TRUYỆN NGẮN : “MÙI CỌP”

Logo Van nghe

Quy The 2MÙI CỌP 

– Qúy Thể 

– Anh ơi ! Tôi giả vờ ngủ.

Chúng tôi còn giận nhau. Thực ra tôi biết nàng trở về nhà vào lúc 12 giờ khuya. Nàng cởi bộ áo lấp lánh kim tuyến treo lên móc. Nàng vào phòng tắm. Tôi nghe tiếng chiếc gương xen nước chảy rào rào.

Tôi nghe cả tiếng cửa phòng tắm mở. Nàng nhẹ nhàng lên giường nằm cạnh. Tôi nghe tất cả, nhưng tôi thấy lúc chưa phải để giải hòa. Chúng tôi đã giận nhau hơn một tuần nay.

– Anh đi ngủ gì sớm thế ? – Nàng khẽ chạm vào vai tôi rồi nói nghe như một lời mời mọc.

– Mình ơi em vừa tắm xong – Nói xong nàng đột ngột lôi hẳn tôi quay lại. Nàng nói:
– Hôm nay em sẽ dành cho anh một sự ngạc nhiên !

Nàng ôm lấy tôi, mùi hương rất lạ thôi thúc tôi. Đó là mùi hoa hồng tôi chưa thấy nàng dùng đến bao giờ. Tôi tỉnh ngủ hẳn. Trong lòng tôi hiện tại là một cô gái mềm mại, dịu dàng và đặc biệt khác mọi lần là một mùi hương vô cùng quyến rũ. Mùi thơm đánh thức mọi giác quan. Nàng biến thành một phụ nữ hoàn toàn mới đối với tôi, và có lẽ đối với cả nàng. Con gai 3Tôi thấy trong cử chỉ của nàng một niềm vui thầm kín. Mấy ngày hờn trách nhau trước đây như tan biến đi cả.

Cuộc làm lành diễn ra như thế. Luôn luôn nàng tỏ ra là kẻ biết điều, còn tôi bao giờ cũng vẫn là một người cố chấp. Một tuần nay  chúng tôi giận hờn nhau. Sự việc khá đơn giản.

Tôi bảo nàng bỏ nghề. Nàng không chịu. Tôi là giáo sư dạy toán tại một trường đại học danh tiếng. Còn nàng là một diễn viên và là  người dạy thú. Nàng chuyên huấn luyện và biểu diễn với cọp. Kể về tiếng tăm nàng lừng lẫy hơn tôi rất nhiều. Thu nhập của nàng cũng gấp bội tôi. Nhưng tôi không chịu nổi cái nghề kỳ dị của nàng.

Nàng nói: “Em yêu lũ cọp. Chúng nó yêu em và em yêu nghề. Bỏ nghề này ra em biết làm gì ? Thư ký hay bán hàng ư ? Tìm một chỗ làm khó lắm. Nhưng còn tìm một thư ký thì dễ, còn tìm một người dạy thú như em thì rất khó. Em yêu cái không khí của gánh xiếc. Em sống quen trong cái khung cảnh này rồi”. Nàng nói gì thì nói, tôi vẫn thấy cái nghề này nó kỳ quái thế nào.

Kể cũng lạ cho cuộc hôn nhân này. Chúng tôi có nghề nghiệp và tính cách hoàn toàn khác hẳn nhau. Trước khi thành hôn, đã có người bảo chúng tôi không làm sao được hạnh phúc bên nhau lâu dài được đâu. Lúc đó cả tôi và nàng bất chấp mọi lời khuyên. Nàng có một ý tưởng ngộ nghĩnh mà khi đó tôi cũng cho rằng vô cùng thú vị. Nàng nói con chúng ta sẽ dũng mãnh như hổ và thông tuệ như anh !

Tôi xin kể lại buổi đầu gặp nhau. Lúc đó tôi chếnh choáng men say vì mấy cốc rượu của sinh viên trong buổi lễ phát thưởng cuối năm học. 9 Mui cop 2Có một sinh viên đưa ý kiến và được các bạn tán thành ngay: hay là chúng ta kéo nhau đi xem xiếc. Lần cuối cùng trong đời tôi đến rạp xiếc là lúc tôi lên chín. Từ đó đến nay tôi không để ý gì về loại hoạt động này.

Chúng tôi bước vào rạp xiếc vừa đúng lúc một tràng pháo to hào hứng nổi lên. Nhiều người đứng lên tặng hoa cho một cô gái đang rực sáng trong bộ áo xiếc đầy kim tuyến. Một ngọn đèn rất sáng từ trên cao chiếu thẳng vào nụ cười rạng rỡ của nàng. Cạnh nàng là ba con cọp to lớn nằm phủ phục. Thú thật cả đời tôi chưa bao giờ chứng kiến một cảnh tượng hùng tráng đến thế. Một cô gái nhỏ nhắn khuất phục được ba chúa sơn lâm! Bỗng một sinh viên ấn vào tay tôi bó hoa cẩm chướng màu huyết dụ nó đẩy tôi: lên tặng hoa người đẹp đi thầy. Lúc đó thực tình tôi như một cái máy. Lần đầu tiên trong đời tôi lên sân khấu tặng hoa cho một diễn viên, mà lại là diễn viên dạy thú.

Có lẽ nàng thấy bộ mặt ngờ nghệch và cặp mắt kính cận thị quá dày của tôi hoàn toàn lạc lõng giữa một khung cảnh ồn ào đầy sự kích động nên nàng tặng cho tôi một nụ cười : “Chắc đây là lần đầu tiên ông đến xem chúng tôi biểu diễn ?”

Lại gần, tôi thấy nàng rất đẹp. Một khuôn mặt thanh tú, mái tóc mềm óng ả như tơ. Có một điều mà tôi cho là khác thường là khuôn mặt nàng rất tươi nhưng hoàn toàn không một chút phấn son. Có lẽ nàng còn ánh lên trong ánh hào quang rực rỡ của sự thành công. Phải thú nhận rằng nghề nghiệp của tôi dù thành công đến mấy tôi cũng không bao giờ hy vọng có những giây phút được nhiều người ngưỡng mộ như thế này. Định mệnh đã xui khiến tôi nói với nàng một câu mà từ trước đến nay tôi chưa bao giờ thốt ra với một người phụ nữ nào. 9 Mui cop 3“Tôi vô cùng hâm mộ tài nghệ của cô. Sau buổi diễn, nếu cô vui lòng, – chúng ta sẽ gặp nhau tại…”. Nàng nói rất khẽ : “Xin hân hạnh”.

Sau đó chúng tôi còn gặp nhiều lần. Chúng tôi thích nhau vì cảm thấy trong việc này có cái gì là lạ. Theo cách nói của nàng thì đấy là một cuộc kết hợp vô tiền khoáng hậu giữa sức mạnh và trí tuệ. Cuối cùng chúng tôi quyết định đi tới hôn nhân. Lễ kết hôn của chúng tôi thật đáng nên kể lại.

Bạn phía tôi gồm toàn thượng lưu trí thức. Mấy ông bà này rất tiết kiệm nụ cười và lời nói đùa. Trái lại phía nàng là cả một rừng náo nhiệt. Họ uống rượu, nói cười và phá phách như điên. Tôi bắt đầu yêu mến cái thế giới xiếc từ buổi gặp gỡ này. Anh chàng làm hề tung hứng lấy bốn chiếc đũa biểu diễn ngay trên bàn tiệc. Anh chàng ảo thuật lấy chiếc khăn ăn đậy lên tô xúp rồi hô: biến. Chẳng có cái gì biến ra cả. Chỉ có biến ra một trận cười hào hứng.

Mấy chàng hề tha hồ chọc cười. Quý vị giáo sư lần hồi cũng trút bỏ bộ áo đạo mạo tham gia vào cuộc vui. Rượu chảy như suối. Một ông giáo sư cao hứng đứng lên hát tặng cô dâu và chú rể một bài. Bài hát Người đẹp và quái vật. Ông này muốn ám chỉ quái vật là tôi ? Tôi thật xấu trai và có thể bảo quê mùa. Một phụ nữ chuyên diễn màn nhào lộn hát thực to : “Đêm động phòng ông giáo coi chừng bị hổ vồ !” Anh chàng biểu diễn trên lưng ngựa cũng gào to : “Cô dâu nhớ mang roi dạy hổ vào phòng. Nếu “nó” làm ăn bôi bác thì quất cho mấy roi !”.

Đêm tân hôn cũng không bị hổ vồ cũng không bị quất roi nào. Nàng cao lớn và hùng dũng trên sàn diễn bao nhiêu, lại nhỏ nhắn và mềm mại trong lòng tôi bấy nhiêu. 9 Mui cop 7Tôi cũng không ngờ rằng tính tình nàng lại dịu dàng đến thế. Nàng bảo: “Người dạy thú cần nhất là phải yêu thương và dịu ngọt với chúng”. Có lẽ tôi hiện là một con thú được nàng yêu thương chiều chuộng đây.

Có một điều mãi mãi còn lại trong tôi sau đêm tân hôn là từ thân thể nàng và rõ nhất là trong mái tóc nàng có một mùi nồng hăng hắc. Sau này tôi mới biết đó là mùi cọp. Một mùi không thể nào quên được.

Thời kỳ trăng mật và những năm tháng qua đi. Chúng tôi sống với nhau khá hạnh phúc. Chúng tôi có rất ít thời gian gần nhau. Mùa đông nàng lưu diễn. Tôi thường đi đây đó dự hội nghị, hội thảo, có khi ở nước ngoài. Vì thế giây phút gặp nhau trong ngày đối với chúng tôi hết sức quý giá. Còn nghề của nàng không bao giờ hết những chuyện lý thú. Có hôm nàng kể chuyện con gấu Tô Tô không chịu ra diễn. Chẳng ai hiểu vì lẽ gì. Sau mới biết hôm đó đúng là ngày loài gấu ngủ đông.

Chuyện con Đác Lắc, một con cọp cái dài hơn hai mét và nặng hơn một tạ rưỡi mà theo nàng là một con vật duyên dáng nhất là vừa sinh lứa con đầu lòng. Có hôm nàng kể một chuyện cảm động. Một con ngỗng trong khi trình diễn rủi ro bị con ngựa dẫm phải. Trước lúc chết nó dang đôi cánh rộng ôm lấy chủ nó. Chủ nó khóc sướt mướt thề rằng suốt đời không bao giờ huấn luyện một con ngỗng nào nữa. Có hôm nàng trao cho tôi xem một bức thư tỏ tình của một anh chàng nào đó giấu trong bó hoa trao tặng nàng…

Không biết các bạn đồng diễn có ai chế nhạo nàng về việc chọn một ông giáo làm chồng hay không. Còn tôi thì bị không ít lời chế diễu. Cô thư ký trẻ đẹp và chưa chồng ở trường tôi hỏi rằng có bị vợ bắt nhảy qua vòng lửa hay không? Có cô càng sỗ sàng thách thức hỏi tôi con cọp cái đó mỗi khi lên giường ngủ nó có cào xé và kêu gào hay không. Đôi khi chúng tôi ra phố, thiên hạ nhìn vợ chồng chúng tôi với cặp mắt tò mò. Tôi rất khó chịu. Về sau tôi không đi đâu với nàng nữa.

Chỉ có một lần tôi thấy nàng tỏ ra khổ sở, lúng túng về cái nghề đặc biệt của mình. Đó là lần chúng tôi đi dự sinh nhật một người bạn. 9 Mui cop 4Con chó của nhà chủ tỏ ra thân thiện với mọi người  chỉ trừ có nàng. Nó sủa vang và còn muốn cắn xé. Quý bà nhìn nhau như thầm bảo: kìa xé mãnh hổ đang địch quân hổ! Lần đó tôi thấy nàng rất khó chịu và giục tôi về sớm.

Đến nhà nàng nói : “Chắc anh khổ vì cái mùi cọp của em lắm phải không ?” Đây là lần đầu tiên tôi nghe đến đúng tên cái mùi hăng hắc này. Tôi trả lời để an ủi nhưng chắc không thực với lòng mình. “Không, hoàn toàn không, anh yêu em và yêu luôn cái mùi cọp này”. Nàng cười bảo : “Anh nói dối. Em biết anh không thích. Tháng trước anh viện cớ giường chật đòi ngủ riêng. Mọi người đàn bà được phép thơm tho còn em thì không”.

Tôi hỏi tại sao, nàng nói “Con vật, nhất là cọp, nó không nhận biết bằng mắt mà bằng mũi. Một mùi lạ có nghĩa là một kẻ thù !”. Nàng nói với một giọng ân hận và buồn buồn : “Em biết anh rất khó chịu vì em đem cái mùi của ác thú vào tận phòng ngủ…”

Đêm hôm sau cái đêm nàng làm lành với tôi, nàng gặp nạn. Tôi đến nơi thì nàng đã qua đời. Tôi đau đớn cùng cực ôm lấy nàng. Trong làn tóc nhung mượt và đen thẫm, tôi còn nghe thoang thoảng một mùi hương hoa hồng mà nàng đã tắm hôm qua ! Dưới ánh đèn thật sáng và trong bộ áo xiếc thấm đầy máu, khuôn mặt nàng yên tĩnh như đang trong một giấc mơ. Tôi khóc. Cả đời tôi không bao giờ khóc như hôm nay. Tôi thét lên thật to : “Tại sao em biết rõ hơn ai hết mà em vẫn làm thế ? Vì sự ích kỷ của tôi đấy ư ?”. Tôi muốn gieo mình xuống chín tầng địa ngục để ăn năn.

Ngày hôm sau ông chủ gánh xiếc cho tôi biết tất cả sự việc diễn ra trong cái đêm hãi hùng ấy: “Con cọp Đác Lắc mấy ngày qua nó bệnh hoạn và trở tính hung dữ. Hình như nó thấy chồng nó bị đem nhốt qua chuồng một con cọp cái khác. 9 Mui cop 6Tôi có một linh cảm về một chuyện gì đó nên dặn cô ấy: hay là tối nay bỏ tiết mục xiếc cọp.

Nhưng cô ấy cương quyết và rất tự tin nói với tôi : “Không, nhất định không. Người dạy thú không cho phép mình nhút nhát! ” Rồi nàng kiêu hãnh tiến ra sàn diễn trong một tràng pháo tay cỗ vũ nồng nhiệt. Ba con thú tỏ ra phục tùng tuyệt đối dưới làn roi điều khiển của nàng. Theo đúng kịch bản. Con Đác Lắc chuẩn bị nhảy qua vòng lửa. Nàng đứng trước mặt nó và quất một roi vào không khí, con thú nhảy lên chiếc ghế cao. Nàng bước tới giơ cao vòng lửa. Bỗng nhiên tôi thấy con thú thu mình lại. Nó nhìn nàng bằng cặp mắt kỳ lạ.

Tôi cho tay vào cây súng dưới áo mở nắp bao da. Thật là nhạy bén và bình tĩnh đến rợn người. Cô ấy nhận ra tất cả. Cô ấy biết con thú sắp sửa tấn công mình. Cô ấy cũng đã nhận ra việc tôi định dùng súng giết con thú. Cô thét lên : “Đừng bắn !…” Cũng là lúc con Đác Lắc lao vào người cô như một khối đá. Trễ rồi, cô ấy đỗ xuống sàn diễn. Con ác thú say máu quay lại. Tôi nổ súng. Tôi nhào đến. Chiếc áo trắng lấp lánh kim tuyến loang máu. BuonCả rạp như đông cứng lại trong sự hãi hùng, tôi chỉ kịp nghe cô ta thì thào rất yếu : “Con Đác Lắc chết rồi sao ? Tội nghiệp nó, nó còn bốn con dại. Không phải lỗi tại nó. Lỗi tại tôi…”

Qua giây phút hãi hùng đó, ban nhạc sực tỉnh, chơi một khúc quân hành rời rạc. Theo truyền thống nghề xiếc, bất cứ lâm vào tình trạng nào vẫn tiếp tục trình diễn. Nhưng không còn ai muốn xem, không còn ai muốn diễn. Cuối cùng ban nhạc cũng ngừng. Rồi thì cả rạp yên lặng như một nhà mồ. Mọi người đều trông tin từ bệnh viện. Một giờ sau nàng qua đời. Tôi lê ra sàn diễn nghẹn ngào báo tin. Khán giả không ai chịu ra về. Bao nhiêu là hoa đặt vào nơi nàng đã ngã xuống. Mấy anh hề hai mắt đỏ hoe thất thểu ra sân…

Tr Dan ongCHUYỆN BÍ MẬT

Vợ ông Thuận sau cơn bạo bệnh đã mất cách nay hơn 10 năm. Các con trai và gái của ông bà đều lớn cả và có gia đình nên ông ở chỉ có một mình. Từ ngày vợ mất, ông đã ngoài 65 nhưng vẫn còn tráng kiện và khoẻ mạnh.

Cái tin ông về VN mấy lần, khá tốn kém để cưới vợ qua Mỹ làm chấn động cả một thị trấn nhỏ,  nơi có tin lành dữ gì là ai cũng biết. Dĩ nhiên đâu có ai có thiện cảm với một ông lão 65 tuổi về VN cưới 1 cô gái trẻ đẹp mới ngoài 20 chỉ đáng tuổi con cháu chắt. Đúng là trâu già thích gặm cỏ non!

Ra phi trường đón cô gái trẻ ấy chỉ có một mình ông. Tất cả con cháu, họ hàng không có một người nào. Thái độ đó ông thừa hiểu là họ phản đối ! Giấy tờ hợp lệ, hôn thú hẳn hoi, ông đưa cô về nhà.

Đêm đầu tiên cô gái cơm nước xong, tắm rửa sạch sẽ, ngồi coi tivi, cô chưa biết tiếng Anh nên ông mở mấy băng Paris By Night, Asia.. cho cô coi. Khuya, ông chỉ tay vào một căn phòng và nói :

– Đó là phòng riêng của Hằng, tất cả đồ đạc có đầy đủ, Hằng cứ tự nhiên.

Nói xong, ông đứng lên đi vào phòng của ông. Cô gái hơi ngạc nhiên nhưng chỉ nghĩ là bên Mỹ vợ chồng ngủ riêng mỗi người một phòng, khi nào cần làm “chuyện ấy” thì mới… mò sang ! Hix ! Nhưng cả tháng sau cô chờ hoài mà vẫn không nghe tiếng ông gõ cửa hay có thái độ nào khác !

Sau khi hoàn tất mọi thủ tục bổ sung để làm giấy tờ như thẻ SS (Social Security), thẻ ID, permanent resident card (thẻ xanh thường trú nhân)… Tr thieu nu 4Ông nói nhẹ nhàng nhưng nghiêm trang với cô :

– Từ mai tôi sẽ chở Hằng đi học ESL, sau một thời gian, sẽ đăng ký học tiếp ở college, Hằng phải cố mà học, tôi không sống mãi mà bảo bọc cho cô được đâu.

Ở cái xứ sở này, đâu ai để ý ai, đâu ai biết, đó là vợ chồng hay cha con, chỉ thấy ngày ngày ông chở cô đi và đón cô về, ân cần thăm hỏi động viên học hành. Cô chỉ biết vâng dạ.

Những đêm xa nhà, xa quê hương một mình nơi đất khách quê người, người ta mới hiểu thế nào là cô đơn cực kỳ, là cần hơi ấm người đồng hương, là thèm một tiếng nói dù là tiếng nói của một ông già. Nhiều lần cô lưỡng lự, muốn qua gõ cửa phòng vào nói chuyện với ông nhưng rồi lại thôi.

Một năm thấm thoát trôi qua. Cô còn trẻ lại khá thông minh nên tiến bộ trông thấy, cô apply vào trường college và vượt qua các test để vào ngành y tá. Ngày cô đi thi quốc tịch cũng là ngày ông mừng ra mặt khi cô báo tin đã pass (đậu). Rồi ông đốc thúc cô nhanh chóng bảo lãnh cha mẹ qua Mỹ ! Cô còn đi học nên tất cả mọi chi phí ông đều đài thọ.

Ba năm sau cô và ông ra đón cha mẹ cô và đứa em nhỏ dưới 21 tuổi. Từ xa, bố vợ của ông tách khỏi gia đình, chạy lại ôm chầm lấy ông, 9 Bi mat 4mắt đã nhoè lệ và kêu lên sung sướng :

– Ông Thầy !

Thì ra ông Thuận nguyên là sĩ quan tiểu đoàn trưởng, thuộc trung đoàn 50, sư đoàn 25 bộ binh VNCH. Còn “ông bố vợ”, bố của Hằng nguyên là một trung sĩ,  thuộc cấp của ông. Hai thầy trò ôm nhau mừng mừng tủi tủi. Chỉ đến khi ông và Hằng ra toà ly dị các con ông mới vỡ lẽ. Họ biết là họ đã sai lầm.

Ngày xưa sau 1975, lúc ông phải đi cải tạo, người lính thuộc cấp ấy đã phải đạp xích lô nuôi gia đình bữa no bữa đói mà vẫn chia sẻ giúp đỡ gia đình ông dù chỉ là những đồng tiền khiêm tốn. Những lần vợ ông đi thăm nuôi gần như là toàn bộ đồ dùng người thuộc cấp mua cho ông.

oOo

Ông bùi ngùi nói với tôi :

– Chú Hòa biết không, những ngày trong trại cải tạo, là những ngày đói triền miên, đói vô tận, đói mờ mắt, đói run chân thì 1 cân đường, 1 kg chà bông, 1 bịch đậu phọng, vài viên thuốc qúy… 9 Bi mat 3hơn vàng nhưng những thứ đấy vẫn không qúy bằng cái tình nghiã mà người lính dành cho mình. Chính cái tình nghiã ấy cho tôi niềm tin và hy vọng.

Khi qua Mỹ, tôi được tin gia đình chú ấy kiệt quệ, đau bệnh liên miên, tiếp tế vài ba trăm cũng chỉ nuôi được mấy tuần, nên tôi đành phải bàn … làm rể “giả” của chú ấy. (Ông hóm hỉnh khi nói câu này)

oOo

Tôi hiểu câu chuyện, thì ra ông về VN “giả” cưới cô Hằng là để đền ơn người thuộc cấp đã cưu mang giúp đỡ ông và gia đình sau 1975. Nhưng tôi vẫn còn thắc mắc :

– Thế sao cô Hằng không biết chú là cấp chỉ huy của ba cô ấy ?

Ông mỉm cười :

– Đám cưới giả mà, phải giữ bí mật chứ, chỉ có 2 người biết là tôi và người lính ấy.

Tôi nhắp ngụm bia, bỗng nảy ra ý tưởng, tôi nói :

9 Bi mat 1– Chuyện của chú cháu đưa lên… facebook được chứ ?

– Tôi chỉ làm một việc rất bình thường. Sống có tình có nghiã là vui lắm rồi, cần gì òm ĩ…

Hằng và các con ông đang ngồi ăn uống vui vẻ, Hằng đứng dậy đi về phiá tôi và nói:

– Anh Hòa, anh cứ đưa lên facebook cho em, coi như là lời cảm tạ người Bố thứ 2 của em vậy !

Tôi thấy mắt Hằng long lanh !

(một truyện ngắn của ĐNH – truyện chỉ là hư cấu, nếu có trùng hợp chỉ là ngẫu nhiên ngoài ý muốn tác giả.)

Yên Huỳnh tổng hợp chuyển tiếp

Thơ Trúc Thanh Tâm

9 Mien Tay 1ĐỒNG BẰNG TRONG TÔI

THƯ TÌNH MỰC TÍM

Thư tình mực tím còn nguyên

Luyến lưu đêm đó, ưu phiền đời nhau

Mỹ Tho, bốn chục năm sau

Thời gian trả lại bạc màu cố nhân !

TỪ XA PHỐ NHỎ

Từ xa phố nhỏ Hộ Phòng

Bạc Liêu bão rớt mặn lòng Vĩnh Châu

Cá kèo kho mẳn, canh rau

Ta thương cô gái Tiều Châu, để long !

HƯƠNG THỜI CON GÁI

Em xa Mộc Hóa theo chồng

9 Mien Tay 2Bỏ sông Vàm Cỏ đôi dòng ngược xuôi

Gò Đen, hun hút bóng đời

Hương thời con gái chưa rời thơ ta !

MẮT AI VẪN BUỒN

Một thời khói chiến mù xa

Vị Thanh, Hỏa Lựu, bạn ta làm thầy

Lòng chưa quên được Cái Nai

Bao năm xa cách, mắt ai vẫn buồn !

GIÂY PHÚT TẠ TỪ

Thuyền trăng ai kéo cánh buồm

Chở giùm ta nhớ qua miền tương tư

Hương yêu giây phút tạ từ

Thieu nuChia tay Rạch Giá, nhánh mù u đau !

ĐỜI PHA TRONG RƯỢU

Bên chiều Cao Lãnh mưa mau

Cụng ly bằng hữu, biết màu thế nhân

Mắt tình con gái Nha Mân

Đời pha trong rượu lan dần trong ta !

THỜI GIAN GÕ NHỊP

Thời gian gõ nhịp phía xa

Không gian để lạc hương hoa xuống trần

Gió luồn qua phía sau lưng

Trúc Giang đêm đó, bâng khuâng cả đời !

Trúc Thanh Tâm (Châu Đốc)

NHẠC SĨ NGUYỄN ĐỨC QUA ĐỜI

Logo vannghe9 Chia buon

9 Ng Duc 1

NHỚ VỀ

NHẠC SĨ NGUYỄN ĐỨC

VÀ LÒ ĐÀO TẠO CA SĨ

https://youtu.be/vSB3sRQPmaM

Dù dòng thời gian đã thấm thoát đã bốn thập niên qua, âm hưởng trẻ trung ngọt ngào của ba giọng ca mầm non trong Ban Tam Vân vẫn còn vang vang trong lòng giới thưởng ngoạn văn nghệ của Sài Gòn năm xưa.

Nhắc đến Bích Vân, Phước Vân, Ngọc Vân tức là nhắc đến bước đầu của một công trình đào tạo cam go và một đóng góp lâu dài cho nền Tân nhạc Việt Nam của một tên tuổi quen thuộc: Nhạc Sĩ Nguyễn Đức.

Quê quán tận miền Tây (Bạc Liêu, Cà Mau), nhạc sĩ Nguyễn Đức đã bước chân vào ngưỡng cửa âm nhạc vào lúc tuổi đời còn rất trẻ. Năm lên 8, Nguyễn Đức đã biết sử dụng Mandoline và đến năm 15 tuổi, đã biểu diễn sử dụng hai nhạc khí Mandoline và Harmonica cùng một lúc trong chương trình chọn lựa tài tử do ông 9 Ng Duc 2Hoàng Cao Tăng (Đài phát thanh Pháp Á) tổ chức. Vào năm 1953, Nhạc sĩ Nguyễn Đức bắt đầu dạy hát và thành lập nhóm Rạng Đông.

Trong bước đầu dấn thân vào việc thực hiện công trình tuy lý thú nhưng đầy khó khăn này, nhạc sĩ Nguyễn Đức chú trọng đến các em thiếu nhi (đa số là các em gái tuổi từ 12-13) và đã lựa chọn 3 em để thành lập Ban Tam Vân (Bích Vân, Phước Vân và Ngọc Vân). Ban Tam Vân có lối trình diễn rất đặc biệt, vừa nhảy thiết hài (Claquette), vừa sử dụng maraccao, Guiero, Tambourin và hát ba bè.

Bộ “tam ca kích động nhạc” này đã từng trình diễn trong các chương trình Đại Nhạc Hội và vài khiêu vũ trường tại Sài Gòn. Song song với việc thành lập ban Tam Vân, nhạc sĩ Nguyễn Đức còn đào tạo thần đồng Phương Lan và ca sĩ Thanh Phong lúc ấy mới 12 tuổi. Sau này, chính nhạc sĩ Nguyễn Đức đã đưa Thanh Phong về hợp tác với Phương Đại và Duy Mỹ để thành lập ban Sao Băng đã một thời vang tiếng trên Đài Phát Thanh và Đài Truyền hình Việt Nam trước 1975.

9 Ng Duc 4

Vào những năm vàng son của nền Tân nhạc Việt Nam, giới yêu nhạc Sài Gòn không ai là không biết đến những giọng ca nổi tiếng một thời như Hoàng Oanh, Thanh Lan, Kim Loan, Quốc Dũng, Anh Thoại… và một số ca sĩ bắt đầu bằng chữ “Phương” như Phương Hồng Hạnh, Phương Hồng Quế, Phương Hoài Tâm, Phương Hồng Ngọc (Cẩm Hồng)… Đó đều là những công trình đào tạo của nhạc sĩ Nguyễn Đức từ năm 1960.

Cũng trong năm này, nhạc sĩ Nguyễn Đức đã thành lập Ban Việt Nhi ở Đài Phát Thanh Quốc Gia vào năm 1962, cho ra đời ban Nhi Đồng Sao Băng, cả 2 qui tụ khoảng 40 em thiếu nhi. Về sau, vì số lượng quá đông, anh có lập thêm “Ban Gia Đình Văn Nghệ Nguyễn Đức” trên làn sóng của đài Truyền Hình VN (Đài số 9). 9 Ng Duc 5G.Đ.V.N.N.Đ gồm có 4 ban hợp ca nữ, mỗi ban có 14 ca sĩ và mỗi năm đều có mặt trên màn ảnh thời sự chiếu ở các rạp chiếu bóng để mừng xuân.

Sự đóng góp của nhạc sĩ Nguyễn Đức vào lãnh vực văn nghệ hết sức đa dạng. Ngoài việc đào tạo ca sĩ và hướng dẫn tài năng trẻ, nhạc sĩ Nguyễn Đức còn đào tạo xướng ngôn viên cho các đài truyền thanh và truyền hình như: Bạch Yến, Xuân Kiều, Phương Hồng Trinh. Anh cũng từng là cố vấn văn nghệ cho các đài truyền thanh và truyền hình như Tiếng Nói Thủ Đô, Chương trình Nha Động Viên, Chương trình Người cày có ruộng của Phòng Nông Nghiệp.

Người nghệ sĩ đa tài này rời khỏi quê hương và đến định cư tại Toronto vào tháng 11 năm 1991. Sự có mặt của nhạc sĩ Nguyễn Đức tại Toronto đã thổi một luồng gió mới sinh động vào những hoạt động văn nghệ của thành phố thương mại này. Kiếp tằm phải tiếp tục nhả tơ, mặc dầu tuổi đời đã cao, sức khỏe kém, nhạc sĩ Nguyễn Đức vẫn tiếp tục con đường đã định sẵn: phục vụ âm nhạc, phục vụ giới trẻ, lòng thiết tha mang tâm hồn của tầng lớp trẻ Việt Nam ở hải ngoại trở về với nét đẹp quê hương qua cung đàn tiếng nhạc.

9 Ng Duc 3Trong niềm hòai vọng đó, nhạc sĩ Nguyễn Đức đã tham gia trong chương trình Việt Ngữ (Heritage Languages Program) để hướng dẫn cho một số giáo viên về ký âm pháp để tập hát cho học sinh Việt Nam. Ngòai ra, nhạc sĩ còn giúp đào luyện một số tài năng trẻ say mê âm nhạc có cơ hội trở thành ca sĩ chuyên nghiệp. Trong chiều hướng đó, nhạc sĩ Nguyễn Đức đã qui tụ được một số giọng ca đầy triễn vọng vào năm 1993, nhóm Bừng Sáng ra đời tại Toronto với tiếng hát Hòan Vũ, Minh Nguyệt, Tử Lê, Lan Hương, Ái Ly, Huy Khang, Thùy Trang, Xuân Hằng và Thái Hòa. Được sự hướng dẫn tận tình của người nhạc sĩ và cũng là bậc thầy giàu kinh nghiệm, nhóm Bừng Sáng đã hoạch định cho mình một hướng đi trong tương lai: “Đòan kết, luyện tập chu đáo với những tiết mục mới lạ mong đem lại cho giới mộ điệu một làn gió mới cho không khí văn nghệ ở Toronto”.

Bước thời gian sẽ không bao giờ ngưng đọng và mỗi ngày qua đi sẽ để lại trong lòng người nghệ sĩ nhiều kỷ niệm khó quên. Giờ đây, với tuổi đời cao, mái tóc phai màu, nhìn lại quá khứ, suốt đoạn đường dài, nhạc sĩ Nguyễn Đức đã sống và cống hiến từng hơi thở mình cho giới trẻ và cho tiền đồ của nền Tân Nhạc Việt Nam.

Rồi đây, nếu có lúc nào “đốt lò hương cũ, so phím tơ xưa”, người nghệ sĩ lão thành chắc sẽ cảm thấy mãn nguyện vì trong những công trình và những gắn bó yêu thương đã ràng buộc đời nghệ sĩ theo từng bước hưng vong của làng âm nhạc Việt Nam. (bài viết của cố ký giả Trường Kỳ – 12/9/2005)

9 Le Minh 1HỌA SĨ LÊ MINH

MUA NHÀ LẦU, XE HƠI NHỜ

VẼ BÌA TRUYỆN CHƯỞNG

Nhờ vẽ bìa truyện chưởng Kim Dung, ông đủ tiền mua nhà lầu, sắm xe hơi. Từ câu chuyện trên, ông được xem là bậc thầy trong lĩnh vực vẽ bìa cho truyện chưởng Kim Dung. Vào đầu thập niên 1960, những ai từng mê truyện chưởng Kim Dung sẽ không thể quên những nét vẽ mềm mại, có hồn, tài tình của họa sĩ Lê Minh trên bìa từng cuốn truyện.

Làm giàu nhờ vẽ bìa truyện Kim Dung

Sau loạt truyện tranh Hoa Lư Động Chúa đăng trên nhật báo Dân Ta, tài năng vẽ tranh của Lê Minh được nhiều người biết đến, từ đây cái tên của ông được đóng dấu cho vẽ trình bày, vẽ truyện tranh và minh họa trên các nhật báo, tạp chí. Đến khi học năm thứ hai trường Mỹ nghệ Gia Định, chàng sinh viên Lê Minh đã được rất nhiều nhật báo, tạp chí, tuần báo Phụ Nữ Diễn Đàn, Phụ Nữ Ngày (của Nguyễn Đức Kiên – Kim Châu), Đẹp (của Kim Lệ), 9 Le Minh 2Tiếng Dội (của Trần Tấn Quốc), Tiếng Chuông (của Đinh Văn Khai) tranh nhau mời cộng tác để vẽ trình bày, vẽ truyện tranh và minh họa trong một thời gian dài.

Họa sĩ Lê Minh tên thật là Lê Ngọc Minh, ông sinh năm 1937 tại Sài Gòn, từ nhỏ ông đã mê vẽ tranh và thần tượng họa sĩ Lê Trung, một bậc thầy vẽ chân dung thiếu nữ. Đến năm 17 tuổi, tài năng vẽ tranh của chàng trai Lê Minh đã được độc giả biết đến với những nét vẽ vô cùng ấn tượng sống động qua loạt truyện tranh Hoa Lư Động Chúa đăng trên nhật báo Dân Ta, do thi sĩ Nguyễn Vỹ làm chủ bút

Vào đầu thập niên 1960, tại Sài Gòn tràn ngập truyện chưởng Kim Dung bởi nhu cầu đọc truyện của người dân tăng cao đột biến. Để đáp ứng nhu cầu của đọc giả, nhiều tờ báo bắt đầu trích đăng lại. Lúc đó, họa sĩ Lê Minh đã được đọc giả biết đến sau rất nhiều tranh minh họa có hồn, đẹp mắt trên các báo Phụ Nữ Diễn Đàn, Phụ Nữ Ngày Mai, Đẹp, đặc biệt là nổi danh qua các bức vẽ thiếu nữ.

Họa sĩ Lê Minh thú nhận : “Biết tài của tôi nên hàng loạt nhà xuất bản như Thế Kỷ, An Hưng, Sống Mới 9 Hoa si 1chuẩn bị xuất bản truyện Kim Dung đều săn tìm tôi vẽ trang bìa cho bằng được. Bởi thực tế cho thấy, truyện muốn bán chạy thì tôi phải vẽ bìa. Thời điểm đó, tôi được nhà xuất bản trả một bức vẽ bìa là 2.000 đồng. Giá này là cao so với thời đó, nhờ vậy mà tôi tích lũy tiền mua được nhà lầu, xe hơi cho gia đình”.

Trong giai đoạn này, Sài Gòn cũng có các họa sĩ chuyên vẽ bìa truyện chưởng như Đỗ Phi, Cảnh Thế. Tuy nhiên, so về nét vẽ, cái hồn của từng trang bìa thì không thể so được với họa sĩ Lê Minh. Qua 12 năm vẽ bìa truyện chưởng với nhiều thăng trầm của lịch sử, ông vẫn nhớ như in lần vẽ bìa cuốn truyện Tiếu Ngạo Giang Hồ. Nhà xuất bản đặt hàng ông thực hiện gấp bìa truyện có nhân vật Vạn lý độc hành Điền Bá Quang mê ni cô Nghi Lâm.

Họa sĩ Lê Minh nhớ lại : “Do quá gấp, tôi chưa kịp đọc kỹ bản thảo, nghĩ rằng Điền Bá Quang là kẻ hắc đạo, nhân vật phản diện nên tôi phóng bút vẽ một người hung dữ, đầu tóc râu ria xồm xoàm. Chỉ đến khi nhà xuất bản in bìa truyện xong, ông chủ tổ chức in truyện mới than trời. Điền Bá Quang trong Tiếu ngạo giang hồ là bạn với Lệnh Hồ Xung. Người thư sinh trắng trẻo, mày râu nhẵn nhụi, vẽ như vầy là chết rồi”.

Ngoài ra, một kỷ niệm cũng không quên qua 12 năm cầm bút vẽ bìa truyện chưởng của họa sĩ Lê Minh là trong một lần đang vẽ gấp bìa Cô Gái Đồ Long nhằm kịp mang ra nhà in làm bảng kẽm thì đột ngột mất điện, phòng làm việc tối om, nóng bức, ngột ngạt, 9 Le Minh 3ông chủ NXB Đại Hưng tự tay thắp nến rồi cầm quạt phe phẩy liên tục cho họa sĩ Lê Minh thực hiện nốt hình trang bìa còn dang dở.

Họa sĩ Lê Minh chia sẻ them : “Bìa truyện chưởng phải vẽ sao cho độc giả nhìn vào là thấy gay cấn hấp dẫn, do đó họa sĩ cần tuân thủ một số điều kiện bắt buộc là phải có nhân vật nữ nổi bật, tranh vẽ phải sinh động, bố cục tựa truyện, tên tác giả và người dịch phải cân đối, màu sắc hài hòa không đơn điệu cũng tránh lòe loẹt”.

Tự hào là người Sài Gòn chính hiệu

Họa sĩ Lê Minh ngoài tài năng vẽ bìa truyện chưởng Kim Dung thu hút hàng vạn đọc giả, ông còn nổi danh với tài lẻ vẽ truyện tranh nhiều kỳ (mỗi kỳ vẽ 5 cột báo) như truyện Người lấy ma, Vợ chồng của tác giả Bồ Tùng Linh trên nhật báo Thần Chung của chủ bút Nguyễn Kỳ Nam.

Họa sĩ Lê Minh còn vẽ tranh tứ bình các điển tích Trung Hoa và Việt Nam như Tấm Cám, Lâm Sanh, Xuân Nương, Phạm Công Cúc Hoa, Trầu cau, Vườn đào kết nghĩa, Bao Công kỳ án, Bích câu kỳ ngộ. Ông còn vẽ minh họa bìa và các truyện tranh Hoa Lư động chúa, Đêm biển lạnh lùng, Bên dòng sông Trẹm, Đứa con rơi, Tiếng suối Sau Leng, