TÌM HIỂU VỀ MẠI DÂM SÀI GÒN

LUẬN ÁN TIẾN SĨ

VỀ MẠI DÂM 

Kimberly Hoàng, tốt nghiệp tiến sĩ Xã hội học tại UC Berkeley năm 2011, đã được Hội Xã hội học Mỹ trao giải “luận án hay nhất” cho luận án tiến sĩ về mại dâm tại Việt Nam.

Luận án tựa đề Tính kinh tế của tình dục và chăn gối tại Việt Nam, là công trình 15 tháng nghiên cứu về dân tộc học tại TP Saigon; tại đây TS Kimberly Hoàng đã làm việc như một chiêu đãi viên tại bốn quán bar phục vụ cho các nhóm khách hàng khác nhau. Theo giáo sư xã hội học Berkeley Raka Ray, chủ tịch ủy ban luận án, nghiên cứu của Kimberly Hoàng “không những chỉ làm nổi bật là cấu trúc và cách hành nghề mại dâm ở Việt Nam mà còn giải thích mại dâm giữ vai trò quan trọng như tiền mặt trong nền kinh tế chính trị của Việt Nam.”

Trong lá thư đề cử, GS. Ray gọi luận án “Tính kinh tế của tình dục và chăn gối tại Việt Nam” là “một tác phẩm tuyệt vời” của “một nhà tư tưởng can đảm và sáng tạo” và ông nói thêm rằng TS. Hoàng “nghiên cứu điền dã ít người dám thực hiện”.

Kimberly Hoàng là con gái trong một gia đình di cư, chủ tiệm bi-da trong khu phố cũ, tốt nghiệp danh dự tại đại học UC Santa Barbara năm 2005 rồi lấy Thạc sĩ tại đại học Stanford trước khi đến học ở Berkeley. Hiện nay TS. Kimberly Hoàng là một nghiên cứu sinh sau tiến sĩ tại Trung tâm Nghiên cứu Giới tính, Phụ nữ và Tình dục tại Đại học Rice; TS. Hoàng sẽ giảng dạy tại Khoa Xã hội học tại Boston College vào năm 2013.

Giải thưởng của Kimbery Hoàng sẽ được trao vào tháng Tám tại cuộc họp thường niên của Hội Xã hội học Hoa Kỳ (The American Sociological Association, ASA).

TIỀN, SEX VÀ TÌNH YÊU

Nạn buôn người và sự liên hệ giữa HIV và mại dâm tại Việt Nam đã được nói đến nhiều. Mới tháng Sáu năm nay, Bộ Ngoại giao Mỹ ra báo cáo, đưa Việt Nam vào danh sách loại 2 (cần được theo dõi). Trên thế giới, cả người theo quan điểm bảo thủ lẫn tự do đều cố gắng quyên tiền, xây dựng các tổ chức phi chính phủ (NGO) để cứu những phụ nữ bị buôn bán qua biên giới hoặc bị bắt bán dâm.

Tuy vậy, sự tập trung quá mức vào vấn nạn buôn người ở Việt Nam khiến chúng ta có thể bỏ qua cuộc sống của những cô gái không bị ép làm nghề bán dâm. Bài viết của tôi muốn hé lộ cuộc sống của những phụ nữ tự nguyện làm nghề bán dâm ở Việt Nam, và quan sát những người đàn ông – địa phương và nước ngoài – hưởng thụ sex.

Khách hàng thay đổi

Trong thập niên đầu tiên kể từ sau Đổi mới 1986, nền kinh tế Việt Nam chứng kiến tiền kiều hối của Việt kiều tăng vọt. Ví dụ, thống kê năm 2005 của Ngân hàng Thế giới cho biết Việt Nam nhận gần 4 tỉ đôla kiều hối, chiếm 8% GDP đất nước. Luồng vốn và nhân lực nước ngoài đổ vào đất nước cũng gia tăng. Báo chí cũng tường thuật rằng đến năm 2009, nguồn vốn chủ yếu đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam đã chuyển từ Mỹ, châu Âu sang các nước châu Á như Đài Loan, Nam Hàn, Malaysia, Nhật Bản, Singapore.

Những thay đổi kinh tế vĩ mô này đã biến đổi cấu trúc nền kinh tế Việt Nam, và cũng ảnh hưởng cả ngành công nghiệp tình dục. Các khu vực mới trong ngành công nghiệp sex xuất hiện khi mà khách hàng nam giới cũng có những đổi thay về giai cấp và chủng tộc.

Ví dụ, giai đoạn 2006-07, tôi phát hiện rằng khách hàng trả tiền cao nhất chủ yếu là Việt kiều hưởng thụ trong khi về Việt Nam chơi hay thăm gia đình. Điều này không ngạc nhiên vì khi đó, tiền kiều hối còn cao hơn FDI.

Nhưng đến năm 2009, khu vực cao giá nhất trong ngành công nghiệp sex lại quay sang phục vụ các doanh nhân người Việt trong nước và châu Á. Trung bình một tháng họ bỏ ra 15000- 20000 đôla ở các quán bar cao cấp. Những quán bar này chỉ có hệ thống karaoke bình thường, nhưng điều duy nhất đưa chúng lên thành cao cấp là loại rượu whisky, Johnny Walker, Blue Label. Các cô phục vụ cũng bán dâm cho nhiều khách hàng, và có thu nhập trung bình 2000 đôla một tháng nhờ tiền boa, và khoảng 150 – 200 đôla cho mỗi lần qua đêm với khách.

Trao đổi với các cô gái, tôi nhanh chóng nhận ra là rất ít cô ở Sài Gòn xem mình là bị bắt đi bán dâm. Thực tế, nhiều cô gái nói rõ là họ xem công việc này còn ít bị bóc lột hơn là nghề bồi bàn, giúp việc hay làm trong xưởng may.

Những cô gái ở quê sợ sệt hay chậm chạp mới phải đi làm nhà máy, kiếm 700.000 đồng một tháng.

Vân, một cô gái bar

Vân, một cô gái 24 tuổi, nói : “Những cô gái ở quê sợ sệt hay chậm chạp mới phải đi làm nhà máy, kiếm 700.000 đồng một tháng. Họ sẽ luôn nghèo vì không đủ dũng cảm hay thông minh để đổi đời”. “Những người thông minh bỏ nhà máy, đi làm ở bar vì số lương kia họ kiếm được chỉ sau một giờ, và khách hàng đối xử còn đàng hoàng hơn ông chủ nhà máy.”

Các quán bar cao cấp là không gian nơi đàn ông trong nước chứng tỏ cho đối tác Á châu thấy rằng mặc dù Việt Nam là đất nước nhỏ, nước này cũng là dân chơi máu mặt trong nền kinh tế toàn cầu. Sau khi nốc sáu chai whisky, Thắng, một doanh nhân 56 tuổi, giải thích : “Thời kỳ Việt kiều đã qua rồi. Dân trong nước nay đi xe Bentley giá nửa triệu đôla. Khi dân Việt Nam đã chơi, thì còn dữ hơn dân Á châu hay Việt kiều.”

Cho dù doanh nhân trong nước và Á châu chiếm lĩnh khu vực cao giá nhất của ngành công nghiệp sex, đàn ông Việt kiều cũng không kém mấy. Khách hàng Việt kiều thường đến các club mở cho công chúng. Bên trong là bàn ghế để ngồi, uống rượu, có khi xem nhạc sống và mời các cô PG (promotion girl) đến bàn. Đêm đến, khách hàng có thể chèo kéo một cô gái nào đó qua đêm với giá chừng 100 đôla.

Công việc ‘thực sự’

Một buổi tối ở quán bar vắng khách, tôi nói chuyện với các cô về nghề của họ. Tôi hỏi họ có muốn tìm nghề khác không. Yến, 23 tuổi, nói : “Em xem đây là công việc thực sự. Nếu phục vụ trong nhà hàng hay quán cà phê, chỉ được khoảng 4 triệu đồng một tháng. Số tiền đó hai đêm ở đây là được, mà lại còn vui hơn. Em được gặp bao nhiêu người từ khắp thế giới.”

Thoại, 24 tuổi, nói them : “Người ta nghĩ em hẳn phải ngu lắm, em làm nghề này vì không tìm được việc. Nhưng ở đây em kiếm nhiều tiền hơn, thế ai ngu hơn ? Khi em mới tới Sài Gòn, em làm ở xưởng có lương 1 triệu đồng một tháng. Ở Sài Gòn, lương vậy sao mà sống ?”

Cũng có những quán bar phục vụ người Tây phương làm việc ở Việt Nam và du lịch ba lô. Chúng khác với các quán cho dân trong nước và Việt kiều ở chỗ đàn ông ở đây có thể mua bia rẻ tiền chỉ có 2 đôla. Năm 2007, tôi gặp Linh, 22 tuổi, làm ở khu dành cho các nhóm du lịch ba lô. Khi ấy, cô có quan hệ với 3 người khác nhau. Họ gửi tiền cho cô hàng tháng, rồi lại cả một khoản lớn để mở cửa hàng, giúp cô nuôi người cha đau yếu. Khi được hỏi cô có yêu người nào không, cô nói: “Khi mới vào nghề, em còn trẻ, không khôn ngoan lắm. Tôi yêu dễ dàng và rồi đau khổ. Nay em muốn thay đổi đời mình trước tiên, yêu là chuyện đi sau.”

Tình yêu

Vài tháng sau, Linh giới thiệu cho tôi gặp James, một người đàn ông 60 tuổi về hưu từ Úc. Tôi ngạc nhiên khi biết ông ta không chỉ tìm kiếm sex. Ông muốn yêu một cô gái mà ông mô tả là “trung thực, chăm làm, nhưng mắc kẹt ở đất nước thế giới thứ ba không có nhiều cơ hội.” James không đề cập chuyện lấy tiền đổi sex, mà ông xem quan hệ với Linh dựa trên tình yêu thật. Ông cũng tin rằng cô ấy yêu ông. Ông bày tỏ niềm tin rằng ông sẽ là người “cứu” cô ra khỏi cuộc đời làm gái bar.

Hai năm sau, 2009, Linh và James kết hôn và cô được cấp visa di cư sang Úc. Ở buổi tiệc chia tay, tôi hỏi : “Em có yêu anh ta không ?”.

Cô trả lời : “Tụi em vất vả lắm để có visa, và ảnh rất cố gắng. Nay em yêu ảnh. Trong đời này hên sui thôi, em cảm thấy rất may mắn.”

Quan hệ của Linh và James minh họa cho cách mà các cô gái bán dâm đã có ý thức vượt qua lằn ranh giữa chuyện “ăn bánh trả tiền” và góc cạnh thân mật hơn. Những phụ nữ có vẻ yếu ớt lại có thể lợi dụng hệ thống áp bức họ, có lợi nhờ mối liên hệ đa quốc gia. Công việc bán dâm đôi khi chuyển hóa thành quan hệ thân mật, và nếu họ “may mắn”, họ còn có thể có những tình yêu chân thật.

Về tác giả : Kimberly Hoang là nghiên cứu sinh Khoa Xã hội học, Đại học California tại Berkeley. Cô viết riêng bài này cho BBC Việt ngữ, dựa trên bài nghiên cứu học thuật dài hơn đã đăng trên tạp chí Sexualities tháng Tư 2010.

KHI BỨC MÀN NHUNG

ĐÃ KHÉP

– Soạn giả Nguyễn Phương

Nhân đây, Nguyễn Phương xin phép được giới thiệu những thành tích tốt có tẩm vóc quốc tế của giới nghệ sĩ cải lương : Đó là việc Hội nghệ sĩ ái hữu tương tế lập ngôi chùa nghệ sĩ, nghĩa trang nghệ sĩ và viện dưỡng lão nghệ sĩ cải lương ở Việt Nam.

Tôi dùng mấy chữ Tầm Vóc Quốc tế không phải để nói là ba công trình kiến trúc đó lớn rộng hay nguy nga, ngang tầm với những kiến trúc nổi tiếng trên thế giới, tôi chỉ muốn nhấn mạnh ở điểm là những công việc như xây chùa nghệ sĩ, lập nghĩa trang nghệ sĩ và viện dưỡng lão nghệ sĩ cải lương thì trên thế giới chưa có nghệ sĩ nước nào làm, chưa có một giới nào thuộc về ngành nghề khác làm được.

Nghệ sĩ cải lương chịu ảnh hưởng sâu đậm tính chất chơn chất của người dân miền đồng bằng sông Cửu Long, trong những thập niên 30, 40, 50, sống tập trung thành một đoàn hát, lưu diễn tha phương cầu thực, thu nhập bất định, cuộc sống khó khăn và thường bị ức hiếp, do tính chất sinh hoạt nghề nghiệp và sinh sống giống như người nông dân khi xưa đi khai hoang lập ấp nên nghệ sĩ cải lương mang tâm trạng khí khái của người xưa, thích làm việc nghĩa theo kiểu “kiến nghĩa bất vi vô dõng giả, lâm nguy bất cứu mạc anh hùng” người nghệ sĩ thiết thực trong việc tương thân tương ái với nhau nên khi có điều kiện lập nên Hội Nghệ Sĩ Ái Hữu Tương Tế, thì theo sau hoạt động của Hội Ái Hữu là việc nghệ sĩ giúp đở nhau khi sống, lúc đang còn hành nghề cũng như khi không còn hành nghề được vì già yếu neo đơn hay bịnh tật.

Ngay khi nghệ sĩ từ trần, việc giúp cho có chổ được yên mồ yên mã cũng là hành động biểu hiện một tinh thần tôn sư trọng đạo, một tình cảm thắm thiết giữa đồng nghiệp với nhau. Người nghệ sĩ thờ phụng Tổ Nghiệp. Tổ nghiệp sân khấu cũng là một dạng với đạo phật, vậy nên khi sống thì Tổ nghiệp độ cho nghệ sĩ hành nghề, khi chết thì Phật độ cho nghệ sĩ siêu thoát, vậy nên nhà thờ Tổ nghiệp và chùa nghệ sĩ là hai nơi linh thiêng cần thiết cho tâm hồn và linh hồn của người nghệ sĩ cải lương.

Còn nhớ ngày 19/4/1948, Bộ Nội Vụ Việt Nam Cộng Hòa cấp giấy phép cho thành lập Hội Nghệ Sĩ Ái Hữu thì Hội bầu nên Ban Trị Sự, tổ chức hát Hội để có một ngân quỹ xây dựng một Hội quán khang trang làm cơ sở chánh thức để hoạt động, gây quỹ cứu trợ nghệ sĩ bị bịnh tật hay tai nạn và và tổ chức cúng giỗ Tổ hàng năm để nghệ sĩ đoàn kết gắn bó với nhau.

Chùa Nhật Quang Tự

Cuối thập niên 60, bà Hội Trưởng Phùng Há vận động Hội Đua Ngựa Trường Đua Phú Thọ giúp tiền để mua một lô đất 6,080 thước vuông, tọa lạc tại xã Hạnh Thông Tây, Gò Vấp để xây chùa nghệ sĩ và lập nghĩa trang nghệ sĩ.

Các nghệ sĩ các đoàn hát tình nguyện hát không nhận thù lao trong các buổi hát Hội để lấy tiền xây chùa và lập nghĩa trang. Các nhà Mạnh Thường Quân và người ái mộ nghệ sĩ cũng hưởng ứng lời kêu gọi của bà Phùng Há và Hội Nghệ Sĩ nên đóng góp cho quỹ của Hội được khá dồi dào.

Năm 1972, Chùa được xây cất xong với tên là Nhật Quang Tự, ngoải cổng vào nghĩa trang có hai câu liểng :

Nhựt Nguyệt Định Hành Đồng Nhứt Lý,

Quang Minh Kỳ Diệu Chuyễn Luân Hồi.

Lấy hai chữ đầu trong câu liểng nầy làm tên chùa Nhật Quang Tự. Sư trụ trì đầu tiên là Thích Quảng An tức ông quản lý gánh hát Lê Minh Công, đi tu với pháp danh là Thích Quảng An. Chùa có một Ban Trị Sư do ông Bầu Thới bầu gánh hát Thái Bình được bầu vào Trưởng Ban Trị Sư để giúp sư Thích Quảng An trong việc quản trị chùa và nghĩa trang.

Vị sư kế tiếp sư Thích Quảng An là hòa thượng Thích Quảng Minh tức là nghệ sĩ Thanh Tao đi tu với pháp danh Thích Quảng Minh. Nhưng vì hòa thượng Thích Quảng Minh đọc kinh kệ, tiếng rất trong, rất hay như ca vọng cổ nên đồng bào phật tử đến cúng chùa và viếng cảnh chủa ngày một đông đão.

Đồng bào phật tử của Nhật Quang Tự thích gọi hòa thượng Thích Quảng Minh là Thích Thanh Tao. Nhà sư cũng hỉ xã chấp nhận tục danh của các bổn đạo của chùa ban cho, khi thì ông là hòa thượng Thích Quảng Minh, khi được gọi là hòa thượng Thích Thanh Tao, ông cũng mô phật rồi cười.

Nghĩa trang nghệ sĩ từ 1972 đến nay đã là nơi an táng mộ phần của hơn 440 cố nghệ sĩ cải lương của ba, bốn thế hệ nghệ sĩ. Ngoài các ngôi mộ kể trên, trong ngôi tháp đựng cốt, tôi đếm được 380 hủ hài cốt nghệ sĩ được hỏa táng, trong số đó có hủ cốt của các nghệ sĩ mất nơi nước ngoài như Tư Út (ở Nam Vang) Hữu Phước (ở Pháp), Hùng Cường (ở Mỹ)…

Tôi quay phim toàn cảnh chùa nghệ sĩ và nghĩa trang nghệ sĩ, tôi chụp ảnh từng ngôi mộ nghệ sĩ trong nghĩa trang : Vì tôi viết về nghệ sĩ và nghệ thuật sân khấu nên tôi cần biết rõ ràng và chắc chắn ngày tháng và năm sanh cũng như ngày tháng và năm tử của nghệ sĩ.

Những nhà nghiên cứu lịch sử nghệ thuật cải lương miền Nam có thể đến Chùa và nghĩa trang nghệ sĩ ở Gò Vấp để viếng cảnh và tìm tài liệu. Trên một vách chùa có khuôn hình rộng lớn để hình ảnh, tên tuổi, ngày tháng năm sinh và ngày tháng năm mất, quê quán của hơn bốn trăm nghệ sĩ được mai táng nơi đây. Ngoài ra có một tấm bản đồ ghi rõ những hàng mộ để giúp khách viếng chùa và thăm mộ dễ dàng tìm đến ngôi mộ mà mình muốn đến thắp nhang.

Tôi thấy trong số các ngôi mộ nghệ sĩ tiền phong có mộ của các anh Ba Vân, Tám Danh, Tám Cũi, Năm Đồ, Thanh Tao, Bảy Cao, Năm Kim Thoa, Hề Lập, Năm Châu, bà Bảy Phùng Há.. mộ các soạn giả Hà Triều, Hoa Phượng, Hoàng Việt, Ba Giáo, Duy Lân, Duy Chức, ca sĩ Thành Công, Chín Sớm, hề Phúc Lai, Hề Minh, nghệ sĩ Túy Định,…Còn nhiều lắm, …

Nhà dưỡng lão nghệ sĩ

Nhà dưỡng lão nghệ sĩ nằm khuất sâu trong hẻm nhỏ đường Âu Dương Lân Q8, có vòng rào, bên ngoài có bảng lớn đề : Nhà dưỡng lão nghệ sĩ. Căn nhà hai tầng lầu, khang trang, chia làm nhiều phòng nhỏ, mỗi phòng cho một nghệ sĩ, đủ để một cái giường một chổ nằm,một tủ nhỏ để đựng đồ đạt, áo quần.

Nhà dưỡng lão có một phòng khách rộng, dùng làm nôi hội hợp, đón khách tới viếng thăm, có bàn ghế để nghệ sĩ dưỡnbg lão ngồi đọc sách, viết thư hoặc để tiếp bạn hữu. Sân chung quanh ngà dưỡng lão khá rộng, trồng nhiều cây kiểng, có nhiều hàng ghế, băng bằng đá mài do những nhà hảo tâm tặng.

Trên các tặng vật : cây kiểng hay bàn ghế bằng đá mài đều có bảng ghi tên nhà hảo tâm đã tặng. Bên ngoài có một bụt cây dùng làm sân khấu cho những đêm ca tài tử Đêm Rầm Cổ Nhạc do các nghệ sĩ lão thành trong viện đờn ca, vừa giúp vui dân chúng trong xóm, vừa để đở nhớ nghề. Tiền boa tặng cho ca sĩ trong đêm hát được tập trung lại dùng trong việc sữa chửa nhà dưỡng lão khi cần thiết. Trên bảng đen sát vách sau bụt diễn, ai đó đã ghi bằng phấn trắng bốn câu thơ :

Buông bức màn rồi danh vọng hết,

Người về lòng rũ sạch sầu thương

Người vào cởi áo lau son phấn

Trả cả vinh hoa lẫn đoạn trường.

Người về là nói về khán giả, người vào là nói về nghệ sĩ, người về và người vào là những khách trong cõi vô thường, có có không không, như hành vân lưu thủy, mây bay nước chảy, thoáng thấy đó bỗng nhiên mất đó.

Nghệ sĩ trong viện dưỡng lão hiện nay có các cô Đoàn Thiên Kim, Kiều Thu, nghệ sĩ Thanh An, Thành Phát, Tám Lang, cô nhạc sĩ piano Ngọc Bê, Lệ Thẩm, bà Bạch Yến, hoạ sĩ Hoài Nam, hề Trường Sơn, quản lý Trường Sinh, ông Tám Hậu Đài, hề Nam Thanh, Tuyết Nga, bà Tô, bà Tám y trang, Minh Viễn…… Các cố lão nghệ sĩ từng ở Viện dưỡng lão và mất ở viện như bà Ba Vân, nghệ sĩ Mai Lan Phương Ngọc Chiếu, Bà Ba Sanh, Văn Sa, Sáu Ngọc Sương,…

Những lão nghệ sĩ nầy đã có một thời đêm đêm đem lời ca tiếng hát mua vui cho khán giả bốn phương, cuộc đời vô định nổi trôi đây đó nhưng niềm vui dưới ánh đèn sân khấu đã an ủi họ và mặc nhiên cho họ tự nhận kiếp tầm phải trả nợ dâu.

Giờ đây tuổi già sức yếu, giọng hát đã khan, nhan sắc đã tàn, cuộc đời về chiều trong cảnh cô đơn đói nghèo, họ gặp lại nhau trong tâm cảnh đồng hội đồng thuyền. Tiếng hát của họ trong các Đêm Rằm Cổ Nhạc tổ chức tại Viện Dưỡng Lão nghệ sĩ còn được tiếng vổ tay cổ võ của số khán giả hiếm hoi trong xóm nhỏ đủ gợi lại cho họ những hình ảnh rực rở của một thời hoàng kim sân khấu đã qua rồi.

Màn nhung sân khấu đã khép lâu rồi, nghệ sĩ dưỡng lão chờ màn nhung cuộc đời của họ sẽ khép trong một tâm thần cam chịu số phận hẩm hiu. (theo Nguyễn Phương)

TÌNH NGƯỜI NƠI

NHÀ DƯỠNG LÃO NGHỆ SĨ Q.8

Nằm trong một con hẻm nhỏ cuối đường Âu Dương Lân, quận 8, là một ngôi nhà tuềnh toàng trên mảnh đất rộng khoảng 600m2, xung quanh rợp bóng cây. Ngôi nhà đơn sơ nhưng là nơi trú ngụ của khoảng 30 con người đã từng một thời vang bóng trên sân khấu và nghệ thuật các bộ môn khác. Họ là những nghệ sĩ tài danh, một thời được rất nhiều người ngưỡng mộ, khi cuối đời phải sống nhờ vào mái ấm này và vui cùng bạn diễn cũ …

Hào quang… một thời ! 

Một trong những người vào nhà dưỡng lão này từ những ngày đầu tiên chính là nữ nghệ sĩ Nguyễn Thị Thẩm, nghệ danh Lệ Thẩm. Bà sinh năm 1937 tại Bạc Liêu. Ngay từ lúc được 4-5 tuổi, Lệ Thẩm đã đi hát và 17 tuổi đã là đào chánh trong các đoàn hát lớn và năm 17 tuổi là bà bầu của đoàn cải lương Nhị Hương – Tuấn Sĩ. Từ thời đi diễn, nghệ sĩ Lệ Thẩm đã từng thành danh qua các vở “Ánh nắng chiều xưa”,”Cô gái áo vàng”, “Lương Sơn Bá – Chúc Anh Đài”…

Vóc dáng đẹp và giọng ca khoẻ, Lệ Thẩm luôn là thần tượng của bao nhiêu người, thế nhưng về cuối đời bà lại không nơi nương tựa. Giọng bà đượm buồn : “Ngày xưa có được mọi thứ nhưng không giữ được. Bây giờ vào đây, nhờ sự giúp đỡ của các vị mạnh thường quân mới có được cơm ngày 2 bữa… Đơn giản nhưng quá vui rồi…!”.

Chúng tôi còn gặp được một nghệ sĩ tài hoa và là một nhân chứng lịch sử đặc biệt còn sót lại của sự kiện khi đoàn Kim Thoa đang hát vở “Lấp Sông Gianh” tại rạp Nguyễn Văn Hảo (nay là rạp Công Nhân ở Q1) vào tối 19/12/1955 đã bị lính Diệm ném lựu đạn, vì vở diễn nói lên sự yêu nước. Nhân vật đặc biệt ấy chính là nữ nghệ sĩ Thiên Kim, tên thật Đoàn Thiên Kim, sinh năm 1934 tại Sài Gòn.

Thiên Kim đã theo gia đình đi hát và lần lượt là đào thương cho các đoàn: Kim Thoa, Năm Châu, Nam Hồng, Lam Sơn, Sóng Mới, Tiếng Chuông, Bích Thuận… và tên tuổi nổi danh từ đó.

Hơn 50 năm trôi qua, nhưng người nghệ sĩ nay đã 72 tuổi này vẫn nhớ như in kỷ niệm đau buồn ngày nào, đó là vào đêm 19-12-1955 đang hát bị ném lựu đạn. Mảnh đạn đã khiến 3 người chết, đó là nghệ sĩ Ba Hương, nhà báo Nguyễn Mai và anh Phiên, vệ sĩ của đoàn. Còn nghệ sĩ khác thì bị đạn cắt đứt 1 chân, Thiên Kim cũng bị mảnh đạn găm trên người, vết tích vẫn còn đến nay…

Người vào nhà dưỡng lão nghệ sĩ… mới nhất là nam nghệ sĩ Thanh An, quê ở Bến Tre, năm nay ông đã 73 tuổi. Tuy đã bước sang tuổi “cổ lai hy” nhưng nghệ sĩ Thanh An vẫn còn giọng ca dài và khoẻ. Ông khoe vừa đi hát từ thiện về. Ông cho biết, đã theo nghề từ năm 17 tuổi. Ông có 9 năm kháng chiến chống Pháp và sau 1954 thì đi hát cho các đoàn lớn như : Út Bạch Lan – Thành Được, Hương Mùa Thu, Thanh Minh – Thanh Nga, Dạ Lý Hương… Nghệ sĩ Thanh An cũng nổi tiếng trong các vở “Khi rừng mới sang thu”, “Con cò trắng”, “Vàng sáu, bạc mười” và “Lan huệ sầu ai ?”… Sau 1975, nghệ sĩ Thanh An đã theo đoàn cải lương Tiếng ca đất Mũi phục vụ các tỉnh Minh Hải, Cà Mau, Bạc Liêu và từ năm 2000 thì ông trở về thành phố…

… sau khi rời sân khấu 

Khi chúng tôi đến thăm nhà dưỡng lão thì các nghệ sĩ đang quét sơn lại ngôi nhà của mình. Hăng hái nhất chính là kép độc Hoàng Nô, người đã từng là “vua, chúa” trên sân khấu. Ông mải mê công việc như một thợ sơn chuyên nghiệp, đôi lúc lại quay sang chọc các bạn diễn cũ sơn chậm. Hỏi ông có học ngày nào không mà sơn tường giỏi vậy thì ông cho biết : “Sơn nhà cũng giống như vẽ mặt trước khi lên sân khấu ngày trước ấy mà”. Ông cho biết ban quản lý tính bỏ ra mấy triệu đồng để thuê người quét sơn nhưng các nghệ sĩ đã tự nguyện làm công việc này và đây cũng là dịp họ không muốn mọi người quên lãng… vì mình đã già rồi !

