ, theo kiểu phối hợp tấm liếp (kệ bên dưới) và trứng ngỗng (phần úp bên trên).

Điều khá bất ngờ là thực ra thời điểm đó bà Phấn cũng bị khép tội như chồng nhưng vì Lê Văn Duyệt có tật “ẩn thân” nên về lý không thể là vợ của ông, do đó triều đình mới tạm tha. Bà về ở với mẹ ruột trong một ngôi chùa ở Chợ Lớn, khi mất đi được người thân an táng tại khuôn viên trong vườn. Sau này, tả quân Lê Văn Duyệt mất các bộ hạ thân tín mới đem hài cốt của bà bí mật mang vào chôn bên cạnh ông để hai vợ chồng điền viên nơi chín suối.

Toàn bộ tường xây xung quanh hai ngôi mộ hiện nay sử dụng đá ong trát xi măng gọi là Uynh Thành. Mặt ngoài bình phong tiền có chạm hình con chim đậu trên cành cây trong tư thế xõa cánh, còn mặt trong đắp hình hai con hổ: một lớn, một nhỏ. Bình phong hậu đắp nổi một mặt rồng, chân có bốn móng trông rất uy nghi, trang nghiêm.

Huyền thoại xung quanh cuộc đời Tả Quân

Có nhiều huyền thoại và câu chuyện lưu truyền trong dân gian về cuộc đời của nhân vật đặc biệt xuất chúng của vùng đất Nam Bộ. Điều đó cũng hoàn toàn bình thưởng vì lúc còn sống, tả quân Lê Văn Duyệt là nhân vật rất có quyền uy, được người dân kính nể khi hai lần ông được vua triều Nguyễn cử giữ chức Tổng trấn Gia Định thành (1812 – 1815) và (1820 – 1832), cai quản cả một vùng rộng lớn của đất phương Nam.

Theo nghiên cứu của tác giả Bùi Thị Ngọc Trang trong cuốn Nghệ thuật kiến trúc, trang trí, lễ hội lăng Tả quân Lê Văn Duyệt : “Tả quân Lê Văn Duyệt có “tướng tinh”, nghĩa là con cọp bạch. Vì vậy, lúc ông chưa phò chúa Nguyễn khi ngủ có người thấy thấp thoáng bóng con cọp bạch hiện ra. Lại có truyền tụng rằng những con hổ mà Lê Văn Duyệt nuôi để mang đi giao đấu rất sợ và tuân lời ông răm rắp. Nhiều khi chúng đang nổi giận gặp cái gì cũng giày xéo nhưng thấy thấp thoáng bóng tướng quân là ngoan ngoãn, điềm tĩnh ngay lại”.

Chuyện xưa còn kể rằng, khi đang giữ chức tổng trấn, một lần đi lên núi Bà Đen (Tây Ninh bây giờ) viễn cảnh, ông được báo ứng biết trước hậu vận là sẽ bị hành hạ, mả mồ bị xiềng xích, tên tuổi bị đục khoét rồi mới được minh oan mà sau này diễn tiến đúng y như thật.

Việc ông tạ thế cũng có thêm huyền thoại, như sách đã dẫn : “Lúc Lê Văn Duyệt ngã bệnh, cột cờ trong thành Gia Định không có gió mà tự nhiên gãy. Một tháng sau, lúc có việc đi kinh lý biên giới, vừa ra khỏi thành thì con voi ông cưỡi thình lình nằm bẹp dí xuống đất, cất tiếng rống thảm thiết dù bắt ép thế nào cũng không đứng dậy.

Cuối cùng ông phải dùng ngựa mà đi, Lê Văn Duyệt thấy có điềm lạ nên mới cho mọi người hay biết mình đang bị bệnh. Việc ông mất bị hàm oan, thể xác hành hạ và mồ mả bị xiềng xích cũng khiến cho khu lăng mộ này trở nên linh thiêng và huyền bí hơn”.

Được biết, trước đây có một thời và có người đã từng muốn lấy hình ảnh lăng tả quân Lê Văn Duyệt làm biểu tượng cho Sài Gòn nhưng rồi không thành. Tuy nhiên, hiện nay du khách mỗi khi đến Sài Gòn đều muốn đến viếng và tham quan lăng Ông Bà Chiểu, một công trình di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia độc đáo, có một không hai của Sài Gòn và rất nhiều lễ hội hàng năm cũng được tổ chức tại đây, thu hút rất đông khách thập phương. (theo Lê Công Sơn)

Hai Điếu ĐĐ chuyển tiếp

Advertisements

BÍ ẨN TRONG CÁC BỨC DANH HỌA

NHỮNG BÍ ẨN ĐƯỢC GIẤU

TRONG CÁC BỨC TRANH NỔI TIẾNG

Đằng sau những lớp sơn, lớp màu tạo nên các tác phẩm nghệ thuật nổi tiếng toàn thế giới là những hình họa mà họa sĩ đang muốn tìm cách giấu đi.

1/. Mona Lisa của Leonardo da Vinci : Mona Lisa có lẽ là bức tranh nổi tiếng nhất trên giới. Nụ cười bí ẩn quyến rũ đã nắm bắt bao con tim trong giới nghệ thuật vậy mà danh tính của người mẫu giúp làm nên bức tranh nổi tiếng đó vẫn mãi là một vấn đề đầy tranh cãi.

Nhiều người cho rằng cô gái đó là Lisa del Giocondo (hay Lisa Gherardini), vợ của một thương nhân ở Florentine. Thế nhưng một khám phá gần đây đã làm vỡ mộng không ít người.

Có đến hai bức tranh khác nhau được tìm thấy dưới bức Mona Lisa. Một trong những bức hoạ được cho rằng đã vẽ lại chân dung thực của Lisa. Khoa học gia người Pháp Pascal Cotte cho rằng kết quả tìm thấy dưới bức Mona Lisa có thể hoá giải mọi bí ẩn và thay đổi lại cái nhìn của mọi người về kiệt tác này.

Thế nhưng những nhà sử gia khác lại không đồng ý và cho rằng những bức tranh được tìm thấy bên dưới chỉ có thể chứng tỏ quá trình sáng tạo của da Vinci, cách mà tranh của ông biến đổi và phát triển. Cho đến nay, đại diện của bảo tàng Louvre ở Paris vẫn chưa đưa ra bình luận gì về vấn đề này.

2/. Bức Woman at a Window của Palma Vecchio : Một lần phục hồi tranh đã để lộ ra phiên bản đầu tiên được giấu bên dưới bức tranh. Giống như trường hợp của bức Madame X, bức tranh Woman at a Window cũng đã bị chỉnh sửa nặng nề để bớt khiêu gợi và trở nên đứng đắn hơn cho phù hợp với xã hội thời bấy giờ.

Một lần phục hồi tranh đã để lộ ra phiên bản đầu tiên được giấu bên dưới bức tranh. Trong bức tranh gốc cô gái có mái tóc vàng, đôi mắt xa xăm và bộ ngực nở làm người ta liên tưởng đến một kỹ nữ. Vecchio đã sửa lại màu tóc, đôi mắt, khuôn mặt và che lại bộ ngực, khiến hai bức tranh trông như hai người hoàn toàn khác hẳn nhau.

3/. Bức Madame X của John Singer Sargent : Khi vừa ra mắt, bức tranh này nhanh chóng trở thành tiêu điểm của nhiều tranh cãi. Khi bức Madame X được triển lãm lần đầu tiên vào năm 1884, nó đã nhanh chóng trở thành tiêu điểm của nhiều tranh cãi. Nhiều nhà bình luận và người xem đã tỏ vẻ không thích bức tranh vì mô tả một người phụ nữ mặc một chiếc váy đen có quai đeo tuột xuống một bên vai là không đứng đắn.

Người mẫu cho bức tranh chính là Madame Pierre Gautreau, một expat đến từ New Orleans. Nhờ nhan sắc bản thân, cô đã tạo nên tên tuổi cho mình trong cộng đồng ở Paris. Cuối cùng, gia đình của Pierre Gautreau thấy quá xấu hổ và yêu cầu gỡ bức tranh khỏi cuộc triển lãm.

Sợ rằng gia đình Gautreau sẽ huỷ bức tranh đi, Sargent quyết định sửa lại để quai váy “đứng đắn” nằm trên vai của người mẫu. Đầu năm 2016, phiên bản đầu tiên được phát hiện và trưng bày tại Bảo tàng Nghệ thuật Metropolita.

4/. Bức Still Life with Meadow Flowers and Roses của Vincent van Gogh : Mất 10 năm, các nhà nghiên cứu mới đưa ra được kết luận: đây chính là một bức tranh Van Gogh chính hiệu.

Thật ra kể từ năm 1974, đã có nhiều nghi vấn đặt ra về việc liệu van Gogh có phải là tác giả thật sự của bức tranh này hay không. Các chuyên gia nghiên cứu bố cục, chất liệu thậm chí là cả chỗ ký tên trên tranh để tìm lời giải và kết luận rằng có quá nhiều điểm không giống với các tác phẩm khác của van Gogh. Kể từ đó bức tranh bị gỡ khỏi bộ sưu tập tranh van Gogh.

Mãi cho đến khi người ta phát hiện ra một bức hình khác bên dưới. Đó là một bức tranh mô tả hình hai người đàn ông đang vật lộn với nhau được nhiều chuyên gia nhận định rất có thể là một bức tranh mà van Gogh đã vẽ đè lên để tiết kiệm tiền mua nguyên vật liệu.

Mất đến 10 năm nghiên cứu, cả việc kiểm tra chất màu trong tranh, các chuyên gia mới đi đến kết luận rằng đó là một bức tranh Van Gogh chính hiệu. Van Gogh đã từng nhắc đến bức tranh hai người đàn ông vật nhau trong một bức thư viết năm 1886: “Tuần này, tôi vừa vẽ hai bộ ngực trần ở khổ lớn–hai đô vật”. Ông cũng viết thêm rằng ông rất hài lòng với kết quả đạt được.

5/. Bức Isabella de’ Cosimo I de Medici : Các chuyên gia cho rằng bức tranh đã được chỉnh sửa để trở nên dễ nhìn và dễ bán hơn. Sau khi nhiều chuyên gia tỏ ý nghi ngờ về tính xác thực của bức chân dung con gái của công tước xứ Tuscany, một cán bộ bảo quản ở Bảo tàng Carnegie, Pittsburg, đã lôi bức tranh ra kiểm tra kỹ càng bức tranh từ thế kỷ 16 này.

Kết quả là bức tranh là chuẩn thật thế nhưng lại giấu một bí mật kinh người có lẽ là một trong những nỗ lực đầu tiên của con người nhằm “photoshop” chỉnh sửa ảnh tự sướng. Giấu dưới gương mặt trẻ trung, xinh đẹp là một gương mặt thật của con gái ngài công tước: già hơn, nhiều nếp nhăn hơn và tất nhiên là xấu hơn gương mặt đã được chỉnh sửa.

Những chỉnh sửa này được thực hiện từ thế kỷ 19 khiến trong suốt nhiều năm, người ta đã ngộ nhận về sắc đẹp trong tranh. Các chuyên gia cho rằng bức tranh đã được chỉnh sửa để trở nên dễ nhìn và dễ bán hơn.

6/. Bức Portrait of Don Ramon Satue của Francisco de Goya : Có lẽ Goya đã vẽ đè lên bức tranh cũ vì vẽ một vị tướng của thời vua cũ là quá nguy hiểm khi vua mới đã lên ngôi. Chân dung một người đàn ông mặc quân phục được phát hiện bên dưới bức chân dung đã hoàn thành. Bởi vì gương mặt của người đàn ông chưa hoàn thành nên danh tính của người đàn ông này vẫn là một ẩn số.

Bộ quân phục trong tranh cho thấy người này có phẩm cấp rất cao trong dòng hiệp sĩ thành lập bởi Joseph Bonaparte, anh trai của Napoleon Bonaparte và vua của xứ Tây Ban Nha. Tính ra trong lịch sử chỉ có khoảng 15 vị tướng là đủ phẩm cách mặc bộ quân phục này thế nhưng các chuyên gia vẫn không thể giới hạn danh sách lại ngắn hơn.

Joseph Bonaparte có thời gian trị vì từ năm 1808 đến 1813. Sau đời vua Bonaparte, Goya tiếp tục làm hoạ sĩ trong hoàng cung cho vị vua sau. Có lẽ Goya đã vẽ đè lên bức tranh cũ vì vẽ một vị tướng của thời vua cũ là quá nguy hiểm khi vua mới đã lên ngôi.

7/. Bức Young Woman Powdering Herself của George Seurat : Người mẫu cho bức tranh Young Woman Powdering Herself của George Seurat không ai khác chính là người tình của ông. Trong bức tranh, một người phụ nữ đang ngồi trang điểm. Trên bức tường là một chiếc gương nhỏ phản chiếu lại hình ảnh một lọ hoa đặt trên bàn. Seurat đã vẽ lọ hoa đó để che đi hình phản chiếu của gương mặt ông.

Trước khi đem tranh đi trưng bày, Seurat có nhờ bạn đánh giá bức tranh và bạn ông, không biết chuyện Seurat ngoại tình, thẳng thắn nhận xét rằng gương mặt trong gương trông quá khôi hài. Vậy nên Seurat quyết định sẽ tiếp tục giữ kín chuyện ngoại tình.

8/. Bức Patch of Grass của Vincent van Gogh : Vincent van Gogh, họa sĩ có cuộc đời đầy bi kịch, vẽ kiệt tác Patch of Grass ở Paris vào năm 1887. Thế nhưng các nhà khoa học từ Hà Lan và Bỉ đã thành công bật mí ra một bức chân dung bị che giấu đằng sau kiệt tác này năm 2008 với sự giúp sức của tia X.

Bức Patch of Grass có màu chủ đạo là xanh lá và xanh da trời còn bức chân dung bí ẩn lại có màu đỏ và nâu tả lên chi tiết khuôn mặt của một người phụ nữ nông dân. Các chuyên gia nghệ thuật nhất trí rằng van Gogh thường vẽ đè lên tranh để tiết kiệm tiền.

9/. Bức View of Scheveningen Sands của Hendrick van Anthonissen : Bức tranh View of Scheveningen Sands của họa sĩ Hendrick van Anthonissen được hoàn thành vào năm 1641 và được tặng lại cho Bảo tàng Fitzwilliam năm 1873. Bức tranh mô tả một bãi biển yên bình với vài người lang thang trên cát trong một ngày mùa đông. Bức tranh trông khá bình thường.

Thế nhưng khi một thực tập sinh được giao nhiệm vụ tẩy một vết sơn vàng trên tranh, cô đã tình cờ phát hiện ra một bí mật thú vị. Sát với chiếc thuyền buồm lờ mờ phía đường chân trời là hình một con cá voi nằm trên cát. Còn chiếc thuyền buồm lại chính là đuôi của con cá. Các chuyên gia sau đó cho rằng con cá heo này đã bị che lại vào thế kỷ 18 hoặc 19 vì hình mô tả các con vật chết được cho là phản cảm.

10/. Bức tranh The Wood Sawyers của Jean-Francois Millet : Khi sử dụng tia hồng ngoại để chụp bức tranh The Wood Sawyers của Jean-Francois Millet, một chiếc đầu người lờ mờ hiện lên ngay bên trên vai của một trong những người đàn ông đang cưa gỗ trong tranh. Sau khi bức tranh được quét toàn diện và đánh giá một cách kỹ càng, người ta phát hiện ra bên dưới bức tranh hoàn chỉnh là hình vẽ bức tượng La Republique nổi tiếng ở Pháp.

Alfred Sensier, người viết tiểu sử của Millet, khẳng định rằng hình bức tượng vốn được dùng để dự thi nhưng không giành được giải thưởng nào. Vậy nên Millet đã vẽ bức tranh mới đè lên để có thể tiết kiệm tiền. Ngoài ra người ta cũng tìm thấy vài vết rách, lỗ vá có lẽ là kết quả khi Millet điều chỉnh khung tranh để vẽ bức tranh mới.

11/. Sự trả thù của họa sỹ Salvador Dali : Bức họa Figure at a Window (tạm dịch Bóng hình bên cửa sổ) được họa sỹ Dali vẽ vào năm 1925, lúc ông mới chỉ 21 tuổi. Và lúc đó, Dali chưa hề gặp vợ mình, Gala, vì thế mà nguồn cảm hứng của bức tranh đến từ cô chị của họa sỹ, Ana Maria. Thời gian trôi qua, mối quan hệ giữa ông và cô chị trở nên xấu đi và họa sỹ Dali thậm chí đã từng nói: “Đôi khi nhìn vào nó, tôi lại nhổ một bãi nước bọt vào bức họa mới cảm thấy dễ chịu”. Điều này khiến Ana Maria rất tức giận.

Năm 1949, Ana Maria đã viết một cuốn sách về Dali với tựa đề: “Salvador Dali, qua con mắt của người chị (Salvador Dali, Seen Through the Eyes of His Sister). Việc này một lần nữa lại làm quan hệ của họ càng thậm tệ hơn.

Cuối cùng, năm 1954, họa sỹ Dali vẽ bức tranh “Young Virgin Autosodomized by her Own Chastity'” với vị trí các phần, mái tóc, khung cảnh và màu sắc của bức họa đều gợi về bức họa “Bóng hình bên cửa sổ” ngày xưa như một phiên bản lỗi đầy sự căm ghét và phỉ báng. Người ta cho rằng, bức tranh thứ hai của Dali chính là sự trả thù đối với những gì cô chị đã viết về ông trong cuốn sách đó.

12/. Khuôn mặt biến hóa khôn lường trong bức tranh The Old Fisherman : Năm 1902, họa sỹ người Hungary, Csontváry Kosztka Tivadar vẽ bức tranh “Ông lão đánh cá” (The Old Fisherman). Khi nhìn vào bức tranh có vẻ không có gì đặc biệt. Tuy nhiên, nếu ai đó đặt một tấm gương vào giữa bức tranh thì bạn sẽ nhận ra hai khuôn mặt với hai vẻ mặt trái ngược.

Đặt gương phản chiếu vẻ mặt bên phải, bản sẽ thấy khuôn mặt của ông lão bỗng biến sắc trở thành một người hung dữ, nhưng khi phản chiếc vẻ mặt bên trái, ông lão bỗng trở nên hiền dịu với đôi tay chắp lại, phía sau là vùng biển hoàn toàn tĩnh lặng. (theo Dân Trí)

LỊCH SỬ CỦA NHỮNG

CHÚ HỀ QUÁI ĐẢN TRÊN MÀN ẢNH

Trên màn ảnh, nỗi sợ về những chú hề kinh dị đã nhen nhóm từ đầu thế kỉ 20 và được thổi bùng lên trong khoảng thời gian gần đây.

Trong hàng trăm năm, chúng ta sống trong thế giới mà những chú hề được sinh ra với mục đích mua vui cho khán giả. Với áo quần sặc sỡ và trang điểm lòe loẹt, nhân vật hề đã trở nên quá quen thuộc trong văn hóa Tây phương. Các ngôi sao nhạc pop thì hát Everybody Loves a Clown và Send in the Clowns. Các bậc phụ huynh thì thuê những người đóng hề về làm trò ảo thuật cho bữa tiệc sinh nhật của trẻ nhỏ.

Gã hề Ronald McDonald thì bán hamburger. Emmett Kelly và Red Skelton dường như đã quá quen mặt trên truyền hình. Văn hóa đại chúng cho phép nhân vật hề điềm nhiên bước vào thế giới của những người dân bình thường, để đem lại tiếng cười và đôi khi cả những nỗi sợ hãi khủng khiếp nhất cho họ.

