CON GÁI NHA MÂN (2)

VỀ MIỀN GÁI ĐẸP

BẬC NHẤT MIỆT CỬU LONG

– Tiếp theo và hết

Huyền thoại về miền gái đẹp 

Ông Tám Khai nói rằng, từ lúc còn nhỏ ông đã nghe ông cố, ông sơ kể lại, tương truyền vào tháng 7/1784, mượn cớ giúp chúa Nguyễn Ánh (vua Gia Long sau này) chống lại nhà Tây Sơn, khoảng 50.000 quân Xiêm và hơn 300 chiến thuyền do các danh tướng Chiêu Tăng, Chiêu Sương, Sa Uyển, Chiêu Chuỳ Biện chỉ huy cùng 4.000 quân của chúa Nguyễn Ánh theo hai đường thuỷ, bộ tiến vào địa phận Kiên Giang.

Đến cuối năm 1784, liên quân Xiêm – Nguyễn chiếm được một số vùng đất ở phía Tây thành Gia Định, đóng quân ở vùng Trà Tân (nay có lẽ là vùng Hòa Khánh thuộc huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang) để dự trữ lương thảo, vật lực chuẩn bị đánh thành Mỹ Tho và Gia Định.

Khi hay tin liên quân Xiêm – Nguyễn uy hiếp thành Mỹ Tho, Gia Định, tháng 1/1785, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ đưa 20.000 quân thuỷ, bộ từ Quy Nhơn hành quân cấp tốc vào Gia Định. Sau khi xem xét tình hình, Nguyễn Huệ không chủ trương phòng thủ thành Gia Định đang bị uy hiếp, tức tốc đưa quân xuôi xuống thành Mỹ Tho quyết chiến với quân Xiêm.

Trong những ngày đầu, Nguyễn Huệ dùng lực lượng nhỏ thăm dò, nghi binh, cử người mang của cải cầu hoà với Chiêu Tăng nhằm tạo sự chủ quan, gây chia rẽ nội bộ và dụ liên quân Xiêm – Nguyễn sớm tiến đánh Mỹ Tho. Sau khi điều nghiên địa hình, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ quyết định chọn đoạn sông Tiền từ Rạch Gầm đến Xoài Mút dài khoảng 6-7 km (nay thuộc địa phận huyện Châu Thành, Tiền Giang) làm nơi quyết chiến với liên quân Xiêm – Nguyễn.

Rạng sáng ngày 19/1/1785, từ Trà Tân, Chiêu Tăng chỉ huy toàn bộ lực lượng hành quân xuôi về hạ lưu sông Tiền, đẩy quân Nguyễn đi trước, tiến đánh thành Mỹ Tho. Khi hầu hết thuyền quân Xiêm – Nguyễn lọt vào trận địa phục kích tại Rạch Gầm – Xoài Mút, quân Tây Sơn dùng pháo đặt trên thuyền, trên bờ và cù lao Thới Sơn bắn áp đảo, đồng thời thuỷ binh từ các nhánh sông tiến ra và từ Mỹ Tho kéo lên chặn đầu, khoá đuôi, đánh tạt sườn.

Bộ binh Tây Sơn đón lõng diệt tàn quân trốn chạy trên bờ. Kết quả là toàn bộ mấy trăm chiến thuyền và phần lớn liên quân Xiêm – Nguyễn bị diệt. Chiêu Tăng, Chiêu Sương cùng vài nghìn quân sống sót mở đường máu rút về Xiêm.

Lúc đó chúa Nguyễn Ánh ở phía sau, nghe tàn quân hớt hãi quay lui báo hung tin thất trận, vội quay thuyền lại đưa toàn bộ bầu đoàn thê tử chạy theo sông Tiền tìm đường trốn sang Xiêm. Trên đường tháo thân, vì bị quân Tây Sơn truy đuổi gắt gao, người đông, thuyền nặng nên các cận thần, quan lại khuyên chúa Nguyễn Ánh cần phải làm cho thuyền nhẹ bớt.

Không còn cách nào khác, chúa Nguyễn Ánh đã gạt nước mắt, bấm bụng bỏ lại hàng trăm cung tần mỹ nữ dọc đường, cho lên tá túc ở các làng bên bờ sông Tiền, nay thuộc Nha Mân (Châu Thành, Đồng Tháp) và Mỹ Luông (Chợ Mới, An Giang) cho “nhẹ gánh loạn ly”.

Những mỹ nhân bị rơi rớt trôi dạt sau đó lấy chồng là người địa phương, sinh con đẻ cái đều là “nam đồng, ngọc nữ”. Chính nhờ nguồn gen cung phi mỹ nữ từ thời xa xưa lưu truyền đến nay, xứ Nha Mân mới có nhiều thiếu nữ đẹp.

Trong khi đó nhóm cung phi mỹ nữ dạt vào cù lao Ông Chưởng (Chợ Mới, An Giang) cũng lấy chồng, sinh con đẻ cái, cũng tạo được một “miền gái đẹp” nhưng không nổi tiếng bằng con gái Nha Mân. Theo ông Tám Khai, từ xưa đến nay người đẹp xứ Nha Mân đếm không kể xiết, nghe đồn trước đây các vua xứ Cao Miên còn chịu khó xuôi dòng sông Tiền sang tận Nha Mân để chọn vợ.

Nhắc những người đẹp thời xa xưa ở làng Nha Mân, ông Tám Khai kể vanh vách: ông Quản Y có ba người con gái đẹp nức tiếng Nam Kỳ.. Ông Quản Chức có chị Tám Ngự, chị Mười Xinh. Hai đứa con gái thứ 11, 13 của ông chủ Trọng cũng là người đẹp vang danh một thời. Thầy giáo Chữ cũng có con gái đẹp.

Chị Bảy Nhẫy, cô Tư Nga là những người đẹp nhìn không chán mắt. Trong vùng còn có anh Hai Rít lai Tây, đẻ ra cô Ba Xê đẹp chim sa cá lặn vì phối hợp được nết đẹp Tây với vẻ đẹp cung đình Việt Nam. Hồi cô Ba Xê chết, đã 70 tuổi mà nhìn cũng còn đẹp lão. Ông  Tám Khai kể, hồi xưa cứ Tết đến, đám trai làng rất khoái đi chợ tết để “rửa mắt” vì trong chợ toàn là đàn bà con gái đẹp… “não nùng”.

Ông Tám Khai khẳng định, đàn bà ở Nha Mân đẻ mười đứa con gái thì hết chín đứa là người đẹp, đứa còn lại cũng bậc trên trung bình, và không ở đâu những ngày Tết lại vui bằng Tết ở Nha Mân. Trong những ngày xuân, trên những con đường dọc theo các bờ kênh, bờ rạch lúc nào cũng nườm nượp đàn bà con gái đẹp quần là áo lượt muôn màu sắc ngược xuôi, kẻ vào trong ngọn, người ra ngoài vàm thăm viếng thân nhân, bạn bè, nhìn không chán mắt.

Ly kỳ những phận hồng nhan 

Buổi sáng ngồi nhâm nhi cà phê trong các quán xá quanh chợ Nha Mân, cái nôi của những người đẹp miệt vườn, có thể nghe hàng trăm câu chuyện về những người đẹp Nha Mân. Ông Tám Khai, ông thường có thói quen uống cá phê từ sáng sớm ở các quán quanh chợ Nha Mân, vừa ngồi nhâm nhi ly cà phê vừa nhìn ngắm các bà, các cô đi chợ sớm, tất bật bán mua nhưng vành nón lá vẫn không che hết được vẻ đẹp mặn mòi, duyên dáng.

Lâu dần, ngồi quán uống cà phê ngắm những người đàn bà đẹp trở thành một thói quen kỳ thú, bất di bất dịch của đám đàn ông con trai xứ Nha Mân. Những bậc trưởng thượng ở xứ Nha Mân thường nói, con gái Nha Mân xinh đẹp chim sa cá lặn là niềm hãnh diện của làng xóm, nhưng đó cũng là bi kịch cho không ít người.

Một trong những bi kịch ở “miền nhan sắc” này được bàn tán nhiều nhất mà ông Tám Khai còn nhớ rõ đến giờ là chuyện ăn ở bất nhân thất đức, quả báo nhãn tiền đối với ông bầu gánh hát Quốc Bửu Bang. Chuyện kể rằng, hồi xưa gánh hát Quốc Bửu Bang là một trong những gánh hát nổi tiếng của miền Tây Nam Bộ.

Trong gánh hát này, có rất nhiều đào tơ xinh đẹp mơn mởn, nhưng không có nhan sắc của cô đào nào có thể sánh với nét đẹp chim sa cá lặn của vợ ông thầy tuồng, là người chuyên viết kịch bản cho đoàn hát diễn, dù cô vợ ông thầy tuồng chỉ đơn thuần làm việc nội trợ, không biết hát hò. Sở dĩ cô vợ của ông thầy tuồng có sắc đẹp ăn đứt các cô đào của gánh hát Quốc Bửu Bang chỉ vì một điều đơn giản: cô ta là con gái Nha Mân chính gốc.

Ông thầy tuồng giấu vợ ở nhà, không dám cho đi theo đoàn hát vì biết rõ tính háo sắc, hoang dâm vô độ của ông chủ gánh Quốc Bửu Bang. Ông thầy tuồng cũng không bao giờ dám mời ông chủ gánh hát đến nhà và cũng chưa bao giờ dám tiết lộ nơi ở của mình cho ông chủ gánh hát biết. Nhưng trong một lần ông thầy tuồng lâm bệnh kéo dài, gánh hát không còn tuồng mới để hát, túng thế, ông chủ gánh hát phải dò hỏi khắp nơi và tìm được nhà ông thầy tuồng.

Ban đầu, ông chủ gánh hát Quốc Bửu Bang chỉ định đến nhà ông thầy tuồng để thăm bệnh và lấy vở mới đem về cho đoàn hát diễn. Nhưng khi bước vào nhà, vừa nhìn thấy nhan sắc của cô vợ ông thầy tuồng, ông chủ gánh hát Quốc Bửu Bang hồn xiêu phách lạc, hai con mắt nhìn người đẹp thiếu điều… rớt xuống đất.

Máu háo sắc bốc lên phừng phừng, từ đó ông chủ gánh hát Quốc Bửu Bang càng ngày càng chăm lui tới nhà của ông thầy tuồng, ban đầu còn e dè nhìn ngắm lén lút cô vợ, nhưng càng về sau ông chủ gánh hát càng công khai, không thèm giấu diếm chuyện ông ta đang chết mê chết mệt nhan sắc của cô vợ thầy tuồng, và tuyên bố trước sau gì ông ta cũng sẽ tìm cách chiếm đoạt cho bằng được mỹ nhân.

Làng xóm, người đời dị nghị cười chê, ông chủ gánh hát mặc kệ. Vợ con ghen tuông chửi mắng om sòm, ông chủ gánh hát bỏ ngoài tai. Trong lòng chủ gánh hát bây giờ không còn gì quan trọng bằng việc phải tìm mọi mưu ma chước quỷ để chiếm đoạt cho bằng được cô  vợ mỹ miều của ông thầy tuồng.

Ông thầy tuồng thấy sự tình như vậy, nhiều lần năn nỉ, lạy lục van xin ông chủ gánh hát buông tha cho vợ chồng ông, tha cho cái gia đình nhỏ của ông, nhưng lão chủ gánh hát tham lam háo sắc và bất nhân không thèm đếm xỉa, càng ngày càng túc trực ở nhà ông thầy tuồng, hoặc tìm mọi cách đón đường cô vợ xinh đẹp của thầy tuồng để giở trò ghẹo nguyệt trêu hoa, tìm cách cưỡng bức mỹ nhân. Ông thầy tuồng đã vài lần dời nhà để tránh chủ gánh hát, nhưng không biết bằng cách nào, lão chủ gánh hát háo sắc lại tìm được, mò tới.

Làm đủ mọi cách cũng không thể tránh khỏi chủ gánh hát, một ngày mưa tầm tã ông thầy tuồng phẫn chí lấy dao mổ bụng tự sát, còn cô vợ xinh đẹp của ông cũng biến mất tăm, không ai biết cô ta đi tu hay đã nhảy xuống sông Tiền tự tử chết theo ông thầy tuồng. Nhưng khi câu chuyện bi thảm của vợ chồng ông thầy tuồng vẫn còn nóng hổi, làng xóm vẫn còn bàn tán râm ran thì gánh hát Quốc Bửu Bang đột nhiên lụi bại, tan rã.

Mấy cụ cao niên ở xứ Nha Mân nói rằng, từ khi ông thầy tuồng chết, gánh hát Quốc Bửu Bang không còn người viết tuồng mới nên cứ đem tuồng cũ ra diễn tới diễn lui nên ai cũng chán, chẳng ai thèm coi hát nữa, khiến gánh hát ngày càng lụi bại. Nhưng ở góc độ tâm linh, có nhiều người cho rằng gánh hát Quốc Bửu Bang tan rã là do trời quả báo, trời cao có mắt, nhìn thấy dã tâm cướp đoạt vợ người khác một cách bất nhân của ông chủ gánh hát Quốc Bửu Bang nên đã khiến cho gánh này suy tàn.

Từ ngày gánh hát tan rã, ông chủ gánh Quốc Bửu Bang từ chỗ giàu có vô song trở thành kẻ sạt nghiệp, trắng tay, vợ con của lão cũng chẳng thèm nhòm ngó, nên cuối cùng lão phải quay về ngồi lay lắt ngoài rìa chợ Nha Mân ăn xin. Nhưng khi nhìn thấy sự suy sụp của lão chủ gánh hát háo sắc, người ta chẳng những không thương hại cho tiền, mà còn đem chuyện ông ta hại chết ông thầy tuồng, làm gia đình người khác tan nhà nát cửa, để phỉ nhổ, thóa mạ thậm tệ.

Cuối cùng ông chủ gánh hát bất nhân bất nghĩa phải lâm vào cảnh chết không có hòm chôn, chỉ được người đời thương tình bố thí cho manh chiếu rách đem vùi thân ở bãi tha ma.

Câu chuyện về người đẹp Nha Mân được nhiều người biết và truyền tụng nhất, chính là chuyện về cô Hai Hiên. Ông Tám Khai nói, các bậc bô lão ngày xưa kể rằng, hơn 150 năm trước, vợ chồng ông Phạm Văn Cần, làm ăn sinh sống ở khu vực vàm sông Nha Mân, lúc bấy giờ thuộc làng Phú Nhuận, tổng An Mỹ, Sa Đéc, sinh được một người con gái đặt tên là Phạm Thị Liên, nhưng trong gia đình thân tộc và bà con lối xóm thường gọi là Hai Hiên.

Cô Hai Hiên là con gái duy nhất của ông bà Cần, từ nhỏ đã xinh đẹp mỹ miều nổi tiếng trong vùng. Đã có nhiều đám ngấp nghé, mai mối muốn kết tình thông gia với ông bà Cần, hỏi cưới cô Hai Hiên về làm dâu, nhưng ông bà Cần chưa kịp chọn ai thì đột ngột cô Hai Hiên qua đời.

Cái chết của cô Hai Hiên làm cho người cha hết sức buồn đau, khóc hết nước mắt thương tiếc và không giấu được sự oán hận trời xanh không công bằng. Hết than khóc đến trách trời xanh không có mắt mà cô Hai Hiên vẫn không thể sống lại, ông Cần phẫn chí quay sang trách móc Quan Thánh Đế Quân (Quan Công, Quan Vân Trường). Từ lâu trong nhà ông Cần luôn có bàn thờ và bức tượng Quan Công, biểu trưng cho lòng trung cang nghĩa khí.

Khi cô Hai Hiên lâm bệnh chết khi tuổi đời còn quá trẻ, ông Cần cho rằng ngài Quan Công đáng lý ra phải soi xét công minh, không thể để ông phải mất đi đứa con gái mà ông yêu quý nhất trên đời. Nhưng đức Quan Thánh Đế Quân không công bằng nên đã khiến ông Cần phải lâm vào cảnh mất đứa con gái độc nhất mà vợ chồng ông vô cùng yêu quý, khiến vợ chồng ông phải chịu cảnh “tre khóc măng, cha mẹ già khóc con trẻ bạc phận”. Càng đau thương, oán trách, ông Cần càng như phát điên.

Trong cơn nóng giận, ông Cần nghĩ rằng ngài Quan Công dứt khoát phải được chôn theo con ông để còn phân giải, đối chất khi Diêm vương phán xét. Nghĩ như vậy nên khi chuẩn bị khâm liệm cô Hai Hiên, ông Cần không ngần ngại lấy ngay bức tượng Quan Công đắp lên thi hài cô Hai Hiên và đóng nắp hòm lại.

Sự việc này đã gây kinh động cả xứ Nha Mân lúc bấy giờ, bởi xưa kia người dân Nha Mân có tín ngưỡng thờ phụng Quan Thánh Đế Quân. Chính vì vậy mà hành động chôn tượng Quan Thánh Đế Quân theo thi hài cô Hai Hiên của ông Cần làm kinh động người dân bản xứ.

Không biết ngài Quan Công có phần trần gì với Diêm Vương ở chốn âm ty địa ngục hay không, nhưng sau khi an táng cô Hai Hiên được ba ngày, nhiều người dân xứ Nha Mân tận mất nhìn thấy cô hiển linh, hiện về thăm cha mẹ và giúp đỡ dân nghèo, những người bệnh tật. Đến lúc này thì xứ Nha Mân lại lan truyền tin đồn, cô Hai Hiên được Quan Thánh Đế Quân phù trợ nên không phải về chầu Diêm Vương, sống lây lất trong cõi u minh mà hóa thành cốt linh của người con gái đồng trinh, ngày ngày hiển linh giúp đỡ mọi người.

Nhiều người dân xứ Nha Mân nói, cô Hai Hiên trở nên hiển linh là vì cô, người con gái đồng trinh, chết nhằm giờ thiêng và có bức tượng Quan Thánh Đế Quân được chôn theo.. Cô Hai Hiên chết đi nhưng vẫn hiển hiện trên đời, do cô còn rất trẻ, đang tràn đầy nhựa sống. Những người rành chuyện cô Hai Hiên ở xứ Nha Mân kể rằng, chỉ ba hôm sau khi chôn cất, cô Hai Hiên trở về để thăm cha mẹ.

Người ta kể, cô Hai Hiên hiển hiện khắp nơi, trong đó có câu chuyện kỳ thú về việc cô quá giang ghe bầu của những người buôn bán ra thăm xứ Huế, vì khi còn sống cô Hai Hiên có ước nguyện được thăm kinh thành Huế, nguồn cội của những cung tần mỹ nữ do loạn ly đã phải lưu lạc tận xứ Nha Mân.

Lần đó, đoàn ghe bầu chở hàng hóa ra Huế khi đi trên sông Tiền ngang qua xứ Nha Mân thì có một người con gái xinh đẹp gọi lại xin quá giang về Huế thăm lại quê xưa. Dù không biết cô gái là ai nhưng những chủ ghe tốt bụng hô phu chèo ghé vào bến, cho cô gái  quá giang. Trên đường theo ghe bầu vượt biển ra Huế, suốt nhiều tháng trời, nhiều lần cô Hai Hiên ngấm ngầm trợ giúp những người đi thuyền có lòng tốt vượt qua phong ba bão dữ, nhưng cũng không ai hay biết.

Ra đến Huế, sau khi thăm thú các nơi, cô Hai Hiên gửi về cho cha mẹ ở quê nhà Nha Mân một cây quế và nhánh bưởi Thanh Trà, đặc sản của xứ Huế, nhờ các chủ ghe khi đi ngang qua Nha Mân thì chuyển cho ông bà Cần. Khi đoàn ghe bầu về ngang qua xứ Nha Mân, ghé lại tìm nhà ông bà Cần để đưa cây quế và nhánh bưởi của cô Hai Hiên gửi tặng, mọi người mới tá hỏa khi được ông bà Cần cho hay cô Hai Hiên chết đã lâu và hai ông bà già còn dẫn họ ra thăm mộ cô Hai để chứng minh.

Đến khi người dân trong xứ Nha Mân hay tin, đến xem và kể cho các chủ ghe bầu những việc hiển linh giúp đời, giúp người của cô Hai Hiên và qua miêu tả của dân làng, những chủ ghe bầu mới biết chính cô Hai Hiên đã hiển linh đi cùng họ trong suốt nhiều tháng trời từ Nam ra Huế.

Ông Tám Khai nói, theo lời ông bà xưa kể lại thì cây quế và nhánh bưởi Thanh Trà của cô Hai Hiên trồng trong vườn nhà ông bà Cần rất tươi tốt. Cây bưởi năm nào cũng trĩu quả và được ông bà Cần chia cho dân làng Nha Mân cùng ăn lấy thảo, còn cây quế thì được dùng làm thuốc để chữa bệnh cho dân làng.

Nhưng đến đầu năm 1946, khi quân Pháp quay lại Cái Tàu Hạ, Nha Mân, cây quế và cây bưởi Thanh Trà của Cô Hai Hiên gửi cho cha mẹ đã bị giặc Pháp ra tay đốn hạ. Vì vậy mà hiện nay ở xứ Nha Mân vẫn còn lưu truyền câu ca : “Thương thay cây quế vườn Nha, thù giặc Pháp, ghét gian tà đốn đi”. Ông Tám Khai nói, sau nhiều lần cô Hai Hiên hiển linh giúp đời, giúp người, nhiều nhà lập bàn thờ cô Hai để thờ phụng nhang khói, nhiều xóm ấp xây miếu thờ cô và cô Hai Hiên đã trở thành một tín ngưỡng dân gian.

Ở Chùa Tây An dưới chân Núi Sam, Châu Đốc, tỉnh An Giang, trong điện thờ Phật có đặt ban thờ Cửu Thiên Huyền Nữ, Bà Chúa Ngọc, Bà Chúa Tiên và cả Cô Hai Hiên mà nhiều người quen gọi là bàn thờ Phật Cô Hai. Hàng năm, vào ngày 25 tháng 8 Âm lịch, người dân xứ Nha Mân thường tổ chức trọng thể Ngày vía Cô để cúng bái cô Hai Hiên, cầu mong cô phù hộ cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt.
Ông Tám Khai kể, trong ngày vía Cô Hai Hiên, những ông già bà cả thường hay kể cho đám con cháu hậu sinh nghe nhiều chuyện ly kỳ về việc cô Hai Hiên hiển linh giúp đời, giúp người.

Nhưng ngày nay “miền gái đẹp” Nha Mân đang có nhiều thay đổi. Ông Tám Khai dẫn tôi ra chợ Nha Mân, nơi được xem là chiếc nôi của “miền gái đẹp”. Chợ vẫn náo nhiệt, nhưng khó tìm đâu ra một bông hoa đặc sắc tiêu biểu cho “miền gái đẹp”, thiếu nữ 18 tuổi đến 25 đẹp rực rỡ càng khó, dù trong nhiều cuộc thi nhan sắc, con gái Nha Mân từng đoạt các giải thưởng lớn.

Ông Tám Khai nói, giống như nhiều vùng quê ở miền Tây, do cuộc sống khó khăn quá nên các cô gái xinh đẹp đã rủ nhau lên Sài Gòn mưu sinh. Những năm gần đây tiếng đồn gái Nha Mân đẹp người, tốt nết đã lan ra khỏi biên giới Việt Nam và nhờ miệng lưỡi dẻo quẹo của đám mai mối lấy chồng nước ngoài mà rất nhiều gái đẹp xứ Nha Mân đã lên máy bay, về làm dâu xứ Đài Loan, Hàn Quốc, để lại nỗi buồn da diết trong lòng đám trai làng dọc theo bờ rạch Nha Mân. Ông Tám Khai bùi ngùi nói, cứ đà nay, không khéo vài năm nữa “miền gái đẹp” Nha Mân sẽ không còn gái đẹp.

Về miền đất “sắc” 

Cách Sài Gòn 130 km, xã Tân Nhuận Đông, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp được mệnh danh là “cái nôi của nét đẹp cung tần mỹ nữ”. Anh Huỳnh Hoàng Quân, Trưởng ấp Tân Lập, xã Tân Nhuận Đông dắt chúng tôi đi gặp các mỹ nhân từng vang bóng một thời.

Dù bước sang cái tuổi xế chiều, nhưng nét đẹp vẫn còn in đậm trên khuôn mặt của cụ Phạm Thị Cám, 94 tuổi. Cụ nhớ lại: “Lúc nhỏ được ba mẹ nhiều lần kể về sự kiện năm 1785, Nguyễn Huệ cầm quân Tây Sơn đánh tan quân Xiêm liên minh với Nguyễn Ánh trên sông Rạch Gầm-Xoài Mút. Trước khi tháo chạy ra đảo Phú Quốc, Nguyễn Ánh đã bỏ lại hàng trăm cung tần mỹ nữ. Sau đó, các cung phi sắc nước nghiêng thành này đã lấy các chàng trai ở đất Nha Mân. Chính vì vậy, con gái Nha Mân tuy xuất thân từ nông dân nhưng rất đẹp. Đầu thế kỉ 20, nghe danh gái Nha Mân, vua Cao Miên cũng tìm sang kiếm vợ”. Cụ Huỳnh Thị Sáu, 84 tuổi, cũng là một trong những mỹ nhân ở vùng đất Nha Mân một thời. Cuộc sống của cụ gặp nhiều trắc trở.

Hồi ở cái tuổi đôi mươi, rất nhiều người khá giả đến dạm hỏi nhưng cụ nhất quyết không chịu. Cuối cùng, cụ chọn người đàn ông “chân lấm tay bùn” xuất thân như mình. Nhưng đến cái tuổi hồi xuân rạo rực, cụ phải gánh chịu nỗi đau mất chồng. “Chịu tang ổng mới có vài tháng là có nhiều người giàu đến dạm hỏi, nhưng tui từ chối hết để giữ son sắt với chồng. Lúc chưa có gia đình, ba mẹ răn dạy lễ nghĩa “công dung ngôn hạnh” của người con gái ở xứ Đồng Tháp Mười này kỷ lắm nên tui không dám làm trái”.

Anh Quân dắt chúng tôi đi khắp ấp để tìm các cô gái Nha Mân ở tuổi đôi mươi với chiếc áo bà ba truyền thống. Nhưng đi tới đâu người dân cũng lắc đầu nói : “Không có ai nữa đâu mà kiếm, tụi trẻ cưới chồng Đài Loan, Hàn Quốc và đi lên Sài Gòn hết rồi. Còn chiếc áo bà ba tụi nó chê quê mùa có mặc nữa đâu”.

Cái đẹp tàn phai

Bà Nguyễn Thị Lan, 61 tuổi, ngụ ấp Tân Lập nói: “Tôi không hiểu lũ trẻ lên Sài Gòn làm gì trên đó, nhưng mỗi khi về quê là chúng nó ăn mặc, đi đứng đều thay đổi. Nói chuyện với ai cũng chê là “đồ hai lúa quê mùa”. Những ngày Lễ, Tết, khu Nha Mân như trở thành nơi trình diễn thời trang “thiếu áo, thiếu quần” rất kỳ quái. Cái nết, cái bảnh đã bị lớp trẻ làm mai một rồi. Chiếc áo bà ba tụi nó chê là lạc hậu, nghĩ mà xót xa”.

Từ ngày phong trào lấy chồng Đài Loan, Hàn Quốc lan về đã làm cho xứ Nha Mân loạn nhịp. Nhiều năm qua, “cò” luôn lùng sục từng nhà để tìm các cô gái trẻ có nhan sắc. Nhiều lần những người môi giới đem 30 triệu đồng đến năn nỉ bà Lan gả con gái cho một người Đài Loan, nhưng bà không đồng ý. Gần nhà bà Lan cũng có hai cô gái trẻ lấy chồng Hàn Quốc. Mẹ của hai cô gái này cho biết: “Số tiền mấy chục triệu mà “cò” đem tới là để dàn cảnh thôi, họ rước con tôi xong là lấy lại số tiền đó”.

Năm 2005, tại nơi Nguyễn Ánh năm xưa cùng đoàn phi tần dừng chân nghỉ ngơi, được chọn để xây chợ Nha Mân. Trong lúc đào hệ thống thoát nước, đơn vị thi công phát hiện dưới lớp đất sâu có 2 chiếc hòm, bên trong chứa hàng trăm cân tiền xu. Số tiền này được Bảo tàng tỉnh Đồng Tháp lưu giữ. Để tưởng nhớ sự kiện lịch sử này, UBND xã Tân Nhuận Đông lấy hình ảnh đĩnh vàng và đồng xu để làm biểu tượng của chợ. Họa tiết trang trí hàng chục ngôi nhà xung quanh chợ Nha Mân cũng được lấy hình ảnh đồng tiền xu. Họ cho rằng, đó là sự giàu sang trù phú người đi trước để lại.

Ông Tươi, Chủ tịch xã Tân Nhuận Đông cho biết, một năm ở xã có khoảng 1.000 người đang ở độ tuổi lao động đi làm ăn xa. “Nét đẹp con gái Nha Mân mất đi buồn lắm.. Nơi này đã sinh ra những người con gái đẹp người, đẹp nết nhất các tỉnh miền Tây. Vì vậy chúng tôi đang cố gắng khôi phục lại, không để sắc đẹp bị “chảy máu” nữa. Từ đầu năm đến nay, xã mở 3 lớp đan thêu cho phụ nữ và xây dựng dự án các khu công nghiệp để thu hút nguồn nhân lực”.

Chuyện khôi phục hình ảnh con gái Nha Mân không phải nói là làm được, vì hiện tại cái đẹp, cái bảnh trong câu ca dao lưu truyền “Gà nào hay bằng gà Cao Lãnh / Gái nào bảnh bằng gái Nha Mân” giờ chỉ còn là ký ức. (theo Du Nguyễn)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

Advertisements

CON GÁI NHA MÂN (1)

VỀ MIỀN GÁI ĐẸP BẬC NHẤT

MIỆT CỬU LONG

Nằm cách trung tâm thành phố Cao Lãnh khoảng 30km, Nha Mân (xã Tân Nhuận Đông, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp) từ lâu đã nổi tiếng với câu ca dao: “Gà nào hay bằng gà Cao Lãnh. Gái nào bảnh bằng gái Nha Mân” để chỉ miền gái đẹp bậc nhất ở miệt sông nước Cửu Long. Vậy điều gì đã khiến con gái Nha Mân hầu hết đều “sắc nước, hương trời” đến vậy ?

Yếu tố lai giữa 3 dân tộc ? Những ngày cuối tháng 7 vừa rồi, tôi có dịp trở lại Nha Mân trong một chuyến công tác. Ở đây, hỏi bất kỳ ai về gốc tích nhan sắc con gái Nha Mân, bà con đều kể giống như in về cuộc binh biến thời Tây Sơn – Nguyễn Ánh. Đó là trận Rạch Gầm – Xoài Mút đêm 19 rạng 20.01.1785, Nguyễn Huệ đánh tan hai vạn quân Xiêm – Nguyễn. Sau khi thua trận thì bầu đoàn thê tử của Nguyễn Ánh chạy về lánh nạn ở rạch Nha Mân (nay thuộc xã Tân Nhuận Đông, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp).

Chợ Nha Mân ngay trung tâm thị trấn

Trên đường tháo thân, vì bị quân Tây Sơn truy đuổi gắt gao. Nguyễn Ánh đã gạt nước mắt, bỏ lại hàng trăm cung tần mỹ nữ dọc đường, cho lên tá túc ở các làng bên bờ sông Tiền, trong đó có vùng Nha Mân (Châu Thành, Đồng Tháp). Những mỹ nhân này sau đó lấy chồng là người địa phương, sinh con đẻ cái. Chính nhờ “nguồn gen cung phi mỹ nữ”, xứ Nha Mân mới có nhiều thiếu nữ đẹp như vậy.

Thế nhưng, chúng tôi tìm mãi trong sử sách của triều Nguyễn không hề ghi chép chi tiết này. Một lần gặp được thạc sĩ Nguyễn Hữu Hiếu – Phó chủ tịch Hội Khoa học lịch sử Đồng Tháp, ông cho biết : “Theo sách Nguyễn Phúc Tộc Thế Phả (gia phả nhà Nguyễn), thì năm lên 13 tuổi (1774), Nguyễn Ánh đã bắt đầu “chạy giặc” vào miền Nam khi quân Trịnh tấn công vào Thuận Hóa.

Những năm sau đó, cuộc chiến giữa nhà Nguyễn và quân Tây Sơn diễn ra ngày càng khốc liệt, nhiều lần thua trận, ông bị quân Tây Sơn truy đuổi ráo riết, sống lưu lạc khắp nơi, trong đó có lần cầu viện quân Xiêm như đã nói. Nếu tính từ lúc Nguyễn Ánh vào Gia Định (1775) cho đến trận Rạch Gầm – Xoài Mút (1785), thì đây là khoảng thời gian Nguyễn Ánh phải bôn ba khắp nơi, lúc thì trốn chạy, lúc lo gây dựng binh lực để đánh quân Tây Sơn.

Trong hoàn cảnh như vậy, liệu ông có thể lập cho mình “năm thê bảy thiếp” ? Mặt khác, nhiều câu chuyện trong dân gian kể rằng, có thời điểm, Nguyễn Ánh phải bôn tẩu một thân một mình, không nhà không cửa, sống nhờ sự đùm bọc của người dân. Vậy, nếu lập bầu đoàn thê tử thì họ sống ở đâu ?… Ngày nay khoa học cũng đã chứng minh rồi, cha mẹ đẹp chưa chắc gì sinh con ra đã đẹp”. Ông Hiếu nói.

Nếu gái đẹp Nha Mân không phải di truyền từ cung tần mỹ nữ của Nguyễn Ánh, thì bắt nguồn từ đâu ? Hàng trăm năm qua, ở vùng đất Nha Mân, dân gian vẫn còn kể về sự tích cô Hai Hiên với màu sắc huyền bí.

Chuyện xảy ra vào năm Mậu Ngọ, niên hiệu Tự Đức thứ 11, tức năm 1858 tại thôn Phú Nhuận, tổng An Mỹ, huyện An Xuyên, tỉnh An Giang, nay là ấp Tân Hòa, xã Tân Nhuận Đông, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp (từ năm 1967 – 1975 khu vực này thuộc tỉnh Sa Đéc, bên bờ sông Tiền, cách chân cầu Mỹ Thuận 8km, bờ Nam, phía thượng nguồn, địa danh dân gian gọi là Nha Mân, bởi có con rạch cùng tên chảy qua).

Ông Hương Cả làng Phú Nhuận tên Phạm Văn Cần cưới người vợ tên Võ Thị Niên và sinh được một người con gái tên Phạm Thị Liên (thường gọi là cô hai Hiên). Cô hai Hiên càng lớn càng xinh đẹp nhất vùng, nhiều người danh gia, thế phiệt đem trầu cau dạm hỏi nhưng đều bị cô từ chối.

Vào ngày 25 tháng 8, năm Mậu Thìn (1858), cô hai Hiên tròn đôi tám, một buổi chiều dạo chơi trên bờ sông Nha Mân, bỗng nghe tiếng gọi đò. Người đưa đò đi vắng, tiếng bà lão gọi hối hả bên kia sông như có chuyện cần kíp. Động lòng, cô Hai nhảy xuống chèo đò rước bà lão.

Đò ra giữa dòng Nha Mân chảy xiết, khiến cô chới với té nhào xuống sông. Mọi người tri hô lên, ông Cả hay tin chạy ra vớt con lên thì cô đã tắt hơi. Đau lòng trước cái chết của cô con gái, ông cả Cần oán trách cao xanh. Trong nhà ông từ lâu có thờ bức tượng Quan Công, biểu trưng cho lòng trung cang nghĩa khí.

Nghĩ rằng, ngài Quan Công đáng ra phải soi xét công minh không để ông phải mất đi đứa con gái mà ông yêu quý nhất trên đời, nên trong cơn quẫn trí, ông Cần nghĩ rằng ngài Quan Công phải được chôn theo con ông để còn phân giải khi Diêm vương phán xét.

Thế là ông lấy bức tượng Quan Vân Trường đắp lên thi hài con gái. Kỳ lạ thay, mấy ngày sau, người trong làng hằng ngày cứ đến nhà kể cho ông nghe chuyện thường xuyên gặp cô Hai đi chợ, thậm chí là chuyện cô Hai “quá giang” ghe bầu ra Huế. Những lúc gặp nạn, chỉ có ghe mà cô quá giang là an toàn. Từ đó, người Nha Mân lập miếu thờ cô Hai với tên gọi “Cô Hai Hiên” – giống như tín ngưỡng bà Liễu Hạnh..

Câu chuyện trên cho thấy rằng, trong truyền thuyết về cô Hai Hiên có xuất hiện giao thoa tín ngưỡng người Hoa và người Việt. Chuyện ông Cả Cần thờ Quan Thánh Đế Quân chứng tỏ đó là tín ngưỡng người Hoa. Chuyện cô Hai Hiên độ trì ghe bầu đi biển ra Huế giống y chang tín ngưỡng thờ Bà Thiên Hậu của người Hoa. Cuối cùng thì dân đồng bằng tín ngưỡng cô Hai Hiên như Bà Liễu Hạnh người Việt.

Từ những luận cứ trên, có thể đưa ra một giả thuyết vùng đất Nha Mân là vùng đất có cả 3 dân tộc : Việt-Hoa từ xa đến cộng cư với người Khmer bản địa. Cách Nha Mân 3km về phía hạ nguồn sông Tiền là rạch Cái Tàu hạ, chứng minh có người Tàu sinh sống. Chính sự quần cư này đã tạo điều kiện sinh ra những cô gái lai 3 dòng máu nên rất đẹp.

Một thời gái đẹp Nha Mân 

Dù xuất phát từ nguyên nhân nào đi nữa, cũng chắc chắn một điều rằng rằng, Nha Mân là một miền gái đẹp bậc nhất ở miệt sông nước Cửu Long. Hôm tôi trở lại Nha Mân, cụ Phan Thị Lợi (82 tuổi) là một trong những mỹ nhân của miền gái đẹp ngày trước. Theo lời cụ Lợi, ngày xưa, con gái Nha Mân, không chỉ đẹp nết mà còn đẹp người.
Cuộc sống của họ cũng đơn giản như bao cô gái ở những vùng quê khác: Ra đồng, làm vườn… Nhà ông Quản Chức thì có chị Tám Ngự, chị Mười Xinh đẹp người đẹp nết. Hay nhà thầy giáo Chữ cũng có con gái đẹp. Chị Bảy Nhẫy, cô Tư Nga là những người mà phụ nữ nhìn cũng mê…

Hằng năm, cứ Tết đến, đám trai làng thường kiếm cớ đi chợ Tết để nhìn đám con gái làng mình. Cũng theo lời bà, hồi đầu thế kỷ 20, vua Cao Miên cũng tìm sang đây cưới vợ. “Thời xưa, con gái tụi tui chỉ đua nhau may đồ bà ba, tóc dài cả thước. Mỗi lúc đi ruộng là khăn rằn quấn không muốn hết búi tóc trên đầu. Tối về gội đầu là má hay chị em phải phụ. Mà không hiểu sao hồi đó đi mần ruộng cứ phơi cái mặt ra chứ có bịt khăn như giờ đâu, vậy mà da đứa nào cũng trắng”.

Nức tiếng với gái Nha Mân ai ai cũng đẹp, theo người dân, người được mang danh hoa khôi ở đây là bà Nguyễn Ngọc Tiết, con gái ông cả Trọng giàu có nhất vùng. Được sự hướng dẫn, chúng tôi tìm đến nhà bà Tiết. Ông Trần Văn Mão, 82 tuổi (chồng bà Tiết) cho biết một tai nạn cách đây mười năm đã lấy đi sinh mạng của bà. Ông kể với vợ với nỗi buồn nhưng xen lẫn tự hào: “Xưa vợ tôi là hoa khôi xứ này đó, nhiều người hỏi cưới bả không chịu, ưng phải tôi nên cuộc đời bà ấy khổ lúc về già”.

Ông nhớ lại, cô gái thứ 11 của ông Cả Trọng (thường gọi cô Mười Một) vốn nổi tiếng là hoa khôi trong vùng. Khi tốt nghiệp Tú Tài, cô lên SàiGòn học và quen ông Ba Nhẫn (lúc đó là nhân viên văn thư cho một công ty nhỏ), để lại sự nuối tiết cho nhiều chàng trai nơi đây. Lấy nhau và sinh được hai người con thì giặc Pháp càn vào, ông bà dắt dìu nhau về quê vợ sinh sống.

Cứ tưởng cuộc sống thế là an nhàn, vợ chồng ông sinh thêm 5 người con nữa. Sau giải phóng, vợ chồng ông phải làm thuê làm mướn để mưu sinh. “Nói ngay, gái Nha Mân đẹp người lại đẹp nết, công việc nội trợ giỏi lắm. Nói không phải “mèo khen mèo dài đuôi”, như vợ tôi là một tiểu thư nhưng tháo vác mọi thứ.

Khi gia sản không còn gì, hằng ngày tôi đạp xích lô, vợ tôi ngoài việc đồng án còn nội trợ ở nhà để phụ chồng nuôi con ăn học. Nay 7 đứa con của tôi đều có nghề nghiệp ổn định thì bà ấy bỏ tôi mà đi. Nhưng gái Nha Mân giỏi giang, đó là chuyện của 60 chục năm về trước. Còn con gái bây giờ “loãng” hết rồi. Họ chê công việc ở đây chân lấm tay bùn, bỏ đi xứ khác làm ăn hoặc lấy chồng nước ngoài hết rồi…”.

Nha Mân là một trong những miền gái đẹp bậc nhất vùng châu thổ Cửu Long, chuyện đó không cần phải bàn cãi, nhưng cũng đã… xưa rồi. Bây giờ, con gái Nha Mân đang dần bị “loãng” khi các mỹ nữ thay nhau lấy chồng ngoại và đi lập nghiệp tứ phương… Khi sắc đẹp thành dĩ vãng… Là một trong những mỹ nhân của miền gái đẹp một thời, cụ Phan Thị Lợi (82 tuổi) từng nuôi cách mạng trong thời kháng chiến chống Mỹ giờ đây sống một mình trong căn nhà tình thương. Giọng run run, cụ nói : “Lúc mấy ông cách mạng nằm vùng, tui nấu cơm cho mấy ổng ăn chứ có làm được nhiều gì cho đất nước đâu”. Cụ kể, cuộc sống của cụ gặp nhiều trắc trở.

Hồi con gái, cũng nhiều người đến hỏi, cuối cùng cụ chọn một anh nông dân cùng xóm làm chồng. Sống với nhau được vài năm thì ông có người phụ nữ khác, cụ đành chia tay để ông vui vầy bên duyên mới. Đến đời chồng thứ hai cũng không được êm đẹp, ông ấy cũng có vợ khác. Trải qua hai đời chồng nhưng cụ không có mụn con nào, giờ già rồi vẫn sống cô đơn một mình.

Tôi hỏi về chuyện gái đẹp xứ Nha Mân, cụ Lợi liệt kê ra một loạt danh sách những người đẹp có tiếng ngày xưa, rồi thở dài : “Những hoa khôi ngày xưa giờ đã gần đất xa trời hết rồi, còn bây giờ, con gái xứ này đã bỏ đi hết, cuộc sống thời hiện đại đã làm thay đổi mọi thứ”.

Quả thật, từ một địa danh hoang vu, hẻo lánh, xã Tân Thuận Đông ngày nào giờ đã trở thành một vùng đô thị mới, nhộn nhịp và náo nhiệt. Những thiếu nữ nơi đây cũng ngày càng thay da đổi thịt, thay vào vẻ đẹp tự nhiên ngày xưa thì nay được tô đậm má hồng môi đỏ. Để thẩm định lại tin đồn, chúng tôi dạo một vòng quanh chợ mong tìm được một cô gái Nha Mân như trong thơ ca, nhưng chợ dường như chỉ còn thanh niên và người lớn tuổi.

Chị Huỳnh Thị Ngọc Dung (53 tuổi) – con gái bà Tiết (hoa khôi xứ Nha Mân một thời) – cho biết : “Gái Nha Mân nay nếu không có chồng nước ngoài thì cũng lên Sài Gòn làm hết rồi, tết họ mới tập trung về. Những ngày giáp tết mấy chị lên đây mà xem, cô nào cũng đẹp, ăn mặc không thua gì gái thành thị đâu nha”.

Nha Mân một thời nổi tiếng với nhiều cô gái đẹp nên sau giải phóng, nhiều dân Tây sang đây cưới vợ. “Lúc đó ai cũng nói những cô gái đó là dân phản động vì lấy chồng Tây. Mình cũng không trách họ được, cuộc sống khó khăn, các cô gái mới lấy chồng Tây để giúp gia đình hết khó. Tôi thấy nhiều cô gái gửi tiền về cho cha mẹ xây nhà lầu nhiều lắm. Từ lấy chồng Tây rồi đến phong trào lấy chồng Đài Loan, Hàn Quốc,… dần dần Nha Mân hết gái, đàn ông xứ này phải sang xứ khác cưới vợ”. Chị Dung cho biết thêm.

Và những chuyện buồn chưa kể hết… 

Từ khi phong trào lấy chồng Đài Loan, Hàn Quốc lan về, cuộc sống xứ Nha Mân trở nên loạn nhịp… Cuộc sống đổi thay, đô thị hóa vùn vụt khiến cho mảnh đất Châu Thành nhanh chóng lột xác. Những thiếu nữ ở đây cũng ngày càng cuốn hút hơn. Sự cuốn hút này đã nhanh chóng lọt vào tầm ngắm của những cò mai mối gần xa.

Trong suốt chuyến hành trình, “câu kết” cho câu chuyện về người con gái Nha Mân của những người dân tại xứ này mà chúng tôi từng gặp chỉ là sự xót xa cho “nét đẹp” đang bị biến mất. Nhất là kể từ thời điểm rộ lên phong trào lấy chồng Đài Loan, Hàn Quốc, Nha Mân náo loạn bởi những tay môi giới hôn nhân lùng sục từng nhà.

Một bậc cao niên cho biết : Cách đây 7 năm, mấy người môi giới lấy chồng nước ngoài đến nhà, lúc đó gia cảnh tôi rất nghèo. Nếu chấp nhận thì có ngay 30 triệu đồng tiền mặt, đối với gia đình tôi thì số tiền đó rất lớn nhưng cũng may là chúng tôi không nghe lời, nếu không thì giờ cũng ân hận. Mấy chú cứ đi hết xã này mà hỏi, con gái Nha Mân lấy chồng ngoại nhiều lắm.

Cách đây không lâu, người dân sống quanh chợ Nha Mân khá quen với hình ảnh hai người đàn bà lạ, ăn mặc lịch thiệp, chuyên đi ô-tô xịn và xưng là tiến sĩ nghiên cứu tâm lý từ Sài Gòn về làm việc. Tuy nhiên chẳng thấy họ nghiên cứu gì mà hai người đàn bà này sớm tối chỉ lo tiếp cận những người đẹp Nha Mân. Chính vì nổi tiếng là gái đẹp nên mấy “tú bà” thường ve vãn đến đây săn mồi.

Cách đây 2 năm, người dân ở đây xôn xao vụ tú bà Đinh Thị Thu Hồng bị bắt về tội dụ dỗ gái địa phương ra nước ngoài bán dâm. Cơ quan điều tra cho biết, Hồng đã lừa được 13 cô gái trẻ đẹp ra nước ngoài làm gái mại dâm. Khám xét nhà Hồng, công an phát hiện 73 hồ sơ của những cô gái trẻ đẹp gốc Nha Mân và các vùng lân cận. Dự định sẽ bán họ sang Malaysia làm gái.

Người dân nơi đây kể lại, lúc Hồng chưa bị bắt, thị thường dùng bề ngoài sang trọng của mình để lừa gạt gái đẹp. Nói rằng mình là chủ một công ty gì đó, quen biết nhiều người làm chức lớn để giới thiệu cho thiếu nữ, rồi vẽ ra một viễn cảnh đổi đời cho những cô gái ít học. Những bậc cha mẹ khi nghe con nói cứ tưởng con gái mình vốn sinh ra ở vùng gái đẹp nên được nhiều người săn đón là chuyện bình thường, thậm chí còn tự hào.

Và cũng chính mỹ danh ấy làm con gái xứ này “tự tin” đua nhau lên Sài thành đi xin việc ở các quán bar, nhà hàng, quán nhậu… Nghe danh đã lâu, khi nhìn thấy hồ sơ con gái Nha Mân, các chủ nhà hàng rất thích thú.

Đối lập với gái Nha Mân ngày xưa hiền dịu, nết na thì ngày nay, gái Nha Mân ngoài vẻ đẹp vốn có thì đa số rất chịu “chơi”, mấy ông bợm nhậu chỉ cần có vậy… Phần lớn “trụ cột” các quán cà phê, quán nhậu trên địa bàn Sài Gòn là con gái Nha Mân. Nhờ duyên ăn  nói và vẻ tự tin về xuất xứ bản thân, các cô không gặp nhiều khó khăn trong chuyện lấy lòng những ông khách làng chơi..

Khi chúng tôi hỏi các bậc cha mẹ có con gái đi làm ăn xa có biết con gái họ làm gì không ? Chị Dung trả lời : “Số người gả con cho Đài Loan, Hàn Quốc thì tự hào vì được xây nhà cao cửa rộng, còn những cô gái đi làm quán bar thì biết cũng không cản được, họ đã quen với cách kiếm tiền dễ dàng đó rồi. Trong số đó, không ít người dở khóc dở cười với ngày trở về”.

Nói xong chị Dung kể một chuyện chấn động cả tỉnh cách đây 5 năm. Hai bên họ hàng của cô dâu Trần Thanh Lan, Lê Thị Kim Đồng tự hào khi nhìn con lên xe hoa để lấy đại gia xứ Hàn. Cứ tưởng sẽ được hưởng sung sướng nhưng sau đám cưới linh đình ấy là chuỗi ngày đau khổ của hai cô khi người chồng của họ lộ nguyên hình là những gã vũ phu, thường xuyên đánh đập vợ. Dù thể xác bị bầm giập nhưng không trốn về được.

Gia đình biết chuyện cũng đành câm nín chịu đựng nghe con than thở. Rồi ngày đau đớn nhất cũng đến, khi người nhà hai cô dâu này đón con về bằng hai cái xác không hồn. Hai cái chết thương tâm này xảy ra từ cuối năm 2007 và ám ảnh cho đến bây giờ. Gần đây nhất là cái chết oan uổng và chấn động dư luận của cô dâu Thạch Thị Hoàn Ngọc, xảy ra vào cuối năm 2010.

Giờ đây, người dân xã Tân Nhuận Đông vẫn luôn tự hào về miền gái đẹp quê mình. Nhưng trong niềm tự hào đó, đang ẩn chứa những xót thương cho bao phận má hồng nơi đất khách. Gái đẹp Nha Mân đang chìm vào quá vãng, chủ yếu do guồng quay của những cuộc mưu sinh, cùng tác động của cuộc sống thời mở cửa. Buổi chiều rời Nha Mân, đám cưới nhà ai đang tưng bừng rộn rã đón dâu. Nghe đâu cô dâu ở Vĩnh Long chứ không phải người địa phương…

Trận thủy chiến trên sông Tiền Theo những bậc cao niên ở Nha Mân và một số tài liệu ghi lại, khoảng giữa năm 1784 mượn cớ giúp Chúa Nguyễn Ánh chống lại nhà Tây Sơn, khoảng 2 vạn quân Xiêm đã theo hai đường thủy bộ tiến vào địa phận Kiên Giang. Liên quân này có thêm 4.000 lính của Chúa Nguyễn Ánh. Đến cuối năm 1784, liên quân Xiêm – Nguyễn chiếm được một số vùng đất ở phía tây thành Gia Định.

Họ cho đóng quân ở vùng Trà Tân (nay thuộc huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang) để dự trữ lương thảo, khí tài chuẩn bị đánh thành Mỹ Tho và Gia Định. Lúc này, Chúa Nguyễn Ánh cùng bầu đoàn thê tử hàng trăm người cũng trú tại đây. Cuối năm 1784, khi liên quân Xiêm – Nguyễn uy hiếp cả thành Mỹ Tho và Gia Định thì Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ liền đưa 2 vạn quân từ Quy Nhơn xuôi xuống thành Mỹ Tho quyết chiến với quân Xiêm. Sau khi điều nghiên địa hình, Nguyễn Huệ quyết định chọn đoạn sông Tiền từ rạch Gầm đến Xoài Mút dài khoảng 6-7km (nay thuộc địa phận huyện Châu Thành, Tiền Giang) làm chiến trường quyết chiến với liên quân Xiêm – Nguyễn.

Đêm 18 tháng 1 năm 1785 (ngày 8 tháng Chạp năm Giáp Thìn), lợi dụng con nước đang xuôi, cả hai đạo thủy bộ quân Xiêm cùng rầm rộ tấn công Mỹ Tho. Khi liên quân Xiêm – Nguyễn vừa lọt vào trận địa mai phục của quân Tây Sơn, từ hai bờ sông Tiền và dọc bờ cù lao Thới Sơn, các đại bác cùng pháo hỏa hổ của bộ binh Tây Sơn bắn ra uy hiếp dữ dội.

Những chiến thuyền Tây Sơn từ những nhánh rạch nhỏ kéo ra chặn đánh đầu, số khác xông ra đánh vỗ hông nhằm chia cắt đội hình và đánh chặn đường lui, dồn đoàn thuyền của đối phương vào thế tiến thoái lưỡng nan. Cùng lúc ấy những thuyền nhẹ chở đầy những vật liệu dễ cháy đâm thẳng vào những chiến thuyền đang rối loạn làm cho số bị chìm, số bị cháy…

Trời vừa rạng sáng, thì chiến cuộc cũng vừa dứt. Kết quả là 300 chiến thuyền và gần 3 vạn quân Xiêm – Nguyễn bị phá tan. Chúa Nguyễn Ánh cùng bầu đoàn thê tử và một ít tùy tùng đang đóng quân ở Trà Tân nghe tàn quân báo hung tin thất trận vội quay thuyền chạy theo sông Tiền tìm đường thoát thân. Bị quân Tây Sơn truy đuổi gắt gao, hàng trăm cung tần mỹ nữ chân yếu tay mềm bỗng chốc trở thành “của nợ”. Nhiều người trong số này chịu đựng không nổi cực khổ trên đường trốn chạy nên Chúa Nguyễn Ánh đành gạt nước mắt, bấm bụng bỏ lại hàng trăm cung tần mỹ nữ dọc đường.

Để “nhẹ gánh loạn ly”, những mỹ nhân được ban cho ít vàng bạc rồi lên tá túc ở các làng bên bờ sông Tiền, nay thuộc Nha Mân (Châu Thành, Đồng Tháp) và cù lao Ông Chưởng (Chợ Mới, An Giang). Theo lời kể của các cụ cao niên, những nhan sắc khuynh nước khuynh thành này nói đủ các giọng ở nhiều vùng miền, nhưng lại hiếm người miền Tây Nam Bộ.

Ông Tám Khai – một người sống gần cả thế kỷ bên bờ Nha Mân cho rằng, chính nhờ nguồn “gen” cung phi mỹ nữ lưu truyền mà xứ Nha Mân mới có nhiều thiếu nữ đẹp như hôm nay. Tương truyền, những mỹ nhân bị “bỏ rơi” đều lấy chồng là người địa phương, trở thành nông dân nhưng con cái do họ sinh ra đều đẹp như tiên đồng ngọc nữ.

Theo nhận xét của nhiều người, nhóm mỹ nữ dạt vào cù lao Ông Chưởng cũng lấy chồng, cũng tạo được một “miền gái đẹp” nhưng không nổi tiếng bằng con gái Nha Mân. “Hồi nhỏ, tôi nghe ông bà kể lại người đẹp xứ Nha Mân đếm không kể xiết. Khoảng đầu thế kỷ thứ 20, các vua xứ Cao Miên mang vàng bạc châu báu xuôi dòng sông Tiền sang tận “miền gái đẹp” Nha Mân để tìm ý trung nhân” – ông Tám Khai quả quyết.

Cho đến nay, người Nha Mân vẫn tự hào vì đàn bà xứ này đẻ 10 đứa con gái thì hết 9 đứa là người đẹp, đứa còn lại cũng trên trung bình. Trong những ngày xuân, trên những con đường dọc theo các bờ kênh, bờ rạch đi dọc hai bờ rạch lúc nào cũng nườm nượp đàn bà con gái đẹp quần là áo lượt muôn màu sắc ngược xuôi, kẻ vào trong ngọn, người ra ngoài vàm thăm viếng thân nhân, bạn bè, nhìn không chán mắt.Trong những cuộc trà dư tửu hậu, luận bàn về sắc đẹp phụ nữ, các bậc cao niên ở miền Tây Nam Bộ đều thừa nhận, đất chín rồng (đồng bằng sông Cửu Long) là nơi có nhiều “miền gái đẹp”. Nhưng nổi tiếng nhất và đi vào ca dao tục ngữ, được truyền tụng lâu đời phải kể đến “miền gái đẹp” Nha Mân, thuộc tỉnh Đồng Tháp.

Hàng trăm năm trôi qua, nhưng nhắc đến nét đẹp con gái Nha Mân ai cũng nhớ câu “Gà nào hay bằng gà Cao Lãnh, gái nào bảnh bằng gái Nha Mân”. Từ xưa, gà Cao Lãnh nổi tiếng đá hay, lì đòn. Còn con gái Nha Mân, nói như ông Tám Khai, người cố cựu xứ Nha Mân, nay đang sinh sống ở thị trấn Cái Tàu Hạ, cách “miền gái đẹp” Nha Mân không xa, thì từ xưa đến nay con gái Nha Mân “nhìn không biết chán vì… ngộ (đẹp) nhất miền Tây”.

Qua khỏi thị trấn Cái Tàu Hạ gần chục cây số là đến địa phận “miền gái đẹp” Nha Mân, thuộc xã Tân Nhuận Đông, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp. Từ năm 1940, ba xã Phú Nhuận, Tân Hựu, và Tân Hựu Đông được ghép thành Tân Nhuận Đông thuộc quận Châu Thành, tỉnh Sa Đéc. Từ năm 1956 đến năm 1965, Nha Mân thuộc quận Đức Tôn, Sa Đéc. Năm 1966, tỉnh Sa Đéc được tái lập, Nha Mân trở lại trực thuộc quận Châu Thành cho đến ngày nay.

Nha Mân, một phía giáp với sông Tiền quanh năm chở nặng phù sa bồi đắp cho những vườn cây ăn trái xanh tốt, một phía gần giáp với sông Hậu gạo trắng nước trong. Rạch Nha Mân bắt đầu từ một nhánh của sông Tiền, chảy quanh co uốn khúc hàng chục cây số trong những khu vườn, những thửa ruộng màu mỡ rồi nối vào rạch Ba Càng của Vĩnh Long, đổ ra phía sông Hậu.

Phía bờ trái sông Nha Mân, từ cầu Nha Mân vào các vườn cây ăn trái trĩu quả, có nhiều rạch nhỏ như rạch Chùa Ông Chiêm, rạch Bà Thiên, rạch Cầu Xoay, rạch Ông Đại, rạch Ông Yên, rạch Tre, rạch Rắn, rạch Cái Ngổ, rạch Da, rạch Cầu, rạch Bằng Lăng, rạch Mương Khai, rạch Ba Càng… Ông Tám Khai nói, con gái Nha Mân hàng trăm năm qua ra đời quanh những cái tên rạch ấy. Trước đây nhiều người cho rằng, nước rạch Nha Mân trong lành, mát ngọt phù sa ngày đêm vun đắp, làm cho da dẻ các cô gái trắng trẻo mịn màng, giọng nói thanh tao, mắt phụng mày ngài, dáng đi uyển chuyển nhẹ nhàng, thanh thoát.

Nhưng những điều võ đoán đó đều không bao giờ đúng, bởi sắc đẹp của con gái Nha Mân chỉ một phần nhờ con nước phù sa sông Tiền, phần chủ yếu làm nên huyền thoại “miền gái đẹp” Nha Mân lại ở tuốt tận kinh đô Huế, cách xa xứ Nha Mân cả ngàn cây số.  (theo Du Nguyễn)(Còn 1 kỳ nữa)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

TIẾNG SÁO TRƯƠNG CHI

TUỒNG ‘LAN VÀ ĐIỆP’

VÀ DĨA HÁT

‘HOA RƠI CỬA PHẬT’

– Ngành Mai

Đầu thập niên 1940, kể từ ngày vở hát “Lan và Điệp” của soạn giả Trần Hữu Trang, tức Tư Trang được trình diễn trên sân khấu Năm Phỉ thì phần lớn khán giả cải lương sành điệu, đã biết qua tình tiết lớp lang câu chuyện diễn tiến từ đầu tới cuối.

Buổi trình diễn khi vở hát mới ra đời ấy, do cô đào Năm Phỉ đóng vai Lan, kép Tư Út đóng vai Điệp, đôi nghệ sĩ tiền phong thượng thặng này đã mở đầu cho hai nhân vật chính Lan-Điệp trở thành bất tử với thời gian (nữ nghệ sĩ tài danh Năm Phỉ từng được huy chương của chính phủ Pháp, của Vua Miên, Quốc Vương Lào, và Hoàng Đế Bảo Đại).

Trong lịch sử nghệ thuật sân khấu chưa có vở hát nào được giới mộ điệu ưa thích, đến đỗi càng về sau câu chuyện càng mở rộng xâm lấn sang các lãnh vực văn nghệ khác.

Trước tiên, “Lan và Điệp” được hãng dĩa hát Asia thâu thanh với tên tựa “Hoa Rơi Cửa Phật” phát hành cùng khắp từ Nam chí Bắc.

Dĩa hát cũng được bán qua Miên, và theo theo như nhà phát hành lúc ấy cho biết, thì kiều bào xứ Chùa Tháp tiêu thụ dĩa hát này nhiều gấp 3, 4 lần đại lý dĩa hát ở Cần Thơ. Do ở đất Miên dễ làm ăn, người ta dám mua sắm, vả lại số người sang đây lập nghiệp đại đa số là người Nam Kỳ Lục Tỉnh, mà cổ nhạc cải lương đã gắn liền với đời sống tinh thần của họ.

Dĩa “Hoa Rơi Cửa Phật” cũng được đưa sang Lào và cả ở bên trời Tây, do vậy mà kiều ở Pháp vẫn còn những người lưu giữ các dĩa hát xưa ấy. Song song đó cuốn bài ca “Hoa Rơi Cửa Phật” cũng được ra đời bán ở các chợ miền quê, chợ nhỏ, lớn nào cũng có người bán.

Rồi cũng từ đó các gánh hát bầu tèo (gánh hát nhỏ) ở thôn quê đã sao chép lời ca, lời đối thoại, rồi thêm thắt vào dựng lên tuồng cải lương “Lan và Điệp” phục vụ bà con ở thôn quê và cũng được hoan nghinh.

Sau đó khi Tư Út rời gánh Năm Phỉ thì kép Thanh Tao nhảy vào đóng vai Điệp, cho đến khi cô Năm Phỉ qua đời thì kỳ nữ Kim Cương mới thay dì mình mà đóng vai Lan cùng với kép Sơn Minh thủ vai Điệp. Vợ chồng nghệ sĩ Văn Chung, Thanh Hương cũng đã có lần hát. Thành Được và Thanh Nga hát hai vai chánh này được mấy lần trong các buổi tổng hợp tài danh.

Riêng bộ dĩa “Hoa Rơi Cửa Phật” phát hành năm 1947, và cuốn bài ca cũng đến tay người mộ điệu cùng thời điểm này.

Dưới đây là đoạn đầu bộ dĩa hát “Hoa Rơi Cửa Phật,” lúc Lan giả trai lấy tên Điệp vào chùa tu, được hòa thượng trụ trì đặt tên là Huệ Minh.

Huệ Minh nói : Than ôi, cánh hoa rụng tả tơi vì gió dập, xác bướm khô ôm ấp bởi tình yêu. Như tôi đây nhìn hoa lan mà ruột quặn thắt trăm chiều, trông hồ điệp lệ sầu tuông mấy lượt. Kìa những kẻ không cầu sao lại được, tủi phận mình mong mỏi vậy mà sai, kể từ đây chốn am mây chôn lấp mạch cảm hoài, nghe kinh kệ phôi pha cơn khổ não.

Ca Nam Ai :

Hoa lan xác bướm mảnh tơ lòng,

Đành vùi chôn,

Kiếp bướm hoa lỡ làng rồi,

Nhưng còn một vật đổi trao nhau,

Càng thấy càng thêm nỗi khổ đau,

Phải chăng con dao này,

Nó đã dứt tình cùng ta,

Bấy lâu đeo giữ mãi bên mình,

Nay đành chôn giữa mả bướm hoa,

Ngăn đôi gian hà,

Cho nhẹ nhàng lòng ta.

Có lẽ khi trời xui phải chịu vậy,

Trần ai còn chi đâu mơ màng,

Trót đã ăn mặc nâu sòng,

Vui kinh kệ là xong.

Huệ Thông nói : Đó thấy không, huynh Huệ Minh phạm giới sát sanh, để tôi vào bạch tôn sư, cho huynh coi nghé.

Huệ Minh nói: Không, không phải đâu huynh Huệ Thông, vừa rồi tôi thấy con bướm nó chết khô cho nên tôi tội nghiệp bỏ vào hộp đem chôn vậy mà huynh.

Huệ Thông nói: Huynh nói dối, hôm trước tôi thấy con bướm ấy nó đậu trên chậu hoa lan đẹp lắm, huynh rình bắt rồi ép khô ở trong cuốn kinh, bây giờ huynh đem chôn, tại huynh bắt nó mới chết, tôi phải vào bạch lại với thầy.

Huệ Minh nói: Huynh, huynh Huệ Thông.

Huệ Thông nói: Thế nào tôi cũng vô tôi bạch.

Huệ Thường nói: Ôi, tu là cội phúc, tình là dây oan, nhưng tình chưa trọn thì tu làm sao cho thành. Đã đem thân nương chốn thiền môn, trót ba mươi năm có lẻ, một khoảng thời gian đăng đẳng, tấm lòng ta tưởng đâu đã nguội lạnh như mớ tro tàn, sự đời gác bỏ ngoài tai, trần ai không hệ lụy. Bất ngờ vừa rồi nghe mấy lời của tiểu Huệ Minh than thở, mà xúc động mối từ tâm, trông cử chỉ hành vi khiến cho ta phải bàng hoàng ngơ ngẩn. Đây, đây là nơi chôn chặt nỗi niềm tâm sự, nhưng vết thương lòng e khó nổi phôi pha. như ta ba mươi năm mà hận cũ vẫn chưa nguôi, thì tiểu Điệp ngày nay dẫu không tròn luật pháp nhà tu, ta cũng rộng lượng thứ tha mà tìm phương an ủi. (theo Ngành Mai)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

TIẾNG SÁO TRƯƠNG CHI

“Đêm nay thu sang cùng heo may. Đêm nay sương lam mờ chân mây. Thuyền ai lờ lững trôi theo dòng. Như nhớ thương ai chùng tơ lòng”…

Thưa nhạc sỹ tài hoa nhưng yểu mệnh Đặng Thế Phong, con thuyền đang “lờ lững trôi theo dòng” kia là của một chàng ngư dân. Tên chàng là Trương Chi.

Đó là một “con thuyền không bến”. Gọi như thế là vì chàng ngư dân này lúc thì ở đây, lúc thì lại đến một nơi khác, thoắt hiện, thoắt biến. Chàng cứ ngày tháng ung  dung tự tại giữa trời nước mênh mông. Chẳng có chi trói buộc mái chèo của chàng cả.

Người đời vốn dĩ thích sự trói buộc nên mới đặt định ra bến bãi. Họ đâu biết rằng những bến bãi kia là mầm mống phát sinh đau khổ.

– Trăm năm đành lỗi hẹn hò,

Cây đa bến cũ con đò khác đưa.

– Thuyền về có nhớ bến chăng ?

Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền.

Những đợi những mong rồi những khắc khoải trách hờn. Cái vòng luẩn quẩn ấy chẳng khác chi mũi kim nhọn xuyên thấu trái tim con người  khiến cho những dòng lệ phải tuôn ra. Ấy thế mà con người nào đâu đã tỉnh, cho nên bến bãi cứ mãi mãi tồn lưu.

Còn chàng ngư dân Trương Chi thì thênh thang sông nước ngược ngược xuôi xuôi. Nơi chàng  không có bến bãi nào hết. Chân trời góc bể bón phương luôn luôn là tiếng mời gọi chan chứa mặn nồng và thủy chung  miên viễn.

Lênh đênh sóng nước, nhưng chàng chẳng hề cô đơn vì bên chàng lúc nào cũng có một người bạn tri kỷ : cây sáo trúc. Tiếng sáo của chàng thanh thoát. Nó lãng đãng như mây trời ngày tháng phiêu du. Nó ngọt ngào như mật ong rừng nguyên thủy. Nó là bàn tay mềm mại dìu hồn người vào cõi mộng có hoa muôn sắc, có bướm muôn màu, có giàn hợp xướng  diệu kỳ của muông chim.

Tiếng sáo phù thủy của chàng khiến những cánh cửa sổ lầu son khuê các không thể then cài  kiêu mị. Người ta thấy những đôi mắt  ươn ướt xa xăm bên cửa sổ.

Tiếng sáo mang vị thơm ngọt của lúa trổ đòng đòng trên những cánh đồng bát ngát dưới ánh trăng làm thổn thức bao trái tim thôn nữ..

Chàng ngư – dân – nghệ – sỹ  nào hay  nào biết. Chàng vẫn thản nhiên đặt sáo trúc lên môi mỗi hoàng hôn. Giữa bầu trời đêm thanh tĩnh, chàng đắm hồn trong cung bậc bổng trầm của thanh âm. Mái chèo buông lơi. “Lướt theo chiều gió, một con thuyền theo trăng trong…”. Con thuyền đi… Đi mãi…

Rồi, không hiểu do nguyên cớ nào mà bóng dáng chàng – ngư-dân – nghệ-sỹ  Trương Chi bỗng biệt tăm. Những cánh cửa sổ lầu son khuê các nghẹn ngào khép lại. Những vạt áo nâu non ngẩn ngơ  ngơ ngẩn

Có những tiếng sầm sì nổi lên. Người thì nói Trương Chi đã lạc vào một động tiên như Từ Thức ngày nào. Có kẻ lại bảo : tiếng tiêu của chàng đã khiến một cô con gái của một vị quan đại thần sinh bệnh vì tương tư. Vị quan đã cho mời bao nhiêu là lương y tài giỏi đến chữa bệnh cho cô con gái yêu, nhưng thảy đều bó tay. Cuối cùng, có một vị lương y kia tìm ra được bệnh của cô, nên đã bảo với gia chủ nên gọi chàng ngư dân- nghệ-sỹ đến cho cô gặp mặt thì cô mới hết bệnh. Quả nhiên, khi gặp mặt người trong mộng thì cô gái khỏi bệnh. Cô khỏi bệnh và vỡ mộng. Bởi chàng có dung mạo xấu xí quá..

Từ lúc gặp mặt mỹ nhân thì tiếng sáo của chàng không còn hồn nhiên thanh thoát nữa. Nó trở nên day dứt, nặng nề ngàn cân vì” ai oán thương ai tàn mơ màng”. Từ đó, thế gian mới bảo nhau rằng chàng đã nằm sâu dưới đáy nước mang theo dung nhan diễm tuyệt của giai nhân.

Đấy là miệng lưỡi thế gian – thứ lưỡi không xương nhiều đường lắt léo. Có thể nào tin được chăng ?  Tin hay không tin thì tiếng sáo vi vu huyễn hoặc kia cũng đã  mai một với thời gian. Và ngày hôm nay không còn ai biết đến sự hiện hữu của một thiên tài đã một thời đi vào lòng người  bằng tiếng sáo trúc huyền thoại.

Các làng chài ven biển miền Trung đang trong thời kỳ tang chế. Ngày cũng như đêm khắp nơi nơi vang lên tiếng khóc nỉ non, ai oán.  Y tang trắng toát cà một vùng rộng lớn. Già, trẻ, lớn, bé… con mắt trũng sâu. Những tấm thân cằn cỗi trông chẳng khác nào những thân cây héo quắt héo quơ giữa trời nắng hạn. Tiếng khóc kéo dài từ nhà ra tới bờ biển, rồi lại từ bờ biển đi vào trong nhà. Những thân cây khô liêu xiêu, vật vờ như những cô hồn không chốn đầu thai.

Trên bãi biển, những chiếc tàu đánh cá nằm chỏng chơ, mặc cho nắng mưa tha hồ làm mưa làm gió trên tấm thân tàn phế của chúng. Chúng bỗng dưng trở nên những ngôi mộ hoang. Chủ nhân của chúng hoặc đã bỏ thân ngoài khơi xa, hoặc bị bắt đem đi đến một nơi nào đó. Thủ phạm của những chết chóc kinh hoàng đó không ai ngoài các “tàu lạ” và “người lạ”. Không gì phi lý hơn việc giữa khi anh đang miệt mài kiếm sống trên mảnh đất của mình mà bị những kẻ “lạ mặt” hùng hổ xông vào bắn giết một cách tàn bạo và dã man.

Ấy vậy  mà chẳng tiếng nói phản kháng nào hết. Ngay cả gọi đích danh kẻ thù cũng không. “Tàu lạ”,  “người lạ”. Một cách miễn cưỡng và chiếu lệ cho qua chuyện. Thế thôi. Và thế là “Tàu lạ” và “Người lạ” cứ mặc sức tung hoành trên mặt biển quê hương như chỗ không người. Mà không người thật. Ôi ! Thảm thương thay !  Ở đầu thập niên của thế kỷ 21 này mà mảnh đất mang tên Việt Nam từ bao nhiêu thiên niên kỷ  lại trở thành mảnh đất hoang vu đến như vậy. Và thế là xác ngư dân Việt lènh bềnh ngoài khơi như những xác vô thừa nhận. Và thế là máu ngư dân Việt ngầu đỏ cả biển Đông..

Trên mảnh đất hoang vu này, người dân vạn chài chỉ còn biết than khóc cho thân phận cái kiến con sâu của họ chứ biết làm gì bây giờ ? Khi nào “Tàu lạ” và “Người lạ” còn nghênh ngang ngất ngưởng ngoài kia thì tiếng khóc của họ vẫn còn âm ỉ. Chừng nào “Tàu lạ” và “Người lạ” còn làm mưa làm gió trên biển quê ta thì chết chóc vẫn còn bao phủ những làng chài Việt Nam.

Trong bầu không khí u sầu ngạt thở đó, vào một buổi hoàng hôn, bỗng nhiên người ta nghe có tiếng sáo trúc vang lên. Người người ngó nhau ngơ ngác. Những dấu hỏi liên tiếp hiện ra. Không có câu trả lời.

Tiếng sáo nghe não nuột đến đứt ruột vỡ gan. Nó làm cho cả những ghè đá cũng phải ứa lệ. Sóng biển thôi rì rào. Trong oán than tiếng sáo, người ta thấy vất va vất vưởng oan hồn các ngư dân.

Dân vạn chài cản thấy được ủi an phần nào vì đã có người đến chia sẻ nỗi đau mất mát. Họ hướng mắt ra khơi xa để tìm chủ nhân tiếng sáo. Nhưng chẳng trông thấy gì cả. Chắc đây là một vị thần linh. Họ thì thào với nhau. Dù người phàm hay thần thánh, họ vẫn thầm cám ơn tiếng sáo. Nó vỗ về. Nó băng bó những vết thương lòng.

Tiếng sáo là đề tài duy nhất trong các bữa ăn, trong  những lần gặp mặt. Sầu muộn đã vơi đi phần nào trong ánh mắt. Thay vào đó là nỗi niềm đợi mong mỗi khi hoàng hôn xuống. Những cặp mắt lung linh hướng ra biển đợi chờ thứ âm thanh huyền nhiệm và huyền diệu.

Những ánh mắt của các vị trưởng lão thì có vẻ đăm chiêu hơn. Hình như các cụ có một thứ linh cảm nào đó. Thứ linh cảm này thoạt tiên chỉ là một thứ cảm giác mơ mơ hồ hồ, nghi nghi hoặc hoặc. Rồi, với thời gian, nó trở nên rõ nét dần lên. Những câu chuyện thần tiên cổ tích mà các cụ được nghe thời ấu thơ bắt đầu trở về trong trí nhớ. Mặc dù  không còn minh mẫn như hồi thanh xuân, nhưng các cụ vẫn hết sức cố gắng đi tìm cho bằng được câu giải đáp cho sự việc lạ kỳ đang xảy ra nơi các làng chài này. Thế rồi, vào một buổi nọ, các cụ đồng loạt vỗ trán và đồng thành kêu lên : “Đúng rồi ! Đúng rồi ! Đúng rồi !”. Mắt các cụ sáng lên rỡ ràng. Bờ môi  dúm dó của các cụ bỗng chốc trở thành những nụ hồng rực rỡ.

Sau đó, các con cháu làng chài biết được tên chủ nhân của tiếng sáo trúc kia. Trương Chi. Sự buồn đau tạm thời lùi đi dành chỗ cho sự thích thú về chàng ngư dân nghệ sĩ thuở xa xưa. Không hiểu tại sao mà trong lòng mỗi người vạn chài đều nảy sinh một niềm hy vọng, nhất là các cụ trưởng thượng.

Đêm nay là đêm rằm. Mặt trăng tròn trĩnh nằm vắt vẻo trên bầu trời. Ánh trăng  quấn quyện những giải khăn sô và ôm ấp những tiếng khóc than u uất. Màu trắng của y tang được bàn tay điệu nghệ của nữ họa sỹ Hằng Nga dệt thành một bức tranh có một không hai của nhân loại. Khách thưởng ngoạn cảm nhận một luồng khí lạnh chạy dài suốt cột sống lưng và lan tỏa khắp châu thân. Giữa đêm trường mà mồ hôi tuôn đổ như giữa trưa hè nắng hạn.

Trong màn đêm tang tóc ấy, tiếng sáo trúc lại cất lên. Nó ấm ức. Nó tức tưởi. Nó cào xé trái tim con người.

Bỗng im bặt tiếng sáo. Những cặp mắt đỏ hoe nhìn nhau và đồng hướng về phía khơi xa. Vắng ngắt. Lặng tanh. Một bầu không khí vô cùng nặng nề bao phủ làng chài. Những vành khăn sô chấp chới chấp chới… Thời gian như ngưng đọng. Đêm đã váo khuya.

Đột nhiên tiếng sáo lại vang lên. Vang lên đúng lúc để ngăn chặn tiếng thở dài thất vọng của dân làng. Lần này, nó không tức tưởi, không u uất nữa. Người ta cảm nhận được một trận cuồng phong đang ào ạt đổ xuống. Cái khối u sầu và căm phẫn ngàn cân bấy lâu đè nặng cõi lòng dân vạn chài được trận cuồng phong kia  cuốn trôi khiến những bờ môi he hé nụ cười.

Lần này tiếng sáo trúc không bay là là trên mặt biển, không vuốt ve từng đụn cát,  không ôm ấp từng mái nhà. Nó vút bay lên tận chín tầng mây rồi đổ ập xuống như những đợt sóng thần. Rồi dân vạn chài thấy ở ngoài khơi xa những đám lửa ngùn ngụt bốc lên từ thân những con “ tàu  lạ” cùng những tiếng nổ long trời lở đất.

Dân vạn chài ôm nhau nhảy múa khi từng… chiếc từng chiếc… chìm sâu đáy đại dương. Những giải khăn sô được tung lên không trung. Chúng quấn quyện vào nhau và lả lướt lượn bay như những áng mây trời.

Khi những đốm lửa cuối cùng tan biến trên mặt biển thì dân vạn chài dập dìu nhau khiêu vũ theo tiếng sáo trúc dặt dìu, êm ả. Tiếng sáo trúc nhỏ dần… nhỏ dần… nhỏ dần…rồi mất hút cuối chân mây. Phía non đoài,  mảnh trăng rằm chênh chếch.

Đêm đó, các làng chài im ắng. Nhà nhà chìm sâu trong giấc điệp. Một giấc ngủ thật an bình. Những ác mộng từ đây sẽ chỉ còn là quá khứ…

Uyên Sồ

TÁC GIẢ TÁC PHẨM

“SÀI GÒN ĐẸP LẮM”

NHẠC SĨ Y VÂN

– NGUYỄN VIỆT

Nhạc sĩ Y Vân tên thật là Trần Tấn Hậu, sinh năm 1933 tại Hà Nội nhưng quê gốc ở Thanh Hóa. Thuở thiếu niên ông từng theo học nhạc với giáo sư – nhạc sĩ Tạ Phước, và đã tập tành sáng tác từ rất sớm nhưng không mấy thành công. Mồ côi cha, nhà nghèo, mấy mẹ con dắt díu nhau nương náu trong một túp lều xiêu vẹo ở ngõ chợ Khâm Thiên. Chính vì thế, Trần Tấn Hậu rất thương mẹ và các em.

Lúc đó chàng nhạc sĩ nghèo chưa lấy nghệ danh Y Vân, ông phải đi dạy đàn để nuôi gia đình. Có một người bạn thân giới thiệu anh đến dạy đàn cho một tiểu thư khuê các – nàng tên là Tường Vân. Rồi giữa họ hé nở một mối tình đằm thắm. Nhưng… tình đầu tan vỡ cũng là lẽ thường, huống chi chàng chỉ là anh “Trương Chi” si tình khốn khổ, còn nàng lại là một “Mỵ Nương” danh gia vọng tộc. Không thành duyên nhưng… thành danh, một loạt các ca khúc của Y Vân (có nghĩa là Yêu Vân) ra đời từ đó như : Đò nghèo, Ảo ảnh, Nhạt nắng… với phong cách tha thiết, trữ tình rất được công chúng yêu thích.

Không chỉ có vậy, sáng tác của Y Vân còn rất đa dạng : vui tươi, sôi động với Sài Gòn đẹp lắm, lung linh, sang trọng với Tiếng trống cao nguyên, Những bước chân âm thầm (thơ Kim Tuấn) và nhất là ca khúc Lòng mẹ êm ái đầy xúc cảm…

Tác giả biết rất nhiều về anh em nhạc sĩ Y Vân và Y Vũ, nhưng có bài viết của Nguyễn Linh Giang mang thật nhiều ý nghĩa về người nhạc sĩ sáng tác ca khúc “Người em sầu mộng” phổ thơ của Lưu Trọng Lư. Bài viết mở đầu có nội dung :

Y VÂN VÀ MẸ

– Ai là người Việt Nam mà không biết bài “Lòng Mẹ” cua Y Vân, thậm chí còn có thể ngân nga ít nhất là hai câu đầu của bài hát : “Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào / Tình mẹ tha thiết như dòng suối hiền ngọt ngào…”. Bài hát tha thiết, êm ái và chân thành quá khien ai cũng có thể… vơ vào để tưởng tượng người mẹ trong bài hát là mẹ của mình, để rồi hát lên và… chảy nước mắt.

Y Vân tên thật là Trần Tấn Hậu, sinh năm 1933 và mất năm 1992, đúng 60 tuổi, y như bài nhạc twist “60 năm cuộc đời” mà ông đã viết thuở nào. Y Vân lúc nhỏ nhà nghèo lắm, sống xa bố, chỉ có mẹ hiền và bên ngoại đùm bọc. Có lẽ ông đã thừa hưởng dòng máu nghệ sĩ từ bên ngoại vì ông ngoại giỏi thơ văn và mẹ cũng rất giỏi thơ văn.

Năm 1954, ông cùng 2 em và mẹ di cư vào Nam với hai bàn tay trắng, lúc vừa 21 tuổi. Mẹ hiền buôn bán nuôi 3 con. Còn Y Vân thì đã thích nhạc từ nhỏ, học đàn, sáng tác, hòa âm từ trước năm 54 nên vào Nam đã có thể đi trình diễn giúp vui cho đồng bào di cư.

Giai thoại ca khúc Lòng Mẹ :

Sau một buổi trình diễn với Phủ Tổng Ủy Di Cư về, Y Vân bị mưa ướt như chuột lột, quần áo dơ hết. Mới di cư còn nghèo, chỉ có một bo đồ coi được nhất để trình diễn, Y Vân rất lo lắng vì ngay sáng hôm sau lại phải đi đàn nữa. Khuya hôm đó, mẹ ông đã đem bộ quần áo ra máy nước công cộng đầu hẻm giặt sạch rồi về nhà đốt than lên hơ cho chóng khô. Sáng hôm sau, Y Vân đã nghiễm nhiên có được bộ quần áo sạch  mặc đi diễn. Ông cảm động lắm và cảm hứng viết ca khúc đầu tay “Lòng Mẹ”, một bài hát đã đi vào lòng hằng triệu người dân nước Việt.

Và đó là khởi đầu cho sự nghiệp âm nhạc của một trong những nhạc sĩ tài hoa nhất của Việt Nam.

Người mẹ đã đóng một vai trò quan trọng trong suốt cuộc đời Y Vân. Mẹ là người nuôi nấng nên người từ khi còn nhỏ và săn sóc con khi đã lớn. Mẹ cũng chính là người dựng vợ cho con.

Một cô gái quen với Y Vân do bạn thân làm mối năm mới 16 tuổi. Cô không mê nhạc mà chỉ thích thơ. Y Vân về nói chuyện với mẹ. Bà cụ thân hành qua nhà cô để xem mặt. Để tìm hiểu về cô dâu tương lai, bà xin phép xuống nhà dưới đi vệ sinh nhưng mục đích chính là xem thử bếp nước như thế nào. Bà về nói với cô em gái :

– Được lắm! Bếp nước gọn gàng sạch sẽ.

Thế là Y Vân được vợ. Từ lúc quen đến lúc cưới chỉ vỏn vẹn 5 tháng. Ngày đám cưới, Y Vân đã viết bài “Người Vợ Hiền” tặng vợ.

Y Vân là một trong số ít những nhạc sĩ Việt Nam sống hoàn toàn bằng âm nhạc. Ngoài việc sáng tác và làm việc cho các đài phat thanh và truyền hình, ông còn đánh đàn contrebass và guitar tại các phòng trà ca nhạc ở Sài Gòn và các Club Mỹ. Là một nghệ sĩ, ông ít có đầu óc thương mại, thường bán đứt bản quyền các bài hát  ăn khách. Trong một thời gian ông và vợ có thực hiện một số băng nhạc lấy tên Trung Tâm Mây Hồng nhưng cũng không kéo dài lâu

Sau 1975, Y Vân trở nên nghèo túng như tất cả những người Sài Gòn lúc gạo châu củi quế. Và nhiều bài hát của các nhạc sĩ chưa được cho phép trình diễn, nên ông không hành nghề được phải sống bằng tiền dành dụm. Đến những năm 80, hoạt động âm nhạc mới trở lại, nhưng lúc này ông ít sáng tác mà chỉ làm nhạc phim và viết hòa âm cho các ca sĩ.

Nhạc sĩ Y Vân mất ngày 28/11/1992, sau một cơn mệt tim nặng. Bà Minh Lâm, vợ cố nhạc sĩ Y Vân tâm sự :

– “Nhiều người thêu dệt Y Vân thành một con người đa tình, trăng hoa. Là vợ chồng, mấy mươi năm đầu gối tay ấp nên tôi rất hiểu nhà tôi. Anh ấy là một người đàng hoàng, có gì cũng thật thà kể với vợ (kể cả những việc sâu kín như trường hợp lấy nghệ danh Y Vân). Anh ấy rất có hiếu với mẹ và thương yêu vợ con.

“Thời gian sau năm 1975, Y Vân tham gia Đoàn ca nhạc Hương Miền Nam, rồi nhận viết nhạc cho nhiều nguồn : phối nhạc cho Saigon Audio, viết nhạc phim, nhạc nền cho sân khấu… Anh làm việc cật lực bất kể ngày đêm. Ban trưa, nhìn anh xoay trần viết nhạc dưới mái tôn thấp nóng hầm hập, thấy thương vô cùng. Trời thương, nên giai đoạn đó anh được “đặt hàng” dồn dập, có thể nói là “ăn nên, làm ra”, nhờ đó mà gia đình chúng tôi xây lại được căn nhà tạm gọi là ngăn nắp, nhưng anh làm ra cho mẹ con chúng tôi hưởng, bởi chỉ một năm sau thì anh mất.

“Dạo ấy, đứng trước quan tài của anh đang được quàn tại Hội Âm nhạc TP.HCM, mẹ chồng tôi không hề khóc một tiếng. Có lẽ tất cả nước mắt để khóc thương con, bà cụ đã âm thầm nuốt ngược vào trong. Chúng tôi nghe bà cụ nói : “Người đời thường bảo: Con “đi” trước mẹ là bất hiếu, nhưng mẹ chẳng trách con đâu bởi con đã làm tròn chữ hiếu ngay từ lúc viết xong bài Lòng mẹ”… Con đi trước mẹ nhưng không nợ mẹ, vì mẹ nuôi con 20 năm nhưng con đã nuôi mẹ đến 40 năm.

10 tháng sau, mẹ ông mất. (trích bài Nguyễn Việt)

Lan Hương chuyển tiếp

NHẠC SĨ NGỌC CHÁNH

BAN NHẠC SHOTGUNS

VÀ NGƯỜI NHẠC SĨ ĐA TÀI

– Bài : NGUYỄN VIỆT

Tôi biết nhạc sĩ Ngọc Chánh từ ngày anh còn làm ở phòng trà khiêu vũ trường Queen Bee trên lầu của thương xá Eden, lúc đó đang do nữ ca sĩ Khánh Ly khai thác. Bấy giờ Ngọc Chánh đang chơi piano và organ trong một ban nhạc chưa được đặt thành tên, và cũng chưa được nổi tiếng lắm trong các hoạt động âm nhạc ở miền Nam bấy giờ.

Nhưng rồi một ngày, khi Khánh Ly ra mở phòng trà riêng trên đường Tự Do (bây giờ là Đồng Khởi), ông Tuất chủ nhân phòng trá Queen Bee giao lại cho nữ ca sĩ Thanh Thúy quản lý. Từ đó một ban nhạc mới được thành hình, một ban nhạc mang âm thanh của loại súng liên thanh ra đời, tức ban nhạc Shotguns, do nhạc sĩ Ngọc Chánh làm Chef d’orchest hợp cùng các nhạc sĩ Hoàng Liêm (guitar), Hùng (bass), Ngọc Chánh (piano, organ), Lưu Bình (trống) và các ca sĩ chủ lực gồm Thanh Thúy, Elvis Phương, Pat Lâm và Ngọc Mỹ. Sau này có thêm các nhạc sĩ Cao Phi Long, Đan Thọ, Lê Văn Thiện, ca sĩ có thêm những Thanh Lan, Xuân Sơn, Thái Châu, Nguyễn Chánh Tín, cùng chen vai sát cánh bên nhau, hoạt động từ băng nhạc, ca vũ trường đến các show diễn tại các Club Mỹ, trên các sân khấu đại nhạc hội hay đài phát thanh, truyền hình.

MỘT NHẠC SĨ CÓ TÀI KINH DOANH

Thời gian còn cộng tác tại phòng trà Queen Bee, ban nhạc của nhạc sĩ Ngọc Chánh còn phục vụ trong đoàn văn nghệ Hoa Tình Thương và các Club Mỹ, với phong cách trình diễn loại nhạc kích động như ban nhạc của Khánh Băng – Phùng Trọng. Bởi ca sĩ chủ lực của ban Shotguns là Pat Lâm và Ngọc Mỹ, vào thời đó chưa ai hát nhạc ngoại quốc qua mặt được (năm 1971, khi Ngọc Mỹ đi Mỹ trình diễn và cô đã ở lại Mỹ hát cho một ban nhạc nổi tiếng từ đó).

Cuối những năm 1960, nhạc sĩ Ngọc Chánh sau khi thành hình ban nhạc Shotguns, anh đã cùng Hoàng Liêm, Elvis Phương quyết định chuyển hướng từ một ban nhạc chuyên trình diễn loại nhạc Pop Rock kích động sang trình bày nhạc Việt. Bởi Ngọc Chánh có tâm tư, tại sao cứ phải trình diễn cho các Club Mỹ với loại nhạc kích động Pop Rock, Twist, Bebop.. ồn ào náo nhiệt, mà không trở về với cội nguồn cho khán giả Việt thưởng thức những nhịp điệu nhẹ nhàng, lãng mạn, trữ tình như Slow, Boston, Rumba, Tango, Bolero… Một quyết định xem ra đơn giản nhưng không đơn giản vào thời đó, vì có một số anh chị em trong ban nhạc không đồng tình. Lý do trình diển ở các Club Mỹ được nhiều tiền hơn trên các sân khấu Việt.

Sau khi chọn được hướng đi mới, nhạc sĩ Ngọc Chánh bắt đầu đứng ra thành lập cơ sở Nguồn Sống, chuyên sản xuất băng nhạc nhằm tạo đất sống mới cho các ca nhạc sĩ trong ban nhạc; đồng thời cùng nữ ca sĩ Thanh Thúy lập phòng trà khiêu vũ trường mang tên International Quốc Tế nằm ở mũi tàu Lê Lợi, Nguyễn Trung Trực, Công Lý (nay là đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa), và mở cả kiosque mang tên Khai Sáng nằm dưới tầng trệt của phòng trà, làm nơi tổng phát hành băng nhạc do anh sản xuất.

Nói về sản xuất băng nhạc, nhớ lại lúc khởi đầu khai sinh ra nhãn hiệu băng Shotguns, mấy cuốn đầu tiên không nói là thất bại nhưng thật sự chưa gây được ấn tượng trên thị trường, mặc dù có những nhà văn tên tuổi như nhà văn Nguyễn Đình Toàn, ký giả Quỳnh Như viết lời giới thiệu một cách rộng rãi ra công chúng. Chính nhạc sĩ Ngọc Chánh cũng biết là thất bại, không thành công, là vì có những bài hát nằm đan xen trong chủ đề, tuy hợp với giới thưởng thức này nhưng lại là “khắc tinh” với giới khác. Bởi người nghe nhạc đã phân từng loại ca sĩ lẫn từng loại nhạc phẩm.

Như tầng lớp SVHS thì thích những giọng ca của Thanh Lan, Khánh Ly, Lệ Thu, Xuân Sơn, Anh Khoa, Jo Marcel, Sĩ Phú, Elvis Phương, Tuấn Ngọc… Đại đa số công chúng thích nghe Thanh Thúy, Minh Hiếu, Phương Dung, Thanh Tuyền, Túy Hồng, Nhật Trường, Thái Châu… qua những nhạc phẩm mang tính văn hóa và nghệ thuật . Còn lại các ca sĩ như Chế Linh, Duy Khánh, Hùng Cường, Mai Lệ Huyền, Phương Hồng Quế, Sơn Ca, Giang Tử, Trang Thanh Lan, Trang Mỹ Dung, Thiên Trang… thích hợp cho những nhạc phẩm thị hiếu, được soạn theo kiểu mà người đời thường gọi là “nhạc sến”, như các nhạc phẩm : Một trăm phần trăm, Chuyện tình Lan và Điệp, Nhẫn cỏ cho em, Đồi thông hai mộ, Rước tình về với quê hương v.v…

Giới thưởng thức âm nhạc thời bấy giờ rất kén nghe ca sĩ hát, và ca khúc thuộc dạng lãng mạn trữ tình hay dành cho “sến nương” trong một nhãn hiệu băng nhạc nào đó. Hai trường phái này luôn đối nghịch, nếu nhãn băng  có những Lệ Thu, Khánh Ly, Elvis Phương, Thanh Lan… thì sẽ không có những Chế Linh, Giao Linh, Trang Mỹ Dung, Chung Tử Lưu, Giang Tử, Duy Khánh v.v… Có các nhạc phẩm như Tình nhớ, Con thuyền không bến, Đêm đông, thì thường không nghe những bài thuộc dòng “nhạc sến” như Chuyện tình Lan và Điệp, Nhẫn cỏ cho em v.v… Khán thính giả đã phân chia các hạng bậc ca sĩ, nhạc phẩm như thế để thưởng thức nhằm thư giản tinh thần.

Cho nên khi Ngọc Chánh mở đầu cho nhãn hiệu băng nhạc Shotguns với bài “Một trăm phần trăm” do Hùng Cường hát, trong một cuốn băng có những giọng ca như Thanh Thúy, Thanh Lan, Xuân Sơn, Khánh Ly, Elvis Phương…  đã không được giới thính giả chào đón, đi đến thất bại.

Từ kinh nghiệm trên, nhạc sĩ Ngọc Chánh rất thận trong phong cách chọn bài hát, ca sĩ và cả về âm thanh. Đến khi cuốn “Băng Vàng Shotguns” được phát hành, một tờ nhật báo bán chạy nhất lúc bấy giờ viết đến kỹ thuật thu âm audio cao cấp của nhóm nhạc này, giới mộ điệu âm nhạc bắt đầu chú ý và từ đó trở thành nhãn hiệu băng được mọi người tin cậy, bán chạy nhất bấy giờ.

Nói về kỹ thuật thu âm, thông thường với băng nhựa 8 ly thường được sử dụng từ cuối thập niên 1960, người làm băng nhạc cũng ghi âm trên master tape loại băng 8 ly với âm thanh stereo gồm 4 track. Còn Ngọc Chánh ghi âm bằng master tape 16 ly với âm thanh hifi 6 track, tức có 6 đường rảnh độc lập, mỗi rảnh ghi âm một thứ âm thanh riêng biệt, có thể mix chồng lên nhau. Từ master tape này khi chuyển sang ra băng 8 ly sẽ có chất lượng âm thanh hoàn hảo chuẩn xác hơn. Đồng thời trong cuốn “Băng Vàng Shotguns” về phần hòa âm các nhạc phẩm đều do nhạc sĩ Lê Văn Thiện biên soạn, mới lạ hơn những bản hòa âm mà các băng nhạc khác chỉ soạn theo kiểu “mì ăn liền”. Bởi khi mix, trong đó với âm thanh 4 chiều chuyển động (hifi), người ta có thể phân tích được các loại nhạc khí. Hợp cùng những giọng ca hàng đầu bấy giờ như Thanh Thúy, Khánh Ly, Lệ Thu, Elvis Phương, Anh Khoa trình bày v.v…

Sau cuốn “Băng Vàng Shotguns” thành công và được thính giả ủng hộ liên tục những cuốn băng nhạc sau, nhạc sĩ Ngọc Chánh bắt đầu đưa ra nhãn băng thứ hai mang tên nữ ca sĩ “Thanh Thúy”, với thể nhạc khác với thể nhạc của băng Shotguns, cũng đạt kết quả mỹ mãn. Ngọc Chánh liền cho ra nhiều nhãn hiệu băng khác nhằm chiếm trọn thị trường băng nhạc lúc đó, vì làm kinh doanh băng nhạc phải nhạy bén với lớp người thưởng ngoạn.

Cơ sở sản xuất Nguồn Sống của Ngọc Chánh mở thêm thể loại nhạc trẻ mang tên “Băng nhạc Trẻ”; chủ lực gồm ca sĩ Thanh Lan và ban nhạc Phượng Hoàng của Elvis Phương, Nguyễn Trung Cang… và do Kỳ Phát thực hiện nhằm cạnh tranh với các nhãn hiệu băng do Trường Kỳ, Tùng Giang, Nam Lộc, Jo Marcel thực hiện

Nhận thấy ba bước kinh doanh đầu tiên đều thành công, nhạc sĩ Ngọc Chánh mạnh dạn ra một nhãn hiệu băng trái với tay nghề, tức loại băng mang thể loại tân cổ giao duyên, cải lương và hồ quảng tên “Hồn Nước”.

Chủ lực gồm những nghệ sĩ sân khấu thành danh trên sân khấu cải lương và hồ quảng như Thanh Nga, Thành Được, Phượng Liên, Dũng Thanh Lâm, Thanh Kim Huệ, Thanh Điền, Tấn Tài, Bạch Lê, Thanh Bạch v.v… trong đó phần nhạc đệm tân nhạc vẫn là Shotguns, còn về cổ nhạc quy tụ nhạc sĩ Bảy Bá (tức soạn giả Viễn Châu) điều hành, có Văn Vĩ đàn guitar, Năm Cơ đàn kềm và cả ban nhạc hồ quảng của Đức Phú.

Không ngừng ở nhãn băng thứ tư, Ngọc Chánh tiếp tục ra mắt nhãn băng thứ năm mang tên “Chế Linh” dành cho người thích nghe “nhạc sến”…

Đó là về quá trình sản xuất kinh doanh băng nhạc. Vì thế ban nhạc Shotguns vào năm 1973 được đọc giả, khán thính giả ái mộ bình chọn là “Ban nhạc được ái mộ nhất” của Giải Kim Khánh Nghệ Thuật thường được tổ chức hàng năm.

Sau ngày 30/4/1975, nhạc sĩ Ngọc Chánh còn ở lại Sài Gòn, vài năm sau anh mới đi Mỹ bằng đường biển. Ở Mỹ, Ngọc Chánh đã gầy dựng lại ban nhạc và nhãn hiệu băng nhạc Shotguns, vì nó đã trở thành một thương hiệu đã được mọi người tin cậy từ những năm 1970. Đồng thời trên đất Mỹ, anh còn mở phòng trà Ritz để giới thiệu những tài năng mới và những thân hữu nghệ sĩ đang sinh sống tại hải ngoại.

Trước đây và bây giờ cũng vậy, nhạc sĩ Ngọc Chánh luôn sống nhã nhặn khiêm tốn, hòa đồng cùng mọi người, kể cả khi đã có địa vị tiếng tăm. Vì thế với Ngọc Chánh, hình ảnh của anh rất ít xuất hiện trước công chúng, tuy nhiên mọi người khi nghe nói đến tên Ngọc Chánh là biết anh là ông bầu của một ban nhạc và băng nhạc nổi tiếng, đồng thời là tác giả của nhiều ca khúc hợp soạn cùng nhạc sĩ Phạm Duy, những nhạc phẩm của anh ai cũng nhớ như Bao giờ biết tương tư, Tuổi biết buồn, Vết thù trên lưng ngựa hoang…

GIỚI THIỆU CA SĨ MÁT TAY

Tuy nhạc sĩ Ngọc Chánh không có “lò đào tạo ca sĩ” như các nhạc sĩ khác và cũng không tự nhận mình là thầy đào tạo của một ca sĩ nào, nhưng anh lại là người giới thiệu tài năng mới rất mát tay như những Elvis Phương, Thái Châu, Nguyễn Chánh Tín hay Xuân Sơn cô ca sĩ từng được mệnh danh ca sĩ “Trăng sáng vườn chè”; đi hát từ thời Khánh Ly đang còn khai thác phòng trà Queen Bee, ít người biết đến, sau về cộng tác với ban nhạc Shotguns cô đã trở nên nổi tiếng, hay một Hải Lý mới chớm nở chưa kịp kết nụ ra hoa, Ngọc Chánh đã không còn kịp đưa tên tuổi lên như những đàn anh đàn chị vì thời cuộc đổi thay.

Nhưng có lẽ bất ngờ nhất khi nói Ngọc Chánh là người tìm thấy giọng ca của nữ ca sĩ Minh Hiếu đầu tiên. Anh từng lăng xê Minh Hiếu trước cả nhạc sĩ Đức Quỳnh. Theo nhạc sĩ Ngọc Chánh tâm sự :

– “Vào năm 1961 tôi đang phụ trách ban nhạc ở hồ tắm Cộng Hòa trên đường Lê Văn Duyệt (bây giờ tên đường Cách Mạng Tháng 8). Năm đó có một người con gái yêu thích ca nhạc. Cô ta từ Binh Long lên Saigon học hát và học may. Tôi có người bạn nhạc sĩ nhờ tôi hướng dẫn và giúp đở. Thật ra những ngày đầu gặp tôi, cô ta chỉ hát được hai bài là “Nổi Lòng” của Nguyễn văn Khánh và “Gợi Giấc Mơ Xưa” của Lê Hoàng Long (theo dạng bài hát tủ). Nhưng vì tôi là Chef d’orchestre nên đưa cô vào hát ở hồ tắm Cộng Hòa không có gì trở ngại. Cô ấy tên Minh Hiếu.

“Minh Hiếu là người rất có khiếu về ca nhạc, lại thêm đam mê nên chỉ sau 6 tháng đã nổi tiếng. Minh Hiếu bắt đầu hát cho phòng trà “Arc en Ciel” trong Chợ Lớn rồi phòng trà Đức Quỳnh bên rạp Việt Long xưa và Văn Cảnh. Còn được mời thâu dĩa hát cho những hãng dĩa 33 tour ở Sài Gòn thời bấy giờ v.v…”

Hay khi Ngọc Chánh nói đến hai ca sĩ Elvis Phương và Hương Lan thời mới vào nghề :

– “Bài hát đầu tiên của Elvis Phương hát là “Mộng Dưới Hoa”. Ngày đó Elvis Phương hát như người Mỹ hát tiếng Việt, vừa ngọng, vừa đớt thật là khó nghe, nhưng sau một thời gian anh em hướng dẫn, Elvis Phương bắt đầu hát hay dần, hay dần cho đến hôm nay nhiều ca sĩ trẻ trong nước lẫn hải Ngoại chưa ai có giọng ca tốt như Elvis Phương.

“Hoặc như Hương Lan là giọng ca hiếm có khi thâu bài nhạc Hoa lời Việt “Mùa Thu Lá Bay”, nếu cô ấy chịu đi theo con đường này chắc là từ đó đến giờ sẽ không có đối thủ cạnh tranh, nhưng sau tôi không còn thời gian hướng dẫn nữa…”

Phải chăng vì thế Hương Lan chỉ thuộc nữ ca sĩ trung trung đến bây giờ ?! vì từ xưa đến nay các ông bầu tổ chức ca nhạc thường không đưa tên tuổi Hương Lan thành “vơ-đét” của đêm diễn.

Nói về Xuân Sơn hay Nguyễn Chánh Tín cũng thuộc ca sĩ trong ban Shotguns. Cho thấy vào thời kỳ trước những năm 1965, đa số các nam nữ ca sĩ đều từ văn nghệ học đường, từ năng khiếu mà hình thành ra chất giọng riêng biệt. Tuy nhiên không có người hướng dẫn “lăng xê”, khi đi hát lại không chọn đúng nhạc phẩm sở trường, thích gì hát đó nên không thể tự tạo được ấn tượng cho giới thưởng thức.

Thí dụ như Xuân Sơn thích đi hát từ năm 12 tuổi, lớn lên lại trúng tuyển Giải Nhất cuộc thi Tuyển Lựa Ca Sĩ với ca khúc “Trở về Mái Nhà Xưa”. Sau đó Xuân Sơn được mời hát trong các chương trình tại Đài phát thanh, rồi phòng trà. Từng được nhạc sĩ Đỗ Lễ hướng dẫn về nhạc lý và xướng thanh, nhưng quanh đi quẩn lại chỉ có một bài tủ “Trăng Sáng Vườn Chè” của Văn Phụng nên không thành danh. Sau này về hát với ban Shotguns qua những nhạc phẩm như Nắng Thủy Tinh, Ru Em Từng Ngón Xuân Nồng, Lệ Đá, Biển Nhớ, Lá Đổ Muôn Chiều, Tôi Ru Em Ngủ… nữ ca sĩ Xuân Sơn mới đạt đến sự ngưỡng mộ của khán thính giả.

HƯỚNG DẪN TIẾNG HÁT ELVIS PHƯƠNG

Elvis Phương năm tuổi 14 đang theo học tại trường Jean Jacques Rousseau (bây giờ tên trường Lê Quý Đôn). Rất thích ca sĩ Elvis Presley với thể nhạc Rock And Roll, khiến cho quên ăn, quên ngủ, và anh luôn muốn trở thành một Elvis Presley VN. Vì vậy với tên thật Phạm Ngọc Phương, anh đã kết hợp với tên mình cùng tên thần tượng để thành tên gọi Elvis Phương cho đến ngày nay.

Elvis Phương tuy không học nhạc nhưng do năng khiếu đã mau chóng lãnh hội được căn bản về nhạc lý qua bạn bè và qua băng dĩa nhạc. Trong những năm còn học ở J.J.Rousseau là thời gian thật tuyệt vời, anh cùng các bạn thành lập ban nhạc có tên The Rockin’ Stars, có tiếng trong giới trẻ yêu thích nhạc ngoại quốc. Đến năm 1964, ban The Rockin’ Stars tan đàn, và Elvis Phương liền được mời vào hát cùng ban nhạc Les Vampires để trình diễn tại các Club Mỹ. Sau đó gia nhập vào đoàn Văn Nghệ Hoa Tình Thương.

Trong suốt thời gian phục vụ trong đoàn văn nghệ Hoa Tình Thương cùng với ban nhạc Shotguns, Elvis Phương đã gần như chuyển hướng với việc trình bày ca khúc, ít hát nhạc ngoại quốc mà chỉ hát nhạc Việt để đáp ứng yêu cầu của mọi người và cả trong các nhãn hiệu băng do Ngọc Chánh sản xuất.

Sau khi được các nhạc sĩ trong ban nhạc hướng dẫn cách phát âm cho đúng lời Việt, và tự tạo cho mình một sắc thái riêng biệt, từ đó anh đã tự tạo cho mình một kỹ thuật phát âm với những tiếng nấc, tiếng nghẹn đặc biệt, như nhạc phẩm “Lời cuối cho em” là bước đầu đưa tên tuổi Elvis Phương lên hàng danh ca. Sau đó Elvis Phương còn thành công qua những nhạc phẩm khác như Xé thư tình, Kỷ vật cho em, Áo anh sứt chỉ đường tà, Về đây nghe em, Những bước chân âm thầm, Vết thù trên lưng ngựa hoang v.v…. Đó là chưa kể những nhạc phẩm ngoại quốc lời Việt như Godfather, Aline, Main Dans La Main, Lady Belle, Love Story, vv…

Đến năm 1972, Elvis Phương trở nên nổi bật khi xuất hiện cùng ban nhạc Mây Trắng sau là ban Phượng Hoàng qua những nhạc phẩm của Lê Hựu Hà và Nguyễn Trung Cang, như Tôi muốn, Thương nhau ngày mưa, Lời người điên, Yêu người yêu đời, vv…

Năm 1973, Elvis Phương đoạt giải “Nam ca sĩ tân nhạc được mến chuộng nhất” của “Giải Kim Khánh Nghệ Thuật”.

TRẦN VĂN TRẠCH GIỚI THIỆU…

Còn ca sĩ Thái Châu vào năm 1966 mới 15 tuổi, đi theo gánh hát của mẹ tức nghệ sĩ Kim Nên, cùng thời với các nghệ sĩ như Kim Chưởng, Thanh Tao, Thúy Nga, Út Trà Ôn… ba anh còn là phó giám đốc của Cty cải lương Kim Chung; cho nên Thái Châu đã mang dòng máu nghệ sĩ từ trong gia đình, vì nhà có 4 anh em đều sống với ánh đèn sân khấu. Lúc đó ai cũng nghĩ Thái Châu sẽ là hậu duệ tiếp bước đường của cha mẹ.

Thế nhưng, tâm hồn cậu bé Trương Chiêu Thông (tên thật của Thái Châu) lại bị mê đắm bởi những ca khúc lãng mạn trữ tình trong tân nhạc hơn là hát sáu câu vọng cổ bên cổ nhạc.

Đến mùa hè năm 1966, khi đoàn hát của mẹ anh ra Vũng Tàu, anh ban ngày phụ giúp cha mẹ một vài công việc trong đoàn hát, còn đêm tìm đến quán cà phê nhạc nơi có nhạc sĩ Nguyễn Đình Nghĩa (thổi sáo) và Trần Xuân Ngã (violon) quản lý ở đây, để nghe các ca nghệ sĩ biểu diễn.

Ở quán này có giờ dành cho khán giả lên hát như phong trào Hát với nhau ngày nay. Thái Châu xin lên hát, đêm đó có cha mẹ anh đi xem và Thái Châu đã hát ca khúc “Lần đầu cũng như lần cuối” (sáng tác của Minh Kỳ). Không ngờ đêm đó hai nhạc sĩ Nguyễn Đình Nghĩa và Trần Xuân Ngã chính thức đề nghị anh tham gia biểu diễn tại quán có trả lương.

Năm 1969, Thái Châu vừa đi học vừa biểu diễn tại phòng trà Đệ nhất do Mai Lệ Huyền đang phụ trách. Một đêm tình cờ gặp quái kiệt Trần Văn Trạch đến nghe hát, nhà quái kiệt ngỏ ý giới thiệu Thái Châu gia nhập vào ban nhạc Shotguns của Ngọc Chánh. Chính Thái Châu tâm sự : “Tôi mừng còn hơn ai cho vàng vì ban nhạc này đang rất nổi tiếng, nhiều danh ca đã cộng tác và nhiều mầm non ca sĩ đã thành danh từ ban nhạc này”.

Về với ban Shotguns, được Ngọc Chánh giúp đỡ, động viên trong tình anh em, vì vậy Thái  Châu đã tự tạo dấu ấn qua nhiều ca khúc dành riêng cho anh. Điển hình như các bài Tôi đưa em sang sông (Y Vũ), Tình như mây khói, Tình chết theo mùa đông (Lam Phương), Linh hồn tượng đá (Mai Bích Dung), Bài thánh ca buồn (Nguyễn Vũ)… và trở thành giọng hát chủ lực trong ban nhạc Shotguns từ đó.

NHỮNG NHẠC PHẨM NỔI TIẾNG CỦA NGỌC CHÁNH

BAO GIỜ BIẾT TƯƠNG TƯ

Ngày nào cho tôi biết, / Biết yêu em rồi tôi biết tương tư / Ngày nào biết mong chờ, / Biết rộn rã buồn vui đợi em dưới mưa…

Ôi biết đem tin này, / Vắng như lòng giấy, tình yêu lấp đầy / Rồi biết quên câu cười, / Biết cho đôi dòng lệ rơi.

Tình yêu đã trở lại, / Đôi mắt đêm ngày vơi hết đọa đầy / Tà áo em phơi bầy, / Ngón tay em dài, tiếng yêu không lời.

Ngày nào lòng tôi đã / Biết vui biết buồn, ôm mối tương tư / Ngày nào cánh Thiên Đường / Đã mở hé tình yêu là trái táo thơm / Tôi ghé răng cắn vào / Miệng môi ngọt đắng, tình yêu cuối đường / Là trối trăn cuối cùng, / Giấc mơ não nùng vội tan.

VẾT THÙ TRÊN LƯNG NGỰA HOANG

(Viết cho phim cùng mang tên dựa theo tiểu thuyết của nhà văn Nguyễn Thụy Long)

Ngựa hoang nào dẫm nát tơi bời / Đồng cỏ nào xanh ngát lưng trời / Ngựa phi như điên cuồng / Giữa cánh đồng dưới cơn giông / Vì trên lưng cong oằn / Những vết roi vẫn in hằn

Một hôm ngựa bỗng thấy thanh bình / Thảm cỏ tình yêu dưới chân mình / Ân tình mở cửa ra với mình / Ngựa hoang bỗng thấy mơ / Để quên những vết thù

Ngựa hoang muốn về tắm sông nhẫn nhục / Giòng sông mơ màng mát trong thơm ngọt / Ngựa hoang quên thù oán căm / Từ nơi tối tăm về miền tươi sáng / Ngựa hoang về tới bến sông rồi / Cởi mở lòng ra với cõi đời / Nhưng đời ngựa hoang chết gục / Và trên lưng nó ôi / Còn nguyên những vết thù ./.

Thiên Lý Nhãn chuyển tiếp

Trong xe TAXI

Chàng trai và cô gái yêu nhau ngồi trong tắc xi:

– Anh yêu em muốn chết đi được, – chàng trai nói.

– Em cũng cảm thấy em như đang chết  vì yêu anh, – người con gái đáp lại.

– Xin lỗi hai anh chị ! – người lái xe tắc xi nói chen. – Tôi xin lỗi vì làm gián đoạn cuộc tâm sự của anh chị, nhưng xin anh chị hãy thanh toán tiền xe cho tôi trước khi cả hai anh chị…  qua đời.

 Bài tập về nhà

Tại lớp học, cô giáo ra đề bài tập về nhà: “Em hãy kể một chuyện không bình thường mới xẩy ra gần đây ở nhà em”.

Ngày hôm sau cô giáo gọi Robert đứng lên đọc bài làm của mình.

– Tuần trước bố em bị rơi xuống giếng…

– Lạy Chúa tôi, thế bố em có bị làm sao hay không? – cô giáo hoảng hồn hỏi.

– Thưa cô, chắc là bố em không bị làm sao cả, vì từ hôm qua không thấy bố kêu la ở dưới đó nữa.

Tại phiên toà xét xử vụ xin ly dị

Quan toà hỏi người vợ, bên nguyên:

– Trước kia, khi chị đồng ý lấy anh ta thì nhất định anh ta phải có cái gì đó lôi cuốn chị chứ?

– Dạ, thưa quý toà, có, có đấy ạ, nhưng em đã xài hết nhẵn rồi.

Yên Nhàn chuyển tiếp

NÓI VỀ GIẢI THANH TÂM

HCV GIẢI THANH TÂM :

NHỮNG NGÔI SAO CẢI LƯƠNG

NGÀY ẤY GIỜ RA SAO ?

– Soạn giả Nguyễn Phương

Xem trên internet, một ông bạn nào đó khi viết về cuộc đời của một nữ nghệ sĩ cải lương ngày xưa đã có nói tới giải thưởng Thanh Tâm và ông bạn đó kể là ông cựu Bộ trưởng Thông Tin Trần Chánh Thành đã đứng ra phát huy chương vàng cho cô Thanh Nga, nữ nghệ sĩ đầu tiên đoạt được giải Thanh Tâm. Ông bạn đó còn mô tả là Đài truyền thanh, Đài truyền hình Saigon loan tin, chiếu hình ảnh và phát sóng trực tiếp buổi lễ phát giải thưởng đó.

Ông bạn thật là giàu trí tưởng tượng. Giải Thanh Tâm đầu tiên được phát là vào năm 1958, khi đó thì Sàigòn chưa có đài truyền hình, làm sao mà phát hình phát song ? Vả lại giải thưởng Thanh Tâm là một giải Văn nghệ do tư nhân tổ chức nên không có việc một ông bộ trưởng Thông Tin đứng ra trao giải thưởng.

Nhắc đến giải thưởng Thanh Tâm, huy chương vàng cho diễn viên triển vọng cải lương là nhắc đến một thời vàng son của ngành nghệ thuật sân khấu cải lương. Đó là nhắc lại cái thời mà người dân miền Nam được hưởng nhiều quyền tự do sinh sống, trong đó có quyền tự do báo chí, tự do hoạt động văn nghệ, tự do hội hè đình đám…

Còn nhớ, ngày 20 tháng 7 năm 1954, sau khi Hiệp định đình chiến Pháp – Việt được công bố, chánh quyền miền Nam bãi bỏ lịnh giới nghiêm từ mười hai giờ đêm tới sáng, ở Saigon, dân chúng được yên ổn làm ăn, dư ăn dư để nên có thừa tiền để thưởng thức văn nghệ, mua sách báo, phim ảnh. Nhiều gánh hát cải lương mới được thành lập, nhiều soạn giả và nghệ sĩ cải lương tài năng mới xuất hiện.

Ông Trần Tấn Quốc, chủ nhiệm kiêm chủ bút tờ nhật báo Tiếng Dội, một tờ báo hàng ngày có trang kịch trường đăng vào mỗi ngày thứ tư và thứ bảy, ông lại là bạn thân của hai nghệ sĩ Năm Châu và Phùng Há nên muốn góp sức xây dựng một thế hệ nghệ sĩ mới bằng cách tổ chức một giải thưởng Văn Nghệ, Giải Thanh Tâm để khuyến khích các nghệ sĩ trẻ trao dồi nghệ thuật ca và diễn.

Thanh Tâm là bút hiệu của ông Trần Tấn Quốc mà đó cũng là tên của người vợ sau của ông. Cô Thanh Tâm yểm trợ tài chánh cho giải thưởng văn nghệ nên dù cái tên Thanh Tâm không liên quan gì tới sân khấu và nghệ sĩ cải lương, danh xưng Giải Thanh Tâm vẫn được giới báo chí kịch trường và nghệ sĩ cùng đồng bào ái mộ cải lương công nhận.

Tưởng cũng nên nhắc qua tình hình báo chí Saigon trước năm 1954. lúc đó trên những tờ báo hàng ngày, ngoài những tin tức chiến sự, tin tức về cuộc đàm phán ở Hội Nghị Genèvre, phần lớn các báo đăng thông cáo của Toà Đô Chánh, đăng các tin liên quan tới giờ giới nghiêm và trật tự an ninh của Saigon và các quận. Về tiểu thuyết, các báo đăng tiểu thuyết tình cảm của bà Tùng Long, chuyện kinh dị: Con ma vú dài trong khám lớn Saigon, chuyện Cậu Tư Cẩu của Lê Xuyên, chuyện Bách Xi Ma Hoàng Ngọc Ẩn của nhà tiều thuyết trinh thám Phú Đức. Tin tức của các đoàn hát cải lương, hát bội hay phim ảnh thì chỉ đăng một vài cột báo ở trương sau. Bài phê bình của báo chí dành cho sân khấu và nghệ sĩ cải lương cũng rất hiếm có.

Như đã kể trên, những năm cuối thập niên 1950 đến những năm đầu thập niên 1960, cuộc sống được ổn định, dân chúng làm ăn phát đạt nên tiêu xài rộng rãi. Ban đêm đường phố Saigon, Chợ Lớn và Gia Định đông nghẹt xe cộ và người đi lại. Các hàng quán bán thức ăn, đồ dùng đều rất đông khách hàng. Các gánh hát bội, hát cải lương, các rạp chiếu bóng cũng nghẹt khán giả.

Báo chí hàng ngày đăng tải nhiều tin tức hơn và bắt đầu có nhiều bài viết giới thiệu cuộc đời của các nghệ sĩ và phê bình tuồng tích. Khi chủ trương Giải Thanh Tâm được loan ra, các nghệ sĩ trẻ rất hoan nghinh và khán giả ái mộ cải lương cũng rất ủng hộ. Có khán giả viết thơ gởi cho các trang báo kịch trường để giới thiệu các nghệ sĩ tham dự giải Thanh Tâm.

Ban tuyển chọn và chấm giải Thanh Tâm năm đầu tiên (1958) gồm 5 người: các ông Trần Tấn Quốc, Nguyễn Thành Châu (nghệ sĩ Năm Châu), Huỳnh Năng Nhiêu (nghệ sĩ Bảy Nhiêu), cô Phùng Há và một vị khán giả ái mộ cải lương Nguyễn Hoàng Minh.

Điều kiện quy định cho nghệ sĩ cải lương tham dự Giải Thanh Tâm được công bố như sau:

– Nữ nghệ sĩ tuổi từ 16 đến 21; nam nghệ sĩ tuổi từ 16 đến 24.

– Là nghệ sĩ đang hành nghề trong một đoàn hát, Ban chấm điểm sẽ căn cứ vào một tuồng hát cụ thể mà diễn viên đó có thủ diễn.

– Điểm về khả năng ca và diễn là 20.

– Điểm về sắc vóc là 20.

– Điểm về đạo đức tư cách nghệ sĩ và tư cách công dân là 10.

Riêng điểm đạo đức nghệ sĩ và tư cách công dân đã gây ra một cuộc tranh cãi sôi nổi trong các ký giả và nghệ sĩ. Nhiều người nói là tuyển chọn Nghệ Sĩ Triển Vọng là tuyển chọn về Thinh và Sắc, về nghệ thuật ca, diễn. Còn đạo đức nghệ sĩ và tư cách công dân thì đó là thuộc về đời tư của các nghệ sĩ.

Nhưng ông Trần Tấn Quốc, chủ giải và các nghệ sĩ tiền phong Năm Châu, Phùng Há đều muốn nhân dịp có Giải Thanh Tâm, một giải văn nghệ dành cho nghệ sĩ cải lương để mà đào tạo một thế hệ nghệ sĩ mới, chẳng những ca hay hát giỏi mà còn phải có tư cách đạo đức để xóa đi cái thành kiến “xướng ca vô loại” mà từ lâu người ta gán cho giới nghệ sĩ.

Còn về tư cách công dân thì có nghĩa là không sa vào tứ đổ tường (hút sách, cờ bạc, đàng điếm, trộm cắp) không phạm tội đối với luật pháp hiện hành thì mới xứng đáng được nhận giải thưởng Thanh Tâm

Nữ nghệ sĩ Thanh Nga, 16 tuổi (sinh năm 1942) hội đủ các tiêu chuẩn về ca hay hát giỏi qua vai Sơn nữ Phà Ca trong tuồng Người vợ không bao giờ cưới của soạn giả Kiên Giang, cộng với các điểm tuyệt đối cao về sắc vóc và tư cách đạo dức, Thanh Nga được chọn là Nghệ sĩ triển vọng Huy Chương vàng Giải Thanh Tâm, năm đầu tiên của giải thưởng nầy (1958).

Giải thưởng chẳng những đem danh dự về cho Thanh Nga và gia đình mà còn làm cho giới nghệ sĩ cải lương vui mừng phấn khích. Nên nhớ là từ trước tới nay, nghệ sĩ hát bội và cải lương bị miệt khinh là thằng kép với con đào, là xướng ca vô loại, lần đầu tiên được báo chí đem ra bình phẩm, tuyển chọn và trao cho huy chương vàng giải thưởng văn nghệ. Nghệ sĩ được huy chương vàng cũng được công chúng khán giả công nhận tài năng, nhan sắc và tư cách. Đây là vinh dự chung cho cả giới nghệ sĩ cải lương.

Tôi còn nhớ ngày 04 tháng 4 năm 1959, lễ trao huy chương vàng và văn bằng Giải thưởng Thanh Tâm cho nữ nghệ sĩ Thanh Nga được tổ chức tại nhà hàng khách sạn Bồng Lai, gần nhà hàng Thanh Thế, đối diện với khu thương xá Tam Đa sau nầy. Ông Trần Tấn Quốc và Ban chấm giải thưởng Thanh Tâm đúng 6 giờ chiều đã có mặt tại nơi tổ chức lễ phát giải để đón tiếp các quan khách.

Các ký giả kịch trường, các soạn giả của đoàn Thanh Minh, Hữu Phước, anh chị Hoàng Giang, Ngọc Chúng, Việt Hùng – Ngọc Nuôi, bé Hoàng Vân, Thu Ba, Minh Tấn, Văn Ngà cũng đã tới sớm tiếp chuyện với anh Út Trà Ôn chủ đoàn hát Kim Thanh, chị Bảy Kim Chưởng, Út Bạch Lan. Quan khách được mời tham dự tôi thấy có nhà học giả Vương Hồng Sển, ông trưởng tòa Phan Văn Thiết, ông trạng sư Dương Tấn Trương tức ký giả Tiểu Nguyên Tử, ông Bùi Văn Lượng (một công chức cao cấp, chồng của bà Phùng Há lúc đó) và một số sĩ quan cao cấp của quân đội mà tôi chỉ nhớ tên của ông đại tá Lam Sơn thôi.

Sáu giờ rưỡi, cô Thanh Nga, ông bầu Nghĩa, bà bầu Thơ, ký giả Kiên Giang và Ngọc Linh đến. Buổi lễ rất long trọng, ông Trần Tấn Quốc thay mặt Ban chấm giải, đọc quyết định thưởng huy chương vàng cho nghệ sĩ Thanh Nga, trao bằng khen và một huy hiệu biểu tượng của giải thưởng. Ông Dương Tấn Trương và ông Vương Hồng Sển phát biểu cảm tưởng, khen những người chủ trương giải thưởng Thanh Tâm, khen Thanh Nga và hy vọng sân khấu cải lương nhân cơ hội nầy mà phát triển mạnh.

Thanh Nga lên ngỏ lời cám ơn Ban tổ chức giải thưởng và quan khách. Bài phát biểu của Thanh Nga là do Kiên Giang viết, Thanh Nga xúc động thật sự khi đọc lời phát biểu nên đã chinh phục được cảm tình của mọi quan khách trong cuộc lễ đó. Hơn 8 giờ chấm dứt cuộc lễ, chúng tôi trở về rạp hát Nguyễn Văn Hảo thì cũng đúng giờ trình diễn. Đêm hát đó, Thanh Nga thủ vai Châu Long trong tuồng Lưu Bình Dương Lễ của soạn giả Kiên Giang.

Sau khi vãn hát, nghệ sĩ của đoàn Thanh Minh và một số khán giả Mạnh Thường Quân ở lại rạp Nguyễn Văn Hảo, dự lễ cúng tạ ơn Tổ nghiệp của Thanh Nga. Đêm đó chúng tôi ăn nhậu say sưa, ca hát mừng vui cho Thanh Nga và đoàn hát.

Tới gần sáng, tôi chạy xe vespa về nhà, vừa quẹo qua ngõ đường Nguyễn Cư Trinh thì bị cảnh sát công lộ thổi còi phạt. Cảnh sát nói tôi say rượu, chạy đảo lượn qua lượn lại. Tôi thấy anh hề Kim Quang cũng dựng xe vespa đứng gần đó. Anh ta bị phạt trước tôi.

Khi cảnh sát hỏi giấy tờ xe và bằng lái, tôi đang loay hoay móc bóp thì anh Hai Ngọc, chồng của cô đào Hoàng Vân chạy tới. Anh biết là tụi tui bị phạt nên ghé lại nói với anh cảnh sát công lộ : “Thôi, anh cho mấy chả đi đi. Mấy cha nghệ sĩ khi cúng Tổ mà không nhậu cho say là ông Tổ phạt đó. Anh cũng có vợ đào hát cải lương, anh biết chuyện đó quá mà sao lại phạt mấy cha đồng nghiệp của vợ anh vậy ?”

Tới chừng đó tôi mới biết anh Hai Ngọc là sếp ở bót Võ Tánh và anh cảnh sát công lộ là anh Son, chồng của cô đào Thu Cúc, ngày xưa cùng đi chung với tôi trong gánh hát Tiếng Chuông của bầu Cang. Tụi tui say quá, lại bị thổi phạt nên không nhận ra anh Son. Anh ta trả giấy tờ của hề Kim Quang lại, nói là để tụi tôi sợ cho tỉnh rượu, nếu không thổi phạt, bắt dừng xe lại thì không chừng tụi tôi đã đụng xe khác rồi.

Được tha, khỏi phải ngủ bót vì say rượu nên lần nầy tôi đẩy xe đi một khoảng khá xa cho thật tỉnh rượu rồi tôi mới tà tà đạp máy xe cho nổ lên, chạy chầm chậm về nhà.

Trưa hôm đó, tôi đang còn ngái ngủ và cảm thấy nhức đầu vì cuộc tiệc rượu quá trớn hôm qua, thì anh tài xế của bà bầu Thơ vô nhà tôi, nói là bà bầu biểu tôi kêu anh hề Châu Hí lo dò tuồng để tối nay hát thế cho hề Kim Quang. Đêm rồi, Kim Quang được anh Son cảnh sát công lộ tha cho không phạt vì tội say rượu, anh ta lớn tiếng hét cho mọi người biết là anh không có say, rồi để chứng minh là anh ta rất tỉnh nên anh đã phóng xe vespa, chạy thật nhanh.

Tới góc đường Bùi Viện, hề Kim Quang phóng luôn vô lề đường, ủi vô vách tường, té bể đầu, ngã ra bất tỉnh. Cảnh sát chở anh vô nhà thương Bình Dân. Hai ngày sau anh mới ra khỏi nhà thương, cái đầu còn mang băng trắng. Hề Kim Quang cằn nhằn: Anh Hai Ngọc hại tui mà ! Phải chi bữa đó ảnh để cho cảnh sát công lộ bắt giữ cái xe của tui lại thì tui đâu có chạy đụng xe cho bể đầu.

Anh Hai Ngọc giận vì câu nói vô ơn của hề Kim Quang, thề không vô chơi trong gánh hát Thanh Minh nữa. Báo hại anh Hoàng Giang, Việt Hùng phải dẫn Kim Quang tới xin lỗi anh Hai Ngọc. Có một ông xếp công an thân thiện giúp đở thì nghệ sĩ trong gánh hát cũng đỡ phải bị phạt vạ lôi thôi, nhứt là bị phạt về cái khoản đậu xe ẩu, lái xe ẩu…

Kỷ niệm nhân ngày cô Thanh Nga lãnh huy chương vàng giải Thanh Tâm mà tôi nhớ hoài là cái kỷ niệm say rượu của hề Kim Quang, tôi tự hứa là mai sau dầu có cuộc tiệc vui cỡ nào đi nữa thì tôi nhứt định cũng sẽ không uống rượu say.

Các năm sau Huy chương vàng giải Thanh Tâm vẫn được tổ chức cho đến năm 1968 thì giải Thanh Tâm mới chấm dứt.

Năm 1959 trở về sau, thành phần Ban Tuyển chọn và Chấm giải có tăng cường thêm các ông Bạch Tùng Hương, Kiên Giang, Phong Vân, Hà Triều. Ban thơ ký đoàn có Thu An, Nguyễn Phương, Mộc Linh, Lê Khanh và Hoàng Khâm. Số diễn viên được chọn cũng tùy theo sự giới thiệu và bình chọn trong năm nên có năm chọn một nghệ sĩ huy chương vàng, có năm chọn được nhiều nghệ sĩ hơn.

Các lần phát giải thưởng Thanh Tâm sau được tổ chức ngay tại rạp hát lớn như rạp hát Nguyễn Văn Hảo, rạp hát Hào Huê, rạp hát Thủ Đô Chợ Lớn và khi rạp hát Hưng Đạo khánh thành thì thường thường lễ phát giải Thanh Tâm được tổ chức trong rạp Hưng Đạo vì rạp đó ở trung tâm thành phố.

Tôi còn nhớ:

Năm 1958, huy chương vàng của giải Thanh Tâm phát cho nữ nghệ sĩ Thanh Nga.

Năm 1959, huy chương vàng cho Lan Chi và Hùng Minh.

Năm 1960, huy chương vàng cho Bích Sơn và Ngọc Giàu.

Năm 1961: Thanh Thanh Hoa.

Năm 1962: Ánh Hồng và Ngọc Hương.

Năm 1963: Tấn Tài, N.S Diệp Lang, Thanh Tú, Bạch Tuyết, Kim Loan và Trương Ánh Loan.

Năm 1964: Thanh Sang và Lệ Thủy.

Năm 1965: Bo Bo Hoàng và Thanh Nguyệt

Năm 1966: Phương Quang và Phượng Liên.

Năm 1967: Bảo Quốc, Mỹ Châu, Phương Bình và Ngọc Bích.

Sau cái tết Mậu Thân 1968, mọi hoạt động của các đoàn hát cải lương đều bị ảnh hưởng vì chiến sự nên có nhiếu gánh hát rã, hoạt động không đều nên giải Thanh Tâm cũng ngưng việc tuyển chọn và phát thưởng cho nghệ sĩ.

Nghệ sĩ được huy chương vàng giải Thanh Tâm mang cái tâm trạng của một sĩ tử thi đậu trạng nguyên và tổ chức ăn khao như quan trạng về làng trong tuồng hát.

Người được huy chương vàng đầu tiên là nữ nghệ sĩ Thanh Nga thì cha mẹ của Thanh Nga tổ chức lễ cúng tạ ơn Tổ nghiệp thật long trọng tại rạp hát Nguyễn Văn Hảo, sau đó có tiệc rượu khoản đãi toàn thể nghệ sĩ và công nhân sân khấu của đoàn hát và các khán giả thân hữu.

Nghệ sĩ Ngọc Giàu khi được huy chương, nhận được tiền contrat gấp đôi nên về Thủ Thiêm cất nhà mới cho cha mẹ ở và tổ chức ăn tân gia, mời cả xóm tới chung vui ăn nhậu.

Nghệ sĩ Tấn Tài thì xin Bầu Long nghỉ hát đoàn Kim Chung một tuần lễ, về quê ở xã Vĩnh Trạch, huyện Núi Sập, làm một con bò và bốn con heo quay để cúng ông bà và mời cả làng tới ăn nhậu. Tiệc rượu có đàn ca tài tử ba ngày ba đêm mới xong. Theo anh Tấn Tài về quê ăn khao có ký giả kịch trường Hoài Ngọc và Huỳnh Công Minh nên khi Tấn Tài trở về Saigon hát cho đoàn Kim Chung thì báo Tiếng Dội kịch trường có viết bài và đăng ảnh các cuộc tiệc của Tấn Tài khoản đãi cả làng để mừng huy chương vàng giải Thanh Tâm.

Giải thưởng Thanh Tâm từ năm 1958 đến năm 1967 (mười năm) tuyển chọn được 24 nghệ sĩ huy chương vàng. Các nghệ sĩ đó xứng đáng được trao cho giải thưởng cao qúy của ngành sân khấu cải lương vì trải dài hơn bốn chục năm liên tục hành nghề, các nghệ sĩ huy chương vàng đó vẫn giữ được phong độ, tài năng ca diễn và tư cách đứng đắn của một nghệ sĩ được cả giới ái mộ.

Ngoại trừ Thanh Nga, Phương Bình, Trương Ánh Loan đã mất, Kim Loan (đổi tên là Mộng Tuyền) đi định cư bên Pháp. Mỹ Châu, Phượng Liên, Bích Sơn đi định cư bên Mỹ. Còn lại 17 nghệ sĩ huy chương vàng ở lại trong nước, tiếp tục góp phần xây dựng một thế hệ nghệ sĩ trẻ mới: các huy chương vàng triển vọng của giải Trần Hữu Trang sau nầy.

Trong trang sử kịch nghệ của sân khấu Việt Nam, ngoài sự truyền nghề trong gia đình của các dòng dõi nghệ sĩ Bầu Thắng, Minh Tơ, Thành Tôn, Năm Nghĩa… còn phải kể công lao không nhỏ của ông Trần Tấn Quốc và tất cả những thành viên trong Ban Tuyển chọn nghệ sĩ giải thưởng Thanh Tâm, các ký giả kịch trường đã góp công giúp cho việc đào tạo một thế hệ nghệ sĩ cải lương đầu đủ tài năng và phẩm cách như dã kể trên. (theo Soạn giả Nguyễn Phương)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

ĐƯỜNG ĐẾN GIẢI THANH TÂM

NĂM ĐẦU TIÊN

THANH NGA NHẬN HUY CHƯƠNG

Dư luận xôn xao về việc Thanh Nga đoạt giải Thanh Tâm : Huy chương vàng diễn viên nhiều triển vọng 58, bằng danh dự diễn viên xuất sắc liên tục 2 năm 59 và 60. Giải Thanh Tâm do nhà báo kỳ cựu Trần Tấn Quốc thành lập năm 1958, giành cho diễn viên nhiều triển vọng trên sân khấu cải lương và Thanh Nga đoạt giải đầu tiên qua vai Sơn nữ Phà Ca trong tuồng Người vợ không bao giờ cưới của soạn giả Kiên Giang (Hà Huy Hà) năm mới 16 tuổi.

Có một điều trùng hợp khá lạ kỳ, năm đầu tiên của giải Thanh Tâm cũng là vai diễn đào chánh đầu tiên của Thanh Nga trên sân khấu và người nữ nghệ sĩ trẻ này đã nhanh chóng nhận được giải thưởng với danh dự lớn lao. Do đó có nhiều dư luận xôn xao từ bên ngoài, nào là giải Thanh Tâm chuẩn bị cùng lúc với đoàn Thanh Minh bắt đầu “lăng xê” tên tuổi cho Thanh Nga, nào là bà bầu Thơ ngấm ngầm vận động Ban giám khảo chấm điểm cho Thanh Nga đoạt giải.

Cả trong giới nghệ sĩ cũng có nhiều tiếng xì xầm không hay, cho rằng Thanh Nga là đệ tử của nữ nghệ Kim Cúc, mà Kim Cúc lại là vợ của Chủ tịch Hội đồng giám khảo, tức nghệ sĩ lão thành Năm Châu, do đó giải Thanh Tâm nhất định phải về tay của Thanh Nga.

Nghệ sĩ kiêm soạn giả Năm Châu là người có uy tín rất lớn và được giới nghệ sĩ vô cùng kính trọng, vậy mà chỉ vì giải Thanh Tâm đã làm tổn thương ít nhiều đến danh dự của ông. Tuy nhiên, ông rất điềm đạm bình tĩnh trong việc ứng xử, tuyên bố ngắn gọn với giới báo chí về mục tiêu cơ bản của giải Thanh Tâm nhắm vào những diễn viên trẻ, có đầy đủ điều kiện và triển vọng trong tương lai đối với sân khấu cải lương.

Nếu những ai đề cử một diễn viên trẻ nào khác ở bất cứ sân khấu nào, có đủ điều kiện và tài năng hơn Thanh Nga, ông sẵn sàng đề nghị Hội đổng giám khảo đến tận nơi xem hát để chấm điểm và tuyển chọn thay thế Thanh Nga nhận giải Thanh Tâm.

Nhưng rồi sau đó, không nghe ai đề cử một diễn viên trẻ nào khác và dư luận cũng lắng chìm theo thời gian. Công bằng mà nhận xét, trước mỗi lần tuyển chọn diễn viên để phát giải Thanh Tâm đều có sự vận động ngấm ngầm của một số bầu ở các đoàn hát. Vì khi đoàn hát nào có diễn viên đoạt giải thì số thu ở đoàn hát đó sẽ tăng lên gấp bội, khán giả tò mò muốn xem diễn viên vừa đoạt giải tài năng như thế nào ?

Riêng về giải Thanh Tâm đầu tiên, Thanh Nga được Hội đồng giám khảo tuyển chọn, dù dư luận thế nào đi nữa thật sự rất xứng đáng và công bằng. Vì trong thời kỳ ấy không thể tìm được một diễn viên trẻ nào có đủ điều kiện về tài năng cũng như sắc vóc hơn Thanh Nga được.

Sau khi Thanh Nga đoạt giải Thanh Tâm, đoàn Thanh Minh thu hút khán giả càng lúc càng đông, sự ca diễn của cô đào trẻ Thanh Nga tiến bộ vượt bậc nhờ sự hướng dẫn tận tình của hai vị nghệ sĩ tiền bối Phùng Há và Kim Cúc. Nhưng niềm vui của đoàn Thanh Minh chưa trọn vẹn thì ông bầu Năm Nghĩa lâm trọng bệnh và qua đời tại nhà thương Grall năm 1959. Bao nhiêu trách nhiệm nặng nề trong việc điều hành đoàn Thanh Minh từ nay đều do bà bầu Thơ đảm nhận, với sự hỗ trợ của Ban cố vấn gồm các soạn giả : Kiên Giang, Nguyễn Phương, Lê Khanh.

Năm 1960 đoàn Thanh Minh sửa bảng hiệu lại thành đoàn Thanh Minh Thanh Nga. Cũng trong thời gian này giải Thanh Tâm mở rộng thêm, song song với huy chương vàng giải diễn viên trẻ nhiều triển vọng còn cấp thêm bằng danh dự cho diễn viên xuất sắc trong năm. Và Thanh Nga liên tục đoạt bằng danh dự diễn viên xuất sắc luôn 2 năm 59 và 60.

Nhìn ở một góc cạnh nào đó, một số người cho rằng Thanh Nga đoạt bằng diễn viên xuất sắc rất xứng đáng, nhưng cũng có một số người đánh giá là thiếu công bằng, quá thiên vị và bênh vực đoàn Thanh Minh, cũng như cá nhân Thanh Nga. Vì ở những đoàn hát khác, còn rất nhiều nghệ sĩ ca diễn xuất sắc, tên tuổi lẫy lừng nhưng không được quan tâm đúng mức.

Ai đúng ai sai, chỉ có nhận xét của khán giả là thật sự trong sáng và công bằng nhất.

Quế Phượng chuyển tiếp

U HỒN TRONG ĐẤT THÁNH TÂY

U HỒN TRONG

ĐẤT THÁNH TÂY

– Chu Nguyễn

Đọc lại bài Văn Tế thập loại chúng sinh của Nguyễn Du trong tiết tháng bảy, mà thương những u hồn còn vất vưởng cõi trần, nhất là sau cơn binh lửa, kẻ sống từng:
Kìa những kẻ bài binh bố trận

Đem mình vào cướp ấn nguyên nhung

Gió mưa sấm sét đùng đùng

Phơi thây trăm họ nên công một người.

Rồi cuối cùng lâm vào cảnh:

Khi thất thế tên rơi đạn lạc

Bãi sa trường thịt nát máu rơi

Mênh mông góc bể chân trời

Nắm xương vô chủ biết rơi chốn nào?

Trời thăm thẳm mưa gào gió thét

Khí âm huyền mờ mịt trước sau

Ngàn mây nội cỏ rầu rầu,

Nào đâu điếu tế, nào đâu chưng thường ?

Đó chính là hoàn cảnh của một sĩ quan Pháp từng nổi danh về trận mạc khi Pháp xâm chiếm Nam Kỳ (1858-1867). Nhân vật này là đại úy thủy quân lục chiến pháp Nicolas Barbé. Barbé tuy chỉ là đại úy nhưng khi thực dân mở cuộc cướp nước ta, thì những tay chiến binh nổi danh không phải hạng tướng lãnh kiêm chính trị gia khét tiếng giảo quyệt, như Amiral Courbet, Rigault de Genouilly…mà là những hung thần thực dân như Francis Garnier, Henri Rivière và Nicolas Barbé…

Biết bao thực dân bỏ mạng hoặc ở Hà Thành hoặc ở Sài Thành nhưng không nghe thấy truyền tụng hồn ma của kẻ viễn chinh từng phơi thây nơi chiến địa Lạc Hồng, còn quanh quẩn nơi dương gian trừ Barbé.

Barbé nổi tiếng khi sống với mối tình của một phụ nữ Việt nam và khi chết bị cắt cụt đầu, tứ chi bị cắt lìa nên khi mai tang, người ta phải vùi một phần tử thi của hắn ở đất Thánh Tây (Massiges or European Cemetery hay Cimetière Européen) mà sau này gọi là Nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi trước khi bị san bằng và biến thành một công viên sau 1975.

Barbé là một trong những tay thực dân bị giết vào đầu cuộc xâm lăng và mộ của hắn cũng là một trong những ngôi mộ đầu tiên được chôn ở Đất Thánh Tây (dựng vào năm 1859) lúc đó còn có tên là nghĩa trang hải quân, trên phố cũ có tên là Rue Nationale (sau này là Hai Bà Trưng). Vào 1885, nghĩa trang này đã là nơi mồ chôn của 239 lính Tây.

Cái chết của Barbé được thực dân Pháp ngày ấy ca tụng như một anh hùng hy sinh vì tổ quốc, nên ngôi chùa hắn bị hạ sát trước có tên là Khải Tường được đổi tên là chùa Barbé và con đường gần nghĩa trang được đặt tên là Rue Barbé.

Ai có dịp thăm viếng nghĩa trang Mạc đĩnh Chi hay Đất Thánh Tây trước 1975 đều tò mò trước một ngôi mộ hoang liêu. Nơi đây đa số mộ bia đề bằng tiếng Pháp, ngay cả mộ của người Việt cũng không thoát ngoại lệ.

Một số mộ có ghi thêm chữ Hán và gần như tất cả đều được săn sóc và quét dọn, sửa sang, tô bồi mỗi năm và có nhiều ngôi chẳng mấy khi vắng bóng hoa tươi gửi người dưới mộ. Nhưng trong khung cảnh hoa chăm, cỏ xén, lối phẳng, cây trồng ấy có một ngôi mộ bề thế ở góc trái cách cửa chính không xa, ngay dưới gốc một cây phượng, lại có vẻ hoang phế hình như đã lâu không có ai lai vãng, chẳng hề có một cánh hoa héo, một vết giày quanh quẩn và rêu đã mọc, mộ đã nghiêng, chữ trên bia đã mờ. Mùa thu, mùa đông chỉ có lá rụng cành khô phủ và mùa xuân chỉ có mấy đóa hoa mười giờ cố vươn từ đám cỏ gà um tùm và nở những cánh hoa chung thủy. Khách tò mò đọc kỹ mộ chí. Đúng là mộ của một sĩ quan ngươi Pháp với những chữ chỗ trắng chỗ đen như sau : Ci-git Barbé, Capitaine d’Infanterie de Marine, tué dans une embuscade, le 7 Décembre 1860. Souvenir de ses camarades”

“Đây là nơi yên giấc ngàn thu của Barbé. Đại úy Thủy quân Lục chiến hy sinh trong một cuộc phục kích đêm 7-12-1860. Các bạn hữu lập mộ”

Mộ của một sĩ quan người Pháp trong nghĩa trang Đất Thánh Tây thì không có gì là lạ vì trong nghĩa trang này có hàng mấy chục ngôi mộ của người Pháp, kể cả những nhân vật uy tín hơn, cấp bực cao hơn Barbé. Nhưng có lẽ chưa có tấm bia nào lại bề thế như vậy, cao tới hơn 2 mét. Đúng là đá xứ Quảng, dày bền, đồ sộ. Một đại úy quân viễn chinh chết giữa những năm người Pháp mới đặt chân chiếm Đông tam tỉnh Nam Kỳ sao lại được lập bằng một cái bia ngàn năm không mòn như thế ?

Người tò mò càng thêm tò mò vì trên bia lại ghi đầy chữ Hán. Nét chữ đã mờ nhưng cố gắng đọc vẫn có thể hiểu đó là một tấm bia ca tụng công đức của một vị công thần. Bia của công thần nào của nhà Nguyễn đã bị một anh thực dân tiếm dụng làm nơi ghi địa chỉ an nghỉ cuối cùng của mình ? Khách dùng khăn lau bớt bụi bậm trên bia có thể thấy người lập bia là hai nhân vật nổi danh trong lịch sử Việt Nam cận đại:

Hiệp biện đại học sĩ lãnh Lễ bộ thượng thư (thần) Phan Thanh Giản, Hình bộ thượng thư (thần) Trương Quốc Dụng phụng chỉ.

Có nghĩa là: Chúng thần là Phan Thanh Giản, Hiệp biện đại học sĩ lãnh Lễ bộ thượng thư và Trương Quốc Dụng, Hình bộ thượng thư phụng mệnh viết bi văn.

Từ đó mới biết đây nguyên là tấm bia ca ngợi công đức của công thần Phạm Đăng Hưng. Cụ Phạm Đăng Hưng là thân phụ của Nghi Thiên Chương Hoàng Hậu (Bà Từ Dụ,) vợ vua Thiệu Trị. Thì ra tấm bia do vua Tự Đức ra lệnh cho các danh thần Phan Thanh Giản và Trương Quốc Dụng viết bia văn vào năm Tự Đức thứ mười (1858) và được chở từ Huế vào Gò công để dựng trước mộ cụ Phạm Đăng Hưng. Nào ngờ hải quân Pháp chặn ghe bắt được và dùng ngay vào việc lập bia cho Barbé vì Barbé mới chết dù đã chôn nhưng còn thiếu cái bia tươm tất. Lính Pháp lúc đó chẳng hiểu bia của ai và nếu trong đám cộng tác có ai biết cũng chẳng ai mở miệng trước cơn dao động lịch sử quá nhanh: Pháp lúc đó đang tung quân lấy Đông tam tỉnh rồi Tây tam tỉnh Nam Kỳ từ 1862 cho tới 1867. Ai cũng nghĩ cả nước còn có nguy cơ mất, có làm chi tấm bia đá!

Nhưng chỉ là một tấm bia thì câu chuyện không lạ. Lạ ở chỗ là Barbé vì tình mà chết chứ không chết trên chiến trường trước nghĩa quân Trương Định. Lạ hơn nữa là người yêu của Barbé lại là một cô gái Việt Nam thuộc dòng trâm anh thế phiệt và cuộc tình của họ khá đẹp và kết thúc vô cùng bi đát. Barbé chết và yên nghỉ nơi mồ sâu nhưng cô gái Việt từ đó biến thành ma vì “hận tình chưa trả cho ai, khối tình mang xuống tuyền đài chưa tan.”

Hai cây viết người Pháp Le Vedier và De Maubryan đã thuật lại thiên tình sử này trong “Scènes De La Vie Annamite – Ky Hoa” (Cảnh đời An nam ở Kỳ Hòa nxb P. Ollendorff, Paris 1884).

Bi kịch tình ái được kể lại như sau:

“Một ngày kia, trong lúc đi săn, Đại úy Barbé tìm thấy ở giữa sông Sài Gòn một chiếc bè trôi lềnh bềnh, trên bè hình như có người. Trôi theo bè có hai bầy cá sấu. Barbé kéo bè vào bờ, nhìn thấy một người đàn ông và một người đàn bà bị cột lại với nhau theo lối trừng phạt những kẻ thông dâm. Người đàn ông đã chết, chân trái đã bị cá sấu cắn đứt ngang, còn người đàn bà thì đang hấp hối. Barbé vội lấy dao cắt dây cột rồi vác người đàn bà lên vai đem về đồn. Người đàn bà này rất xinh và lập tức khiến trái tim Barbé xúc động. Nạn nhân về đồn bị đau và nằm luôn trên giường bệnh hai tháng và nhờ có bác sĩ Girrayd và Barbé chăm sóc thuốc thang tận tình nên lần lần hồi phục. Sau ba tháng được điều dưỡng tại đồn, người đàn bà đã khỏe nên xin phép Barbé được ra khỏi đồn để đi thăm thân nhân và hứa sẽ quay trở lại đồn với Barbé.

Rồi một đêm nọ, có một người Việt đến đồn tìm Barbé và cho hắn biết Thị Ba, người đã chiếm trái tim của Barbé, đang lâm bệnh sắp chết và hiện đang nằm tại một ngôi chùa cách đồn của Barbé không xa. Được tin này Barbé lập tức nhảy lên ngựa đi tìm nàng, nhưng chỉ ra khỏi đồn được một quãng thì trúng đạn phục kích. Trong đồn, bọn thân binh biết có chuyện chẳng lành, liền kéo ra tiếp cứu. Nhưng đã muộn, chỉ chừng 30 m, họ đã thấy Barbé nằm chết sóng sượt dưới đất bên xác ngựa, thân thể bị chém nát.

Theo người ta cho biết thì Thị Ba thuộc gia đình quyền quý, nhưng bị cưỡng ép lấy ông lãnh binh Nguyễn văn Sất. Nàng phải tản cư về làng Bình Lý vì đất Gia Định lúc đó đang ở trong vòng khói lửa. Ở Bình Lý, giữa những đồng ruộng mênh mông, Thị Ba gặp lại người quen từ thuở nhỏ tên là Nguyễn Văn Tri, hắn cũng là một võ quan trong hàng ngũ nghĩa quân. Giữa Tri và Thị Ba nối lại mối tình đậm đà. Trong khi đó viên phụ tá của Nguyễn Văn Tri là đội Dinh cũng rung động trước sắc đẹp của Thị Ba, nhưng Thị Ba không thèm ngó tới và tỏ ra khinh rẻ. Đội Dinh lấy làm tức tối và xấu hổ nên y bèn lập mưu gài bẫy Nguyễn Văn Tri và Thị Ba. Do đó cả hai đã bị lãnh binh Sất bắt trói và thả trôi sông cho chết.

Đến khi nghe Barbé đã cứu Thị Ba, lãnh binh Sất tức giận điên ruột đã quyết một phen sống chết với Barbé để chiếm lại Thị Ba. Và trong đêm ngày 3 rạng 4 tháng 7 năm 1860, lãnh binh Sất chỉ huy một đạo quân ồ ạt tấn công đồn Khải Tường. Lúc đó trong đồn nầy có 100 quân I-Pha-Nho và 60 lính Pháp đã chống cự và đẩy lùi được quân của lãnh binh Sất.

Căm thù vì không lấy được đồn Khải Tường để giết Barbé, nên lãnh binh Sất đã nghĩ ra mưu khác. Chờ cho Thị Ba ra khỏi chùa Khải Tường, lãnh binh Sất cho lính bắt Thị Ba đem nhốt chung với bọn đĩ điếm. Rồi mấy ngày sau lãnh binh Sất lập mưu phục kích đại úy Barbé khi ra khỏi đồn và sẽ bắt tình địch chặt đầu đem về cho Thị Ba nhìn thấy, rồi sau đó sẽ hành hình Thị Ba cho hả giận. Nhưng mưu kế này chỉ thực hiện được một nửa, Barbé bị hạ sát vì đang lúc Sất thực hiện giai đoạn tiếp thì quân Pháp tấn công. Lúc đó giữa Thị Ba và lãnh binh Sất lại xảy ra một cuộc cãi vã lớn, đi đến xô xát và cả hai đều chết vì trúng đạn.

Barbé chết không toàn thây và ban đầu, lúc chiến tranh đang ác liệt, cũng khó kiếm ngay một bia đá dựng lên cho kẻ đa tình nên quân Pháp lúc đó phải cướp một tấm bia của một nhân vật lịch sử Việt nam để làm bia cho Barbé. Thực là bi thảm cho một vong hồn chiến binh! Và cũng là thảm kịch cho chúng ta khi đất nước rơi vào tay ngoại bang!

Nhiều người thời đó và cả thế hệ sau này đều kể lại nhiều hiện tượng kỳ lạ về bóng ma đất Thánh Tây. Sau khi lãnh binh Sất và Thị Ba được mồ yên mả đẹp rồi, nhưng vong hồn Thị Ba vẫn còn hiện lên lởn vởn ở trước cửa đồn Chí Hòa đến đất Thánh Tây để tìm mộ kẻ tình chung đã chết vì chung tình. Còn u hồn Barbé vẫn lang thang vào những đêm mưa gió hay sương mù phủ thành phố, ở quanh khu Hai Bà Trưng và Lê Quý Đôn gõ cửa nhiều nhà gọi tên Thị Ba bằng giọng trọ trẹ của người ngoại quốc nói không sõi tiếng Việt!

Hy vọng qua cuộc biển dâu 1975, nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi không còn, u hồn Barbé sẽ có cơ hội bám theo thuyền tàu của người tị nạn trở về chính quốc! (theo Chu Nguyễn)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

RÙNG RỢN

BỐN ĐỒ VẬT BỊ MA ÁM

Chiếc roi ma được rao bán với giá 65.000 USD; chiếc nhẫn có ma của diễn viên câm; chiếc giường tầng bị ma ám ở Mỹ; và con búp bê ma của một sinh viên y khoa là những đồ vật bị tin đến sái cổ là bị ma ám.

1/.  Chiếc roi ma có giá 65.000 USD : Trên trang mua bán trực tuyến eBay, một người phụ nữ tên Mary Anderson ở Ấn Độ đã rao bán một chiếc roi ma kim loại có thể tự đi có giá 65.000 USD. Cô hi vọng rằng cuộc rao bán này có thể làm đứa con 6 tuổi của mình thoát khỏi sợ hãi vì đã tin rằng hồn ma của ông nội đang lang thang trong gia đình và đã “ám” vào chiếc roi kim loại đó.

3 Ma am 1Chiếc roi ma này đã được 132 người trả giá trên Ebay và hiện tại nó đang ở sòng bạc “lâu đài vàng” ở Antigua. Cô Anderson cũng yêu cầu người mua chiếc roi ma này viết thư cho con trai mình để nói rằng chiếc roi ma và con ma “ám” trong đó đang rất tốt.

2/. Chiếc nhẫn ma của diễn viên phim câm Mỹ : Rudolph Valentino(1895-1926) là một trong những ngôi sao phim câm vĩ đại nhất của Hollywood. Valentino bị chết bởi một vết loét năm 31 tuổi. Một số người cho rằng nguyên nhân cái chết của Valentino là do ông đã mua chiếc nhẫn ở một hiệu kim hoàn năm 1920. Chiếc nhẫn có một viên ngọc gọi là mắt của con hổ được gắn vào nó.

Sau khi mua chiếc nhẫn đó, Valentino đã khoe chiếc nhẫn với người bạn thân của mình và chính người bạn thân đã nhìn thấy sự xám xịt cũng như cái chết của ông sắp xảy ra. Sau đó thì sự nghiệp của Valentino dần lụi bại và ông đã chết trong vòng 6 năm sau. Nhưng Valentino không phải là nạn nhân duy nhất khi đeo chiếc nhẫn, người yêu của ông, bà Pola Negri đã bị ốm nặng sau khi đeo chiếc nhẫn.

3 Ma am 2Russ Colombo là diễn viên được thuê đóng vai Valentino trong bộ phim tiểu sử và cuộc đời ông. Sau khi đeo chiếc nhẫn, Colombo đã bị giết trong một tai nạn bắn súng mấy ngày sau đó. Tên lưu manh Joe Casino đã mua chiếc nhẫn và không đeo nó cho đến khi nghĩ  lời nguyền sẽ bị phai mờ. Nhưng sau nhiều năm sở hữu thì anh ta cũng đeo nó và chết trong một tai nạn xe hơi một tuần sau. Danh sách những  người bị “ám” bởi lời nguyền có lẽ còn dài nhưng từ năm 1960 thì không ai biết chiếc nhẫn đó ở đâu nữa.

3/. Chiếc giường tầng bị ma ám : Câu chuyện về chiếc giường tầng bị ma ám đã trở nên nổi tiếng đến nỗi câu chuyện về nó được phát trên chương trình truyền hình ăn khách Những điều huyền bí không lý giải được. Tháng 2 năm 1987, Alan và Debby Tallman ở Horicon, Wisconsin, Mỹ đã mua về nhà một chiếc giường tầng của một cửa hàng cũ và họ đã mang nó xuống tầng hầm. Nhưng đến tháng 5 năm 1987 thì họ mang chiếc giường lên trên gác và từ đây bắt đầu những điều kỳ lạ xảy ra.

3 Ma am 3Đầu tiên, bọn trẻ của họ bị ốm. Hai đứa đầu tiên ngủ trên chiếc giường đó thì nói rằng chúng nhìn thấy một con quỷ. Trong một lần trở về nhà sau lễ Giáng sinh năm 1988, Alan Tallman nghe thấy một giọng nói bảo ông hãy “đến đây”. Ông đi theo giọng nói tới gara và tận mắt chứng kiến một ngọn lửa đang cháy. Vội vã đi lấy bình chữa cháy nhưng khi quay lại thì ngọn lửa đã biến mất. Một vài tình huống đáng sợ hơn xảy ra, Alan nhận thức được chiếc giường bị “ma ám”, anh đã đốt chiếc giường và cũng kết thúc những câu chuyện oái ăm.

4/. Con búp bê ma : Hai nhà điều tra nổi tiếng Ed và Lorraine Warren, Mỹ đã có cuộc nghiên cứu về con búp bê bị ma ám đầu những năm 1970. Donna là một sinh viên y khoa được mẹ tặng cho một món quà là một con búp bê cũ. Cô sống cùng người bạn của mình tên Angie. Con búp bê được mẹ tặng cô đặt trên giường ngủ của mình và ngay sau đó cô đã thấy những điều kỳ lạ xảy ra. Con búp bê dường như có khả năng 3 Ma am 4tự di chuyển. Đôi khi các cô gái trở về nhà và nhìn thấy con búp bê đang ở những phòng khác nhau thậm chí còn thấy con búp bê khoanh chân trên ghế dài với cánh tay gấp lại.

Thỉnh thoảng các cô gái trở về nhà lại thấy những ghi chú giống như viết bởi như một đứa trẻ mới biết viết. Những ghi chú có viết: “Hãy giúp chúng tôi”. Nhưng các cô gái không thể biết được ai đã viết những ghi chú ngay cả khi nhiều chuyện kỳ lạ khác diễn ra sau đó. Chỉ cho đến khi các cô gái bắt đầu nhìn thấy máu trên con búp bê mà không biết là từ đâu.

Các cô gái đã gọi cho nhà chiêu hồn và được giải thích rằng con búp bê đã bị “ám” bởi một hồn ma của cô bé 7 tuổi tên Annabelle Higgins bị sát hại tại lô đất trống mà hiện nay là căn hộ của hai cô gái đã được xây dựng lên. Câu chuyện mà nhà chiêu hồn nói không biết có đúng sự thật không nhưng những hiện tượng kỳ lạ của con búp bê cũng đáng được coi là sự huyền bí rùng mình. (theo Chí Sĩ – Khampha)

Xuân Mai chuyển tiếp

TAN CHẢY TRÁI TIM TRƯỚC

LOẠT ẢNH CHÓ MẸ ‘BỈM SỮA’

CHĂM ĐÀN CON THƠ

Hình ảnh các bà mẹ cún ‘bỉm sữa’ chăm sóc đàn con thơ khiến người xem thấy ấm lòng, cũng như cảm nhận được sự thiêng liêng của tình mẫu tử.

H1: Bà mẹ cún hạnh phúc bên 6 đứa con thơ mới chào đời. H2: Nhà đông con của không ngon cũng hết. H3: Mẹ nào con nấy.

H4: Phục sát đất với tài vượt cạn của cô chó này khi cho “ra lò” hẳn 16 bé cún đáng yêu. H5: Cùng một tư thế. H6: Chó mẹ Huskies vui đùa cùng đàn con trên bãi cỏ H7: 11 cún con, ăn đã no tròn, cả đàn đi ngủ.

H8: Gia đình là tất cả. H9: Chó mẹ mệt nhoài với đàn con trong chuồng còn chó bố thì toe toét chụp ảnh. H10: Khó khăn lắm mới có thời gian chợp mắt một lúc.

H11: Ánh mắt chó mẹ ánh lên niềm tự hào vì “khối tài sản vô giá này”.H12: Thi xem ai ăn nhanh hơn nào. H13: Haizzz, bao giờ bọn nhóc mới lớn đây nhỉ. H14: Chụp ảnh và tạo dáng, mỗi đứa một kiểu

.

H15: Điệu đà và sang chảnh mọi lúc mọi nơi. H16: 4 chú cún bông tranh nhau rúc vào lòng mẹ.H17: Cô chó pit bull bên đàn con. (theo Hồng Anh – VOV)

Mỹ Nhàn chuyển tiếp

CHUYỆN VỀ HAI SẮC HOA TIGÔN

Logo bay gio ke

9 Ti gon 1SUÝT NỮA

HAI SẮC HOA TIGÔN

ĐÃ CHÁY THÀNH TRO !

– Anh Chi

Cuối mùa thu năm 1937, tòa soạn báo Tiểu thuyết Thứ bảy nhận được bài thơ nhan đề Bài thơ thứ nhất, rồi sau đó ít ngày, nhận được một bài thơ nữa, nhan đề Hai sắc hoa ti gôn, đều của một tác giả ký tên T.T.Kh. Sau đó, tòa soạn không nhận được bài thơ nào nữa của T.T.Kh, cũng không biết tác giả này ở đâu.

Sau khi báo đăng hai bài thơ, làng văn xôn xao lắm, nhưng không hề thấy T.T.Kh liên hệ với tòa soạn. Có mấy người đã nhất quyết, T.T.Kh chính là người yêu của mình, nhưng chả có ai đưa ra được chứng cớ thuyết phục. Tác giả T.T.Kh vô hình vô ảnh trong cuộc đời, nhưng thơ của bà được giới phê bình luận bàn náo nhiệt (và không hiểu sao mọi người đã tin chắc ngay rằng T.T.Kh là nữ giới). Đương thời, có người không ngần ngại đánh giá đó là những áng thơ tuyệt tác, nhất là bài Hai sắc hoa ti gôn.

Về những ý kiến cho hai bài thơ đầu tiên đó của T.T.Kh là kiệt tác thì tác giả Thi nhân Việt Nam đã nói rõ quan điểm của mình : “Nói thế đã đành là quá lời, nhưng trong hai bài thơ ấy cũng có những câu thơ xứng đáng với vẻ lâm ly của câu chuyện. 9 Ti gon 3Cô bé T.T.Kh yêu…”. Có lẽ, với cách đánh giá như vậy nên Hoài Thanh và Hoài Chân đã không chọn in thơ T.T.Kh vào tập Thi nhân Việt Nam…

Tuy vậy, thực tế đời sống văn chương Việt Nam hơn 70 năm qua, T.T.Kh luôn được độc giả mến mộ, nhất là đối với bài Hai sắc hoa ti gôn. Dường như càng trải thêm thời gian, bài thơ này càng biểu lộ vẻ đẹp đặc biệt, càng có sức sống lạ lùng. Chúng tôi nghĩ, nếu có cuộc điều tra tỷ mỷ để tìm hiểu những bài thơ Việt Nam nào trong 70 năm qua được bạn đọc yêu mến nhiều nhất, thì chắc sẽ có cả Hai sắc hoa ti gôn.

Chúng tôi phải trình bày lại sự ra đời và giá trị của bài thơ Hai sắc hoa ti gôn trong đời sống văn chương nước ta như vậy để chúng ta ý thức rằng: nếu không có bài thơ Hai sắc hoa ti gôn, trong đời sống văn chương nước ta sẽ có sự thiệt thòi lắm ! Và trên thực tế, việc đó đã suýt nữa xảy ra. Mà mãi đến năm 1990 chúng tôi mới biết việc ấy…

Năm 1990, nhà văn Ngọc Giao lên thượng thọ, 80 tuổi. Ông nguyên là Thư ký tòa soạn của báo Tiểu thuyết Thứ bảy. Có một tâm sự ông giữ mãi trong lòng hơn nửa thế kỷ, khi vào tuổi 80 mới thổ lộ với bạn bè tâm giao. Rằng đó là một buổi trưa, cuối mùa thu năm 1937, ở tòa soạn báo Tiểu thuyết Thứ bảy. Những đồng nghiệp trong tòa soạn đã về nghỉ gần hết, chỉ còn lại Trúc Khê Ngô Văn Triện và Ngọc Giao.

Trúc Khê Ngô Văn Triện còn nán lại để dịch Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ ra quốc ngữ. Ngọc Giao thì đã tiến đến chỗ mắc áo để lấy mũ và ra về. Nhưng đúng lúc đó có tiếng kèn đám ma. Đám tang đang đi qua phố Hàng Bông. Ngọc Giao là người rất sợ nghe tiếng kèn đám ma, nên ông mới nán lại thêm cho xe tang đi qua đã. Đã khoác áo, đội mũ chỉnh chu, ông không muốn quay vào phòng trong mà kéo ghế ngồi9 Ti gon 2 tạm lại chỗ gần cửa, gần nơi để cái sọt đựng giấy loại.

Không biết điều gì xui khiến, ông đưa tay vào sọt giấy loại, nhặt lên mấy tờ bị vo tròn và quẳng vào đó chờ đi đổ xe rác. Tẩn mẩn, ông vuốt một tờ ra và đọc. Đó là một tờ giấy học trò khổ nhỏ. Một bài thơ. Chữ viết bằng bút chì nguệch ngoạc, nét run, nét mờ, như thể viết ra một lần là xong và gửi luôn cho tòa báo. Lệ của báo là bài lai cảo phải viết trên một mặt giấy sạch sẽ. Còn bài thơ nét chữ bút chì này lại viết trên cả hai mặt giấy.

Nhưng bài thơ đã khiến Ngọc Giao xúc động lạ thường, đó là Hai sắc hoa ti gôn của T.T.Kh. Và ông đã ngồi lặng đi trong mối rung cảm đặc biệt. Rồi ông bước vội đến đưa bài thơ cho Trúc Khê, yêu cầu đọc ngay. Trúc Khê Ngô Văn Triện thấy Ngọc Giao đang quá xúc động, cũng bỏ bút, cầm đọc bài thơ. Và ông cũng ngồi lặng đi, rồi đọc lại lần nữa. Ông già Trúc Khê vỗ tay xuống bàn, nói với Ngọc Giao: “Sao lại có bài thơ tuyệt đến thế này…!” Rồi ngay sau đó, Ngọc Giao gọi ông cai thợ sắp chữ nhà in lên, bảo sắp chữ ngay bài thơ ấy cho số báo sắp ra. Vậy là Hai sắc hoa ti gôn đi vào đời sống Tr Dan ongthơ ca Việt Nam…

Kể câu chuyện tâm sự mấy mươi năm xưa cũ, nhà văn Ngọc Giao còn cầm bút ghi vào cuốn sổ lưu niệm của một bạn văn cùng thời là nhà văn Phạm Văn Kỳ cũng từng làm thư ký tòa soạn tuần báo Tiểu thuyết Thứ năm. Những dòng lão nhà văn Ngọc Giao ghi vào sổ lưu bút của lão nhà văn Phạm Văn Kỳ có đoạn: “… Bài thơ ra đời trong hoàn cảnh bị bỏ rơi sọt rác như vậy đó. Nó càng được bạn đọc nhắc đến bao nhiêu, tôi càng ân hận về lỗi làm ăn cẩu thả, sơ xuất bấy nhiêu… Nếu không có cái đám ma qua phố thổi kèn rầu rĩ đó thì tôi đã đội mũ lên đầu, không cúi xuống sọt rác… thì đóa hải đường Hai sắc hoa ti gôn đành an phận nằm trong đó, rồi người ta mang đi theo thường lệ, người ta phóng lửa đốt cả… Trong đó, rất có thể cả những áng văn hay mà cái anh thư ký tòa soạn quan liêu, nhác lười, cẩu thả đã ném đi !…”.

Vậy đấy, câu chuyện pha chút hài hước “nếu không có cái đám ma qua phố…” lại là một tâm sự canh cánh trong lòng nhà văn Ngọc Giao suốt 53 năm trời. Vì tế nhị, nhà văn Trúc Khê Ngô Văn Triện cũng giữ kín suốt đời câu chuyện này. Nghĩ rằng, chuyện9 Vi Vi 1 có thể hữu ích với nghề báo chí văn chương hôm nay, chúng tôi đã xin phép nhà văn Phạm Văn Kỳ và mạn phép nhà văn quá cố Ngọc Giao viết ra trong bài này.

Chúng tôi cũng muốn được khép lại bài viết này bằng mấy dòng di bút cao thượng của lão nhà văn Ngọc Giao viết mùa thu năm 1990: “Tôi xin cúi đầu nhận lỗi đã có hành vi bất kính đối với một tài năng văn học. Tôi xin bà mãn xá cho tôi nếu bà đã qua đời, cũng miễn thứ cho tôi nếu bà còn ở cõi thế gian này với mái tóc cũng bạc trắng như tôi, như tất cả chúng ta cùng chung thế hệ đoạn trường văn bút”. (theo Anh Chi)VV

Vi Vi Hùng Võ từ Facebook

Tr moc tui

TRÙM MÓC TÚI

Toa hạng nhất chẳng có mấy hành khách. Pierre Joli chọn cho mình một cupe trống. Hắn hy vọng sẽ được ngồi một mình, không ai quấy rầy trong suốt cuộc hành trình.

Thế nhưng khi tàu bắt đầu chuyển bánh thì cửa cupe bật mở và một cô gái tóc vàng lịch sự, tay xách chiếc valise da, bước vào. Cô ta cố kiễng chân nâng chiếc valise  lên giá để hành lý, tuy nhiên việc đó rõ ràng là quá sức đối với cô,  Pierre đứng dậy nhiệt tình giúp cô gái.

– Rất cám ơn ! – Cô mỉm cười và trong một thoáng, mắt họ gặp nhau. Ánh mắt của cô gây cho hắn cảm giác rằng cô có ý ve vãn đôi chút. Nhưng nếu quả như vậy thật thì cô đã không gặp may.

Sau một ngày khá nặng nề, hắn đã mệt rã rời và chỉ mong ước một điều duy nhất: Chợp mắt vài tiếng để trước khi tàu đến Lyon có thể lấy lại sức lực và chỉnh đốn tư thế. Hắn hy vọng Virginia sẽ ra tận gare đón. Đã 5 năm trời họ không gặp nhau và trong suốt thời gian đằng đẵng đó, hắn đã buồn nhớ cô biết bao.

Cô gái tóc vàng ngồi xuống, châm thuốc hút và rút từ túi ra một cuốn sách. Hắn thầm nhận xét rằng cô ta có đôi chân thật đẹp và rõ ràng cô ta cũng biết được điều đó. Lát sau, hắn cố thu xếp chỗ ngủ sao cho thật thoải mái, đoạn tắt đèn nhỏ đầu giường Tr Bac ky 2mình và thiếp đi.

Khi hắn tỉnh dậy, cô gái tóc vàng vẫn ngồi và đang tuyệt vọng lục lọi, tìm kiếm chiếc túi xách của mình.

– Ôi thật kinh khủng, – cô thốt lên, – tôi bị mất ví rồi ! Biết làm sao đây ? Bây giờ tôi không còn một xu nào hết, mà tôi cần phải có 200 francs để mua vé máy bay.

Cô gái nhìn vào mắt hắn :

– Anh có thể cho tôi vay 200 francs được không ?

Cô hỏi thẳng thừng, ráo hoảnh cứ như đang hỏi xin vài que diêm vậy. Dù thế nào thì tiền nong trong người Pierre giờ đây cũng chẳng có nhiều nhặn gì. Và tất cả những gì hiện có trong ví hắn, hắn đã phải khó nhọc ký cóp trong suốt 5 năm trời.

– Không, đáng tiếc là không có, – vì thế hắn trả lời.

Cô gái nở một nụ cười quyến rũ :

– Đưa tôi 200 francs, anh sẽ dễ dàng thoát thân.

Hắn nhìn cô không hiểu :

– Tôi sẽ dễ dàng thoát thân ? Cô ngụ ý gì vậy ?

– À, giản dị  là tôi muốn nói rằng tôi cần phải kiếm được 200 francs trước khi tàu chúng ta tới Dijon. Nhưng, có lẽ anh không có đủ 200 francs.

– Ô không, cô nói gì vậy, – Pierre gật đầu – tất nhiên là tôi có. Nhưng tôi hoàn toàn không biết cô là ai ! Thậm chí cô cũng chưa tự giới thiệu. Mà đây là cả một việc…

9 Moc tuiThoáng vài giây cô gái ngồi im, không nói lời nào. Sau đó cô hơi cúi người về phía trước, cố nắm bắt ánh mắt của hắn.

– Anh hãy thử tưởng tượng điều gì sẽ xảy ra, nếu như bây giờ tôi bắt đầu gào lên, giật cần hãm “đề phòng sự cố” và kể với trưởng toa rằng anh định cưỡng hiếp tôi. Bởi vì trước đây đã từng có những trường hợp các hành khách đàn ông đi đêm một mình trong cùng cupe với phụ nữ trẻ đã giở những trò như thế. Tất cả những chuyện đó sẽ đưa lại cho anh nhiều điều khó chịu đấy. Nào là cảnh sát đường sắt ư, nào là hỏi cung ư, rồi lại còn các nhà báo đang khao khát những tin giật gân nữa chứ ! Để thoát khỏi một vụ bê bối kiểu như thế, tôi nghĩ, anh sẽ không tiếc 200 francs đâu.

– Tôi nghĩ rằng, với tôi, vở diễn đấy của cô sẽ không thành đâu, cô bạn quý mến ạ, – hắn thờ ơ nói và rít thuốc.

– Anh hãy nghe đây này, – cô gái mỉm cười tự tin, – tôi có cảm tưởng anh chưa tính được rằng tôi hoàn toàn không có ý định đùa đâu nhé. Nếu tôi làm bù đầu tóc lên, xé toạc áo ra, rồi chạy ra hành lang gào ầm lên, thì anh sẽ rất khó thuyết phục những người khác rằng anh không dính dáng gì đến chuyện này cả. Mà như tôi được biết, ở đất nước này, người ta trừng phạt rất nghiêm khắc những ai có những hành vi vô lại đối với phụ nữ !

– Cô quả là đê tiện hết sức…

Cô gái cắt ngang lời hắn :

– Chẳng lẽ không đáng trả 200 francs để thoát khỏi tất cả những điều khó chịu đó sao ! Tôi nhìn thấy anh đeo nhẫn cưới. Vợ anh sẽ nói gì khi cô ấy đọc trên báo rằng chồng cô ấy đã…

– Cô thật là ghê tởm.

Cô gái mỉm cười :

– Ồ không hẳn vậy đâu ! Tôi rất hiền lành với anh đấy. Bởi tôi chỉ đòi anh vẻn vẹn có 200 francs thôi, phải vậy không? Có những trường hợp tôi còn moi được nhiều hơn gấp bội . Chẳng hạn 500, 1.000, đôi khi thậm chí còn xoay được vài ngàn  chứ ! Các chính trị gia với tiếng tăm không mấy trong sạch thường vui lòng “ứng” cho tôi những khoản tiền không nhỏ để phòng ngừa những vụ xì-căng- đan. Tôi thường bao giờ Tr Thanh nien 4cũng nhắm trước cho mình con mồi. Tôi đánh giá anh khoảng 200 – 300, thậm chí có thể tới 500 francs, nhưng tôi chỉ xin anh có 200 thôi.

– Cô thôi đi được rồi đấy ! – Pierre đứng dậy chụp lấy valise của mình và muốn nhanh chóng thoát khỏi cupe.

– Hãy ngồi xuống đấy ! – Cô gái ra lệnh và ngay tức khắc quay ra ngáng đường hắn, – hay là để tôi kêu lên bây giờ! Trong chuyện này thì tôi lão luyện lắm. Anh hãy tin rằng tôi rất lành nghề trong công việc của mình!

Pierre quẳng valise xuống ghế và ngồi phịch xuống. Hắn tin rằng cô ta rất dám thực thi những lời đe dọa đó nếu như hắn mưu toan chống lại cô tạ Liếc nhìn sang, hắn thấy trên cườm tay cô ta những đồ trang sức đắt tiền. Đó là một bằng chứng hùng hồn cho thấy cô ta rất lão luyện trong nghề.

Cô gái ngó nhìn đồng hồ đeo tay bằng vàng của mình.

– Còn năm phút nữa chúng ta sẽ tới Dijon, mà tôi thì phải xuống bến đó, – cô nói bằng một giọng hết sức lạnh lùng sự vụ, – tôi cho anh đúng một phút nữa để quyết định. Phanh hãm phòng bất trắc nằm ngay dưới cửa cupe đây. Tôi chỉ cần vài giây là đủ để xé áo, vò tóc mình, cào mặt anh và kêu cứu. Tôi có thể gào chói tai đến mức…

– Còn tôi thì sẽ lập tức kể với mọi người sự việc trên thực tế ra sao và cô là kẻ lừa bịp thế nào. Cô đừng tưởng rằng…

Cô gái phì cười khinh bỉ :

– Những kẻ hiếp dâm bao giờ chẳng bày ra những điều thanh minh ngu xuẩn, nhưng ai mà tin chúng được. Nhất là trong những trường hợp quan trọng như thế này !

Pierre nhổm dậy, dụi đầu thuốc lá vào chiếc gạt tàn và sau vài giây lưỡng lự tiến đến trước mặt cô gái.Gai bao 2 Cô ta vẫn đứng chắn ngang cửa, một tay nắm lấy cổ chiếc áo sơ mi trắng của mình để sẵn sàng xé toạc nó trong chớp mắt. Những móng tay nhọn hoắt sơn đỏ của cô ta, rõ ràng chỉ cần vài giây là đủ để làm biến dạng khuôn mặt hắn – để “tự vệ” mà.

– Thôi được, – hắn nói, đồng thời nhún vai khuất phục, rút từ ví ra mấy tờ giấy bạc, nhưng để bù lại khoản này tôi đề nghị phải trả lại tôi lãi suất bằng hiện vật.

– Bằng hiện vật ? Thế nghĩa là thế nào ?

– Tôi đề nghị cho phép tôi hôn cô, để sau này còn có thể vỗ ngực khoe khoang rằng đã được hôn một nữ quái tống tiền trâng tráo nhất thế giới ! Cô sẽ nhận 200 francs, còn tôi thì được cái hôn. Như vậy theo tôi, có lẽ công bằng hơn. Cô thấy thế nào, hay là cô có ý kiến khác ?

Cô gái tóc vàng thoáng chút lưỡng lự. Sau đó cô chụp lấy mấy tờ giấy bạc, còn hắn thì kéo cô về phía mình, ôm hôn say đắm. Đó là một chiếc hôn rất dài.

– Thôi đủ rồi, – cô gái thốt lên rồi quẫy ra. Đúng lúc đó đoàn tàu dừng lại. Cô gái lôi valise của mình khỏi giá và bước ra. Pierre đứng ở cửa cupe dõi theo bước chân cô dọc hành lang cho đến khi cô bước ra khỏi toa tàu. Đoạn, hắn trở lại, ngồi xuống chỗ của mình, châm một điếu thuốc mới và rút ra một tờ báo. Đã vài phút trôi qua, đoàn tàu lại chuyển mình đi về hướng Lyon.

– Cô nhóc thật ranh ma, quỷ quyệt, – hắn lẩm bẩm không giấu vẻ khâm phục, – nhưng thật không may cho cô ta là đã gặp phải mình.

Nói đoạn hắn đút chiếc đồng hồ và chiếc vòng vàng của cô ta vào túi áo. Lật qua mấy trang báo, hắn cẩn thận cắt ra một mẩu tin, trong đó có nói rằng ngày hôm nay, sau khi hết hạn 5 năm tù, trùm móc túi Pierre Joli vừa được phóng thích.

Lan Hương chuyển tiếp

TIN  Y HOC & ĐỜI SỐNG

LỢI ÍCH CỦA ÔM

Nên ôm nhau 4 cái mỗi ngày

Thê’ thì ta nên ôm luôn luôn, ôm liên tục, ôm không ngừng nghỉ.  tức là ôm xà nẹo thì nhất dương chỉ luôn ….

Ôm giúp tăng cường hệ miễn dịch, chữa trầm cảm, giảm căng thẳng, mang đến giấc ngủ ngon. Ngoài ra, ôm còn tiếp thêm sinh lực, trẻ hóa và không có tác dụng phụ.

Việc “tiêu thụ” những cái ôm rất tốt cho sức khỏe bởi nó không chứa thuốc trừ sâu, không chất bảo quản, không có thành phần nhân tạo và 100 hoàn toàn lành tính. Hơn nữa, ôm ít tốn năng lượng, không phải tính thuế, không gây ô nhiễm và tất nhiên hoàn toàn không cần trả lại.

Có một câu nói nổi tiếng của nhà tâm lý học người Mỹ, Virginia Satir rằng : “Chúng ta cần 4 cái ôm mỗi ngày để tồn tại. Cần 8 cái ôm mỗi ngày để duy trì. Và cần 12 cái ôm mỗi ngày để phát triển”. Và theo Dailyhealthpost, có rất nhiều bằng chứng khoa học chứng minh được tầm quan trọng của những cái ôm đối với sức khỏe con người.

– Kích thích oxytocin. Oxytocin là chất dẫn truyền thần kinh có tác dụng trên hệ thống limbic, trung tâm cảm xúc của não, thúc đẩy cảm giác mãn nguyện, làm giảm sự lo lắng và căng thẳng. Những cái ôm khiến cơ thể sản sinh hoóc-môn oxytocin, thường được gọi là hoóc-môn tình yêu, có thể giúp chúng ta gạt bỏ căng thẳng, sự cô đơn và cả sự tức giận, đồng thời giúp chúng ta có cảm giác an toàn, cảm nhận được sự tin cậy và trung thực trong mỗi con người.

Nghiên cứu mới từ Đại học California (Mỹ) còn cho biết ôm là cử chỉ thể hiện sự văn minh, khiến con người sống tình cảm, dễ dàng tạo dựng các mối quan hệ và liên kết xã hội, cũng như tăng cường nhu cầu ham muốn tình dục và hoạt động tình dục.

– Tăng sự kiên nhẫn. Kết nối được thúc đẩy khi con người dành thời gian để đánh giá và công nhận lẫn nhau.Bia om Ôm là một trong những cách dễ nhất để thể hiện sự đánh giá và ghi nhận của người khác. Cuộc sống xô bồ, công việc tất bật khiến con người hối hả lao vào như một cỗ máy để cố gắng hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình. Bằng cách sống chậm lại và dành chút thời gian để cảm nhận sự chân thành của những cái ôm sẽ giúp nuôi dưỡng lòng kiên nhẫn bên trong mỗi chúng ta.

– Ngừa bệnh tật. Những cái ôm ngọt ngào có liên hệ trực tiếp đến việc giảm căng thẳng, giúp ngăn chặn nhiều bệnh. Viện Nghiên cứu cảm ứng tại ĐH Miami School of Medicine (Mỹ) cho biết họ đã thực hiện hơn 100 nghiên cứu về mối liên hệ giữa việc ôm ấp với khả năng ngăn ngừa bệnh tật và tìm thấy có một sự tác động đáng kể (bao gồm quá trình tăng trưởng nhanh hơn ở trẻ sinh non, giảm đau, giảm các triệu chứng bệnh tự miễn, giảm lượng đường ở trẻ có bệnh tiểu đường, và cải thiện hệ thống miễn dịch ở những người bị bệnh ung thư) giữa những cái ôm với sức khỏe con người.

– Kích thích tuyến ứcÔm giúp tăng cường hệ thống miễn dịch. Áp lực nhẹ nhàng lên xương ức có khả năng kích thích, kiểm soát và cân bằng việc sản xuất bạch cầu của cơ thể giúp tăng cường sức đề kháng của cơ thể. Ngoài ra, những cái ôm còn giúp chúng ta có được cảm giác được trân trọng và yêu thương.

– Ý nghĩa hơn cả lời nói. Gần 70% giao tiếp là phi ngôn ngữ. Việc giải thích ngôn ngữ cơ thể có thể dựa trên một cử chỉ hoặc một cái ôm là phương pháp tuyệt vời thể hiện tình cảm của mình với đối phương. Không chỉ cảm nhận được tình yêu, sự chân thành từ vòng tay của bạn, đối phương có thể tiếp thu và đáp trả bằng cách ôm lại, từ đó tạo ra sự gắn kết bền vững.

bia-om-2– Tăng lòng tự trọng. Ôm tăng lòng tự trọng, đặc biệt là ở trẻ em. Xúc giác là cơ quan quan trọng nhất ở trẻ sơ sinh. Một em bé sẽ cảm nhận được tình cảm từ cha mẹ thông qua những cái ôm trìu mến. Xúc giác những năm đầu đời ấy có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình phát triển nhân cách của trẻ sau này. Trẻ sẽ cảm nhận sự thương yêu và từ đó có ý thức nâng cao giá trị bản thân.

– Kích thích dopamine. Mức dopamine thấp dễ dẫn đến nguy cơ mắc bệnh thoái hóa thần kinh, rối loạn tâm trạng như trầm cảm, Parkinson. Ôm ấp, vuốt ve kích thích não sản xuất dopamine – hoóc-môn hạnh phúc.

– Kích thích serotonin. Ôm chặt có thể làm tăng nồng độ serotonin (một loại hoóc-môn có chức năng điều chỉnh tâm trạng, đem lại cảm giác hạnh phúc) vào các mạch máu; đồng thời làm giảm các triệu chứng bệnh tim, giúp giảm cân và kéo dài tuổi thọ.

– Cân đối giao cảm. Những cái ôm âu yếm có thể giúp cân bằng hệ thần kinh. Da có một mạng lưới nhỏ, có thể nhận được những cảm ứng và sau đó tiếp xúc với não thông qua các dây thần kinh. Các phản xạ trên da của một người nào đó khi tiếp nhận một cái ôm cho thấy có sự thay đổi rõ rệt. Hiệu ứng điện diễn ra ở da cho thấy được trạng thái cân bằng hơn trong hệ thống thần kinh khi được ôm.

Lan caysu chuyển tiếp

A- KÍNH BÁO CÙNG BẠN ĐỌC