Trong câu chuyện, chúng tôi được biết vì không muốn bị mọi người… lãng quên mà các nghệ sĩ như Thiên Kim, Lệ Thẩm, Thanh An dù đã qua tuổi 70 nhưng đều chọn giải pháp… đi đóng phim để được trở lại là chính mình và có thêm nguồn thu nhập.

Nổi tiếng đóng phim nhiều vai từ bà ngoại, bà nội cho đến bà vú, quản gia… là nữ nghệ sĩ Thiên Kim. Bà đã tham gia rất nhiều phim như : Võ sĩ bất đắc dĩ, Những đứa con thành phố, Mảnh vỡ, Người bất hạnh, Cạm bẫy… Gần như năm nào bà cũng được xuất… trại đi đóng phim.

Khi tiếp chúng tôi bà còn khoe : “Đạo diễn Lê Cung Bắc vừa gọi điện bảo chuẩn bị đi quay tiếp một phim rồi về ăn tết. Và cũng đang chuẩn bị đây”. Riêng nghệ sĩ Thanh An có lẽ hợp với các vai ông già nên đã được đạo diễn Nguyễn Mạnh Tuấn ưu ái mời vào vai ông già trong 3 bộ phim khác nhau : Địa đạo Củ Chi, Ấp ba nhà và Làng Cát – Bình Thuận…

Qua trò chuyện với các nghệ sĩ, có một điều khá bất ngờ là khi hỏi họ có ước muốn gì không, tất cả đều cười và cho biết “chẳng còn thích gì nữa đâu, Ở đây cơm ngày 2 bữa là đủ quá rồi…”. Nghệ sĩ Bạch Yến, người nữ nghệ sĩ cao tuổi nhất ở đây, sinh năm 1922 ở Hà Nội, năm 16 tuổi đã là kép chính của các đoàn Đại Quốc Hoa và Kim Phụng… tâm sự: “Bây giờ nhờ nghiệp tổ có được miếng cơm hàng ngày là quá đủ rồi. Nhưng lại cảm thương cho nhiều nghệ sĩ khác, có người đang không có nơi nương tựa”.

Lúc đầu, các nghệ sĩ ở đây được nhà nước chu cấp cho mỗi người 4.000đ/ngày (ăn ngày 2 buổi). Ban Ái hữu nghệ sĩ và Hội Sân khấu đã vận động các mạnh thường quân ủng hộ thêm 4.000đ nữa cho mỗi người, nên hiện nay tiêu chuẩn của mọi người ở nhà dưỡng lão là 8.000đ/ngày (nghe nói bây giờ bữa ăn hang ngày đã tăng theo vật giá). Các nghệ sĩ ở đây sẽ được nuôi dưỡng với chế độ này cho đến khi qua đời.

Từ ngày thành lập đến nay nhà dưỡng lão này đã là mái ấm cho đến cuối đời của các nghệ sĩ như : Soạn giả Thành Phát, NS Tư Sa, NS Kiều Thu, NS Thiên Kim, NS Lệ Thẩm, NS Thanh An, NS Trường Sơn, kép độc Hoàng Nô, NS Lam Sơn, hoạ sĩ Hoài Nam, danh hề Cảnh Tượng, Tư Em…

“Và cũng đã có 14 người đã mãi mãi ra đi từ mái nhà này – nghệ sĩ Trường Sơn buồn buồn – thế nhưng đây vẫn là mái ấm chân tình nhất mà nhiều nghệ sĩ không nơi nương tựa luôn mong được nương thân !”.

Lan Hương tổng hợp chuyển tiếp

Advertisements

SÀI GÒN QUA GÓC ẢNH XƯA

CON NGƯỜI, CẢNH VẬT SÀI GÒN

QUA GÓC ẢNH XƯA

Hoa hậu Sài Gòn năm 1925 đoan trang, e ấp trong tà áo dài. Những con đườngrợp bóng cây xanh, thưa thớt người… là hình ảnh đầy hoài niệm về một Hòn ngọc Viễn Đông xưa, nay đang phát triển năng động.

Tại Hội sách lần thứ 7 tổ chức tại công viên Lê Văn Tám ở Sài Gòn trong tháng ba năm 2012, triển lãm 100 bức ảnh đen trắng ghi nhận phong cảnh, sinh hoạt, chân dung người Sài Gòn xưa đã thu hút hàng chục nghìn lượt người tham quan.

Xin giới thiệu lại các bức ảnh tư liệu quý:

H1/-  nhạc Sài Gòn năm 1900. H2/- Đoàn hát Sài Gòn tham dự hội chợ Marseille năm 1906. H3/- Trang phục phụ nữ Sài Gòn đầu thế kỷ 20.

H4/- Xích lô Sài Gòn xuất hiện vào khoảng năm 1939. Chiếc đầu tiên do một người dân Pháp tên Coupeaud phát kiến ra. Thành phố đầu tiên được cấp phép sử dụng loại phương tiện này là Phnompenh. Từ Phnompenh, Coupeaud đã tổ chức một hành trình đến Sài Gòn. Hai người đạp thuê đã thay phiên nhau đạp gần 200 km, hết 17 giờ 23 phút. Số liệu thống kê cho biết, cuối năm 1939, Sài Gòn chỉ có 40 chiếc xích lô thì qua năm 1940, con số này đã là 200 chiếc. H5/- Cảnh sinh hoạt bên bờ sông Sài Gòn năm 1880. H6/- Những cô gái Sài Gòn chơi bài 3 lá.

H7/- Hoa hậu Sài Gòn năm 1925. H8/- Vườn Bách thảo Sài Gòn được xây dựng năm 1864 trên diện tích 12 ha vùng thuộc vùng đất hoang ở phía Đông Bắc rạch Thị Nghè. Năm 1865 vườn Bách Thảo được nới rộng diện tích đến 20 ha và đặt dưới sự quản lý của Hội đồng thành phố Sài Gòn. Ông Jean Baptiste Louis Pierre là người sáng lập và là giám đốc đầu tiên của Thảo Cầm Viên Sài Gòn. Trong vườn Bách Thảo tồn tại hai công trình kiến trúc đặc sắc là đền thờ Vua Hùng (xây dựng năm 1926) và Bảo tàng lịch sử mở cửa từ năm 1929. H9/- Tuyến xe đò từ Sài Gòn đi Vũng Tàu năm 1925.

H10/- Một sứ đoàn Trung Hoa từ tàu thủy xuống bến cảng Sài Gòn năm 1920. H11/- Bệnh viện Gia Định trong những thập niên đầu thế kỷ 20. Bệnh viện Gia Định sơ khai do người Pháp xây dựng với bảng hiệu Hopital de GiaDinh. Năm 1945, Hopital de GiaDinh được đổi tên thành bệnh viện Nguyễn Văn Học. Đến năm 1968 được xây dựng mới và đổi tên thành Trung tâm thực tập Y khoa Gia Định. Sau năm 1975, Bệnh viện Nguyễn Văn Học được đổi tên thành Bệnh viện Nhân Dân Gia Định. H12/- Một xe ngựa chở khách ở Sài Gòn.

H13/- Một đường phố xưa ở Trung tâm Sài Gòn năm 1915. H14/- Tàu neo đậu trên sông Sài Gòn năm 1920. H15/- Chợ Bến Thành đã có từ trước khi người Pháp chiếm Gia Định. Đầu tiên, chợ được đặt dọc theo bờ sông Bến Nghé, sau đó được xây dựng bên bờ nam một con kinh được gọi là Kinh Lớn. Năm 1887, người lấp con kinh này, chợ được dời về nằm gần ga xe lửa Mỹ Tho (tức địa điểm chợ Bến Thành ngày nay). Chợ được khởi công xây dựng từ năm 1912, đến cuối tháng 3/1914 thì hoàn thành. Lễ ăn mừng chợ Bến Thành được gọi là “Tân Vương hội”. Khu chợ mới này vẫn mang tên chợ Bến Thành. Tuy nhiên, nhiều người Sài Gòn thường gọi đây là chợ Sài Gòn hay chợ Mới để phân biệt với chợ Cũ.

H16/- Thương xá Tax được xây dựng từ năm 1880. Một thời gian dài Thương xá Tax mang tên Les Grands Magazins Charner, chuyên bán các mặt hàng bazar của các nước trên thế giới, chủ yếu là Pháp, Anh. Thời bấy giờ chỉ có giới thượng lưu ở Sài Gòn hoặc các đại điền chủ ở miền quê đến đây mua sắm mặt hàng vải, đồng hồ, máy hát. Năm 1942, Thương xá đập bỏ phần tháp đồng hồ ở bên trên xây thêm một tầng nữa. Năm 1960, Charner được giao lại cho Hội mậu dịch, đổi tên là Thương xá Tax với hoạt động chủ yếu là cho thương nhân thuê mặt bằng để kinh doanh.

H17/- Quán cà phê đầu tiên ở Trung tâm Sài Gòn năm 1915. H18/- Dinh Xã Tây được xây dựng từ năm 1898-1909, theo đồ án của kiến trúc sư Gardès, mô phỏng kiểu những lầu chuông ở miền Bắc nước Pháp. Mặt tiền của tòa nhà được trang trí bằng hình người, mặt nạ và vòng hoa theo các điển tích phương Tây. Thời Pháp nơi đây là Dinh Xã Tây, thời chế độ Sài Gòn là Tòa Đô Chính. Sau năm 1975, nơi đây trở thành trụ sở của UBND Thành phố.

H19/- Hãng buôn Boy-Landry, một trong những hãng buôn nổi tiếng của người Pháp nằm ở trung tâm thành phố Sài Gòn những năm đầu thế kỷ 20. H20/- Khách sạn Grand (Grand Hotel Saigon) cổ kính được xây dựng năm 1930 với lối kiến trúc của Pháp. Tọa lạc tại khu vực trung tâm Sài Gòn. Khách sạn này là nơi đón tiếp các doanh nhân và du khách quốc tế. Từ đây chỉ cần tản bộ một đoạn đường là có thể ngắm khung cảnh tuyệt vời của con sông Sài Gòn. H21/- Tòa hòa giải Sài Gòn (nay là tòa nhà Sunwah ở quận 1).

H22/- Đường Huyền Trân Công Chúa nằm bên hông dinh Norodom, thời Pháp mang tên đường MissCavell. Từ năm 1955, chính quyền Sài Gòn đổi tên là đường Huyền Trân Công Chúa. H23/- Đường L’Avenue Jaccareo năm 1925 nay là đường Tản Đà. H24/- Quảng trường trước nhà thờ, nhìn từ hướng Nhà thờ Đức Bà. Năm 1958 nơi đây có tên là Quảng trường Hòa Bình, hiện nay là Quảng trường Công xã Paris.

Tranh Ben ThanhSÀIGÒN CỦA TÔI

Một bài viết hay về Sài gòn trên Trang “Sài Gòn xưa & nay”, rất tiếc chưa tìm ra được tác giả.

“Hồi 54, cả trăm ngàn dân di cư mang theo đủ loại kiểu sống bó trong luỹ tre làng đem nhét hết vô mảnh đất nhỏ xíu này, cũng gây xáo trộn cho người ta chứ. Phong tục, tập quán, ở đất người ta mà cứ như là ở đất mình. Nhưng người Sài Gòn chỉ hiếu kỳ một chút, khó chịu một chút, rồi cũng xuề xoà đón nhận.

Lúc đầu tụi bạn ghẹo tôi là “thằng Bắc kỳ rau muống”. Con nít đổi giọng nhanh mà, trong nhà giọng Bắc, ra ngoài giọng Nam. Thế là huề hết. Rủ nhau đi oánh lộn phe nhóm là chuyện thường. Khỏi cần biết đúng sai, mày đánh bạn tao, thì tao đánh lại, oánh lộn tưng bừng. Vài ngày sau lại rủ nhau đi xem xinê cọp. Dễ giận dễ quên.

Hè, tụi bạn về quê, Bến Lức, Vĩnh Long, Kiến Hoà… Cũng chia tay hứa hẹn, tình cảm ra rít : “Tao về quê sẽ mang lên cho mày ổi xá lỵ, xoài tượng…” Tôi ngóng cổ chờ bạn, 9 Sai gon 1chờ quà. Thực ra, tôi thèm có quê để về.

Tết đến, thầy cô, bạn bè về quê, nhiều người Sài Gòn xôn xao về quê. Tôi ở lại Sài Gòn mà thấy mình vẫn không phải dân Sài Gòn. Vậy ai là dân Sài Gòn chính hiệu đây ? Chẳng lẽ phải tính từ thời mấy ông Pétrus Ký hay Paulus Của ?

Sài Gòn trẻ măng, mới chừng hơn 300 tuổi tính từ thời Chúa Nguyễn xác lập chủ quyền ở đây. Sài Gòn khi cắt ra khi nhập vào, to nhỏ tuỳ lúc. To nhất khi nó là huyện Tân Bình, kéo dài đến tận Biên Hoà. Nhỏ nhất là vào thời Pháp mang tên Sài Gòn. Ngay trước 1975, Sài Gòn rộng chừng 70km2, có 11 quận, từ số 1 – 11. Hồi đó Phú Nhuận, Tân Bình, Thủ Đức… còn được xem là nhà quê (tỉnh Gia Định). Bây giờ Sài Gòn rộng tới 2.000km2.

Sài Gòn đắc địa, có cảng nối biển, là đầu mối giao thương quốc tế, tiếp cận văn minh Tây phương sớm. Dân Sài Gòn không có địa giới rõ rệt. Nói tới họ có vẻ như là nói tới phong cách của dân miền Nam. Họ là những lưu dân khai phá, hành trang không có bờ rào luỹ tre nên tính tình phóng khoáng, trọng nghĩa khinh tài, nói năng bộc trực… Ai thành đại gia thì cứ là đại gia, ai bán hàng rong thì cứ bán.

Sài Gòn không tự hào mình là người thanh lịch, không khách sáo, không mời lơi. Họ lấy bụng đãi nhau. Sài Gòn có mua bán chém chặt ? Có, đúng hơn là nói thách. Cứ vô chợ Bến Thành xem mấy bà bán mỹ phẩm, hột xoàn hét giá mát trời ông Địa. Không cứ khách tỉnh, dân Sài Gòn lơ mơ cũng mua hớ như thường.

9 Sai gon 2Ít nơi nào nhiều hội ái hữu, hội tương tế, hội đồng hương như Sài Gòn. Có máu lưu dân trong người, dân Sài Gòn thông cảm đón nhận hết, không ganh tị, không thắc mắc, không kỳ thị. Người ta kỳ thị Sài Gòn, chứ Sài Gòn chẳng kỳ thị ai.

Nhiều gia đình người Bắc người Trung ngại dâu ngại rể Sài Gòn, chứ dân Sài Gòn chấp hết, miễn sao ăn ở biết phải quấy là được.

Dân Sài Gòn làm giàu bằng năng lực hơn là quyền lực. Người ta nói “dân chơi Sài Gòn”. Trời đất ! Sài Gòn mà “tay chơi” cái nỗi gì. Tay chơi dành cho những đại gia giàu lên đột xuất từ đâu đó đến. Sài Gòn a dua thì có, nhưng a dua biết chọn lọc. Coi vậy chứ dân Sài Gòn đâu đó còn chút máu “kiến nghĩa bất vi vô dõng giả”. Cứ xem dân Sài Gòn làm công tác xã hội thì biết, cứu trợ lũ lụt thấy người ta lạnh quá, cởi áo len đang mặc tặng luôn. Họ làm vì cái bụng nó thế, chứ không phải vì PR, đánh bóng bộ mặt.

Biết bao văn nghệ sĩ miền Bắc, miền Trung vào đất này “quậy” tưng, tạo ra cái gọi là văn học miền Nam hậu 54 coi cũng được quá chứ ? Nhạc sĩ Lam Phương, quê Rạch Giá, mười tuổi đã lưu lạc lên Sài Gòn kiếm sống. Năm 17 tuổi nổi danh với bản Kiếp nghèo và khá giả từ đó.

Tiếp cận văn minh phương Tây sớm, nên dân Sài Gòn có thói quen ngả mũ chào khi gặp đám ma, xe hơi không ép xe máy, xe máy không ép người đi bộ, chạy xe lỡ va quẹt nhau, giơ tay chào ngỏ ý xin lỗi là huề. Những thói quen này giờ đây đang mất dần, nhưng dân Sài Gòn không đổ thừa cho dân nhập cư. Họ cố gắng duy trì (dù hơi tuyệt vọng) để người mới đến bắt chước. 9 Sai gon 3Chợ hoa là một chút văn hoá của Sài Gòn, có cả nửa thế kỷ nay rồi, có dân nhập cư nào “yêu” hoa mà ra đó cướp giựt hoa đâu.

Sài Gòn nhỏ tuổi nhiều tên, nhưng dù thế nào Sài Gòn vẫn là Sài Gòn. Nhiều người thành danh từ mảnh đất này. Sài Gòn nhớ không hết, nhưng mấy ai nhớ đến chút tình của Sài Gòn ? May ra những người xa Sài Gòn còn chút gì nhức nhối. Tôi có người bạn Bắc kỳ chín nút, xa Việt Nam cũng gần 40 năm. Tên này một đi không trở lại, vừa rồi phone về nói chuyện lăn tăn, rồi chợt hỏi : “Sài Gòn còn mưa không ?” – “Đang mưa”. Đầu phone bên kia thở dài : “Tao nhớ Sài Gòn chết… mẹ !” Sài Gòn nay buồn mai quên, nhưng cũng có nỗi buồn chẳng dễ gì quên.

Mới đây đi trong con hẻm lầy lội ở Khánh Hội, chợt nghe bài Kiếp nghèo vọng ra từ quán cóc ven đường. Tôi ghé vào gọi ly càphê. Giọng Thanh Thuý sao da diết quá: “Thương cho kiếp sống tha hương, thân gầy gò gởi theo gió sương…” Chủ quán, ngoài 60 cầm chồng báo cũ thẩy nhẹ lên bàn “Thầy Hai đọc báo…” Hai tiếng “thầy Hai” nghe quen quen… Tự nhiên tôi thấy Sài Gòn như máu chảy từ tâm, Sài Gòn bao dung. Tôi chợt hiểu ra, mình đã là người Sài Gòn từ thuở bào thai rồi, cần gì xin nhập tịch.”

Xuân Mai chuyển tiếp


HỌA MI – LÊ TẤN QUỐC

GẶP NHAU TRONG

ÂM NHẠC VÀ TÂM HỒN

Đối với sinh hoạt về đêm ở Sài Gòn trước cũng như sau năm 75 và cho đến hiện nay, Lê Tấn Quốc là một nhạc sĩ sử dụng kèn được nhiều người biết tới. Một phần vì khả năng nhuần nhuyễn của anh qua các loại kèn saxo, nổi bật hơn cả là Tenor sax. Phần khác, anh là một nhạc sĩ khiếm thị, nhưng tài nghệ đã khiến nhiều người trong nghề cảm phục.

Lê Tấn Quốc sinh tại Sài Gòn năm 1953. Song thân anh có 7 người con, không kể một số con riêng của cha anh với 2 đời vợ trước. Lê Tấn Quốc còn có hai người anh cũng là những nhạc sĩ quen thuộc của các vũ trường Sài Gòn từ rất lâu, biệt danh là Paul và Jacques.

Lê Tấn Quốc lập gia đình

với ca sĩ Họa Mi 1976.

Đến tháng giêng năm 88, Họa Mi sang Pháp trình diễn. Sau đó, Họa Mi đã quyết định ở lại và không hề báo cho Quốc biết trước quyết định này. Lê Tấn Quốc tâm sự thêm là sau khi Họa Mi ra đi, anh biết là cuộc sống hôn nhân của anh đã chấm dứt :

– “Khi Họa Mi đi coi như xong rồi, coi như tan vỡ rồi. Đó là định mệnh”. Và khi biết Họa Mi không trở lại Việt Nam : “Lúc đó mình thấy cũng hụt hẫng lắm. Đi làm về thấy 3 đứa con nằm ngủ lăn lóc rất tội nghiệp.” Lê Tấn Quốc cho rằng Họa Mi đi Pháp ở là do tình trạng kinh tế khó khăn của gia đình chứ không có lý do gì khác. Vì sau đó vợ anh cũng đã hoàn tất thủ tục cho chồng con cùng sang đoàn tụ tại Pháp.

Năm 1990, Lê Tấn Quốc cùng 3 con sang Pháp với Họa Mi. Vấn đề đầu tiên là hai người tìm cách chữa trị bệnh mắt của anh. Tuy nhiên, các bác sĩ điều trị cho biết họ cũng bó tay.

Sau vài tháng ở Pháp, Họa Mi đề nghị làm thủ tục để Quốc được hưởng qui chế tỵ nạn, nhưng Quốc nhất định từ chối, anh quyết định quay trở lại Việt Nam. Anh cũng không giấu diếm những mặc cảm của mình. Anh cho biết sẽ chỉ ở lại nếu mắt của mình có thể chữa được. Anh nói :

– “Tới bây giờ em chưa bao giờ ân hận vì đã trở về. Em để các con ở lại với mẹ chúng, cho chúng nó ăn học”.

Lê Tấn Quốc quay trở lại Sài Gòn vào cuối năm 1990, để lại 3 con sống với Họa Mi. Con trai lớn của 2 người năm nay 31 tuổi và đã có gia đình, người con trai kế 27 tuổi và cô con gái út năm nay 24.

Lê Tấn Quốc cũng cho biết Họa Mi đã không giấu diếm khi tâm sự với anh là có cảm tình với một người Việt lớn hơn chị 12 tuổi trong thời gian sống ở Pháp. Người này là giám đốc một công ty sản xuất kem và bánh ngọt. Anh mừng cho Họa Mi đã gặp được một người tốt. Nguyên nhân khiến họ chia tay không phải đến từ sự đổ vỡ hạnh phúc. Và cũng chẳng phải do lỗi lầm của một ai hoặc do một sự xung đột nào đó. Mà chỉ do đầu óc thực tế của cả đôi bên. Vì thật sự cho đến lúc quyết định như vậy, cả hai đều vẫn dành cho nhau những tình cảm rất tốt đẹp sau khi đã có với nhau 3 người con.

Chuyện tình giữa ca sĩ Họa Mi

và nhạc sĩ Lê Tấn Quốc

Cuộc tình này có tất cả tính chất bi tráng, oan khiên và hệ lụy của những cặp tình nhân, đã gặp nhau, yêu nhau, cưới nhau và xa nhau trong hoàn cảnh nghiệt ngã của một giai đoạn lịch sử đầy thảm khốc. Chàng nhạc sĩ khiếm thị ngày nay có thể không còn nhìn rõ mặt người yêu như những ngày đầu còn mặn nồng 1976 và cô ca sĩ ngày nay trên chiếc thuyền mới của cuộc đời với tất cả trách nhiệm gia đình trên đôi vai bé nhỏ.Thế nhưng trong tâm hồn họ vẫn còn một góc dành cho nhau, và góc riêng tư đó không cần nhìn bằng đôi mắt, góc riêng tư đó không có thời gian và không có không gian, góc riêng tư đó chỉ có tiếng chim Họa Mi hót bên dòng suối Saxo ngọt ngào mãi mãi.

Họa Mi yêu ca hát từ nhỏ và rất được sự khuyến khích của mẹ : “Nếu sợ ba con rầy thì con cứ hát nhỏ nhỏ cho má nghe cũng được”, đó là lời Họa Mi tâm tình trên video Paris By Night Thúy Nga.

Sinh ngày 1 tháng 5 năm 1955, Họa Mi tốt nghiệp trường Quốc Gia Âm Nhạc Sài Gòn và được sự hướng dẫn về nghệ thuật của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ. Bấy giờ nữ ca sĩ Sơn Ca là giọng ca nữ chính bên cạnh nam ca sĩ Bùi Thiện, nên Họa Mi chưa thật sự nổi bật trên sân khấu Maxim’s của Đoàn Văn Nghệ Hoàng Thi Thơ, cũng như những sân khấu phòng trà hay khiêu vũ trường khác. Đến khi Họa Mi được Ngọc Chánh và Thanh Thúy ký hợp đồng thu âm cho băng nhạc của cơ sở Nguồn Sống (các nhãn băng như Shotguns, Thanh Thúy v.v…) và một lý do khách quan khác, báo chí bấy giờ (khoảng năm 1972) đã “dập” cô  ca sĩ Sơn Ca khiến phải thân bại danh liệt, để từ đó tiếng hát của Họa Mi cất cánh lên cao trên bầu trời ca nhạc Sài Gòn và miền Nam lúc đó.

Rời Việt Nam năm 1988, Hoạ Mi được nhiều cơ hội tham gia tích cực vào những sinh hoạt văn nghệ hải ngoại và đã từng trình diễn ở rất nhiều quốc gia : Pháp, Đức, Bỉ, Thụy Sĩ, Đan Mạch, Hòa Lan, Na Uy, Úc, Nhật Bản, Anh, Hoa Kỳ và ngay cả Liên Sô (trước 1988).

Trong phong thái trình diễn rất nhẹ nhàng thoải mái, với tiếng hát ấm và trong, Họa Mi đã từng làm say mê khán thính giả trong những ca khúc trữ tình lãng mạn. Nhạc phẩm “Đưa Em Xuống Thuyền” của Nhạc Sĩ Hoàng Thi Thơ đã được Họa Mi lựa chọn để trình diễn trong lần đầu tiên ra mắt khán thính giả tại nhà hàng Maxim’s Sài Gòn. Những ai đã từng ái mộ tiếng hát Họa Mi chắc không thể quên được nhạc phẩm “Em Đi Rồi” của nhạc sĩ Lam Phương đã được Họa Mi trình bày một cách xuất sắc, chừng như tiéng nức nở nghẹn ngào của từng âm thanh rung động trên vành môi, người ca sĩ đáng yêu kia đã gởi gấm đâu đây một phần đời của chính mình ? Họa Mi yêu màu trắng và thích nhấn con số 8 (đây là con số “Phát tài” theo sự tin tưởng của người Trung Hoa). Cho đến nay, Họa Mi đã xuất hiện rất nhiều trên băng Paris By Night cũng như đã thâu băng và CD. Ngoài ra, cô còn cộng tác với 1 số vũ trường tại Paris. Đối với Họa Mi, trong tình yêu, sự thành thật là yếu tố quan trọng hàng đầụ Họa Mi cho rằng được có một mái ấm gia đình là cả một hạnh phúc lớn, còn về cuộc đời, Họa Mi thấy rất ngắn ngủi và mong manh.

Nhiều người có nhận xét rằng Họa Mi rất đẹp không những trên sân khấu mà kể cả ở ngoài đời và cô có một giọng hát trong, thánh thót ở những nốt nhạc cao và ấm áp, tình cảm ỡ những nốt nhạc thấp hơn.

Yêu nhau một thời, xa nhau một đời

Hơn hai mươi năm rời sân khấu, rời Sài Gòn, Họa Mi đã có một cuộc đời khác. Hai mươi năm nhiều biến động, có thể nói là những biến động nghiệt ngã nhất của đời người, đã làm Họa Mi bình tĩnh hơn, nhẹ nhàng hơn vào những tháng năm này Nữ danh ca thập niên 70 của Sài Gòn, giọng ca quen thuộc của đoàn Kim Cương những năm đầu giải phóng, phát hành album đầu tay “Một thời yêu nhau” khi bước vào tuổi 54. Khi số phận bắt chị phải lựa chọn, chị đã lựa chọn gia đình và những đứa con. Phía sau cuộc ra đi nhiều sóng gió của Họa Mi năm 1988 tới Pháp, ít ai biết, đó là cả một sự hy sinh thầm lặng đến quên mình…

Sài Gòn là một ký ức đẹp, mà ở đó chị đã có tất cả. 18 tuổi, khi đang học Trường Quốc gia âm nhạc, Họa Mi được nhạc sỹ Hoàng Thi Thơ mời đến hát tại nhà hàng Maxim’s, một trong những nhà hàng nổi tiếng nhất Sài Gòn khi ấy. Và ngay từ những bài hát đầu tiên “Đưa em xuống thuyền”, “Đưa em qua cánh đồng vàng”, Họa Mi đã là một hiện tượng không trộn lẫn.

Họa Mi được đánh giá là một trong những ca sỹ hiếm hoi được học thanh nhạc bài bản, có nền tảng tốt. Chị nhớ lại, tên chị là Trịnh Thị Mỹ, khi bắt đầu được đi hát, chị lấy tên là Trường My, nhưng ngay buổi đầu tiên đi hát, chị được ông bầu Hoàng Thi Thơ giới thiệu là Họa Mi, và đó chính là cái tên theo chị suốt cuộc đời ca hát.

Sau khi 1975, Họa Mi nghĩ mình sẽ không còn cơ hội để ca hát nữa. Khi ấy chị hai mươi tuổi và bắt đầu theo học ngành Luật. Cho đến một ngày, nhạc sỹ Ngọc Chánh đến tìm chị. Anh nói, thành phố thành lập một đoàn ca nhạc hát chung với đoàn Kim Cương. Và anh muốn chị đi hát lại. Khi ấy, đoàn ca nhạc gồm hầu hết những gương mặt quen thuộc trong giới ca nhạc sau này, như Thanh Phong, Phương Đại, Thái Châu, Lệ Thu, Thanh Tuyền, Sơn Ca… Và chị đã tiếp tục con đường ca hát, với một phong cách mới. Bài hát đầu tiên trên sân khấu là “Bóng cây Kơ nia”, Họa Mi đã hát với tình yêu say đắm của tuổi hai mươi khi ấy.

Năm 1976, Họa Mi lập gia đình với nghệ sỹ saxophone Lê Tấn Quốc. Họa Mi nói, khi ấy cả anh và chị đều có hoàn cảnh giống nhau, nên rất dễ thương nhau. Họa Mi mất ba từ năm 11 tuổi và năm 18 tuổi mẹ chị cũng rời trần thế, bỏ lại chị một mình trong thành phố những ngày nhiều biến động. Hai người yêu nhau 6 tháng thì cưới. Anh vẫn thổi kèn cho chị hát. Và họ đã là một biểu tượng của hạnh phúc.

Hình ảnh vợ chồng Họa Mi – Lê Tấn Quốc thể hiện được rất rõ khí chất và tình nghệ sỹ lâu bền… Họ đã sống với nhau hơn 10 năm và có với nhau 3 đứa con.

Lê Tấn Quốc với chứng bệnh mắt bẩm sinh, mắt ngày càng kém hơn. Cuộc sống thành phố những năm 80 của thế kỷ trước bộn bề gian khó. Cặp vợ chồng nghệ sỹ vật lộn tìm đường sống để nuôi ba con nhỏ. Hạnh phúc tưởng như trọn vẹn, nhưng lại không dễ dàng. Và năm 1988, Họa Mi có chuyến đi biểu diễn tại Pháp. Chuyến đi ấy chị đã không trở về. Sự không trở về của Họa Mi gây ra những sóng gió lớn. Những chuyện sau này, có rất nhiều sự thêu dệt về sự ra đi của chị. Và người ta từng nghĩ, chị sẽ bị… cấm vận vĩnh viễn. Và việc chị ra đi, bỏ lại người chồng mắt bị lòa là một việc làm nhẫn tâm, vô tình vô nghĩa.

Nhà văn Nguyễn Đông Thức, một trong những người bạn của Họa Mi nhớ lại, khi ấy Họa Mi rất yêu chồng. Và việc chị tìm cách ở lại Pháp, không phải để mưu cầu hạnh phúc riêng tư, cũng không phải vì mục đích chính trị hay bất cứ ham muốn nào khác, mà chỉ vì mục đích là tìm đường chữa đôi mắt cho chồng. Khi ấy, VN chấp nhận cho chị đưa nhạc sỹ Lê Tấn Quốc và ba con sang Pháp để anh có điều kiện chữa mắt. Nhưng, đôi mắt ấy không bao giờ có thể chữa lành. Ngay cả những bác sỹ giỏi nhất tại Pháp cũng đành ngậm ngùi lắc đầu.

Và, người nghệ sỹ từ nhỏ đã sống với cây kèn, quen với những đêm diễn, bỗng chốc phải thay đổi đột ngột, không còn không gian cho âm nhạc nữa, khiến Lê Tấn Quốc trở nên tuyệt vọng. Và anh trở về Việt Nam… Cuộc chia tay ấy mang nhiều nước mắt. Bởi, họ vẫn còn rất yêu nhau. Nhưng cá tính nghệ sỹ mạnh mẽ hơn rất nhiều. Câu chuyện tình yêu của Họa Mi – Lê Tấn Quốc đã thành giai thoại trong giới âm nhạc Sài Gòn. Bao nhiêu năm qua đi, câu chuyện ấy vẫn là một minh chứng sống của tình nghệ sỹ.

Chia tay nhau, xa cách đầy giông bão. Số phận đã buộc họ phải lựa chọn. Nhưng Họa Mi không còn cách nào khác, không thể quay về, buộc phải tiếp tục hành trình sống nơi xứ người, tìm cách mưu sinh và nuôi con. Họ vẫn quan tâm đến nhau, như những người bạn tri kỷ. Mỗi khi chị về nước, đều tìm đến thăm anh. Và khi Họa Mi làm đám cưới với người chồng mới tại nhà hàng Maxim’s, cả gia đình và người vợ mới của Lê Tấn Quốc cũng đến dự.

Phía sau sự xa cách định mệnh lại là những tháng ngày thái bình. Bởi hơn ai hết, cả hai người từng yêu nhau đắm say, hiểu được cái giá của mất mát. Và, đến lúc này, họ vẫn thường xuyên quan tâm tới nhau. Trong đĩa nhạc mới sắp phát hành của Họa Mi,

Lê Tấn Quốc vẫn thổi kèn đệm cho chị hát. Trong âm nhạc, họ chưa bao giờ xa nhau.

Họa Mi nhớ lại, khi qua Pháp chị phải tìm mọi cách để được sống tốt và nuôi các con. Khi ấy, chị đi hát vì mưu sinh trong một nhà hàng của người Hoa. Thực khách của nhà hàng rất đa dạng, nhưng những người nghe chị hát không nhiều. Đó là những ngày rất buồn. Khi phải gắn đời nghệ sỹ vào với cơm áo, là khi người nghệ sỹ phải thỏa hiệp và chấp nhận nhiều thua thiệt. Khi ấy, cũng có những lời mời từ các trung tâm biểu diễn tại hải ngoại, nhưng Họa Mi không thể để bỏ các con lại, với những chuyến lưu diễn dài ngày. Thật lâu, chị tham gia vài chương trình ghi hình rồi vội vã trở về Pháp.

Năm 1995, Họa Mi lập gia đình với một kỹ sư gốc Sa Đéc. Anh đã sống nhiều năm ở Pháp và hoàn toàn không biết chị… hát gì. Nhưng họ đã yêu nhau thành thật. Cô con gái của họ đã bước vào tuổi 14 và anh cũng không còn làm kỹ sư nữa. Hai vợ chồng chị mở một xưởng sản xuất bánh ngọt giao cho những nhà hàng tại Paris.

Họa Mi nói, thực ra suốt nhiều năm tôi không đi hát chỉ vì nghĩ mình buộc phải lựa chọn gia đình. Tôi hiểu rất rõ cuộc sống của những đứa trẻ trong những gia đình thiếu hụt. Tôi đã không giữ được cho con tôi một mái ấm khi qua Pháp, thì phải ráng giữ sao cho con khỏi thiệt thòi. Khi tôi lập gia đình với người chồng mới cũng vì một điều, anh thực sự biết chia sẻ và nâng đỡ các con tôi.

Họa Mi, ở tuổi 54, đã tìm đường trở về Việt Nam, bắt đầu cho những dự định ca hát dang dở. Kể như là một kế hoạch đã muộn. Nhưng chị vẫn làm. Làm cho mình và tri ân những người vẫn còn lưu nhớ giọng hát chị. Một đĩa nhạc tình quen thuộc, nhưng lần đầu tiên chị hát.

Trong lời đề từ đĩa nhạc “Một thời yêu nhau”, Họa Mi viết : “Ngày thàng đã qua đi trong chớp mắt, tóc đã điểm bạc. Có chăng là kỷ niệm, là hạnh phúc, là khổ đau. Tôi muốn giữ mãi những phút giây quý giá của hạnh phúc. Tôi muốn tôi quên đi những chuỗi ngày của buồn đau, của những vết thương lòng đã chôn chặt từ lâu”…

Chị đã không lựa chọn cộng đồng người Việt tại Mỹ để xuất hiện, dù biết những khán giả đó mới là khán giả chính yêu thích những bản nhạc tình xa xưa. Chị nói, chị đã có những ngày tháng đẹp ở thành phố này. Chị ra đi và chị trở về, như một sự trở lại, tìm đến những ân tình cũ. Chị không có ý định gì to lớn, ngoài việc lưu giữ lại những kỷ niệm đẹp đẽ của đời mình. Họa Mi cười, chị đang tìm cách thuyết phục chồng chị về định cư tại Việt Nam. Vì năm tháng xa xôi đã đủ để chị biết, nơi này vẫn là nơi chị đáng sống nhất, trong những ngày còn lại của đời mình…

Quế Phượng (tổng hợp)

NHỮNG NHÀ VĂN – NHÀ THƠ ĐÃ KHUẤT NÚI

40 Năm Hải Ngoại 

NHỮNG NHÀ VĂN – NHÀ THƠ 

ĐÃ KHUẤT NÚI

Chân dung những Nhà Văn – Nhà Thơ Miền Nam đã khuất núi

Thời gian 40 năm chỉ là một khoảnh khắc trong lịch sử, nhưng tuy vậy cũng đủ để cho con người hoàn tất một sự nghiệp hay từ giã cõi đời.

Trong suốt 40 năm qua, kể từ khi miền Nam sụp đổ, nhiều văn nghệ sĩ vốn đã tạo dựng nên một nền Văn Học rực rỡ của miền Nam cũng đã vượt thoát ra đi để mưu tìm một cuộc đời tự do đáng sống. Trên phần đất tự do thuộc nhiều quốc gia trên thế giới, bên cạnh những nỗ lực để hội nhập vào xã hội mới, các nhà văn, nhà thơ gốc Việt vẫn tiếp tục miệt mài sáng tạo, duy trì và phát triển Văn Học Miền Nam trên đất tạm dung để có thể coi là đã có một nền văn chương VN hải ngoại.

Và cũng ròng rã trong suốt hơn 40 năm tận tụy với ngòi bút ấy, nhiều người đã lặng lẽ ra đi, bỏ lại phía sau những công trình có thể chưa hoàn tất nhưng cũng đã gieo nhiều nỗi ngậm ngùi, xót xa trong lòng của nhiều người ở lại

Nay nhân dịp kỷ niệm 40 năm hội nhập, mặc dù không thể thu góp đầy đủ danh xưng của tất cả những nhà văn, nhà thơ đã khuất bóng, phần liệt kê dưới đây xin coi như một nén nhang, một bông hồng cho tất cả những nhà văn, nhà thơ đã mất ở hải ngoại mà trong suốt 40 năm qua đã góp phần cung ứng cho đời những tác phẩm quý giá để các thế hệ sau khi nhìn lại không thể không biết tới.

Danh sách dưới đây xếp theo thứ tự thời gian mà các vị đã khuất núi.

THANH NAM (1931-1985)

Nhà văn/nhà thơ Thanh Nam tên Trần Đại Việt, người làng Mỹ Trọng tỉnh Nam Định, thân phụ là Tổng Giám thị trường Cao đẳng Kỹ thuật Hà Nội ngày trước. Năm 1946, mới 15 tuổi, Thanh Nam đã được tờ báo Thiếu Nhi tại Hà Nội đăng thơ và mời cộng tác, và viết một số Sách dành cho tuổi trẻ cho nhà xuất bản Văn Hồng Thịnh.

Năm 1953 ông vào Sài Gòn, được mời làm Tổng Thư ký báo Thẩm Mỹ, viết truyện ngắn, truyện dài, bình thơ độc giả, phụ trách nhiều mục khác như Phụ nữ Gia Đình, Gỡ Rối Tơ Lòng … và còn ký nhiều bút hiệu như Sông Hương, Cô Hồng Ngọc, Bà Bách Lệ, Tôn nữ Đài Trang, Thợ Cạo. Năm 1960, ông hợp tác với nguyệt san Hiện Đại do Nguyên Sa và Thái Thủy chủ trương, và là Tổng Thư ký tuần báo Nghệ Thuật, cùng viết bài trên tuần báo Kịch Ảnh.

Di tản sang Hoa Kỳ năm 1975, ông tạm cư tại tiểu bang New Jersey rồi năm 1976 định cư tại thành phố Seattle, tiểu bang Washington. Ở đây ông cộng tác với tờ Đất Mới và một trong vài tờ báo Việt ngữ đầu tiên xuất bản tại Hoa Kỳ . Ông mất vào ngày 2 tháng 6 năm 1985 do chứng ung thư thanh quản.

Tác phẩm đã xuất bản :

Hồng Ngọc (1957) Người Nữ Danh ca (1957) Buồn Ga Nhỏ (1962) Giấc Ngủ Cô Đơn (1963) Còn Một Đêm Nay (1963) Cho Mượn Cuộc Đời, Bầy Ngựa Hoang (1965) Giòng Lệ Thơ Ngây (1965) Những Phố Không Đèn (1965) Mấy Mùa Thương Đau (1968)
Gã Kéo Màn, …. Đất Khách (1983)

VŨ KHẮC KHOAN (1917-1986)

Ông sinh năm 1917 tại Hà Nội, theo học trường Bưởi, nhập học trường Y Khoa nhưng rồi đổi sang Cao đẳng Canh Nông, tốt nghiệp kỹ sư sau chuyển sang văn học và lịch sử, dạy học ở trường trung học Chu Văn An.

Ông là tác giả những vở kịch Thằng Cuội ngồi gốc cây đa (1948), Thành Cát Tư Hãn, và Giao thừa (1949). Hai vở Giao thừa và Thằng Cuội đã được trình diễn ở Nhà hát lớn Hà Nội vào những năm 1951 và 1952. Bài vở của ông cũng được đăng trên báo Phổ thông và Quan điểm.

Sau năm 1954 ông di cư vào Nam viết cho các báo Tự do, Quan điểm rồi làm chủ nhiệm nguyệt san Vấn đề. Ông là giám đốc kịch nghệ của Trường Quốc gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ ở Sài Gòn. Ông tỵ nạn sang Mỹ năm 1975, định cư ở Minnesota nơi ông dạy Pháp văn ở đại học Minnesota và thành lập Hội Phật giáo Việt Nam tại đây. Ông mất ngày 12 tháng Chín, 1986.

ĐÀO ĐĂNG VỸ (1908-1997)

Đào Đăng Vỹ là nhà văn, nhà văn hóa, nhà từ điển học rất nổi tiếng ở Huế từ những năm cuối của thập niên 40. Ông cũng là dịch giả có tiếng của Việt Nam. Riêng trong lãnh vực từ điển, ông đã biên soạn những cuốn như Pháp Việt Đại Từ điển (1949-52, 1963, 1970), Việt Pháp Đại Từ điển ( 1956, 1963, 1970), Pháp Việt Từ điển Phổ thông (1954-1956, 1960, 1963, 1965, 1970), Pháp Việt Tiểu Từ điển (1961, 1963, 1966, 1970), Việt Pháp Tiểu Từ điển (1962, 1964, 1966, 1970), Việt Nam Bách Khoa Từ điển (Cuốn I cuốn II, III…; 1959-1963)..

Ông sinh ngày 1 tháng 2 năm 1908 tại Huế, và mất ngày 7/4/1987 tại California – Mỹ.

BÌNH NGUYÊN LỘC (1914-1987)

Bình Nguyên Lộc tên thật là Tô Văn Tuấn, là một nhà văn lớn, nhà văn hóa trong giai đoạn 1945-1975. Ngoài bút danh Bình Nguyên Lộc, ông còn có các bút hiệu khác như Phong Ngạn, Hồ Văn Huấn, Tôn Dzật Huân, Phóng Ngang, Phóng Dọc, Diên Quỳnh…]

Ông đã sáng tác khoảng 50 tiểu thuyết, 1.000 truyện ngắn và bốn quyển sách nghiên cứu, trong đó quyển Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam chỉ được in phần đầu, phần còn lại độ 800 trang viết tay coi như bị thất lạc.

Ông cũng từng viết tiểu thuyết bằng thơ trường thiên như Thơ Ba Mén, Việt sử trường ca, Luận thuyết y học, Thơ thổ ngơi Đồng Nai, Ca dao… Ông còn có công sưu tầm được hàng nghìn câu ca dao kèm theo chú thích về đặc điểm của mỗi câu.

Tháng 10 năm 1985, ông được gia đình bảo lãnh sang Mỹ chữa bệnh. Ngày 7 tháng 3 năm 1987, ông từ trần tại Rancho Cordova, Sacramento, California, vì bệnh cao huyết áp, thọ 74 tuổi

HOÀI ĐIỆP TỬ (1941-1987)

Tên thật Phạm Văn Tập. Sinh năm 1941 – Tân Tỵ – tại Bạc Liêu. Ông dùng nhiều bút hiệu khác nhau như Điệp Yên Hà, Lê Thăng, Kép Độc, Kiều Linh Khanh. Ông bắt đầu làm thơ từ năm 14 tuổi, chính thức viết văn vào năm 1958 với truyện dài đầu tiên “Mớ tóc gái Phù Sa” viết trên nhật báo Chuông Mai của ông Huỳnh Hoài Lạc.

Lần lượt cộng tác với các nhật báo, tuần san như Chuông Mai của Huỳnh Hoài Lạc, Tiếng Chuông của Đinh Văn Khai, Dân Đen của Nguyễn Duy Hinh, Tiếng Dân, Tia Sáng của Nguyễn Trung Thành, Tiếng Nói Dân Tộc của Lý Quý Chung, Độc Lập của Hoàng Châu, Tin Sáng của Ngô Công Đức, Thách Đố của Đặng Văn Bé v.v…

– Năm 1966 ông sáng lập Nhà xuất bản Sông Hậu cùng với các thân hữu như Trương Đạm Thủy, Ngô Tỵ, Phan Yến Linh, Phương Triều, Tâm Đạm Dương Trữ La.

– Khi sang Mỹ từ năm 1981, nhà văn Hoài Điệp Tử làm chủ nhiệm kiêm chủ bút tuần báo Mai (Nam California) từ năm 1982 đến 1987. Ông bị sát hại tại tòa soạn nằm trên đường Westminster (Nam California) lúc 2 giờ 15 sáng chủ nhật ngày 9 tháng 8 năm 1987. Vụ án mạng này đến nay vẫn chưa được làm sáng tỏ.

Các tác phẩm đã xuất bản tại Việt Nam : – Vũng Lầy (1964) – Trái Cấm – Tuổi Tình Yêu, nhà xuất bản Sống Mới phát hành, 1965. – 16 Phiên Buồn (1966) – Lửa Đạn Về Thành – Tình Biển (1968) – Đỉnh Núi Sương Mù – Còn Xanh Kỷ Niệm (1969) – Bến Đục – Giọt Máu Cho Cánh Đồng Mùa Hạ (1970) – Tặng Phẩm Của Đêm – Bụi Thành Phố (1971) – Mặt Trời Mọc Cho Ai – Hành Lang Đen (1972) – Cao Ốc Số 8 (1973) – Sóng Hoang, nhà xuất bản Sông Hậu phát hành (1974)…. và một số thơ cùng truyện ngắn.
Tác phẩm đã xuất bản tại Mỹ : – Truyện dài: Trên Đầu Sóng, nhà xuất bản Hải Ngoại phát hành, 1982.

NGUYỄN TẤT NHIÊN (1952-1992)

Nguyễn Tất Nhiên tên thật là Nguyễn Hoàng Hải, sinh ngày 30-5-1952 tại xã Bình Trước, quận Đức Tu, tỉnh Biên Hoà..

Ông là một thi sĩ bẩm sinh, tài hoa, suốt đời cuồng nhiệt, đam mê với thơ, đặc biệt là thơ tình. Biết làm thơ từ rất sớm : Mới 14 tuổi (1966,) đã có tập thơ đầu tay“Nàng Thơ Trong Mắt” và hai năm sau, 16 tuổi (1968,) viết tiếp tập thơ“Dấu Mưa Qua Đất” (cả hai tập thơ nầy đều ký bút danh Hoài Thi Yên Thi).

Năm 1970, ông tự ấn hành tập thơ“Thiên Tai,”lần đầu tiên lấy bút danh Nguyễn Tất Nhiên. Năm 1978, ông vượt biên và định cư tại Pháp. Tại đây, nhà xuất bản Sud-Asie đã ấn hành tập“Thơ Nguyễn Tất Nhiên” gồm những bài thơ sáng tác từ 1970 – 1980. Sau đó, ông sang Hoa Kỳ, định cư tại Nam California, tiếp tục sáng tác thơ, nhạc, cho ấn hành các tập thơ “Chuông Mơ” (NXB Văn Nghệ,1987,) “Tâm Dung” (NXB Người Việt, 1989,) “Minh Khúc” (1990, đã hoàn tất bản thảo, phổ biến hạn chế.) Ông mất ngày 3-8-1992 tại California.

DUYÊN ANH (1935-1997)

Duyên Anh tên thật là Vũ Mộng Long, những bút hiệu khác là Thương Sinh, Mõ Báo, Thập Nguyên, Vạn Tóc Mai, Lệnh Hồ Xung, Thái Anh, Nã Cẩu, Bếp Nhỏ, Bếp Phụ và Độc Ngữ.. Ông sinh ngày 16 tháng 8 năm 1935 tỉnh Thái Bình.

Năm 1954, ông di cư vào Nam và từng làm đủ nghề: bán thuốc sơn đông mãi võ, theo đoàn cải lương lưu diễn, quảng cáo cho gánh xiếc rong, giữ xe đạp hội chợ, dạy kèm, dạy đàn ghi ta, dạy sáo.

Năm 1960, Duyên Anh bắt đầu sự nghiệp văn chương và nổi tiếng ngay với tác phẩm đầu tay Hoa Thiên Lý. Tiếp theo đó là một loạt Thằng Côn, Thằng Vũ, Con Thúy…. viết về những kỷ niệm ấu thơ tại miền quê Bắc Việt.

Sau đó ông trở thành một ký giả, chủ bút, chủ báo, giám đốc nhà xuất bản. Duyên Anh đã cộng tác với hầu hết những tờ báo lớn ở miền Nam trước năm 1975 như : Xây Dựng, Sống, Chính Luận, Công Luận, Con Ong, Tuổi Ngọc… ông cũng viết nhiều truyện ngắn và truyện dài cho thiếu nhi.

Năm 1976, Duyên Anh bị bắt đi tù cải tạo (tháng 4, 1976). Sau khi ra khỏi trại cải tạo vào tháng 11 năm 1981 ôngvượt biên đến Malaysia. Tháng 10 năm 1983 Duyên Anh sang định cư tại Pháp. Một số tác phẩm ông viết ở Hải ngoại được dịch ra tiếng nước ngoài và dựng thành phim, như Đồi FanTa, Một Người Nga ở Sài Gòn. Thời gian này, ông cũng có viết thơ và soạn nhạc. Ngày 6 tháng 2 năm 1997, Duyên Anh mất vì bệnh xơ gan tại Paris, Pháp.

NGUYÊN SA (1932-1998)

Nguyên Sa sinh ngày 1 tháng 3 năm 1932, tên thật là Trần Bích Lan, còn có bút danh Hư Trúc. Ông là một nhà thơ lãng mạn nổi tiếng từ thập niên 1950 với những tác phẩm như“Áo lụa Hà Đông”, “Paris có gì lạ không em”, “Tuổi mười ba”, “Tháng sáu trời mưa”, v.v.
Những câu thơ mà Nguyên Sa đem từ Pháp về Việt Nam năm 1956 đã thay đổi rộng khắp cảm nhận thi ca của đa số thanh niên Việt Nam. Giống như một nhạc cụ mới, có âm hưởng sâu và đánh thức giác quan thẩm mỹ của thời đại (Mặc Lâm –RFA).

Ông đi Pháp du học vào năm 1949. Năm 1953, ông đậu tú tài ở Pháp, lên Paris ghi danh học triết tại Đại học Sorbonne. Nhiều bài thơ nổi tiếng của ông được sáng tác trong thời gian này. Năm 1955, ông lập gia đình với bà Trịnh Thuý Nga ở Paris. Đầu năm 1956, hai ông bà về nước. Năm 1975, ông di tản đi Pháp. Ba năm sau, ông và gia đình qua Hoa Kỳ và ở California từ đó cho tới ngày qua đời. Ông mất ngày 18 tháng 4 năm 1998.

MAI THẢO (1927-1998)

Mai Thảo tên thật là Nguyễn Đăng Quý, bút hiệu khác: Nguyễn Đăng, ông sinh ngày 8/6/1927 tại huyện Hải-hậu, tỉnh Nam-định. Thuở nhỏ học trường làng, trung học lên Nam-định rồi Hà-nội (học trường Đỗ Hữu Vị, sau là Chu Văn An). Năm 1945, theo trường sơ tán lên Hưng-yên. Khi chiến tranh bùng nổ năm 1946, gia đình từ Hà-nội tản cư về quê chợ Cồn, từ đó Mai Thảo rời nhà vào Thanh-hóa theo kháng chiến, viết báo, tham gia các đoàn văn nghệ đi khắp nơi từ Liên-khu-ba, Liên-khu-tư đến chiến khu Việt-bắc. 1951, Mai Thảo bỏ kháng chiến vào thành, đi buôn. 1954, di cư vào Nam. Viết truyện ngắn trên các báo Dân Chủ, Lửa Việt, Người Việt. Chủ trương báo Sáng Tạo (1956), Nghệ Thuật (1965) và từ 1974, trông nom báo Văn. Tham gia chương trình văn học nghệ thuật của các đài phát thanh tại Sài-gòn từ 1960 đến 1975. Ngày 4/12/1977, Mai Thảo vượt biển. và định cư ở Hoa-kỳ. Ít lâu sau ông cộng tác với tờ Đất Mới của Thanh Nam và một số báo khác tại hải ngoại. Tháng 7/1982 ông tái bản tạp chí Văn, làm chủ biên đến 1996, vì tình trạng sức khỏe trao lại cho Nguyễn Xuân Hoàng; hai năm sau ông mất tại Santa Ana, California ngày 10/1/1998.

Tác phẩm Mai Thảo đã xuất bản:

– Đoản thiên Đêm giã từ Hà Nội (Người Việt, 1955)Tháng giêng cỏ non (1956)Bản chúc thư trên ngọn đỉnh trời (Sáng Tạo, 1963)Bày thỏ ngày sinh nhật (Nguyễn Đình Vượng, 1965)Căn nhà vùng nước mặn (An Tiêm, 1966)Đêm lạc đường (Khai Trí, 1967)Dòng sông rực rỡ (Văn Uyển, 1968)Người thầy học cũ (Văn Uyển, 1969)Chuyến tàu trên sông Hồng (Tuổi Ngọc, 1969)

– Tùy bút (1970) – Mưa núi (tập hợp những truyện tuyển trong Đêm giã từ Hà Nội và Tháng giêng cỏ non, Tân Văn, 1970)Ngọn hải đăng mù (Làng Văn, Toronto, 1987)Một đêm thứ bảy (Tổ hợp xuất bản miền Đông Hoa Kỳ, 1988)Hồng Kông ở dưới chân (Xuân Thu, 1989)Chân bài thứ năm (Nam Á,Paris, 1990)Chuyến métro đi từ Belleville (Nam Á, 1990)…

– Truyện dài: Mái tóc dĩ vãng (Tiểu thuyết tuần san, 1963)Cô thích nhạc Brahms? (phóng tác)Khi mùa thu tới (Thái Lai, 1964)Viên đạn đồng chữ nổi (Văn, 1966)Đêm kỳ diệu (?)Cùng đi một đường (1967)Sau khi bão tới (Màn Ảnh, 1968)Tới một tuổi nào (Miền Nam, 1968)Cũng đủ lãng quên đời (Hồng Đức, 1969)Lối đi dưới lá (1969)Mười đêm ngà ngọc (Hoàng Đông Phương, 1969)Thời thượng (Côi Sơn, 1970),Sống chỉ một lần (Nguyễn Đình Vượng, 1970),Hết một tuần trăng (Tủ sách Văn Nghệ Khai Phóng, 1970),Sau giờ giới nghiêm (Tủ sách Văn Nghệ Khai phóng, 1970)Trong như hồ thu (Tủ sách văn Nghệ Hiện Đại, 1971)Mang xuống tuyền đài (Tủ sách Văn Nghệ Khai Phóng, 1971

Một ngày của Nhã (1971)Để tưởng nhớ mùi hương (Nguyễn Đình Vượng, 1971)Sóng ngầm (Hoa biển, 1971)Sống như hình bóng (Tiếng Phương Đông, 1972)Hạnh phúc đến về đêm (Nguyễn Đình Vượng, 1972)Một đời còn tưởng nhớ (Hải Vân, 1972)Gần mười bảy tuổi (Nguyễn Đình Vượng, 1972)Chỉ là ảo tưởng (Sống Mới, 1972)Suối độc (Nguyễn Đình Vượng, 1973)Tình yêu màu khói nhạt (Nguyễn Đình Vượng, 1973)Bên lề giấc mộng (Ngày Mới, 1973)Chìm dần vào quên lãng (Tiếng phương Đông, 1973)Cửa trường phía bên ngoài (Đồng Nai, 1973)Ánh lửa cuối đường hầm (Anh Lộc, 1974)Ôm đàn tới giữa đời (Gìn Vàng Giữ Ngọc, 1974)Những người tình tuổi song ngư (Xuân Thu, 1992)…

Thơ: Ta thấy hình ta những miếu đền (Văn Khoa, California, 1989)

Lê Hoàng Nguyễn chuyển tiếp

BẠN BIẾT GÌ VỀ

NHẠC PHẨM HOA BIỂN

CỦA ANH THY

Click vào đường dẫn để xem video nhạc HOA BIỂN của ANH THY :

http://www.youtube.com/watch?v=eENZZWattu4

Sau tháng 4/75, nhạc miền Nam nhanh chóng vượt Bến Hải, tiến chiếm lĩnh vực nghe nhạc tại Hà Nội, Hải Phòng, lan tận ải Nam Quan. Thậm chí nhạc miền Bắc cũng dần dần mất định hướng, đành chịu để nhạc miền Nam giành dân lấn đất.

Đến nay, ba mươi hai năm trôi qua, rõ ràng là Đêm nguyện cầu đã phủ mờ Trường sơn đông Trường sơn tây. Và Tiếng chày trên sóc bam bo đã chìm dần trong Tiếng hát hậu phương âm vang Trên bốn vùng chiến thuật.

Riêng nhạc lính của nhạc sĩ miền Nam Trần Thiện Thanh có cái lạ là sau cuộc đổi đời, không chỉ lấn lướt nhạc lính của tất cả nhạc sĩ miền Bắc mà còn làm thay đổi cả cảm nhận của chính người miền Nam. Trước kia, rất nhiều người coi lời ca Trần Thiện Thanh là cường điệu, là hào nhoáng nhưng khi quê hương sỏi đá biết buồn, những lời đó lại gây nhức nhối tận tâm can.

Tôi cũng không thoát khỏi sự chuyển hướng này mà không chừng còn … sâu đậm hơn. Trước đây, tôi không chỉ cho lời ca Trần Thiện Thanh là đầu môi chót lưỡi mà còn thích nghêu ngao những câu sửa đổi cợt đùa, như “trên ngôi cao chín tầng hoàng hậu đẹp… không giống ai” ! Vậy mà khi từng trải những đêm dài trong tù, dù chỉ với một giọng ca làng nhàng, chỉ với từng tiếng đàn lập dập mà lạ lùng sao chính những lời chót lưỡi đầu môi đó lại thắm thía gợi về những buồn vui đời lính, về những vùng biển mặn xa khơi.

Tôi bắt đầu yêu nhạc Trần Thiện Thanh từ đó. Cho nên khi an cư lạc nghiệp xứ người, tôi đã tìm mua bất cứ băng nhạc, CD và DVD nào có giọng ca hoặc nhạc của Nhật Trường Trần Thiện Thanh. Một là để thưởng thức trọn vẹn hàng trăm tác phẩm đa dạng của anh, hai là như một lời xin lỗi…

Khi được tin anh đã qua Mỹ 1993, tôi rất vui mừng. Tôi muốn nhìn lại hình ảnh Nhật Trường trên Tiếng Hát Đôi Mươi mà hai mươi năm trước tôi không mấy quan tâm. Quả nhiên, qua cuốn video Holywood Night, tôi đã vô cùng thích thú gặp lại Nhật Trường trong phong thái diễn tả rất đặc thù. Hình ảnh của anh trong bộ quân phục trắng hải quân gợi nhớ hình ảnh của chính tôi ngày nào. Thêm vào đó là bài Hoa Biển mang tôi trở về những kỷ niệm với nhạc sĩ Anh Thy …

Cuối năm 1967, đang chỉ huy toán giang đỉnh hoạt động vùng sông Măng Thít, tôi bất ngờ được lệnh thuyên chuyển về Phòng Tâm lý chiến Bộ tư lệnh Hải quân. Tôi chắc là nhờ “uy tín” mấy bài thơ, mấy truyện ngắn đăng trên tờ nguyệt san “Lướt Sóng” mà được ban biên tập “triệu hồi” tăng cường. Vào trình diện vị trưởng phòng, tôi không giấu vẻ thất vọng khi ông lại giao cho cái chức hoàn toàn ngoài năng khiếu : Trưởng ban văn nghệ Hải quân. Tôi viện lý do không rành đờn ca xướng hát để từ chối. Ông cười, bảo tôi có máu văn nghệ mà được giao cho nguyên ban văn nghệ thì còn đòi hỏi gì !

Ban văn nghệ Hải quân lúc đó có khoảng 20 người, gồm ban tân nhạc và ban kích động nhạc, ban kịch, hai nhân viên chuyên trị cổ nhạc và một ảo thuật gia. Đó là lần đầu tôi thấy “dung nhan” ba nhạc sĩ thành danh là Nguyễn Vũ, Mặc Thế Nhân và Anh Thy. Riêng với Anh Thy, tôi vốn thích các bản Biển Tuyết, Tâm tình Người Lính Thủy, Lời Nguyện Cầu Nửa Đêm nên có ngay cảm tình.

Nguyễn Vũ vóc dáng nhỏ con, chững chạc, ít cười. Mặc Thế Nhân ngang tầm Nguyễn Vũ, nếu không tía lia thì luôn chúm chím. Còn Anh Thy, người cân đối, cao ráo, khuôn mặt điểm vài anh hoa phát tiết, miệng rộng môi dầy, cười hở hai hàm răng đều đặn. Ba nhạc sĩ thành danh nhưng chỉ mình Nguyễn Vũ ôm đàn trên sân khấu, còn Mặc Thế Nhân thì giữ vai kịch sĩ, Anh Thy làm hoạt náo viên. Đó cũng là lần đầu tôi biết mặt ca sĩ kích động Elvis Phương, lúc đó anh biết chỉ mỗi bản tân nhạc Mộng Dưới Hoa mà dân làng xã đều ….ngáp khi anh trình diễn. Còn đỡ hơn là khi anh hát kích động Anh Mỹ họ bỏ ra về. Có lẽ vì vậy mà năm sau anh xin qua Biệt đoàn văn nghệ trung ương.

Ban văn nghệ thường tháp tùng trên một trong hai chiếc y tế hạm, phối hợp thực hiện công tác có tên gọi chung là dân sự vụ. Công tác gồm trình diễn văn nghệ, khám bệnh phát thuốc, phát quà và truyền đơn. Đối tượng là các đơn vị Hải quân, gia đình binh sĩ và dân chúng ở các làng xã vùng xôi đậu, các hải đảo xa khơi… Mỗi chuyến kéo dài từ một đến hai tháng.

Sau chuyến công tác đầu tiên vùng Rạch Giá – Phú Quốc, tôi biết được tính tình và biệt danh của từng người. Như tay trống kích động tên Minh rất vui nhộn, có bộ mặt dài như mặt ngựa nên bạn bè gọi Minh ngựa. Hai tay đờn hiền hậu có cùng tên Đức nên được phân biệt Đức Cống, Đức Cạp. Riêng Anh Thy tuy dáng vẻ hào hoa, lịch lãm nhưng do mang tên thật là Phạm Văn Khổn nên bị anh em âu yếm tặng cho cái biệt danh khó nghe : Khổn Lò ! Dù vậy nhạc sĩ nhà ta lại tỏ ra thích thú.

Thời gian đó Sài Gòn đang lộn xộn với các cuộc đảo chánh, biểu tình nên dù vừa xa nhà cả tháng mới về, chúng tôi vẫn lãnh lệnh cấm trại 50%. Tôi và Anh Thy được chia cùng phiên trực nhật nên có cơ hội gặp nhau nhiều hơn. Một buổi tối, đang ngồi viết một truyện ngắn thì Anh Thy bước đến trước bàn, chân chập lại, tay đưa lên chào, nửa nghiêm nửa đùa. Anh tươi cười mở quyển Lướt Sóng đã cũ, chỉ bài thơ :

– Ông thầy ! Em viết bản nhạc khá lâu mà không đặt ra lời. Gặp cái tựa bài thơ của ông thầy em chịu quá. Xin phép cho em “chôm” cái tựa Hoa Biển để làm tựa cho bản nhạc.

Tôi vồn vã :

– Khỏi cần chôm cái tựa, hân hạnh tặng Anh Thy nguyên bài thơ để phổ nhạc.

Anh Thy đọc một đoạn trong tám đoạn :

“Áo trắng em mang hoa bọt biển. Còn đêm nay nữa, sáng xong rồi. Áo trắng anh mang cho trọn kiếp. Còn em một buổi để rồi thôi” ! Rất tiếc ông thầy, nghe …thảm quá ! Em chỉ thích những gì vui vui…

Hai tuần sau, Anh Thy vừa đàn vừa hát cho tôi nghe lời ca đã hoàn chỉnh. Tôi thích thú với những ý tưởng hòa ái thật khớp với giai điệu nhịp nhàng. Lời bài hát đè bẹp lời bài thơ. Hoa Biển được tiếp nhận nồng nhiệt dù phát hành sau Tết Mậu Thân tang tóc…

Chừng tháng sau, khi được chỉ định làm trưởng trại tiếp cư Phạm Thế Hiển, tôi kéo trọn trung đội này qua bên kia cầu chữ Y để giữ an ninh trật tự… Nhiều tháng sau đó, toàn ban lại khăn gói xuống chiếc y tế hạm, trực chỉ miền Trung, ngược dòng Hương giang đến ủi bãi bên cầu Tràng Tiền và bắt đầu công cuộc cứu trợ đồng bào nạn nhân chiến cuộc.

Ở Huế trở về, tôi được thăng cấp, thăng chức phó phòng, bàn giao ban văn nghệ cho một sĩ quan tân đáo. Bẵng một thời gian, một buổi sáng, Anh Thy vào văn phòng tặng tôi bản nhạc mới ra lò Lính Mà Em. Anh cho biết đã sáng tác trong những ngày ở Huế. Tôi có dịp hỏi anh học nhạc với ai. Anh Thy tươi cười, nghe cái “air” thì biết là ai rồi. Tôi thú nhận không rành nhạc. Anh lại cười, là Nhật Trường sư phụ !

Ngoài Anh Thy, Mặc Thế Nhân, Nguyễn Vũ cũng thỉnh thoảng tặng tôi các bản nhạc và các dĩa hát mang giọng ca Lệ Thu, Hoàng Oanh, Thanh Tuyền… Tôi cứ áy náy nghĩ đến chuyện phải tặng lại cái gì. Thời may bỗng tới. Buổi chiều đang đọc văn thư, tôi bất ngờ nhận điện thoại từ nhà văn Huỳnh Văn Phú. Chúng tôi mất liên lạc nhau từ sau trung học. Anh đang làm trưởng phòng Tâm lý chiến Bộ Tư Lệnh Sư đoàn Thuỷ quân lục chiến (TQLC) đồn trú cách chỗ tôi làm vài khu phố. Anh rủ đi nhậu ở một quán bên lề đường Phạm Ngũ Lão, tình cờ tôi ngồi cạnh nhà xuất bản Thiên Tứ. Ông Thiên Tứ thấy tôi mang hia đội mão hải quân nên trêu chọc : “Binh chủng nào cũng có truyện viết về binh chủng của họ như Đời Phi Công, Đời Pháo Thủ…, chắc Hải quân có người nhái nên lặn kỹ quá” ! Tôi khích lại : “Nếu ông in thì tôi viết.” Ông Thiên tứ tỉnh queo : “Nếu anh dám viết thì tôi dám in”. “Thật không” ? “Chỉ với một điều kiện : cái tựa phải là Đời Thủy Thủ”.

Tôi thấy cũng dễ… ăn tiền. Cứ dựa vào bốn năm đi tàu từ ngày ra trường, rồi thêm mắm thêm muối là thành truyện dài thỏa mãn điều kiện. Hăng hái, tôi miệt mài viết ba tháng liền nhưng vì ướt át quá nên trở ngại… phối hợp nghệ thuật. Mãi đến giữa năm 1969 tôi mới có sách để “đáp lễ” các nhạc sĩ của tôi. Khi đọc dòng đề tặng Mến tặng nhạc sĩ Anh Thi, anh gãi đầu xin sửa thành Thy. Vài hôm sau, Anh Thy chê : “Truyện viết về sĩ quan mà lại lấy cái tựa Đời Thủy Thủ”. Tôi bào chữa : “Thì quan đi tàu cũng là… thủy thủ” !

Chưa kịp hưởng cái thú chiều chiều dạo qua các nhà sách, sạp sách xem vị thế trình làng của Đời Thủy Thủ, tôi được lệnh tham dự hành quân tái lập quận Năm Căn. Toàn ban văn nghệ với sự tăng cường các chuyên viên tâm lý chiến gồm các nhà văn nhà thơ Võ Hà Anh, Phan Minh Hồng, Tống Minh Phụng, Tô Giang…, chúng tôi đảm trách phần nhiệm chiêu dụ dân chúng trở về quận cũ đang bỏ hoang. Ngày nào như ngày nào, cứ vừa ra khỏi căn nhà nổi trên sông Bồ Đề chừng vài trăm thước là bị tấn công. Tuần nào cũng có tử thương, bị thương nặng nhẹ. VC cũng không chừa cả chiếc y tế hạm có mang biểu tượng hồng thập tự to lớn hai bên hông.

Sau một tháng căng thẳng thần kinh, tôi may mắn trở về không bị sứt mẻ, lại đi nhậu với Huỳnh Văn Phú, lại bị nhà xuất bản khích tướng, rằng nếu tôi dám viết nữa thì ông sẽ dám in nữa. Tôi lại phải bỏ ăn, bỏ chơi, bỏ ngủ nhiều tháng. Nạp xong bản thảo cho Sở phối hợp nghệ thuật thì cũng vừa lúc tôi chia tay ban nhạc để về đơn vị mới vùng biên giới Việt-Miên. Ai cũng bùi ngùi. Riêng Anh Thy cười cười, mong sớm gặp lại ông thầy.

Gần Tết năm 71, lên Sài Gòn nhận sách biếu, tôi ghé Phòng tâm lý chiến ưu tiên gặp họa sĩ Vũ Thái Hòa (Nhiều thông tin trên interrnet cho rằng Anh Thy chính là Trần Thiện Thanh. Một bài viết của Vũ Thái Hòa cho rằng Phạm Văn Khổn không biết đàn và tiếm danh Anh Thy là của Trần Thiện Thanh. Còn Việt Dzũng cho biết Anh Thy soạn Hoa Biển chung với Trần Thiện Thanh) , người phụ trách trình bày tờ Lướt Sóng và vẽ bìa cho các quyển truyện dài của tôi. Kế đến là tìm các nhạc sĩ hải quân. Nhìn tựa truyện Trong Cơn Bão Biển, Anh Thy đùa : “À, truyện về bão, không phải về quan… thủy thủ !” Tôi cười gượng : “Vẫn là truyện quan thủy thủ !”.

Về lại vùng hoạt động, lòng nhủ lòng nhất định phải viết một truyện về lính. Cuối tuần, tôi theo các giang đỉnh đi hành quân tuần tiểu. Một giang đỉnh thường được trang bị bốn nhân viên. Thuyền trưởng thâm niên nhất mang cấp hạ sĩ quan. Đây là một tập hợp các nhân vật lý tưởng cho quyển truyện tương lai. Tôi quan sát nghi nhận sinh hoạt. Tôi nghiền ngẫm nội dung, sắp xếp bố cục. Đầu năm 75, quyển Một Dòng Sông Cho Chiến Đỉnh ra đời. Tôi ghé phòng Tâm lý chiến, hy vọng ban văn nghệ chưa đi trình diễn xa để có dịp khoe “thành tích” với Anh Thy. Nhưng Vũ Thái Hòa lại báo tin Anh Thy đã tử nạn trong một chuyến công tác năm rồi…

Anh Thy để lại mươi bài hát mang niềm vui và hãnh diện cho Hải quân Việt Nam. Riêng nhạc phẩm Hoa Biển được in như một sử liệu trong Tuyển Tập Hải Sử, trang 205, do Tổng Hội Hải Quân Hàng Hải ấn hành năm 2004.… Ngoài những lần gặp lại Nhật Trường Trần Thiện Thanh trên cuốn video Holywood Night, tôi còn có dịp gặp tận mặt trao đổi vài câu khi anh và ca sĩ Mỹ Lan phụ trách phần văn nghệ cho buổi ra mắt sách của nhà văn Phan Nhật Nam tháng 11/1997 tại thủ đô Hoa Kỳ. Nhạc sĩ Trần Thiện Thanh đã ký tặng tôi CD mới nhất Gọi Tên Anh Là… Lính, và thật tình cờ trong đó lại có bài Hoa Biển tôi ưa thích.

Một hôm nghe tin Nhật Trường tuyên bố giải nghệ, tôi gửi mua ngay cái DVD cuối cùng của anh : Nhật Trường Giã Từ Sân Khấu. Ngày 13 tháng 5 năm 2005, các báo đồng loạt đưa tin Trần Thiện Thanh đã vĩnh viễn ra đi…. Gần một năm sau, gần thủ đô của người Viêt tỵ nạn, Trung tâm Asia tổ chức một đại nhạc hội quy mô trên một sân khấu tráng lệ để vinh danh chàng ca sĩ kiêm nhạc sĩ tài hoa. Tôi muốn về tham dự nhưng ở quá xa. Đành phải chờ DVD 50 Anh Không Chết Đâu Anh phát hành tháng 4/2006.

Từ nhạc bản đầu tiên của DVD 1, tôi đã bắt đầu rơi nước mắt. Tôi say mê thưởng thức từng bài hát qua những giọng ca hàng đầu, qua nghệ thuật hòa âm hiện đại, trong một khung cảnh huy hoàng và trong nỗi xúc động sâu xa. Tới DVD thứ nhì, sau liên khúc Không Bao Giờ Ngăn Cách và Mùa Đông Của Anh, MC Việt Dzũng giới thiệu mục kế tiếp : “Ca khúc Hoa Biển được viết chung với nhạc sĩ Anh Thy, cũng là một Trung uý Hải quân”. Đang tràn ngập xúc động, lời giới thiệu làm tôi tỉnh người. Tôi chưa từng nghe hoặc đọc thấy tác giả Hoa Biển là Trần Thiện Thanh dù là soạn chung với Anh Thy. Trên các tác phẩm tôi được tặng, từ Anh Thy cũng như từ Trần Thiện Thanh, từ các bài viết xưa tới nay đều ghi một tác giả duy nhất là Anh Thy. Tác phẩm này nổi tiếng đến độ nói đến Hoa Biển là người yêu nhạc nghĩ đến Anh Thy hoặc nói đến Anh Thy là thấy Hoa Biển. Thêm một ngạc nhiên nữa, nhạc sĩ Anh Thy không thể là Trung úy Hải quân. Cho đến ngày tôi rời ban văn nghệ năm 1970, Anh Thy còn mang cấp hạ sĩ. Vào năm anh tử nạn 1974, có thể anh được vinh thăng Thượng sĩ.

Trong khi tôi còn đang ngơ ngẩn về tiết lộ tác giả mới của bài Hoa Biển thì một tiết lộ khác, kế tiếp, làm tôi sững sờ. Ở tiết mục ngay sau đó, MC Nam Lộc gợi ý cho nữ ca sĩ Thanh Tuyền đứng bên cạnh, rằng theo mọi người biết thì nhạc phẩm Chuyến Đi Về Sáng là của nhạc sĩ Mạnh Phát nhưng theo gia đình Nhật Trường tiết lộ thì ca khúc này là của Trần Thiện Thanh. MC Nam Lộc yêu cầu Thanh Tuyền, trong tư cách là học trò của nhạc sĩ Mạnh Phát và cũng là bạn thân của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh, hãy cho mọi người biết tác giả thực sự của Chuyến Đi Về Sáng. Thanh Tuyền xác nhận chính Trần Thiện Thanh sáng tác bản nhạc này nhưng vì do túng thiếu nên đem bán cho Mạnh Phát. Mạnh Phát góp phần hiệu đính nên tác giả là thực sự là cả hai người.

Hai tiết lộ liên tiếp, bất ngờ khiến tôi bực mình tắt máy và trằn trọc cả đêm. Trước Hoa Biển, Anh Thy đã là một nhạc sĩ nổi tiếng. Lời ca chắc chắn là của Anh Thy. Phần nhạc, rất có thể do Anh Thy sáng tác nhưng nhờ thầy Trần Thiện Thanh duyệt sửa ? Duyệt sửa thì có đáng gì nên “sư phụ” không muốn ghi tên mình vào. Lại nữa, có nên tin chăng sự việc “Trần Thiện Thanh hợp soạn cùng Anh Thy” khi mà ngay cấp bậc của Anh Thy đã được nêu lên không đúng ?

Trường hợp Chuyến Đi Về Sáng. Chuyện riêng giữa hai nhạc sĩ, làm sao Thanh Tuyền biết ? Có đáng tin không ? Sao Trần Thiện Thanh không bán thẳng cho nhà xuất bản mà lại bán cho Mạnh Phát ? Có thể đó là bản nhạc đã bị nhà xuất bản từ chối, nhưng vì đàn anh Mạnh Phát muốn giúp đàn em Trần Thiện Thanh có tiền thang thuốc cho con nên mới mua. Và dành quyền sửa chữa. Dù thế nào, việc đàn anh mua nhạc đàn em và đề riêng tên mình xem ra cũng không mấy tốt đẹp. Trần Thiện Thanh biết vậy nên đã tự trọng, biết ơn và giữ kín trọn đời. Vậy thì Thanh Tuyền lấy tư cách gì mà công khai phổ biến ? Chẳng lẽ Thanh Tuyền không hiểu làm như thế là bêu rêu cả hai nhạc sĩ ?

Việc chọn lựa nhạc để vinh danh Trần Thiện Thanh của Trung tâm Asia cũng lạ lùng. Trần Thiện Thanh nổi tiếng qua cả trăm bản nhạc, đâu cần phải “dựa hơi” hai bản chưa từng mang tên Trần Thiện Thanh. Vinh danh bằng hai bản nhạc “soạn chung” sao bằng hai bản của chính đương sự. DVD 50 chỉ mới sử dụng có 26 bản nhạc. Còn đến 80 bản. Như Mùa Xuân Lá KhôDấu Đạn Thù Trên Tường Vôi Trắng có phần mang nhiều ý nghĩa hơn cả Hoa BiểnChuyến Đi Về Sáng!

Một năm đã trôi qua kể từ ngày phát hành Asia DVD 50 Anh Không Chết Đâu Anh, một quãng thời gian đủ để tránh mọi ngộ nhận. Công trình huy hoàng tráng lệ đã gặt hái thành quả tương xứng. Xúc động của hàng trăm ngàn khán giả cũng đã lắng dần. Tôi thấy đây là lúc cần đặt ra câu hỏi: “Tại sao Trung tâm Asia lại nêu lên sự việc quá xa xưa, chỉ người trong cuộc mới biết, khi mà cả ba tác giả liên hệ đều đã qua đời ?” Những gì do các MC và ca sĩ Thanh Tuyền tiết lộ lại chỉ là những lời nói suông. Đây không thể là vấn đề giải trí, mua vui mà là vấn đề danh dự, đạo đức. Nếu vì mục đích “sự thực” thì hãy trưng bằng cớ… (Thạch Bích theo Vũ Thất)

Lan Hương chuyển tiếp

CON GÁI NHA MÂN (2)

VỀ MIỀN GÁI ĐẸP

BẬC NHẤT MIỆT CỬU LONG

– Tiếp theo và hết

Huyền thoại về miền gái đẹp 

Ông Tám Khai nói rằng, từ lúc còn nhỏ ông đã nghe ông cố, ông sơ kể lại, tương truyền vào tháng 7/1784, mượn cớ giúp chúa Nguyễn Ánh (vua Gia Long sau này) chống lại nhà Tây Sơn, khoảng 50.000 quân Xiêm và hơn 300 chiến thuyền do các danh tướng Chiêu Tăng, Chiêu Sương, Sa Uyển, Chiêu Chuỳ Biện chỉ huy cùng 4.000 quân của chúa Nguyễn Ánh theo hai đường thuỷ, bộ tiến vào địa phận Kiên Giang.

Đến cuối năm 1784, liên quân Xiêm – Nguyễn chiếm được một số vùng đất ở phía Tây thành Gia Định, đóng quân ở vùng Trà Tân (nay có lẽ là vùng Hòa Khánh thuộc huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang) để dự trữ lương thảo, vật lực chuẩn bị đánh thành Mỹ Tho và Gia Định.

Khi hay tin liên quân Xiêm – Nguyễn uy hiếp thành Mỹ Tho, Gia Định, tháng 1/1785, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ đưa 20.000 quân thuỷ, bộ từ Quy Nhơn hành quân cấp tốc vào Gia Định. Sau khi xem xét tình hình, Nguyễn Huệ không chủ trương phòng thủ thành Gia Định đang bị uy hiếp, tức tốc đưa quân xuôi xuống thành Mỹ Tho quyết chiến với quân Xiêm.

Trong những ngày đầu, Nguyễn Huệ dùng lực lượng nhỏ thăm dò, nghi binh, cử người mang của cải cầu hoà với Chiêu Tăng nhằm tạo sự chủ quan, gây chia rẽ nội bộ và dụ liên quân Xiêm – Nguyễn sớm tiến đánh Mỹ Tho. Sau khi điều nghiên địa hình, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ quyết định chọn đoạn sông Tiền từ Rạch Gầm đến Xoài Mút dài khoảng 6-7 km (nay thuộc địa phận huyện Châu Thành, Tiền Giang) làm nơi quyết chiến với liên quân Xiêm – Nguyễn.

Rạng sáng ngày 19/1/1785, từ Trà Tân, Chiêu Tăng chỉ huy toàn bộ lực lượng hành quân xuôi về hạ lưu sông Tiền, đẩy quân Nguyễn đi trước, tiến đánh thành Mỹ Tho. Khi hầu hết thuyền quân Xiêm – Nguyễn lọt vào trận địa phục kích tại Rạch Gầm – Xoài Mút, quân Tây Sơn dùng pháo đặt trên thuyền, trên bờ và cù lao Thới Sơn bắn áp đảo, đồng thời thuỷ binh từ các nhánh sông tiến ra và từ Mỹ Tho kéo lên chặn đầu, khoá đuôi, đánh tạt sườn.

Bộ binh Tây Sơn đón lõng diệt tàn quân trốn chạy trên bờ. Kết quả là toàn bộ mấy trăm chiến thuyền và phần lớn liên quân Xiêm – Nguyễn bị diệt. Chiêu Tăng, Chiêu Sương cùng vài nghìn quân sống sót mở đường máu rút về Xiêm.

Lúc đó chúa Nguyễn Ánh ở phía sau, nghe tàn quân hớt hãi quay lui báo hung tin thất trận, vội quay thuyền lại đưa toàn bộ bầu đoàn thê tử chạy theo sông Tiền tìm đường trốn sang Xiêm. Trên đường tháo thân, vì bị quân Tây Sơn truy đuổi gắt gao, người đông, thuyền nặng nên các cận thần, quan lại khuyên chúa Nguyễn Ánh cần phải làm cho thuyền nhẹ bớt.

Không còn cách nào khác, chúa Nguyễn Ánh đã gạt nước mắt, bấm bụng bỏ lại hàng trăm cung tần mỹ nữ dọc đường, cho lên tá túc ở các làng bên bờ sông Tiền, nay thuộc Nha Mân (Châu Thành, Đồng Tháp) và Mỹ Luông (Chợ Mới, An Giang) cho “nhẹ gánh loạn ly”.

Những mỹ nhân bị rơi rớt trôi dạt sau đó lấy chồng là người địa phương, sinh con đẻ cái đều là “nam đồng, ngọc nữ”. Chính nhờ nguồn gen cung phi mỹ nữ từ thời xa xưa lưu truyền đến nay, xứ Nha Mân mới có nhiều thiếu nữ đẹp.

Trong khi đó nhóm cung phi mỹ nữ dạt vào cù lao Ông Chưởng (Chợ Mới, An Giang) cũng lấy chồng, sinh con đẻ cái, cũng tạo được một “miền gái đẹp” nhưng không nổi tiếng bằng con gái Nha Mân. Theo ông Tám Khai, từ xưa đến nay người đẹp xứ Nha Mân đếm không kể xiết, nghe đồn trước đây các vua xứ Cao Miên còn chịu khó xuôi dòng sông Tiền sang tận Nha Mân để chọn vợ.

Nhắc những người đẹp thời xa xưa ở làng Nha Mân, ông Tám Khai kể vanh vách: ông Quản Y có ba người con gái đẹp nức tiếng Nam Kỳ.. Ông Quản Chức có chị Tám Ngự, chị Mười Xinh. Hai đứa con gái thứ 11, 13 của ông chủ Trọng cũng là người đẹp vang danh một thời. Thầy giáo Chữ cũng có con gái đẹp.

Chị Bảy Nhẫy, cô Tư Nga là những người đẹp nhìn không chán mắt. Trong vùng còn có anh Hai Rít lai Tây, đẻ ra cô Ba Xê đẹp chim sa cá lặn vì phối hợp được nết đẹp Tây với vẻ đẹp cung đình Việt Nam. Hồi cô Ba Xê chết, đã 70 tuổi mà nhìn cũng còn đẹp lão. Ông  Tám Khai kể, hồi xưa cứ Tết đến, đám trai làng rất khoái đi chợ tết để “rửa mắt” vì trong chợ toàn là đàn bà con gái đẹp… “não nùng”.

Ông Tám Khai khẳng định, đàn bà ở Nha Mân đẻ mười đứa con gái thì hết chín đứa là người đẹp, đứa còn lại cũng bậc trên trung bình, và không ở đâu những ngày Tết lại vui bằng Tết ở Nha Mân. Trong những ngày xuân, trên những con đường dọc theo các bờ kênh, bờ rạch lúc nào cũng nườm nượp đàn bà con gái đẹp quần là áo lượt muôn màu sắc ngược xuôi, kẻ vào trong ngọn, người ra ngoài vàm thăm viếng thân nhân, bạn bè, nhìn không chán mắt.

Ly kỳ những phận hồng nhan 

Buổi sáng ngồi nhâm nhi cà phê trong các quán xá quanh chợ Nha Mân, cái nôi của những người đẹp miệt vườn, có thể nghe hàng trăm câu chuyện về những người đẹp Nha Mân. Ông Tám Khai, ông thường có thói quen uống cá phê từ sáng sớm ở các quán quanh chợ Nha Mân, vừa ngồi nhâm nhi ly cà phê vừa nhìn ngắm các bà, các cô đi chợ sớm, tất bật bán mua nhưng vành nón lá vẫn không che hết được vẻ đẹp mặn mòi, duyên dáng.

Lâu dần, ngồi quán uống cà phê ngắm những người đàn bà đẹp trở thành một thói quen kỳ thú, bất di bất dịch của đám đàn ông con trai xứ Nha Mân. Những bậc trưởng thượng ở xứ Nha Mân thường nói, con gái Nha Mân xinh đẹp chim sa cá lặn là niềm hãnh diện của làng xóm, nhưng đó cũng là bi kịch cho không ít người.

Một trong những bi kịch ở “miền nhan sắc” này được bàn tán nhiều nhất mà ông Tám Khai còn nhớ rõ đến giờ là chuyện ăn ở bất nhân thất đức, quả báo nhãn tiền đối với ông bầu gánh hát Quốc Bửu Bang. Chuyện kể rằng, hồi xưa gánh hát Quốc Bửu Bang là một trong những gánh hát nổi tiếng của miền Tây Nam Bộ.

Trong gánh hát này, có rất nhiều đào tơ xinh đẹp mơn mởn, nhưng không có nhan sắc của cô đào nào có thể sánh với nét đẹp chim sa cá lặn của vợ ông thầy tuồng, là người chuyên viết kịch bản cho đoàn hát diễn, dù cô vợ ông thầy tuồng chỉ đơn thuần làm việc nội trợ, không biết hát hò. Sở dĩ cô vợ của ông thầy tuồng có sắc đẹp ăn đứt các cô đào của gánh hát Quốc Bửu Bang chỉ vì một điều đơn giản: cô ta là con gái Nha Mân chính gốc.

Ông thầy tuồng giấu vợ ở nhà, không dám cho đi theo đoàn hát vì biết rõ tính háo sắc, hoang dâm vô độ của ông chủ gánh Quốc Bửu Bang. Ông thầy tuồng cũng không bao giờ dám mời ông chủ gánh hát đến nhà và cũng chưa bao giờ dám tiết lộ nơi ở của mình cho ông chủ gánh hát biết. Nhưng trong một lần ông thầy tuồng lâm bệnh kéo dài, gánh hát không còn tuồng mới để hát, túng thế, ông chủ gánh hát phải dò hỏi khắp nơi và tìm được nhà ông thầy tuồng.

Ban đầu, ông chủ gánh hát Quốc Bửu Bang chỉ định đến nhà ông thầy tuồng để thăm bệnh và lấy vở mới đem về cho đoàn hát diễn. Nhưng khi bước vào nhà, vừa nhìn thấy nhan sắc của cô vợ ông thầy tuồng, ông chủ gánh hát Quốc Bửu Bang hồn xiêu phách lạc, hai con mắt nhìn người đẹp thiếu điều… rớt xuống đất.

Máu háo sắc bốc lên phừng phừng, từ đó ông chủ gánh hát Quốc Bửu Bang càng ngày càng chăm lui tới nhà của ông thầy tuồng, ban đầu còn e dè nhìn ngắm lén lút cô vợ, nhưng càng về sau ông chủ gánh hát càng công khai, không thèm giấu diếm chuyện ông ta đang chết mê chết mệt nhan sắc của cô vợ thầy tuồng, và tuyên bố trước sau gì ông ta cũng sẽ tìm cách chiếm đoạt cho bằng được mỹ nhân.

Làng xóm, người đời dị nghị cười chê, ông chủ gánh hát mặc kệ. Vợ con ghen tuông chửi mắng om sòm, ông chủ gánh hát bỏ ngoài tai. Trong lòng chủ gánh hát bây giờ không còn gì quan trọng bằng việc phải tìm mọi mưu ma chước quỷ để chiếm đoạt cho bằng được cô  vợ mỹ miều của ông thầy tuồng.

Ông thầy tuồng thấy sự tình như vậy, nhiều lần năn nỉ, lạy lục van xin ông chủ gánh hát buông tha cho vợ chồng ông, tha cho cái gia đình nhỏ của ông, nhưng lão chủ gánh hát tham lam háo sắc và bất nhân không thèm đếm xỉa, càng ngày càng túc trực ở nhà ông thầy tuồng, hoặc tìm mọi cách đón đường cô vợ xinh đẹp của thầy tuồng để giở trò ghẹo nguyệt trêu hoa, tìm cách cưỡng bức mỹ nhân. Ông thầy tuồng đã vài lần dời nhà để tránh chủ gánh hát, nhưng không biết bằng cách nào, lão chủ gánh hát háo sắc lại tìm được, mò tới.

Làm đủ mọi cách cũng không thể tránh khỏi chủ gánh hát, một ngày mưa tầm tã ông thầy tuồng phẫn chí lấy dao mổ bụng tự sát, còn cô vợ xinh đẹp của ông cũng biến mất tăm, không ai biết cô ta đi tu hay đã nhảy xuống sông Tiền tự tử chết theo ông thầy tuồng. Nhưng khi câu chuyện bi thảm của vợ chồng ông thầy tuồng vẫn còn nóng hổi, làng xóm vẫn còn bàn tán râm ran thì gánh hát Quốc Bửu Bang đột nhiên lụi bại, tan rã.

Mấy cụ cao niên ở xứ Nha Mân nói rằng, từ khi ông thầy tuồng chết, gánh hát Quốc Bửu Bang không còn người viết tuồng mới nên cứ đem tuồng cũ ra diễn tới diễn lui nên ai cũng chán, chẳng ai thèm coi hát nữa, khiến gánh hát ngày càng lụi bại. Nhưng ở góc độ tâm linh, có nhiều người cho rằng gánh hát Quốc Bửu Bang tan rã là do trời quả báo, trời cao có mắt, nhìn thấy dã tâm cướp đoạt vợ người khác một cách bất nhân của ông chủ gánh hát Quốc Bửu Bang nên đã khiến cho gánh này suy tàn.

Từ ngày gánh hát tan rã, ông chủ gánh Quốc Bửu Bang từ chỗ giàu có vô song trở thành kẻ sạt nghiệp, trắng tay, vợ con của lão cũng chẳng thèm nhòm ngó, nên cuối cùng lão phải quay về ngồi lay lắt ngoài rìa chợ Nha Mân ăn xin. Nhưng khi nhìn thấy sự suy sụp của lão chủ gánh hát háo sắc, người ta chẳng những không thương hại cho tiền, mà còn đem chuyện ông ta hại chết ông thầy tuồng, làm gia đình người khác tan nhà nát cửa, để phỉ nhổ, thóa mạ thậm tệ.

Cuối cùng ông chủ gánh hát bất nhân bất nghĩa phải lâm vào cảnh chết không có hòm chôn, chỉ được người đời thương tình bố thí cho manh chiếu rách đem vùi thân ở bãi tha ma.

Câu chuyện về người đẹp Nha Mân được nhiều người biết và truyền tụng nhất, chính là chuyện về cô Hai Hiên. Ông Tám Khai nói, các bậc bô lão ngày xưa kể rằng, hơn 150 năm trước, vợ chồng ông Phạm Văn Cần, làm ăn sinh sống ở khu vực vàm sông Nha Mân, lúc bấy giờ thuộc làng Phú Nhuận, tổng An Mỹ, Sa Đéc, sinh được một người con gái đặt tên là Phạm Thị Liên, nhưng trong gia đình thân tộc và bà con lối xóm thường gọi là Hai Hiên.

Cô Hai Hiên là con gái duy nhất của ông bà Cần, từ nhỏ đã xinh đẹp mỹ miều nổi tiếng trong vùng. Đã có nhiều đám ngấp nghé, mai mối muốn kết tình thông gia với ông bà Cần, hỏi cưới cô Hai Hiên về làm dâu, nhưng ông bà Cần chưa kịp chọn ai thì đột ngột cô Hai Hiên qua đời.

Cái chết của cô Hai Hiên làm cho người cha hết sức buồn đau, khóc hết nước mắt thương tiếc và không giấu được sự oán hận trời xanh không công bằng. Hết than khóc đến trách trời xanh không có mắt mà cô Hai Hiên vẫn không thể sống lại, ông Cần phẫn chí quay sang trách móc Quan Thánh Đế Quân (Quan Công, Quan Vân Trường). Từ lâu trong nhà ông Cần luôn có bàn thờ và bức tượng Quan Công, biểu trưng cho lòng trung cang nghĩa khí.

Khi cô Hai Hiên lâm bệnh chết khi tuổi đời còn quá trẻ, ông Cần cho rằng ngài Quan Công đáng lý ra phải soi xét công minh, không thể để ông phải mất đi đứa con gái mà ông yêu quý nhất trên đời. Nhưng đức Quan Thánh Đế Quân không công bằng nên đã khiến ông Cần phải lâm vào cảnh mất đứa con gái độc nhất mà vợ chồng ông vô cùng yêu quý, khiến vợ chồng ông phải chịu cảnh “tre khóc măng, cha mẹ già khóc con trẻ bạc phận”. Càng đau thương, oán trách, ông Cần càng như phát điên.

Trong cơn nóng giận, ông Cần nghĩ rằng ngài Quan Công dứt khoát phải được chôn theo con ông để còn phân giải, đối chất khi Diêm vương phán xét. Nghĩ như vậy nên khi chuẩn bị khâm liệm cô Hai Hiên, ông Cần không ngần ngại lấy ngay bức tượng Quan Công đắp lên thi hài cô Hai Hiên và đóng nắp hòm lại.

Sự việc này đã gây kinh động cả xứ Nha Mân lúc bấy giờ, bởi xưa kia người dân Nha Mân có tín ngưỡng thờ phụng Quan Thánh Đế Quân. Chính vì vậy mà hành động chôn tượng Quan Thánh Đế Quân theo thi hài cô Hai Hiên của ông Cần làm kinh động người dân bản xứ.

Không biết ngài Quan Công có phần trần gì với Diêm Vương ở chốn âm ty địa ngục hay không, nhưng sau khi an táng cô Hai Hiên được ba ngày, nhiều người dân xứ Nha Mân tận mất nhìn thấy cô hiển linh, hiện về thăm cha mẹ và giúp đỡ dân nghèo, những người bệnh tật. Đến lúc này thì xứ Nha Mân lại lan truyền tin đồn, cô Hai Hiên được Quan Thánh Đế Quân phù trợ nên không phải về chầu Diêm Vương, sống lây lất trong cõi u minh mà hóa thành cốt linh của người con gái đồng trinh, ngày ngày hiển linh giúp đỡ mọi người.

Nhiều người dân xứ Nha Mân nói, cô Hai Hiên trở nên hiển linh là vì cô, người con gái đồng trinh, chết nhằm giờ thiêng và có bức tượng Quan Thánh Đế Quân được chôn theo.. Cô Hai Hiên chết đi nhưng vẫn hiển hiện trên đời, do cô còn rất trẻ, đang tràn đầy nhựa sống. Những người rành chuyện cô Hai Hiên ở xứ Nha Mân kể rằng, chỉ ba hôm sau khi chôn cất, cô Hai Hiên trở về để thăm cha mẹ.

Người ta kể, cô Hai Hiên hiển hiện khắp nơi, trong đó có câu chuyện kỳ thú về việc cô quá giang ghe bầu của những người buôn bán ra thăm xứ Huế, vì khi còn sống cô Hai Hiên có ước nguyện được thăm kinh thành Huế, nguồn cội của những cung tần mỹ nữ do loạn ly đã phải lưu lạc tận xứ Nha Mân.

Lần đó, đoàn ghe bầu chở hàng hóa ra Huế khi đi trên sông Tiền ngang qua xứ Nha Mân thì có một người con gái xinh đẹp gọi lại xin quá giang về Huế thăm lại quê xưa. Dù không biết cô gái là ai nhưng những chủ ghe tốt bụng hô phu chèo ghé vào bến, cho cô gái  quá giang. Trên đường theo ghe bầu vượt biển ra Huế, suốt nhiều tháng trời, nhiều lần cô Hai Hiên ngấm ngầm trợ giúp những người đi thuyền có lòng tốt vượt qua phong ba bão dữ, nhưng cũng không ai hay biết.

Ra đến Huế, sau khi thăm thú các nơi, cô Hai Hiên gửi về cho cha mẹ ở quê nhà Nha Mân một cây quế và nhánh bưởi Thanh Trà, đặc sản của xứ Huế, nhờ các chủ ghe khi đi ngang qua Nha Mân thì chuyển cho ông bà Cần. Khi đoàn ghe bầu về ngang qua xứ Nha Mân, ghé lại tìm nhà ông bà Cần để đưa cây quế và nhánh bưởi của cô Hai Hiên gửi tặng, mọi người mới tá hỏa khi được ông bà Cần cho hay cô Hai Hiên chết đã lâu và hai ông bà già còn dẫn họ ra thăm mộ cô Hai để chứng minh.

Đến khi người dân trong xứ Nha Mân hay tin, đến xem và kể cho các chủ ghe bầu những việc hiển linh giúp đời, giúp người của cô Hai Hiên và qua miêu tả của dân làng, những chủ ghe bầu mới biết chính cô Hai Hiên đã hiển linh đi cùng họ trong suốt nhiều tháng trời từ Nam ra Huế.

Ông Tám Khai nói, theo lời ông bà xưa kể lại thì cây quế và nhánh bưởi Thanh Trà của cô Hai Hiên trồng trong vườn nhà ông bà Cần rất tươi tốt. Cây bưởi năm nào cũng trĩu quả và được ông bà Cần chia cho dân làng Nha Mân cùng ăn lấy thảo, còn cây quế thì được dùng làm thuốc để chữa bệnh cho dân làng.

Nhưng đến đầu năm 1946, khi quân Pháp quay lại Cái Tàu Hạ, Nha Mân, cây quế và cây bưởi Thanh Trà của Cô Hai Hiên gửi cho cha mẹ đã bị giặc Pháp ra tay đốn hạ. Vì vậy mà hiện nay ở xứ Nha Mân vẫn còn lưu truyền câu ca : “Thương thay cây quế vườn Nha, thù giặc Pháp, ghét gian tà đốn đi”. Ông Tám Khai nói, sau nhiều lần cô Hai Hiên hiển linh giúp đời, giúp người, nhiều nhà lập bàn thờ cô Hai để thờ phụng nhang khói, nhiều xóm ấp xây miếu thờ cô và cô Hai Hiên đã trở thành một tín ngưỡng dân gian.

Ở Chùa Tây An dưới chân Núi Sam, Châu Đốc, tỉnh An Giang, trong điện thờ Phật có đặt ban thờ Cửu Thiên Huyền Nữ, Bà Chúa Ngọc, Bà Chúa Tiên và cả Cô Hai Hiên mà nhiều người quen gọi là bàn thờ Phật Cô Hai. Hàng năm, vào ngày 25 tháng 8 Âm lịch, người dân xứ Nha Mân thường tổ chức trọng thể Ngày vía Cô để cúng bái cô Hai Hiên, cầu mong cô phù hộ cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt.
Ông Tám Khai kể, trong ngày vía Cô Hai Hiên, những ông già bà cả thường hay kể cho đám con cháu hậu sinh nghe nhiều chuyện ly kỳ về việc cô Hai Hiên hiển linh giúp đời, giúp người.

Nhưng ngày nay “miền gái đẹp” Nha Mân đang có nhiều thay đổi. Ông Tám Khai dẫn tôi ra chợ Nha Mân, nơi được xem là chiếc nôi của “miền gái đẹp”. Chợ vẫn náo nhiệt, nhưng khó tìm đâu ra một bông hoa đặc sắc tiêu biểu cho “miền gái đẹp”, thiếu nữ 18 tuổi đến 25 đẹp rực rỡ càng khó, dù trong nhiều cuộc thi nhan sắc, con gái Nha Mân từng đoạt các giải thưởng lớn.

Ông Tám Khai nói, giống như nhiều vùng quê ở miền Tây, do cuộc sống khó khăn quá nên các cô gái xinh đẹp đã rủ nhau lên Sài Gòn mưu sinh. Những năm gần đây tiếng đồn gái Nha Mân đẹp người, tốt nết đã lan ra khỏi biên giới Việt Nam và nhờ miệng lưỡi dẻo quẹo của đám mai mối lấy chồng nước ngoài mà rất nhiều gái đẹp xứ Nha Mân đã lên máy bay, về làm dâu xứ Đài Loan, Hàn Quốc, để lại nỗi buồn da diết trong lòng đám trai làng dọc theo bờ rạch Nha Mân. Ông Tám Khai bùi ngùi nói, cứ đà nay, không khéo vài năm nữa “miền gái đẹp” Nha Mân sẽ không còn gái đẹp.

Về miền đất “sắc” 

Cách Sài Gòn 130 km, xã Tân Nhuận Đông, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp được mệnh danh là “cái nôi của nét đẹp cung tần mỹ nữ”. Anh Huỳnh Hoàng Quân, Trưởng ấp Tân Lập, xã Tân Nhuận Đông dắt chúng tôi đi gặp các mỹ nhân từng vang bóng một thời.

Dù bước sang cái tuổi xế chiều, nhưng nét đẹp vẫn còn in đậm trên khuôn mặt của cụ Phạm Thị Cám, 94 tuổi. Cụ nhớ lại: “Lúc nhỏ được ba mẹ nhiều lần kể về sự kiện năm 1785, Nguyễn Huệ cầm quân Tây Sơn đánh tan quân Xiêm liên minh với Nguyễn Ánh trên sông Rạch Gầm-Xoài Mút. Trước khi tháo chạy ra đảo Phú Quốc, Nguyễn Ánh đã bỏ lại hàng trăm cung tần mỹ nữ. Sau đó, các cung phi sắc nước nghiêng thành này đã lấy các chàng trai ở đất Nha Mân. Chính vì vậy, con gái Nha Mân tuy xuất thân từ nông dân nhưng rất đẹp. Đầu thế kỉ 20, nghe danh gái Nha Mân, vua Cao Miên cũng tìm sang kiếm vợ”. Cụ Huỳnh Thị Sáu, 84 tuổi, cũng là một trong những mỹ nhân ở vùng đất Nha Mân một thời. Cuộc sống của cụ gặp nhiều trắc trở.

Hồi ở cái tuổi đôi mươi, rất nhiều người khá giả đến dạm hỏi nhưng cụ nhất quyết không chịu. Cuối cùng, cụ chọn người đàn ông “chân lấm tay bùn” xuất thân như mình. Nhưng đến cái tuổi hồi xuân rạo rực, cụ phải gánh chịu nỗi đau mất chồng. “Chịu tang ổng mới có vài tháng là có nhiều người giàu đến dạm hỏi, nhưng tui từ chối hết để giữ son sắt với chồng. Lúc chưa có gia đình, ba mẹ răn dạy lễ nghĩa “công dung ngôn hạnh” của người con gái ở xứ Đồng Tháp Mười này kỷ lắm nên tui không dám làm trái”.

Anh Quân dắt chúng tôi đi khắp ấp để tìm các cô gái Nha Mân ở tuổi đôi mươi với chiếc áo bà ba truyền thống. Nhưng đi tới đâu người dân cũng lắc đầu nói : “Không có ai nữa đâu mà kiếm, tụi trẻ cưới chồng Đài Loan, Hàn Quốc và đi lên Sài Gòn hết rồi. Còn chiếc áo bà ba tụi nó chê quê mùa có mặc nữa đâu”.

Cái đẹp tàn phai

Bà Nguyễn Thị Lan, 61 tuổi, ngụ ấp Tân Lập nói: “Tôi không hiểu lũ trẻ lên Sài Gòn làm gì trên đó, nhưng mỗi khi về quê là chúng nó ăn mặc, đi đứng đều thay đổi. Nói chuyện với ai cũng chê là “đồ hai lúa quê mùa”. Những ngày Lễ, Tết, khu Nha Mân như trở thành nơi trình diễn thời trang “thiếu áo, thiếu quần” rất kỳ quái. Cái nết, cái bảnh đã bị lớp trẻ làm mai một rồi. Chiếc áo bà ba tụi nó chê là lạc hậu, nghĩ mà xót xa”.

Từ ngày phong trào lấy chồng Đài Loan, Hàn Quốc lan về đã làm cho xứ Nha Mân loạn nhịp. Nhiều năm qua, “cò” luôn lùng sục từng nhà để tìm các cô gái trẻ có nhan sắc. Nhiều lần những người môi giới đem 30 triệu đồng đến năn nỉ bà Lan gả con gái cho một người Đài Loan, nhưng bà không đồng ý. Gần nhà bà Lan cũng có hai cô gái trẻ lấy chồng Hàn Quốc. Mẹ của hai cô gái này cho biết: “Số tiền mấy chục triệu mà “cò” đem tới là để dàn cảnh thôi, họ rước con tôi xong là lấy lại số tiền đó”.

Năm 2005, tại nơi Nguyễn Ánh năm xưa cùng đoàn phi tần dừng chân nghỉ ngơi, được chọn để xây chợ Nha Mân. Trong lúc đào hệ thống thoát nước, đơn vị thi công phát hiện dưới lớp đất sâu có 2 chiếc hòm, bên trong chứa hàng trăm cân tiền xu. Số tiền này được Bảo tàng tỉnh Đồng Tháp lưu giữ. Để tưởng nhớ sự kiện lịch sử này, UBND xã Tân Nhuận Đông lấy hình ảnh đĩnh vàng và đồng xu để làm biểu tượng của chợ. Họa tiết trang trí hàng chục ngôi nhà xung quanh chợ Nha Mân cũng được lấy hình ảnh đồng tiền xu. Họ cho rằng, đó là sự giàu sang trù phú người đi trước để lại.

Ông Tươi, Chủ tịch xã Tân Nhuận Đông cho biết, một năm ở xã có khoảng 1.000 người đang ở độ tuổi lao động đi làm ăn xa. “Nét đẹp con gái Nha Mân mất đi buồn lắm.. Nơi này đã sinh ra những người con gái đẹp người, đẹp nết nhất các tỉnh miền Tây. Vì vậy chúng tôi đang cố gắng khôi phục lại, không để sắc đẹp bị “chảy máu” nữa. Từ đầu năm đến nay, xã mở 3 lớp đan thêu cho phụ nữ và xây dựng dự án các khu công nghiệp để thu hút nguồn nhân lực”.

Chuyện khôi phục hình ảnh con gái Nha Mân không phải nói là làm được, vì hiện tại cái đẹp, cái bảnh trong câu ca dao lưu truyền “Gà nào hay bằng gà Cao Lãnh / Gái nào bảnh bằng gái Nha Mân” giờ chỉ còn là ký ức. (theo Du Nguyễn)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

CON GÁI NHA MÂN (1)

VỀ MIỀN GÁI ĐẸP BẬC NHẤT

MIỆT CỬU LONG

Nằm cách trung tâm thành phố Cao Lãnh khoảng 30km, Nha Mân (xã Tân Nhuận Đông, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp) từ lâu đã nổi tiếng với câu ca dao: “Gà nào hay bằng gà Cao Lãnh. Gái nào bảnh bằng gái Nha Mân” để chỉ miền gái đẹp bậc nhất ở miệt sông nước Cửu Long. Vậy điều gì đã khiến con gái Nha Mân hầu hết đều “sắc nước, hương trời” đến vậy ?

Yếu tố lai giữa 3 dân tộc ? Những ngày cuối tháng 7 vừa rồi, tôi có dịp trở lại Nha Mân trong một chuyến công tác. Ở đây, hỏi bất kỳ ai về gốc tích nhan sắc con gái Nha Mân, bà con đều kể giống như in về cuộc binh biến thời Tây Sơn – Nguyễn Ánh. Đó là trận Rạch Gầm – Xoài Mút đêm 19 rạng 20.01.1785, Nguyễn Huệ đánh tan hai vạn quân Xiêm – Nguyễn. Sau khi thua trận thì bầu đoàn thê tử của Nguyễn Ánh chạy về lánh nạn ở rạch Nha Mân (nay thuộc xã Tân Nhuận Đông, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp).

Chợ Nha Mân ngay trung tâm thị trấn

Trên đường tháo thân, vì bị quân Tây Sơn truy đuổi gắt gao. Nguyễn Ánh đã gạt nước mắt, bỏ lại hàng trăm cung tần mỹ nữ dọc đường, cho lên tá túc ở các làng bên bờ sông Tiền, trong đó có vùng Nha Mân (Châu Thành, Đồng Tháp). Những mỹ nhân này sau đó lấy chồng là người địa phương, sinh con đẻ cái. Chính nhờ “nguồn gen cung phi mỹ nữ”, xứ Nha Mân mới có nhiều thiếu nữ đẹp như vậy.

Thế nhưng, chúng tôi tìm mãi trong sử sách của triều Nguyễn không hề ghi chép chi tiết này. Một lần gặp được thạc sĩ Nguyễn Hữu Hiếu – Phó chủ tịch Hội Khoa học lịch sử Đồng Tháp, ông cho biết : “Theo sách Nguyễn Phúc Tộc Thế Phả (gia phả nhà Nguyễn), thì năm lên 13 tuổi (1774), Nguyễn Ánh đã bắt đầu “chạy giặc” vào miền Nam khi quân Trịnh tấn công vào Thuận Hóa.

Những năm sau đó, cuộc chiến giữa nhà Nguyễn và quân Tây Sơn diễn ra ngày càng khốc liệt, nhiều lần thua trận, ông bị quân Tây Sơn truy đuổi ráo riết, sống lưu lạc khắp nơi, trong đó có lần cầu viện quân Xiêm như đã nói. Nếu tính từ lúc Nguyễn Ánh vào Gia Định (1775) cho đến trận Rạch Gầm – Xoài Mút (1785), thì đây là khoảng thời gian Nguyễn Ánh phải bôn ba khắp nơi, lúc thì trốn chạy, lúc lo gây dựng binh lực để đánh quân Tây Sơn.

Trong hoàn cảnh như vậy, liệu ông có thể lập cho mình “năm thê bảy thiếp” ? Mặt khác, nhiều câu chuyện trong dân gian kể rằng, có thời điểm, Nguyễn Ánh phải bôn tẩu một thân một mình, không nhà không cửa, sống nhờ sự đùm bọc của người dân. Vậy, nếu lập bầu đoàn thê tử thì họ sống ở đâu ?… Ngày nay khoa học cũng đã chứng minh rồi, cha mẹ đẹp chưa chắc gì sinh con ra đã đẹp”. Ông Hiếu nói.

Nếu gái đẹp Nha Mân không phải di truyền từ cung tần mỹ nữ của Nguyễn Ánh, thì bắt nguồn từ đâu ? Hàng trăm năm qua, ở vùng đất Nha Mân, dân gian vẫn còn kể về sự tích cô Hai Hiên với màu sắc huyền bí.

Chuyện xảy ra vào năm Mậu Ngọ, niên hiệu Tự Đức thứ 11, tức năm 1858 tại thôn Phú Nhuận, tổng An Mỹ, huyện An Xuyên, tỉnh An Giang, nay là ấp Tân Hòa, xã Tân Nhuận Đông, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp (từ năm 1967 – 1975 khu vực này thuộc tỉnh Sa Đéc, bên bờ sông Tiền, cách chân cầu Mỹ Thuận 8km, bờ Nam, phía thượng nguồn, địa danh dân gian gọi là Nha Mân, bởi có con rạch cùng tên chảy qua).

Ông Hương Cả làng Phú Nhuận tên Phạm Văn Cần cưới người vợ tên Võ Thị Niên và sinh được một người con gái tên Phạm Thị Liên (thường gọi là cô hai Hiên). Cô hai Hiên càng lớn càng xinh đẹp nhất vùng, nhiều người danh gia, thế phiệt đem trầu cau dạm hỏi nhưng đều bị cô từ chối.

Vào ngày 25 tháng 8, năm Mậu Thìn (1858), cô hai Hiên tròn đôi tám, một buổi chiều dạo chơi trên bờ sông Nha Mân, bỗng nghe tiếng gọi đò. Người đưa đò đi vắng, tiếng bà lão gọi hối hả bên kia sông như có chuyện cần kíp. Động lòng, cô Hai nhảy xuống chèo đò rước bà lão.

Đò ra giữa dòng Nha Mân chảy xiết, khiến cô chới với té nhào xuống sông. Mọi người tri hô lên, ông Cả hay tin chạy ra vớt con lên thì cô đã tắt hơi. Đau lòng trước cái chết của cô con gái, ông cả Cần oán trách cao xanh. Trong nhà ông từ lâu có thờ bức tượng Quan Công, biểu trưng cho lòng trung cang nghĩa khí.

Nghĩ rằng, ngài Quan Công đáng ra phải soi xét công minh không để ông phải mất đi đứa con gái mà ông yêu quý nhất trên đời, nên trong cơn quẫn trí, ông Cần nghĩ rằng ngài Quan Công phải được chôn theo con ông để còn phân giải khi Diêm vương phán xét.

Thế là ông lấy bức tượng Quan Vân Trường đắp lên thi hài con gái. Kỳ lạ thay, mấy ngày sau, người trong làng hằng ngày cứ đến nhà kể cho ông nghe chuyện thường xuyên gặp cô Hai đi chợ, thậm chí là chuyện cô Hai “quá giang” ghe bầu ra Huế. Những lúc gặp nạn, chỉ có ghe mà cô quá giang là an toàn. Từ đó, người Nha Mân lập miếu thờ cô Hai với tên gọi “Cô Hai Hiên” – giống như tín ngưỡng bà Liễu Hạnh..

Câu chuyện trên cho thấy rằng, trong truyền thuyết về cô Hai Hiên có xuất hiện giao thoa tín ngưỡng người Hoa và người Việt. Chuyện ông Cả Cần thờ Quan Thánh Đế Quân chứng tỏ đó là tín ngưỡng người Hoa. Chuyện cô Hai Hiên độ trì ghe bầu đi biển ra Huế giống y chang tín ngưỡng thờ Bà Thiên Hậu của người Hoa. Cuối cùng thì dân đồng bằng tín ngưỡng cô Hai Hiên như Bà Liễu Hạnh người Việt.

Từ những luận cứ trên, có thể đưa ra một giả thuyết vùng đất Nha Mân là vùng đất có cả 3 dân tộc : Việt-Hoa từ xa đến cộng cư với người Khmer bản địa. Cách Nha Mân 3km về phía hạ nguồn sông Tiền là rạch Cái Tàu hạ, chứng minh có người Tàu sinh sống. Chính sự quần cư này đã tạo điều kiện sinh ra những cô gái lai 3 dòng máu nên rất đẹp.

Một thời gái đẹp Nha Mân 

Dù xuất phát từ nguyên nhân nào đi nữa, cũng chắc chắn một điều rằng rằng, Nha Mân là một miền gái đẹp bậc nhất ở miệt sông nước Cửu Long. Hôm tôi trở lại Nha Mân, cụ Phan Thị Lợi (82 tuổi) là một trong những mỹ nhân của miền gái đẹp ngày trước. Theo lời cụ Lợi, ngày xưa, con gái Nha Mân, không chỉ đẹp nết mà còn đẹp người.
Cuộc sống của họ cũng đơn giản như bao cô gái ở những vùng quê khác: Ra đồng, làm vườn… Nhà ông Quản Chức thì có chị Tám Ngự, chị Mười Xinh đẹp người đẹp nết. Hay nhà thầy giáo Chữ cũng có con gái đẹp. Chị Bảy Nhẫy, cô Tư Nga là những người mà phụ nữ nhìn cũng mê…

Hằng năm, cứ Tết đến, đám trai làng thường kiếm cớ đi chợ Tết để nhìn đám con gái làng mình. Cũng theo lời bà, hồi đầu thế kỷ 20, vua Cao Miên cũng tìm sang đây cưới vợ. “Thời xưa, con gái tụi tui chỉ đua nhau may đồ bà ba, tóc dài cả thước. Mỗi lúc đi ruộng là khăn rằn quấn không muốn hết búi tóc trên đầu. Tối về gội đầu là má hay chị em phải phụ. Mà không hiểu sao hồi đó đi mần ruộng cứ phơi cái mặt ra chứ có bịt khăn như giờ đâu, vậy mà da đứa nào cũng trắng”.

Nức tiếng với gái Nha Mân ai ai cũng đẹp, theo người dân, người được mang danh hoa khôi ở đây là bà Nguyễn Ngọc Tiết, con gái ông cả Trọng giàu có nhất vùng. Được sự hướng dẫn, chúng tôi tìm đến nhà bà Tiết. Ông Trần Văn Mão, 82 tuổi (chồng bà Tiết) cho biết một tai nạn cách đây mười năm đã lấy đi sinh mạng của bà. Ông kể với vợ với nỗi buồn nhưng xen lẫn tự hào: “Xưa vợ tôi là hoa khôi xứ này đó, nhiều người hỏi cưới bả không chịu, ưng phải tôi nên cuộc đời bà ấy khổ lúc về già”.

Ông nhớ lại, cô gái thứ 11 của ông Cả Trọng (thường gọi cô Mười Một) vốn nổi tiếng là hoa khôi trong vùng. Khi tốt nghiệp Tú Tài, cô lên SàiGòn học và quen ông Ba Nhẫn (lúc đó là nhân viên văn thư cho một công ty nhỏ), để lại sự nuối tiết cho nhiều chàng trai nơi đây. Lấy nhau và sinh được hai người con thì giặc Pháp càn vào, ông bà dắt dìu nhau về quê vợ sinh sống.

Cứ tưởng cuộc sống thế là an nhàn, vợ chồng ông sinh thêm 5 người con nữa. Sau giải phóng, vợ chồng ông phải làm thuê làm mướn để mưu sinh. “Nói ngay, gái Nha Mân đẹp người lại đẹp nết, công việc nội trợ giỏi lắm. Nói không phải “mèo khen mèo dài đuôi”, như vợ tôi là một tiểu thư nhưng tháo vác mọi thứ.

Khi gia sản không còn gì, hằng ngày tôi đạp xích lô, vợ tôi ngoài việc đồng án còn nội trợ ở nhà để phụ chồng nuôi con ăn học. Nay 7 đứa con của tôi đều có nghề nghiệp ổn định thì bà ấy bỏ tôi mà đi. Nhưng gái Nha Mân giỏi giang, đó là chuyện của 60 chục năm về trước. Còn con gái bây giờ “loãng” hết rồi. Họ chê công việc ở đây chân lấm tay bùn, bỏ đi xứ khác làm ăn hoặc lấy chồng nước ngoài hết rồi…”.

Nha Mân là một trong những miền gái đẹp bậc nhất vùng châu thổ Cửu Long, chuyện đó không cần phải bàn cãi, nhưng cũng đã… xưa rồi. Bây giờ, con gái Nha Mân đang dần bị “loãng” khi các mỹ nữ thay nhau lấy chồng ngoại và đi lập nghiệp tứ phương… Khi sắc đẹp thành dĩ vãng… Là một trong những mỹ nhân của miền gái đẹp một thời, cụ Phan Thị Lợi (82 tuổi) từng nuôi cách mạng trong thời kháng chiến chống Mỹ giờ đây sống một mình trong căn nhà tình thương. Giọng run run, cụ nói : “Lúc mấy ông cách mạng nằm vùng, tui nấu cơm cho mấy ổng ăn chứ có làm được nhiều gì cho đất nước đâu”. Cụ kể, cuộc sống của cụ gặp nhiều trắc trở.

Hồi con gái, cũng nhiều người đến hỏi, cuối cùng cụ chọn một anh nông dân cùng xóm làm chồng. Sống với nhau được vài năm thì ông có người phụ nữ khác, cụ đành chia tay để ông vui vầy bên duyên mới. Đến đời chồng thứ hai cũng không được êm đẹp, ông ấy cũng có vợ khác. Trải qua hai đời chồng nhưng cụ không có mụn con nào, giờ già rồi vẫn sống cô đơn một mình.

Tôi hỏi về chuyện gái đẹp xứ Nha Mân, cụ Lợi liệt kê ra một loạt danh sách những người đẹp có tiếng ngày xưa, rồi thở dài : “Những hoa khôi ngày xưa giờ đã gần đất xa trời hết rồi, còn bây giờ, con gái xứ này đã bỏ đi hết, cuộc sống thời hiện đại đã làm thay đổi mọi thứ”.

Quả thật, từ một địa danh hoang vu, hẻo lánh, xã Tân Thuận Đông ngày nào giờ đã trở thành một vùng đô thị mới, nhộn nhịp và náo nhiệt. Những thiếu nữ nơi đây cũng ngày càng thay da đổi thịt, thay vào vẻ đẹp tự nhiên ngày xưa thì nay được tô đậm má hồng môi đỏ. Để thẩm định lại tin đồn, chúng tôi dạo một vòng quanh chợ mong tìm được một cô gái Nha Mân như trong thơ ca, nhưng chợ dường như chỉ còn thanh niên và người lớn tuổi.

Chị Huỳnh Thị Ngọc Dung (53 tuổi) – con gái bà Tiết (hoa khôi xứ Nha Mân một thời) – cho biết : “Gái Nha Mân nay nếu không có chồng nước ngoài thì cũng lên Sài Gòn làm hết rồi, tết họ mới tập trung về. Những ngày giáp tết mấy chị lên đây mà xem, cô nào cũng đẹp, ăn mặc không thua gì gái thành thị đâu nha”.

Nha Mân một thời nổi tiếng với nhiều cô gái đẹp nên sau giải phóng, nhiều dân Tây sang đây cưới vợ. “Lúc đó ai cũng nói những cô gái đó là dân phản động vì lấy chồng Tây. Mình cũng không trách họ được, cuộc sống khó khăn, các cô gái mới lấy chồng Tây để giúp gia đình hết khó. Tôi thấy nhiều cô gái gửi tiền về cho cha mẹ xây nhà lầu nhiều lắm. Từ lấy chồng Tây rồi đến phong trào lấy chồng Đài Loan, Hàn Quốc,… dần dần Nha Mân hết gái, đàn ông xứ này phải sang xứ khác cưới vợ”. Chị Dung cho biết thêm.

Và những chuyện buồn chưa kể hết… 

Từ khi phong trào lấy chồng Đài Loan, Hàn Quốc lan về, cuộc sống xứ Nha Mân trở nên loạn nhịp… Cuộc sống đổi thay, đô thị hóa vùn vụt khiến cho mảnh đất Châu Thành nhanh chóng lột xác. Những thiếu nữ ở đây cũng ngày càng cuốn hút hơn. Sự cuốn hút này đã nhanh chóng lọt vào tầm ngắm của những cò mai mối gần xa.

Trong suốt chuyến hành trình, “câu kết” cho câu chuyện về người con gái Nha Mân của những người dân tại xứ này mà chúng tôi từng gặp chỉ là sự xót xa cho “nét đẹp” đang bị biến mất. Nhất là kể từ thời điểm rộ lên phong trào lấy chồng Đài Loan, Hàn Quốc, Nha Mân náo loạn bởi những tay môi giới hôn nhân lùng sục từng nhà.

Một bậc cao niên cho biết : Cách đây 7 năm, mấy người môi giới lấy chồng nước ngoài đến nhà, lúc đó gia cảnh tôi rất nghèo. Nếu chấp nhận thì có ngay 30 triệu đồng tiền mặt, đối với gia đình tôi thì số tiền đó rất lớn nhưng cũng may là chúng tôi không nghe lời, nếu không thì giờ cũng ân hận. Mấy chú cứ đi hết xã này mà hỏi, con gái Nha Mân lấy chồng ngoại nhiều lắm.

Cách đây không lâu, người dân sống quanh chợ Nha Mân khá quen với hình ảnh hai người đàn bà lạ, ăn mặc lịch thiệp, chuyên đi ô-tô xịn và xưng là tiến sĩ nghiên cứu tâm lý từ Sài Gòn về làm việc. Tuy nhiên chẳng thấy họ nghiên cứu gì mà hai người đàn bà này sớm tối chỉ lo tiếp cận những người đẹp Nha Mân. Chính vì nổi tiếng là gái đẹp nên mấy “tú bà” thường ve vãn đến đây săn mồi.

Cách đây 2 năm, người dân ở đây xôn xao vụ tú bà Đinh Thị Thu Hồng bị bắt về tội dụ dỗ gái địa phương ra nước ngoài bán dâm. Cơ quan điều tra cho biết, Hồng đã lừa được 13 cô gái trẻ đẹp ra nước ngoài làm gái mại dâm. Khám xét nhà Hồng, công an phát hiện 73 hồ sơ của những cô gái trẻ đẹp gốc Nha Mân và các vùng lân cận. Dự định sẽ bán họ sang Malaysia làm gái.

Người dân nơi đây kể lại, lúc Hồng chưa bị bắt, thị thường dùng bề ngoài sang trọng của mình để lừa gạt gái đẹp. Nói rằng mình là chủ một công ty gì đó, quen biết nhiều người làm chức lớn để giới thiệu cho thiếu nữ, rồi vẽ ra một viễn cảnh đổi đời cho những cô gái ít học. Những bậc cha mẹ khi nghe con nói cứ tưởng con gái mình vốn sinh ra ở vùng gái đẹp nên được nhiều người săn đón là chuyện bình thường, thậm chí còn tự hào.

Và cũng chính mỹ danh ấy làm con gái xứ này “tự tin” đua nhau lên Sài thành đi xin việc ở các quán bar, nhà hàng, quán nhậu… Nghe danh đã lâu, khi nhìn thấy hồ sơ con gái Nha Mân, các chủ nhà hàng rất thích thú.

Đối lập với gái Nha Mân ngày xưa hiền dịu, nết na thì ngày nay, gái Nha Mân ngoài vẻ đẹp vốn có thì đa số rất chịu “chơi”, mấy ông bợm nhậu chỉ cần có vậy… Phần lớn “trụ cột” các quán cà phê, quán nhậu trên địa bàn Sài Gòn là con gái Nha Mân. Nhờ duyên ăn  nói và vẻ tự tin về xuất xứ bản thân, các cô không gặp nhiều khó khăn trong chuyện lấy lòng những ông khách làng chơi..

Khi chúng tôi hỏi các bậc cha mẹ có con gái đi làm ăn xa có biết con gái họ làm gì không ? Chị Dung trả lời : “Số người gả con cho Đài Loan, Hàn Quốc thì tự hào vì được xây nhà cao cửa rộng, còn những cô gái đi làm quán bar thì biết cũng không cản được, họ đã quen với cách kiếm tiền dễ dàng đó rồi. Trong số đó, không ít người dở khóc dở cười với ngày trở về”.

Nói xong chị Dung kể một chuyện chấn động cả tỉnh cách đây 5 năm. Hai bên họ hàng của cô dâu Trần Thanh Lan, Lê Thị Kim Đồng tự hào khi nhìn con lên xe hoa để lấy đại gia xứ Hàn. Cứ tưởng sẽ được hưởng sung sướng nhưng sau đám cưới linh đình ấy là chuỗi ngày đau khổ của hai cô khi người chồng của họ lộ nguyên hình là những gã vũ phu, thường xuyên đánh đập vợ. Dù thể xác bị bầm giập nhưng không trốn về được.

Gia đình biết chuyện cũng đành câm nín chịu đựng nghe con than thở. Rồi ngày đau đớn nhất cũng đến, khi người nhà hai cô dâu này đón con về bằng hai cái xác không hồn. Hai cái chết thương tâm này xảy ra từ cuối năm 2007 và ám ảnh cho đến bây giờ. Gần đây nhất là cái chết oan uổng và chấn động dư luận của cô dâu Thạch Thị Hoàn Ngọc, xảy ra vào cuối năm 2010.

Giờ đây, người dân xã Tân Nhuận Đông vẫn luôn tự hào về miền gái đẹp quê mình. Nhưng trong niềm tự hào đó, đang ẩn chứa những xót thương cho bao phận má hồng nơi đất khách. Gái đẹp Nha Mân đang chìm vào quá vãng, chủ yếu do guồng quay của những cuộc mưu sinh, cùng tác động của cuộc sống thời mở cửa. Buổi chiều rời Nha Mân, đám cưới nhà ai đang tưng bừng rộn rã đón dâu. Nghe đâu cô dâu ở Vĩnh Long chứ không phải người địa phương…

Trận thủy chiến trên sông Tiền Theo những bậc cao niên ở Nha Mân và một số tài liệu ghi lại, khoảng giữa năm 1784 mượn cớ giúp Chúa Nguyễn Ánh chống lại nhà Tây Sơn, khoảng 2 vạn quân Xiêm đã theo hai đường thủy bộ tiến vào địa phận Kiên Giang. Liên quân này có thêm 4.000 lính của Chúa Nguyễn Ánh. Đến cuối năm 1784, liên quân Xiêm – Nguyễn chiếm được một số vùng đất ở phía tây thành Gia Định.

Họ cho đóng quân ở vùng Trà Tân (nay thuộc huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang) để dự trữ lương thảo, khí tài chuẩn bị đánh thành Mỹ Tho và Gia Định. Lúc này, Chúa Nguyễn Ánh cùng bầu đoàn thê tử hàng trăm người cũng trú tại đây. Cuối năm 1784, khi liên quân Xiêm – Nguyễn uy hiếp cả thành Mỹ Tho và Gia Định thì Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ liền đưa 2 vạn quân từ Quy Nhơn xuôi xuống thành Mỹ Tho quyết chiến với quân Xiêm. Sau khi điều nghiên địa hình, Nguyễn Huệ quyết định chọn đoạn sông Tiền từ rạch Gầm đến Xoài Mút dài khoảng 6-7km (nay thuộc địa phận huyện Châu Thành, Tiền Giang) làm chiến trường quyết chiến với liên quân Xiêm – Nguyễn.

Đêm 18 tháng 1 năm 1785 (ngày 8 tháng Chạp năm Giáp Thìn), lợi dụng con nước đang xuôi, cả hai đạo thủy bộ quân Xiêm cùng rầm rộ tấn công Mỹ Tho. Khi liên quân Xiêm – Nguyễn vừa lọt vào trận địa mai phục của quân Tây Sơn, từ hai bờ sông Tiền và dọc bờ cù lao Thới Sơn, các đại bác cùng pháo hỏa hổ của bộ binh Tây Sơn bắn ra uy hiếp dữ dội.

Những chiến thuyền Tây Sơn từ những nhánh rạch nhỏ kéo ra chặn đánh đầu, số khác xông ra đánh vỗ hông nhằm chia cắt đội hình và đánh chặn đường lui, dồn đoàn thuyền của đối phương vào thế tiến thoái lưỡng nan. Cùng lúc ấy những thuyền nhẹ chở đầy những vật liệu dễ cháy đâm thẳng vào những chiến thuyền đang rối loạn làm cho số bị chìm, số bị cháy…

Trời vừa rạng sáng, thì chiến cuộc cũng vừa dứt. Kết quả là 300 chiến thuyền và gần 3 vạn quân Xiêm – Nguyễn bị phá tan. Chúa Nguyễn Ánh cùng bầu đoàn thê tử và một ít tùy tùng đang đóng quân ở Trà Tân nghe tàn quân báo hung tin thất trận vội quay thuyền chạy theo sông Tiền tìm đường thoát thân. Bị quân Tây Sơn truy đuổi gắt gao, hàng trăm cung tần mỹ nữ chân yếu tay mềm bỗng chốc trở thành “của nợ”. Nhiều người trong số này chịu đựng không nổi cực khổ trên đường trốn chạy nên Chúa Nguyễn Ánh đành gạt nước mắt, bấm bụng bỏ lại hàng trăm cung tần mỹ nữ dọc đường.

Để “nhẹ gánh loạn ly”, những mỹ nhân được ban cho ít vàng bạc rồi lên tá túc ở các làng bên bờ sông Tiền, nay thuộc Nha Mân (Châu Thành, Đồng Tháp) và cù lao Ông Chưởng (Chợ Mới, An Giang). Theo lời kể của các cụ cao niên, những nhan sắc khuynh nước khuynh thành này nói đủ các giọng ở nhiều vùng miền, nhưng lại hiếm người miền Tây Nam Bộ.

Ông Tám Khai – một người sống gần cả thế kỷ bên bờ Nha Mân cho rằng, chính nhờ nguồn “gen” cung phi mỹ nữ lưu truyền mà xứ Nha Mân mới có nhiều thiếu nữ đẹp như hôm nay. Tương truyền, những mỹ nhân bị “bỏ rơi” đều lấy chồng là người địa phương, trở thành nông dân nhưng con cái do họ sinh ra đều đẹp như tiên đồng ngọc nữ.

Theo nhận xét của nhiều người, nhóm mỹ nữ dạt vào cù lao Ông Chưởng cũng lấy chồng, cũng tạo được một “miền gái đẹp” nhưng không nổi tiếng bằng con gái Nha Mân. “Hồi nhỏ, tôi nghe ông bà kể lại người đẹp xứ Nha Mân đếm không kể xiết. Khoảng đầu thế kỷ thứ 20, các vua xứ Cao Miên mang vàng bạc châu báu xuôi dòng sông Tiền sang tận “miền gái đẹp” Nha Mân để tìm ý trung nhân” – ông Tám Khai quả quyết.

Cho đến nay, người Nha Mân vẫn tự hào vì đàn bà xứ này đẻ 10 đứa con gái thì hết 9 đứa là người đẹp, đứa còn lại cũng trên trung bình. Trong những ngày xuân, trên những con đường dọc theo các bờ kênh, bờ rạch đi dọc hai bờ rạch lúc nào cũng nườm nượp đàn bà con gái đẹp quần là áo lượt muôn màu sắc ngược xuôi, kẻ vào trong ngọn, người ra ngoài vàm thăm viếng thân nhân, bạn bè, nhìn không chán mắt.Trong những cuộc trà dư tửu hậu, luận bàn về sắc đẹp phụ nữ, các bậc cao niên ở miền Tây Nam Bộ đều thừa nhận, đất chín rồng (đồng bằng sông Cửu Long) là nơi có nhiều “miền gái đẹp”. Nhưng nổi tiếng nhất và đi vào ca dao tục ngữ, được truyền tụng lâu đời phải kể đến “miền gái đẹp” Nha Mân, thuộc tỉnh Đồng Tháp.

Hàng trăm năm trôi qua, nhưng nhắc đến nét đẹp con gái Nha Mân ai cũng nhớ câu “Gà nào hay bằng gà Cao Lãnh, gái nào bảnh bằng gái Nha Mân”. Từ xưa, gà Cao Lãnh nổi tiếng đá hay, lì đòn. Còn con gái Nha Mân, nói như ông Tám Khai, người cố cựu xứ Nha Mân, nay đang sinh sống ở thị trấn Cái Tàu Hạ, cách “miền gái đẹp” Nha Mân không xa, thì từ xưa đến nay con gái Nha Mân “nhìn không biết chán vì… ngộ (đẹp) nhất miền Tây”.

Qua khỏi thị trấn Cái Tàu Hạ gần chục cây số là đến địa phận “miền gái đẹp” Nha Mân, thuộc xã Tân Nhuận Đông, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp. Từ năm 1940, ba xã Phú Nhuận, Tân Hựu, và Tân Hựu Đông được ghép thành Tân Nhuận Đông thuộc quận Châu Thành, tỉnh Sa Đéc. Từ năm 1956 đến năm 1965, Nha Mân thuộc quận Đức Tôn, Sa Đéc. Năm 1966, tỉnh Sa Đéc được tái lập, Nha Mân trở lại trực thuộc quận Châu Thành cho đến ngày nay.

Nha Mân, một phía giáp với sông Tiền quanh năm chở nặng phù sa bồi đắp cho những vườn cây ăn trái xanh tốt, một phía gần giáp với sông Hậu gạo trắng nước trong. Rạch Nha Mân bắt đầu từ một nhánh của sông Tiền, chảy quanh co uốn khúc hàng chục cây số trong những khu vườn, những thửa ruộng màu mỡ rồi nối vào rạch Ba Càng của Vĩnh Long, đổ ra phía sông Hậu.

Phía bờ trái sông Nha Mân, từ cầu Nha Mân vào các vườn cây ăn trái trĩu quả, có nhiều rạch nhỏ như rạch Chùa Ông Chiêm, rạch Bà Thiên, rạch Cầu Xoay, rạch Ông Đại, rạch Ông Yên, rạch Tre, rạch Rắn, rạch Cái Ngổ, rạch Da, rạch Cầu, rạch Bằng Lăng, rạch Mương Khai, rạch Ba Càng… Ông Tám Khai nói, con gái Nha Mân hàng trăm năm qua ra đời quanh những cái tên rạch ấy. Trước đây nhiều người cho rằng, nước rạch Nha Mân trong lành, mát ngọt phù sa ngày đêm vun đắp, làm cho da dẻ các cô gái trắng trẻo mịn màng, giọng nói thanh tao, mắt phụng mày ngài, dáng đi uyển chuyển nhẹ nhàng, thanh thoát.

Nhưng những điều võ đoán đó đều không bao giờ đúng, bởi sắc đẹp của con gái Nha Mân chỉ một phần nhờ con nước phù sa sông Tiền, phần chủ yếu làm nên huyền thoại “miền gái đẹp” Nha Mân lại ở tuốt tận kinh đô Huế, cách xa xứ Nha Mân cả ngàn cây số.  (theo Du Nguyễn)(Còn 1 kỳ nữa)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

TIẾNG SÁO TRƯƠNG CHI

TUỒNG ‘LAN VÀ ĐIỆP’

VÀ DĨA HÁT

‘HOA RƠI CỬA PHẬT’

– Ngành Mai

Đầu thập niên 1940, kể từ ngày vở hát “Lan và Điệp” của soạn giả Trần Hữu Trang, tức Tư Trang được trình diễn trên sân khấu Năm Phỉ thì phần lớn khán giả cải lương sành điệu, đã biết qua tình tiết lớp lang câu chuyện diễn tiến từ đầu tới cuối.

Buổi trình diễn khi vở hát mới ra đời ấy, do cô đào Năm Phỉ đóng vai Lan, kép Tư Út đóng vai Điệp, đôi nghệ sĩ tiền phong thượng thặng này đã mở đầu cho hai nhân vật chính Lan-Điệp trở thành bất tử với thời gian (nữ nghệ sĩ tài danh Năm Phỉ từng được huy chương của chính phủ Pháp, của Vua Miên, Quốc Vương Lào, và Hoàng Đế Bảo Đại).

Trong lịch sử nghệ thuật sân khấu chưa có vở hát nào được giới mộ điệu ưa thích, đến đỗi càng về sau câu chuyện càng mở rộng xâm lấn sang các lãnh vực văn nghệ khác.

Trước tiên, “Lan và Điệp” được hãng dĩa hát Asia thâu thanh với tên tựa “Hoa Rơi Cửa Phật” phát hành cùng khắp từ Nam chí Bắc.

Dĩa hát cũng được bán qua Miên, và theo theo như nhà phát hành lúc ấy cho biết, thì kiều bào xứ Chùa Tháp tiêu thụ dĩa hát này nhiều gấp 3, 4 lần đại lý dĩa hát ở Cần Thơ. Do ở đất Miên dễ làm ăn, người ta dám mua sắm, vả lại số người sang đây lập nghiệp đại đa số là người Nam Kỳ Lục Tỉnh, mà cổ nhạc cải lương đã gắn liền với đời sống tinh thần của họ.

Dĩa “Hoa Rơi Cửa Phật” cũng được đưa sang Lào và cả ở bên trời Tây, do vậy mà kiều ở Pháp vẫn còn những người lưu giữ các dĩa hát xưa ấy. Song song đó cuốn bài ca “Hoa Rơi Cửa Phật” cũng được ra đời bán ở các chợ miền quê, chợ nhỏ, lớn nào cũng có người bán.

Rồi cũng từ đó các gánh hát bầu tèo (gánh hát nhỏ) ở thôn quê đã sao chép lời ca, lời đối thoại, rồi thêm thắt vào dựng lên tuồng cải lương “Lan và Điệp” phục vụ bà con ở thôn quê và cũng được hoan nghinh.

Sau đó khi Tư Út rời gánh Năm Phỉ thì kép Thanh Tao nhảy vào đóng vai Điệp, cho đến khi cô Năm Phỉ qua đời thì kỳ nữ Kim Cương mới thay dì mình mà đóng vai Lan cùng với kép Sơn Minh thủ vai Điệp. Vợ chồng nghệ sĩ Văn Chung, Thanh Hương cũng đã có lần hát. Thành Được và Thanh Nga hát hai vai chánh này được mấy lần trong các buổi tổng hợp tài danh.

Riêng bộ dĩa “Hoa Rơi Cửa Phật” phát hành năm 1947, và cuốn bài ca cũng đến tay người mộ điệu cùng thời điểm này.

Dưới đây là đoạn đầu bộ dĩa hát “Hoa Rơi Cửa Phật,” lúc Lan giả trai lấy tên Điệp vào chùa tu, được hòa thượng trụ trì đặt tên là Huệ Minh.

Huệ Minh nói : Than ôi, cánh hoa rụng tả tơi vì gió dập, xác bướm khô ôm ấp bởi tình yêu. Như tôi đây nhìn hoa lan mà ruột quặn thắt trăm chiều, trông hồ điệp lệ sầu tuông mấy lượt. Kìa những kẻ không cầu sao lại được, tủi phận mình mong mỏi vậy mà sai, kể từ đây chốn am mây chôn lấp mạch cảm hoài, nghe kinh kệ phôi pha cơn khổ não.

Ca Nam Ai :

Hoa lan xác bướm mảnh tơ lòng,

Đành vùi chôn,

Kiếp bướm hoa lỡ làng rồi,

Nhưng còn một vật đổi trao nhau,

Càng thấy càng thêm nỗi khổ đau,

Phải chăng con dao này,

Nó đã dứt tình cùng ta,

Bấy lâu đeo giữ mãi bên mình,

Nay đành chôn giữa mả bướm hoa,

Ngăn đôi gian hà,

Cho nhẹ nhàng lòng ta.

Có lẽ khi trời xui phải chịu vậy,

Trần ai còn chi đâu mơ màng,

Trót đã ăn mặc nâu sòng,

Vui kinh kệ là xong.

Huệ Thông nói : Đó thấy không, huynh Huệ Minh phạm giới sát sanh, để tôi vào bạch tôn sư, cho huynh coi nghé.

Huệ Minh nói: Không, không phải đâu huynh Huệ Thông, vừa rồi tôi thấy con bướm nó chết khô cho nên tôi tội nghiệp bỏ vào hộp đem chôn vậy mà huynh.

Huệ Thông nói: Huynh nói dối, hôm trước tôi thấy con bướm ấy nó đậu trên chậu hoa lan đẹp lắm, huynh rình bắt rồi ép khô ở trong cuốn kinh, bây giờ huynh đem chôn, tại huynh bắt nó mới chết, tôi phải vào bạch lại với thầy.

Huệ Minh nói: Huynh, huynh Huệ Thông.

Huệ Thông nói: Thế nào tôi cũng vô tôi bạch.

Huệ Thường nói: Ôi, tu là cội phúc, tình là dây oan, nhưng tình chưa trọn thì tu làm sao cho thành. Đã đem thân nương chốn thiền môn, trót ba mươi năm có lẻ, một khoảng thời gian đăng đẳng, tấm lòng ta tưởng đâu đã nguội lạnh như mớ tro tàn, sự đời gác bỏ ngoài tai, trần ai không hệ lụy. Bất ngờ vừa rồi nghe mấy lời của tiểu Huệ Minh than thở, mà xúc động mối từ tâm, trông cử chỉ hành vi khiến cho ta phải bàng hoàng ngơ ngẩn. Đây, đây là nơi chôn chặt nỗi niềm tâm sự, nhưng vết thương lòng e khó nổi phôi pha. như ta ba mươi năm mà hận cũ vẫn chưa nguôi, thì tiểu Điệp ngày nay dẫu không tròn luật pháp nhà tu, ta cũng rộng lượng thứ tha mà tìm phương an ủi. (theo Ngành Mai)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

TIẾNG SÁO TRƯƠNG CHI

“Đêm nay thu sang cùng heo may. Đêm nay sương lam mờ chân mây. Thuyền ai lờ lững trôi theo dòng. Như nhớ thương ai chùng tơ lòng”…

Thưa nhạc sỹ tài hoa nhưng yểu mệnh Đặng Thế Phong, con thuyền đang “lờ lững trôi theo dòng” kia là của một chàng ngư dân. Tên chàng là Trương Chi.

Đó là một “con thuyền không bến”. Gọi như thế là vì chàng ngư dân này lúc thì ở đây, lúc thì lại đến một nơi khác, thoắt hiện, thoắt biến. Chàng cứ ngày tháng ung  dung tự tại giữa trời nước mênh mông. Chẳng có chi trói buộc mái chèo của chàng cả.

Người đời vốn dĩ thích sự trói buộc nên mới đặt định ra bến bãi. Họ đâu biết rằng những bến bãi kia là mầm mống phát sinh đau khổ.

– Trăm năm đành lỗi hẹn hò,

Cây đa bến cũ con đò khác đưa.

– Thuyền về có nhớ bến chăng ?

Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền.

Những đợi những mong rồi những khắc khoải trách hờn. Cái vòng luẩn quẩn ấy chẳng khác chi mũi kim nhọn xuyên thấu trái tim con người  khiến cho những dòng lệ phải tuôn ra. Ấy thế mà con người nào đâu đã tỉnh, cho nên bến bãi cứ mãi mãi tồn lưu.

Còn chàng ngư dân Trương Chi thì thênh thang sông nước ngược ngược xuôi xuôi. Nơi chàng  không có bến bãi nào hết. Chân trời góc bể bón phương luôn luôn là tiếng mời gọi chan chứa mặn nồng và thủy chung  miên viễn.

Lênh đênh sóng nước, nhưng chàng chẳng hề cô đơn vì bên chàng lúc nào cũng có một người bạn tri kỷ : cây sáo trúc. Tiếng sáo của chàng thanh thoát. Nó lãng đãng như mây trời ngày tháng phiêu du. Nó ngọt ngào như mật ong rừng nguyên thủy. Nó là bàn tay mềm mại dìu hồn người vào cõi mộng có hoa muôn sắc, có bướm muôn màu, có giàn hợp xướng  diệu kỳ của muông chim.

Tiếng sáo phù thủy của chàng khiến những cánh cửa sổ lầu son khuê các không thể then cài  kiêu mị. Người ta thấy những đôi mắt  ươn ướt xa xăm bên cửa sổ.

Tiếng sáo mang vị thơm ngọt của lúa trổ đòng đòng trên những cánh đồng bát ngát dưới ánh trăng làm thổn thức bao trái tim thôn nữ..

Chàng ngư – dân – nghệ – sỹ  nào hay  nào biết. Chàng vẫn thản nhiên đặt sáo trúc lên môi mỗi hoàng hôn. Giữa bầu trời đêm thanh tĩnh, chàng đắm hồn trong cung bậc bổng trầm của thanh âm. Mái chèo buông lơi. “Lướt theo chiều gió, một con thuyền theo trăng trong…”. Con thuyền đi… Đi mãi…

Rồi, không hiểu do nguyên cớ nào mà bóng dáng chàng – ngư-dân – nghệ-sỹ  Trương Chi bỗng biệt tăm. Những cánh cửa sổ lầu son khuê các nghẹn ngào khép lại. Những vạt áo nâu non ngẩn ngơ  ngơ ngẩn

Có những tiếng sầm sì nổi lên. Người thì nói Trương Chi đã lạc vào một động tiên như Từ Thức ngày nào. Có kẻ lại bảo : tiếng tiêu của chàng đã khiến một cô con gái của một vị quan đại thần sinh bệnh vì tương tư. Vị quan đã cho mời bao nhiêu là lương y tài giỏi đến chữa bệnh cho cô con gái yêu, nhưng thảy đều bó tay. Cuối cùng, có một vị lương y kia tìm ra được bệnh của cô, nên đã bảo với gia chủ nên gọi chàng ngư dân- nghệ-sỹ đến cho cô gặp mặt thì cô mới hết bệnh. Quả nhiên, khi gặp mặt người trong mộng thì cô gái khỏi bệnh. Cô khỏi bệnh và vỡ mộng. Bởi chàng có dung mạo xấu xí quá..

Từ lúc gặp mặt mỹ nhân thì tiếng sáo của chàng không còn hồn nhiên thanh thoát nữa. Nó trở nên day dứt, nặng nề ngàn cân vì” ai oán thương ai tàn mơ màng”. Từ đó, thế gian mới bảo nhau rằng chàng đã nằm sâu dưới đáy nước mang theo dung nhan diễm tuyệt của giai nhân.

Đấy là miệng lưỡi thế gian – thứ lưỡi không xương nhiều đường lắt léo. Có thể nào tin được chăng ?  Tin hay không tin thì tiếng sáo vi vu huyễn hoặc kia cũng đã  mai một với thời gian. Và ngày hôm nay không còn ai biết đến sự hiện hữu của một thiên tài đã một thời đi vào lòng người  bằng tiếng sáo trúc huyền thoại.

Các làng chài ven biển miền Trung đang trong thời kỳ tang chế. Ngày cũng như đêm khắp nơi nơi vang lên tiếng khóc nỉ non, ai oán.  Y tang trắng toát cà một vùng rộng lớn. Già, trẻ, lớn, bé… con mắt trũng sâu. Những tấm thân cằn cỗi trông chẳng khác nào những thân cây héo quắt héo quơ giữa trời nắng hạn. Tiếng khóc kéo dài từ nhà ra tới bờ biển, rồi lại từ bờ biển đi vào trong nhà. Những thân cây khô liêu xiêu, vật vờ như những cô hồn không chốn đầu thai.

Trên bãi biển, những chiếc tàu đánh cá nằm chỏng chơ, mặc cho nắng mưa tha hồ làm mưa làm gió trên tấm thân tàn phế của chúng. Chúng bỗng dưng trở nên những ngôi mộ hoang. Chủ nhân của chúng hoặc đã bỏ thân ngoài khơi xa, hoặc bị bắt đem đi đến một nơi nào đó. Thủ phạm của những chết chóc kinh hoàng đó không ai ngoài các “tàu lạ” và “người lạ”. Không gì phi lý hơn việc giữa khi anh đang miệt mài kiếm sống trên mảnh đất của mình mà bị những kẻ “lạ mặt” hùng hổ xông vào bắn giết một cách tàn bạo và dã man.

Ấy vậy  mà chẳng tiếng nói phản kháng nào hết. Ngay cả gọi đích danh kẻ thù cũng không. “Tàu lạ”,  “người lạ”. Một cách miễn cưỡng và chiếu lệ cho qua chuyện. Thế thôi. Và thế là “Tàu lạ” và “Người lạ” cứ mặc sức tung hoành trên mặt biển quê hương như chỗ không người. Mà không người thật. Ôi ! Thảm thương thay !  Ở đầu thập niên của thế kỷ 21 này mà mảnh đất mang tên Việt Nam từ bao nhiêu thiên niên kỷ  lại trở thành mảnh đất hoang vu đến như vậy. Và thế là xác ngư dân Việt lènh bềnh ngoài khơi như những xác vô thừa nhận. Và thế là máu ngư dân Việt ngầu đỏ cả biển Đông..

Trên mảnh đất hoang vu này, người dân vạn chài chỉ còn biết than khóc cho thân phận cái kiến con sâu của họ chứ biết làm gì bây giờ ? Khi nào “Tàu lạ” và “Người lạ” còn nghênh ngang ngất ngưởng ngoài kia thì tiếng khóc của họ vẫn còn âm ỉ. Chừng nào “Tàu lạ” và “Người lạ” còn làm mưa làm gió trên biển quê ta thì chết chóc vẫn còn bao phủ những làng chài Việt Nam.

Trong bầu không khí u sầu ngạt thở đó, vào một buổi hoàng hôn, bỗng nhiên người ta nghe có tiếng sáo trúc vang lên. Người người ngó nhau ngơ ngác. Những dấu hỏi liên tiếp hiện ra. Không có câu trả lời.

Tiếng sáo nghe não nuột đến đứt ruột vỡ gan. Nó làm cho cả những ghè đá cũng phải ứa lệ. Sóng biển thôi rì rào. Trong oán than tiếng sáo, người ta thấy vất va vất vưởng oan hồn các ngư dân.

Dân vạn chài cản thấy được ủi an phần nào vì đã có người đến chia sẻ nỗi đau mất mát. Họ hướng mắt ra khơi xa để tìm chủ nhân tiếng sáo. Nhưng chẳng trông thấy gì cả. Chắc đây là một vị thần linh. Họ thì thào với nhau. Dù người phàm hay thần thánh, họ vẫn thầm cám ơn tiếng sáo. Nó vỗ về. Nó băng bó những vết thương lòng.

Tiếng sáo là đề tài duy nhất trong các bữa ăn, trong  những lần gặp mặt. Sầu muộn đã vơi đi phần nào trong ánh mắt. Thay vào đó là nỗi niềm đợi mong mỗi khi hoàng hôn xuống. Những cặp mắt lung linh hướng ra biển đợi chờ thứ âm thanh huyền nhiệm và huyền diệu.

Những ánh mắt của các vị trưởng lão thì có vẻ đăm chiêu hơn. Hình như các cụ có một thứ linh cảm nào đó. Thứ linh cảm này thoạt tiên chỉ là một thứ cảm giác mơ mơ hồ hồ, nghi nghi hoặc hoặc. Rồi, với thời gian, nó trở nên rõ nét dần lên. Những câu chuyện thần tiên cổ tích mà các cụ được nghe thời ấu thơ bắt đầu trở về trong trí nhớ. Mặc dù  không còn minh mẫn như hồi thanh xuân, nhưng các cụ vẫn hết sức cố gắng đi tìm cho bằng được câu giải đáp cho sự việc lạ kỳ đang xảy ra nơi các làng chài này. Thế rồi, vào một buổi nọ, các cụ đồng loạt vỗ trán và đồng thành kêu lên : “Đúng rồi ! Đúng rồi ! Đúng rồi !”. Mắt các cụ sáng lên rỡ ràng. Bờ môi  dúm dó của các cụ bỗng chốc trở thành những nụ hồng rực rỡ.

Sau đó, các con cháu làng chài biết được tên chủ nhân của tiếng sáo trúc kia. Trương Chi. Sự buồn đau tạm thời lùi đi dành chỗ cho sự thích thú về chàng ngư dân nghệ sĩ thuở xa xưa. Không hiểu tại sao mà trong lòng mỗi người vạn chài đều nảy sinh một niềm hy vọng, nhất là các cụ trưởng thượng.

Đêm nay là đêm rằm. Mặt trăng tròn trĩnh nằm vắt vẻo trên bầu trời. Ánh trăng  quấn quyện những giải khăn sô và ôm ấp những tiếng khóc than u uất. Màu trắng của y tang được bàn tay điệu nghệ của nữ họa sỹ Hằng Nga dệt thành một bức tranh có một không hai của nhân loại. Khách thưởng ngoạn cảm nhận một luồng khí lạnh chạy dài suốt cột sống lưng và lan tỏa khắp châu thân. Giữa đêm trường mà mồ hôi tuôn đổ như giữa trưa hè nắng hạn.

Trong màn đêm tang tóc ấy, tiếng sáo trúc lại cất lên. Nó ấm ức. Nó tức tưởi. Nó cào xé trái tim con người.

Bỗng im bặt tiếng sáo. Những cặp mắt đỏ hoe nhìn nhau và đồng hướng về phía khơi xa. Vắng ngắt. Lặng tanh. Một bầu không khí vô cùng nặng nề bao phủ làng chài. Những vành khăn sô chấp chới chấp chới… Thời gian như ngưng đọng. Đêm đã váo khuya.

Đột nhiên tiếng sáo lại vang lên. Vang lên đúng lúc để ngăn chặn tiếng thở dài thất vọng của dân làng. Lần này, nó không tức tưởi, không u uất nữa. Người ta cảm nhận được một trận cuồng phong đang ào ạt đổ xuống. Cái khối u sầu và căm phẫn ngàn cân bấy lâu đè nặng cõi lòng dân vạn chài được trận cuồng phong kia  cuốn trôi khiến những bờ môi he hé nụ cười.

Lần này tiếng sáo trúc không bay là là trên mặt biển, không vuốt ve từng đụn cát,  không ôm ấp từng mái nhà. Nó vút bay lên tận chín tầng mây rồi đổ ập xuống như những đợt sóng thần. Rồi dân vạn chài thấy ở ngoài khơi xa những đám lửa ngùn ngụt bốc lên từ thân những con “ tàu  lạ” cùng những tiếng nổ long trời lở đất.

Dân vạn chài ôm nhau nhảy múa khi từng… chiếc từng chiếc… chìm sâu đáy đại dương. Những giải khăn sô được tung lên không trung. Chúng quấn quyện vào nhau và lả lướt lượn bay như những áng mây trời.

Khi những đốm lửa cuối cùng tan biến trên mặt biển thì dân vạn chài dập dìu nhau khiêu vũ theo tiếng sáo trúc dặt dìu, êm ả. Tiếng sáo trúc nhỏ dần… nhỏ dần… nhỏ dần…rồi mất hút cuối chân mây. Phía non đoài,  mảnh trăng rằm chênh chếch.

Đêm đó, các làng chài im ắng. Nhà nhà chìm sâu trong giấc điệp. Một giấc ngủ thật an bình. Những ác mộng từ đây sẽ chỉ còn là quá khứ…

Uyên Sồ

TÁC GIẢ TÁC PHẨM

“SÀI GÒN ĐẸP LẮM”

NHẠC SĨ Y VÂN

– NGUYỄN VIỆT

Nhạc sĩ Y Vân tên thật là Trần Tấn Hậu, sinh năm 1933 tại Hà Nội nhưng quê gốc ở Thanh Hóa. Thuở thiếu niên ông từng theo học nhạc với giáo sư – nhạc sĩ Tạ Phước, và đã tập tành sáng tác từ rất sớm nhưng không mấy thành công. Mồ côi cha, nhà nghèo, mấy mẹ con dắt díu nhau nương náu trong một túp lều xiêu vẹo ở ngõ chợ Khâm Thiên. Chính vì thế, Trần Tấn Hậu rất thương mẹ và các em.

Lúc đó chàng nhạc sĩ nghèo chưa lấy nghệ danh Y Vân, ông phải đi dạy đàn để nuôi gia đình. Có một người bạn thân giới thiệu anh đến dạy đàn cho một tiểu thư khuê các – nàng tên là Tường Vân. Rồi giữa họ hé nở một mối tình đằm thắm. Nhưng… tình đầu tan vỡ cũng là lẽ thường, huống chi chàng chỉ là anh “Trương Chi” si tình khốn khổ, còn nàng lại là một “Mỵ Nương” danh gia vọng tộc. Không thành duyên nhưng… thành danh, một loạt các ca khúc của Y Vân (có nghĩa là Yêu Vân) ra đời từ đó như : Đò nghèo, Ảo ảnh, Nhạt nắng… với phong cách tha thiết, trữ tình rất được công chúng yêu thích.

Không chỉ có vậy, sáng tác của Y Vân còn rất đa dạng : vui tươi, sôi động với Sài Gòn đẹp lắm, lung linh, sang trọng với Tiếng trống cao nguyên, Những bước chân âm thầm (thơ Kim Tuấn) và nhất là ca khúc Lòng mẹ êm ái đầy xúc cảm…

Tác giả biết rất nhiều về anh em nhạc sĩ Y Vân và Y Vũ, nhưng có bài viết của Nguyễn Linh Giang mang thật nhiều ý nghĩa về người nhạc sĩ sáng tác ca khúc “Người em sầu mộng” phổ thơ của Lưu Trọng Lư. Bài viết mở đầu có nội dung :

Y VÂN VÀ MẸ

– Ai là người Việt Nam mà không biết bài “Lòng Mẹ” cua Y Vân, thậm chí còn có thể ngân nga ít nhất là hai câu đầu của bài hát : “Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào / Tình mẹ tha thiết như dòng suối hiền ngọt ngào…”. Bài hát tha thiết, êm ái và chân thành quá khien ai cũng có thể… vơ vào để tưởng tượng người mẹ trong bài hát là mẹ của mình, để rồi hát lên và… chảy nước mắt.

Y Vân tên thật là Trần Tấn Hậu, sinh năm 1933 và mất năm 1992, đúng 60 tuổi, y như bài nhạc twist “60 năm cuộc đời” mà ông đã viết thuở nào. Y Vân lúc nhỏ nhà nghèo lắm, sống xa bố, chỉ có mẹ hiền và bên ngoại đùm bọc. Có lẽ ông đã thừa hưởng dòng máu nghệ sĩ từ bên ngoại vì ông ngoại giỏi thơ văn và mẹ cũng rất giỏi thơ văn.

Năm 1954, ông cùng 2 em và mẹ di cư vào Nam với hai bàn tay trắng, lúc vừa 21 tuổi. Mẹ hiền buôn bán nuôi 3 con. Còn Y Vân thì đã thích nhạc từ nhỏ, học đàn, sáng tác, hòa âm từ trước năm 54 nên vào Nam đã có thể đi trình diễn giúp vui cho đồng bào di cư.

Giai thoại ca khúc Lòng Mẹ :

Sau một buổi trình diễn với Phủ Tổng Ủy Di Cư về, Y Vân bị mưa ướt như chuột lột, quần áo dơ hết. Mới di cư còn nghèo, chỉ có một bo đồ coi được nhất để trình diễn, Y Vân rất lo lắng vì ngay sáng hôm sau lại phải đi đàn nữa. Khuya hôm đó, mẹ ông đã đem bộ quần áo ra máy nước công cộng đầu hẻm giặt sạch rồi về nhà đốt than lên hơ cho chóng khô. Sáng hôm sau, Y Vân đã nghiễm nhiên có được bộ quần áo sạch  mặc đi diễn. Ông cảm động lắm và cảm hứng viết ca khúc đầu tay “Lòng Mẹ”, một bài hát đã đi vào lòng hằng triệu người dân nước Việt.

Và đó là khởi đầu cho sự nghiệp âm nhạc của một trong những nhạc sĩ tài hoa nhất của Việt Nam.

Người mẹ đã đóng một vai trò quan trọng trong suốt cuộc đời Y Vân. Mẹ là người nuôi nấng nên người từ khi còn nhỏ và săn sóc con khi đã lớn. Mẹ cũng chính là người dựng vợ cho con.

Một cô gái quen với Y Vân do bạn thân làm mối năm mới 16 tuổi. Cô không mê nhạc mà chỉ thích thơ. Y Vân về nói chuyện với mẹ. Bà cụ thân hành qua nhà cô để xem mặt. Để tìm hiểu về cô dâu tương lai, bà xin phép xuống nhà dưới đi vệ sinh nhưng mục đích chính là xem thử bếp nước như thế nào. Bà về nói với cô em gái :

– Được lắm! Bếp nước gọn gàng sạch sẽ.

Thế là Y Vân được vợ. Từ lúc quen đến lúc cưới chỉ vỏn vẹn 5 tháng. Ngày đám cưới, Y Vân đã viết bài “Người Vợ Hiền” tặng vợ.

Y Vân là một trong số ít những nhạc sĩ Việt Nam sống hoàn toàn bằng âm nhạc. Ngoài việc sáng tác và làm việc cho các đài phat thanh và truyền hình, ông còn đánh đàn contrebass và guitar tại các phòng trà ca nhạc ở Sài Gòn và các Club Mỹ. Là một nghệ sĩ, ông ít có đầu óc thương mại, thường bán đứt bản quyền các bài hát  ăn khách. Trong một thời gian ông và vợ có thực hiện một số băng nhạc lấy tên Trung Tâm Mây Hồng nhưng cũng không kéo dài lâu

Sau 1975, Y Vân trở nên nghèo túng như tất cả những người Sài Gòn lúc gạo châu củi quế. Và nhiều bài hát của các nhạc sĩ chưa được cho phép trình diễn, nên ông không hành nghề được phải sống bằng tiền dành dụm. Đến những năm 80, hoạt động âm nhạc mới trở lại, nhưng lúc này ông ít sáng tác mà chỉ làm nhạc phim và viết hòa âm cho các ca sĩ.

Nhạc sĩ Y Vân mất ngày 28/11/1992, sau một cơn mệt tim nặng. Bà Minh Lâm, vợ cố nhạc sĩ Y Vân tâm sự :

– “Nhiều người thêu dệt Y Vân thành một con người đa tình, trăng hoa. Là vợ chồng, mấy mươi năm đầu gối tay ấp nên tôi rất hiểu nhà tôi. Anh ấy là một người đàng hoàng, có gì cũng thật thà kể với vợ (kể cả những việc sâu kín như trường hợp lấy nghệ danh Y Vân). Anh ấy rất có hiếu với mẹ và thương yêu vợ con.

“Thời gian sau năm 1975, Y Vân tham gia Đoàn ca nhạc Hương Miền Nam, rồi nhận viết nhạc cho nhiều nguồn : phối nhạc cho Saigon Audio, viết nhạc phim, nhạc nền cho sân khấu… Anh làm việc cật lực bất kể ngày đêm. Ban trưa, nhìn anh xoay trần viết nhạc dưới mái tôn thấp nóng hầm hập, thấy thương vô cùng. Trời thương, nên giai đoạn đó anh được “đặt hàng” dồn dập, có thể nói là “ăn nên, làm ra”, nhờ đó mà gia đình chúng tôi xây lại được căn nhà tạm gọi là ngăn nắp, nhưng anh làm ra cho mẹ con chúng tôi hưởng, bởi chỉ một năm sau thì anh mất.

“Dạo ấy, đứng trước quan tài của anh đang được quàn tại Hội Âm nhạc TP.HCM, mẹ chồng tôi không hề khóc một tiếng. Có lẽ tất cả nước mắt để khóc thương con, bà cụ đã âm thầm nuốt ngược vào trong. Chúng tôi nghe bà cụ nói : “Người đời thường bảo: Con “đi” trước mẹ là bất hiếu, nhưng mẹ chẳng trách con đâu bởi con đã làm tròn chữ hiếu ngay từ lúc viết xong bài Lòng mẹ”… Con đi trước mẹ nhưng không nợ mẹ, vì mẹ nuôi con 20 năm nhưng con đã nuôi mẹ đến 40 năm.

10 tháng sau, mẹ ông mất. (trích bài Nguyễn Việt)

Lan Hương chuyển tiếp

NHẠC SĨ NGỌC CHÁNH

BAN NHẠC SHOTGUNS

VÀ NGƯỜI NHẠC SĨ ĐA TÀI

– Bài : NGUYỄN VIỆT

Tôi biết nhạc sĩ Ngọc Chánh từ ngày anh còn làm ở phòng trà khiêu vũ trường Queen Bee trên lầu của thương xá Eden, lúc đó đang do nữ ca sĩ Khánh Ly khai thác. Bấy giờ Ngọc Chánh đang chơi piano và organ trong một ban nhạc chưa được đặt thành tên, và cũng chưa được nổi tiếng lắm trong các hoạt động âm nhạc ở miền Nam bấy giờ.

Nhưng rồi một ngày, khi Khánh Ly ra mở phòng trà riêng trên đường Tự Do (bây giờ là Đồng Khởi), ông Tuất chủ nhân phòng trá Queen Bee giao lại cho nữ ca sĩ Thanh Thúy quản lý. Từ đó một ban nhạc mới được thành hình, một ban nhạc mang âm thanh của loại súng liên thanh ra đời, tức ban nhạc Shotguns, do nhạc sĩ Ngọc Chánh làm Chef d’orchest hợp cùng các nhạc sĩ Hoàng Liêm (guitar), Hùng (bass), Ngọc Chánh (piano, organ), Lưu Bình (trống) và các ca sĩ chủ lực gồm Thanh Thúy, Elvis Phương, Pat Lâm và Ngọc Mỹ. Sau này có thêm các nhạc sĩ Cao Phi Long, Đan Thọ, Lê Văn Thiện, ca sĩ có thêm những Thanh Lan, Xuân Sơn, Thái Châu, Nguyễn Chánh Tín, cùng chen vai sát cánh bên nhau, hoạt động từ băng nhạc, ca vũ trường đến các show diễn tại các Club Mỹ, trên các sân khấu đại nhạc hội hay đài phát thanh, truyền hình.

MỘT NHẠC SĨ CÓ TÀI KINH DOANH

Thời gian còn cộng tác tại phòng trà Queen Bee, ban nhạc của nhạc sĩ Ngọc Chánh còn phục vụ trong đoàn văn nghệ Hoa Tình Thương và các Club Mỹ, với phong cách trình diễn loại nhạc kích động như ban nhạc của Khánh Băng – Phùng Trọng. Bởi ca sĩ chủ lực của ban Shotguns là Pat Lâm và Ngọc Mỹ, vào thời đó chưa ai hát nhạc ngoại quốc qua mặt được (năm 1971, khi Ngọc Mỹ đi Mỹ trình diễn và cô đã ở lại Mỹ hát cho một ban nhạc nổi tiếng từ đó).

Cuối những năm 1960, nhạc sĩ Ngọc Chánh sau khi thành hình ban nhạc Shotguns, anh đã cùng Hoàng Liêm, Elvis Phương quyết định chuyển hướng từ một ban nhạc chuyên trình diễn loại nhạc Pop Rock kích động sang trình bày nhạc Việt. Bởi Ngọc Chánh có tâm tư, tại sao cứ phải trình diễn cho các Club Mỹ với loại nhạc kích động Pop Rock, Twist, Bebop.. ồn ào náo nhiệt, mà không trở về với cội nguồn cho khán giả Việt thưởng thức những nhịp điệu nhẹ nhàng, lãng mạn, trữ tình như Slow, Boston, Rumba, Tango, Bolero… Một quyết định xem ra đơn giản nhưng không đơn giản vào thời đó, vì có một số anh chị em trong ban nhạc không đồng tình. Lý do trình diển ở các Club Mỹ được nhiều tiền hơn trên các sân khấu Việt.

Sau khi chọn được hướng đi mới, nhạc sĩ Ngọc Chánh bắt đầu đứng ra thành lập cơ sở Nguồn Sống, chuyên sản xuất băng nhạc nhằm tạo đất sống mới cho các ca nhạc sĩ trong ban nhạc; đồng thời cùng nữ ca sĩ Thanh Thúy lập phòng trà khiêu vũ trường mang tên International Quốc Tế nằm ở mũi tàu Lê Lợi, Nguyễn Trung Trực, Công Lý (nay là đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa), và mở cả kiosque mang tên Khai Sáng nằm dưới tầng trệt của phòng trà, làm nơi tổng phát hành băng nhạc do anh sản xuất.

Nói về sản xuất băng nhạc, nhớ lại lúc khởi đầu khai sinh ra nhãn hiệu băng Shotguns, mấy cuốn đầu tiên không nói là thất bại nhưng thật sự chưa gây được ấn tượng trên thị trường, mặc dù có những nhà văn tên tuổi như nhà văn Nguyễn Đình Toàn, ký giả Quỳnh Như viết lời giới thiệu một cách rộng rãi ra công chúng. Chính nhạc sĩ Ngọc Chánh cũng biết là thất bại, không thành công, là vì có những bài hát nằm đan xen trong chủ đề, tuy hợp với giới thưởng thức này nhưng lại là “khắc tinh” với giới khác. Bởi người nghe nhạc đã phân từng loại ca sĩ lẫn từng loại nhạc phẩm.

Như tầng lớp SVHS thì thích những giọng ca của Thanh Lan, Khánh Ly, Lệ Thu, Xuân Sơn, Anh Khoa, Jo Marcel, Sĩ Phú, Elvis Phương, Tuấn Ngọc… Đại đa số công chúng thích nghe Thanh Thúy, Minh Hiếu, Phương Dung, Thanh Tuyền, Túy Hồng, Nhật Trường, Thái Châu… qua những nhạc phẩm mang tính văn hóa và nghệ thuật . Còn lại các ca sĩ như Chế Linh, Duy Khánh, Hùng Cường, Mai Lệ Huyền, Phương Hồng Quế, Sơn Ca, Giang Tử, Trang Thanh Lan, Trang Mỹ Dung, Thiên Trang… thích hợp cho những nhạc phẩm thị hiếu, được soạn theo kiểu mà người đời thường gọi là “nhạc sến”, như các nhạc phẩm : Một trăm phần trăm, Chuyện tình Lan và Điệp, Nhẫn cỏ cho em, Đồi thông hai mộ, Rước tình về với quê hương v.v…

Giới thưởng thức âm nhạc thời bấy giờ rất kén nghe ca sĩ hát, và ca khúc thuộc dạng lãng mạn trữ tình hay dành cho “sến nương” trong một nhãn hiệu băng nhạc nào đó. Hai trường phái này luôn đối nghịch, nếu nhãn băng  có những Lệ Thu, Khánh Ly, Elvis Phương, Thanh Lan… thì sẽ không có những Chế Linh, Giao Linh, Trang Mỹ Dung, Chung Tử Lưu, Giang Tử, Duy Khánh v.v… Có các nhạc phẩm như Tình nhớ, Con thuyền không bến, Đêm đông, thì thường không nghe những bài thuộc dòng “nhạc sến” như Chuyện tình Lan và Điệp, Nhẫn cỏ cho em v.v… Khán thính giả đã phân chia các hạng bậc ca sĩ, nhạc phẩm như thế để thưởng thức nhằm thư giản tinh thần.

Cho nên khi Ngọc Chánh mở đầu cho nhãn hiệu băng nhạc Shotguns với bài “Một trăm phần trăm” do Hùng Cường hát, trong một cuốn băng có những giọng ca như Thanh Thúy, Thanh Lan, Xuân Sơn, Khánh Ly, Elvis Phương…  đã không được giới thính giả chào đón, đi đến thất bại.

Từ kinh nghiệm trên, nhạc sĩ Ngọc Chánh rất thận trong phong cách chọn bài hát, ca sĩ và cả về âm thanh. Đến khi cuốn “Băng Vàng Shotguns” được phát hành, một tờ nhật báo bán chạy nhất lúc bấy giờ viết đến kỹ thuật thu âm audio cao cấp của nhóm nhạc này, giới mộ điệu âm nhạc bắt đầu chú ý và từ đó trở thành nhãn hiệu băng được mọi người tin cậy, bán chạy nhất bấy giờ.

Nói về kỹ thuật thu âm, thông thường với băng nhựa 8 ly thường được sử dụng từ cuối thập niên 1960, người làm băng nhạc cũng ghi âm trên master tape loại băng 8 ly với âm thanh stereo gồm 4 track. Còn Ngọc Chánh ghi âm bằng master tape 16 ly với âm thanh hifi 6 track, tức có 6 đường rảnh độc lập, mỗi rảnh ghi âm một thứ âm thanh riêng biệt, có thể mix chồng lên nhau. Từ master tape này khi chuyển sang ra băng 8 ly sẽ có chất lượng âm thanh hoàn hảo chuẩn xác hơn. Đồng thời trong cuốn “Băng Vàng Shotguns” về phần hòa âm các nhạc phẩm đều do nhạc sĩ Lê Văn Thiện biên soạn, mới lạ hơn những bản hòa âm mà các băng nhạc khác chỉ soạn theo kiểu “mì ăn liền”. Bởi khi mix, trong đó với âm thanh 4 chiều chuyển động (hifi), người ta có thể phân tích được các loại nhạc khí. Hợp cùng những giọng ca hàng đầu bấy giờ như Thanh Thúy, Khánh Ly, Lệ Thu, Elvis Phương, Anh Khoa trình bày v.v…

Sau cuốn “Băng Vàng Shotguns” thành công và được thính giả ủng hộ liên tục những cuốn băng nhạc sau, nhạc sĩ Ngọc Chánh bắt đầu đưa ra nhãn băng thứ hai mang tên nữ ca sĩ “Thanh Thúy”, với thể nhạc khác với thể nhạc của băng Shotguns, cũng đạt kết quả mỹ mãn. Ngọc Chánh liền cho ra nhiều nhãn hiệu băng khác nhằm chiếm trọn thị trường băng nhạc lúc đó, vì làm kinh doanh băng nhạc phải nhạy bén với lớp người thưởng ngoạn.

Cơ sở sản xuất Nguồn Sống của Ngọc Chánh mở thêm thể loại nhạc trẻ mang tên “Băng nhạc Trẻ”; chủ lực gồm ca sĩ Thanh Lan và ban nhạc Phượng Hoàng của Elvis Phương, Nguyễn Trung Cang… và do Kỳ Phát thực hiện nhằm cạnh tranh với các nhãn hiệu băng do Trường Kỳ, Tùng Giang, Nam Lộc, Jo Marcel thực hiện

Nhận thấy ba bước kinh doanh đầu tiên đều thành công, nhạc sĩ Ngọc Chánh mạnh dạn ra một nhãn hiệu băng trái với tay nghề, tức loại băng mang thể loại tân cổ giao duyên, cải lương và hồ quảng tên “Hồn Nước”.

Chủ lực gồm những nghệ sĩ sân khấu thành danh trên sân khấu cải lương và hồ quảng như Thanh Nga, Thành Được, Phượng Liên, Dũng Thanh Lâm, Thanh Kim Huệ, Thanh Điền, Tấn Tài, Bạch Lê, Thanh Bạch v.v… trong đó phần nhạc đệm tân nhạc vẫn là Shotguns, còn về cổ nhạc quy tụ nhạc sĩ Bảy Bá (tức soạn giả Viễn Châu) điều hành, có Văn Vĩ đàn guitar, Năm Cơ đàn kềm và cả ban nhạc hồ quảng của Đức Phú.

Không ngừng ở nhãn băng thứ tư, Ngọc Chánh tiếp tục ra mắt nhãn băng thứ năm mang tên “Chế Linh” dành cho người thích nghe “nhạc sến”…

Đó là về quá trình sản xuất kinh doanh băng nhạc. Vì thế ban nhạc Shotguns vào năm 1973 được đọc giả, khán thính giả ái mộ bình chọn là “Ban nhạc được ái mộ nhất” của Giải Kim Khánh Nghệ Thuật thường được tổ chức hàng năm.

Sau ngày 30/4/1975, nhạc sĩ Ngọc Chánh còn ở lại Sài Gòn, vài năm sau anh mới đi Mỹ bằng đường biển. Ở Mỹ, Ngọc Chánh đã gầy dựng lại ban nhạc và nhãn hiệu băng nhạc Shotguns, vì nó đã trở thành một thương hiệu đã được mọi người tin cậy từ những năm 1970. Đồng thời trên đất Mỹ, anh còn mở phòng trà Ritz để giới thiệu những tài năng mới và những thân hữu nghệ sĩ đang sinh sống tại hải ngoại.

Trước đây và bây giờ cũng vậy, nhạc sĩ Ngọc Chánh luôn sống nhã nhặn khiêm tốn, hòa đồng cùng mọi người, kể cả khi đã có địa vị tiếng tăm. Vì thế với Ngọc Chánh, hình ảnh của anh rất ít xuất hiện trước công chúng, tuy nhiên mọi người khi nghe nói đến tên Ngọc Chánh là biết anh là ông bầu của một ban nhạc và băng nhạc nổi tiếng, đồng thời là tác giả của nhiều ca khúc hợp soạn cùng nhạc sĩ Phạm Duy, những nhạc phẩm của anh ai cũng nhớ như Bao giờ biết tương tư, Tuổi biết buồn, Vết thù trên lưng ngựa hoang…

GIỚI THIỆU CA SĨ MÁT TAY

Tuy nhạc sĩ Ngọc Chánh không có “lò đào tạo ca sĩ” như các nhạc sĩ khác và cũng không tự nhận mình là thầy đào tạo của một ca sĩ nào, nhưng anh lại là người giới thiệu tài năng mới rất mát tay như những Elvis Phương, Thái Châu, Nguyễn Chánh Tín hay Xuân Sơn cô ca sĩ từng được mệnh danh ca sĩ “Trăng sáng vườn chè”; đi hát từ thời Khánh Ly đang còn khai thác phòng trà Queen Bee, ít người biết đến, sau về cộng tác với ban nhạc Shotguns cô đã trở nên nổi tiếng, hay một Hải Lý mới chớm nở chưa kịp kết nụ ra hoa, Ngọc Chánh đã không còn kịp đưa tên tuổi lên như những đàn anh đàn chị vì thời cuộc đổi thay.

Nhưng có lẽ bất ngờ nhất khi nói Ngọc Chánh là người tìm thấy giọng ca của nữ ca sĩ Minh Hiếu đầu tiên. Anh từng lăng xê Minh Hiếu trước cả nhạc sĩ Đức Quỳnh. Theo nhạc sĩ Ngọc Chánh tâm sự :

– “Vào năm 1961 tôi đang phụ trách ban nhạc ở hồ tắm Cộng Hòa trên đường Lê Văn Duyệt (bây giờ tên đường Cách Mạng Tháng 8). Năm đó có một người con gái yêu thích ca nhạc. Cô ta từ Binh Long lên Saigon học hát và học may. Tôi có người bạn nhạc sĩ nhờ tôi hướng dẫn và giúp đở. Thật ra những ngày đầu gặp tôi, cô ta chỉ hát được hai bài là “Nổi Lòng” của Nguyễn văn Khánh và “Gợi Giấc Mơ Xưa” của Lê Hoàng Long (theo dạng bài hát tủ). Nhưng vì tôi là Chef d’orchestre nên đưa cô vào hát ở hồ tắm Cộng Hòa không có gì trở ngại. Cô ấy tên Minh Hiếu.

“Minh Hiếu là người rất có khiếu về ca nhạc, lại thêm đam mê nên chỉ sau 6 tháng đã nổi tiếng. Minh Hiếu bắt đầu hát cho phòng trà “Arc en Ciel” trong Chợ Lớn rồi phòng trà Đức Quỳnh bên rạp Việt Long xưa và Văn Cảnh. Còn được mời thâu dĩa hát cho những hãng dĩa 33 tour ở Sài Gòn thời bấy giờ v.v…”

Hay khi Ngọc Chánh nói đến hai ca sĩ Elvis Phương và Hương Lan thời mới vào nghề :

– “Bài hát đầu tiên của Elvis Phương hát là “Mộng Dưới Hoa”. Ngày đó Elvis Phương hát như người Mỹ hát tiếng Việt, vừa ngọng, vừa đớt thật là khó nghe, nhưng sau một thời gian anh em hướng dẫn, Elvis Phương bắt đầu hát hay dần, hay dần cho đến hôm nay nhiều ca sĩ trẻ trong nước lẫn hải Ngoại chưa ai có giọng ca tốt như Elvis Phương.

“Hoặc như Hương Lan là giọng ca hiếm có khi thâu bài nhạc Hoa lời Việt “Mùa Thu Lá Bay”, nếu cô ấy chịu đi theo con đường này chắc là từ đó đến giờ sẽ không có đối thủ cạnh tranh, nhưng sau tôi không còn thời gian hướng dẫn nữa…”

Phải chăng vì thế Hương Lan chỉ thuộc nữ ca sĩ trung trung đến bây giờ ?! vì từ xưa đến nay các ông bầu tổ chức ca nhạc thường không đưa tên tuổi Hương Lan thành “vơ-đét” của đêm diễn.

Nói về Xuân Sơn hay Nguyễn Chánh Tín cũng thuộc ca sĩ trong ban Shotguns. Cho thấy vào thời kỳ trước những năm 1965, đa số các nam nữ ca sĩ đều từ văn nghệ học đường, từ năng khiếu mà hình thành ra chất giọng riêng biệt. Tuy nhiên không có người hướng dẫn “lăng xê”, khi đi hát lại không chọn đúng nhạc phẩm sở trường, thích gì hát đó nên không thể tự tạo được ấn tượng cho giới thưởng thức.

Thí dụ như Xuân Sơn thích đi hát từ năm 12 tuổi, lớn lên lại trúng tuyển Giải Nhất cuộc thi Tuyển Lựa Ca Sĩ với ca khúc “Trở về Mái Nhà Xưa”. Sau đó Xuân Sơn được mời hát trong các chương trình tại Đài phát thanh, rồi phòng trà. Từng được nhạc sĩ Đỗ Lễ hướng dẫn về nhạc lý và xướng thanh, nhưng quanh đi quẩn lại chỉ có một bài tủ “Trăng Sáng Vườn Chè” của Văn Phụng nên không thành danh. Sau này về hát với ban Shotguns qua những nhạc phẩm như Nắng Thủy Tinh, Ru Em Từng Ngón Xuân Nồng, Lệ Đá, Biển Nhớ, Lá Đổ Muôn Chiều, Tôi Ru Em Ngủ… nữ ca sĩ Xuân Sơn mới đạt đến sự ngưỡng mộ của khán thính giả.

HƯỚNG DẪN TIẾNG HÁT ELVIS PHƯƠNG

Elvis Phương năm tuổi 14 đang theo học tại trường Jean Jacques Rousseau (bây giờ tên trường Lê Quý Đôn). Rất thích ca sĩ Elvis Presley với thể nhạc Rock And Roll, khiến cho quên ăn, quên ngủ, và anh luôn muốn trở thành một Elvis Presley VN. Vì vậy với tên thật Phạm Ngọc Phương, anh đã kết hợp với tên mình cùng tên thần tượng để thành tên gọi Elvis Phương cho đến ngày nay.

Elvis Phương tuy không học nhạc nhưng do năng khiếu đã mau chóng lãnh hội được căn bản về nhạc lý qua bạn bè và qua băng dĩa nhạc. Trong những năm còn học ở J.J.Rousseau là thời gian thật tuyệt vời, anh cùng các bạn thành lập ban nhạc có tên The Rockin’ Stars, có tiếng trong giới trẻ yêu thích nhạc ngoại quốc. Đến năm 1964, ban The Rockin’ Stars tan đàn, và Elvis Phương liền được mời vào hát cùng ban nhạc Les Vampires để trình diễn tại các Club Mỹ. Sau đó gia nhập vào đoàn Văn Nghệ Hoa Tình Thương.

Trong suốt thời gian phục vụ trong đoàn văn nghệ Hoa Tình Thương cùng với ban nhạc Shotguns, Elvis Phương đã gần như chuyển hướng với việc trình bày ca khúc, ít hát nhạc ngoại quốc mà chỉ hát nhạc Việt để đáp ứng yêu cầu của mọi người và cả trong các nhãn hiệu băng do Ngọc Chánh sản xuất.

Sau khi được các nhạc sĩ trong ban nhạc hướng dẫn cách phát âm cho đúng lời Việt, và tự tạo cho mình một sắc thái riêng biệt, từ đó anh đã tự tạo cho mình một kỹ thuật phát âm với những tiếng nấc, tiếng nghẹn đặc biệt, như nhạc phẩm “Lời cuối cho em” là bước đầu đưa tên tuổi Elvis Phương lên hàng danh ca. Sau đó Elvis Phương còn thành công qua những nhạc phẩm khác như Xé thư tình, Kỷ vật cho em, Áo anh sứt chỉ đường tà, Về đây nghe em, Những bước chân âm thầm, Vết thù trên lưng ngựa hoang v.v…. Đó là chưa kể những nhạc phẩm ngoại quốc lời Việt như Godfather, Aline, Main Dans La Main, Lady Belle, Love Story, vv…

Đến năm 1972, Elvis Phương trở nên nổi bật khi xuất hiện cùng ban nhạc Mây Trắng sau là ban Phượng Hoàng qua những nhạc phẩm của Lê Hựu Hà và Nguyễn Trung Cang, như Tôi muốn, Thương nhau ngày mưa, Lời người điên, Yêu người yêu đời, vv…

Năm 1973, Elvis Phương đoạt giải “Nam ca sĩ tân nhạc được mến chuộng nhất” của “Giải Kim Khánh Nghệ Thuật”.

TRẦN VĂN TRẠCH GIỚI THIỆU…

Còn ca sĩ Thái Châu vào năm 1966 mới 15 tuổi, đi theo gánh hát của mẹ tức nghệ sĩ Kim Nên, cùng thời với các nghệ sĩ như Kim Chưởng, Thanh Tao, Thúy Nga, Út Trà Ôn… ba anh còn là phó giám đốc của Cty cải lương Kim Chung; cho nên Thái Châu đã mang dòng máu nghệ sĩ từ trong gia đình, vì nhà có 4 anh em đều sống với ánh đèn sân khấu. Lúc đó ai cũng nghĩ Thái Châu sẽ là hậu duệ tiếp bước đường của cha mẹ.

Thế nhưng, tâm hồn cậu bé Trương Chiêu Thông (tên thật của Thái Châu) lại bị mê đắm bởi những ca khúc lãng mạn trữ tình trong tân nhạc hơn là hát sáu câu vọng cổ bên cổ nhạc.

Đến mùa hè năm 1966, khi đoàn hát của mẹ anh ra Vũng Tàu, anh ban ngày phụ giúp cha mẹ một vài công việc trong đoàn hát, còn đêm tìm đến quán cà phê nhạc nơi có nhạc sĩ Nguyễn Đình Nghĩa (thổi sáo) và Trần Xuân Ngã (violon) quản lý ở đây, để nghe các ca nghệ sĩ biểu diễn.

Ở quán này có giờ dành cho khán giả lên hát như phong trào Hát với nhau ngày nay. Thái Châu xin lên hát, đêm đó có cha mẹ anh đi xem và Thái Châu đã hát ca khúc “Lần đầu cũng như lần cuối” (sáng tác của Minh Kỳ). Không ngờ đêm đó hai nhạc sĩ Nguyễn Đình Nghĩa và Trần Xuân Ngã chính thức đề nghị anh tham gia biểu diễn tại quán có trả lương.

Năm 1969, Thái Châu vừa đi học vừa biểu diễn tại phòng trà Đệ nhất do Mai Lệ Huyền đang phụ trách. Một đêm tình cờ gặp quái kiệt Trần Văn Trạch đến nghe hát, nhà quái kiệt ngỏ ý giới thiệu Thái Châu gia nhập vào ban nhạc Shotguns của Ngọc Chánh. Chính Thái Châu tâm sự : “Tôi mừng còn hơn ai cho vàng vì ban nhạc này đang rất nổi tiếng, nhiều danh ca đã cộng tác và nhiều mầm non ca sĩ đã thành danh từ ban nhạc này”.

Về với ban Shotguns, được Ngọc Chánh giúp đỡ, động viên trong tình anh em, vì vậy Thái  Châu đã tự tạo dấu ấn qua nhiều ca khúc dành riêng cho anh. Điển hình như các bài Tôi đưa em sang sông (Y Vũ), Tình như mây khói, Tình chết theo mùa đông (Lam Phương), Linh hồn tượng đá (Mai Bích Dung), Bài thánh ca buồn (Nguyễn Vũ)… và trở thành giọng hát chủ lực trong ban nhạc Shotguns từ đó.

NHỮNG NHẠC PHẨM NỔI TIẾNG CỦA NGỌC CHÁNH

BAO GIỜ BIẾT TƯƠNG TƯ

Ngày nào cho tôi biết, / Biết yêu em rồi tôi biết tương tư / Ngày nào biết mong chờ, / Biết rộn rã buồn vui đợi em dưới mưa…

Ôi biết đem tin này, / Vắng như lòng giấy, tình yêu lấp đầy / Rồi biết quên câu cười, / Biết cho đôi dòng lệ rơi.

Tình yêu đã trở lại, / Đôi mắt đêm ngày vơi hết đọa đầy / Tà áo em phơi bầy, / Ngón tay em dài, tiếng yêu không lời.

Ngày nào lòng tôi đã / Biết vui biết buồn, ôm mối tương tư / Ngày nào cánh Thiên Đường / Đã mở hé tình yêu là trái táo thơm / Tôi ghé răng cắn vào / Miệng môi ngọt đắng, tình yêu cuối đường / Là trối trăn cuối cùng, / Giấc mơ não nùng vội tan.

VẾT THÙ TRÊN LƯNG NGỰA HOANG

(Viết cho phim cùng mang tên dựa theo tiểu thuyết của nhà văn Nguyễn Thụy Long)

Ngựa hoang nào dẫm nát tơi bời / Đồng cỏ nào xanh ngát lưng trời / Ngựa phi như điên cuồng / Giữa cánh đồng dưới cơn giông / Vì trên lưng cong oằn / Những vết roi vẫn in hằn

Một hôm ngựa bỗng thấy thanh bình / Thảm cỏ tình yêu dưới chân mình / Ân tình mở cửa ra với mình / Ngựa hoang bỗng thấy mơ / Để quên những vết thù

Ngựa hoang muốn về tắm sông nhẫn nhục / Giòng sông mơ màng mát trong thơm ngọt / Ngựa hoang quên thù oán căm / Từ nơi tối tăm về miền tươi sáng / Ngựa hoang về tới bến sông rồi / Cởi mở lòng ra với cõi đời / Nhưng đời ngựa hoang chết gục / Và trên lưng nó ôi / Còn nguyên những vết thù ./.

Thiên Lý Nhãn chuyển tiếp

Trong xe TAXI

Chàng trai và cô gái yêu nhau ngồi trong tắc xi:

– Anh yêu em muốn chết đi được, – chàng trai nói.

– Em cũng cảm thấy em như đang chết  vì yêu anh, – người con gái đáp lại.

– Xin lỗi hai anh chị ! – người lái xe tắc xi nói chen. – Tôi xin lỗi vì làm gián đoạn cuộc tâm sự của anh chị, nhưng xin anh chị hãy thanh toán tiền xe cho tôi trước khi cả hai anh chị…  qua đời.

 Bài tập về nhà

Tại lớp học, cô giáo ra đề bài tập về nhà: “Em hãy kể một chuyện không bình thường mới xẩy ra gần đây ở nhà em”.

Ngày hôm sau cô giáo gọi Robert đứng lên đọc bài làm của mình.

– Tuần trước bố em bị rơi xuống giếng…

– Lạy Chúa tôi, thế bố em có bị làm sao hay không? – cô giáo hoảng hồn hỏi.

– Thưa cô, chắc là bố em không bị làm sao cả, vì từ hôm qua không thấy bố kêu la ở dưới đó nữa.

Tại phiên toà xét xử vụ xin ly dị

Quan toà hỏi người vợ, bên nguyên:

– Trước kia, khi chị đồng ý lấy anh ta thì nhất định anh ta phải có cái gì đó lôi cuốn chị chứ?

– Dạ, thưa quý toà, có, có đấy ạ, nhưng em đã xài hết nhẵn rồi.

Yên Nhàn chuyển tiếp