Một vài người sẽ nói: “Ôi đối với tôi những thằng hề trông cứ ghê ghê thế nào ấy”. Họ không quá quắt, khi chứng bệnh Coulrophobia – nỗi ám ảnh với gương mặt hề đang dần trở nên phổ biến trong cộng đồng với con số 12% dân số Mỹ mắc phải. Tỉ lệ này rất có thể sẽ còn tăng lên khi mới đây, những vụ tấn công, dọa dẫm liên quan đến những kẻ quá khích hóa trang thành ma hề, hề giết người… ngày càng trở nên đáng báo động. Năm 2016 đánh dấu đỉnh điểm của nỗi sợ hãi về những chú hề, khắp mọi nơi người ta truyền tai nhau những câu chuyện kinh dị.

Làm sao từ một nhân vật với nhiệm vụ đem lại tiếng cười cho tất cả lại có số phận như vậy ? Truyền thông, mà cụ thể là điện ảnh đóng một vai trò quan trọng. Sự xuất hiện ngày càng nhiều của những nhân vật hề đáng sợ thời gian gần đây là cảm hứng vô tận cho trang phục hóa trang, cũng đồng thời thổi bùng lên nỗi sợ khuôn mặt trắng những phấn và chiếc mũi đỏ. Dưới đây là lược sử của nhân vật hề kinh dị trên màn ảnh.

1/- He Who Gets Slapped (1924)  Từ nửa đầu thế kỉ 20, điện ảnh đã khai thác thế giới kì quặc trong các gánh xiếc và lễ hội hóa trang. Tuy nhiên, các nhà làm phim và cả khán giả thời ấy thường cho rằng những người lùn, người có thân hình dị dạng (bị gọi chung với cái tên ghẻ lạnh là “freaks” hay “lũ dị hợm” ) và những bà đồng cốt lại là những nhân vật đáng sợ hơn là lũ hề.

Trừ một ngoại lệ trong đó Lon Chaney vào vai nhân vật chính. Một tác phẩm vừa kinh dị vừa đắng cay, trong đó gã hề của Lon Chaney cố gắng giải cứu người phụ nữ trẻ mà gã yêu thương người từng phản bội gã. Tác phẩm là lá cờ đầu của hình tượng hề kinh dị và là cơn ác mộng đối với tất cả những nạn nhân của hội chứng Coulrophobia.

2/- Terror on Tour (1980)  Nội dung của phim tập trung vào ban nhạc rock mang tên The Clowns rơi vào rắc rối khi đột nhiên nhiều cô gái mại dâm bị giết chết từng người một bởi sát nhân trông giống các thành viên của ban nhạc. Mặc dù không phải là “sát thủ hề” theo đúng nghĩa truyền thống, tuy nhiên Terror on Tour chính xác là một trong những tác phẩm đầu tiên vẽ nên hình ảnh nụ cười gần với con dao đầy máu mà sau này đã trở nên quen thuộc trên màn ảnh.

3/- Poltergeist (1982)  Hãy hỏi một người lớn tuổi về khoảnh khắc nào trên màn ảnh đã chính thức tàn phá tuổi thơ của họ về hình ảnh chú hề, nhiều người sẽ không ngần ngại chỉ ngay vào cảnh phim kinh điển trong Poltergeist, khi cậu bé Robin bị những chú hề tấn công. Hiệp hội các nhà phê bình phim Chicago từng bầu chọn Poltergeist vào danh sách “Bộ phim đáng sợ nhất từng thực hiện trong thế kỷ 20”. Phim cũng nằm top 100 bộ phim “sởn da gà” nhất của Mỹ.

4/- Funland (1987) / Blood Harvest (1987) / Out of the Dark (1989)  Đây là thời điểm mà ý tưởng về những chú hề giết người được hoàn thiện. Nửa cuối thập niên 80 thế kỉ trước, bộ ba tác phẩm này đã hoàn toàn xây dựng được hình ảnh những “killer clowns” như chúng ta thấy nhan nhản ngày nay. Được thúc đẩy bởi sự sụp đổ từ niềm tin chính trị cuối thời Reagan, người Mỹ muốn truyền tải sự đe dọa đằng sau lớp hóa trang dày cộm và nụ cười thường trực của những chú hề mà câu chuyện bề nổi luôn hàm ý một nhân vật đáng sợ.

5/- Killer Klowns from Outer Space (1988) / Clownhouse (1989) / Carnival Of Souls (1998)  Đợt phim này đại diện cho sự phát triển tiếp theo của trào lưu ghét hề – khi quan niệm ghê sợ hề đang dần phổ biến. Nỗi sợ vốn mơ hồ nay đã trở nên ăn sâu bám rễ tới mức các nhà làm phim đối xử với những quái vật khuôn mặt méo mó trong Killer Klowns from Outer Space (1988) cứ như chúng có thể gây ra tận thế vậy.

Trong khi đó, Clownhouse học tập phong cách hề sát thủ của Halloween nhưng lại thêm yếu tố bí hiểm và bất ngờ. Carnival of Souls thì lấy cảm hứng từ một bộ phim cùng tên năm 1962 nói về tên hề biến thái rình rập một phụ nữ trẻ. Cho tới năm 1998, “lễ hội” thì có nghĩa là “hề”, mà “hề” thì suy ngay ra là “giết người”.

6/- Joker trong loạt phim về Batman : Đây là ví dụ gần nhất cho những con quỷ với nụ cười thường trực. Hình ảnh Joker gắn với hình tượng một gã hề đã trở nên quá quen thuộc trong văn hóa đại chúng trên thế giới. Với khuôn mặt trắng bệch và nụ cười nham nhở rạch tới tận mang tai, Joker là cơn ác mộng kinh hoàng với tất cả những người sợ hề, là sự kết hợp ám ảnh giữa sự đùa cợt và một trí tuệ biến thái độc ác.

7/- House of 1000 Corpses (2003) / The Devil’s Rejects (2005) / 31 (2016)  Rob Zombie nổi đình nổi đám qua 2 tác phẩm đầu tay House of 1000 Corpses (2003) và 2 năm sau là The Devil’s Rejects. Cả hai đều có chứa những cảnh kinh dị “nặng đô” có thể khiến người xem chóng mặt buồn nôn. Tất nhiên trong đó đều không thể thiếu hình ảnh những chú hề. Thật không gì kinh khủng bằng đã zombie lại còn hề kinh dị xuất hiện chung trong một bộ phim. Năm 2016, Rob cho ra mắt tác phẩm mới nhất của mình với cái tên 31 và nội dung tương tự.

8/- Fear of Clowns (2004) / Drive-Thru (2007) / 100 Tears (2007) / The Last Circus (2010) / Stitches (2012) / All Hallows’ Eve (2013)  6 tác phẩm được ra mắt trong những năm gần đây đại diện cho sự quá tải của hình ảnh hề sát thủ trên màn ảnh. Vô danh, máu lạnh, thậm chí máu lạnh một cách bản năng và ngu ngốc, biểu tượng của chuỗi thức ăn nhanh ngày nào đã trở thành chủ đề quen thuộc của các phim kinh dị đầu thế kỉ 21, thậm chí còn được phát triển thành phiên bản truyền hình dài tập.

9/- Clown (2014) / ClownTown (2016) Cả hai tác phẩm đều là những cái tên khá mới, và cùng đi theo một hướng khai thác mới mẻ khi nhân vật chính không phải là những gã hề ngay từ đầu. Tập trung phân tích sự giằng xé và quá trình biến đổi từ người thành quỷ, đây có lẽ sẽ là một hướng đi mới trong bối cảnh đã có quá nhiều phim về hề được ra mắt và sẽ còn nhiều nữa trong thời gian tới.

Xuân Mai tổng hợp chuyển tiếp

CA KHÚC BẤT HỦ BÉSAME MUCHO

BÉSAME MUCHO

– Thạch Bích

Tôi đang nhớ về Sài gòn một đêm vừa mưa, vừa gió… Cơn mưa rào miền Nam không những xoa dịu hơi nóng hầm hập suốt ngày, những luồng gío nhẹ luồn qua chắn song cửa đủ mang đến chút lành lạnh, khiến tôi nằm trong giường đã phải chùm chiếc chăn mỏng màu huyết dụ, có điểm những bông hoa trắng nhỏ li ti, Bố Mẹ mang theo từ hồi di cư vào Nam. Những đêm như thế, kéo chăn lên tới tận cổ, nằm đọc truyện hay nghe nhạc thì chắc không còn thú nào hơn …

Hồi đó tôi đang tuổi mới lớn, đã biết chăm sóc diện mạo của mình, đã biết vui buồn vu vơ… và cũng mới quen với anh T., một học sinh bên trường HNC. Thời ấy tôi có thói quen đêm đêm đón nghe chương trình “Tiếng nói Dạ Lan”, tiếng nói của em gái hậu phương gửi các anh trai ngoài trận tuyến… Tôi không phải là lính, thế mà tôi vẫn mê cái giọng Bắc ngọt ngào, dễ thương của Dạ Lan.

Nhưng lý do chính khiến tôi thích nghe chương trình này, là những bài nhạc tình lồng trong những buổi phát thanh đó, nhất là những bài nhạc ngoại quốc. Chỉ riêng điệu nhạc chính dùng đệm nền “Walk don´t run” do ban nhạc “The Venture” trình bày đã đủ làm tôi mê mẩn… Rồi tôi còn nhớ thật rõ ràng, vào đêm Sài gòn có mưa, có gió đó tôi đã lần đầu tiên được nghe trong chương trình “Dạ Lan” bài nhạc ngoại quốc rất lạ : Bésame mucho …

Vào cuối thập niên 60 những ban nhạc theo kiểu The Beatles : Một chàng gõ trống, ba, bốn chàng ôm đàn guitar điện gảy từng tưng và lắc lư qua lại như có chút men rượu… xuất hiện thể nấm rừng gặp mưa…  Nào là “The Shadows” với bài “Apache”, (mà anh T. kể, bọn học sinh lớp anh đã ngổ ngáo đặt lời : “Kìa xem … Thầy Tổng đen … treo toòng teng …”, để ngạo Thầy Tổng giám thị có làn da ngăm ngăm và rất ư là nghiêm khắc). Còn ban nhạc “The Animals” được biết đến qua bài “The house of rising sun”… Những bài “Yesterday”, “Hey Jude” … giới trẻ chúng tôi ai chả đã từng nghe ?

Từ năm 1963 chiến trận bùng nổ khắp miền Nam, nhất là sau khi Mỹ đã đổ gần nửa triệu quân vào tham chiến… Thế nhưng Sài gòn vẫn ăn chơi phè phỡn, vẫn tóc dài (con trai), váy ngắn (con gái) và không hề bị “Mỹ hóa” hoàn toàn, trái lại dân Sài gòn rất… Tây ! Con ông lớn, bà bé, những cậu ấm, tiểu thư con nhà giàu, trưởng gỉa, đua nhau theo học các trường theo chương trình Pháp, đắt è cổ : J. J. Rousseau, Marie Curie, Lasan Taberd, Couvent des oiseaux… Và một ngày đẹp giời, dạo phố Lê Lợi, thế nào cũng gặp những cặp choai choai dung dăng, dung dẻ với nhau, miệng bi bô :

Tous les garçons et les filles de mon âge

Se promènent dans la rue deux par deux

Tous les garçons et les filles de mon âge

Savent bien ce que c’est d’être heureux

Et les yeux dans les yeux

Et la main dans la main …

(Tous les garçons et les filles – François Hardy)

Từ những kiosks thâu băng nhạc trên đường Nguyễn Huệ vẫn văng vẳng tiếng hát của cô đầm tóc vàng Silvie Vartan:

… La plus belle pour aller danser …

Nên hồi đó, với tôi, trên đời này những bản tình ca chỉ có thể bằng tiếng Anh, Pháp và… Việt Nam ! Vẫn biết rằng còn có tiếng Tàu, tiếng Nhật… và sau này, khi đi du học, tôi còn học thêm tiếng Đức nữa. Nhưng những thứ ngôn ngữ ấy làm sao có được những câu nhẹ nhàng, lãng mạn, trữ tình tựa như :

Trời ươm nắng cho mây hồng / Mây qua mau em nghiêng sầu / Còn mưa xuống như hôm nào em đến thăm, / mây âm thầm mang gió lên. / Người ngồi đó trông mưa nguồn / Ôi yêu thương nghe đã buồn / Ngoài kia lá như vẫn xanh, ngoài sông vắng nước dâng lên hồn muôn trùng. (Mưa hồng – Trịnh công Sơn)

Thế mà bài “Bésame mucho” này bằng tiếng gì lạ hoắc, tôi không thể nào hiểu được lời nhạc ! Nhưng điệu nhạc êm dịu, giọng ca của nữ ca sĩ tôi không biết tên thật ấm áp, thật truyền cảm và mang một thoáng buồn đã mê hoặc tôi. Tôi cảm nhận một chuyện tình si mê, đắm đuối, nhưng cũng có chia ly, tan tác … Từ đấy tôi lắng nghe, mỗi khi bài hát được truyền đi trên đài phát thanh Sài gòn, nhưng tôi không nhớ được gì ngoài… Bésame  mucho ! Mà ngay chỉ hai chữ đó tôi cũng chả biết nghĩa là gì nữa, vậy mà tôi vẫn rung động, vẫn thấy thích mỗi khi nghe bài nhạc ấy…

Sau này khi qua sống bên Âu châu, tôi tìm hiểu, mới biết bài hát đó là tiếng Tây Ban Nha (Spain), một ngôn ngữ (cùng với tiếng Bồ Đào Nha / Portuguese) phổ biến trong khắp vùng Trung và Nam của châu Mỹ, từ Cuba, Mexico tới Argentina, Brazil… nơi xuất phát những điệu vũ say mê, sôi động, nồng nhiệt : Tango, Samba, Rumba… Và tôi đã biết : Bésame = kiss me, mucho = much; bésame mucho = kiss me much / kiss me a lot, cũng như tôi đã kiếm được lời cả bản nhạc và tạm dịch qua tiếng Việt : (Xem ảnh minh họa)

Hóa ra lời nhạc thật giản đơn, thật cô đọng như những câu thơ, như những nét chấm phá trong bức tranh thủy họa của Tàu. Nhưng chỉ vài câu rất đơn giản ấy đã đủ diễn tả hết sự si mê, đắm đuối, nỗi đau buồn chia ly trong cuộc tình…

Có lẽ cái hay của bài Bésame Mucho này trước hết chính là điệu Boléro nhẹ nhàng, chầm chậm, nhưng thấm sâu vào tâm gan người nghe, gây ra một nỗi buồn man mác. Chả thế đa số những bài “nhạc vàng”của Việt Nam cũng hay sử dụng điệu nhạc này. Trong khi vũ nhạc điệu Tango được coi như của Argentina, Samba của Brazil, thì Bboléro đã được cải biến từ vũ nhạc điệu Trova hồi cuối thế kỷ 19 và rất được ưa chuộng ở Cuba và sau này lan rộng sang Mexico.

Thứ đến có lẽ vì các tình tiết của bản nhạc đã phản ảnh phần nào tâm tư, mộng ước của chính tác gỉa, nữ nhạc sĩ và danh thủ đàn dương cầm người Mexico, Consuelo Velázquez : Bà vẫn được cho là bị long đong, lận đận trên tình trường. Năm 1941, lúc đó bà gần 25 tuổi (vì năm sinh của bà không chính xác, nên có tài liệu ghi tuổi của bà chênh lệch đến 10 tuổi), sau lần dự buổi nhạc cảnh (opera) Goyescas của soạn giả người Tây Ban Nha Enric Granados, bà đã có ngẫu hứng và sáng tác bài Besame Mucho.

Trong lần phỏng vấn mấy năm trước khi bà mất vào năm 2005, bà đã tiết lộ : Tới thời điểm sáng tác bài nhạc đó, bà chưa từng hôn ai, ôm hôn thắm thiết người bà mong đợi vẫn chỉ là ước mơ thầm kín…

Tài năng về âm nhạc của Consuelo Velázquez đã được ghi nhận rất sớm : Mới 7 tuổi bà đã biễu diễn đàn dương cầm trước công chúng. Khi 17 tuổi bà thành giáo sư âm nhạc và sau này bà là nhạc công (đàn dương cầm) trong ban nhạc cộng hưởng quốc gia của Mexico. Bà đã sáng tác nhiều nhạc phẩm được ưa chuộng như : No me pidas nunca, Pasional, Déjame quererte, Que seas feliz, Yo no fui, Chatito, chachito… Nhưng nhạc phẩm Bésame Mucho đã đưa bà Velázquez lên đỉnh danh vọng.

Không thể kể hết các ca sĩ nổi tiếng đã trình bày nhạc phẩm Bésame mucho, hai videos dưới đây sẽ giới thiệu hai giọng hát tuyệt vời : Cesária Évora và Andrea Bocelli. Tôi đã chọn hai người này không chỉ vì họ là những ca sĩ thượng hạng, mà cả về cuộc đời rất đặc biệt của họ.

– Bà Cesária Évora sinh năm 1941 (cùng năm bài Bésame mucho được sáng tác) ở Cap Vedes, một quần đảo phía bờ biển Tây của châu Phi, trong một “gia đình yêu âm nhạc”, thân phụ của bà đàn vĩ cầm. Sau khi thân phụ mất sớm, bà đã vào ở trong một cô nhi viện, trước khi được một gia đình nhận về nuôi. Bà sinh sống bằng cách đi hát trong các nhà hàng, phòng trà…

Mãi tới khi 47 tuổi bà mới nhận được hợp đồng với một hãng đĩa nhạc. Nhưng chỉ một thời gian ngắn sau khi đĩa nhạc của bà phát hành, bà đã trở thành một ca sĩ nổi tiếng trên thế giới. Một điều đặc biệt khác: Bà không bao giờ mang giày, vớ khi lên trình diễn trên sân khấu, vì thế bà vẫn được mệnh danh là “Nữ hoàng chân đất”…

Xin click vào đường dẫn :

http://www.youtube.com/watch?v=Esdl_3kKSBk

– Andrea Bocelli sinh năm 1958 tại Lajatico, miển Trung nước Ý. Bị bệnh bẩm sinh, mắt của Bocelli mờ dần và thành bị mù khi 12 tuổi. Cũng chính trong năm đó Bocelli đã đoạt giải nhất trong một kỳ thi tuyển ca nhạc với bài hát nổi tiếng “O sole mio – Mặt trời của tôi”. Tuy bị mù, Bocelli sống rất lạc quan, nhưng không tiếp tục theo đuổi nghiệp cầm ca, mà theo học ngành Luật và trình luận án Tiến sĩ tại Đại học Pisa.

Sau một năm hành nghề luật sư, Bocelli theo học thanh nhạc với Luciano Bettarini. Mặc dù đã đoạt nhiều giải trong một số kỳ thi tuyển ca nhạc, nhưng phải mất 5, 6 năm Boccelli mới có được những thành qủa đầu tiên, sau khi gặp và được Zucchero và Casselli nâng đỡ. Bây giờ Bocelli được coi là ca sĩ tenor thành công nhất thế giới, với hơn 70 triệu đĩa nhạc đã bán được …

Xin click vào đường dẫn :

http://www.youtube.com/watch?v=gPRESlT4Ccg

Dưới đây Bésame mucho kiểu Mỹ qua sự trình bày của tài tử Hollywood, gốc Ý, Dean Martin :

Xin click vào đường dẫn : http://www.youtube.com/watch?v=Ab7e8y_IODk

– Và nghe Bésame mucho từ tiếng hát Ngọc Lan một danh ca người Việt (đã qua đời tại Hoa Kỳ)

https://youtu.be/-Xb-wpLQb5s

Nhớ về Sài gòn ngày xưa, cũng là nhìn lại quãng đời đã qua  Tuổi mộng mơ đã xa ! Qúa nửa đời người tôi đã biết… yêu, đã vui nhiều, đã thao thức, đã ưu tư… Hạnh phúc từng có trong tay, nhưng mất mát, đổ vỡ cũng đã chịu ! Nên bây giờ may mắn có được người “bạn đời” sánh bước, đi hết đoạn đường còn lại, tôi có những ước mong, thấy thích bản dịch kiểu … Mỹ hơn. Và tôi muốn cất tiếng hát nho nhỏ cho người tôi yêu : Bésame, bésame mucho ! …

Thạch Bích

NGÔ THỤY MIÊN

NHỮNG TÌNH KHÚC BẤT HỦ

Nhạc sĩ Ngô Thụy Miên sinh ngày 26 tháng 9 năm 1948 tại Hải Phòng, và là con thứ nhì trong một gia đình bảy người con. Ông lớn lên trong môi trường sách vở và thơ văn, do gia đình ông có mở một nhà sách tên Thanh Bình ở thành phố Hải Phòng, và sau này ở trên đường Phan Đình Phùng (nay là đường Nguyễn Đình Chiểu) khi vào định cư ở Sài Gòn. Tại đây, ông học trường Trung học Nguyễn Trãi. và sau đó là Trường Đại học Khoa học Sài Gòn.

