BỘ ẢNH MÁI TÓC DÀI

VÌ SAO CÁC BỨC TRANH “KHÓ HIỂU”

CỦA PICASSO LẠI ĐẮT GIÁ NHẤT ?

Tranh của Picasso khiến cho những người không am hiểu hội họa cảm thấy khó hiểu, ấy thế mà chúng lại có giá đắt bậc nhất thế giới. Cùng với tranh của Van Gogh, tranh của danh họa Picasso trở thành người sở hữu nhiều bức họa đắt giá nhất thế giới.

Điều đáng nói là đối với nhiều người tranh của ông có vẻ như “không đẹp” đến mức có thể lên giá trị cao như vậy. Hãy cùng khám phá lý do khiến những bức họa khó hiểu này đắt giá như vậy.

Một vài điều về Picasso

Picasso được coi là một trong những nghệ sĩ nổi bật nhất của thế kỷ 20, ông cùng với Georges Braque là hai người sáng lập trường phái lập thể trong hội họa và điêu khắc.

Ông là một trong 10 họa sĩ vĩ đại nhất trong top 200 nghệ sĩ tạo hình lớn nhất thế giới thế kỷ 20 do tạp chí The Times, Anh, công bố. Ông thọ 92 tuổi, là danh họa với phong cách vẽ trải qua rất nhiều trường phái – phong cách nghệ thuật, từ Hiện thực, Ấn tượng, Dã thú đến Biểu hiện, Lập thể, Siêu thực v.v… trường phái nào ông cũng đều thử sức và thành công.

Phần lớn nghệ thuật của ông được đồng nghiệp tán thưởng và khâm phục vì tạo hình đột phá, kỹ thuật hoàn hảo, biểu cảm mãnh liệt… Ông giao tiếp rộng rãi, lại vẽ liên tục nên nhiều tác phẩm sớm được lăng xê và sớm được đông đảo công chúng biết tới. Ông hình thành khả năng nghệ thuật từ rất nhỏ do cha mình (cũng là một họa sĩ) hướng dẫn và định hướng.

Picasso từng nói: “Người ta nói rằng tôi có thể vẽ giỏi hơn Raphael và có lẽ họ nói đúng. Có khi tôi còn vẽ giỏi hơn” (Gertrude Stein ghi lại lời Picasso).

Sinh thời, Picasso thực hiện khoảng 50.000 tác phẩm, bao gồm gần 2.000 bức tranh, hơn 1.200 bức điêu khắc, gần 3.000 tác phẩm gốm, 12.000 bản vẽ, hàng nghìn bức tranh in từ những bản khắc…

Mỗi tác phẩm của Picasso khi xuất hiện trên thị trường đều có giá triệu đô cho tới trăm triệu đô. Hiện tại, tác phẩm của ông vẫn đang nắm giữ kỷ lục “bức tranh được trả giá cao nhất trong lịch sử đấu giá”.

Picasso và trường phái độc đáo của mình

Được xem là “bậc thầy hư hỏng” với sự nghiên cứu hàn lâm nghệ thuật tinh thông, ông trở thành người phá cách, với ý tưởng đi tìm một con đường mới, con đường của nghệ thuật hiện đại.

Picasso trở thành người tiên phong của một trường phái nghệ thuật do chính mình sáng lập. Ông đi con đường của riêng mình, không giống ai và trở nên khác biệt.

Nếu như để xây dựng một còn đường, một trường phái cần rất nhiều bàn tay. Ở thời Phục Hưng những bậc thầy như Leonardo da Vinci, Michael Angello. Raffael,… và rất nhiều họa sĩ khác cũng nhau xây dựng nên.

Thì hội họa đương đại lại mang tính cá nhân, phá cách,… mà Picasso chính là người đầu tiên làm được. Một cậu bé chỉ mới 16 tuổi đã chống lại lối vẽ cổ điển hàn lâm, đi ngược lại con đường của các bậc thầy, Đi tìm cho mình một lối đi riêng, do đó tranh của ông còn mang tính cá nhân rất cao.

Nhưng có phải ông là kẻ cứng đầu và thiển cận, trước khi lựa chọn lối đi này ông đã dày công học hỏi, nghiên cứu của nhiều trường phái của nhiều bậc thầy.

Hơn nữa Picasso muốn phá vỡ mọi qui cách, ước lệ ở thời đó,một sự hoà nhập phi thường cho một cá tính riêng biệt và đưa dẫn những hoạ nhân khác đổi mới tư duy để cùng nhau hội nhập một thời đại mới dưới nhiều sắc thái khác nhau.

Picasso là một nghệ nhân riêng biệt; ông không lệ thuộc vào một điều kiện nào cả, ông tránh xa những hình ảnh có tính truyền thống. Picasso sống ngoài tầm nhìn xã hội, phá vỡ mọi hình thức cưỡng chế của nền luân lý cố hữu.​

Leonard Da Vinci từng nói  : “Khi trau dồi nghệ thuật,phải học cho đúng kỷ thuật căn bản trước, nhưng khi học xong rồi thì từ từ quảng cái căn bản đó đi”. Picasso đã tìm hiểu rất kỹ lưỡng những thứ căn bản và rồi ném nó để trở thành người đặc biệt của hội họa hiện đại.

Ông chính là “Einstein” của giới hội họa, những điều ông làm có lẻ phải rất lâu sau chúng ta mới có thể hiểu được như những gì Einstein từng làm vậy.

Huyền thoại làm tăng giá bức tranh

Bán một bức tranh không đơn giản chỉ vì giá trị nghệ thuật của nó, còn rất nhiều yếu tố khác chi phối khiến giá trị bức tranh đó “đội giá” một cách khủng khiếp. Ví dụ như tranh Van Gogh, đương thời chúng không được đánh giá cao và rất khó bán khiến cuộc sống của ông vô cùng bần hàn.

Mãi sau khi danh hoạ này chết thì cuộc đời chìm nổi, sóng gió và quyết liệt vì lý tưởng nghệ thuật của ông mới làm xúc động hàng triệu người. Số phận bi thảm bao nhiêu thì tranh của ông sau này đắt giá bấy nhiêu bởi các nhà tỷ phú quyết tâm dốc hầu bao mua bằng được nhằm thoả mãn cơn khát: Nghệ thuật + huyền thoại + sự xả thân vì lý tưởng nghệ thuật cao cả.

Với Picasso cũng gần như vậy. Ông là huyền thoại của lối sống tự lập, đi lên từ nghèo khó, với niềm đam mê mãnh liệt, sức sáng tạo vô bờ bến và còn được công chúng yêu thích nghệ thuật biết tới bởi những rắc rối về đời sống tình ái của ông.

Những bức họa không thể sao chép

Khác với các loại hình nghệ thuật khác như văn thơ, nhạc, kịch,.. chúng có thể được sao chép, diễn đi diễn lại, chơi bằng nhiều nhạc cụ khác nhau. Riêng đối với hội họa, chúng là duy nhất ! Bức họa đó được sáng tạo chỉ duy nhất một lần bởi một họa sĩ, dù cho có sao chép cũng chỉ là “đồ nhái” và không thể đạt tới mức độ của các bậc thầy.

Chính vì tính độc bản, có một không hai nên những bức tranh kiệt tác càng trở nên có giá trị khi ai đó sở hữu nó, không ai có thể có được.

Một gia tài cho hậu thế

Đa số các kiệt tác hội họa lại không nổi tiếng lúc đương thời khi tác giả còn sống, nhiều khi tác giả còn không thể bán tranh của mình. Thế nhưng trớ trêu thay sau khi họ mất đi, những bức tranh của họ lại có một cái giá mà có lẽ bản thân họa sĩ cũng “không thể tin nổi” nếu biết được.

Những nhà sưu tập tranh ban đầu cũng thường mua chúng với cái giá khá “bèo” nhưng theo thời gian chúng lại có thể bán đấu giá với giá trị cao ngất ngưỡng. Và những người kế thừa bức tranh sau này lại càng sỡ hữu tác phẩm giá trị tăng theo thời gian.

Một “món thừa kế” mà những người đi trước để lại cho con cháu. Do đó càng làm tăng mong muốn sở hữu “con gà đẻ trứng vàng” này. “Một vốn bốn lời” và cứ thế tăng theo thời gian.

Ví dụ : Bức “Cậu bé cầm tẩu thuốc” được hai vợ chồng ông Whitney mua từ năm 1950 với giá 30.000 USD để hôm nay đạt giá 104 triệu USD. Hai ông bà Witney là những nhà từ thiện lớn, từng có địa vị xã hội cao – tên tuổi của họ một lần nữa tăng thêm huyền thoại cho bức tranh, mà huyền thoại ở đây lại có thể quy ra tiền. (Hoa Hướng Dương theo Trí Thức Trẻ)

Lan Hương chuyển tiếp

NGẮM BỘ ẢNH

MÁI TÓC DÀI NHẤT VIỆT NAM

Nhiếp ảnh gia Trần Bích là người đam mê chụp ảnh sen, nhưng bị cuốn hút bởi mái tóc dài của cô Hoàng Thị Lan nên đã từ Sài Gòn ra Thái Bình chụp bộ ảnh về mái tóc đặc biệt này.

Tác giả thừa nhận có chịu ảnh hưởng từ nhiếp ảnh gia Phạm Văn Mùi (1907 – 1992), nhưng bộ ảnh của ông ra đời xuất phát từ tình yêu vẻ đẹp mềm mại, cổ điển bộc lộ qua mái tóc dài người phụ nữ Việt Nam. Nhiếp ảnh gia Trần Bích được biết như một người chỉ thích chụp ảnh sen và không gì khác ngoài sen. Ông từng xác lập kỷ lục triển lãm và chụp sen nhiều nhất Việt Nam.

Trong lần trò chuyện, người bạn giới thiệu ông về một người phụ nữ cũng từng xác lập kỷ lục Việt Nam: cô Hoàng Thị Lan, quê Thái Bình – người phụ nữ sở hữu mái tóc dài 2.4m – được ghi nhận có mái tóc dài và thẳng nhất Việt Nam

Trần Bích kể tuy toàn tâm toàn ý chụp sen, nhưng ông bị thu hút bởi vẻ đẹp của mái tóc dài của cô Hoàng Thị Lan nên đã tìm về Thái Bình để chụp bộ ảnh. “Trước đây ông Phạm Văn Mùi từng chụp bộ ảnh tóc dài quá nổi tiếng. Chính vẻ đẹp cổ điển được thể hiện qua mái tóc dài của người phụ nữ Việt Nam làm tôi muốn ghi lại những hình ảnh này”.

Tuy nhiên, Trần Bích cũng khiêm tốn nói về bức ảnh của mình: “Thật ra chụp ảnh về người không phải là sở trường của tôi lắm. Tôi chụp vì thích và  muốn chia sẻ với mọi người về vẻ đẹp bộ tóc dài của cô Lan thôi !”.

 Trong khi đó, bộ ảnh tóc dài của nhiếp ảnh gia Phạm Văn Mùi được chụp vào thập niên 1960 của thế kỷ trước. Người mẫu trong bộ ảnh là chị em bà Nguyễn Tú Loan, Nguyễn Tú Quỳnh, vốn là bạn của bà Phạm Vân Loan – con gái của nhiếp ảnh gia Phạm Văn Mùi và là vợ của TS sử học Nguyễn Nhã.

Bà Phạm Vân Loan với chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan cũng là con em chú bác ruột, là dòng dõi của Phạm Thận Duật (1825 – 1885), một đại thần nổi tiếng thời Nguyễn.

Trong lúc chơi cùng bà Phạm Vân Loan, chị em bà Nguyễn Tú Loan, Nguyễn Tú Quỳnh được ông Phạm Văn Mùi đề nghị chụp bộ ảnh mái tóc dài – bộ ảnh nổi tiếng của ông. Và dưới đây là những bức ảnh nổi tiếng của nhiếp ảnh gia Phạm Văn Mùi.

CỐ NGHỆ SĨ NHIẾP ẢNH PHẠM VĂN MÙI

QUA HỒI ỨC CỦA CON GÁI

Là một trong những bậc đại thụ của nhiếp ảnh đen – trắng Việt Nam, cố nghệ sĩ nhiếp ảnh Phạm Văn Mùi(1907 -1992) đã để lại một khối lượng lớn tác phẩm cũng như những kinh nghiệm, bài học rất có giá trị về nghệ thuật nhiếp ảnh. Dù rằng, giờ đây, ảnh đen – trắng không còn phổ biến nhưng người mê ảnh và học chụp ảnh vẫn thích tìm về giá trị của nó.

Nhân dịp đầu xuân, tôi gặp bà Phạm Vân Loan, ái nữ thứ năm trong 7 người con của ông, nghe những dòng hồi tưởng về người cha, người nghệ sĩ mà bà suốt đời trân trọng, yêu thương, kính phục.

Trò chuyện với con gái cố nghệ sĩ Phạm Văn Mùi tôi cảm nhận bà vẫn còn nhiều chất của phụ nữ Hà Nội xưa dù rằng bà đã cùng gia đình di cư vào Nam từ năm 1954. Hồi ức của bà cứ xen giữa hiện tại và quá khứ, nó không theo một dòng mà là những lát cắt thời gian và không gian về người bố đáng kính.

Cố nghệ sĩ Phạm Văn Mùi có 7 người con thì chỉ duy nhất bà Vân Loan sống ở Việt Nam. Đã mấy bận tôi ghé nhà lưu niệm của cố nghệ sĩ Phạm Văn Mùi để gặp TS Nguyễn Nhã (con rể nghệ sĩ Phạm Văn Mùi) phỏng vấn về vấn đề Hoàng Sa- Trường Sa, về hành trình xây dựng Bếp Việt do ông nguyên là Viện trưởng Viện nghiên cứu ẩm thực Việt Nam. Những lần ấy, các bức ảnh đen – trắng của cố nghệ sĩ Phạm Văn Mùi trên bức tường như mê hoặc và tôi quyết định gặp bà Phạm Vân Loan.

Bố tôi”, bà bắt đầu hành trình cảm xúc, “ông rất thương yêu con cháu, chăm sóc từng li từng tí một, dạy từ cách cầm bút, cầm đôi đũa, cách đánh răng; còn mẹ tôi thì dạy nữ công gia chánh, là hình ảnh người phụ nữ “công, dung, ngôn, hạnh” mà tất cả 5 chị em gái chúng tôi đều ảnh hưởng những tính cách của bà cụ”. Cố nghệ sĩ Phạm Văn Mùi sinh tại thành phố Nam Định, nguyên quán làng Đông Ngạc (làng Vẽ), tỉnh Hà Đông, nay thuộc ngoại thành Hà Nội. Sau khi học trường Nam Định, ông làm việc tại Nông Phố Ngân Hàng Nam Định, sau trở thành một chuyên gia và thầy dạy kế toán giỏi tại Nông Phố Ngân Hàng ở Nam Định và Bộ Tài Chánh, sau đó làm tại Nông Tín Cuộc ở Sài Gòn. Ông cũng là người rất có khiếu về nhiếp ảnh và hội họa, đặc biệt là vẽ chân dung vì ông từng là học viên dự thính cùng lớp với họa sĩ Nguyễn Gia Trí của trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương Hà Nội.

Là bậc thầy tài ba về kỹ thuật phòng tối, chính công thức tráng phim hai nước thuốc để trị độ tương phản do ông khám phá thời cuối thập niên 50 thế kỷ trước đã được áp dụng vào bộ ảnh “mái tóc”, đem về hàng chục huy chương nổi tiếng trên thế giới. Nổi tiếng nhất trong di sản nhiếp ảnh của nghệ sĩ Phạm Văn Mùi phải kể đến các bộ ảnh “Đôi dòng thác (1961), “Duyên dáng” (1962), “Tâm tư” (1963)… với hình ảnh những thiếu nữ trong bộ áo dài truyền thống, mái tóc mượt mà chấm gót tạo nên vẻ đẹp nền nã, hoài cổ của phụ nữ Việt Nam thời xưa. Không những thế, nghệ sĩ Phạm Văn Mùi còn là người thầy rất tận tâm với học trò, không bao giờ giấu nghề mà luôn truyền đạt tất cả cho các thế hệ học trò, “Bố tôi luôn nói với học trò mong học trò mình phải thành đạt hơn mình và ông quan niệm “Nghệ sĩ nhiếp ảnh cần nhất là cái nhìn, tâm hồn thì mới tìm được tác phẩm hay, đặc sắc”, bà Loan chia sẻ.

Chúng ta đều biết là đầu thế kỷ XX, kỷ thuật nhiếp ảnh ở Việt Nam chưa phát triển nhưng cố nghệ sĩ Phạm Văn Mùi đã mê nó từ sớm. Vì thiếu phương tiện, nên thời đầu mê nhiếp ảnh, ông phải vây tấm màn xung quanh cái bàn để làm phòng tối và chui vào bên trong để in ảnh bằng đèn dầu. Bà Loan vẫn nhớ mãi về một người bố với tính cách kỹ càng, chỉnh chu, để săn được một bức ảnh có khi phải mất hàng giờ liền, canh từng tí một và chờ đúng khoảnh khắc cần chớp và nếu ảnh nào có lỗi là ông xé bỏ ngay chứ không để công bố rộng rãi ra ngoài. Đối với ông, trong công việc và cả trong nghệ thuật phải chỉnh chu, nghiêm túc, cẩn trọng và luôn cần sự hoàn hảo chứ không làm qua loa hay chơi chơi được.

Tôi bắt gặp sự tự hào rực sáng trong đôi mắt bà khi nói về bố mình, từng câu chuyện nhỏ, từng kỉ vật của nghệ sĩ Phạm Văn Mùi đều được bà lưu giữ cẩn trọng. Và bà cũng kể tôi nghe hai câu chuyện đáng nhớ trong cuộc đời của ông ngoài chuyện nhiếp ảnh, chuyện giải thưởng. Ấy là, năm 1981, nghệ sĩ Phạm Văn Mùi chuẩn bị đầy đủ đồ nghề đi săn ảnh cùng một nhóm nhiếp ảnh, hôm đó đến Nhà văn hóa Thanh Niên TPHCM vì mải trò chuyện với bạn bè, học trò, ông để túi xách máy ảnh ở một góc phòng, xong việc quay lại thì chúng đã không cánh mà bay. Cụ tiếc đứt ruột, thế là về nhà nói con cháu bán cái giải thưởng “Con Sò Vàng” mà cụ đã nhận trước đây. Nhưng gia đình giấu cụ không bán, bà Loan đưa ông cụ 5 chỉ vàng y nói đã đổi được để bố mua bộ máy ảnh mới.

Ông cụ thế đó, con cháu gửi ông tiền để mua, ông nhất quyết không chịu: “Cái gì của bố thì bố xài. Bố có cái gì thì bố dùng cái đó, bố chưa cần dùng tiền của các con”. Bà vui vẻ kể tiếp: “Trước ngày ông cụ đi Mỹ, học trò ảnh hỏi Con Sò Vàng bán ở đâu để họ mua về làm kỷ niệm, tôi bèn đem giải thưởng Con Sò Vàng đã cất bấy lâu đưa cụ coi. Cụ mới ngả người, bố cứ tưởng tụi con đã bán và lấy tiền cho bố mua máy ảnh rồi chứ”.

Không chỉ là nhà kế toán giỏi, nhà nhiếp ảnh giỏi mà ông còn là vận động viên bơi thuyền, chơi tennis rất cừ. Vì thế mà ông tự cứu được mình trong một lần té xuống rạch gần kênh Thị Nghè, chỉ vì né một người đi đường trên một chiếc cầu ván gỗ gập ghềnh không có thành cầu từ Tân Định về Phú Nhuận mà cả ông và chiếc xe đạp bị quăng xuống kênh. Con cháu hết hồn bảo sao bố té xuống lỡ có chuyện gì thì sao: “Bố té xuống sông thì bố bơi vào bờ chứ sao”, “ ông cụ trả lời tỉnh bơ vậy đó cô”.

Dù rằng trong 7 người con cố nghệ sĩ Phạm Văn Mùi, chỉ có một người theo nghiệp nhiếp ảnh nhưng tất cả những người còn lại đều mê ảnh, biết tự tặng cho mình, bạn bè và gia đình những bức ảnh đẹp. Là người sống bên bố gần trọn cuộc đời, bà Vân Loan nhiều lần giúp bố chấm lỗi trên các bức ảnh bằng bút lông với mực tàu, và bà cũng là cô con gái được ông cụ chọn làm người mẫu cho một số bức chân dung nên tình cảm bố con rất sâu sắc.

Nói về những tác phẩm của cố nghệ sĩ nhiếp ảnh Phạm Văn Mùi, GS-TS Trần Văn Khê từng nói rằng: “Tôi như nghe thấy nhạc, đọc thấy thơ trong từng bức ảnh của Phạm Văn Mùi. Với những tấm ảnh đen trắng, đẹp như tranh thủy mặc, Phạm Văn Mùi lấy cái đơn sơ, giản dị để làm rung động lòng người… Những bức ảnh của Phạm Văn Mùi sẽ là bài học lớn cho các thế hệ nhà nhiếp ảnh hiện đại. Vì ngày xưa máy ảnh chỉ làm 20% công việc. Còn người cầm máy phải làm tới 80%. Nhưng bây giờ thì ngược lại”.

Ngoài ra, cố nghệ sĩ Phạm Văn Mùi còn là một nhà phê bình, biên khảo và lý luận sắc bén, một họa sĩ, một thi sĩ với lòng yêu quê hương nồng nàn. Năm 1991, khi qua Mỹ thăm con cháu chưa kịp quay về quê hương như ước nguyện thì ông mất tại California, đó quả là một sự nuối tiếc không chỉ cho bản thân ông mà còn cho gia đình và những học trò của ông.

Hơn 60 năm cầm máy với hàng trăm tác phẩm được sáng tác, nhưng do hoàn cảnh chiến tranh, nhiều tác phẩm của ông bị thất lạc và năm 2007, gia đình và học trò ruột của ông là nghệ sĩ nhiếp ảnh Thu An đã dày công lựa chọn những tác phẩm tiêu biểu nhất trong sự nghiệp của nghệ sĩ Phạm Văn Mùi để in “Ảnh nghệ thuật Phạm Văn Mùi”. Những tác phẩm tiêu biểu này được trưng bày vĩnh viễn tại Nhà lưu niệm của cố nghệ sĩ ở Sài Gòn.

Ảnh hưởng từ bố nếp sống cẩn thận, nguyên tắc, chỉnh chu và tính cách thành thật, trung thực, không giấu nghề, bà Phạm Vân Loan (vợ của TS sử học Nguyễn Nhã) giờ là chuyên gia ẩm thực món ngon Hà Nội, cùng chồng tiếp tục sứ mệnh hành trình xây dựng thương hiệu ẩm thực Bếp Việt. Cả hai ông bà đang sống và gìn giữ nhà lưu niệm cố nghệ sĩ nhiếp ảnh Phạm Văn Mùi. Nơi để những nghệ sĩ nhiếp ảnh, công chúng yêu ảnh nghệ thuật đen – trắng đến thưởng thức những tác phẩm nghệ thuật vang bóng một thời. (theo Thiên Thanh – petrotimes)

– Nhiếp ảnh gia Phạm Văn Mùi và các tác phẩm bất hủ

https://youtu.be/BuzeD2YqHAA

Nguyễn Văn Danh tổng hợp chuyển tiếp

TRANH BIẾM HỌA BÓC TRẦN

BẢN CHẤT CUỘC SỐNG NGÀY NAY

Có những góc khuất trong cuộc sống mà bất cứ ai cũng hiểu nhưng không phải ai cũng dám nói ra và càng không có đủ bản lĩnh để thay đổi những sự thật ấy.

Cuộc sống đang thay đổi từng ngày, ấy thế nhưng bên cạnh những điều tốt đẹp còn có biết bao nhiêu những góc khuất mà bất cứ ai cũng hiểu nhưng không phải ai cũng dám nói ra và càng không có đủ bản lĩnh để thay đổi những sự thật ấy.

H1: Phố phường thì ngày một đông đúc, ở đâu cũng chỉ trông thấy toàn người với người. Mỗi ngày chúng ta sẽ lại bắt đầu bằng việc chen lấn, xô đẩy nhau để đến trường học, đến nơi làm việc giống như những chú chuột chù ở dưới hố sâu.

H2: Xem TV là một hình thức giải trí phổ biến ngày nay cho mọi gia đình, mọi lứa tuổi. Ấy thế nhưng trên TV thực sự đang chiếu những gì ? H3: Động vật thì bị giết hàng loạt để phục vụ nhu cầu của con người H4: Vòng tuần hoàn của cuộc sống: Không có ai cho không ai thứ gì, anh muốn có được thứ này thì anh phải bỏ ra thứ khác

H5: Mọi thứ đều được qui đổi ra thành tiền, kể cả…trái đất! H6: Dù rằng ai cũng mong muốn có tiền để được hạnh phúc thế nhưng làm thế nào để có được tiền mà không rơi vào cạm bẫy mới thực sự là một câu hỏi không phải ai cũng trả lời được.

H7: Những người giàu luôn làm giàu thêm trên lưng của những người nghèo khó. Việc những người nghèo có thể làm là…chấp nhận. H8: Khi đối xử với nhau con người cũng cố che đi bản chất thật của mình. Họ sẽ mang những khuôn mặt khác nhau khi bước vào các mối quan hệ ngoài xã hội

H9: Công nghệ đã mang đến cho chúng ta những trải nghiệm tuyệt vời, ấy thế nhưng việc quá lệ thuộc vào nó đã vô tình biến chúng ta thành những kẻ nô lệ không hơn không kém. H10: Còn đây là những thứ mà chúng ta ăn hàng ngày với toàn những đồ ăn nhanh, đồ ăn nhiễm độc do dùng chất bảo quản và được gắn mác rất rõ ràng… “có thể gây chết người” H11: Đồ ăn nhanh có thể thấy ở bất cứ đâu… H12: Chính con người đang tự hủy hoại bản thân mình (tác giả: Steve CuttsHLT – Ohay TV)

Dung Dung chuyển tiếp

Advertisements

HIỆP SĨ MÙ “CHÉM GIÓ”

‘LÃO BÀ BÀ” LẠI TRỞ VỀ !

Các báo giấy và báo mạng ở VN vừa qua đồng loạt loan tin, “lảo bà bà” đã hơn 70 cái xuân xanh lại trở về Việt Nam với các đêm diễn từ Bắc vô Nam, mà lần trước ra về với những thất bại thảm hại, không kèn không trống.

Còn nhớ mấy năm trước đây, mấy tên ký giả cà phê, ký giả lá cải được bầu show tặng phong bao nên hí ha hí hửng chụp hình “đôi uyên ương” kẻ bỏ vợ người bỏ chồng” khi cả 2 qua Mỹ viết lách và hát hò. Mấy tên “nô tì ô-sa-ra” này còn nổ là ngoài Hà Nội, bà già sẽ hát… hỏng thêm một show ở Sài Gòn. Nhưng năm đó Sỡ VHTT ở Sài Gòn cấm cửa, làm ông K. (nguyên là một nhà báo đã và đang bị mất ghế tại một nhật báo nọ) gì đó quê một cục (do nghe đâu ông đứng ra bão lãnh cho lão bà bà trở về, do lý lịch lão bà bà này khi ở Mỹ đòi chống Cộng đến hơi thở cuối cùng !!!).

Năm rồi 2016 chắc ông K. này lại bão lãnh cho lão Bà, nên thành phố duyệt cho lão Bà hát trong một khách sạn, khán phòng chỉ nhỏ như một phòng trà chứ không phải nhà hát có cả ngàn chỗ ngồi)

Mấy tên “nô tì” loại “hậu sanh khả ố” này đâu biết rằng, dân Sài Gòn đã “cạch” mặt lão bà bà này, vì ai cũng biết lão bà đã hơn 70 đâu còn hơi hám để hát với hò. Sở dĩ lão bà hát ở xa Sài Gòn, do những nơi đây có nhiều dân trưởng giả mới muốn học làm sang, bỏ ra mấy chai mua vé vào cửa, để tỏ ra mình là người am hiểu âm nhạc… hiểu cách nghe nhạc nhép qua playback… ha ha ha !!!

SỰ THẬT VỀ LÃO BÀ BÀ

Rồi Hiệp Sĩ Mù nhớ đến một bài viết có tựa Con Quạ Đen Và Bồ Câu Trắng: Khánh Ly và Gloria Estefán của Lê Thy trên mạng. Do con Bồ Câu Trắng Gloria Estefán chẳng dính gì, nên Hiệp Sĩ Mù không trích ra đây, chỉ trích đoạn nói về Con Quạ Đen, vì khoái 2 câu : “Nữ hoàng xù show” “Ca sĩ nâng giá”. Vậy xin trích lại cho bà con được hiểu thêm. Dưới đây là bài trích về việc CON QUẠ ĐEN KHÁNH LY “nhổ ra liếm lại” (trích từ : Khánh Ly – Một đời tiến thoái lưỡng nan... của Bích Châu) :

Một cô bé mồ côi cha sống trong sự hà khắc của mẹ và bố dượng, cô bé đầy cá tính đã thoát ra khỏi nhà và sống tự lập bằng tiếng hát từ năm 16 tuổi. 17 tuổi đã lỡ lầm mang thai và lấy chồng, một người cô không hề yêu. Nhiều mối tình qua với 3 đời chồng 4 đứa con. Năm 1975, vượt biên sang Mỹ, những ngày đầu phải đi lau chùi nhà vệ sinh để có tiền nuôi con… Một cuộc đời lắm gian nan, dông bão…

Khánh Ly từng thú nhận mình chỉ học đến tiểu học, nhưng đi thi cũng rớt nên cuối cùng chẳng có bằng cấp gì trong tay, nhưng khi đọc những bài viết (?) của KL không ai nghĩ chị học không qua nổi lớp 6. Chị viết (?) hay, văn chương sáng rõ, nhất là những trang tự sự về cuộc đời mình.

Nhưng văn chương và đời thật nhiều lúc không hề song hành với nhau. Mặc dù cổ nhân vẫn khẳng định “Văn là người”, nhưng trên thực tế không hẳn như thế, nhiều nhà văn người đọc chỉ có thể ngưỡng mộ trên những trang viết, còn cuộc đời thật thì khó thể đến gần. Có lẽ người ta đã dồn tất cả tinh hoa của con người mình lên trang viết, bởi đó là ánh sáng hướng thiện, nhưng sống cho đúng với những điều mình viết ra thì không dễ chút nào. Có lẽ đó cũng là trường hợp của Khánh Ly.

Khi viết chị thật sự muốn sống tình nghĩa, muốn được tôn trọng, muốn trở thành một con người có nhân cách. Nhưng với cuộc đời thật nơi hải ngoại thì chị nổi tiếng là người tráo trở.

Nhiều thông tin từ báo chí, từ những lời chua chát của một số đồng nghiệp của chị ở hải ngoại cho thấy giữa Khánh Ly và những trang viết “Bên đời hiu quạnh” của chị gần như là hai con người biệt lập. Bởi vì ở hải ngoại Khánh Ly nổi tiếng với hai biệt hiệu khá phổ biến : “Nữ hoàng xù show” “Ca sĩ nâng giá”. Cụ thể:

“Năm 2002, một bà bầu show tên Nga tổ chức show tại Majestic, đã nhờ ông Duy Thanh mời Khánh Ly và Khánh Ly đồng ý với giá lên 3.000 USD. Nhưng 10 ngày trước show diễn Khánh Ly nói với Duy Thanh nâng giá lên 5.000.USD (?)”.

“Ngay cả với Trầm Tử Thiêng, cho đến phút cuối, theo di chúc của anh, gia đình đã không cho chị đến dự đám tang. Dư luận cho rằng, khi còn tại thế, nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng (trung tâm ASIA), người đã môi giới chị với một show diễn bên Phi-Luật-Tân (Philippines – người viết) hát cho đồng bào bị nạn nghe… chị đòi giá là $3.000. Mọi người đồng ý, trước vài hôm lên đường, chị đã đòi tăng giá lên $2.000 nữa. Trầm Tử Thiêng vì giữ thể diện, nên đã móc túi $2.000 trả cho chị. Sau đó Trầm Tử Thiêng không muốn nói chuyện với Khánh Ly nữa” Chỉ hai thí dụ cũng thấy rõ nhân cách con người cô ca sĩ nổi tiếng này.

Ai cũng biết khi sang Mỹ, Khánh Ly và chồng là Nguyễn Hoàng Đoan nổi tiếng là người chống Cộng hung hăng, chị đi hát có lúc mặc áo dài cờ vàng 3 sọc đỏ và câu nói nổi tiếng : “Tôi chỉ về nước khi không còn chế độ CS.”.

Nhưng năm 1996, Khánh Ly vẫn về Việt Nam và đã phát biểu hoàn toàn ngược lại : “Tôi rất hối hận, tôi muốn trong nước quên đi những lỗi lầm quá khứ của tôi. Tôi chỉ muốn về thăm quê hương như một người bình thường”.

Song khi trở về Mỹ, Khánh Ly lại tiếp tục tham gia vào các chương trình ca nhạc chống Cộng. Ngày 4-3-2000, Khánh Ly một mình về Việt Nam lần thứ hai, cũng với mục đích thăm gia đình. Gặp lại những nhà báo từng tiếp xúc, chị lại chữa thẹn : “Dưới sức ép của các phe nhóm, tôi phải hát cho các chương trình của họ. Nếu không sẽ bị coi là không xác định lập trường”.

Khi được hỏi cảm tưởng những ngày ở Việt Nam như thế nào, Khánh Ly trả lời : “Vui lắm, thoải mái lắm, hôm đi ăn với mấy người bạn tại nhà hàng Bạch Dương trên đường Lê Quý Đôn, nhiều người nhận ra tôi, yêu cầu tôi hát, và tôi đã hát liền một lúc 3 bài”

Thế nhưng, ngày 13/1/2004, tại Mỹ, Khánh Ly đã hô hào lập hội “Ái hữu ca nhạc” và kêu gọi tẩy chay nghệ sĩ trong nước ra hải ngoại biểu diễn (?). Chị đã từng viết, bày tỏ thái độ coi khinh nhạc sĩ và ca sĩ trong nước là chỉ có một giọng điệu giống nhau, không thể phân biệt được ai hát, đồng thời hết lời ca ngợi những ca sĩ thuộc thế hệ chị.

Nếu đúng như vậy thì việc gì chị phải lo sợ bị quên lãng mà kêu gọi Việt kiều hải ngoại tẩy chay. Và ngày 20/2/2004, tại khách sạn Capital Hilton – Washington D.C, trong một đại nhạc hội mang tên “Xin đừng quên tôi”, với vai trò người dẫn chương trình, Khánh Ly đã dúi vào tay Bằng Kiều lá cờ vàng 3 sọc đỏ, yêu cầu anh tỏ rõ thái độ để được “cộng đồng người Việt chấp nhận cho ở lại Mỹ”.

Một mặt chị bảo chị không về Việt Nam và không muốn hát ở Việt Nam, nhưng chị đã về hai lần. Và năm 2012, khi trong nước cho phép chị về diễn thì chị trả lời phỏng vấn đài BBC là trở về hát ở Việt Nam là niềm mơ ước của chị.

Trước đó chị lên án trong nước không có tự do khi kiểm duyệt bài hát: “Bất cứ ca sĩ nào cũng có quyền hát những nhạc phẩm họ yêu thích theo kiểu của họ. Không nên bắt người khác phải làm theo ý mình hoặc phải nghĩ như mình. Chỉ có Cộng sản mới như thế thôi” , nhưng khi trả lời BBC chị lại nói : “Phải có kiểm duyệt. Lỡ hát những bài người ta không cho phép thì phiền lắm. Nhưng mà nhiều khi tôi nghĩ nó cũng đúng. Mình vào nhà người ta thì chỉ được làm những gì người ta cho phép. Cái điều đó chẳng làm phiền gì mình hết. Tại vì nhiều khi cái mình thích chưa chắc là cái người ta thích”

Trả lời BBC là thế, nhưng sau đó người nhà Khánh Ly đã nói : “Một năm nay, ít nhất có 10 lời mời chính thức từ phía Việt Nam… Tuy nhiên, chúng tôi từ chối mọi lời mời rất hấp dẫn này. Vì chúng tôi không thể làm ngược lại những gì Khánh Ly đã từng tuyên bố trước đây”.

Thực ra, tất cả mọi sự bất nhất này chính là bi kịch của Khánh Ly, một bi kịch mà chị đã tự tạo ra mà không có cách nào thoát ra được. Ngay từ những ngày đầu ở Mỹ, chị đã chứng tỏ mình vượt hơn những ca sĩ khác trong phong trào chống cộng tại hải ngoại. Và chị đã thực sự nổi bật so với những ca sĩ thầm lặng khác. Chị viện mọi lý do để biện minh cho những việc làm, những lời tuyên bố của mình, “nhổ đó lại liếm đó”.

Vì vậy, báo chí trong nước gọi chị là con người tráo trở cũng rất đúng. Ngay cả biệt danh ca sĩ nâng giá, xù sô ở nước ngoài cũng nằm trong hệ lụy này. (Hết trích )

Còn theo Hiệp Sĩ Mù, bởi ở Hoa Kỳ ai cũng đã chào thua “lão bà bà”, vừa già vừa hết thời, nay chỉ có thằng bầu show ca cẩm dao búa gì đó trong nước hám cái danh… thiu ấy, chịu đấm ăn xôi chịu bỏ tiền mời “lão bà bà” về hát… hỏng, cho mọi người thấy ta là đại gia trong làng showbiz, dám bỏ tiền tổ chức show, nhưng rồi đây cũng chẳng có ai khen ! Ô hô !!!

CHUYỆN VỀ LÃO BÀ BÀ KHÁNH LY

Có lẽ “lão bà bà” U70 Khánh Ly đã đọc được bài “Ôi, thấm thía, tuổi già ở Mỹ” (xin xem dưới bài chém gió này) , nên “buồn tình đời” đang muốn “rửa chân” chạy theo một số đồng nghiệp, đã và đang về lại Sài Gòn sinh sống trong chuỗi ngày còn lại. Có lẽ Khánh Ly cũng đã thấy hình ảnh của Thái Thanh đang an dưỡng trong Viện dưỡng lão vì căn bệnh “mất trí nhớ” ! Thật khổ, dù Ý Lan còn đó, gia cảnh bà với 5 đứa con chẳng nghèo gì, nhưng vì sinh kế mà chúng nó phải đưa mẹ vào đây. Khánh Ly cũng sợ sẽ có một ngày như thế. Ở Mỹ theo nhiều người nói, đa số bị Mỹ hóa nên không có tình người, họ sống thực dụng nhiều hơn.

Nhưng cách Khánh Ly muốn trở về Sài Gòn như các đồng nghiệp không thật nhún nhường khiêm tốn, trái lại huyênh hoang tính tự cao tự đại, “lão bà bà” muốn “ngày trở về” của mình như một Nguyễn Cao Kỳ hay một Phạm Duy trước đây được người Hà Nội trọng vọng, dù họ là kẻ đã bỏ bom Bắc Việt và là người “diệt Công” trong chiến dịch Bình Định Nông Thôn” vẫn được mọi người vỗ tay cho “ngày trở về” đó. Nên bà bà đã diễn 2 xuất ở thủ đô trung tâm chính trị này cốt để mọi người… nhìn ngó thấy một bà già “phản tỉnh” mà “hồ hởi phấn khởi” vỗ tay đón chào như đã đón chào ông Kỳ ông Duy.

Có lẽ Khánh Ly nghĩ mình cũng có một vai trò “lớn lao” trong sự nghiệp chống Cộng khi qua Mỹ sau ngày 28/4/1975, và nay muốn “tung cánh chim tìm về tổ ấm”, sẽ được mọi người tôn sùng là một ca kỹ hạng VIP ? Tối thiểu cũng phải sánh ngang anh chàng nhạc sĩ họ Trịnh, sau này cũng sẽ có tên đường !!!? Nhưng “lão bà bà” đã thất bại thãm não ở cả 3 xuất diễn vừa qua (2 Hà Nội, 1 Đà Nẵng), và hiểu rằng lão bà bà chỉ là thứ “rác” trong con mắt của mọi người Việt Nam hiện nay mà thôi.

Hiệp Sĩ Mù (chém gió)

KHU DƯỠNG LÃO TUỔI GIÀ Ở MỸ

Người Việt có một câu nói : Mỹ là thiên đường giới trẻ, địa ngục giới già. Nay tôi đã vào cái tuổi giữa 70, câu nói này thật là thấm thía. Mỹ có tất cả những sản phẩm dành cho thanh thiếu nhi : đồ chơi, phim ảnh, máy chơi điện tử thính thị, khu giải trí có chủ đề (theme parks).

Còn đối với người già, thì chỉ có sự cô lập và nỗi cô đơn. Căn bản nếp sống của người Việt dựa vào gia đình, cộng đồng, và khi ta mất những cái đó, ta mất đi một phần lớn cái tôi.

Khi còn sống ở Việt Nam, tôi không bao giờ nghĩ đến việc sinh sống tại một nơi nào khác ngoài quê hương. Ta sống và chết nơi tiền nhân đã sống và đã chết. Ta có thân nhân, giòng họ; ta có gia đình, có những miếu đền.

Một khi ta đã quen miền đất với mồ mả tổ tiên, ta sẽ không còn sợ tử thần và cái chết. Nhưng tại Mỹ, lối sống cũ của chúng ta không còn nữa. Chúng ta bị buộc phải ra đi khi cuộc chiến kết thúc vào năm 1975, và chúng ta đã sống xa xứ từ lúc đó. Ngày nay, bạn bè và thân nhân của chúng ta tản mạn khắp nơi trên thế giới.

Tại Mỹ, càng già càng mất mát nhiều – bạn bè, thân nhân, trí nhớ, khả năng di chuyển, và ý nghĩ của chính mình. Chuông điện thoại kêu. Tôi nhấc ống máy. Đây là bà tên-này-tên-nọ ở Los Angeles. Bà mắc bệnh tiểu đường và mới bị cưa chân. Rồi chuông điện thoại lại reo nũa : Ông tên-ni-tên-nớ ở Georgia bị ung thư phổi, chỉ còn sống khoảng vài tháng.

Ở Việt nam, chúng tôi đều là bạn thân. Nhưng với cái tuổi đời chồng chất như tôi, tôi làm sao đến thăm họ được khi họ hàng ngàn cây số cách xa? Làm sao ta tưởng tượng được đến việc gọi điện thoại cho người bạn thân khi họ nằm chờ chết trong bệnh viện, để nói lời xin lỗi là không thể tận mình đến viếng thăm được lần cuối. Ấy vậy, tôi làm điều này mỗi tháng, buồn lắm.

Tôi và chồng tôi, chúng tôi dự định đi một chuyến du lịch Âu châu vào kỳ hè tới đây. Chuyến đi này là chuyến đi cuối cùng, để nói lời giã biệt thân nhân bè bạn. Chúng tôi biết là sau chuyến đi này, chúng tôi sẽ không đi đây đi đó được nữa vì sức khỏe đã kém, sẽ không thấy mặt họ nữa. Tôi gần như không bước xuống được cầu thang nhà vì đầu gối chân rất đau. Nhà thì đã bán, giờ thì chúng tôi ở trong một chung cư có thang máy vì đó là điều kiện duy nhất mà chúng tôi có thể sống độc lập không nhờ vả đến ai bây giờ.

Điều mà tôi quan tâm nhất là trí nhớ suy sụp rất nhiều. Tôi là người giữ gia phả của giòng họ, nhưng tất cả đều nằm ở trong đầu. Biết ai liên quan với ai như thế nào trong họ là nghề đặc biệt của tôi, người con gái trưởng trong nhà.. Nhưng không một đứa con nào của tôi biết được những mối dây liên hệ gia đình trong gia tộc, ngay cả đến những người em của chính tôi. Không có tôi, họ hàng thân thích sẽ trở thành kẻ xa lạ nếu tình cờ gặp nhau trên đường phố. Tôi có thể nhớ đến được những bà con cô dì chú bác ba đời của gia đình bên tôi và của cả bên chồng. Tôi phải viết xuống trước khi trí nhớ tôi lụt hết.

Thỉnh thoảng vào buổi sáng khi thức dậy, tôi lặng nhìn cây cối ngoài phố và tự hỏi tôi đang ở nơi nào. Đôi lúc, tôi đi sang khu chung cư kế cận, nơi có một số mèo hoang, và cho chúng ăn những thức ăn thừa. Khi tôi cất tiếng gọi, chúng nhận ra giọng nói của tôi và bổ xua lại. Bây giờ, chúng là những niềm vui nhỏ của tôi.

Đương nhiên những ngày hạnh phúc nhất là những ngày con cháu đến thăm. Nhưng chúng cũng có đời sống riêng, thỉnh thoảng chỉ đến chơi được một lúc rồi về, tôi làm gì cho hết những khoảng thì giờ trống trải sau đó?

Mẹ tôi, bà mất năm bà 97 tuổi, và mẹ chồng tôi, qua đời lúc 95 tuổi; cả hai người có sống chung trong một khu dưỡng lão nhiều năm. Tôi thường đi xe buýt đến thăm hai bà mỗi ngày, ngay cả khi còn đi làm. Từ lúc đó tôi đã biết cái thảm não của người già trên đất Mỹ, ngay khi tôi còn trẻ trung mạnh khỏe. Các nhân viên điều dưỡng ở đó thường nói với tôi là hai bà có phước lắm, thường có được con cháu đến thăm.

Tôi trả lời: “Đó là lối sống của người Việt Nam”. Còn những người già khác, con cháu họ ít đến. Tôi có nhớ một số bà lão, ngồi trên những chiếc xe đẩy, ngóng trông con cháu hay người thân, ngày này qua ngày khác, nhưng chẳng thấy ai. Có cả một bà cụ, cụ còn sống lâu hơn những người con trai; mỗi ngày bà vẫn ngồi chờ trông mong hình ảnh người con trai bước qua khung cửa. Thật tội nghiệp khi người ta sống dai như vậy trong sự cô đơn!

Ở xứ Mỹ này, tuổi già đúng là tuổi lỡ thời; cả hai đều không được người ta kính nể hay cho một chút gì quan trọng. Ở quê nhà, các ông già bà lão thì được nể vì nhất, vì họ là những người chia xẻ túi khôn cùng kinh nghiệm cho những người đi sau. Điều đó không có ở đây. Không ai muốn nghe tiếng nói của người già. Họ cảm thấy bị cô lập ngoài vòng ranh giới của con cháu Mỹ hóa của họ. Chúng cười vang về nhiều thứ mà tôi không hoàn toàn hiểu được. Mỹ đúng là một quốc gia của giới trẻ hơn là giới già như tôi.

Vào những buổi chiều mùa đông, tôi ngồi nhìn những hàng cây trơ trụi lá, tâm hồn lạc lõng. Tôi nghĩ về cái thế giới mà tôi đã biết, nay đã bay xa, như làn khói hương trầm. Tôi nghĩ đến cố hương, đến những mùa lễ Tết ở Saigon, đến những đám cưới, đám hỏi, đến những chuyến du lịch, những lần tíu tít họp mặt gia đình, ai ai cũng có mặt, con nít chạy quanh, người lớn ngồi nói chuyện đời chuyện gẫu, đàn bà con gái quây quần chung lo việc bếp nước. Và tôi cảm thấy rất khao khát những ngày quá khứ xa xưa. (theo Nguyễn Đức Nguyên chuyển ngữ)

TÂM TRẠNG NGƯỜI GIÀ VIỆT NAM Ở MỸ

Cụ Bùi Gia Tưởng, 81 tuổi, hiện cư trú tại Houston, Texas, viết trong bài này: Bộ sách “Viết về nước Mỹ” của hàng ngàn tác giả góp phần gồm có 12 quyển, mỗi năm ra một quyển, chẳng biết tuổi già tôi còn sống được để đọc quyển thứ 12 hay không vì ngày đó còn quá xa ! Lời cụ Bùi là sự thúc dục, mong cho số người viết nhiều hơn, bộ sách chung xong sớm hơn, mỗi năm hai ba bốn cuốn… Sau đây là bài viết của cụ Bùi.

oOo

Tuổi già ở xứ Cờ Hoa này thật cô đơn và buồn tẻ. Nhiều gia đình bà bất hạnh đi trước chỉ còn lại có một mình ông, ngày nào cũng đi đi lại lại quanh quẩn trong nhà làm bạn với sách báo việt ngữ và cái radio phát thanh tiếng Việt từ mờ sáng đến sẩm tối. Gần đây có thêm đài Tiếng Nước Tôi phát thanh 24/24. Những đêm thao thức mất ngủ có được một bạn đường bên cạnh thật đỡ buồn.

Buồn nào bằng cảnh quá cô đơn

Con phải đi làm để sống còn

Nếu mãi gần nhau thì “lãnh đủ”

Ân đành chịu vậy biết sao hơn !

Cuộc sống mới ở đây vật chất và tiện nghi quá đầy đủ, nhưng cảnh già thật buồn tẻ bạn tri âm không có, làng giềng cũng không, tiếng Mỹ chỉ biết được có 2 tiếng “ô-kê và Bai” của đóng then cài, ít khi có dịp ra ngoài, làm sao không buồn cho được!
Ở cái tuổi “Cổ lai hy” này đâu có sợ chết, vì sống đây là kiếp “dư sinh” có giúp ích được gì cho xã hội.

Ngày ngày tôi luôn cầu nguyện ơn trời phù hộ cho tôi được “ra đi” trong tích tắc để đỡ khổ bản thân và khổ cho bầy con thân yêu. Mỗi ngày tôi thường canh giờ ra trước mặt nhà mở thùng thơ. Hôm nào nhận được thơ của bà con thân nhân ở Việt Nam là tôi mừng hết lớn.

Ôi không gì đẹp bằng quê hương nơi chôn nhau cắt rốn và rất có nhiều kỷ niệm.
Thỉnh thoảng có điện thoại reo một vài ông bạn già gọi đến than thở nỗi buồn, thậm chí có vài ông muốn trở về. Tôi luôn luôn trấn an các bạn là “Như thế và không thể khác được, gặp thời thế thế thời phải thế”.

Một thời gian rồi các bạn cũng quen dần với nếp sống mới, những cú điện thoại sau có nhiều bạn đã cười giòn tan, không còn than than thở thở như trước nữa.
Sanh, lão, bệnh, tử là bốn thời kỳ của một đời người. Riêng tôi tới thời kỳ thứ ba rồi, đã gần đến lúc “Mắt mờ chẳng thấy” “trông trông” mãi “Tai điếc không nghe” “thử thử” hoài.

Cái ngày đó nhất định sẽ đến và phải đến không ai tránh khỏi. Lúc ấy điện thoại nghe không còn nghe được, mắt thì mờ không thấy rõ để bấm số gọi các con đang làm việc ở sở làm. Đôi khi chợt nghĩ đến mà rùng mình, lo lắng đau lòng, buồn tủi đến nỗi không cầm được nước mắt.

Ôi đời đúng là một bể khổ, tuổi càng cao càng thấy thật thấm thía. Đôi khi liên tưởng đến vua Quang Trung một thiên tài quân sự đã oanh liệt thắng trận Đống Đa, chỉ có 5 ngày mà đuổi được 150,000 quân Thanh xâm lược. Nếu Ngài không mất sớm chắc thừa thắng Ngài đã đòi lại được hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây vốn là lãnh thổ của ta. Lúc ấy, nước nhà được độc lập phú cường dưới sự lãnh đạo tài ba của Ngài, thì làm gì ngày nay con cháu của Ngài hàng triệu người phải sống lưu vong, giặc Pháp cũng không có cơ hội đô hộ dân ta suốt 80 năm ròng rã và dân ta đâu có nghèo khổ lầm than như bây giờ.

Hôm nay tôi viết bài dự thi “Viết về nước Mỹ”. Mặc dù biết “lão lai tài tận” nhưng tôi cũng cố gắng viết “trối già” để tả cái tâm trạng đau khổ của một người sống cô đơn nơi quê hương thứ hai này, một nước Mỹ giàu mạnh, văn minh và dân chư bậc nhất thế giới đã có lòng nhân cưu mang và giúp đỡ tận tình cho những dân tỵ nạn đau khổ trong đó có tôi bằng những tuổi già hàng tháng có tiền già, rủi đau ốm có medical, khám bệnh mua thuốc không tốn tiền. Nói chung là người già được chính phủ nuôi cho đến chết.

Tôi rất cám ơn lòng bác ái vô biên của nước Hoa Kỳ, vì tự thấy bản thân mình trước đến giờ đã đóng góp được gì cho xã hội Mỹ, để được hưởng cái ân huệ to tát đó. Bộ sách “Viết về nước Mỹ” của hàng ngàn tác giả góp phần gồm có 12 quyển, mỗi năm ra một quyển, chẳng biết tuổi già tôi còn sống được để đọc quyển thứ 12 hay không vì ngày đó còn quá xa!

Lời quê chắp nhặt được ít trang giấy thân gởi các bạn già cùng cảnh ngộ gọi là một chút tình nhỏ mọn này. (theo Bùi Gia Tưởng)

Lan caysu chuyển tiếp

NGƯỜI NHẠC SĨ VỚI 34 NGƯỜI TÌNH…

NHẠC SĨ Y VŨ TỪNG ĐƯA

34 NGƯỜI TÌNH…. ĐI LẤY CHỒNG  

Sáng tác các bài “Tôi đưa em sang sông” – “Ngày cưới em”…

Nhạc sỹ của nhiều ca khúc nổi tiếng chia sẻ về các cuộc tình của ông. Ở độ tuổi 75, ông đã từng trải qua hàng chục mối tình. Ông là một nhạc sĩ đa tình và hiện người vợ của ông là người tình thứ 35 trong cuộc đời. Đối với những người yêu nhạc, nhạc sĩ Y Vũ không còn là một người quá xa lạ.  Y Vũ tên thật là Trần Gia Hội, sinh năm 1942 tại Hà Nội và là em trai ruột của nhạc sĩ Y Vân.

Ông cho ra đời rất nhiều ca khúc khiến biết bao con tim phải thổn thức vì những câu chuyện đời tư mà chính Y Vũ lồng ghép vào trong ấy : “Kim”, “Điên”, “Hận”, “Ngày không em”, “Ngày cưới em”…

Và đặc biệt nhất có lẽ chính là ca khúc “Tôi đưa em sang sông”, ca khúc vẫn sống mãi cùng với thời gian với những ca từ da diết : “Tôi đưa em sang sông, chiều xưa mưa rơi âm thầm / Để thấm ướt chiếc áo xanh, và đẫm ướt mái tóc em / Nếu xưa trời không mưa, đường vắng đâu cần tôi đưa / Chẳng lẻ chung một lối về mà nở quay mặt bước đi…”

Tại buổi quay hình “Ca sĩ bí ẩn” mới đây, nhạc sĩ Y Vũ tiết lộ người con gái trong ca khúc “Tôi đưa em sang sông” chính là người mà ông luôn nhức nhối và khó quên nhất. Dù Y Vũ đã trao trọn tình cảm, sự yêu thương cho người yêu nhưng cô gái vẫn quyết sang ngang với người đàn ông khác tốt hơn và có cuộc sống đầy đủ hơn. “Cô người yêu đi lấy một ông bác sĩ rất giàu”, ông nhớ lại. Vì quá đau lòng, ông đã viết ca khúc “Tôi đưa em sang sông”.

Nhạc sĩ Y Vũ chia sẻ thêm, sau đó 6 tháng, ông lại nhận được thiệp hồng mời đến dự đám cưới của người yêu cũ. Ông ngồi trong sảnh cưới chỉ có một mình với tâm trạng buồn, lẻ loi. Sau khi về, vì quá tủi thân, nhạc sĩ đã cho ra đời ca khúc “Ngày cưới em” để nói lên tâm trạng cô đơn lúc bấy giờ của mình.

“Khi người yêu đi lấy chồng, tôi được mời đến dự đám cưới. Ngồi với người khác mà cảm thấy như chỉ có một mình. Sau đó về, tôi tủi thân viết tiếp bài “Ngày cưới em” nói về tâm trạng cô đơn trong ngày cưới”, ông nói.

Nhạc sĩ Y Vũ thừa nhận, người nghệ sĩ thường đa tình và khó quên. “Người nghệ sĩ, nhạc sĩ rất đa tình, có thể mỗi bài viết cho một người yêu. Bài “Kim” là tôi viết cho một cô vũ nữ tên Kim, bài “Điên” là tâm trạng thất tình, giống như mộng du, đêm về đi lang thang phải có cậu em dẫn về nhà…”, ông nói.

Nhắc đến bài “Kim”, những người mê nhạc của ông còn nhớ vào năm 1969, Y Vũ làm việc ở Vũng Tàu, tối tối ông thường đi chơi ở vũ trường Blue Star, quen rồi yêu một vũ nữ tên là Kim. Cô gái có hoàn cảnh nghèo này bị bệnh tim. Ðể khích lệ tinh thần Kim, Y Vũ viết bài “Kim”.

Bài hát lập tức nổi tiếng và được ca sĩ Túy Phượng – nữ hoàng nhạc twist lúc đó hát trên cả đài phát thanh lẫn truyền hình. Khoảng một năm sau thì cô gái mất, Y Vũ đau buồn viết tiếp bài “Những tâm hồn hoang lạnh” riêng tặng cho kiếp vũ nữ…

Hiện giờ, ở cái tuổi thất thập, vị nhạc sĩ nhìn lại chặng đường đời ông đã từng đưa 34 người tình “sang sông”, cho đến tận người thứ 35 là người vợ lúc này của Y Vũ mới chính là chuyến đò cuối cùng và ở lại mãi với nhạc sĩ cho đến cuối đời.

35 lần yêu thì 34 lần dở dang, tuy nhiên theo thời gian, những kỷ niệm dù đau thương, không còn nguyên vẹn vẫn được lưu giữ trong gia tài là những ca khúc được ông nâng niu và được khán giả yêu thích cho đến tận bây giờ…

Tôi Đưa Em Sang Sông

https://youtu.be/vGfHJpWeql8

Tôi đưa em sang sông, chiều xưa mưa rơi âm thầm

Để thấm ướt chiếc áo xanh, và đẫm ướt mái tóc em

Nếu xưa trời không mưa, đường vắng đâu cần tôi đưa

Chẳng lẻ chung một lối về mà nỡ quay mặt bước đi

Tôi đưa em sang sông, bàn tay nâng niu ân cần

Sợ bến đất lấm gót chân, sợ bến gió buốt trái tim

Nếu tôi đừng đưa em, thì chắc đôi mình không quen

Đừng bước chung một lối mòn, có đâu chiều nay tôi buồn

Rồi thời gian lặng lẽ trôi,

Đời tôi là cánh chim đi khắp phương trời

Mà đời em là ước mơ,

Đẹp muôn ngàn ý thơ, như ngóng trông chờ

Hôm nao em sang ngang, bằng xe hoa thay con thuyền?

Giờ phút cuối đến tiễn em, nhìn xác pháo vướng gót chân

Gót chân ngày xa xưa sợ lấm trong bùn khi mưa..

Nàng đã thay một lối về, quên cả người trong gió mưa….

Yên Huỳnh chuyển tiếp

– Những Tình Khúc buồn của NS Y Vũ trước 75 (1:05’)

https://youtu.be/f239we0zEd8

1/- TÔI ĐƯA EM SANG SÔNG – Vũ Khanh 6:07 2/- HẬN – Thanh Lan
11: 25 3/- TÌNH MÌNH NGANG TRÁI – Khánh Ly 16:20 4/- CHUYỆN TÌNH ĐẦU – Mỹ Huyền 21:05. 5/- DẤU CHÂN QUA – Khánh Ly 24:14 6/- NGƯỜI XA TÔI – Giao Linh 28:20 7/- ĐIÊN – Nguyễn Hưng 33:20 8/- NGÀY MAI KHÔNG CÓ ANH – Giao Linh 38:40 9/- NHỮNG TÂM HỒN HOANG LẠNH – Thanh Thúy 44:08 10/- TIẾNG HÁT VỀ ĐÊM – Trúc Mai 49:20 11/- CHIỀU RU MẶT TRỜI – Lệ Thu 52:25 12/- NGÀY CƯỚI EM – Đan Nguyên 57:00 13/- TÔI TIỄN NGƯỜI TÔI YÊU – Anh Khoa 1:01:57

Quế Phượng chuyển tiếp

THƠ PHỔ NHẠC : “THÔI”

Nguyễn Long & Y Vân

Chào các bạn,

Hôm nay mình giới thiệu đến các bạn thi khúc “Thôi” của Thi sĩ/Tài tử điện ảnh Nguyễn Long và Nhạc sĩ Y Vân. Nhạc sĩ Y Vân là một nhạc sĩ tiêu biểu của nền Tân Nhạc Việt Nam từ cuối thập niên 1950 đến 1990. Nhiều sáng tác của ông đã trở thành bất hủ và vẫn được trình diễn bởi những ca sĩ hiện thời.

Nhạc sĩ Y Vân tên thật là Trần Tấn Hậu, sinh năm 1933 tại Hà Nội (quê gốc ở Thanh Hóa). Thuở niên thiếu, ông từng theo học nhạc với GS NS Tạ Phước và cũng đã sáng tác từ rất sớm. Mồ côi cha, nhà nghèo, gia đình ông phải dắt díu nhau nương náu trong một túp lều ở ngõ chợ Khâm Thiên. Chính vì thế, ông rất thương mẹ và các em, ông phải đi dạy đàn để lo cho gia đình.

Năm 1952 ông vào Nam, tiếp tục sáng tác, chơi nhạc, hòa âm và dạy nhạc, ngoài ra ông còn viết sách dạy nhạc và đàn guitar. Ông là người đi tiên phong cho dòng Nhạc Trẻ với những bài hát có giai điệu Chachacha, Disco, Twist như: “Sài Gòn”, “Ảo Ảnh”, “60 Năm Cuộc Đời”, “Thôi”.

Thời gian sau năm 1975, ông tham gia Đoàn Ca Nhạc Hương Miền Nam, rồi nhận viết nhạc cho nhiều nguồn: viết nhạc phim, nhạc nền cho sân khấu… Nhạc sĩ Y Vân có 2 đời vợ và 8 người con. Ông mất vào ngày 28 tháng 11 năm 1992 (tức ngày 05 tháng 11 năm Nhâm Thân – âm lịch). Hưởng thọ 60 tuổi (đúng như dự đoán của ông trong bài “60 Năm Cuộc Đời”)

Y Vân có nghĩa là “Yêu Vân”, tên của tiểu thư Tường Vân – người yêu đầu tiên của ông. Ông chọn tên này từ khi chuyện tình giữa ông và tiểu thư Tường Vân tan vỡ. Một số ca khúc của ông đã được viết với tâm sự mất mát này như: “Đò Nghèo”, “Ảo Ảnh”, “Nhạt Nắng”…

Sự nghiệp sáng tác của ông có khoảng trên dưới 200 tác phẩm. Tác phẩm “Lòng Mẹ” của ông rất nổi tiếng và được xem như một trong những ca khúc kinh điển tiêu biểu, sâu sắc và thiêng liêng nhất về tình mẹ. Tác phẩm “Lòng Mẹ” được ông sáng tác vào năm 1952. Từ đó đến nay, bài hát đã được nhiều ca sĩ thể hiện, vì thế nó là một bài hát rất quen thuộc với người Việt Nam từ ngày nó ra đời cho đến ngày nay.

Ngoài “Lòng Mẹ”, các ca khúc còn lại của ông trong phạm vi bài này cũng nổi tiếng không kém và thường được các ca sĩ nhiều thế hệ tiếp tục trình diễn cho đến giờ.

Đồng thời ông còn cùng Lan Đài đồng sáng tác hai quyển sách Tự Học Tây Ban Cầm cũng rất phổ biến:

– Tự học Tây Ban Cầm (nhạc thời trang – nhạc Jazz)

– Tự học Tây Ban Cầm (phương pháp Flamenco)

Thi khúc “Thôi” (Thi sĩ/TTĐA Nguyễn Long và Nhạc sĩ Y Vân)

Thôi em đừng khóc nữa làm gì

Kỷ niệm sầu ân tình cũ xa xưa

Thôi em đừng khóc,

Em đừng khóc, đừng khóc nữa giọt lệ sầu

Làm sao xóa hết tâm tư

Thôi em đừng tới nữa làm gì

Đừng để lòng se lại khúc yêu đương

Thôi em đừng tiếc

Em đừng tiếc, đừng tiếc nữa

Đừng để lòng anh trở lại kiếp u buồn

Ôi, cuộc đời đầy phong ba giữa lòng người

Lệ sầu chia ly buồn tê táI

Ly rượu này đầy thương đau tấm hình hài

Thu man mác buồn mùa thu ơi

Thôi em đừng nhắc nữa làm gì

Từng nẻo đường in hình bóng chung đô

Thôi em đừng nhớ

Em đừng nhớ nữa chuyện của mình

Kiếp nay đành lỡ duyên rồi

Thôi đôi bờ vai đừng rung động

Đã hết rồi còn khóc nữa chi em …

Đã hết rồi còn khóc nữa chi em…

https://www.youtube.com/watch?v=QiUcuGlLApQ
https://www.youtube.com/watch?v=cE8TG_yTF-o
https://www.youtube.com/watch?v=WuNl0yXszv8
https://www.youtube.com/watch?v=hgTNgITGWGA
https://www.youtube.com/watch?v=St9IVl0qHAk
https://www.youtube.com/watch?v=4uPxqT12P6o

Thi sĩ / Đạo diễn điện ảnh Nguyễn Long.

Vĩnh biệt anh Long… “Đất” của tụi em

Lại một người bạn thân nữa của tôi vừa mới ra đi, đó là anh Nguyễn Long, một nam tài tử điện ảnh và kịch nghệ lão thành của sàn quay và sân khấu Việt Nam . Không thể ngờ được là chỉ trong năm 2009 mà cả ba người tuổi tác rất chênh lệnh nhưng lại cùng rủ nhau đi một lượt. Sau Trường Kỳ, Tùng Giang giờ đến Nguyễn Long, dù trong một quẻ tự bói, anh Long cho biết sẽ mãn phần vào năm 2010. Như vậy anh chỉ đoán sai có đúng 2 tháng mà thôi.

Nguyễn Long lớn hơn tôi 10 tuổi, nhưng lúc nào cũng xem tôi như bạn và vẫn thường đòi làm “con nuôi” của Bố Mẹ tôi. Anh được tất cả các anh chị em trong gia đình tôi yêu quý và đôi khi cũng có những cuộc “đụng độ” nhau như “anh em trong nhà” khiến Bố tôi phải la rầy cả bọn. Lúc đó thấy anh Long thật dễ thương, khi vừa cúi đầu vừa nói “con xin lỗi Bố”!

Anh ra đi hôm nay để lại niềm thương tiếc cho gia đình, cho chị Nga và các cháu cũng như anh chị em chúng tôi. Nhưng tôi tin rằng Bố Mẹ tôi sẽ rất vui khi gặp lại anh nơi chín suối, nhất là Trường Kỳ, Tùng Giang và dĩ nhiên sư phụ của anh là “quái kiệt” Trần Văn Trạch cùng nhiều nghệ sĩ khác.

Vĩnh biệt anh Long… “Đất” của tụi em. (Nam Lộc – Mùa Thu California, 2009)

Sau đây là đôi dòng tiểu sử của tài tử Nguyễn Long

Nguyễn Long tên thật là Nguyễn Ngọc Long, sinh ngày 2 tháng 3 năm 1934 tại thành phố Hải Phòng. Năm 1945 học sinh của trường Hoàng Diệu. Năm 1946 gia nhập Ban Văn Nghệ Thiếu Niên Hà Nội. 1947 Ban Thiếu Niên Tuyên Truyền Chiến Khu 3.

Vào Sài Gòn năm 1949 và chính thức bước lên sân khấu kịch nghệ và điện ảnh miền Nam Việt Nam năm 1955 và xuất hiện trong một số phim do VN, Hoa Kỳ và Phi Luật Tân hỗn hợp thực hiện. Khởi sự viết kịch và chuyện phim từ năm 1957 và đã đóng vai chính trong gần 70 vở kịch ngắn, dài trên sân khấu và truyền hình VN.

Năm 1961 tự sản xuất, đạo diễn và đóng vai chính trong các bộ phim nổi tiếng như Mưa Lạnh Hoàng Hôn, Nước Mắt Đêm Xuân, Thuý Đã Đi Rồi, Anh Yêu Em, Hè 72 và OK, OK…! Tổng cộng 14 cuốn phim.

Vượt biên sang định cư tại Mỹ năm 1981, tiếp tục sản xuất, đạo diễn các tác phẩm điện ảnh khác như Mây Xám Chiều Hoang, Như Là Khởi Đầu, Biển Khổ v..v… Đến năm 1984 xoay ra làm báo và phát hành tuần báo Kịch Ảnh. Năm 1992 khởi sự viết sách, bắt đầu bằng tập tài liệu nghiên cứu có tên là “Chủ Nghĩa Tư Hữu”, rồi đến bộ sách “Việt Nam 94” ghi lại ký ức 60 năm lịch sử VN từ 1934 đến 1994. “Việt Nam 95” ghi lại cuộc hành trình của tác giả từ Lạng Sơn đến Cà Mâu. “Việt Nam 1996”, vòng quanh nước Mỹ và sau cùng là “Việt Nam 66 Năm Nhạc, Kịch và Điện Ảnh: 1937 – 2002”, ghi chép lại tiểu sử của hàng trăm nghệ sĩ, đạo diễn, tài tử VN. Đặc biệt trong phần ghi chú tác giả viết rất rõ như sau:

“Những cuốn sách do Nguyễn Long viết (11 cuốn) đều là Bản Quyền Việt Nam . Bất luận người Việt Nam nào cũng có quyền tự do sử dụng một cách miễn phí (free). Được phép trích từng đoạn hay cả bộ sách, kể cả việc in lại mà không cần phải hỏi sự đồng ý của tác giả”. (Nguyễn Long, 2001).

Theo cô Ngọc Hân, con gái út và cũng là người gần gũi nhất với “Bố Nguyễn Long” cho biết thì kể từ muà Hè 2003, nam tài tử Nguyễn Long đã về sống “ẩn dật” gần Vợ Con, đồng thời cũng để dưỡng bệnh tại thành phố Seattle, tiểu bang Washington. Ông không còn liên lạc với bất cứ ai, ngoại trừ Nam Khang, một người em kết nghĩa và nhạc sĩ Trúc Hồ, người vẫn thỉnh thoảng viết thư thăm hỏi cũng như gởi tác quyền các bài thơ được phổ nhạc của ông mà trung tâm Asia thường sử dụng. (theo Nam Lộc)

– Các bài hát chọn lọc hay nhất của NS Y Vân thu âm trước 1975 (3:57’)

https://youtu.be/GXIqPr0AyaQ

Lan Hương chuyển tiếp

Tiếu Lâm Chi Bảo

Bốn người khách vốn thuộc hạng văn thi sĩ… vào một quán nhậu. Trong khi chọn món ăn,cô hầu bàn đến cười duyên:

– “Em rót bia cho mấy anh nhé ?”

Anh A liền tán :

– “Xin lỗi, em mỹ danh là gì, ở đâu ?”

Cô cười dịu dàng:

– “Hỏi quê… rằng biển xanh dâu,

Hỏi tên… rằng mộng ban đầu đã xa”.

Anh B vỗ đùi :

– “Úi chà ! Giỏi thơ thiệt ! Tuyệt vời. Rót bia đi”.

– “Dạ . Cảm ơn quí anh”.

Anh C đon đả :

– “Lấy thêm ly. mời Em cùng ngồi uống cho vui”. – “Dạ”.

Thế là bàn có một bông hồng giữa đám sỏi đá. Anh D mời tất cả cụng ly :

– “Coi bộ em giỏi thơ văn nhỉ !”.

Cô cười rất duyên :

– “Em cũng học mót chút ít để góp chuyện cho vui mà. Quí anh không thấy phiền chứ ? Chắc quí anh giỏi văn thơ lắm thì phải ?”

Anh A xoa bụng, ưỡn ngực :

– “Cũng đủ xài. Ai hỏi gì nói nấy. Nhất là lãnh vực văn học. Không bao giờ bị kẹt”.

– “Thế là quá giỏi rồi. Vậy, em đố các anh về lĩnh vực văn học nhé ?”

Cả bàn nhốn nháo hẳn lên, vui như cá gặp nước. Họ là nhà giáo, nhà thơ nhà văn cả… hớn hở cụng ly chờ đợi cuộc  vui. Cô gái cười, cất giọng oanh vàng :

– “Nếu có một ông khỏa thân” (trần truồng) cõng một  ông cũng khỏa thân… Câu tục ngữ nào tả được cảnh này ?”.

Bốn vị khách không tìm ra câu tục ngữ nói về trường hợp hy hữu này… Anh C thẳng thắn :

– “Chúng tôi thua. Cô giảng đi.

Cô bình tĩnh giải thích :

– Này, một ông khỏa thân, cõng trên lưng một ông cũng khỏa thân… Lúc ấy sẽ có tình trạng mà tục ngữ nói “Gậy ông đập lưng ông”.

– “Úi trời ! Ðúng quá”

Cả bàn cười rộ. Vừa rót thêm bia, cô vừa đố tiếp :

– “Cũng cá iông khỏa thân ấy, ông ta nhảy tõm xuống ao, tục ngữ nói sao nào ?”

Bốn vị khách lại bí … Họ lại yêu cầu cô giải đáp. Cô cười tủm tỉm :

– “Ông khỏa thân mà nhảy xuống ao sẽ gây nên cảnh : “Chim sa cá lặn”.

Cả bàn cười vang như pháo tế t.

– “Úi trời ! Ðúng quá đi. Cá trông thấy chim hãi  quá phải lặn là cái chắc !”

Thừa thắng xông lên, cô ta đố tiếp :

– “Thưa quí anh, cũng cái ông khỏa thân ấy, ông ta ngồi lên hòn đá, tục ngữ bảo sao ?”

Bốn khuôn mặt thông minh kia lại đờ đẫn. Cô gái thong thả giải thích :

– “Ông khỏa thân ngồi lên hòn đá, lúc ấy tục ngữ phán rằng: “Trứng chọi đá !”

Cả bàn cười vang. Ông D  hăm hở :

– “Ðúng quá đi chớ. Trứng này không bể được ! Còn nữ akhông?

Cô gái tiếp :

– Cũng cái ông khỏa thân đó nữa, nay lại ngồi bệt xuống đất không chịu đứng dậy thì theo «tục ngữ» các ông nói sao ?

Bốn khuôn mặt sáng láng trông thật thảm thương, bí rị. Cô gái tiếp :

– Cái ông khỏa thân ngồi bệt xuống đất diễn ra cảnh mà «tục ngữ» gọi là «Ðất lành chim đậu». Ðúng chưa ?

Cả bọn cười vang… (Sưu tầm)

Yên Nhàn chuyển tiếp

MỘT THOÁNG SAIGON

MỘT THOÁNG SAIGON

https://youtu.be/8ZHRDd-UVBc

Tôi như nhiều người không sinh ra tại Sài Gòn nhưng suốt học trình từ tiểu học lên đại học được sống với thủ đô của miền Nam, mà qua tên gọi mỹ miều là “Hòn Ngọc viễn Đông”. Tôi suy tư về nguồn gốc các danh từ Sài Gòn và Hòn Ngọc viễn Đông.

Theo sự truy nguyên, Sài Gòn thuở ban đầu là đất của người Khờ-me, là một làng đánh cá, có tên đầu tiên là Prey Nokor mà Prey là thánh thần (dieu, god) và Nokor là thành phồ hay đô thị (la ville; town, city), mang ý nghĩa là “thành phố thánh thần”.

Năm 1862, Việt Nam là thuộc địa của Pháp, người Pháp đặt tên chính thức là Saigon. Lấy theo cách giải thích vì sao người Pháp gọi là “Saigon” do theo âm ngữ của người Tàu (Thầy Ngòn, Xi Coón) hay Miên ngữ “Prey Nokor”. Từ đó Saigon được Việt hóa là Sài Gòn.

Vì là thuộc địa của Pháp, thành phố được Pháp xây dựng rất tối tân, mới lạ, được xem là bậc nhất của vùng Đông Nam Á vào thời bấy giờ. Nên Pháp xem đó là Hòn Ngọc Viễn Đông (la Perle de l’Extrême-Orient, the Pearl of the Far East) hay theo sự ví von của người Pháp là Paris Phương Đông (Paris de l’Orient, Paris in the Orient) để ám chỉ là một thành phố giàu sang, lịch lãm của Pháp ở vùng Đông Nam Á.

Giả thuyết khác như theo Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quý Đôn viết năm 1776, năm 1674 Thống suất Nguyễn Dương Lâm vâng lệnh chúa Nguyễn đánh Cao Miên và phá vỡ “Lũy Sài Gòn” (theo Hán Nho viết là “Sài Côn”). Đây là lần đầu tiên chữ “Sài Gòn” xuất hiện trong tài liệu Việt Nam. Vì thiếu chữ viết nên chữ Hán – “Côn” – được dùng thế cho “Gòn”. Như vậy, ngay từ năm 1674 đã có địa danh Sài Gòn, không phải đợi đến năm 1778 khi người Tàu ở Cù Lao Phố bị quân Tây Sơn tiêu diệt rồi chạy xuống lập nên Thầy Ngòn tức Đề Ngạn, hay Xi Coón tức Tây Cống.

Dù sao thì Sài Gòn và Hòn Ngọc viễn Đông vẫn là một nơi quyến rũ, ấp ủ con tim bao thế hệ dù là gốc Âu hay Á. Trước khi tôi rời Sài Gòn vì biến cố chính trị 1975, những kỷ niệm lưu luyến với Sài Gòn hay Hòn Ngọc viễn Đông có nhiều lắm.

Thời sinh viên thuở ấy sao mà đẹp đẽ trong ngắn ngủi, thời gian trôi qua như cái chớp mắt mà nay đã gần 4 thập niên ly hương, nhìn lại thấy mình không còn trẻ của lứa tuổi hai mươi của Sài Gòn mộng mơ, không còn nữa kỷ niệm đêm đêm tản bộ hóng mát dọc theo bờ sông Sài Gòn, hướng mắt về mái nhà lồng bên kia là Thủ Thiêm từ bến đò, bến bắc, gió thổi mát rượi từ mé sông, không còn nữa kỷ niệm Sài Gòn mưa lãng mạn ta phải luồn lách những vũng nước không tên, trong cái giá lạnh khi lượn xe gắn máy chạy trong cơn mưa rào xối xả từ trời cao mà nước mưa bắn văng tung tóe.

Sài Gòn cũng đã chìm khuất vào dĩ vãng xa xôi, rồi khi kỷ niệm trở về chỉ còn lại những nỗi nhớ đáng yêu bằng nước mắt ấm đầy ắp những lưu luyến yêu thương trong tâm tưởng, đôi lúc âm thầm trở về, cơ hồ như Sài Gòn đã sống dậy mãnh liệt trong tiềm thức cũ, mãi mãi theo ta những nhờ nhung không nguôi như bài ca :

“Sài gòn bây giờ trời mưa hay nắng ?

Tà áo em bay theo giọt nắng vàng

Con đường ta đi giòng sông kỷ niệm

Nỗi nhớ trong em nỗi nhớ dịu dàng

Sài gòn bây giờ mưa giăng ngập lối

Hai đứa bên nhau âu yếm không rời

Đôi mắt yêu thương làn môi chờ đợi

Từng đợt mưa rơi.. bối rối bồi hồi

Sài gòn bây giờ lòng ai vương vấn

Mai anh đi rồi còn nhớ em không?

Đôi mắt nai tơ buồn xa vời vợi

Cơn gió vô tình đuổi lá vàng rơi

Sài gòn bây giờ có buồn không em?

Mưa vẫn rơi rơi.. từng giọt êm êm

Suối tóc thơm bay hương tình dịu nhẹ

Ngây ngất dạt dào con phố về đêm”

(Sài Gòn Niềm Thương Nỗi Nhớ của Võ Tá Hân, Trần Ngọc)

Sài Gòn gắn bó với tôi bắt đầu bằng những ngày thơ ngây thành phố như một chốn phồn hoa đô hội, người ta có thể bị choáng ngợp với một đô thị mang dáng vẻ tây phương như người con gái kiều diễm, kiêu sa, đài các, rồi cũng ở một góc nào đó Sài Gòn ủ dột của phố đêm, lầy lội của xóm nghèo, trong nét bình dân của tiếng rao hàng, những con kinh nước đen,…

Nhiều người sống với Sài Gòn, dù mưa hay nắng, ban ngày hay ban đêm, bận rộn tất bật hay nhàn rỗi rong ruổi với phố xá của nó. Thưởng thức những món ngon mà cả nhóm bạn tôi khoái khẩu nào là Mì Cây Nhãn, Mì Chú Hỏa, mì La Cay Nguyễn Tri Phương, hủ tiếu gà cá chợ cũ, hủ tiếu saté Lệ Thanh Chợ Lớn. Lề đường Sàigòn xưa có hàng me Nguyễn Du, có hàng sao cao vút khúc Võ Trường Toản, Trưng Vương.

Tôi nhớ rõ có những hàng phượng vĩ và hoàng điệp trong sân trường Petrus Ký, Sài Gòn có trường Gia Long với món bò bía, xe đậu xanh đậu đỏ; có trường Luật Khoa trên đường Duy Tân với xe nước dừa uống môi em ngọt; có trường Dược khoa, Văn khoa chạy về hướng bờ sông Sài Gòn có Bến Bạch Đằng,…  Sài Gòn có những quán kem, quán cà-fé, quán ăn vỉa hè,…

Những sinh hoạt bình dị có quán cơm Bà Cả Đọi, quán Bắc Bà Ba Bủn; để thưởng thức những món Sài Gòn sự khoái khẩu với hệ quả Pavlov cồn cào dạ dầy sau những buổi tan học ngày cũ bạn bè rủ nhau đi ăn hàng Sài Gòn. Tôi nhớ con hẽm kín đáo Casino Sài Gòn nào những bún chả, bánh cuốn Thanh Trì, bánh tôm Cổ Ngư; những gánh hàng rong, những xe bán thức ăn của khu Bàn Cờ, khu Nguyễn Thiện Thuật, Chợ Vườn Chuối, Chùa Kỳ Viên, Chợ Đũi,… xen kẻ trong trí nhớ có nhiều lưu niệm trong ký ức xưa, có những nhà hàng, những điểm hẹn hò như: Passage Eden, Casino Sài Gòn, Mini Rex, La Pagode, Pôle Nord, Givral, Brodard, khu thương xá Tax,…

Nhắc đến Sài Gòn có những nơi như Continental, Caravelle, Majestic,… Lề đường Saigòn còn có những gánh hàng rong. Thương nhớ làm sao kỷ niệm Sài Gòn có nước mía Viễn Đông có thịt phá lấu, có gỏi đu đủ gan cháy khô bò, có bánh bột chiên, có món bánh cay gần khu Chùa Chà Và mà nhà văn Thinh Quang nhắc tôi hôm nọ. Những thực khách của những nhà hàng sang trọng theo cung cách kiểu tây phương của Sài Gòn, nhưng rồi chính họ cũng là những giới hâm mộ thường trực tại các quán cóc trên vỉa hè Sài Gòn. Đó là những nét đặt thù của Sài Gòn, của người Sài Gòn, hay thuật ngữ phương tây “Saigonais”,  hoặc “Saigonese”.

Nhớ Sài Gòn, làm sao quên nỗi những góc phố, những con đường của nơi ấy nhỉ? Năm 1865, Phó đô đốc Pierre Paul Marie de la Grandière (1807 – 1876) đại diện cho chính quyền Pháp tiến hành việc đặt tên cho 26 con đường trên địa bàn của thành phố Sài Gòn mà trước đó chỉ được đánh số thứ tự. Trải qua hơn 300 năm xây dựng và phát triển, Sài Gòn đã có hơn 1.500 con đường lớn, nhỏ và từ lâu các tên đường thay đổi do yếu tố chính trị. Thời Pháp thuộc thì đường Tự Do  xưa của ta là đường Catinat; rồi Pháp đặt Charnerta cho tên đường Nguyễn Huệ, Pháp đặt tên đường Mac Mahon ta là Công Lý; và đường Bonard là Lê Lợi; đường Mossard là đường Nguyễn Du; đường mang tên Phó đô đốc HQ Pháp De La Grandlière ta thay bằng tên vua ta đường Gia Long; đường Paul Blanchy tên ta là Hai Bà Trưng), đường Mayer là tên vua ta đường Hiền Vương; và đại lộ Boulevard de la Somme phe ta đặt tên vua, đại lộ Hàm Nghi, nhà tôi ở đường mang tên tây D’Espagne tên ta là vua Lê Thánh Tôn,…

Những khách sạn thời Pháp thuộc tọa lạc ngay trung tâm Sài Gòn đã  là nhân chứng cho bao năm binh biến, vật đổi sao dời. Khách sạn Continental được các kiến trúc sư nổi tiếng của Pháp thiết kế và xây dựng vào năm 1880 và nay là khách sạn lâu đời nhất Việt Nam.

Continental từng đón tiếp nhiều nhân vật nổi tiếng như nhà thơ Nobel của Ấn Độ là Rabindranath Tagore; văn hào Pháp André Malreaux là tác giả của La condition humaine (Thân phận con người 1933), sau làm Bộ trưởng Văn hóa Pháp (1959-1969); văn hào Anh Graham Greene (tác giả của sách bestseller “The Quiet American” – Người Mỹ Trầm Lặng); cựu tổng thống Pháp Jacques Chirac, và nữ tài tử điện ảnh Catherine Deneuve (thủ diễn trong các phim đoạt giải điện ảnh Indochine, Le Dernier Métro, Belle de Jour),…

Chủ nhân đầu tiên của Continental là Pierre Cazeau, nhà sản xuất vật liệu xây dựng, sau bán lại cho Công tước De Montpensier. Chủ sau là Mathieu Francini. Ngoài ra, Continental còn có tên là “Radio Catinat”, nơi mà giới báo chí truyền thông tụ hội, trao dổi, thu nhặt tin tức thời sự “nóng” nhất, sai có, đúng có.

Nhà hàng kỳ cựu sau Continental là Majestic, thành lập năm 1925, nằm ở góc đường Catinat và Luro (sau là Cường Để) nhìn ra bờ sông Sài Gòn, do một thương nhân người Tàu giàu có và nổi tiếng nhất nhì Sài Gòn thời bấy giờ là Hui Bon Hoa (tức chú Hỏa) xây dựng theo đồ án thiết kế của một kiến trúc sư người Pháp.

Suốt gần 90 năm tuổi của mình, Majestic đã đón tiếp nhiều nhân vật quốc tế, hay chính khách: Tổng thống Pháp Mitterrand, Thái tử Nhật Akishino, Thủ tướng Lý Hiển Long của Singapore, Thái tử Đan Mạch Henrick, Thái tử Anh Andrew, công chúa Thái Lan Maha Chakri Sring Dhorn,…

Các quán cà phê như La Pagode là nơi hội tụ của giới thơ văn, báo chí Sài Gòn một thuở như tụ quán Caffe Trieste nằm trên Vallejo Street (góc đường Grant) hướng bắc của phố San Francisco, chủ nhân là một người Ý di cư, nhưng quán cà phê nảy là nơi mà giới tao nhân mặc khách, những nghệ sĩ lui tới gặp gỡ nhau, nò là phòng hội của những nhà văn Lawrence Ferlinghetti, Alan Watts, Jack Kerouac, Allen Ginsberg, Richard Brautigan, Bob Kaufman, Gregory Corso, Michael McClure, Kenneth Rexroth, Neeli Cherkovski,… nhà thơ  nổi tiếng Jack Hirschman, nghệ sĩ Peter Le Blanc, Don Moses và nhiếp ảnh gia giải Pulitzer là Joe Rosenthal, rồi những Jimo Perini, Bill Cosby, Paul Kantner, Liam Mayclem, Joey Reynolds và Mal Sharpe,… Trieste còn là nơi thi sĩ gốc Nga giải Nobel văn chương Joseph Brodsky lui tới trau chuốt thơ của mình.

Còn nữa. Rồi ở góc phòng còn phảng phất bóng dáng của nhà đạo diễn nổi danh Francis Ford Coppola ngồi đọc và đánh bóng kịch bản phim “The Godfather” những năm 70.

Paris có Café de Flore, ở ngay ngã Tư của Boulevard Saint-Germain và đường St. Benoit, nơi gặp gỡ ngày xưa của văn và triết gia như André Breton, Françoise Sagan, André Malraux, Francois Mauriac, Jean-Paul Sartre, Simone de Beauvoir, Albert Camus,…

Cái chung của La Pagode của Sài Gòn, Caffe Trieste của San Francisco hay hay Café de Flore của Paris là những địa điểm tụ họp của giới văn hoá nghệ thuật, những nơi có lịch sử của chính nó.

“Nắng SàiGòn anh đi mà chợt mát

Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông

Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng

Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng…”

Sàigòn có thơ Nguyên Sa, có nhạc Ngô Thụy Miên, hỡi những ai đã từng đi dưới cơn nắng của Sài Gòn, bạn còn nhớ chứ ?

Nhà thơ Vũ Uyên Giang cho bài thơ nhớ Sài Gòn xưa, Sài Gòn nhớ nắng, nhớ mưa :

Nhớ quá Sàigòn của thuở xưa

Ta từ Bưu Điện bước ngang qua

Nhà thờ Đức Mẹ nằm im lặng

Con phố Hàn Thuyên nắng nhạt nhòa

Nhớ đến Sàigon một thuở xưa

Buổi chiều nhạt nắng lại rơi mưa

Gọi thầm khe khẽ tên ai đó

Đất khách trong lòng đang đổ mưa.”

 (Lê Sáng chuyển bài Việt Hải)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

NHỮNG ĐẤT NƯỚC CÓ NHIỀU

NGƯỜI ĐẸP NHẤT CHÂU Á

Phụ nữ ở đâu cũng đều xinh đẹp, nhưng tại các quốc gia này tỉ lệ bắt gặp những mỹ nhân thường cao hơn.

Tờ The Toptens đã mở ra một cuộc bình chọn để tìm ra những quốc gia nào ở châu Á sở hữu nhiều người đẹp tự nhiên nhất thông qua sự bình chọn của cư dân mạng. Tới hiện tại, cuộc bình chọn đã nhận được hơn 9000 lượt vote với vô vàn bình luận của độc giả để cùng nhau tìm ra 10 quốc gia may mắn sở hữu nhiều cô gái xinh đẹp tự nhiên nhất trong tổng số 42 quốc gia được đề cử.

1/. Philippines : Chiếm 20% trong tổng số lượt bình chọn đã giúp Philippines bứt phá, vươn lên dẫn đầu trong cuộc đua. Những năm gần đây, Philippines dần trở thành “cường quốc hoa hậu” với nhiều cái tên lần lượt lên ngôi ở các cuộc thi sắc đẹp đình đám thế giới. Thậm chí, ở đất nước này có cả một ngành công nghiệp chuyên đào tạo hoa hậu, giúp các cô gái có được phong thái quyến rũ, bước đi uyển chuyển hút hồn. Vẻ đẹp Philippines thường là sự hòa trộn giữa nét đẹp phương Đông và dòng máu phương Tây, toát lên sự sexy, khỏe khoắn.

H1: Mỹ nhân đẹp nhất Philippines giành số phiếu bình chọn nhiều nhất.

2/. Nhật Bản : Các cô gái xứ Phù Tang sở hữu vẻ đẹp tự nhiên rất riêng, vừa ngây thơ lại vừa quyến rũ. Rất nhiều người đẹp Nhật được xem là biểu tượng sắc đẹp, “thánh nữ” trong mắt mày râu như Kitagawa Keiko, Nozomi Sasaki, Misaki Ito, Reon Kadena… Ở Nhật cũng có rất nhiều cô gái lai với gương mặt đáng yêu như búp bê. Đa số những lời bình luận đều ca ngợi không chỉ vẻ đẹp ngoại hình mà còn cả tài năng của con gái Nhật Bản.

H2: Nhắc đến những mỹ nhân đẹp nhất Nhật Bản thì không thể không nhắc Kitagawa Keiko.

3/. Trung Quốc : Sẽ thật thiếu sót nếu không nhắc tới Trung Hoa khi thống kê những quốc gia sản sinh ra những nữ thần sắc đẹp tự nhiên. Vẻ đẹp của phụ nữ Trung Quốc là vẻ đẹp đậm chất truyền thống với các đường nét nhỏ nhắn, yêu kiều. Trong khi phái đẹp Hàn, Nhật thường toát lên nét đẹp dễ thương thì con gái Trung lại đẹp kiểu thùy mị, trưởng thành. Con gái Trung cũng rất thích để tóc đen cổ điển.

Vị trí thứ 4 trong BXH của Trung Quốc có vẻ khiến nhiều người không đồng tình, mà kì vọng ở một vị trí cao hơn:

H3: Lưu Diệc Phi à một trong những nhan sắc không tuổi được ngưỡng mộ nhất xứ Trung.

4/. Hàn Quốc : Làng giải trí xứ Hàn luôn ngập tràn các mỹ nhân sở hữu vẻ mặt thiên thần khiến các fan phải mê mẩn. Thế nhưng, hầu như công thức chung dành cho những khuôn mặt đình đám ấy đều nằm ở cụm từ “phẫu thuật thẩm mỹ”. Công thức này phổ biến trong showbiz xứ Kim chi đến mức, bất cứ cô nàng/anh chàng nào có vẻ đẹp hoàn hảo là đều bị đem lên bàn cân soi xét mổ xẻ quá khứ trước khi được “hô biến” thành thiên nga.

Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa rằng Hàn Quốc thiếu đi những sao có nhan sắc tự nhiên mà vẫn đủ sức tỏa sáng giữa rừng những nhan sắc nhân tạo. Và họ vẫn đẹp lên hàng ngày nhờ sự hoàn thiện bản thân và phong cách chứ không chỉ nhờ “dựa dẫm” vào dao kéo.

H4: “Mỹ nữ đẹp nhất Hàn Quốc” Kim Tae Hee

5/. Đài Loan : Các cô gái Đài Loan nổi tiếng là có làn da trắng hồng rạng rỡ, vẻ đẹp tự nhiên không cần dao kéo. Nhiều người đẹp Đài Loan như Thư Kỳ, Thái Y Lâm, Lâm Y Thâm… luôn nằm trong danh sách những ngôi sao khiến mày râu “khao khát” nhất.

Có lẽ cũng vì vậy mà đa số bình luận về những cô gái Đài Loan luôn đến từ các quý ông:

H5: Thư Kỳ cũng được xem là một trong những cô gái đẹp nhất nhì Đài Loan.

6/. Ấn Độ : Phụ nữ Ấn Độ có sự pha trộn hoàn hảo của vẻ đẹp và sự quyến rũ – điều hiếm thấy ở những đất nước khác. Với làn da nâu và đôi mắt sâu đặc biệt, phụ nữ Ấn Độ luôn cuốn hút mắt nhìn. Họ là đại diện của vẻ đẹp phương Đông thâm trầm, duyên dáng, kết hợp hoàn hảo với nét sexy toát lên từ ánh mắt trong veo và bí hiểm.

H6: Hoa hậu Ấn Độ 1994 Aishwarya Rai Bachchan còn được xem là “hoa hậu đẹp nhất thế giới”.

7/. Indonesia : Các người đẹp Indonesia thường xuyên đạt thứ hạng khá tốt khi chinh chiến ở các đấu trường sắc đẹp, đặc biệt là gần đây, Hoa hậu Hòa bình Quốc tế 2016 cũng là người Indonesia. Phụ nữ đất nước này mang vẻ đẹp lai, khỏe khoắn và quyến rũ, lại gây ấn tượng với bạn bè bốn phương bởi những đường nét hài hoà và tự nhiên:

H7: Ariska Putri Petriwi là hoa hậu Indonesia đầu tiên đạt danh hiệu Hoa hậu Hòa bình Thế giới vào năm 2016.

8/. Malaysia : Malaysia nổi tiếng với nhiều hot girl gây bão mạng khắp châu Á. Các cô gái đất nước đang phát triển này sở hữu vẻ đẹp năng động, đáng yêu. Họ cũng được biết đến như một quốc gia thiên về vẻ đẹp tự nhiên, ít dao kéo.

H8: Chloe Leong là hot girl số một tại đất nước Malaysia

9/. Thái Lan : Mỹ nhân Thái Chompoo Araya vốn là gương mặt thân quen với khán giả Việt

Nhắc tới Thái Lan ngày nay, người ta thường hay gợi nhớ tới xứ sở của Phật giáo và là “thiên đường” với những người chuyển giới. Thế nhưng, Thái Lan còn là một trong những cái nôi sản sinh ra những mỹ nhân tự nhiên vô cùng xinh đẹp và quyến rũ. Vẻ đẹp của phụ nữ Thái Lan từ lâu đã được xem là biểu tượng của mà nhiều cô gái hướng đến.

Rất nhiều diễn viên, người mẫu xứ Chùa Vàng được hâm mộ vì có sắc vóc quyến rũ, nét đẹp pha trộn giữa sự e ấp phương Đông và vẻ nóng bỏng phương Tây. Những năm gần đây, Thái Lan cũng thường xuyên làm nên chuyện ở các cuộc thi sắc đẹp quốc tế.

H9: Mỹ nhân Thái Chompoo Araya vốn là gương mặt thân quen với khán giả Việt  (Bùi Zín theo The thao van hoa)

Phan Tất Đại chuyển tiếp

GIÀNH GIẢI TRANG PHỤC ĐẸP NHẤT 

NHỜ MẶC BỘ VÁY ‘TRÁI SẦU RIÊNG’

Dù chỉ nhận được danh hiệu Á hậu 3 do lùm xùm ‘váy nhái’, Aoom Thaweeporn vẫn kịp bỏ túi giải thưởng Best National Costume của Miss Grand Thailand 2017.

Đêm chung kết Hoa hậu Hòa bình Thái Lan đã diễn ra gay cấn và sôi nổi tại sân vận động Indoor Stadium Huamark, Bangkok, Thái Lan tối 8/7/2017 do nước này là “cái nôi” của cuộc thi nhan sắc thuộc Top 5 thế giới. Kết quả, cô gái 23 tuổi Pamela Pasinetti, Miss Grand Krabi, đã vượt qua 77 người đẹp trên khắp các tỉnh thành của Thái Lan đoạt vương miện Miss Grand Thailand 2017.

Theo ban tổ chức, Pamela Pasinetti mang hai dòng máu Thái Lan và Ý. Tân hoa hậu năm nay 23 tuổi, cao 1,75m, thông thạo 3 thứ tiếng: Thái, Anh, Ý. Cô cũng sẽ đại diện cho Thái Lan trong cuộc thi Hoa hậu Hòa bình Quốc tế 2017 sẽ được tổ chức tại Việt Nam vào tháng 10 tới.

Á hậu 1 là Chatnalin Chotjirawarachat, Miss Kamphaeng Phet và Á hậu 2 thuộc về Sarucha Nilchan, Miss Prachuap Khiri Khan. Gây nhiều tiếc nuối có lẽ là thí sinh giành giải Á hậu 3 Aoom Thaweeporn, Miss Chanthaburi. Cô từng được kỳ vọng cho vị trí cao nhất nhưng sát ngày chung kết vướng phải lùm xùm mặc váy nhái một thương hiệu thời trang quốc tế. Điều này khiến Aoom Thaweeporn dừng chân ở vị trí thứ tư.

Tuy nhiên trang phục sáng tạo từ trái sầu riêng, trái cây nổi tiếng ở khu vực Đông Nam Á nói chung và Thái Lan nói riêng đã giúp người đẹp giành Best National Costume. Phần thi trang phục dân tộc cũng là điểm mạnh của Miss Grand Thailand 2017, cho thấy nước này là đối thủ nặng đáng gờm khi sang Việt Nam tranh tài vào tháng 10 tới.

Mỹ Nhàn chuyển tiếp

NÓI VỀ BÀI THƠ “MỘNG DƯỚI HOA” ?!

CUỘC ĐỜI CHÌM NỔI

CỦA “MỸ NHÂN” SÀI GÒN XƯA

Được xếp vào danh sách “Tứ đại mỹ nhân”, cuộc đời của những “biểu tượng nhan sắc” một thời ở Sài Gòn những năm thập niên 60 – 70 cũng đổi thay theo năm tháng

1/- Thẩm Thúy Hằng : Nổi lên từ vai diễn Tam Nương trong phim “Người đẹp Bình Dương”, Thẩm Thúy Hằng mang luôn biệt danh này nhờ sự ái mộ của công chúng. Bà cũng được coi là biểu tượng nhan sắc phụ nữ một thời ở Sài Gòn nói riêng và miền Nam nói chung.

Thẩm Thúy Hằng tên thật là Nguyễn Kim Phụng. Bà sinh năm 1941 tại Hải Phòng, lớn lên tại An Giang, sau đó khởi nghiệp với vai diễn đầu tiên năm 1958 với hãng phim Mỹ Vân. Ngay sau đó, vai diễn đã giúp bà vụt sáng trở thành minh tinh châu Á suốt những thập kỷ 60 – 70.

Với nhan sắc mặn mà cùng lối diễn xuất tài hoa, Thẩm Thúy Hằng liên tiếp nhận được giải thưởng tại các liên hoan phim lớn tại nước ngoài như LHP Đài Bắc, Ảnh hậu Á Châu trong LHP Á Châu tổ chức tại Hong Kong và Đài Loan năm 1972 – 1974, Nữ diễn viên khả ái nhất tại LHP Mátxcơva và Tasken tại Liên Xô năm 1982…

Thẩm Thúy Hằng không chỉ đóng phim mà còn đóng kịch (Giám đốc đoàn kịch nói Bông Hồng) và cũng khá nổi tiếng trên sân khấu kể cả trước và sau giải phóng. Là một mỹ nhân, lại là người nổi tiếng suốt mấy thập niên, nhưng

Thẩm Thúy Hằng ở tuổi xế chiều có cuộc sống hoàn toàn khép kín. Bà tu tại gia, nghiên cứu Thiền học, làm từ thiện, hầu như ít tiếp xúc bên ngoài. Cuộc đời của một “minh tinh màn bạc”, một phụ nữ “sắc nước hương trời”, sự nghiệp nghệ thuật lẫy lừng đã kết thúc với số phận nghiệt ngã.

Những năm tháng cuối cùng này đối với “Nữ hoàng nhan sắc” quả thật là tột cùng của sự đau khổ. Bà đã trải qua nhiều cuộc giải phẫu lớn nhỏ và sử dụng phương pháp tiêm botox thường xuyên để chống chọi với sự tàn phá của hóa chất trong cơ thể. Nhưng dù cố gắng hết sức, bằng mọi phương pháp kéo dài thời gian nhưng rồi “Người đẹp Bình Dương” lộng lẫy một thời cũng phải chấp nhận sự thật: tất cả những gì đẹp đẽ, lộng lẫy trước đây đã bị đào thải, gương mặt bà biến dạng từng ngày.

Phu quân là tiến sĩ Nguyễn Xuân Oánh,trước 1975 là Thống Đốc ngân hàng say 1975 là tư vấn khối tài chánh cho cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt xưa. Nay ông đã qua đời !

2/- Kiều Chinh : Minh tinh Kiều Chinh là một trong những diễn viên đầu tiên của điện ảnh miền Nam Việt Nam, là diễn viên Việt đầu tiên thành công ở Hollywood. Gắn bó với nghề diễn xuất trong hơn 50 năm qua, bà có một sự nghiệp huy hoàng mà cho tới nay cũng có ít diễn viên người Việt nào có được.

Kiều Chinh tên thật là Nguyễn Thị Kiều Chinh. Bà sinh ngày 3/9/1937 trong một gia đình khá giả tại Hà Nội. Do mẹ mất sớm nên Kiều Chinh được bố rất mực cưng chiều. Năm 1954, bố con Kiều Chinh bị thất lạc nhau. 17 tuổi, bà một mình vào Nam. Năm 20 tuổi, bà bén duyên điện ảnh với vai ni cô trong bộ phim “Hồi chuông Thiên Mụ”. Trước đó, bà đã được các nhà làm phim Mỹ mời tham gia đóng vai Phượng trong bộ phim “Người Mỹ trầm lặng”. Tuy nhiên, do người thân không đồng ý nên bà buộc lòng phải từ chối.

Sau “Hồi chuông Thiên Mụ”, Kiều Chinh tham gia hàng loạt các bộ phim của các đạo diễn Việt Nam cũng như đạo diễn các nước Châu Á như: Ấn Độ, Thái Lan, Đài Loan, Singapore. Bà cũng vinh dự trở thành một trong những diễn viên Việt đầu tiên được các nhà làm phim Hoa Kỳ chú ý. Bà tham gia các phim như Operation CIA, A Yank in Vietnam, Devil Within, Destination Vietnam. Đặc biệt, trong phim Devil Within, Kiều Chinh được vượt qua hàng loạt những gương mặt xinh đẹp và nổi tiếng khác để vào vai Công chúa Ấn Độ.

Sau năm 1975, Kiều Chinh cùng gia đình chuyển sang sinh sống tại Canada. Năm 38 tuổi, Kiều Chinh được bảo lãnh qua Mỹ và bà quyết định quay trở lại với điện ảnh dù phải bắt đầu từ con số 0 và Hollywood vốn là mảnh đất cực kỳ khắc nghiệt đối với những diễn viên, đặc biệt là những diễn viên gốc Á.

Tính tới thời điểm hiện tại, bà đã có mặt trong 100 bộ phim và chương trình truyền hình của Mỹ. Trong đó có những bộ phim nổi tiếng như “The Letter” (1986), “Welcome Home (1989), “Vietnam-Texas” (1989), “What Cooking” (2000), “Face” (2001), “Journey from The Fall” (2004). Với vai diễn trong phim “Joy Luck Club”, Kiều Chinh lọt vào danh sách 50 diễn viên làm khán giả khóc nhiều nhất trong lịch sử điện ảnh.

Hiện, Kiều Chinh đang định cư ở Mỹ nhưng thỉnh thoảng bà vẫn về thăm quê hương. Không chỉ là một phụ nữ hướng về cội nguồn mà bà còn là người đóng góp rất lớn cho một tổ chức từ thiện gồm một số người bạn nước ngoài của bà để xây dựng gần 50 trường học ở Việt Nam.

Gặp gỡ nữ tài tử Kiều Chinh : https://youtu.be/pcdqum6WPCo

Phu quân là Nguyễn Năng Tế, trung tá phụ trách Phòng không kh6ng quân, thời Chủ tịch Ủy  Ban Hành Pháp Trung Ương : Nguyễn Cao Kỳ

3/- Kim Cương : Kim Cương (sinh năm 1937), con gái thứ 3 của NS Bảy Nam, là bầu gánh Đại Phước Cương. Kim Cương được mệnh danh là “kỳ nữ” do tài năng diễn xuất sân khấu, đoạt rất nhiều giải thưởng sân khấu và điện ảnh; tác giả của 70 kịch bản, đạt kỷ lục người viết kịch nói nhiều nhất Việt Nam.

Kim Cương vốn là người bạn thân thiết lâu năm với Thẩm Thúy Hằng. Mặc dù tỏa sáng trên con đường nghệ thuật gần như cùng thời điểm nhưng có thể nói, con đường mà Kim Cương trải qua cũng gặp không ít gian truân. Xuất thân từ gia đình có truyền thống nghệ thuật lâu đời, có mẹ là cố NS Bảy Nam nên Kim Cương cũng chịu sự ảnh hưởng rất nhiều. Ngay từ khi còn nhỏ, bà đã theo gia đình để mưu sinh bằng nghề diễn.

Khác với người bạn thân Thẩm Thúy Hằng, tên tuổi Kim Cương lại gắn liền với sân khấu kịch nói hơn là điện ảnh, mặc dù bà cũng tham gia đóng phim không ít. Rất nhiều vai diễn để đời của bà là những nhân vật đã từng lấy nước mắt của đông đảo khán giả nhiều thế hệ. Trong số đó, có phần lớn các tác phẩm do chính Kim Cương viết kịch bản.

Hơn 10 năm qua, trở thành phó chủ tịch Hội Bảo trợ người khuyết tật và trẻ em mồ côi, bà dốc hết sức mình đôn đáo chạy lo kinh phí hằng tháng cho trường dạy nghề dành cho người khuyết tật và kinh phí ăn học cho bao nhiêu trẻ mồ côi.

Phu quân là Trần Trọng Thức cựu biên tập viên báo Tuổi Trẻ. Theo tin thì bà đã ly dị chồng.

Lan Hương chuyển tiếp

NGUỒN GỐC CA KHÚC MỘNG DƯỚI HOA

– Phạm Anh Dũng

“Chưa gặp em, tôi vẫn nghĩ rằng

Có nàng thiếu nữ đẹp như trăng…”

Bài hát nổi tiếng “Mộng Dưới Hoa” được biết, theo các bài nhạc và tập nhạc in trong quá khứ, là nhạc Phạm Đình Chương phổ thơ Đinh Hùng. Sự thật không đúng hoàn toàn như vây.

Có vài tên riêng như “Mộng Dưới Hoa”, “Dưới Hoa Thiên Lý”, “Tự Tình Dưới Hoa” và “Xuôi Dòng Mộng Ảo” có liên hệ đến bài nhạc .

1/. Mộng Dưới Hoa : “Mộng Dưới Hoa” là nhạc Phạm Đình Chương phổ vào bài thơ Mộng Dưới Hoa của Đinh Hùng hay không ? Không đúng vậy vì không có bài thơ nào của Đinh Hùng tên là “Mộng Dưới Hoa” cả.

2/. Dưới Hoa Thiên Lý : Trong tuyển tập nhạc “Mộng Dưới Hoa”, 20 Bài Thơ Phổ Nhạc của Phạm Đình Chương, ngay dưới nhạc phẩm “Mộng Dưới Hoa”, tác giả Phạm Đình Chương có viết: “…Viết Mộng Dưới Hoa năm 1957, nguyên bài thơ mang tựa đề “Dưới Hoa Thiên Lý…”.

Thật ra, không thấy bài thơ nào của Đinh Hùng có tên là “Dưới Hoa Thiên Lý”.
Không biết vì sao nhạc sĩ Phạm Đình Chương lại quên và viết như vậy ?

3/.Tình Tự Dưới Hoa : Có phải “Mộng Dưới Hoa” là bài nhạc phổ vào bài thơ “Tình Tự Dưới Hoa” của Đinh Hùng ? Không đúng hòa toàn

“Tình Tự Dưới Hoa” một bài thơ 7 chữ có trong tập thơ “Đường Vào Tình Sử” của Đinh Hùng và chính từ bài này có bản nhạc “Mộng Dưới Hoa”. Tuy là ý bài hát dựa nhiều vài bài thơ nhưng thật ra chỉ có hai trong sáu đoạn của bài thơ đã phổ thành nhạc. Đó là đoạn thứ nhất của bài thơ:

“Chưa gặp em, tôi vẫn nghĩ rằng

Có nàng thiếu nữ đẹp như trăng

Mắt xanh lả bóng dừa hoang dại

Thăm thẳm nhìn tôi không nói năng”

và đoạn thứ ba của bài thơ:

“Em đến như mây, chẳng đợi kỳ

Hương ngàn gió núi động hàng mi

Tâm tư khép mở đôi tà áo

Hò hẹn lâu rồi – Em nói đi”

4/. Xuôi Dòng Mộng Ảo : Một đoạn trong bài thơ 6 chữ này của Đinh Hùng được phổ nhạc và cho vào bài “Mộng Dưới Hoa”. “Xuôi Dòng Mộng Ảo” là một bài thơ, cũng ở trong thi tập “Đường Vào Tình Sử ” của Đinh Hùng. “Xuôi Dòng Mộng Ảo” có tám đoạn và chỉ có đoạn thứ năm có trong bài hát “Mộng Dưới Hoa” làm thành điệp khúc của bài hát:

“Nếu bước chân ngà có mỏi

Xin em dựa xát lòng anh

Ta đi vào tận rừng xanh

Vớt cánh rong vàng bên suối”

Nếu xem kỹ bài hát “Mộng Dưới Hoa” ở cuối bài viết này, sẽ thấy đa số lời của bài “Mộng Dưới Hoa”, nghĩa là đoạn kết (đoạn thứ tư) và toàn bộ Lời 2, không có trong bài thơ nào cả của thi sĩ Đinh Hùng.

Tóm lại, “Mộng Dưới Hoa” là bài nhạc có lời với một phần gồm hai đoạn thơ từ bài thơ 7 chữ “Tự Tình Dưới Hoa”, một phần gồm một đoạn thơ từ bài thơ 6 chữ “Xuôi Dòng Mộng Ảo” và phần lớn không có xuất xứ rõ ràng.

Hầu như chắc chắn Đinh Hùng đã viết cái “phần lớn” đó sau khi Phạm Đình Chương đã viết nhạc vào thơ cho ba đoạn đầu của bài hát.

Ở cuối quyển “Mộng Dưới Hoa”, 20 Bài Thơ Phổ Nhạc của Phạm Đình Chương, có trích lời nhạc sĩ Vũ Thành : “Mộng Dưới Hoa” còn đáng được coi là một kỳ công vì phổ nhạc vào thơ Việt Nam là một việc cực khó… Làm theo thể mẫu hết sức cân đối mà vẫn giữ bằng trắc của từng chữ, ta phải ngả nón trước Phạm Đình Chương.”

Hãy xem thử một câu “Tâm tư khép mở đôi tà áo” đổi thành “Áo bay mở khép nghìn tâm sự”, thì sẽ thấy ngay là bài hát đâu có còn “vẫn giữ bằng trắc của từng chữ” nữa. Công bằng mà nói những chữ của thơ dùng vào bài nhạc đại đa số cũng vẫn giữ đúng vần bằng trắc của thơ thật nhưng không thể nói là “…từng chữ…”

Và có thể cố nhạc sĩ Vũ Thành, vì một lý do nào đó, tưởng lầm bài nhạc phẩm Mộng Dưới Hoa chỉ là nhạc phổ vào nguyên thủy của một bài thơ ?  Tuy nhiên, phải công nhận là Phạm Đình Chương viết nhạc rất khéo léo và lời viết của Đinh Hùng dù là thơ hay không thơ cũng rất… thơ.

Với tên tuổi lẫy lừng của thi và nhạc sĩ Đinh Hùng – Phạm Đình Chương, bài nhạc hay mà lại dễ hát đã thành trở thành một trong những bài nhạc có thể nói phổ thông nhất của Tình Ca Việt Nam.

MỘNG DƯỚI HOA

(nhạc Phạm Đình Chương – thơ/lời Đinh Hùng)

Chưa gặp em, tôi vẫn nghĩ rằng

Có nàng thiếu nữ đẹp như trăng

Mắt xanh lả bóng dừa hoang dại

Âu yếm nhìn tôi không nói năng

Ta gặp nhau yêu chẳng hạn kỳ

Mây ngàn gió núi đọng trên mi

Áo bay mở khép nghìn tâm sự

Hò hẹn lâu rồi em nói đi

Nếu bước chân ngàn có mỏi

Xin em dựa sát lòng anh

Ta đi vào tận rừng xanh

Vớt cánh rong vàng bên suối

Ôi hoa kề vai, hương ngát mái đầu

Đêm nào nghe bước mộng trôi mau

Gió ơi gởi gió lời tâm niệm.

Và nguyện muôn chiều ta có nhau

Lời 2:

Tôi cùng em, mơ những chốn nào

Ước nguyện chung giấc mộng trăng sao

Sánh vai một mái lầu phong nguyệt

Hoa bướm vì em nghiêng cánh chao

Hy vọng thơm như má chớm đào

Anh chờ em tới hẹn chiêm bao

Dưới hoa tưởng thấy ngàn sao rụng

Hoa lệ ân tình môi khát khao

Bước khẽ cho lòng nói nhỏ

Bao nhiêu mộng ước phù du

Ta say thành mộng nghìn thu

Núi biếc sông dài ghi nhớ

Ôi chưa gặp nhau như đã ước thề

Mây hồng giăng tám ngã sơn khê

Bóng hoa ngả xuống bàn tay mộng

Và mộng em cười như giấc mê

TỰ TÌNH DƯỚI HOA

(Thơ Đinh Hùng)

Chưa gặp em, tôi vẫn nghĩ rằng:

Có nàng thiếu nữ đẹp như trăng,

Mắt xanh lả bóng dừa hoang dại,

Thăm thẳm nhìn tôi, không nói năng

Bài thơ hạnh ngộ đã trao tay,

Ôi mộng nào hơn giấc mộng này

Mùi phấn em thơm mùi hạ cũ,

Nửa như hoài vọng, nửa như say

Em đến như mây, chẳng đợi kỳ

Thương hàng gió núi động hàng mi

Tâm tư khép mở đôi tà áo,

Hò hẹn lâu rồi — Em nói đi

Em muốn đôi ta mộng chốn nào

Ước nguyền đã có gác trăng sao

Chuyện tâm tình: dưới hoa thiên lý,

Còn lối bâng khuâng: ngõ trúc đào

Em chẳng tìm đâu cũng sẵn thơ,

Nắng trong hoa, với gió ven hồ

Dành riêng em đấỵ Khi tình tự,

Ta sẽ đi về những cảnh xưa

Rồi buổi u sầu, em với tôi

Nhìn nhau cũng đủ lãng quên đời

Vai kề một mái thơ phong nguyệt,

Hạnh phúc xa xa mỉm miệng cười

XUÔI DÒNG MộNG ẢO

Chim hồng về khu rừng cũ,

Xuân ấy hai lòng mới yêu .

Cùng hoa, bướm trắng sang nhiều,

Nắng thơm những chiều tình tự .

Xin em ngồi trên nhung cỏ,

Nghe suối ca vui nhịp nhàng.

Anh ru cho hồn em ngủ,

Bằng điệu ca sang dịu dàng.

Chim xanh về khu rừng cũ,

Hè tới, hai lòng còn yêu .

Cỏ thơm mọc đã cao nhiều,

Cành mộng bao nhiêu hoa đỏ!

Nếu bước chân ngà có mỏi,

xin em dựa sát lòng anh.

Ta đi vào tận rừng xanh,

Vớt cánh rong vàng bên suối.

Lá đỏ rơi trong rừng cũ,

Thu về, hai lòng còn yêu.

Đường tình trải một làn rêu,

Ngơ ngẩn hồn chiều tư lự.

Em có lên sườn núi biếc,

Nhặt cánh hoa mơ gài đầu.

Này đôi nai vàng xa nhau,

Có tiếng gọi sầu thảm thiết.

Chim buồn xa khu rừng cũ,

Đồi núi trập trùng cỏ rêu.

Hai lòng nay đã thôi yêu,

Có tiếng suối chiều nức nở.

Em không nghe mùa thu hết ?

Em không xem nắng thu tàn ?

Trời ơi! Giọt lệ này tan,

Là lúc linh hồn anh chết !

– Tiếng hát : Vũ Khanh :   https://youtu.be/j_V0OyLWtqk

– Tuần Ngọc : https://www.youtube.com/watch?v=S5e5mwDYvaU

Sang Huỳnh chuyển tiếp

CÀ PHÊ VĂN NGHỆ SÀI GÒN

CÀ PHÊ VĂN NGHỆ SÀI GÒN

Người Sài Gòn có thể uống cà phê bất cứ lúc nào trong ngày.

– Từ Kế Tường

Uống cà phê buổi sáng sớm theo thói quen ở quán cóc lề đường, bàn chuyện tào lao thế sự với bạn bè hay ngồi một mình ngắm phố phường trong sương sớm để thư giãn, chiêm nghiệm thế thái nhân tình hay hoài niệm những khảnh khắc vui buồn xảy ra trong đời mình.

Uống cà phê buổi trưa kết hợp với bữa ăn trưa để bàn công việc, sơ thảo nội dung một bản hợp đồng làm ăn, thậm chí tìm một góc tịnh tâm, trốn nắng, trú mưa trước khi trở về công ty, cơ quan làm việc buổi chiều.

Nhưng “cà phê văn nghệ” có mục đích hẳn hoi và dứt khoát chỉ vào buổi tối khi thành phố lên đèn. Đó là cơ cơ hội hẹn hò của thanh niên nam nữ yêu nhau tìm một nơi chốn lãng mạn, êm đềm để tâm sự, chia sẻ trong một không gian “văn nghệ” mà âm nhạc là đường dẫn tới sự thăng hoa của đôi tâm hồn. Không chỉ có không gian, mà thời cũng luôn song hành cho những phút giây lãng mạn ấy, đó là cảm giác chỉ riêng hai người giữa một đám đông đồng điệu. Chính vì nhu cầu ấy mà những quán cà phê văn nghệ ra đời.

Trước năm 1975 có một số quán cà phê văn nghệ “đình đám” ở Sài Gòn thu hút thanh niêm nam nữ, văn nghệ sĩ tới ngồi bên ly cà phê, thưởng thức văn nghệ với sân khấu nhỏ rất đơn sơ, chỉ là một bục gỗ cao cho ca sĩ đứng hát và người đệm đàn thùng, một chân cắm micro có dây, dàn âm ly và loa khuyếch đại âm thanh.

Những dụng cụ này đặt trong một ngôi quán bên đường khu trung tâm Q1, Q3…với vài chục cái bàn thấp, ghế ngồi chẳng cần trang trí, bày trí hoa hòe hoa sói gì nhiều, đã là một tụ điểm thu hút dân sành điệu tới một không gian cà phê văn nghệ rất lãng mạn, xôm tụ tạo một sinh hoạt rất riêng của Sài Gòn về đêm bên cạnh những nơi giải trí ồn ào khác như vũ trường, quán bar, nhà hàng ăn nhậu mọc ra như nấm ở Sài Gòn thủa ấy.

Quán cà phê “Thằng Bờm”, nằm ở góc đường Nguyễn Thái Học- Phạm Ngũ Lão Q1 của nhóm sinh viên Luật khoa, được coi là quán cà phê văn nghệ dành cho giới sinh viên học sinh, có lẽ là tiền thân của sân khấu “hát với nhau” sau năm 1975. Bởi ngoài các ca sĩ được tăng cường và hai buổi tối cuối tuần thứ bảy – chủ nhật thì ngày thường người tới uống cà phê cao hứng có thể lên hát, chỉ cần viết một mảnh giấy đăng ký bài hát và họ tên đưa cho chủ quán rồi ngồi chờ tới lượt mình được giới thiệu lên “sân khấu”, không hát thì đọc thơ, tự đêm đàn hay nhờ “nhạc sĩ” của quán đệm đàn. Quán “Thằng Bờm” rất nổi tiếng, tồn tại một thời gian khá dài.

Quán cà phê “Hầm gió” nằm trên đường Võ Tánh (Nguyễn Trãi bây giờ) cũng thuộc Q1. Quán này của nhóm nhạc trẻ Nam Lộc – Trường Kỳ, bề thế, đẹp hơn quán “Thằng Bờm” rất nhiều. Gọi là “Hầm Gió” vì quán là một cái hầm, không gian khá rộng, chứa được gần 100 người.

Do ở đây văn nghệ mang tính chuyên nghiệp hơn, thường xuyên có các ca sĩ, nhạc sĩ nổi tiếng tới trình diễn, sân khấu cũng “hoành tráng” nên “Hầm Gió”  dịp cuối tuần rất đông khách.

Những cặp đôi ca sĩ-nhạc sĩ của Sài Gòn thời đó bắt đầu nổi lên cũng từ quán cà phê “Hầm Gió”, lúc đó ca sĩ Thanh Lan còn rất trẻ, vừa đi học trường Tây vừa đi hát, cùng với nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng thành một cặp đôi rất được giới trẻ hâm mộ, thường xuyên xuất hiện ở “Hầm Gió”. Thanh Lan lên sân khấu với bộ áo dài lụa màu trắng hay màu vàng nhạt, vẫn còn nhí nhảnh và hồn nhiên bên cạnh Trầm Tử Thiêng rất “bụi”.

Quán “Cây Tre” của ca sĩ Khánh Ly nằm trên đường Đinh Tiên Hoàng, bên trong con hẻm nhỏ, kế bên sân vận động Hoa Lư cũng thuộc Q1, một thời cũng rất nổi tiếng. Ngoài ca sĩ Khánh Ly, Ngọc Minh (em gái của Khánh Ly), còn xuất hiện nhiều cặp đôi đình đám bấy giờ như Lê Uyên – Phương, Từ Dung – Từ Công Phụng.

Nhưng đặc biệt, một quán cà phê ghi đậm dấu ấn một thời cà phê văn nghệ Sài Gòn có lẽ là “Hội quán Văn”, gọi tắt là cà phê Văn, của nhóm sinh viên đại học Văn Khoa, nằm phía sau trường, trên khoảng đất trống khá rộng ở góc đường Công Lý (Nam Kỳ Khởi Nghĩa bây giờ) – Lê Thánh Tôn Q1. Quán thì rất sơ sài, chỉ là một gian nhà trống, mái tôn, vách cót ép,  bàn thấp, ghế thấp. Nhưng mỗi đêm có hàng trăm thanh niên sinh viên học sinh, văn nghệ sĩ tới uống cà phê, thưởng thức văn nghệ “ngoài trời”.

Chính ở quán cà phê Văn, ca sĩ Khánh Ly từ Đà Lạt xuống kết hợp với Trịnh Công Sơn thành một “cặp đôi hoàn hảo”, đình đảm, tạo thành những đêm nhạc tình ca, phản chiến khuấy động Sài Gòn và từ đó Khánh Ly nổi danh với danh hiệu “ca sĩ chân đất” bởi khi hát với Trịnh Công sơn trên bục gỗ sân khấu ngoài trời quán Văn, có lúc cao hứng Khánh Ly đã lột cả dép đi chân trần trên cỏ. Và ca khúc tạo dấu ấn lúc bấy giờ của Khánh Ly là “Ca khúc da vàng”, “Diễm xưa”, “Hạ trắng”…

Sau năm 1975, một thời gian khá dài, người Sài Gòn cũng trở lại với thói quen uống cà phê cóc mà mở đầu rất sớm là khu vực cà phê cóc hồ Con Rùa Q1. Khu vực này một thời sau năm 1975 có thể nói là khu vực cà phê cóc văn nghệ Sài Gòn vì một số văn nghệ sĩ ra đây mở quán cà phê vỉa hè, sáng mở, chiều tối dọn, chỉ một xe đẩy nhỏ dựng ly tách, bình thủy, vài cái bàn, chục cái ghế, cây đàn thùng…là thành một quán cà phê. Khách tới uống thoải mái, có khi ngồi đồng từ sáng trới trưa, từ trưa tới chiều, bày bàn nhậu tới khuya, đàn hát, ngâm thơ đập bồn, đập bát tới mệt xỉu mới tan hàng.

Sau đó, Sài Gòn nở rộ phong trào mở quán cà phê văn nghệ có sân khấu ca nhạc hằng đêm và tăng cường ca sĩ, tấu hài mỗi tối cuối tuần. Quán cà phê Champa nằm trên đường Nguyễn Thông Q3 là một điển hình, quán rất nổi tiếng và một loạt ca sĩ trẻ, nhóm tấu hài thành danh từ đây. Sau đó tới một loạt các phòng trà như Đồng Dao, Tiếng Tơ Đồng, Thế Kỷ và phòng trà trên lầu cà phê Broda, rồi Phiêu Linh  ở góc đường Lê Thánh Tôn – Nguyễn Huệ Q1 hoạt động hàng đêm rất nhộn nhịp.

Nhưng dấu ấn quán “cà phê văn nghệ Sài Gòn” mang hơi hướng của những “Văn, Thằng Bờm, hầm Gió” sau năm 1975 có lẽ cà phê Văn Nghệ nằm trên đường Lam Sơn quận Bình Thạnh. Ở đây cũng có những ca sĩ, nóm nhạc nổi lên như : Vinh Hiển, nhóm tam ca Áo Trắng, Ba thế hệ… Và có lẽ còn cái chất cà phê văn nghệ Sài Gòn nhất, dù đã được “nâng cấp” bằng tên gọi phòng trà là cà phê Ân Nam nằm trên đường Trương Định Q1 của ca sĩ Lan Ngọc  hiện vẫn còn hoạt động. Nó cũng là một cái hầm, giống như “Hầm Gió” của Nam Lộc – Trường Kỳ ngày xưa. Chương trình ca nhạc ở đây khá chọn lọc, thu hút giới trung niên muốn tìm lại dư âm của một thời “cà phê văn nghệ Sài Gòn” đã mất. (theo Từ Kế Tường)

Lan Hương chuyển tiếp

NHỚ ĐÔI NGHỄ SĨ TÀI DANH

VIỆT HÙNG – NGỌC NUÔI

– Soạn giả Nguyễn Phương

Trong những thập niên 50, 60, 70 của thế kỷ trước, đôi nghệ sĩ uyên ương Việt Hùng – Ngọc Nuôi lừng danh trong hàng ngũ những ngôi sao sân khấu cải lương. Theo dõi cuộc đời nghệ thuật của Việt Hùng – Ngọc Nuôi, chúng ta có thể phát hiện được những bước thăng trầm của sân khấu cải lương trong 3 thập niên từ 50 đến 70, và ta cũng biết những hoạt động nghệ thuật rất tích cực của giới nghệ sĩ cải lương trong thời điểm vàng son đó.

Anh Việt Hùng tên thật là Nguyễn Hữu Hùng, sanh năm 1923 tại Huế. Anh vào Sàigòn lập nghiệp, làm công chức ở Tòa Hành Chánh Gia Định năm 1946. Anh có giọng ca tốt, là ca sĩ tân nhạc hợp tác với nhạc sĩ Mạnh Phát và các nữ ca sĩ Minh Diệu, Minh Trang, Kim Tước trong Ban Tân nhạc Mạnh Phát trên Đài Phát Thanh Pháp Á.

Thời gian này anh làm quen với ca sĩ cổ nhạc Thành Công, trưởng Ban cổ nhạc, nên anh được ca sĩ Thành Công với các nhạc sĩ Bảy Quới, Hai Khuê, và Tư Hiệu dạy ca nhiều bài bản cổ nhạc. Trong hai năm 1947 – 1948, Việt Hùng nổi danh ca sĩ tân lẫn cổ nhạc, cùng thời với các danh ca làng dĩa nhựa và đài Phát Thanh như các ca sĩ Chín Sớm, Chiêu Anh, Thành Công, Sáu Thoàng, cô Ngọc Ánh, Cô Năm Cần Thơ.

Người vợ thứ nhứt của anh Việt Hùng là một nữ y tá trẻ đẹp của nhà thương Đồn Đất Sài gòn (nhà thương Grall) ở với anh có được một con trai. Người con trai đó hiện giờ định cư tại Nam Cali.

Bước ngoặc định mệnh: bỏ nhiệm sở, bỏ gia đình vì mê đào hát !

Năm 1948, gánh hát Thỉ Phát Huê về hát ở rạp Thành Xương (tức rạp chiếu bóng Diên Hồng xưa, ở góc Yersin – Phạm Ngũ Lão , Q1). Hai cô đào xuân sắc nhứt của gánh hát là cô Kim Nên (thân mẫu của ca sĩ tân nhạc Thái Châu) và cô Ngọc Nuôi, cả hai cô đều ca hay, đẹp sắc sảo, được nhiều khán giả ái mộ nên gánh hát Thỉ Phát Huê, đêm hát nào, khán giả cũng vào xem nghẹt rạp.

Kim Nên là em ruột của cô Năm Cần Thơ nên cô Năm Cần Thơ đưa các bạn ca sĩ cùng làm chung ở Đài Phát Thanh Pháp Á đến xem hát. Dịp này, ca sĩ Chiêu Anh si mê đào Kim Nên, ca sĩ Việt Hùng si mê đào Ngọc Nuôi. Khi gánh hát Thỉ Phát Huê hết hát ở rạp Thành Xương, dọn đi hát ở các tỉnh miền Tây thì Việt Hùng bỏ sở làm ở Tòa Hành Chánh Gia Định, Chiêu Anh nguyên là phát thanh viên của Đài Pháp Á, cũng bỏ sở làm.

Hai anh theo gánh Thỉ Phát Huê để học làm kép hát, hai anh bị “tiếng sét ái tình” làm cho mê man đầu óc, dám bỏ tất cả để bắt đầu làm một cuộc đời mới. Kết quả là Kim Nên sánh duyên cùng ca sĩ Chiêu Anh. Chiêu Anh không trở thành kép hát được mặc dù anh cao ráo, đẹp trai. Anh trở thành soạn giả, viết nhiều bài ca cổ nhạc cho Đài Phát Thanh Quốc Gia và Đài Phát Á. Anh cũng viết vọng cổ thu dĩa cho các hãng dĩa Pathé, Asia, Hoành Sơn…

Việt Hùng thành hôn với Ngọc Nuôi, anh trở thành kép chánh của đoàn hát Thỉ Phát Huê. Sau đó, Việt Hùng và Ngọc Nuôi về hát cho đoàn Tân Thiếu Niên. Việt Hùng và Ngọc Nuôi tuy là đào kép chánh của hai gánh Thỉ Phát Huê và Tân Thiếu Niên nhưng chưa thật sự nổi tiếng. Báo chí thời đó chưa có trang kịch trường để quảng cáo, lăng xê đào kép. Hai đoàn hát đó là trung ban, hát lưu diễn ở các tỉnh nhỏ nhiều hơn là hát ở Sàigòn, vì vậy khán giả ít biết đến tên tuổi của diễn viên.

Sáng chói trên sân khấu Hoa Sen

Nghệ sĩ Bảy Cao thành lập đoàn hát Hoa Sen năm 1952 với thành phần diễn viên, bên nam, có Bảy Cao, Việt Hùng, Bửu Tài, Ba Khuê, Ba Túy… dàn đào có các cô Kim Luông, Ngọc Nuôi, Ái Hữu, Cẩm Vân, Lệ Út. . . Đoàn Hoa Sen ăn khách nhờ mấy tuồng chiến tranh : Đoàn Chim Sắt, Nợ Núi Sông, Mộng Hòa Bình, Vàng Rơi Sông Lệ, Chiếc Áo Mùa Đông…

Việt Hùng cao lớn, lực lưỡng nên khi thủ vai sĩ quan trên chiến trường máu lửa thì trông rất oai phong. Tiếng hát của anh, khi nói lối hay đối thoại thì hơi nhừa nhựa, nhưng lại phù hợp với những vai sĩ quan tình báo, nói năng có vẻ bí mật, hăm dọa đối phương. Anh ca vọng cổ, tiếng rất khỏe, tiếng ngân ơ. . .ơ. . . cuối câu, được anh ngân đổ hột, khán giả thích thú khi khám phá ra một lối “ca nói”, khác hẳn các lối ca với giọng ngọt mùi của Bảy Cao, Năm Nghĩa.

Ngọc Nuôi ca rất lớn tiếng, nghe ngọt lịm. Cô vô xàng xê nghe hấp dẫn không thua gì vua xàng xê Minh Chí.

Ngọc Nuôi ca bài bản nào cũng hay, sắc vóc Ngọc Nuôi rất đẹp khi cô mặc bộ quân phục trong tuồng chiến tranh. Khi mặc y phục thường, bộ bà ba, chiếc áo dài hay bộ đồ đầm, Ngọc Nuôi thể hiện một thiếu nữ kiều diễm, duyên dáng. Sắc đẹp, giọng ca ngâm, lối diễn xuất tế nhị, là những tài sản trời cho, Ngọc Nuôi sáng chói trên sân khấu Hoa Sen, dù những giọng ca vàng của các cô đào Kim Luông, Lệ Út, Ái Hữu, vẫn không làm sao làm lu mờ hào quang rực rỡ của Ngọc Nuôi.

Năm 1954, vừa dứt chiến tranh Việt Pháp, dân chúng làm ăn phát đạt, nên có nhiều gánh hát mới được thành lập để đáp lại nhu cầu giải trí của dân Sài gòn và lục tỉnh. Vì nhiều đoàn hát mới thành lập nên có tình trạng “mua đào, bán kép”. Bầu Sinh, môn đệ của soạn giả Mộng Vân (đồng môn với Bảy Cao và Năm Nghĩa), lập gánh hát Hương Hoa, mời Việt Hùng – Ngọc Nuôi về hát với số tiền contrat bạc triệu, lương lớn gấp đôi số lương cũ ở đoàn Hoa Sen.

Về hát cho gánh Hương Hoa, Việt Hùng – Ngọc Nuôi cũng hát những tuồng chiến tranh : Khúc Nhạc Ly Hương, Việt Kiều Trên Đất Khách. Cả hai đóng vai chánh, Việt Hùng hào hoa phong nhã trong bộ quân phục sĩ quan, Ngọc Nuôi rất sang, rất đẹp trong vai cô nữ tình báo của địch quân. Tuy tuồng cũ, nhân vật không có gì mới, nhưng khán giả dễ dãi, xem hát mua vui nên các gánh hát lúc nào cũng bán hết vé.

Bắt đầu một thời hoàng kim, các nghệ sĩ đua nhau sắm xe hơi. Việt Hùng – Ngọc Nuôi cũng không ngoại lệ, mua nhà mới, sắm xe hơi mới. Vậy là chấm dứt cái thời đào kép hát phải “ăn quán, ngủ đình”!

Bà Ba Khan, người chủ nợ của Bầu Sinh và là chị ruột của hai diễn viên trẻ: Hương Sắc và Hương Huyền muốn tạo cơ hội cho hai em của mình thăng tiến trên con đường nghệ thuật nên xuất vốn lập ra gánh hát lấy bảng hiệu là gánh Việt Hùng – Minh Chí. Tất nhiên là Việt Hùng – Ngọc Nuôi ký hợp đồng mới, với số tiền lớn hơn, lương cao hơn, nhiều điều kiện phụ hấp dẩn hơn để rồi bỏ Bầu Sinh của gánh Hương Hoa, về làm chủ (trên danh nghĩa thôi) gánh Việt Hùng – Minh Chí.

Gánh hát Việt Hùng – Minh Chí bỏ tuồng chiến tranh, hát những vở tuồng của các soạn giả thế hệ thứ hai trong làng soạn kịch là Mộc Linh, Lê Khanh. Tuồng khai trương của gánh Việt Hùng – Minh Chí là vở tình sử Việt Nam “Đường lên xứ Thái” của soạn giả Mộc Linh. Lời văn chải chuốt, cốt truyện trữ tình, một thể loại sân khấu thi, ca, vũ, nhạc, mới lạ nên sức thu hút khán giả rất mãnh liệt.

Việt Hùng trong vai người chiến sĩ Việt Nam, bị thương, đi lạc trong khu rừng già của xứ Thái, được một sơn nữ (do Ngọc Nuôi thủ diễn) cứu, trị thương. Mối tình giữa người Kinh và người sơn nữ thơ mộng, đẹp tình, đẹp ý, gợi lại những cuộc tình dang dở trong chiến tranh, đã làm rơi lệ biết bao khán giả. Việt Hùng và Ngọc Nuôi sáng chói nhờ tài ca, diễn thật hay, lột tả được tính cách nhân vật một cách sâu sắc. Ngọc Nuôi còn có cơ hội thi triển làn hơi phong phú, ngọt ngào của cô qua các lối ngâm thơ mới, các bài Sương Chiều, Tú Anh, là những bài mà người có hơi trong, ngọt, mặc tình uốn lượn, luyến láy để dẫn dắt cảm quan của người nghe. Vở thứ hai ghi đậm sự thành công của Việt Hùng – Ngọc Nuôi về diễn các thể loại dã sử, cổ tích Việt Nam là vở “Người Đẹp Bán Tơ “của thi sĩ Kiên Giang Hà Huy Hà.

Nhiều đoạn thơ hay của Kiên Giang được giọng ngâm thơ mượt mà, êm như nhung, như gấm của Ngọc Nuôi, làm tăng thêm giá trị vở tuồng và tăng thêm sức thu hút khán giả, đồng thời làm tăng thêm hào quang đã sẵn sáng chói của Ngọc Nuôi. Đáng lẽ ra gánh hát Việt Hùng – Minh Chí có thể vững vàng và phát triển thêm ở cái cương vị một Đại Ban, vì khán giả rất đông, tuồng tích hay, đào kép đẹp, ca, ngâm, diễn xuất rất hấp dẫn, nhưng chỉ hai năm sau từ ngày thành lập, gánh Việt Hùng – Minh Chí phải tan rã! Nghệ sĩ Minh Chí tách riêng ra lập gánh hát Minh Chí. Việt Hùng Ngọc Nuôi gia nhập đoàn hát Thanh Minh của bầu Năm Nghĩa.

Vai tuồng để đời của Việt Hùng – Ngọc Nuôi

Tôi (Nguyễn Phương) có cộng tác chung với anh Việt Hùng và Ngọc Nuôi trong Đoàn Thanh Minh, rồi Thanh Minh Thanh Nga trong nhiều năm, tôi biết anh Việt Hùng có nhiều vai hát rất hay, được khán giả và báo chí ngợi khen, nhưng chỉ có vai hát Cậu Ấm Thân trong tuồng Đoạn Tuyệt của Duy Lân là anh được coi như đó là vai hát để đời của anh.

Trong thập niên 1955 đến năm 1965, Đoàn Thanh Minh Thanh Nga được kể là một đoàn hát mạnh nhứt vì đoàn tập trung được những diễn viên thượng thặng của sân khấu cải lương, đoàn cũng có nhiều soạn giả thường trực nên có nhiều tuồng hay tích lạ.

Về diễn viên tài ba, bên kép có Út Trà Ôn, Hữu Phước, Thành Được,Việt Hùng, Hoàng Giang, Văn Ngà, Ba Xây, Minh Tấn, Minh Điển, Vinh Sang, Hề Châu Hí, Hề Kim Quang, Hề Núi, và có anh Năm Châu, chị Kim Cúc, Ba Vân, Phùng Há, Năm Sadec về cộng tác với Đoàn trong vài năm. Về phía đào, có Út Bạch Lan, Ngọc Nuôi, Thu Ba, Ngọc Giàu, Kim Giác, Thanh Nga, Hoàng Vân, Thanh Hiền, Thanh Lệ, Ngọc Chúng…

Giữa những diễn viên mà tên tuổi lẫy lừng như kể trên, Việt Hùng – Ngọc Nuôi phải có tài nghệ khác thường mới đứng vững nổi trong Đoàn. Anh Việt Hùng nhờ sắc vóc cao lớn, vẻ hào hoa phong nhã nên thành công dể dàng qua các vai dũng sĩ tuồng dã sử như Biên Thùy Nổi Sóng, Tình Tráng Sĩ, Người Về Từ Cửa Biển, Nẻo Tắt Hoành Sơn, Áo gấm khôi Nguyên… Ngọc Nuôi sáng, đẹp, đua tài khoe sắc với các nữ diễn viên như nữ hoàng sân khấu Thanh Nga, sầu nữ Út Bạch Lan, Thu Ba hay giọng ca vàng Ngọc Giàu.

Đoàn Thanh Minh Thanh Nga diễn những vở ca kịch xã hội thì Việt Hùng xuất sắc qua vai chú ba Tài Xế, chồng của chị hai Bếp (Ngọc Nuôi) mẹ của Thanh (Thanh Nga) trong tuồng Con Gái Chị Hằng, Ngọc Nuôi thành công qua các vai mẹ trong các tuồng Tấm Lòng của Biển, Bóng Chim Tăm Cá, Bọt Biển, Con Gái Chị Hằng, Chén trà của quỷ, Bên Cầu đệt lụa…

Nhưng vai hát để đời của Việt Hùng – Ngọc Nuôi lại hoàn toàn trái với hình tượng mà lâu nay khán giả nghĩ về hai tài danh sân khấu này, đó là vai Thân và vai Bích trong tuồng Đoạn Tuyệt.

Việt Hùng thường đóng vai tráng sĩ, dũng tướng, kép đẹp trai thì nay vào vai Thân, một cậu ấm ngốc nghếch, ngu si, sợ vợ. Vai Thân diễn xuất đi đứng chậm chạm, nói năng nhừa nhựa, không dám nhìn thẳng vào mặt Loan, dù Loan rất dịu hiền. Thật là lối diễn hoàn toàn khác với cung cách xưa nay của Việt Hùng, không ngờ cách ca diễn như vậy lại đạt được sự thành công quá sức tưởng tượng. Nhờ cách diễn đó mà tăng thêm phần quái ác của bà mẹ chồng, bà Phán Lợi (do bà Năm Sadec diễn) và cô em chồng đanh đá Bích (do Ngọc Nuôi diễn). Trong dàn bao của ba tài danh Việt Hùng (Thân), Ngọc Nuôi (Bích) Bà Năm Sadec (Mẹ chồng) Thanh Nga (trong vai Loan) diễn xuất thương cảm nhất, sáng chói nhất trong loại hình sân khấu xã hội Việt Nam trong những thập niên 1960, 1970.

Ngọc Nuôi trong những thập niên này, nổi danh qua các vai Mẹ Hiền (Con Gái Chị Hằng, Tấm Lòng Của Biển , Bọt Biển,… ) vụt sáng chói qua vai Bích, đứa em chồng đanh đá. Điều đó khẳng định là tuổi tác của diễn viên không mấy ảnh hưởng tới vai diễn. Tới tuổi gần năm mươi, Ngọc Nuôi vẫn thành công dễ dàng trong một vai tuồng của cô gái 18 tuổi.

Khi sân khấu đổi màu

Khi biến cố 1975 xảy ra, Việt Hùng cùng ba con : Ngọc Quý, Tài và Xinh trong Ban nhạc Crazy Dogs biểu diễn trong một Club Mỹ trong sân bay Tân Sơn Nhứt, được phi cơ Mỹ bốc đi di tản ngay. Anh không thể về đón Ngọc Nuôi và ba con còn ở lại là nữ ca sĩ tài danh Ngọc Bích, Năng và một người con trai nữa, tôi bỗng quên tên.

Đến Hoa Kỳ, Việt Hùng nghĩ ngay tới việc hoạt động trở lại của ngành sân khấu cải lương ở hải ngoại. Anh cùng nhạc sĩ Tám Trí chủ trương chương trình Thanh âm trìu mến trên đài Little Saigon, đào tạo các thế hệ diễn viên trẻ: Thu Hồng, Vương Kiệt, Thanh Huyền.

Khi các diễn viên cải lương Kim Tuyến, Ngọc Đan Thanh, Linh Tuấn. Hương Huyền, Thành Được, Dũng Thanh Lâm vượt biên sang tới Mỹ thì chính anh Việt Hùng và các nhạc sĩ Chí Tâm, Văn Hoàng, Tám Trí làm chất keo, gắn những người yêu nghề, cùng số phận, dưới ánh đèn sân khấu cải lương hải ngoại. Anh Việt Hùng đã thực hiện được những băng vidéo cải lương Tiếng Hạc Trong Trăng, Nửa Đời Hương Phấn, Lan và Điệp.

Anh cũng có mặt trong các cuộc hội họp có đông người Việt định cư ở Hải ngoại để ca vọng cổ, hát cải lương. Anh đã cùng Trần Văn Trạch đến hát giúp vui cho đồng bào trong trại tỵ nạn tại Palavan.

Ngày 27 tháng 7 năm 2001, lễ kỷ niệm Việt Hùng 80 tuổi đời, 60 năm tuổi nghề, tôi từ Montréal qua dự, tôi có quay đoạn phim Việt Hùng phát biểu và ca hai câu vọng cổ. Tiếng vẫn còn sang sảng, làn hơi vọng cổ vẫn còn âm hưởng của những ngày trong tuổi thanh xuân. Vậy mà đến ngày 31 tháng 12 năm 2001, Việt Hùng từ giã cõi đời đau khổ này để về Thiên Trúc với pháp danh là Minh Chánh.

Ngọc Nuôi sau 1975, hát trên sân khấu Thanh Nga, cũng các vai cũ trong Tấm Lòng Của Biển, Bên Cầu Dệt Lụa và vào vai nữ tướng Lê Chân trong tuồng Tiếng Trống Mê Linh rồi từ giã ánh đèn sân khấu, chờ Việt Hùng và các con làm giấy bảo lãnh đi sum họp gia đình theo diện ODP. Thời gian này nhờ danh ca Ngọc Bích (con gái đầu lòng) nổi danh trong nhiều chương trình ca nhạc nên Ngọc Nuôi và gia đình còn ở lại Việt Nam sống cũng khá sung túc.

Việt Hùng khi qua Mỹ, ngày trở về quê hương xa lắc xa lơ, ngày sum họp vợ con ở Việt Nam cũng mù mờ không biết đến bao giờ mới được, nên bước thêm một bước nữa với bà Gia Mỹ, người vợ chót của anh.

Ngọc Nuôi được bảo lãnh qua Mỹ thì Việt Hùng đã sang thuyền khác, Ngọc Nuôi bơ vơ. Đôi uyên ương sân khấu đã lẻ bạn vì thời cuộc, tan vỡ vì nghịch cảnh. Đau lòng cho người trong cuộc mà cũng đau lòng cho những bạn bè đã yêu thương họ..

Ngọc Nuôi mất ngày 23 tháng 9 năm 2002, gần một năm sau khi Việt Hùng ra đi vĩnh viễn. Không biết Ngọc Nuôi có rượt đuổi theo kịp Việt Hùng để gặp lại nhau, nối tiếp cuộc tình dang dở bên kia thế giới hay vẫn chịu cảnh trễ đò, trễ xe như ở kiếp này trên chốn dương trần.

Là người bạn lâu năm của anh Việt Hùng và Ngọc Nuôi trên sân khấu Thanh Minh Thanh Nga, tôi van vái Phật Trời cho hai anh chị gặp lại nhau, yêu nhau và làm thành một đôi vợ chồng hạnh phúc trên chốn Thiên Đình. Tôi tin Việt Hùng, Ngọc Nuôi, Út Trà Ôn, Kim Quang sẽ gặp lại Thanh Nga và Năm Nghĩa, Bà Bầu Thơ họp lại nhau, lập gánh hát Thanh Nga trên chốn Thiên Đình, hát cải lương cho Ngọc Hoàng Thượng Đế và chư tiên xem. Thương nhớ Việt Hùng và Ngọc Nuôi.  (Soạn giả Nguyễn Phương)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

SỐ PHẬN CÁC CON LÝ TIỂU LONG

SỐ PHẬN CÁC CON

CỦA LÝ TIỂU LONG

Cái chết uất ức và cuộc đời sóng gió của Lý Quốc Hào

Báo chí Hoa ngữ từng tốn không biết bao nhiêu giấy mực khi viết về cuộc đời, sự nghiệp của ngôi sao tài năng, bạc mệnh Lý Tiểu Long. Câu chuyện cuộc đời vợ con anh cũng không nằm ngoài sự chú ý này. Trang Daily Hồng Kông từng thu hút sự chú ý từ dư luận khi đăng tải nhiều thông tin đáng quan tâm quanh chủ đề này, trong đó giới thiệu :

“Tiểu Long quen biết Linda Lee Cadwell khi cô còn đang là nữ sinh trung học, còn ngôi sao họ Lý là thầy giáo dạy võ thuật. Mối quan hệ thầy trò nhanh chóng nảy nở thành tình yêu, và năm 1963, hai người chính thức hẹn hò”. 

Năm 1964, Lý Tiểu Long và Linda kết hôn.Thời điểm bước vào cuộc sống hôn nhân, cô gái người Anh mới chỉ tròn 19 tuổi. Cặp đôi sống tại Washington và có hai con : Brandon Lee (Lý Quốc Hào )và Shannon Lee (Lý Hương Ngưng). Suốt gần 10 năm sau đó, Linda trở thành người phụ nữ của gia đình, từng bước chăm chút hậu phương cho chồng, trong khi Tiểu Long thành danh trên con đường sự nghiệp.

Vợ đẹp, con ngoan, bản thân lại là người nổi tiếng, giàu có và được khán giả khắp thế giới hâm mộ, cuộc đời Lý Tiểu Long những tưởng đã hoàn mỹ.Thế nhưng, có lẽ ông trời đúng là không cho ai có tất cả. Sau khi siêu sao võ thuật qua đời vào năm 1973, hưởng dương 32 tuổi cũng là lúc sóng gió bất ngờ ập đến với gia đình, vợ con anh.

Con trai Lý Quốc Hào : Ám ảnh về cái chết của cha suốt thời niên thiếu rồi qua đời uất ức bởi một tai nạn hi hữu.  

Lý Quốc Hào sinh năm 1965, là con trai cả của Lý Tiểu Long. Có người cha cực kì nổi tiếng và giỏi võ, không lạ lùng gì khi chỉ mới chập chững tập đi, Lý Quốc Hào đã bắt chước những động tác đánh đấm của cha. Năm 2 tuổi, cậu bé đã bắt đầu được học các chiêu thức võ thuật đơn giản và nhanh chóng bộc lộ năng khiếu thiên bẩm được kì vọng sẽ chẳng thua kém người cha tài năng. Lý Quốc Hào từng tâm sự : “Cha dạy võ từ năm tôi 2 tuổi. Trong mắt tôi, cha là một anh hùng”.

Cha là siêu sao võ thuật với nhiều mối quan hệ với những tên tuổi lớn nên từ thời còn “tay bồng tay bế”, cậu bé đã được tiếp xúc với nhiều huyền thoại khác, trong đó có võ sư Diệp Vấn.

Phát huy tài năng võ thuật, cậu bé họ Lý tiếp tục “hô mưa gọi gió” ở trường học bởi bản tính hiếu thắng, ngông cuồng của mình. Bà Linda – mẹ cậu không biết phải bao nhiêu lần lên tận trường xin lỗi thầy cô và cha mẹ các bé khác nếu chẳng may bị cậu con tung quyền cước đánh đập, bắt nạt.

Lên tiểu học, người ta cũng thấy tên Lý Quốc Hào là đã chạy xa bởi trước đó, danh tiếng chuyển trường tận 3 lần chỉ bởi những lời phê “ngỗ ngược, quậy phá, vô lễ” của cậu đã lừng danh khắp nơi.

Việc Lý Tiểu Long dạy võ cho Lý Quốc Hào quá sớm cũng là một trong những nguyên nhân góp phần khiến cậu bé trở nên nghịch ngợm và hiếu chiến. Không chỉ vợ mà ngay cả Lý Tiểu Long cũng chẳng biết bao nhiêu lần phải xấu hổ vì cậu con trai cưng. Vì lẽ đó mà anh quyết định sẽ không tiếp tục dạy võ cho cậu nữa mà chỉ tập cho cậu một số chiêu cơ bản để tự vệ.

Mặc dù vậy, Lý Quốc Hào vẫn chẳng hề có ý sửa đổi, thích phản kháng và không vâng lời. Nhiều người nói rằng đó chính là gen di truyền từ Lý Tiểu Long bởi trước đó ông cũng khiến cha Lý Hải Tuyền bao phen vất vả.

Đến năm lên 5 tuổi, Quốc Hào đã được cha mẹ đưa về Hồng Kông. Từ đây, sau những lần xuất hiện trên phim trường, cậu có cơ hội cùng cha tham gia một số bộ phim võ thuật và khiến công chúng ngạc nhiên vì khả năng tung quyền xuất chúng. Từ đó, cả hai cha con đều nổi đình nổi đám và thu hút được nhiều người hâm mộ yêu mến.

Cuộc sống yên bình được vây bởi ánh hào quang của Lý Quốc Hào chỉ tồn tại rất ngắn ngủi. Cái chết bất ngờ của Lý Tiểu Long vào năm 1973 đã khiến cậu con trai vấp phải một cú sốc lớn, dẫn đến tổn thương tâm lí, luôn ám ảnh cậu mãi về sau. Vì sợ cậu con trai duy nhất đi vào vết xe đổ của cha nên bà Linda kiên quyết ngăn cản chuyện học võ.

Thế nhưng bỏ ngoài tai lời khuyên của mẹ, Quốc Hào vẫn tích cực luyện tập và nhanh chóng sở hữu võ công đáng nể. Cậu dù bị ám ảnh bởi cái chết của bố, sốc trầm trọng một thời gian nhưng lại không thể thoát khỏi sự ngưỡng mộ về bố, một con người vĩ đại nhường ấy nên kiên quyết học võ đến cùng.

Người ta nhìn từng động tác, các pha hành động trong phim hay cả bên ngoài đều có chung ý tưởng liên hệ đến Lý Tiểu Long, nhất là thần thái, cách ra đòn và cước bộ điềm tĩnh, vững vàng. Sau này, Lý Quốc Hào cũng tham gia đóng phim và được kì vọng sẽ trở thành một ngôi sao lớn của dòng phim võ thuật như bố. Những tác phẩm điện ảnh đánh dấu tên tuổi và sự nghiệp của Quốc Hào có thể kể đến như Kungfu the Movie, Logacy of Range (1986), Show Down in Lettle Tokyo (1991), Rapid Fire (1992).

Năm 1993, Lý Quốc Hào tham gia bộ phim The Crow, khởi quay tại Wilmington, Bắc California và bị một viên đạn thật bắn trúng người. 12 tiếng sau, các bác sĩ tuyên bố anh tử vong ở tuổi 28. Tai nạn được cho là cực kì hi hữu khi nó được gây ra bởi một khẩu súng đạo cụ. Chẳng biết vì nguyên do gì mà trong nòng súng lại bị lắp đạn thật, khiến Lý Quốc Hào qua đời đầy uất ức trên phim trường.

Con gái Lý Hương Ngưng: Thần đồng âm nhạc quyết tâm từ bỏ đàn ca để nối tiếp sự nghiệp võ thuật dang dở của cha và anh trai.

Khi Lý Tiểu Long đột ngột qua đời tại Hồng Kông vào ngày 20/7/1973, Lý Hương Ngưng (Shannon Lee) mới 4 tuổi nên chưa cảm nhận được sự mất mát nhưng bắt đầu hiểu cuộc sống của mình đã thay đổi. Trong khi anh trai Lý Quốc Hào mải mê với những thế võ thì cô bé Lý Hương Ngưng dành trọn niềm đam mê của mình cho ca hát.

Năm 1976, bà Linda – vợ Lý Tiểu Long tái hôn với nhà văn nổi tiếng Tom Bleecker. Đi bước nữa sau khi Lý Tiểu Long mất chưa đầy 3 năm là quyết định mang tính hi sinh của bà Linda vì muốn 2 đứa con bé bỏng có một gia đình hoàn chỉnh.

Thế nhưng, mong ước của người mẹ đau khổ không được như ý, 2 năm sau, hôn nhân đổ vỡ, 3 mẹ con dắt nhau rời khỏi ngôi nhà cha dượng. Chính biến cố ấy đã khiến Lý Hương Ngưng trở nên mạnh mẽ và trưởng thành hơn lứa tuổi của mình.

Hai năm sau khi anh trai nổi lên từ bộ phim Kungfu The Movie, Lý Hương Ngưng đậu vào trường Đại học Tulane (New Orleans, Mỹ) chuyên ngành Âm nhạc. Cho đến năm 1993, khi cô em gái còn chưa kịp trở về gặp và khen anh trai vì những biểu hiện xuất sắc của anh trên màn ảnh Hollywood, Lý Quốc Hào qua đời trên phim trường vì tai nạn súng.

Cái chết của Lý Quốc Hào khiến bà Linda và Lý Hương Ngưng đau đớn tột cùng. Mặc dù cảnh sát công bố kết quả điều tra cho rằng Lý Quốc Hào đã gặp “tai nạn nghề nghiệp”, bị bắn chết bằng một viên đạn thật trong khẩu súng đạo cụ nhưng Lý Hương Ngưng không tin điều đó. Cô lao vào tìm kiếm chứng cứ để chứng tỏ anh trai bị ám sát chứ không phải bị ngộ sát. Nhiều tháng ròng, Lý Hương Ngưng bỏ công việc, bỏ show diễn chỉ với mong muốn tìm ra hung thủ. Mãi cho đến khi được mẹ hết lời khuyên bảo, cô mới chịu kết thúc việc truy tìm nguyên nhân thật quanh cái chết của Lý Quốc Hào.

Suốt một thời gian sau đó, Lý Hương Ngưng nhốt mình trong phòng riêng, xem đi xem lại nhiều lần những bộ phim của cha và anh trai. Cô phát hiện, Lý Quốc Hào đã thừa hưởng nhiều tố chất của Lý Tiểu Long, đó là ý chí kiên cường và thái độ làm việc chuyên nghiệp cùng tình yêu dành cho võ thuật. Điều này cô đưa ra quyết định mang tính bước ngoặt trong đời khi từ bỏ tất cả những thứ mình đang có, bắt đầu tập võ với mục tiêu trở thành một diễn viên võ thuật giống như cha và anh trai, tiếp nối những gì họ còn đang dang dở.

Quyết định của Lý Hương Ngưng bị bà Linda phản đối kịch liệt.Tuy nhiên cô vẫn kiên định với ước mong nối nghiệp võ thuật để giữ lại phần nào hình ảnh cha và anh trong lòng công chúng. Từng có một thời gian, Hương Ngưng bị dè bỉu, mỉa mai vì động tác ẻo lả, đánh võ như múa, thế nhưng cô chưa bao giờ từ bỏ sự nghiệp nối nghiệp cha anh của mình.

Tháng 8/1994, Lý Hương Ngưng kết hôn với họa sĩ Anthony Ian Keasler.Từ khi có gia đình ổn định, cô dành hết thời gian để thực hiện mong muốn của mình. Năm 1997, Hương Ngưng giành được vai nữ chính trong bộ phim High Voltage của đạo diễn Isaac Florentine.

Một năm sau, cô đi theo bước chân cha, trở về Hồng Kông cộng tác với Hãng phim Gia Hòa, tham gia bộ phim Enter The Eagles do đạo diễn Nguyên Khuê thực hiện, đóng chung với Viên Vịnh Nghi, Trần Tiểu Xuân, Vương Mẫn Đức.Lý Hương Ngưng tạo ấn tượng tốt khi đích thân thể hiện những pha nguy hiểm như nhảy tàu, nhảy lầu, cưỡi mô tô, bắn súng… Nỗ lực không ngừng nghỉ khiến Lý Hương Ngưng dần được công chúng đón nhận.

Sự nghiệp điện ảnh đang khởi sắc, tên tuổi vừa nổi lên nhưng Lý Hương Ngưng nhận thấy dù có cố gắng cách mấy cũng không thể trở thành một ngôi sao phim hành động, vì màn ảnh không dành chỗ cho những nữ anh hùng.

Vì vậy, năm 2002, sau khi hoàn thành tác phẩm She, Me and Her, cô chia tay phim trường, an phận với vai trò làm vợ, làm mẹ. Suốt từ đó đến nay, Lý Hương Ngưng quản lí Quỹ giáo dục Lý Tiểu Long và Hiệp hội phát triển Tiệt quyền đạo, bắt đầu một cuộc sống ổn định sau bao thăng trầm từ thuở ấu thơ đến khi trưởng thành.

Sau cái chết của bố, hôn nhân đổ vỡ của mẹ, sự ra đi của anh trai và nhiều năm “lăn lộn” với phim trường, mãi đến những năm tháng tuổi trung niên, Lý Hương Ngưng dường như mới thực sự có một cuộc sống bình lặng, yên ả. (Thu Ngân theo The thao van hoa)

Phan Tất Đại chuyển tiếp

DIVA THÁI THANH

VÀ CHUYỆN TÌNH

3 NGƯỜI KINH ĐIỂN

Có lần, trong một cuộc phỏng vấn của giới truyền thông hải ngoại, một nhà báo đã hỏi Thái Thanh có hay không mối tình giữa bà và nhà văn Mai Thảo, Thái Thanh đã trả lời :

“Có liên hệ tình cảm khi tôi còn ở với chồng và dù bỏ chồng rồi thì anh Mai Thảo vẫn quý tôi đến cái độ tôi muốn thế nào anh ấy chiều như thế. Nhưng mà tôi cổ lỗ sĩ lắm các ông ạ. Hễ không có cưới là không có ăn ở với nhau”.

Theo cách nói của Thái Thanh thì chuyện họ có một thời yêu nhau là sự thật. Và Thái Thanh sẵn sàng sống phần đời còn lại với Mai Thảo sau một đám cưới, nhưng hình như Mai Thảo đã tránh né. Ông ta chỉ muốn sống như đã từng sống với vài người phụ nữ khác.

Cả ba người – Thái Thanh, Lê Quỳnh và Mai Thảo đều là những nhân vật nổi tiếng thuộc loại hàng đầu trong lãnh vực văn học – nghệ thuật tại miền Nam trước năm 1975. Thái Thanh được mệnh danh là “tiếng hát vượt thời gian”. Giọng hát sang trọng và điêu luyện của bà được xếp trên cả Lệ Thu, Khánh Ly một bậc.

Chồng chính thức của Thái Thanh là diễn viên điện ảnh kỳ cựu Lê Quỳnh. Ông còn là một thiếu ta phi công của quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Do cá tính của mỗi người, cuộc sống hôn nhân của họ không được hạnh phúc, dù đã có với nhau 5 người con. Nhưng kẻ phá bĩnh cuối cùng, như giọt nước làm tràn ly, khiến Thái Thanh – Lê Quỳnh phải chia tay là nhà văn Mai Thảo, trong vai một kẻ trộm tình. Kết thúc “chuyện ba người” này là trận đánh ghen của Lê Quỳnh giành cho Mai Thảo từng gây xôn xao một thời trong giới văn nghệ Sài Gòn.

Cho đến hôm nay, trong lòng những người yêu dòng nhạc tiền chiến và âm hưởng tiền chiến thuộc nhiều thế hệ, vẫn chưa có tiếng hát nào thay thế được Thái Thanh ở sự ngọt ngào, truyền cảm, đầy chất kỹ thuật. Được thiên phú một chất giọng opera trong vắt, nhưng Thái  Thanh lại ảnh hưởng làn điệu dân ca chầu văn, quan họ, chèo… từ thủa nhỏ ở quê nhà, đã tạo nên phong cách đặc biệt của riêng bà.

Gần một thế kỷ, âm nhạc Việt Nam đã cho ra đời nhiều tác phẩm bất tử, gắn liền với những giọng ca sống mãi với thời gian, như trường hợp Giọt mưa thu, Con thuyền không bến của Đặng Thế Phong, Buồn  tàn thu, Đàn chim Việt, Thiên thai của Văn Cao, Nương chiều, Bà mẹ Gio Linh, Kỷ niệm của Phạm Duy… Hầu hết những ca khúc kinh điển này đếu gắn liền với tên tuổi Thái Thanh.

oOo

Thái Thanh tên thật là Phạm Thị Băng Thanh, sinh năm 1934 tại Hà Nội, trong một gia đình gắn bó với âm nhạc. Thái Thanh là em ruột của ca sĩ Thái Hằng (vợ của nhạc sĩ Phạm Duy) và là em gái kế của nhạc sĩ nổi tiếng Phạm Đình Chương (ca sĩ Hoài Bắc). Bà còn có một người anh cùng cha khác mẹ khác là Phạm Đình Viêm (ca sĩ Hoài Trung). Họ đã cùng nhau dựng lên ban hợp ca Thăng Long vang danh một thời.

Không thông qua một trường lớp đào tạo nào cả nhưng Thái Thanh, ngoài năng khiếu bẩm sinh ra, còn được các anh chị rèn luyện từ nhỏ, giọng bà có âm vực rộng, nên thể loại âm nhạc của bà rất phong phú, đa dạng.

Thời kỳ đầu bà theo chị là ca sĩ Thái Hằng tham gia kháng chiến, chuyên biểu diễn phục vụ ở các chiến khu. Nghệ danh Thái Thanh bắt đầu từ đó. Năm 1951, bà theo gia đình chị ruột là Thái Hằng – Phạm Duy vào Sài Gòn lập nghiệp, và tiếp tục ca hát. Thái Thanh trở nên nổi tiếng với những ca khúc tiền chiến được đông đảo quần chúng yêu thích, đặc biệt là giới trí thức. Tiếng hát của bà thống trị phần lớn các chương trình phát thanh, truyền hình và phòng trà ở Sài Gòn suốt hơn hai thập niên, dường như không có đối thủ cạnh tranh.

Người chồng tài tử xi nê

Năm 1956, Thái Thanh kết hôn với Lê Quỳnh, một trong số nam diễn viên nổi tiếng thuộc lớp đầu tiên của điện ảnh miền Nam. Ông sinh năm 1934 tại Hà Nội (bằng tuổi Thái Thanh).

Năm 1952, Lê Quỳnh tốt nghiệp tú tài ban văn chương và gia nhập không quân của quân đội Pháp. Về sau chuyển thành không lực của quân đội Việt Nam Cộng Hòa với cấp bậc sau cùng là thiếu tá. Năm 1954, Lê Quỳnh theo gia đình vào Nam lập nghiệp. Ông không mấy thành công trên con đường binh nghiệp, nhưng cuộc đời diễn viên của ông lại là một chuỗi thành công rực rỡ, kể từ sau 1956 trở đi với hàng loạt vai chính trong các bộ phim tình cảm: Đất lành, Hồi chuông Thiên Mụ, Thiếu phụ Nam Xương, Vụ án tình, Ngàn năm mây bay, Đôi mắt người xưa, 11 giờ 30, Chờ sáng, Mùa thu cuối cùng, Bẩy ngầm…

Ngoài ra, Lê Quỳnh cũng xuất hiện trong vai thứ của một số phim quốc tế như: The Quiet American, A Night Of The Dragon, Transit A Saigon. Năm 1969, Lê Quỳnh bắt tay làm bộ phim Giã từ bóng tối trong vai trò đạo diễn, nhưng không được công chúng đón nhận và đó cũng là phim duy nhất mà ông làm đạo diễn. Cũng có thời Lê Quỳnh mon men bước vào con đường hoạt động chính trường khi ra ứng cử dân biểu quốc hội vào năm 1967 nhưng thất cử.

Lê Quỳnh chung sống với Thái Thanh được 9 năm (1956 – 1965) thì gãy gánh, sau khi đã có với nhau 5 mặt con, mà người con đầu là Lê Thị Ý Lan, sinh năm 1957, hiện là ca sĩ nổi tiếng ở hải ngoại, thường về biểu diễn tại Việt Nam (ca sĩ Ý Lan). Là một diễn viên có nét đẹp rất đàn ông, Lê Quỳnh được mô tả như một gã đa tình, nhưng tính tình lại rất ghen tuông.

Chính vì thế cuộc sống vợ chồng của họ luôn là những tháng ngày đầy sóng gió. Có lần, Thái Thanh đi hát cùng với hai người anh của mình là Hoài Trung, Hoài Bắc. Dù có xe đưa đón, nhưng Lê Quỳnh vẫn âm thầm bám sát để theo dõi, và ông đã ghen với cả người lái xe vì anh ta đã lịch sự mở cửa cho Thái Thanh. Tuy nhiên, việc Lê Quỳnh tặng cho nhà văn Mai Thảo một trận đòn ghen ở phòng trà Bồng Lai năm 1965 thì không phải là chuyện ghen bóng ghen gió.

Mai ThảoKẻ trộm tình”

Thật sự, chuyện Mai Thảo dan díu tình cảm với Thái Thanh là có thật. Sau này, chính Mai Thảo đã gần như dàn trải phần lớn tâm sự thầm kín của mình trong tiểu thuyết Mười đêm ngà ngọc. Cho dù ông không xác nhận, cũng không phủ nhận khi được phỏng vấn, có phải đã viết tác phẩm này cho Thái Thanh hay không, tuy nhiên, hầu hết bạn bè thân thiết của Mai Thảo và người đọc đều biết và thấy rõ bóng dáng của Thái Thanh trong đó.

Vào thời điểm này, vợ chồng Thái Thanh – Lê Quỳnh đang sống cuộc sống gia đình như địa ngục, với những xung đột tiếp diễn hàng ngày, và việc phải chia tay nhau chỉ còn là vấn đề thời gian. Tuy nhiên Mai Thảo vẫn là giọt nước cuối cùng làm tràn ly. Ông ta là nguyên nhân cũng là cái cớ cho màn ly dị với diện mạo của một kẻ trộm tình.

Mai Thảo có tên thật là Nguyễn Đăng Quý, gốc gác ở làng Thổ Khối, huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh, nhưng được sinh ra tại chợ Cồn, xã Quần Phương Hạ, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Cha ông là một nhà buôn giàu có. Thơ ấu, ông theo học trường làng, nhưng khi lên trung học thì chuyển về học trường Chu Văn An, Hà Nội.

Năm 1945, ông rời gia đình vào Thanh Hóa để đi theo kháng chiến. Mai Thảo làm công tác viết báo và tham gia các đoàn văn công đi lưu diễn khắp Liên khu 3, Liên khu Tư và Liên khu Việt Bắc. Đến năm 1951 thì ông bỏ về thành đi buôn theo nghiệp cha.

Năm 1954, ông định cư hẳn ở Sài Gòn, và trở thành một trong những nhà văn nổi tiếng. Suốt đời Mai Thảo chưa một lần có vợ, nhưng già nhân ngãi non vợ chồng thì không kể hết. Ông được những bằng hữu thân thiết mô tả như một tay chơi có hạng, từng một thời không đêm nào là không có mặt tại vũ trường, sống trong trùng vây của rượu và gái.

Điều này, cũng được chính Mai Thảo viết rõ trong truyện Một đêm thứ bảy. Nhưng tiền ở đâu ra để Mai Thảo có thể ăn xài như một thiếu gia công tử ? Hãy nghe lời nhà thơ Thái Thủy, một người bạn thân của Mai Thảo nói về trường hợp này: “Văn nghệ sĩ Bắc Hà vào Nam được các cơ quan IRC, Asia Foundation và USIS của Hoa Kỳ giúp đỡ lập ra tờ Sáng Tạo và anh Mai Thảo làm chủ nhiệm. Thời bấy giờ Mai Thảo có khả năng tài chánh, viết nhiều feulletons ăn khách, và tờ Sáng Tạo được tài trợ vững. Anh có xe hơi Fiat hiệu Austin, có nơi ăn chốn ở, có danh vọng trong giới văn học và nổi tiếng ăn chơi hào phóng”.

Một trong những người phụ nữ đã chung sống với Mai Thảo nhiều năm là một cô vũ nữ xinh đẹp tên Cúc, hoa khôi của vũ trường Tự Do. Ngoài Cúc ra, vũ trường này còn có Mỹ (Mỹ “Khùng”) là một cặp bài trùng, thuộc hàng đào nhất ở đây. Có tiền, Mai Thảo vừa ăn ở với cô Cúc, nhưng lại lén lút trăng hoa với Mỹ “khùng”.

Nhưng theo nhà văn Văn Quang, thì nàng Cúc không biết gì về văn học nghệ thuật, không hiểu giá trị văn chương và có thể chẳng hề đọc Mai Thảo. Ông viết về mối tình này của bạn mình chỉ là tình yêu ma quái vũ trường chập chờn dưới ánh đèn màu lung linh và sóng nhạc dập dềnh. Cuộc tình chẳng mặn mà, chỉ là một kết hợp theo nhu cầu.

Tờ Sáng Tạo hết tài trợ thì nàng ra đi, được tài trợ thì nàng trở về, nhưng cũng chẳng kéo dài được ba năm. Và rồi, Mai Thảo tìm đến Thái Thanh, để biến thành một cuộc tình tay ba, giữa ba con người nổi tiếng, từng gây xôn xao dư luận một thời. Mai Thảo và một số bạn bè của ông ngụy trang cho tình yêu ngoài luồng này bằng cụm từ “tình yêu nghệ thuật”, “tình yêu ngà ngọc”.

Nhưng theo nhà thơ Thái Thủy thì: “Cuộc tình giữa Mai Thảo và danh ca Thái Thanh không phải là ngà ngọc mà chỉ là lãng mạn”. Điều này có thể đúng với tính chất của Thái Thanh vào thời điểm hạnh phúc gia đình đang bên bờ vực thẳm, đang rất cần một chỗ dựa tinh thần. Nhưng không thể đúng với một gã đàn ông như Mai Thảo.

Đánh ghen bằng nhẫn sắt

Cuối cùng, chuyện vụng trộm của Mai Thảo – Thái Thanh bị Lê Quỳnh phát hiện, ông đã kết thúc mọi việc bằng một trận đòn ghen vào một buổi tối thứ bảy năm 1965, tại phòng trà Bồng Lai. Lúc bấy giờ, Mai Thảo đang ngồi uống rượu với một vài bạn hữu thì Lê Quỳnh xuất hiện. Ông đã giáng một cú đấm như trời giáng vào mặt Mai Thảo nhưng trượt xuống vai.

Tiếp đến là bàn tay được Lê Quỳnh võ trang bằng chiếc nhẫn sắt để tặng cho Mai Thảo một vết sẹo trên má, rồi rút êm. Nếu không có quyền lực của ông  Nguyễn Cao Kỳ can thiệp, vì quý mến Thái Thanh, muốn giữ danh dự cho bà thì báo chí lúc bấy giờ đã làm rùm beng chuyện này lên rồi.

Sau sự cố này, Lê Quỳnh đã tỏ ra hối hận và tìm cách chuộc lỗi với Thái Thanh để tiếp tục chung sống. Nhưng Thái Thanh đã cương quyết từ chối. Sau khi hai người ly dị, ai cũng tưởng Thái Thanh sẽ đến với Mai Thảo, nhưng tất cả đã không diễn ra như thế. Có lẽ trong thời gian yêu nhau, Thái Thanh đã hiểu rõ hơn con người Mai Thảo, dù là một nhà văn nổi tiếng, nhưng ông ta chỉ là một người tình lang chạ và tất nhiên sẽ không bao giờ là một người chồng tốt. Sau đó, Thái Thanh thành hôn với dân biểu Trần Quý Phong, chủ khách sạn Catinat.

Thái Thanh ngày nay

Bây giờ thì cả Lê Quỳnh, Mai Thảo đều đã thành người thiên cổ, và tiếng hát vượt thời gian Thái Thanh cũng qua ngưỡng cửa 80. Tất cả đã chìm vào quá khứ theo thời gian. Và những thăng trầm cuộc sống đã làm cho người ta lãng quên cho dù đó là chuyện tình giữa ba con người nổi tiếng.

Yên Huỳnh chuyển tiếp

NHỮNG CA KHÚC THÁI THANH TRÌNH BÀY :

1) CHUYỆN TÌNH BUỒN 2) ĐẠO CA 8 – GIỌT CHUÔNG CAM LỘ

3) ĐẠO CA 9 – CHẮP TAY HOA 4) NGÀY XƯA HOÀNG THỊ

5) RU TA NGẬM NGÙI 6) TẠ ƠN ĐỜI 7) TIẾNG HÁT TO 8) TÌNH SẦU DU TỬ LÊ

9) TÌNH HOÀI HƯƠNG 10) CỎ HỒNG 11) NGÀY XƯA HOÀNG THỊ

12) DÒNG SÔNG XANH 13) TÌNH CA 14) HOÀI CẢM