Trong thập niên 1960, Ngô Thụy Miên có theo học vĩ cầm với Giáo sư Đỗ Thế Phiệt, và nhạc pháp với Giáo sư Hùng Lân tại Trường Quốc gia Âm nhạc Sài Gòn. Thời gian học ở đây, ông quen biết với Đoàn Thanh Vân (con gái của diễn viên Đoàn Châu Mậu), và hai người đã có một mối tình.

oOo

Từ năm 1970-1975, Ngô Thụy Miên làm kiểm soát viên không lưu tại  phi trường Tân Sơn Nhất. Cũng khoảng thời gian đó, ông là Trưởng ban nhạc Luân Phiên tại Đài phát thanh Quân đội

Năm 1963, ông bắt đầu viết nhạc. Tình khúc đầu tiên mà ông sáng tác là bài “Chiều nay không có em” hoàn tất vào tháng 2/1965 được giới sinh viên học sinh lúc bấy giờ hưởng ứng rất nồng nhiệt.

Vài năm sau, ông cho xuất bản một tập nhạc đầu tay lấy tựa “Tình khúc Đông Quân” (Đông Quân chính là bút hiệu đầu đời của ông trước khi đổi qua bút hiệu Ngô Thụy Miên bây giờ) in ronéo phát hành tại Sài Gòn năm 1969. Trong đó có nhiều bài đáng chú ý như : Giáng ngọc, Mùa thu này cho em (sau đổi là Mùa thu cho em), Gọi nắng (sau đổi là Giọt nắng hồng), Dấu vết tình yêu (sau đổi là Dấu tình sầu), Cho những mùa thu (sau đổi là Thu trong mắt em), Tình khúc tháng 6, Mùa thu về trong mắt em (sau đổi là Mắt thu) và Ngày mai em đi

Tiếp theo, Ngô Thụy Miên có những nhạc phẩm phổ từ thơ của thi sĩ Nguyên Sa như: Áo lụa Hà Đông, Paris có gì lạ không em, Tuổi 13

Năm 1974, Ngô Thụy Miên thực hiện băng nhạc đầu tay Tình Ca Ngô Thụy Miên gồm 17 tình khúc đã được viết trong khoảng thời gian 1965-1972. Với sự góp mặt của các ca sĩ và nhạc sĩ như Khánh Ly, Duy Trác, Thái Thanh, Lệ Thu, Thanh Lan, Duy Quang,…

Sau ngày 30/4, ông vượt biên đến tị nạn tại đảo Pulau Bidong của Mã Lai Á, và chính thức ra mắt một sáng tác viết từ năm 1975 là bài Em còn nhớ mùa xuân gởi tặng riêng cho người yêu của ông là Đoàn Thanh Vân. Sau sáu tháng ở trại tị nạn, nhạc sĩ được nước thứ ba bảo lãnh cho sang Montréal (Canada) tháng 4/1979.

Từ SanDiego (Hoa Kỳ) Đoàn Thanh Vân được tin người yêu đã đến được Canada, đã bay sang nối kết lại cuộc tình đã bị dở dang vì thời cuộc. Cùng năm 1979, cả hai qua sống tại San Diego rồi dời lên Orange County Qua năm 1980, Ngô Thụy Miên bắt đầu đi làm về ngành điện toán cho trường UCLA, tại thành phố Olympia thuộc tiểu bang Washington.

Trong thập niên 1990, nhạc sĩ tiếp tục sáng tác với những ca khúc mới như Cần thiết, Em về mùa thu, Trong nỗi nhớ muộn màng… và nhất là Riêng một góc trời. Tổng cộng đến nay, nhạc sĩ Ngô Thụy Miên đã sáng tác được trên 70 ca khúc, với khoảng 20 bài từ trong nước. Theo đánh giá của nhiều người, thì Ngô Thụy Miên chính là “một nhạc sĩ tài hoa đích thực”…

Trung tâm Thúy Nga từng thực hiện Paris By Night 21: Tình ca Ngô Thụy Miên (1993)Paris By Night 66: Người tình và Quê hương (2002) (cùng với Trần Trịnh và Nhật Ngân) để vinh danh ông và những sáng tác của ông.

– Những tác phẩm tiêu biểu: https://youtu.be/Y0Z510osXaI

– Tình Ca Ngô Thụy Miên (1:27’)

15 Bản tình ca hay nhất của Ngô Thụy Miên

https://youtu.be/5AoMQnPuqsU

CON GÁI NHÀ THƠ QUANG DŨNG

VÀ NHỮNG HỒI ỨC VỀ CHA

Ngày 27/2 năm 2015, Trung đoàn 52 Tây Tiến long trọng kỷ niệm 70 năm ngày thành lập, chị Bùi Phương Thảo, con gái út nhà thơ Quang Dũng ( tên thật là Bùi Đình Dậu) lại bồi hồi nhớ về cha, đại đội trưởng của Trung đoàn Tây Tiến năm xưa và những thăng trầm của bài thơ “Tây Tiến”.

Là con gái út trong gia đình, nên có thể nói chị Phương Thảo được cha cưng chiều nhất và cũng hay tâm sự nhiều nhất. Chị Thảo kể : “Khi còn nhỏ, tôi được gần gũi với cha lâu nhất. Tôi rất  hay quan sát bố  viết bài hoặc  giao du với bạn bè.

Nhà tôi ngày xưa ở phố Bà Triệu, nhà tuy nhỏ và nghèo, nhưng lại rất hiếu khách. Bố tôi thường hay có nhiều bạn bè đến chơi. Bây giờ nhớ lại, tôi thầm ước nếu hồi đó mà có những thước phim ghi lại thì đó là những thước phim vô giá.

Bởi lẽ, có rất nhiều nhân vật văn học điển hình của nước mình thường hay đến nhà tôi chơi, trong đó có bác Tô Hoài,  Nguyễn Công Hoan, Phạm Hổ, Nguyễn  Tuân, Nguyễn Đình Thi, cô Xuân Quỳnh, họa sỹ Phan Kế An… Khách đến chơi nhà nhiều khi chỉ có đĩa lạc hay ít đậu phụ thôi, mà mọi người trò chuyện như ngô rang “.

Gia tài tinh thần đầy ắp của người cha

Theo lời chị Thảo, bố chị mất đi  không để lại của cải vật chất gì nhiều, nhưng để lại cho con cháu kho gia tài tinh thần đồ sộ. Trong số những đứa con tinh thần của nhà thơ Quang Dũng, bài thơ  “Tây Tiến” được ông tâm đắc hơn cả. Nó có thể coi là đứa con cả khỏe mạnh nhất, vạm vỡ nhất.

Bài thơ “Tây Tiến” sau này được đưa vào sách giáo khoa và được nhiều thế hệ học sinh biết tới. Thế nhưng, ít ai biết rằng, khi nhà thơ Quang Dũng còn sống, bài thơ này đã từng bị ” xét lại” vì cho rằng đi chiến đấu gian khổ mà lại mơ tưởng xa hoa, lãng mạn.

Chị Thảo cho biết, chỉ vì câu thơ ” Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm” mà bài thơ của ông bị một số chỉ trích. Thế nhưng, ai cũng hiểu thời của của các cụ, toàn các thanh niên Hà Nội, những chàng trai được cho là giai cấp tiểu tư sản bỏ lại tất cả để đi theo kháng chiến, có xá chi đâu. Còn cái lãng mạn đó là bản chất, tích tụ trong con người.Chính sự lãng mạn đó đã khiến cho người lính quên đi mọi khó khăn gian khổ và vượt lên phía trước.

Sau này, với tư tưởng cởi mở hơn, bài thơ “Tây Tiến” đã được ghi nhận.Cho tới năm 1988, lần đầu tiên bài thơ “Đôi mắt người Sơn Tây” của ông được nhạc sỹ Phạm Đình Chương phổ nhạc và phát trên Paris by night, một video ca nhạc hải ngoại, cũng khiến nhà thơ lo lắng. Chị Thảo nhớ lại: “Lúc đó ông hay lo sợ lắm. Rất may, đó thời kỳ đầu của cải cách mở cửa, nên tư tưởng cũng đã bắt đầu thoáng hơn. Chứ trước đó, câu thơ “Mắt em dìu dịu buồn  Tây Phương” trong bài thơ “Đôi mắt người Sơn Tây” cũng bị qui chụp là tơ tưởng đến một cô gái phương Tây nào đó…”

Thực ra, chị Thảo cho biết, sinh thời nhà thơ Quang Dũng cũng ít nói chuyện văn chương với con gái, cũng vì những lo lắng trên. Còn cô con gái Phương Thảo thì là một người mến mộ thơ ông, mà theo ngôn ngữ ngày nay gọi là “fan cuồng”. Chị thuộc lòng các bài thơ của bố. Sau này, khi tham gia Câu lạc bộ văn nghệ sỹ  Xứ Đoài, quê cha, chị mới  biết nhiều hơn về bố mình qua câu chuyện của các bạn văn chương của bố.

Nhà thơ Quang Dũng qua con mắt của con gái Phương Thảo là một người cha mẫu mực, chịu thương chịu khó. Ông luôn giành những việc nặng nhọc nhất trong gia đình về mình vì ông bảo, ông là người khỏe nhất. Ông thường dậy từ 4 giờ sáng để đi lấy nước cho cả gia đình, trong khi mọi người vẫn đang chìm trong giấc ngủ.

Thơ và tranh đều đem tặng bạn

Chị Thảo bộc bạch, bố chị ít lưu lại những bút tích của mình và hay thường tặng cho bạn bè. Chính vì thế, sau khi nhà thơ mất, chị Thảo đã lặn lội tìm đến bạn bè cha với hy vọng tìm được di cảo của cha. Những bài thơ “Nhớ chuyện xa” hay “Cô gái mùa ổi”… là những bài thơ ông chép trong cuốn sổ tay tặng bạn học từ những năm 1940.

Trong cuốn “Nhà thơ Quang Dũng trong hồi ức của người thân”, chị Thảo viết: “Cha tôi vốn là người không lưu tâm giữ lại những tác phẩm mình sáng tác, có những bài thơ làm xong thì tặng ngay cho người bạn mình quý mến hoặc tự tay chép thơ tặng nhưng lại chép vào sổ của bạn và quên mất mình đã có những bài thơ như thế…”

Cũng trong lần đi tìm di cảo của cha, chị Thảo đã được xem bức ảnh bà Giáng Kiều, nghệ sỹ trong đoàn kịch của Thế Lữ, tên thật là Kiều Dinh, một trong bốn chị em gái rất đẹp ở phố Hàng Bông những năm 1940, “người tình trong mộng” của người bạn thân. Chữ kiều trong tên bà Kiều Dinh ngày ấy được cho là nhà thơ “mượn” để làm danh từ chung trong bài thơ “Tây Tiến”, làm nên một hình ảnh lãng mạn : “Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”.

Ngoài ra, nhà thơ Quang Dũng có vẽ khá nhiều tranh, trong đó ông tặng bạn bè khá nhiều. Hiện nay, chị Thảo còn lưu giữ tại nhà một số bức tranh quí của ông như bức Mây đầu ô, Ba Vì…

Chị Bùi Phương Thảo, con gái út nhà thơ Quang Dũng sinh năm 1962. Chị hiện là Phó hiệu trưởng trường tiểu học Võ Thị Sáu, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.

Phan Tất Đại chuyển tiếp

“TÂY DU KÝ” THIÊN CỔ ĐỆ NHẤT KỲ THƯ

“TÂY DU KÝ” ĐƯỢC COI LÀ

THIÊN CỔ ĐỆ NHẤT KỲ THƯ ?

Nếu như hơn 30 năm trước, bộ phim “Tây Du Ký” của đạo diễn Dương Khiết đã đưa người xem đến với hành trình thỉnh kinh cùng những cảnh trảm yêu bắt quái ly kỳ; thì ngày hôm nay, những phân cảnh “Tây Du Ký” trên sân khấu của Đoàn Nghệ thuật Thần Vận lại mở ra trước mắt chúng ta một thế giới thần thoại chân thực đến ngỡ ngàng.

Những tiết mục biểu diễn sâu sắc và thấm đẫm nhân văn ấy đã làm chấn động lòng người. Khi tấm màn hạ xuống, người ta lại tự hỏi : “Tây Du Ký” rốt cuộc là tác phẩm thế nào ? Trong kho tàng văn hóa Thần truyền, vì sao “Tây Du Ký” có vị trí quan trọng đến như vậy ? Chúng ta hãy cùng trở lại với nguyên tác của Ngô Thừa Ân để tìm hiểu, điều gì đã làm nên một thiên cổ kỳ thư vĩ đại nhường ấy?

“Tây Du” kỳ thư

“Tây Du Ký” được Ngô Thừa Ân viết vào giữa thời kỳ nhà Minh trong thế kỷ 16. Tác phẩm kể về hành trình của bốn thầy trò Đường Tăng sang Tây Thiên thỉnh cầu Phật Pháp.

Đường Tăng là một nhân vật có thật trong lịch sử. Ông họ Trần, tên Y, pháp danh là Huyền Trang, vốn là người ở huyện Câu Thị, Lạc Châu (ngày nay là Yến Sư, tỉnh Hà Nam). Huyền Trang sinh ra vào năm thứ hai niên hiệu Nhân Thọ, thời Tùy Văn Đế (năm 602), lên 11 tuổi thì xuất gia. Từ nhỏ Huyền Trang đã nổi tiếng là thông minh đĩnh ngộ, tư chất siêu phàm, trở thành tăng nhân nổi tiếng khắp kinh thành khi đó.

Vì Phật Pháp lưu truyền tại Trung Thổ thời bấy giờ còn có nhiều chỗ không rõ ràng, nên vào năm thứ 3 niên hiệu Trinh Quán (năm 629), Huyền Trang đã từ kinh đô Trường An nhà Đường sang Tây Thiên thỉnh kinh. Suốt dọc đường ông đã đi qua Tân Cương, Trung Á, trải qua 17 năm ròng rã, trèo đèo lội suối hơn 5 vạn dặm đường. Cho tới năm thứ 19 niên hiệu Trinh Quán (năm 645), ông đã về đến Trường An, mang theo 657 bộ kinh Phật tiếng Phạn.

Sau đó ông lại tổ chức phiên dịch kinh sách, dịch ra 75 bộ Kinh, Luận, tổng cộng là 1335 quyển. Huyền Trang đã trở thành nhà Phật học, nhà phiên dịch, nhà lữ hành đầu tiên trong lịch sử có cống hiến đặc biệt trong việc lưu truyền Phật Pháp vào phương Đông.

Từ sau đời nhà Đường, câu chuyện Huyền Trang sang Tây Trúc thỉnh kinh được lưu truyền rộng rãi, dần dần trở thành truyền kỳ nửa thực nửa hư, phong phú ly kỳ. “Tây Du Ký” dựa trên câu chuyện Đường Tăng cầu Pháp, rồi thêm vào đó các tình tiết huyền ảo, mang màu sắc thần tiên. Khi tác phẩm vừa mới ra đời, Đường Tăng, Ngộ Không, Bát Giới, và Sa Tăng đã trở thành những nhân vật nhà nhà đều biết, người người đều hay.

Những câu chuyện như “Đại náo thiên cung”, “Ba lần đánh Bạch Cốt Tinh”, “Ba lần mượn quạt Ba Tiêu”, “Tây Lương nữ quốc”, v.v. đã trở thành bộ phận độc đáo hấp dẫn lòng người của văn hóa Trung Hoa.

Duyên khởi lấy kinh

Trong “Tây Du Ký”, cuộc thỉnh Kinh bắt đầu từ một niệm phổ độ chúng sinh của Phật Đà. Đức Phật Như Lai nói : “Ta xem trong bốn đại bộ châu, chúng sinh thiện ác có khác nhau. (…) Duy có người Nam Thiệm Bộ Châu tham dâm gây họa, hay giết hay tranh, chính là nơi đánh nhau cãi cọ, bể ác thị phi”.

Sau đó, Đức Phật muốn tìm người có pháp lực sang phương Đông chọn lấy một thiện tín, bảo người ấy chịu đựng gian khổ, vượt qua muôn núi nghìn sông, đến đất Phật cầu lấy chân kinh để lưu truyền sang phương Đông mãi mãi, khuyến hóa chúng sinh. Quan Âm Bồ Tát lĩnh mệnh, quả nhiên đã tìm được thầy trò năm người, trải qua chín chín tám mươi mốt kiếp nạn, cuối cùng đã lấy được chân kinh, năm người đồng thời cũng tu thành chính quả.

Nói đến thầy trò Đường Tăng, mỗi người đều có lai lịch đặc biệt. Đường Tăng vốn là Kim Thiền Tử, là đồ đệ thứ hai của Như Lai Phật Tổ. Vì khinh mạn Phật Pháp mà bị giáng xuống hạ giới, thác sinh thành Đường Huyền Trang.

Tôn Ngộ Không vốn là khỉ đá trong Thủy Liêm động trên núi Hoa Quả Sơn. Bởi nhận thấy sinh mệnh vô thường, Ngộ Không đến Tây Ngưu Hạ Châu tìm học thuật trường sinh, học được 72 phép thần thông biến hóa và thuật cân đẩu vân. Về sau bởi tâm tranh đấu không bỏ, đại náo thiên cung, Ngộ Không bị Như Lai Phật Tổ đè xuống núi Ngũ Hành suốt 500 năm.

Trư Bát Giới nguyên là Thiên Bồng Nguyên Soái trấn giữ Thiên Hà, bởi uống rượu say chọc ghẹo Hằng Nga, bị Ngọc Đế phạt đánh hai trăm chùy, đày xuống phàm trần. Sau cùng chuyển sinh vào bụng heo, trở thành hình dáng xấu xí mũi dài tai rộng.

Sa hòa thượng vốn là Quyển Liêm đại tướng ở điện Linh Tiêu, bởi sơ ý làm vỡ chén ngọc lưu ly mà bị Ngọc Đế đày xuống hạ giới, bị trừng phạt phi kiếm xuyên ngực ở Lưu Sa Hà, chịu đói chịu rét, phải bắt người ăn thịt mà sống qua ngày.

Còn Bạch Long mã vốn là con trai của Tây Hải Long vương Ngao Nhuận, bởi phóng hỏa đốt cháy viên minh châu trong điện nên phụ thân tâu lên thiên đình, tố cáo tội ngỗ nghịch, khiến Ngọc Đế phạt treo thân trên không trung, đánh ba trăm gậy, chuẩn bị nhận án tử hình.

Quan Âm Bồ Tát đến Đông Thổ tìm người đi lấy kinh là vào năm 13 Trinh Quán nhà Đường. Lúc ấy, vua Đường Thái Tông tổ chức đại hội Thủy Lục, thỉnh mời cao tăng đắc đạo tới giảng kinh thuyết pháp – vị cao tăng đó cũng chính là hòa thượng Huyền Trang. Quan Âm Bồ Tát hóa thân thành lão hòa thượng chốc đầu, điểm hóa Huyền Trang đến đất Phật Như Lai ở chùa Đại Lôi Âm, nước Thiên Trúc để thỉnh cầu Phật Pháp. Sau đó, Thái Tông kết nghĩa huynh đệ với Huyền Trang, rồi cử người hộ tống Huyền Trang sang Tây Thiên thỉnh kinh.

Dọc đường, Huyền Trang đã thu nhận Ngộ Không, Bát Giới, Sa Tăng làm đồ đệ, còn Tiểu Bạch Long đang chờ xử trảm cũng hóa thành ngựa trắng đưa Đường Tăng lên đường. Thầy trò năm người, đồng tâm hiệp lực, vượt qua muôn vàn khó khăn nguy hiểm, trải qua hết thảy 81 nạn, cuối cùng công đức viên mãn.

Nét đặc sắc trong Tây Du Ký

1/- Cảnh giới : Điều kỳ diệu trong “Tây Du Ký” chính là ở cảnh giới. Khác với việc lấy kinh trong lịch sử, câu chuyện trong “Tây Du Ký” vượt qua Tứ Đại Bộ Châu, thế giới mười phương, không kể là bảo điện Linh Tiêu của Ngọc Hoàng Đại Đế hay là bảo điện Lôi Âm của Phật Như Lai, không kể là Tứ Hải long cung hay là U Minh địa phủ, cũng bất kể là Thông Thiên hà sóng nước cuồn cuộn hay Hỏa Diệm sơn ngọn lửa hừng hừng, hết thảy đều đã trở thành sân khấu biểu diễn của người thỉnh chân kinh.

2/- Tình tiết : Điều ly kỳ trong “Tây Du Ký” chính là ở tình tiết. Thạch hầu vốn là một tảng đá hấp thụ thiên chân địa tú, tinh hoa nhật nguyệt trên Hoa Quả Sơn. Chỉ nói riêng đến xuất thân thì câu chuyện của Ngộ Không đã rất ly kỳ rồi. Nhưng đặc biệt hơn cả, thạch hầu sẵn sàng từ bỏ vinh hoa phú quý ở Hoa Quả Sơn và cuộc sống tự tại tiêu diêu nơi Thủy Liêm động mà quyết chí vân du tầm sư học đạo.

Ngộ Không gặp được Sư Tổ Bồ Đề đã học biết 72 phép biến hóa thần thông; sau lại xuống Long Cung của Đông Hải Long Vương lấy được cây định hải thần châm, có thể biến hóa tự do như ý; đến khi đại náo Thiên Cung, bị nhốt trong lò luyện đan của Thái Thượng Lão Quân lại luyện được hỏa nhãn kim tinh, có thể lên trời xuống đất, hô phong hoán vũ, thật quá ly kỳ.

Nhưng điều ly kỳ hơn là, dù con khỉ ấy có thần thông quảng đại đến đâu, vẫn không nhảy ra khỏi lòng bàn tay của Như Lai. Mỹ hầu vương có thật có giả, Đường Tăng có thật có giả, Lôi Âm tự có thật có giả, đều đã ly kỳ lắm rồi. Càng ly kỳ hơn nữa, là ngay đến cả kinh Phật ở Tây Thiên Phật thổ cũng có thật có giả.

Những màn khác như đấu phép ở Xa Trì quốc, hái trộm nhân sâm ở Ngũ Trang quán, ba lần đánh Bạch Cốt Tinh, uống nước sông Mẫu Tử rồi mang thai, đàm luận thơ từ ở am Mộc Tiên, thật là kỳ diệu ngoài sức tưởng tượng của con người.

3/- Nhân vật : Đặc sắc của tác phẩm nằm ở nhân vật. Thế giới “Tây Du Ký” không chỉ có người phàm nơi nhân thế mà còn có Thần Phật nhiều không đếm xuể; trong đó không chỉ có Như Lai, Bồ Tát, La Hán, Kim Cang của Phật gia, mà còn có Ngọc Đế, Vương Mẫu, Lão Quân, Thiên Vương của Đạo gia; không chỉ có chính Thần, mà còn có các dạng yêu ma quỷ quái, quỷ mị võng lượng.

Trong năm thầy trò, Bạch Long hóa ngựa đã ly kỳ rồi, càng ly kỳ hơn là Sa Tăng ở Lưu Sa Hà ăn thịt người sống qua ngày, một khi quy y Chính Pháp thì lại chịu cực chịu khổ, đạo tâm kiên cường bất phá. Bát Giới tham ăn biếng làm, sắc tâm không bỏ, ở rể Cao Lão trang đã rất thú vị rồi; càng thú vị hơn là huynh trưởng

Ngộ Không giỏi hàng yêu bắt quái, với bản lĩnh lên trời xuống đất, trước sau một lòng bảo hộ Đường Tăng thân phàm xác thịt sang Tây Thiên lấy kinh. Chỗ đặc sắc hơn cả, vẫn là Đường Huyền Trang, một khi đã thề sang Tây Thiên thì dẫu chết cũng không hối hận, tuy trên đường đâu đâu cũng đều có yêu ma quỷ quái chờ ăn thịt, nhưng nhờ vào sự giúp đỡ của bốn vị cao đồ và sự bảo hộ của Thần Phật và Bồ Tát các nơi, mỗi nạn Đường Tăng đều gặp dữ hóa lành, chuyển nguy thành an, cuối cùng đến được Đại Lôi Âm, công đức viên mãn.

Diệu lý huyền cơ

Tục ngữ có câu : “Trong nghề xem lề lối, ngoài nghề xem náo nhiệt”. Với “Tây Du Ký”, điều độc giả yêu thích nhất là những tình tiết biến hoá ly kỳ, những câu nói hài hước dí dỏm, những nhân vật sống động chân phương. Nhưng với những người có hiểu biết nhất định về Phật gia và Đạo gia, thì sẽ không khó phát hiện rằng đây là bộ tiểu thuyết viết về tu luyện, khắp “Tây Du Ký” đâu đâu cũng đầy ắp những diệu lý huyền cơ.

1/, Mỗi quan nạn đều là chấp trước cần phải tống khứ trong quá trình tu hành : Sau khi Đường Tăng thu nhận Ngộ Không làm đồ đệ, quan nạn đầu tiên gặp phải chính là lục tặc (sáu kẻ cướp đường), gồm có : Nhãn Khán Hỷ (Mắt thấy mừng), Nhĩ Thính Nộ (Tai nghe giận), Tỵ Khứu Ái (Mũi ngửi thích), Thiệt Thường Tư (Lưỡi nếm nghĩ), Thân Bổn Ưu (Thân vốn lo), Ý Kiến Dục (Ý thấy muốn).

Sáu tên giặc này ẩn dụ cho lục căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) mà Phật gia nói đến. Đánh chết sáu tên giặc này cũng có nghĩa là bài trừ mọi can nhiễu và phiền não mà cảm quan của nhục thân mang đến cho người tu luyện.

81 kiếp nạn, mỗi một nạn đều đối ứng với tâm chấp trước cần phải trừ bỏ. Phá trừ những quan nạn này, không phải là tiêu diệt số yêu ma quỷ quái hữu hình kia, mà là tu bỏ ma chướng trong tâm người tu luyện. Vậy nên, trong số 81 nạn, có nạn thì nhắm vào tâm sợ hãi của Đường Tăng, có nạn thì nhắm vào tâm tranh đấu của Ngộ Không, có nạn lại nhắm vào tâm tham lam lười biếng và háo sắc của Bát Giới.

Trong hồi thứ 50, khi Ngộ Không ra ngoài xin cơm chay, Đường Tăng, Bát Giới, Sa Tăng đến một gian nhà cũ và nhìn thấy trên bàn có những chiếc áo chẽn bằng gấm. Lúc này tiết trời đang lạnh, Bát Giới và Sa Tăng không chịu nổi cám dỗ, bèn mặc thử cho ấm tấm lưng. Không ngờ vừa mới khoác áo lên người, ngay lập tức bị hai chiếc áo trói chặt lại. Ngộ Không đã phải nhiều phen lao đao vất vả, cuối cùng mới được Thái Thượng Lão Quân ra tay hàng phục Kim Đâu Đại Vương, cũng chính là con trâu xanh của Ngài.

Hồi thứ 98 trong “Tây Du Ký”, thầy trò Đường Tăng trải qua muôn vàn cực khổ, cuối cùng mới đến được chùa Đại Lôi Âm ở Tây Thiên, hai vị Tôn giả A Nan, Ca Diếp phụng mệnh Phật Như Lai dẫn thầy trò đến bảo các lấy kinh. Hai vị Tôn giả xin lễ vật không thành, bèn trao cho họ kinh Phật không có chữ. Hành giả đến cáo trạng với Như Lai, không ngờ Phật Tổ nói rằng :

“Nhà ngươi cứ bình tĩnh. Việc hai người vòi lễ các ngươi ta đã biết rồi. Có điều kinh cũng không phải trao cho một cách dễ dàng, không thể lấy không được. Trước kia các Tỳ Kheo thánh tăng xuống núi cũng đem kinh này tụng hết một lượt cho nhà trưởng giả họ Triệu ở nước Xá Vệ, giúp cho nhà ấy người sống yên ổn, kẻ chết siêu thoát, thế mà chỉ lấy có ba đấu ba bơ vàng cốm của họ mang về thôi. Ta còn bảo họ bán kinh rẻ quá, con cháu đời sau lấy tiền đâu mà tiêu. Nhà ngươi tay không đến cầu, nên họ mới trao cho những quyển trắng tinh. Quyển trắng tinh là chân kinh không chữ, cũng là những kinh hay. Các ngươi là chúng sinh ở cõi Đông u mê ngu tối, lẽ ra chỉ nên trao cho những thứ đó thôi”.

Hai tôn giả lại dẫn bốn thầy trò đến dưới lầu ngọc gác báu, nhưng vẫn đòi Đường Tăng phải đưa tiền lễ vật. Tam Tạng không có gì dâng lên, đành phải bảo Sa Tăng lấy bát tộ vàng tía dâng lên. A Nan “hổ thẹn, mặt mũi nhăn nhúm, nhưng tay vẫn giữ chặt lấy cái bát tộ”.

Tình tiết này, trước nay đều bị người đời xem là ngòi bút trào phúng của Ngô Thừa Ân : ngay đến cả Thế giới Tây Thiên Cực Lạc cũng có chuyện tham ô nhận hối lộ. Thật ra, người tu luyện với mọi tâm chấp trước đều phải dứt bỏ mới có thể công thành viên mãn.

Tham luyến của Đường Tăng với cái bát tộ vàng, đó đã là có tâm tham tài ái vật, lại có nhân tình với vua Đại Đường trong đó, mà những thứ này vừa khéo lại là tâm mà người tu luyện phải trừ bỏ. Nếu như không thể trừ bỏ những tâm này, thì tâm hữu lậu, không thể nói đến chuyện công đức viên mãn được.

2/, Mọi quan nạn đều là an bài khéo léo của Thần Phật : Mỗi một quan mỗi một nạn trên đường lấy kinh mà thầy trò Đường Tăng gặp phải, đều là an bài khéo léo của Như Lai Phật Tổ và Quan Âm Bồ Tát.

Hoàng Phong quái là con chuột lông vàng đắc đạo dưới chân núi Linh Sơn của Linh Cát Bồ Tát. Hoàng Bào quái là Khuê Mộc Lang – một trong số nhị thập bát tú. Kim Giác Đại Vương, Ngân Giác Đại Vương là hai đồng tử Kim Ngân của Thái Thượng Lão Quân. Linh Cảm Đại Vương là con cá vàng được nuôi trong ao sen của Quan Âm Bồ Tát. Độc Giác Đại Vương là vật cưỡi của Thái Thượng Lão Quân.

Hoàng Mi Lão Quái là đồng tử lông mày vàng gõ chuông khánh của Phật Di Lặc. Thanh Mao Sư Tử quái, Hoàng Nha Lão Tượng quái là vật cưỡi của hai vị Bồ Tát Văn Thù và Phổ Hiền; Đại Bàng tinh là cậu của Phật Như Lai. Quan Âm Bồ Tát lợi dụng quan hệ nhân duyên giữa các sinh mệnh, vừa kết thúc nợ nghiệp giữa các sinh mệnh, lại giúp đỡ thầy trò Đường Tăng tu tâm trừ nghiệp, tu luyện viên mãn.

“Tây Du Ký” xây dựng trên văn hóa tu luyện bác đại tinh thâm trong văn hóa truyền thống Trung Quốc. Những tình tiết, nhân vật, đối thoại, thơ từ trong sách, toàn bộ đều có hàm ý thâm sâu, chứ không phải là những phóng túng nghệ thuật đơn thuần. Bởi vậy, “Tây Du Ký” xứng đáng là báu vật trong kho tàng văn học kim cổ đông tây, mãi mãi tỏa sáng đến ngàn đời. (theo Secretchina)

CẦU NGÓI THANH TOÀN XỨ HUẾ 

– Võ Quang Yến

Thời Thuộc địa, một công chức người Pháp ở Huế, ông Edmond Gras, chịu khó đi tìm xem cầu ngói Thanh Toàn (cầu mái ngói) cách xa thành phố khoảng 10km. Ông đi ngựa cùng với một viên chức địa phương, mất một buổi chiểu mà tìm không ra.

Tuy nhiên ông nhí nhảnh thuật lại trong tờ Đô thành Hiếu cổ BAVH (1917) cuộc hành trình thú vị. Trời hè nóng nhưng mát nhờ con đường đầy bóng cây uốn khúc trên bờ mương, lên xuống mỗi khi qua chiếc cầu tre lắc lư dưới chân ngựa.

Hai bên đường, làng xóm kín đáo núp mình sau các dãy hàng rào cao dày, những ngôi chùa hiu quạnh yên tĩnh dưới bóng cây tối sẩm. Thỉnh thoảng một lỗ trống trong bụi tre xanh để lộ ra một sân nhà quét dọn sạch sẽ quanh đống rơm xây đắp tươm tất, đàn gà con ríu rít bíu chân mẹ, chú heo đen kêu en éc trong rọ mây.

Trong một kiệt nhỏ, mùi hương thơm hoa sứ ngào ngạt như để át mùi phân trâu, phân bò. Một cậu bé trần truồng bất thình lình thấy chúng tôi, lấy roi đập đẩy đàn trâu sang môt bên như để dọn đường rồi nhảy xuống mương… Nhưng chiếc cầu thì vẫn không tìm ra vì như tuồng người dẫn đường cũng chưa khi nào lại viếng cầu !

Trời tối dần, cả hai lấy đò trở về. Trên nền trời đen thẩm, những đám cháy nhắc ông Edmond Gras nhớ đến những ngọn lửa Saint-Jacques ở quê Provence xa xăm của ông. Thì ra người nào đi xa cũng luôn ấp ủ trong lòng hình bóng quê hương của mình.

Ông đã trờ lại Thanh Toàn với cha Leopold Cadière, tổng biên tập tờ BAVH, lần nầy đi xe kéo và thấy được cầu. Thì ra cầu có thật : cột gỗ dài cao trên mặt nước, lợp mái ngói tráng men, hình cong trông từ xa như một con rồng uốn lưng. Trên cầu, những người rảnh rang dạo lượn chân không, học sinh đua thử thăng bằng trên các rầm kèo,… Ông không quên vẽ một bức tranh minh họa bài báo trong tương lai.

Cũng trong cùng tờ báo BAVH còn có hai bài viết về chiếc cầu Thanh Toàn của ông Công sứ Richard Orband, quan chức hành chính dân sự (cùng năm 1917) và của ông Hippolyte Lebreton Hiệu trương trường Quốc học, mười sáu năm sau (1933). Cả hai tác giả nầy đều cỏ miêu tả tỉ mỉ con đường từ Huế về cầu, kiến trúc cây cầu đồng thời lượt thuật lịch sử một kiệt tác hiếm có.

Ở miền Trung, hai chiếc cẩu có lối kiến trúc đặc biệt và giá trị nghệ thuật cao nhất Việt Nam là cầu Nhật Bản tức Chùa Cầu ở Hội An (lúc bấy giờ gọi Faifo) và cầu Thanh Toàn cạnh Huế. Cầu ngói Thanh Toàn có cầu kết thượng gia hạ kiều (trên nhà dưới cầu), là một tác phẩm kiến trúc nhỏ nhắn dài 16,85m (43 thước mộc), rộng 4,63m (14 thước mộc), gồm có bảy gian, gian giữa dùng để thờ cúng.

Hệ thống trụ đỡ sắp thành ba hàng, có chung một khối mộng để chống lún. Mỗi hàng có trụ bằng đá, sáu cột. Hai đầu là hai mố cầu, trang bị bảy hệ thống thống thoát nước. Hệ thống trụ đỡ nối liền các đầu mối cầu. Các thanh bê tông chay dọc từ hai đầu vào giữa dốc dần lên đến gần gian giữa thì nằm ngang.

Tư thế nầy khiến cả mặt cầu lẫn mái cầu trông như gãy khúc, nâng cổng giữa lên cao tạo một hình dáng duyên dáng, khỏe mạnh, đồng thời giúp ghe thuyền qua lại dễ dàng. Trên cầu, các hệ thống trụ cầu có dầm gỗ bắc ngang thành cơ sở dựng cột làm khung nhà. Mỗi vi có bốn hàng cột, giữa hai cột là lòng cầu làm lối đi lại. Từ hai bên cột cái trở ra là cột hiên nâng lên cao làm chỗ hóng mát. Bên ngoài có lan can chấn song để ngồi khỏi ngã. Mọi phần đều thông thoáng, chỉ có phần sườn cầu làm bàn thờ thì bịt kín. Các hệ thống xà thượng, xà hạ đều sắp xếp theo lối xà kép, xà trên nằm trên đầu cột, xà dưới di chuyển qua mộng cột.

Các bộ phận kiến trúc đều bằng gỗ, nhưng không chạm khắc hay trang trí mà chỉ gồm hai loại tiết diện tròn và vuông. Các nghệ nhân đã chạm khắc hình con vật với chủ đề tứ linh ở bộ mái cây cầu : long lân quy phụng. Về trang trí, trước đó chỉ có con giao long, sau này nhường chỗ cho con rồng ở hai đầu và đôi phượng chầu mặt trời ở giữa.

Sử sách ghi làng cũ mang tên Thanh Toàn từ hồi 12 vị tộc trưởng khai canh thế kỷ XVI. Những vị nầy phần lớn là người Việt quê gốc Thanh Hỏa theo chúa Nguyễn Hoàng vào Thuận Hóa (có tài liệu cho là chậm hơn), nhưng cũng có người Chăm đã sống tại chỗ từ trước. Cũng có thể hai dân tộc sống chung đụng với nhau, ngay cả trong cùng một tộc.

Qua thời Thiệu Trị (1841-1847) chữ Hoàng là tên húy ( ?) nên làng đổi tên thành Thanh Thủy. Làng đông người nên chia ra hai : Thanh Thủy Chánh và Thanh Thủy Thượng, tên giữ nguyên vẹn cho đến nay. Cầu ngói Thanh Toàn nằm ở làng Thanh Thủy Chánh thuộc xã Thủy Thanh, hượng Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Lịch sử cầu dính liền với tiểu sử bà Trần Thị Đạo. Bà người làng Thanh Thủy, cháu sáu đời một trong 12 vị khai canh làng. là vợ của Khâm sai, Chủ sự Hoàng cung, Tổng chỉ huy bộ binh và thủy binh, Tổng đốc của ba huyện Hương Trà, Phú Vang và Quảng Điền, Tứ Xuyên Hầu Phan Trọng Phiên, Nhất trụ triều đình. Vào thời nhà Trịnh đánh chiếm Phú Xuân,

Bà theo chồng ra bắc, nhưng được một thời gian bà trở về bản quán sinh sống. Bà không ngần ngại vượt qua bao mệt nhọc để theo đuổi cuộc hành trình cùng với đoàn của vua. Bà đã dũng cảm làm trọn ba nhiệm vụ của phái nữ. Bà còn để lại cho làng bà nhiều ân huệ mà người ta cần lưu niệm .

Làng Thanh Thủy có một con mương chảy qua, thường hằng ngày dân địa phương phải dùng thuyền, không thì mất thì giờ đợi đò ngang, rất vất vả khi trời đông giá, rét mướt. Mang một bụng dạ thương người, tấm lòng đức độ, thấu hiểu nỗi khó nhọc của người dân quê, bà bỏ tiền túi thuê làm chiếc cầu có mái lợp phòng khi trời mưa gió, cũng là nơi dừng chân của khách bộ hành tìm bóng mát những ngày nắng nóng.

Bà không dè cầu lại là nơi ngắm trăng, hóng gió. Tuy cầu được cấu trúc như một ngôi nhà bình thường nhưng lại là một ngôi nhà ấm áp khi đông về và mát mẻ khi nắng lên. Cầu cũng là nơi dạt dào tình thương nên trai thanh gái lịch trong vùng lại ca hát, giao duyên, hẹn hò, tình tứ.

Ở hai lối vào cầu có hai hàng câu đối chữ Hán được khắc lên trên cầu, nhưng thời gian làm hao mòn nên khó tìm ra câu nguyên vẹn : Kiệt cấu thiên thu truyền thắng tích, ngỏa kiều thắng cảnh cựu quy mô. Tạm dịch : Kiệt tác kiến trúc này là một di tích lưu truyền mãi nghìn năm sau, cầu ngói là một thắng cảnh làm theo quy mô cũ. Còn có câu: Tế xuyên mâu bửu phiệt, thanh thủy thắng hồng lâu. Tạm dịch : Qua sông là bè quý, nghỉ mát ấy gác son.

Căn cứ vào tờ Sắc của vua Lê Hiển Tông niên hiệu Cảnh Hưng thứ 7 thì cầu được xây vào năm 1776. Theo sử sách năm 1925 ghi lại thì vua Khải Định đã ban tặng cho bà Trần Thị Đạo tước vị “Dực Bảo Trung Hưng Linh Phù”. Vua còn hạ lệnh cho dân làng lập bàn thờ trên cầu để thờ bà và mong bà phù hộ độ trì cho dân làng.

Bên phần dân làng cũng không nề hà và lại sinh hoạt quanh cầu. Phía chân cầu là một vùng đất rộng, người ta đến đây để vui chơi và họp chợ. Giữa vùng đất còn có một cái đình không biết xây từ bao giờ, giao lưu buôn bán cũng không ai rõ từ hồi nào.

Người xưa kể lại chợ trước đây không lớn như bây giờ, buôn bán chỉ có những mặt hàng rất nhỏ như mớ rau, mớ cá, trái cau, lá trầu… Riêng tôi còn thấy trẻ chăn trâu, người đánh cá, hai bà già ngồi cạnh cầu bán cau trầu, thuốc lá trước khi có hội hè đình đám.

Trong rất lâu, người dân đánh cá, bắt cua đưa đến đây trao đổi với nhau qua thời gian tạo nên cái chợ làng. Dần dần đời sống phát triển, các mặt hàng xuất hiện ngày càng đa dạng hơn, hình thức buôn bán cũng trở nên to lớn hơn. Nhưng chợ luôn tự nhiên giới hạn và luôn còn mang nét quê Việt Nam.

Chính vì mang đậm nét bản thể thôn dã cho nên nơi đây được chọn làm hội chợ quê, vào những ngày lễ hội trong thời kỳ festival Huế. Cần phải nhận định, như việc mở mang cần thiết phố xá ngoại ô thành phố, cái bản sắc làng quê căn bản cuộc phát triển liệu rồi có bị hao mòn tiêu biến không.

Ngoài lễ hội chợ quê hai năm một lần thì vào ngày mồng ba tết nguyên đán hàng năm, nơi đây còn tổ chức cuộc đánh bài chòi. Đây là một trò chơi dân gian xưa mang đậm bản sắc và văn hóa người Việt Nam. Ngoài ra còn có một đám lễ nữa cũng được tổ chức linh đình không kém vào ngày rằm tháng tám, theo người dân địa phương thì là ngày giỗ của bà Trần Thị Đạo.

Họ rước bà từ đình ra cầu cúng lễ, rồi lại rước bà trở lại đình. Sau lễ, các trò chơi cho nhân dân trong làng như ca hát, hò giả gạo, đua thuyền trên mương và kéo co được tồ chức, gây thư giản cho dân quê suốt năm cặm cụi công việc.đồng án.

Yên Huỳnh tổng hợp chuyển tiếp

CA KHÚC MỚI CỦA ĐẶNG THẾ PHONG

NHỮNG KẺ ĐỐT ĐỀN

Ngôi đền Artemis nổi tiếng đã bị

phá hủy như thế nào?

Một đêm hè oi bức năm 356 trước CN, có một người rón rén đi trên các đường phố của Ephesus (thành phố ngày nay thuộc Thổ Nhĩ Kỳ). Anh ta mang một bó đuốc nhỏ cố tránh thu hút sự chú ý của mọi người. Khi gặp người qua đường tình cờ lúc ban đêm, anh ta sợ hãi lấy chiếc áo mưa rộng thùng thình của mình để che giấu.

Lén lút nhìn quanh một hồi, cuối cùng anh ta đã lẻn đến ngôi đền lớn màu trắng vươn cao ở một vùng ngoại ô thành phố. Đội canh gác ngủ say nên anh ta đã đột nhập điện thánh chẳng gặp trở ngại gì. Và chính ở đây anh ta đã gây nên chuyện làm chấn động thế giới văn minh : dùng đuốc đốt một số đồ thờ cúng và tặng vật thiên liêng.

Bức màn che trước tượng thần bốc lửa cháy, ngọn lửa lan đến các cửa ra vào bằng gỗ tẩm dầu, rồi táp lên mái nhà. Trong chốc lát điện thánh biến thành những đống đổ nát, khói lửa mù mịt, dưới bầu trời đen tối chỉ còn thấy nhô lên hình bóng những chiếc cột đá cẩm thạch điêu tàn.

Tại phiên tòa xét xử kẻ phạm tội ác man rợ, hắn thừa nhận rằng hắn đã đốt đền để được lưu danh muôn thuở. Để loại trừ kẻ điên cuồng háo danh, những người dân thành phố Ephesus đã nhất quyết quên và không bao giờ nhắc đến tên hắn ta, những có lẽ chính vì thế mà tên hắn lại lưu truyền đến chúng ta ngày nay : Herostratus.

Còn nói về đền thờ đã bị hắn đốt biến thành tro tàn và đổ nát thì, theo lời nhà lịch sử học cổ đại Ampêli, đó la một ngôi đền “uy nghi và lớn nhất thế giới đã tìm được”, và theo sự xác nhận của Plini, một đồng nghiệp khác của Ampêli, thì đây là “đài  kỷ niệm thực là kỳ diệu của nền văn hóa Hy Lạp, khiến mọi người kinh ngạc về sự tráng lệ của nó”. Đấy là ngôi đền thờ nữ thần Artemis ở Ephesus, xây bằng cẩm thạch – kỳ quan thứ tư trong số bảy kỳ quan thế giới.

Tính đến thời gian đó thì ngôi đền đã tồn tại trên một nghìn năm. Cuối thiên niên kỷ thứ hai trước CN, một bộ phận người lônit – trong khi đi tìm không gian sinh hoạt mới –  đã di dân từ lục địa Hy Lạp sang Tiểu Á và định cư trên vùng duyên hải đối diện với hòn đảo Xamôxơ, thành phố Ephesus.

Thành phố cảng này nhanh chóng biến thành trung tâm buôn bán nhộn nhỊp với những ngôi nhà lớn, đẹp và những căn lều nhỏ hẹp, những đường phố sạch sẽ và quảng trường rộng lớn, thường là những nơi họp chợ, đông đúc người. Việc buôn bán của những người Hy Lạp ở đây rất sầm uất, y như ở quê hương cũ của họ vậy. Ephesus đã nhanh chóng trở thành một trong những thành phố lớn nhất của thế giới cổ đại.

LỜi BÀN CỦA CAO BỒI GIÀ :

Đọc mẫu chuyện kẻ đốt đền thờ nữ thần Artemis ở Ephesus, hồi năm 356 TrCN, và kẻ đốt đền là Herostratus. đã lên tiếng nhận hắn đốt đền để được lưu danh muôn thuở.

Nay suy ngẫm về vụ xả súng ờ Las Vegas mới đây : Cảnh sát trưởng Las Vegas Joseph Lombardo cho biết, tên Paddock là nghi phạm chính vụ xả súng khiến 58 người chết và gần 600 người bị thương nặng nhẹ, tại lễ hội âm nhạc tối 1/10/2017, theo cuộc điều tra Paddock lên kế hoạch trốn thoát sau khi thực hiện vụ thảm sát nhưng bất thành, nên đành tự xử sau đó.

Phải chăng tên Paddock cũng muốn như Herostratus thời cổ Hy Lạp ? Tức muốn ghi danh thiên cổ ?! Vì đến giờ các nhà điều tra chưa tìm thấy “đồng đảng” hay ý đồ gây ra cuộc thảm sát của tên Paddock !

Và mời các bạn đọc tiếp về một kẻ đốt thành Roma :

KẺ ĐỐT THÀNH ROMA

Năm 64 sau Công nguyên đã xảy ra một trận hỏa hoạn vô cùng dữ dội kéo dài suốt hơn một tuần liền khiến cho PHẦN LỚN THÀNH Roma bị hủy hoại. Ngay sau đó đã dấy lên tin đồn cho rằng hoàng đế Nero chính là kẻ đã châm ngòi cho ngọn lửa.

Trận hỏa hoạn dữ dội chưa từng thấy

Việc thành phố Roma bị lửa thiêu rụi quả là một bi kịch quốc gia. Thảm họa này không chỉ nổi tiếng vì quy mô lớn chưa từng có mà còn bởi vì kẻ gây ra nó được cho là … hoàng đế Nero ?!?

Vào đêm 18 rạng sáng 19 tháng 7 năm 64, các kho hàng nằm gần Đại Đấu Trường bỗng vô cớ bốc cháy. Gặp gió mạnh, ngọn lửa nhanh chóng bốc cao, lan về hướng đồi Palatin rồi tỏa xuống các con phố dọc đồi Quirinal, đồi Viminal và đồi Esquiline. Bị đánh thức trong cơn say ngủ, người dân thành phố nháo nhào chạy ra đường trong hoảng loạn.

Mỗi người nếu không tự thoát thân thì cũng lo cứu người thân hoặc cứu lấy của cải. Lính gác đêm, tức những người có nhiệm vụ phòng cháy và dập cháy, không cách nào ngăn chặn được ngọn lửa do bị màn đêm dày đặc cùng đám đông hỗn loạn gây trở ngại.

Trận hỏa hoạn không những không lắng xuống mà còn tiếp tục hoành hành trong suốt 7 ngày đêm. Khi nhà cầm quyền tưởng đã khắc chế được ngọn lửa thì nó lại đột ngột bùng lên ở một con phố khác. Mãi đến ngày thứ 9, ngọn lửa mới tắt hẳn. Roma lúc này chỉ còn là một đống hoang tàn đổ nát.

Thành Roma bị thiêu rụi

Trong số 14 khu phố ở Roma, chỉ có 4 khu là không hề hấn gì. 10 khu còn lại thì có khu bị thiêu hủy hoàn toàn, khu bị thiêu hủy một phần. Không thể tổng kết số nạn nhân của trận hỏa hoạn, nhưng có lẽ phải đến hơn 200.000 người Roma phải ra đường ở do nhà cửa bị thiêu hủy. Nơi bị cháy nặng nhất là những khu phố bình dân có nhiều nhà cho thuê.

Các công trình cổ kính mà người Roma vô cùng trân trọng chỉ còn là những đống gạch vụn. Các tác phẩm nghệ thuật đưa từ Hy Lạp và Phương Đông về đễ trang trí các nơi công cộng đều hư hại nặng. Sách cổ chép tay trong các thư viện công cộng cũng không thể cứu vãn.

Tin đồn động trời

Ngay từ lúc thảm họa mới xảy ra, mọi người đã tìm hiểu xem ai là người gây ra hỏa hoạn. Ngọn lửa lan nhanh đến mức nhiều người cho rằng trận hỏa hoạn không phải là ngẫu nhiên. Một số người kể rằng họ nhìn thấy nhiều người ném đuốc vào các căn nhà. Chẳng bao lâu, toàn bộ dân chúng thành Roma đều cho rằng người gây ra thảm họa kinh hoàng này không ai khác hơn là Nero.

Người thì nói rằng hoàng đế vì muốn xây dựng lại kinh đô nên đã tìm cách san bằng các khu phố cũ. Kẻ lại cho rằng Nero vì muốn tìm cảm hứng cho thiên anh hùng ca “Chinh phục thành Troy” mà ngài đang sáng tác nên đã ra lệnh phóng hỏa chính thành phố của mình.

Nero thoát tội

Khi nghe khắp nơi đồn mình là kẻ phóng hỏa, Nero hoảng sợ. Quần chúng đang cần 1 con tốt thí, vì thế nhà vua phải nhanh chóng chỉ ra kẻ phạm tội để thoát khỏi trách nhiệm này. Quả thật, dân chúng đã nguôi ngoai khi tội ác được đổ lên đầu một Giáo phái nhỏ.

Các tín đồ của giáo phái này bị vu cáo đã thực hiện những nghi lễ bí ẩn làm phật lòng các vị thần hộ mệnh của Roma. Khoảng 200 tín đồ của giáo phái đó bị bắt và hành quyết. Họ bị biến thành những ngọn đuốc sống để soi sáng các lễ hội mà Nero tổ chức cho dân chúng thành Roma.

Cho đến nay vẫn chưa ai chứng minh được một cách chắc chắn rằng hoàng đế Nero đã gây ra chuyện này. Thay vì tìm kẻ phóng hỏa, ta hãy trở về với lời giải thích hợp lý và đơn giản nhất : ngọn lửa đã bốc lên từ những khoang chứa dầu và kho lúa ở bến tàu rồi nhanh chóng bị gió thổi lan ra. Do thảm họa xảy ra ngay giữa mùa hè nên lính cứu hoả gần như bất lực vì nguồn nước dự trữ của họ rất hạn chế.

Lan Hương tổng hợp chuyển tiếp

KẺ CẮP GẶP… CHUYÊN VIÊN

Hai thầy trò vừa nhận phòng được mấy giờ tại khách sạn 9 sao, Sếp bất thình lình kêu mất cái phong bì 10 ngàn đô, tôi chết đứng. Mới có 1 cô hầu phòng vào cung cấp nước uống, khăn mặt, kem đánh răng…

Vậy thì ai lấy trộm 10 ngàn đô của Sếp đây ? Nhưng bị mất trộm mà mặt Sếp vẫn tỉnh như quả bơ chín. Tại sao nhỉ ?!

Phải tìm cho ra thằng ăn trộm mới được, đích thân tôi, chuyên viên giỏi nhất cơ quan sẽ giải quyết vụ này, tạm thời chưa báo công an. Mà không hiểu sao đi công tác mấy ngày mà Sếp mang đi nhiều tiền quá thế ? Chả nhẽ công ty nào vừa biếu phong bì này hay sao, nghi ngờ tí cho có vẻ thám tử.

Tôi quyết định triển khai truy tìm nguồn gốc cái phong bì 10 ngàn đô này trong thời gian nhanh nhất. Sếp đồng ý để tôi áp dụng mọi biện pháp nghiệp vụ, kể cả khám xét khắp phòng tìm dấu vết tên trộm.

Tôi lật tung 2 cái giường, tủ đồ, tủ lạnh, thùng rác trong phòng vệ sinh, thậm chí khám cả túi quần Sếp nhưng vô vọng. Tên trộm này quá giỏi, chắc chắn được đào tạo bài bản ở một trường gián điệp bên Tây.

Thời gian hứa với Sếp sắp kết thúc, nếu không tìm ra cái phong bì này thì toi là cái chắc rùi, bao nhiêu công lao phấn đấu coi như vứt đi, kể cả chân ứng viên chức phó văn phòng. Đầu óc tôi gần như phát điên, bây giờ mà tóm được thằng trộm này thì bố tùng xẻo mày giải hạn. Kiếp trước chắc chắn tôi nợ thằng trộm này khá nhiều tiền.

Bóp nát quả chuối chín trứng cuốc, tôi chạy ra sảnh gọi điện cho vợ: “Cô gửi gấp cho tôi 10 ngàn đô la. Nếu không có thì tôi chính thức bị kỷ luật ! Nếu không có số tiền này thì đời tôi chính thức xuống dốc !” Chạy ra ngân hàng rút tiền, tôi cho vào cái phong bì rồi chạy về phòng báo cáo Sếp :

 – Dạ thưa thủ trưởng kính mến, em đã túm được tên trộm rùi ạ. Thằng này vô cùng giỏi, hình như nó là thằng trộm chuyên nghiệp khét tiếng. Em nhìn nó ngồi uống bia cỏ ở bờ sông nên xông vào tóm liền. Cái phong bì của Sếp vẫn còn nguyên trong túi quần nó, may là bà bán bia hơi chỉ lấy tiền Việt. Xin mời Sếp đến lại xem còn đủ 10 ngàn đô không ạ !

Sếp bình tĩnh đếm lại tiền cẩn thận, gật đầu khen tôi sái cổ :

– Hay lắm, cậu đúng là một chuyên viên vô cùng đa tài, viết báo cáo cũng giỏi mà bắt trộm cũng giỏi. Chân phó văn phòng chắc chắn là của cậu rùi. Chỉ có điều cậu giúp tớ thêm một vụ nữa: Bà xã tớ cũng mới bị mất trộm 5 cây vàng… (Lê Tự theo Dân Việt)

Huỳnh Công Khanh chuyển tiếp

TỘI NGHIỆP ANH QUANG !!!

Anh Nguyễn Xuân Quang đương kim Phó Cục trưởng Cục kiểm soát ô nhiễm của Tổng cục Môi trường, Bộ Tài Nguyên và Môi trường, vừa vào miền Nam kiểm tra tình trạng ô nhiễm tại các doanh nghiệp hồi cuối tháng Chín này. Vậy mà mới mấy ngày sau, anh Quang đã bị đạo chích đột nhập phòng khách sạn cuỗm mất gần 400 triệu đồng.

Đời thuở nào mà chấp nhận được bọn đạo chích bất lương, nhẫn tâm và bất chấp đạo lý đến vậy ?!

oOo

Anh Quang bị mất trộm ở một khách sạn tại thành phố Tân An (tỉnh Long An), lúc điều tra viên đến ghi nhận hiện trường, còn phát hiện một giấy chuyển tiền vào ngân hàng trước lúc bị mất trộm một ngày. Trong phòng còn có tiền đô, tiền Việt và một cơ số phong bì đã bị bóc vỏ.

Tui biết là dư luận nghe đến đây dư luận đã vội hồ nghi anh Quang ảnh nhận tiền của doanh nghiệp hay ảnh trục lợi cho cá nhân từ chuyến công tác kiểm tra này rồi. Ai nói gì thì nói, ai đồn gì thì đồn, ai nghi gì thì nghi nhưng cá nhân tui tin chắc anh Quang ảnh không có vậy đâu.

oOo

Cứ nhìn vào thực tế đi, ngành Môi trường của nước mình rất có trách nhiệm trong việc giám sát lẫn xử lý doanh nghiệp xã thải bậy, trong việc bảo vệ môi trường sống của người dân. Mà giám sát chặt chẽ vậy, xử lý nghiêm minh vậy thì làm gì kiếm chác được.

Lúc báo đăng công ty này xả thải ra sông, công ty kia xả thải ra biển, công ty kia chôn bùn thải xuống khu vực gần khu bảo tồn… lãnh đạo ngành Tài nguyên đều lên tiếng ủng hộ quyết liệt thấy không ? À, tui nhầm. Lãnh đạo ngành Tài nguyên không phải ủng hộ mà họ lý giải có tình có lý vì sao doanh nghiệp làm vậy, vì sao làm vậy là đúng luật, vì sao làm vậy là an toàn, vì sao làm vậy là không có ảnh hưởng gì hết.

Họ đàng hoàng như vậy thì lấy đâu là chuyện tư túi tư lợi ở đây, doanh nghiệp nào mua chuộc được họ. Đừng có nghĩ là doanh nghiệp dùng tiền mua ai cũng được, nghĩ vậy là không có đúng, là không có chuẩn, là rất dễ lâm vào tình cảnh nhìn cuộc đời một màu đen thui lui như nước sông bị nhiễm chất bẩn từ nước thải mà doanh nghiệp bất lương xả ra.

oOo

Ví như anh Quang ảnh đi công tác hai tuần, mà đi công tác nghĩa là phải xa vợ xa con, nghĩa là phải xa bữa ăn ấm cúng, chiếc giường ngủ thân thuộc, hơi thở của hiền thê, giọng nói cười của nhi tử… Ảnh đi công tác mà lại là kiểm tra doanh nghiệp xem doanh nghiệp có hoạt động trên cơ sở đảm bảo sự ổn định về môi trường hay không ?

Có lén lút làm chuyện đặt ống ngầm xả thải chưa qua xử lý ra sông hồ hay không, có bớt xén trong khâu xử lý nước thải để giảm đầu tư nhằm tăng lợi nhuận hay không, có phương pháp để chắc rằng khói bụi thải ra khi sản xuất đạt mức cho phép hay không…

Anh Quang ảnh hy sinh cái cá nhân, ảnh hy sinh cái riêng tư, ảnh hy sinh nhiều thứ lắm để bảo vệ sức khỏe cho nhân dân, để bảo vệ môi trường cho quốc gia. Thiệt, cái tình đó lớn lắm, cái công đó vĩ đại lắm.

Vậy mà, bọn trộm lại ác nhơn đến mức nhắm vào cá nhân như vậy để hành nghề thì thiệt là quá đáng, thì thiệt là không còn coi luân thường đạo lý nhân quả ở đời ra cái gì nữa hết.

Còn dư luận nữa, dư luận nghi ngờ cái gì mà nghi ngờ. Anh Quang ảnh đi công tác xa nhà, ảnh sợ của nả để lại có gì bất trắc không may, nên ảnh mang toàn bộ gia sản chắt chiu dành dụm được có thể do từ chạy xe ôm thâu đêm lúc trẻ, từ nuôi heo lúc tốt nghiệp đại học, từ buôn chổi đót khi vừa mới có việc làm…

oOo

Tiền của ảnh là minh bạch, việc làm của anh là minh bạch, chỉ có thái độ của dư luận mới mờ mịt thôi.

Anh Quang hãy vững tin, tui luôn thấu hiểu và thông cảm cho anh. Thói đời ngày càng trớ trêu thiệt !!! Bọn đạo chích ngày càng tinh ranh, ngày càng biết lựa người mà. (Quan Quan theo Tuổi Trẻ Cười)

Khách Giang Hồ chuyển tiếp

VỪA TÌM THẤY MỘT NHẠC PHẨM

CỦA ĐẶNG THẾ PHONG

Cho đến nay, giới nghiên cứu âm nhạc chỉ biết Đặng Thế Phong qua đời ở tuổi 22 và có 3 bài hát : Con thuyền không bến, Đêm thu và Giọt mưa thu. Nhưng ông còn có nhạc phẩm Gắng bước lên chùa.

Trong đó, Con thuyền không bến lúc đầu có tên Vạn cổ sầu. Thông qua Lê Thương, Thế Lữ, Lưu Hữu Phước, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Cao Luyện, Nguyễn Đình Phúc, Nguyễn Văn Thương, v.v…, tôi được biết: Đặng Thế Phong còn là tác giả một số nhạc phẩm khác. Đồng thời, ông còn có mối quan hệ về mặt sáng tác với nhà văn chuyên viết truyện trinh thám Phạm Cao Củng.

Bộ sưu tập các bài hát Việt Nam từ khoảng 1937 tới 1975 của tôi không có nhạc phẩm nào mà Đặng Thế Phong và Phạm Cao Củng là đồng tác giả.

Cho tới một hôm…

Cuối năm 1993, tôi lên Đà Lạt dự kỷ niệm Đà Lạt một trăm tuổi. Một buổi chiều, đang đắm mình trong cảnh vật trầm lắng của một ngôi chùa lớn, giữa tiết trời mưa rét, tôi nghe tiếng hát của một người khoảng trên năm mươi tuổi đứng gần cổng chùa. Người đó hát nhè nhẹ, cách hát tỏ rõ ông hiểu âm nhạc.

Tôi làm quen với ông. Tôi bảo ông có giọng hát khá hay. Ông cười và hát lại cả bài. Tôi ngạc nhiên vì bài hát nói về chuyện lên chùa qua những âm điệu gần gũi với đặc trưng nơi cửa Phật.

Tôi nói : Lần đầu tiên, tôi được biết bài này. Nó làm cho tôi nhớ tới ca khúc Kinh khổ (Lời và nhạc: Trầm Tử Thiêng) mặc dầu hai ca khúc có nhiều nét khác nhau.

Ông khen tôi biết thẩm âm. Rồi ông cho biết: Bài hát vừa rồi có tên Gắng bước lên chùa – Nhạc: Đặng Thế Phong. Lời: Phạm Cao Củng.

Tôi hỏi : Có phải Đặng Thế Phong tác giả Con thuyền không bến và Phạm Cao Củng tác giả nhiều truyện trinh thám hay không ?

Ông nói : Đúng, đúng ! Rồi ông hẹn tôi : Hôm sau, khoảng 15 giờ, cũng tại chùa này, đến gặp ông để tiếp tục câu chuyện liên quan đến bài hát nói trên. Đúng hẹn, tôi đến. Trời vẫn rét nhưng khô ráo.

Người đàn ông mang theo một cây đàn ghita. Ông hát và tự đệm đàn bài hôm trước. Giọng trầm ấm và thiết tha. Sau đó, ông cho tôi xem một bức ảnh chụp ca khúc Gắng bước lên chùa do chính tay Đặng Thế Phong viết nắn nót cả nhạc lẫn lời.

Dưới đầu đề Gắng bước lên chùa, Đặng Thế Phong ghi rõ: Nhạc: Đặng Thế Phong. Lời: Phạm Cao Củng. Cuối ca khúc, có dòng chữ: Tặng Hoàng Quý – Hà Nội, 1 Mai 1940 (tức mồng 1 tháng 5 – 1940).  Ông cho biết thêm : Bức ảnh này do cụ Phúc Lai, một chủ hiệu ảnh rất nổi tiếng ở Hà Nội và Hải Phòng lúc bấy giờ, chụp tại Hà Nội cho bố ông khoảng cuối năm 1940.

Ảnh chụp từ bản có dòng chữ đề tặng nói trên cho nhạc sĩ Hoàng Quý (tác giả Cô láng giềng, Cảm tử quân) – anh ruột của Hoàng Phú tức GS nhạc sĩ Tô Vũ. Nhạc sĩ Hoàng Quý quen bố ông và đã cho bố ông mượn bài hát có lời đề tặng ấy để bố ông nhờ cụ Phúc Lai chụp làm kỉ niệm. Bố ông qua đời tại Đà Lạt năm 1991. Nhưng khoảng năm 1970, tại Sài Gòn, bố ông đã góp phần vào việc xuất bản tuyển tập nhạc Hoàng Quý.

Tôi hỏi tên ông và tên cụ nhưng ông trả lời: Vì lí do riêng, không thể cho biết. Tuy nhiên, ông nhiệt tình nói rõ: Ca khúc này, theo bố ông, đã in trên nhật báo Tin Mới khoảng đầu năm 1940.

Hồi giải phóng Sài Gòn, cùng cả gia đình dời Sài Gòn lên Đà Lạt, bố ông bỏ lại hết, kể cả trọn bộ tạp chí Nam Phong và trọn bộ báo Phụ Nữ Tân Văn.

Mùa đông. Chưa đến xế chiều trời đã trở nên mờ xám. Gió lạnh. Tôi phải đi xe ôm về nhà trọ ở xa ngôi chùa chúng tôi đang trò chuyện khoảng 5 cây số. Vì thế, không thể đi phô-tô-cóp-pi bức ảnh chụp bài hát nói trên được. Thật đáng tiếc !

Từ đó đến nay, tôi không được gặp lại người bạn quý ấy nữa.

Gần hai tuần sau, trở về Sài Gòn, tôi gặp ngay người chủ một tiệm sách báo cũ mà từ mười mấy năm nay tôi là khách quen, hỏi anh có báo Tin Mới hay không. Anh bảo: Khó lắm ! Để em tìm !  Tôi ghi số điện thoại bàn cho anh chủ tiệm.

Mãi đến… mười năm sau

Một chiều cuối thu 2003, anh chủ tiệm sách cũ điện thoại cho tôi, bảo đến tiệm anh ngay. Tôi vừa tới, anh lập tức đưa ra hai tập Tin Mới đóng gáy da từ tháng Giêng đến hết tháng Chạp 1940, trong đó khoảng bốn chục số bị mất.

Rất mừng : Có một số in bài hát Gắng bước lên chùa. Đó là số Jeudi 4 Avril 1940 (tức thứ Năm, mồng 4 tháng 4 năm 1940).

Tôi nghẹn ngào tưởng như Đặng Thế Phong đang đứng trước mặt, và, những trang truyện trinh thám Phạm Cao Củng hồi nhỏ tôi đọc ở Thủ đô Hà Nội bỗng hiện ra trước mắt, chập chờn !!!  Tôi đề nghị anh chủ tiệm đi cùng tôi đến một cửa hàng ở đường Hai Bà Trưng để photocopy và xin anh nhận một số tiền nào đó tương đối lớn của tôi.

Anh bảo : Mười năm lặn lội đi tìm một bản nhạc của một nhạc sĩ lỗi lạc. Mười mấy năm anh mua sách báo cũ của em và nhiều tiệm khác… Em chẳng những không lấy một đồng của anh mà còn biếu anh tiền photocopy bài hát đó.

22 giờ, trời se lạnh. Tôi ôm một tập Tin Mới ngồi sau xe máy do anh chủ tiệm sách báo cũ điều khiển phóng đến một cửa hàng photocopy trên đường Hai Bà Trưng (Tân Định, quận 1).  Xong việc, anh đèo tôi về tiệm của anh để tôi lấy xe đạp. Tôi nâng niu hồi lâu ca khúc Gắng bước lên chùa trước khi bắt tay cảm ơn anh bạn, ra về.

Gần 23 giờ. Đường vắng. Trong gió se lạnh phả vào mặt, tôi đạp xe từ từ trên đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa. Khi qua cửa chùa Vĩnh Nghiêm, tôi chợt nghĩ : Thế là… mình đã Gắng bước lên chùa

Đã hơi khuya. Gió heo may có vẻ mạnh hơn.  Đêm nay thu sang cùng heo may… Bến mơ dù thiết tha, thuyền ơi đừng chờ mong… (theo tác giả Nhật Hoa Khanh)    

Thái Thanh với 3 ca khúc của Đặng Thế Phong

https://youtu.be/WefG2bi00AM

Phan Tất Đại chuyển tiếp

TÌM HIỂU CÁC LOÀI HOA MAI

Logo tim hieu

Tr cuoi 5NGÀY TẾT NÓI VỀ

CÁC LOÀI HOA MAI

Trên đất nước Việt Nam, người ta thường biết đến hoa mai qua loại hoa mai vàng năm cánh đặc trưng xưa nay mà người ta còn gọi là mai rừng, mai tự nhiên hay mai thiên nhiên chỉ có năm cánh, hoa nhỏ và thân cao to có khi đạt đến chiều cao hơn chục mét, hương thơm thoang thoảng, lây lất mùi gỗ rất dễ chịu và mát, không nồng và đậm như một số loài hoa khác.

Nhưng thật ra, trên thế giới có tất cả hai mươi bốn loài mai thuộc họ mai tức là chi họ Ochna (Ochnaceae) khác với loài mai mơ gần giống như hoa đào của Trung quốc có màu trắng hoặc trắng hồng, cánh nhỏ, nhụy rậm và dày thường mọc thành chùm và hoa rậm, thân giống cây hoa đào, 9-hoa-mai-1đoạn xù xì, đoạn trơn láng, màu xanh, da bóng và mọc cao to như cổ thụ.

Hoa mai tại Việt Nam mọc phổ biến ở miền Trung và miền Nam, đa phần là mai rừng tự nhiên. Sau này, người ta sử dụng một số loại mai ghép lại với nhau và cho ra đời một loại mai nhân tạo đó chính là mai giảo nhiều cánh, số lượng cánh có thể lên đến hàng chục cho đến hàng trăm cánh xếp chồng lên nhau thành một đóa hoa dày và lớn.

Nhưng thật ra, hoa mai vàng trong tự nhiên cũng có loài đạt đến số lượng cánh rất cao (từ 12 cho đến 18 cánh). Mai tự nhiên có mùi hương tự nhiên rất thơm và thường nực nồng vào buổi sáng và dần dần mất mùi vào những khoảng thời gian còn lại trong ngày. Có lẽ vì buổi sáng sớm, nhiệt độ còn thấp, sương chưa tan nên hương thơm còn giữ lại trong không khí, đến khi mặt trời lên, nhiệt độ tăng dần, sương tan hết cũng là lúc hương hoa cũng tản ra trong không khí nên chúng ta nghĩ là hoa mất mùi sau khi mặt trời lên cao.

Hoa mai tại Việt Nam có mười ba loại như sau :

1/– Mai năm cánh : Loại mai vàng mọc phổ biến tại miền Trung (Từ Đà Nẵng, Quảng Nam cho đến Khánh Hòa) và trên dãy trường Sơn trong những khu rừng già. 9-hoa-mai-2Đây là loại mai năm cánh tự nhiên, hoa nhỏ, thân vừa và nở hoa không nhiều và rậm như một số loài mai khác mà nở thưa thớt. Nhưng nếu lạc vào rừng mai này vào mùa xuân thì chúng ta sẽ thấy sắc hoa vàng rực rỡ cả một khu rừng, cả một triền núi và xác hoa rơi có khi vàng cả một dòng suối. Hương thơm ngập tràn và lan tỏa cả một vùng rộng lớn. Ở một số ngọn núi thuộc đồng bằng sông Cửu Long như tại vùng Thất sơn (Bảy núi) cũng có loại mai này nhưng ít hơn và rải rác không tập trung.

2/– Mai núi : Cũng là một loại mai rừng nhưng có số lượng cánh nhiều hơn từ 12 cho đến 18 cánh, có khi còn hơn thế nữa. Mai này mọc trên những núi đá khô khốc và sống chủ yếu bằng hơi sương, nước mưa và nước ngầm trong lòng đất cộng với khí hậu ẩm thấp của miền núi. Loài mai này thường xuất hiện nhiều tại các vùng núi thuộc Tây Nguyên và nước bạn Campuchia.

3/– Mai chủy : Cũng là một loại mai rừng nhưng thân cây rất to, hoa nhiều, lá rộng, xanh bóng và có hình răng cưa. 9-hoa-mai-3Loại mai này có hoa mọc thành chùm rất đẹp nên gọi là mai chủy (chủy có nghĩa là chùm, quần thể, quây quần lại, đặc nghẹt).

4/– Mai động, mai sẻ : Là một loại mai chuyên mọc ở những vùng cát trắng gần biển. Loại mai này có thân suôn thẳng và tròn và trổ bông thưa thớt. Nếu chúng trổ năm cánh thì gọi là mai sẻ, còn nếu có hơn năm cánh thì đúng là loa mai động. Mai động và mai sẻ mọc rải rác từ các tỉnh từ Quảng Bình, Quàng Trị vào tận các vùng duyên hải thuộc miền trung và có khi thấy chúng ở các vùng đồi cát trắng thuộc miền nam như Tây Ninh, Đồng Nai, Biên Hòa v..v..

5/– Mai chùm gửi, mai Tỳ bà, mai vương : Là một loại mai sống nhờ trên thân cây khác, nhất là các loại cây cổ thụ to lớn. 9-hoa-mai-4Chúng sống bám vào thân cây, một phần hút chất dinh dưỡng từ đất, một phần hút chất dinh dưỡng từ cây mà chúng bám vào. Không giống các loại chùm gửi khác chỉ bám trên thân cây khác, mai chùm gửi sống phân nửa dựa vào bộ rễ bám vào lòng đất của nó. Mai chùm gửi có thân ghồ ghề, cứng và xù xì cùng với những khối u kì dị. Chồi và tược cũng như hoa đâm ra từ những khối u đó. Hoa trổ khá dày và khít thành từng chùm đặc nghẹt. Có nơi còn gọi nó là mai tỳ bà hay mai vương.

6/– Mai hương, mai thơm hay mai ngự : Là một loại mai vàng có mùi hương rất thơm, thơm hơn tất cả các loài mai khác. Mùi hương của nó rất đặc biệt và có lẽ là nồng nàn hơn tất cả các loài mai nên nó được gọi là mai hương cho đúng với tính chất đặc biệt của loài mai vàng năm cánh này. Ở Bến Tre cũng có rất nhiều loại mai này mà người dân ở đây gọi nó bằng một cái tên rất miệt vườn là “Mai thơm” vì nó rất thơm, thơm hơn những loại mai thông thường mà người dân Nam bộ thường gặp. Ở Huế, loại mai này còn được gọi là “Mai ngự” vì nó được trồng trong cung và rất được Hoàng tộc mến chuộng dùng làm quà biếu cao cấp nên nó gọi là “Mai ngự”.

9-hoa-mai-5

7/– Mai châu (Mai trâu) : Là một loại mai trổ hoa rất lớn, hoa của loài mai này lớn một cách lạ thường, cánh to và rộng, màu vàng rực. Mỗi đóa hoa có đường kính hơn 5cm nên người ta gọi nó là mai trâu mà người Nam bộ thường đọc trại ra thành “mai châu”.

8/– Mai liễu : Là một loại mai có cành rất mềm và rũ xuống như cây liễu, hoa trổ rất ít. Lá mai nhọn và nhỏ, thon dài như lá liễu nên được gọi là mai liễu.

9/– Mai nhọn : Là một loại mai có lá dài và nhọn, nụ hoa và cánh hoa cũng có hình dạng tương tự.

9-hoa-mai-6

10/– Mai Cà Ná : Là loại mai đặc trưng mọc tại vùng biển Cà Ná thuộc tỉnh Ninh Thuận. Loài mai này có thân nhỏ, èo uột, cành rất giòn, dễ gẫy, lá hình bầu dục, trơn láng và có răng cưa quanh rìa lá. Người dân ở đây gọi nó là mai rừng Cà Ná.

11/– Mai Vĩnh Hảo : Vào địa phận của tỉnh Bình Thuận, huyện Tuy Phong, xã Vĩnh Hảo, nơi có nguồn nước khoáng thiên nhiên nổi tiếng nhất Việt Nam là “Nước khoáng Vĩnh Hảo” thì có một loại mai vàng nữa cũng là loài đặc trưng của vùng này, không khác gì mấy so với mai Cà Ná nhưng nó lại được người dân ở đây đặt cho cái tên theo địa danh nơi nó đang sống là “Mai Vĩnh Hảo”. Mai Vĩnh Hảo có thân cứng, lá nhỏ, hoa to và phẳng, đặc biệt rất lâu tàn.

12– Mai tứ quý : Loài mai đặc trưng của vùng Nam bộ. Mai này cũng trổ hoa vàng 9-hoa-mai-7nhưng sau khi cánh hoa rụng đi thì đài hoa còn lại năm cánh màu đỏ với nhụy hoa và ba hạt màu đen như hạt đậu. Năm cánh hoa màu đỏ cũng tròn trịa và giống hình một đóa hoa mai. Do tính chất nở hai lần trên cùng một đóa nên người ta còn gọi mai tứ quý là nhị độ mai. Mai này trổ bông lác đác quanh năm nên mới gọi là mai tứ quý (xuân, hạ, thu, đông đều trổ hoa). Mai tứ quý thân sần sùi và đen. Có cây phát triển rất to và cao nhưng đa số là những cây lâu năm. Càng lâu năm nhìn nó càng cổ kính và chắc chắn.

13/– Mai giảo : Là loại mai có rất nhiều cánh được ghép lại từ nhiều loại mai khác nhau trên cùng một cây mai. hoa-mai-1Mai giảo lấy gốc mai vàng làm chủ đạo, sau đó ghép nhánh của các loại mai khác vào để cho ra đời một loại mai có rất nhiều cánh, rất nhiều màu sắc trên cùng một cây mai. Loại này là loại mai nhân tạo mà chúng ta thấy rất nhiều hiện nay trên thị trường mai Tết.

Sáu loại mai trên thế giới:

1/– Mai vàng Campuchia (Mai Cao Miên) : Tên khoa học là Ochna integerrima. Hoa mai có từ 5 đến 9 cánh, khi nở ra thì úp ngược về phía cuống hoa chứ không xòe rộng như các loại mai Việt Nam, hoa có màu vàng tái (sậm gần như cam đậm). Loại mai này cũng có thấy ở Việt Nam, phần nhiều mọc trong những khu rừng thuộc miền Nam và miền Trung.

Chúng là loài cây hoang dã cũng có phân bố ở một số nơi có cồn cát nóng và ven những bờ sông râm mát. Mai vàng Campuchia thuộc dạng thân gỗ, nhánh gầy, mảnh và dài. Lá đơn màu xanh nhạt và bóng mọc thưa trên cành, mép lá có răng cưa nhỏ. Hoa mọc ra từ nách lá thành chùm, cuống hoa ngắn, đài hoa xanh bóng và không che kín nụ. 9-mai-khac-1Ở Việt nam, người ta thường dùng loại mai này để ghép thành mai giảo vì nó có khả năng tăng số lượng cánh lên rất cao. Không những thế mà hiện nay nó còn có ba màu do lai ghép là đỏ, vàng và trắng.

2/– Mai vàng Nam Phi : Có khoảng 12 loài mai thuộc chi họ mai Ochna bao gồm dạng cây lẽ và cây mọc thành bụi. trong đó có hai loài phổ biến là Ochna pretoriensis và Ochna pulchra. Hai loài này xuất hiện rất nhiều tại vùng Koppie. Loài Ochna pulchra cao khoảng 37m, vỏ cây thường có hiện tượng tróc ra, lá dễ rụng. Chúng mọc hoang dã ở rừng, vỏ cây màu xám, xù xì ở gốc, nhánh thân cây bị tróc vỏ màu kem nhạt. Mai Châu Phi có hai màu vàng và hồng. Ngoài ra, ở Nam Phi còn có các loại mai rất giống với mai tứ quý tại Việt Nam.

3/– Mai vàng Myanmar (Miến Điện) : Ở đất nước Phật giáo này có một loài mai mang tên khoa học là Ochna serrulata gần giống với loại mai Nam Phi. 9-mai-khac-2Tuy nhiên, hình thức của hoa mai có khác đôi chút ở chỗ cánh hoa bẹt hoặc có bầu noãn đỏ như mai tứ quý, tồn tại rất lâu trước khi rụng hoàn toàn.

4/– Mai vàng Indonesia : Có tên khoa học là Ochna kirkii Oliv, Ochna serrulata. Tất cả đều có nguồn gốc từ Châu Phi. Tuy nhiên do địa chất khác nhau nên chúng có ngoại hình lớn hơn mai Châu Phi. Có loài nở hoa vào mùa xuân, mùa hè hoặc nở cả bốn mùa như mai tứ quý.

5/– Mai vàng Madagascar : Là loại mai có tên khoa học là Ochna greveanum với năm cánh tròn trịa, dúm bèo theo rìa cánh giống như mai cánh dúm ở Việt Nam, lá mai dài và rũ xuống từng chùm.

6/– Mai vàng Châu Phi : Khác với mai vàng Nam Phi vì nó giống mai vàng năm cánh của Việt Nam nhưng có tên khoa học khác là Ochna thomasiana thuộc dạng cây bụi, lá hình oval, đầu lá nhọn và bén dài khoảng 10cm. Hoa rộ trên cành vào mùa xuân nhưng đôi khi lại bất chợt nở hoa vào mùa hè với số lượng ít hơn. Cánh hoa thon dài khoảng 2cm, đài hoa bung ra rộng và trở thành màu đỏ tía, bên trong có trái non màu xanh giống như mai tứ quý của Việt Nam.9-mai-khac-3

Đó là 19 loại mai của Việt Nam và thế giới, trong đó có loài thứ 4, thứ 6 và thứ 7 đã mang bảy cái tên khác nhau theo cách gọi của dân gian Việt Nam. Nếu tính tổng cộng là có 24 loài mai trên khắp thế giới hoặc có thể còn nhiều hơn nữa. Đúng là hoa mai rất đa dạng và phong phú chủng loại. Ở Trung Quốc, họ vẫn gọi cây đào là cây mai vì có nhiều loại rất giống hoa mai nhất là hồng đào và bạch đào mà họ hay gọi là hồng mai và bạch mai nhưng cánh mai tròn và nhỏ như cánh đào, nhụy hoa rậm và dày, thân cây giống hệt như cây đào nên thường gọi là đào chứ không gọi là mai.

Ngày Tết nói chuyện về sự phong phú của cây mai để chúng ta cùng nhau tìm hiểu về loại hoa đặc trưng của mùa xuân này. Hoa mai là biểu tượng của sự may mắn, tốt đẹp, một sự khởi đầu hoàn hảo và thịnh vượng cho một năm mới. Hoa mai còn có ý nghĩa xua đuổi những điều xấu xa, không tốt đẹp cho một năm luôn được bình an, hanh thông và phát đạt.

Yên Huỳnh chuyển tiếp

logo-huyen-bi

9-con-so-1ĐẦU NĂM CÙNG XEM NGÀY SINH

BIẾT VỀ TÀI VẬN CỦA BẠN

Căn cứ vào ngày tháng năm sinh cũng có thể biết được cuộc đời này bạn có bao nhiêu tiền tài trong tay. Tất cả đều dựa vào thuật số trong toán số của các hiền nhân thời xa xưa.

1/. Cách tính : Bước 1: Viết ngày tháng năm sinh của bạn ra một tờ giấy.

Bước 2: Cộng tất cả những con số ở ngày, tháng, năm lại với nhau. Tiếp tục cộng cho tới khi kết quả là một chữ số. Đó chính là con số linh nghiệm của sinh mệnh.

Bước 3: Đối chiếu con số linh nghiệm của sinh mệnh với kết quả dưới đây.so-1

Ví dụ: Bạn sinh vào 18/6/1980 = 1+8+6+1+9+8+0 = 33 = 3+3 =6. Đối chiếu số 6 với kết quả dưới đây.

2/. Đối chiếu kết quả

Con số sinh mệnh là 1 : Số 1 mang ý nghĩa về tính độc lập mạnh mẽ. Người có số sinh mệnh thuộc số 1 thường việc gì cũng muốn tự mình làm, không thích người khác giúp đỡ. Nếu mở công ty, cơ sở kinh doanh riêng, một mình họ sẽ kiêm cả ông/bà chủ lẫn nhân viên, việc lớn nhỏ đều tỏ tường.

Khi điều kiện kinh tế cho phép, tiền nhiều, người này thường tiêu tiền hào phóng. Nhưng ngược lại, khi kinh tế eo hẹp, ngoài việc ăn mặc, mọi hoạt động giải trí khác đều được người này loại ra khỏi lịch trình hàng ngày, tiết kiệm chi tiêu, lâu dần cũng thoát khỏi cảnh nghèo khó.

Con số sinh mệnh là 2 : Chủ nhân của con số sinh mệnh là 2 thường có tính cách thuộc hai kiểu so-2điển hình như sau:

Một là trong ngoài bất nhất, bên ngoài thì tỏ ra hài hòa, đáng yêu, nhưng bên trong lại hiểm độc, vì lợi ích cá nhân, nói trở mặt là trở mặt được ngay.

Kiểu thứ hai là thù lâu nhớ dai. Một khi ai đó đã mượn tiền của họ mà không trả hoặc lâu rồi chưa trả được, họ sẽ khắc sâu trong tim, sống để bụng, chết mang theo.

so-3Con số sinh mệnh là 3 : Người có số sinh mệnh là 3 thường không giỏi biểu đạt cảm xúc, ý kiến cá nhân nhưng lại có năng khiếu và niềm đam mê nghệ thuật.

Tuýp người này không coi trọng tiền bạc, vật chất nhưng lại rất quan tâm tới giá trị tinh thần của những tác phẩm nghệ thuật. Trong tay họ nắm giữ không ít tiền bạc, hay tác phẩm có giá trị.

Con số sinh mệnh là 4 : Mang trong mình con số sinh mệnh là 4, những người này luôn thấy thiếu an toàn, tâm hồn mong manh dễ vỡ,so-4 có thể bị tổn thương bất cứ lúc nào. Họ lo lắng, sợ hãi khi cô đơn một mình.

Chính vì thế, người này luôn tìm kiếm cảm giác an toàn ở phương diện tiền bạc. Họ lao vào kiếm tiền như điên, tiết kiệm tiền bằng mọi cách, chỉ khi nhìn thấy những con số trong tài khoản ở ngân hàng, họ mới thực sự cảm thấy bình yên.

Con số sinh mệnh là 5 : Có con số sinh mệnh là 5, chứng tỏ người này thuộc tuýp cuồng tự do, so-5thích bay nhảy, đi du lịch khám phá những điều mới mẻ. Để thực hiện được sở thích và cũng là những mục tiêu to lớn ấy, họ hăng say kiếm tiền, làm thêm nhiều việc không quản vất vả.

Có những lúc họ chi tiêu tiết kiệm tới mức, ăn không dám ăn, mặc chẳng dám mặc, còn luôn than nghèo kể khổ với bạn bè. Nhưng khi tiền đã về túi, bạn bỗng trở thành con người khác, hào sảng và phóng khoáng hơn gấp bội.

so-6Con số sinh mệnh là 6 : Có con số sinh mệnh này, chủ nhân thường sở hữu trái tim nhân hậu tấm han hướng thiện cao cả. Chỉ cần người thân, bạn bè gặp khó khăn, người này sẵn sàng tìm cách tương trợ.

Dù kiếm được rất nhiều tiền, nhưng việc tích lũy cho bản thân lại không nhiều. Họ vẫn giữ thói quen sống giản dị, tiết kiệm, nhưng vì hào phóng giúp đỡ người khác nên đôi khi bản han chịu không ít thiệt thòi.

so-7Con số sinh mệnh là 7 : Nằm trong nhóm người có số sinh mệnh là 7, tài vận của những người này cực tốt. Thêm nữa, họ cũng rất nhạy bén với các con số, giỏi phân tích, tính toán. Dù là khi kiếm được nhiều tiền hay ít, khi giàu sang hay nghèo khó, họ vẫn tìm ra cho mình hướng đi phù hợp, tính toán đâu ra đó.

Nhìn chung, đời sống vật chất của người này phong phú vô cùng. Phần lớn đều có  mức sống khá giả, giàu có.

Con số sinh mệnh là 8 : Đối chiếu kết quả thấy con số sinh mệnh là 8, chứng tỏ khả năng tiết kiệm,so-8 tích lũy tiền bạc của người này rất lớn. Hơn ai hết, họ tự lực cánh sinh, biết quý trọng giá trị đồng tiền, vì thế chi tiêu cũng có sự tính toán kỹ càng.

Với họ, dù đột nhiên có được món tiền trúng số, lãi từ cổ phiếu… thì đó cũng chỉ là may mắn nhất thời, không quan trọng. Điều cốt lõi là ở giá trị tích lũy và thực lực cố gắng ở mỗi người.

so-9Con số sinh mệnh là 9 : Có con số sinh mệnh là 9, người này không giỏi trong việc quản lý tiền bạc. Thậm chí, lúc cơ hàn, tinh thần bạn bấn loạn, lo lắng không yên. Chính vì thế, càng khó tìm ra hướng đi đúng giúp họ nhanh chóng thoát nghèo.

Dẫu vậy, khả năng tích lũy tiền bạc của người này rất tốt. Nhờ vào lối sống cần kiệm mà họ nắm trong tay khối tài sản khá, để rồi những lúc xảy ra sự cố bất ngờ họ có thể tự tin ứng phó kịp thời. (Khánh Hạ theo thegioitre)

Phan Tất Đại chuyển tiếp

Logo tu van

A- KÍNH BÁO CÙNG BẠN ĐỌC

NHÌN LẠI TỔ NGHIỆP CẢI LƯƠNG

Logo Van nghe

Tr cai luongÔNG T CẢI LƯƠNG LÀ AI ?

– Trúc Giang MN

Ông tổ cải lương là Tống Hữu Định

Theo GS Trần Quang Hải, con của GS Trần Văn Khê, thì ông tổ cải lương tên là Tống Hữu Định. Bút hiệu là Tịnh Trai. Được gọi là “Thầy Phó Mười Hai”. “Thầy Phó” là vì ông giữ chức Phó Tổng vùng đất Vãng (Sau đổi thành tỉnh Vĩnh Long). “Mười Hai” là người con thứ 12 trong gia đình. Tống Hữu Định sinh năm 1896 tại làng Long Châu (Vĩnh Long). Mất năm 1932. là con của vị quan khai quốc công thần Nhà Nguyễn, Tống Phước Hiệp. Ông Định nổi tiếng là hào hoa phong nhã, ăn chơi đứng đầu tỉnh Vĩnh Long. Thời gian 1915-1920, ông thường tổ chức tiệc tùng, cờ bạc, đá gà nòi, ca hát, ngâm thơ, kết bạn rộng rãi.

9 Cai luong 1Một hôm, ông đến Mỹ Tho, ngủ qua đêm để sáng hôm sau đi xe lửa lên Sài Gòn. Ở Mỹ Tho, ông xem hát bóng (Cinéma) bắt đầu bằng màn phụ diễn đờn ca múa hát Việt Nam. Ông ghi nhận. Một lần khác ở Sài Gòn, ông thấy một giàn đờn tài tử. Ông để bụng.

Khi về nhà, ông Định bày ra đờn ca trên bộ ván ngựa. Vừa ca vừa ra bộ. Khoảng đầu năm 1916, trong một buổi hòa nhạc tại nhà ông, bài ca “Tứ Đại Oán” về một cảnh trong Lục Vân Tiên là “Bùi Kiệm thi rớt trở về nhà”. Vừa ca vừa ra bộ. Ba người trong vai là: Bùi Ông do thầy Du đóng vai. Thầy Diệp Minh Ký thủ vai Bùi Kiệm. Cô Ba Định giữ vai Kiều Nguyệt Nga. “Thầy” là thầy chú, chỉ người sang trọng hoặc được kính nể. Ngày thứ bảy hàng tuần đều có tổ chức tiệc tùng, ca nhạc với ba tài tử nói trên có sự tham dự của bạn bè khắp nơi. Phong trào “vừa hát vừa ra bộ” phát triển mạnh ở Miền Tây Nam Bộ.

Ngày 15/11/1918, tuồng Cải Lương được diễn lần đầu tiên tại nhà Thầy Phó Mười Hai. Sau đó diễn ra ở Sa Đéc và Vũng Liêm. Tóm lại, cải lương bắt nguồn từ dòng nhạc “Đờn ca tài tử” mục đích để tiêu khiển, thường được tổ chức phục vụ cho những buổi lễ như : lễ giỗ, lễ cưới, bữa tiệc, tại tư gia.

Cho nên Ông tổ của nghệ thuật cải lương là Tống Hữu Định ở Vĩnh Long.

Vì sao gọi là “cải lương” ? Theo GS Trần Văn Khê: “Cải lương có nghĩa là cải cách, sửa đổi cho tốt hơn”. Đó là sửa đổi hát bội. Sau khi được sửa đổi, cải lương hoàn toàn khác hẳn với hát bội từ hình thức tới nội dung.

Ngày Giỗ Tổ của cải lương : Ngày 12 tháng 8 âm lịch hàng năm được chọn là “Ngày Sân Khấu Việt Nam”, cũng chính là 9 Cai luong 2“Ngày Giỗ Tổ” được ngành sân khấu tổ chức rất long trọng.

Mặt trái của sân khấu cải lương

1). Hát cải lương và hút á phiện : Hồi thập niên 1930, thời Pháp thuộc, tệ đoan xã hội lan tràn, sân khấu cải lương cũng không ngoại lệ. Trên sân khấu, khán giả chỉ thấy những cái đẹp, cái hay và nghệ thuật, nhưng sau bức màn nhung thì không có gì tốt đẹp cả. Không phải chỉ riêng một vài gánh hát, mà hầu như đó là tình trạng chung của những đoàn cải lương.

Phía sau cánh gà, sát bên vách là mâm đèn hút á phiện. Lúc nào cũng có vài người nằm lim dim đi mây về gió. Giới nghệ sĩ cải lương nhiều người bị ghiền á phiện là do đó. Có nhiều anh kép, vừa hát xong vai tuồng thì nhảy vào kéo ro ro. Mấy ông thầy đờn cũng vậy, màn vừa bỏ xuống để thay cảnh, là buông đờn chạy vào phi một cặp rồi trở ra đờn tiếp. Mấy bữa hút nhiều quá, mùi khói khét lẹt bay ra ngoài, khán giả chịu không nổi, người ta phải quạt cho khói bay ra phía sau sân khấu.

2). Cờ bạc : Cờ bạc, á phiện là do các chủ rạp tổ chức. Hút bao nhiêu cũng được miễn là trả đủ tiền cho họ thôi. 9 Cai luong 4Chủ rạp tổ chức cờ bạc để lấy xâu. Chủ rạp nào cũng vậy, mình không mướn thì thôi, bởi vì rạp thì ít mà gánh hát thì nhiều. Hát ở trên, đánh bài ở dưới. Đào kép lãnh lương xong thì họ ngồi sẵn ở đó, thu tiền liền. Chạy đâu cho khỏi.

Thời đó, sân khấu nào cũng vậy. Ở trên treo màn, treo cảnh, còn ở dưới là một khoảng trống lót gạch tàu, làm chỗ ăn chỗ ở cho đào kép. Sòng bài cũng ở đó. Chửi thề, nói tục không ngớt. Một số ít đào kép chánh, tiền nhiều thì họ ở khách sạn hay thuê nhà bên ngoài.

Đào kép nào tới vai thì lên hát, mà chưa tới, thì xáp lại đặt vài tụ. Để nguyên râu ria áo mão dài thường thượt ngồi vào chia bài. Quan Công, Lưu Bị cũng kéo dà dách (còn gọi là xì dách, xì lát). Tiết Nhơn Quý và Tiết Đinh San cũng sát phạt nhau, ăn thua đủ bất kể cha con gì cả. Cãi vã rùm beng. Chửi thề không ngớt.

Một hôm, gánh Năm Châu hát tuồng Lan và Điệp. Vừa hết cảnh Lan cắt đứt dây chuông rồi ngất xỉu. Điệp đau khổ. Người coi hát cảm thương vậy mà màn vừa bỏ xuống để thay cảnh thì cả Lan và Điệp chạy xuống sòng bài kéo dà dách hai lá. Lúc ông hòa thượng đang ca vọng cổ trên sân khấu thì Điệp kéo bài ăn gian sao đó,9 Cai luong 1 sẵn cái dĩa để kéo bài, Lan đập cho Điệp xụi tay.

Chừng ra sân khấu trở lại, theo bài bản, ông hòa thượng đưa áo cà sa cho Điệp mặc vào, nhưng Điệp đưa tay lên không được, hòa thượng phải giúp một tay. Rồi lúc Lan sắp chết, Điệp phải cổi áo cà sa ra thật mau để chạy đến ôm Lan vào lòng, nhưng vì tay bị xụi phải làm bộ xiểng niểng vì quá đau khổ, lùi ra sau cánh gà để nhờ chú tiểu Huệ Thông kéo ra giùm.

Khán giả cho rằng có lẻ kép nầy say rượu nên quên bài bản, hát quờ quạng chớ đâu có biết Lan đập cho Điệp vì kéo bài ăn gian. Vì thế, nên đa số đào kép lúc nào cũng mắc nợ. Hát bữa nào xào bữa nấy. Cũng vì lý do đó mà cô Bảy Phùng Há không cho con gái đến rạp hát.

ÔNG TỔ BẢN VỌNG CỔ LÀ CAO VĂN LẦU

Bản “Dạ Cổ Hoài Lang”

Bản Dạ Cổ Hoài Lang của ông Cao Văn Lầu được coi là nguồn gốc khai sanh ra những bản vọng cổ hiện nay của ngành cải lương. Dạ Cổ Hoài Lang có nghĩa là “Đêm khuya nghe tiếng trống nhớ chồng”.

1). Nguyên nhân ra đời : Ông Cao Văn Lầu thổ lộ với bạn: “Tôi đặt ra bản nầy bởi vì tôi rất thương vợ là Nguyễn Thị Tấn. Tôi đã ở với vợ suốt ba năm mà không có con. Theo tục lệ xưa “Tam niên vô tự bất thành thê”. Gia đình buộc tôi phải thôi vợ. Trả vợ về cha mẹ ruột, 9 Cai luong 5nhưng tôi không đành. Tôi âm thầm chống lại nghiêm lịnh của gia đình, đem vợ gởi cho một gia đình bên vợ. Trong một thời gian dài phu thê phải chịu cảnh “Đêm đông gối chiếc cô phòng”.

Ông Sáu Lầu mượn tiếng đàn để vơi cơn phiền muộn. Và bản Dạ Cổ Hoài Lang ra đời trong bối cảnh đó. Ông thường xuyên bí mật gặp gỡ vợ, và sau đó bà vợ có thai và hai người sống chính thức với nhau có 7 người con (5 trai, 2 gái)

2). Bản Dạ Cổ Hoài Lang : Bản Dạ Cổ Hoài Lang có 20 câu, mỗi câu trong bài có hai nhịp, gọi là nhịp đôi. Do nhu cầu phát triển, bản vọng cổ có từ 8 nhịp, 16 nhịp và hiện nay là 32 nhịp trong 6 câu. Thành ngữ “Rành sáu câu” bắt nguồn từ vọng cổ.

Nốt nhạc là: hò (la), xự (si), xang (re) xê (mi) cống (fa). Sau khi nói lối rồi xuống chữ “Xề” để bắt đầu ca vọng cổ. Khán giả thường vổ tay khen điệu mùi của chữ xề.

Soạn giả Viễn Châu là ông vua đặt bản vọng cổ. Út Trà Ôn được cho là ông vua ca vọng cổ.

Ông Cao Văn Lầu

Ông Cao Văn Lầu, thường gọi là Sáu Lầu (22-12-1892 – 13-8-1976), là tác giả bản Dạ Cổ Hoài Lang.  Gia đình gốc ở Long An, vì nghèo và bị áp bức nên xuống Bạc Liêu sinh sống. Năm 1908, ông Sáu Lầu mỗi đêm đến học đờn tại nhà thầy Hai Khỵ (Lê Tài Khí). Do yêu thích và siêng học, Cao Văn Lầu thành thạo các loại đờn : đờn kìm, đờn cò, đàn tranh, trống lễ, và trở thành nhạc sĩ nồng cốt trong ban cổ nhạc của thầy Tran Tan Quoc 2Hai Khỵ.

Năm 1912, Sáu Lầu bắt đầu đi hát với Sáu Thìn và cô Phấn với bài Tứ Đại Oán trong vở Bùi Kiệm Thi Rớt Trở Về Nhà.

Giải Thanh Tâm

1). Giải Thanh Tâm : Năm 1960, Ký giả Trần Tấn Quốc, người sáng lập Giải Thanh Tâm, thưởng huy chương vàng cho diễn viên cải lương xuất sắc trong năm. Ông là chủ nhiệm kiêm chủ bút nhật báo Tiếng Dội Miền Nam, tổ chức một cuộc trưng cầu ý kiến độc giả, bỏ phiếu bình chọn những diễn viên xuất sắc nhất của sân khấu cải lương.

Kết quả được công bố như sau :

1/- Đệ nhất danh ca vọng cổ: Út Trà Ôn.

2/- Đệ nhất nữ danh ca vọng cổ: Thanh Hương.

3/- Đệ nhất kép độc, lẳng: Hoàng Giang.

4/- Đệ nhất đào độc nữ: Như Ngọc.

9 Cai luong 62). Những biệt danh của đào kép cải lương : Vua vọng cổ: Út Trà Ôn. Nữ vương sầu mộng: Út Bạch Lan. Giọng ca vàng: Hữu Phước. Vua không ngai: Thành Được. Hoàng đế dĩa nhựa: Tấn Tài. Vua vọng cổ hài: Văn Hường. Nữ hoàng sân khấu: Thanh Nga. Giọng hát liêu trai: Mỹ Châu.Tiếng hát nhung lụa: Ngọc Giàu.

KÉP ĐC HOÀNG GIANG

Soạn giả Nguyễn Phương thuật lại câu chuyện về Hoàng Giang như sau. Trong vở Tôn Tẫn-Bàng Quyên, hai nhân vật đều là đệ tử của Quỷ Cốc Tử. Bàng Quyên độc ác, nham hiểm tìm cách hại Tôn Tẫn để đoạt binh thơ.

9 Cai luong 7Lần đó, Hoàng Giang thua bài cháy túi mà còn mắc nợ mấy ngàn đồng. Khi lên sân khấu, Hoàng Giang như kẻ mất hồn, hát xụi lơ như để trả nợ quỷ thần.

Ông bầu Trương Gia Kỳ Sanh của gánh Tiến Hóa đứng sau cánh gà thấy ngứa mắt, hò hét biểu hát cho xôm lên, cho nóng lên. Ông nói: “Bộ thằng Út nó là cha mầy sao mầy không dám đánh nó một bạt tai. Dù nó là tía ruột của mầy, mầy cũng phải đánh. Đánh đi! Đánh thật mạnh cho tao coi”.

Nghe ông bầu chửi, Hoàng Giang nổi sùng, khi nghe Mười Út hét lớn:”Dầu có giết ta, 9 Hoang Giangta cũng không chép binh thơ cho ngươi đâu!”. “Như vậy nhà ngươi phải chết! Phải chết!”. Nói xong Hoàng Giang xáng cho Út Trà Ôn một bạt tai nháng lửa. Mười Út xiểng niểng, ôm mặt chạy ra xa rồi xuống vọng cổ chữ “xề” mùi quá, khán giả vỗ tay như bể rạp.

Ông bầu khen Hoàng Giang: “Hôm nay mầy hát hây lắm”. Út Trà Ôn ôm mặt còn in dấu bàn tay đến xin xé contrat để đi gánh khác. Ông bầu và Hoàng Giang xin lỗi. Hoàng Giang phải quỳ trước bàn thờ tổ, hứa và cam kết không đánh bài nữa.

VAI H TRONG GÁNH CẢI LƯƠNG

Hề Văn Hường

Nội dung vở cải lương nào cũng  mang đầy đủ tính hỷ, nộ, ái, ố để thỏa mãn sở thích của khán giả. 9 Cai luong 3Vai chọc cười khán giả là một trong những vai quan trọng của gánh hát. Gánh nào cũng có đào, kép thủ vai hề cả. Chọc cười thiên hạ không phải là chuyện dễ. Những kép hề trên sân khấu nổi tiếng như Văn Hường, Văn Chung, Kim Quang, Thanh Việt, Thanh Hoài, Tùng Lâm, Xuân Phát, Khả Năng, Phi Thoàn… Nổi bật nhất là hề Văn Hường.

Văn Hường sinh tại xã Long Thạnh Mỹ, quận Thủ Đức được mệnh danh là vua vọng cổ hài vì có lối hát đặc biệt khác người, khó bắt chước được.

Soạn giả Viễn Châu đã viết 100 bản ca riêng cho Văn Hường hát. Các soạn giả Yên Ba, Quy Sắc cũng góp vào gần 100 bài nữa.

Hề râu Thanh Việt

Thanh Việt để hàm râu dê dưới càm nên được gọi là hề râu Thanh Việt. Năm 14 tuổi,9 Cai luong 8 Thanh Việt theo cha dượng là kép Tám Huê theo những gánh nhỏ hát dưới tỉnh. Thanh Việt đóng những vai quân hầu, lính chạy cờ hiệu, đầy tớ theo hầu, nịnh bợ ông chủ…

Vì hát cương nên thầy tuồng nhắc đến đâu thì hát đến đó. Vì không thuộc bài bản nên hát như người cà lăm, thế mà khán giả ở tỉnh lại thích anh hề bất đắc dĩ nầy.

Thanh Việt thành công trong một số vở tuồng, nhưng vì bị Việt Cộng chọi lựu đạn khi hát ở Miễu Quốc Công, tỉnh Vĩnh Long, nên gánh hát tan rả. Đào kép tứ tán.

Năm 1960, tại Đại Nhạc Hội Cù Léc, Tùng Lâm, Xuân Phát, Phi Thoàn, Khả Năng, Thanh Hoài, Thanh Việt được mệnh danh là Lục Hài Tướng.

Một hôm, bà Bầu Thơ của đoàn Thanh Minh-Thanh Nga nhờ Thanh Việt hát thế vai của hề Kim Quang, bị té xe Honda nằm nhà thương Chợ Rẫy. Sau đó, Thanh Việt được ký hợp đồng hát cho đoàn Thanh Minh – Thanh Nga, chính thức gia nhập ngành cải lương.

QK Tung Lam 2Ngoài cải lương còn tham gia đóng phim với tiền lương cao nhất. Thanh Việt mua nhà ở Phú Nhuận, mua xe hơi mới. Đời sống huy hoàng.

Sau năm Mậu Thân 1968, các nghệ sĩ gia nhập quân đội như : Thành Được, Hùng Cường, Thanh Tú, Diệp Lang, Thanh Việt, Khả Năng, Phi Thoàn…

Sau năm 1975, Khả Năng bị tù 6 năm. Phi Thoàn lách vào ban văn nghệ của Bến xe Xa cảng Miền Tây, và những người khác núp bóng trong các đoàn văn công của nhà nước ở Hậu Giang. Thanh Việt hát cho đoàn văn công Huyện Cầu Ngang. Lãnh 10 đồng mỗi suất hát. Không đủ tiền nuôi vợ con.

Vợ anh dẫn con đi vượt biên. Chết ngoài khơi. Ban ngày anh chọc cho thiên hạ cười, tối về nhớ vợ nhớ con, nhớ hoàn cảnh bi đát của mình nên khóc thầm thâu đêm.

SỰ HỦY DIỆT MÔN CẢI LƯƠNG

Nền nghệ thuật sân khấu cải lương hiện nay đang ngất ngư, dở sống dở chết bởi những lý do như sau. 9 SG Vien Chau 4Trước hết, phim bộ Hồng Kông, Hàn Quốc và cả Việt Nam, đã góp phần tạo ra sự rơi rụng khán giả của cải lương. Kế đến, việc quốc doanh các đoàn cải lương đã góp phần đưa bộ môn nghệ thuật nầy trên đà xuống dốc, đến tự hủy diệt.

Đào kép cải lương trở thành công chức biên chế nhà nước được hưởng lương như công chức, cán bộ. Trước kia đào kép chánh ký hợp đồng tiền lương cao, ngày nay đào kép xuất sắc được phong tặng Nghệ sĩ Ưu Tú, Nghệ sĩ Nhân dân. Xuất sắc hơn nữa thì được kết nạp vào Đảng.

Về nhạc vọng cổ.

Những soạn giả nổi tiếng trước 1975 như Viễn Châu, Nguyễn Phương, Hà Triều, Hoa Phượng, Hoàng Khâm, Quy Sắc… không có người thừa kế. 9 SG Vien Chau 2Tài năng của soạn giả là đặt ra những bản vọng cổ cho các vai trong vở tuồng hát. Như vậy, mỗi vở có hơn một chục bản vọng cổ.

Thế hệ trẻ ngày nay rất ít có người sáng tác vọng cổ và cũng ít có người biết thưởng thức vọng cổ. Những nghệ sĩ cải lương nổi tiếng một thời, nay đã lùi vể quá khứ. Trở thành một kỷ niệm. Vang bóng một thời.

Vài thế hệ sau, những nghệ sĩ sân khấu cải lương, vang bóng một thời, sẽ trở nên hoàn toàn xa lạ mỗi khi được nhắc đến. (theo Trúc Giang – Minnesota ngày 21-6-2016)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

Logo van de

9 Thieu lam 1VÕ SƯ THIẾU LÂM DẠY VÕ

CHO CÁC CÔ GÁI HỞ HANG

Hình ảnh những cô gái mặc trang phục khá… gợi cảm, luyện tập võ thuật với các võ sư đến từ ngôi chùa cổ nổi tiếng của Trung Quốc đã khiến truyền thông và dư luận nước này không khỏi xôn xao. Võ sư Thiếu Lâm Tự dạy võ cho các cô gái mặc… bikini

Một điểm đến du lịch sông nước nằm ở tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc đã vừa thành lập một đội những nữ “nhân viên cứu hộ” xinh đẹp và gợi cảm, để bao đảm sẵn sàng ung phó mọi bất trắc xảy ra đối với sự an toàn của du khách.

Để trở thành một thành viên trong biệt đội “Nữ thần cứu hộ” làm việc trong khu du lịch sông nước Cổ Long Hiệp nằm ở miền Nam Trung Quốc, các nữ nhân viên nay phải mặc trang phục đồ bơi (trang phục thường ngày khi làm việc của họ) và sẵn sàng “đương đầu” với các võ sư đến từ… Thiếu Lâm Tự. Nếu vượt qua bài kiểm tra này, họ mới được thuê vào làm việc.

Những bức ảnh xuất hiện trên mạng xã hội Trung Quốc cho thấy một đội gồm những cô gái muốn được tham gia vào nhóm “Nữ thần cứu hộ” đang luyện tập những kỹ năng võ thuật cùng nhiều bài tập thể lực khác với các võ sư đến từ Thiếu Lâm Tự.

Hình ảnh những cô gái mặc trang phục khá… gợi cảm, luyện tập với các võ sư đến từ ngôi chùa cổ nổi tiếng của Trung Quốc đã khiến truyền thông và dư luận nước này 9 Thieu lam 2không khỏi xôn xao.

H1: Một cô gái đang luyện tập võ công với một võ sư Thiếu Lâm trước khi trải qua bài thi sát hạch để xem có đủ điều kiện trở thành “Nữ thần cứu hộ” hay không.

H2: Hơn 30 cô gái đã tham gia vào khóa huấn luyện của khu du lịch Cổ Long Hiệp nằm ở miền Nam Trung Quốc. Hình ảnh những cô gái trong trang phục gợi cảm luyện tập võ thuật trên dòng suối với các võ sư Thiếu Lâm đã gây xôn xao dư luận Trung Quốc.

H3: Các cô gái này sẽ phải luyện tập võ thuật và những bài tập thể lực dưới sự hướng dẫn của các võ sư. H4: Các cô gái này mặc trang phục đồ bơi trong lúc luyện tập bởi đây cũng chính là trang phục thường ngày trong giờ làm việc của họ nếu được tuyển dụng.

H5: Một bài tập thể lực đối với những cô gái muốn trở thành “Nữ thần cứu hộ”. H6: Những hình ảnh gây xôn xao truyền thông và dư luận Trung Quốc.

9 Thieu lam 3

H7: Một võ sư trẻ được cử đến từ Thiếu Lâm Tự để giúp các cô gái luyện tập võ công trước khi trải qua bài thi sát hạch. H8: Quang cảnh một buổi luyện tập của các thầy trò. H9: Những buổi luyện tập vất vả trước kỳ thi sát hạch.

Thiếu Lâm Tự giờ đã bị “thương mại hóa”?

Trong lịch sử tồn tại của Thiếu Lâm Tự, trong hơn hai thập kỷ trở lại đây, ngôi chùa vốn sản sinh ra môn võ Thiếu Lâm đã dần trở thành một “đế chế võ thuật mang đầy tính thương mại”. Sự chuyển mình này của Thiếu Lâm Tự vốn vẫn luôn gây tranh cãi, người cho rằng đây là việc làm có công, cũng có người cho rằng có tội, chưa thể phân xử rõ ràng.9 Thieu lam 4

Từ lâu, Thiếu Lâm Tự vốn đã trở nên nổi tiếng với người yêu phim võ thuật trên khắp thế giới với những bộ phim làm về các đệ tử Thiếu Lâm, sử dụng bối cảnh Thiếu Lâm Tự, như “Thiếu Lâm ngũ tổ” (1974), “Thiếu Lâm tam thập lục phòng” (1978), “Thiếu Lâm thập tam côn tăng” (1980), “Thiếu Lâm Tự” (1982), “Đội bóng Thiếu Lâm” (2001)…

Giới tu hành và cả dư luận Trung Quốc vốn vẫn luôn tranh cãi về việc ngôi chùa cổ và môn võ Thiếu Lâm đã và đang trở thành “món hàng thương mại”, trong khi đó người tu hành vốn được cho là phải tránh xa “tham, sân, si”.

Tuy vậy, giờ đây, cái tên Thiếu Lâm Tự đã thường xuyên được đặt bên cạnh những chiến dịch PR, quảng cáo, để tăng thêm sức hút cho các sự kiện, thương hiệu.

Thiếu Lâm Tự được xây dựng từ cuối thế kỷ 5, những người trụ trì ngôi chùa này trước đây đều phản đối kịch liệt việc thương mại hóa ngôi chùa và môn võ Thiếu Lâm với niềm tin rằng đây là cách tốt nhất để bảo tồn những giá trị di sản của Thiếu Lâm Tự, cũng như giáo lý của họ. Nhưng giờ đây, điều này đã thay đổi, gây nên nhiều tranh cãi.

Vo hiepGiờ đây, Thiếu Lâm Tự không chỉ nổi tiếng về võ thuật mà còn nổi tiếng là ngôi chùa tham gia đủ loại hình kinh doanh, từ đóng quảng cáo cho tới trình diễn võ thuật trong các tour lưu diễn, mở trường dạy võ thu học phí… Và như trên đây, họ còn sẵn sàng cử võ sư tới tham gia những khóa đào tạo huấn luyện rất thu hút sự quan tâm của dư luận như thế này.

Tất cả những người phản đối hướng đi này đều cho rằng một ngôi chùa thì không nên điều hành theo kiểu một doanh nghiệp, bởi chùa chiền đã được mặc định là nơi chốn của tâm linh, thanh tịnh, tránh xa mọi thị phi, bon chen thường thấy ngoài cuộc đời. Việc nhà sư, chùa chiền cũng tham gia kinh doanh, thu lợi là đi ngược lại quan niệm truyền thống. (theo Bích Ngọc tổng hợp)

Yên Huỳnh chuyển tiếp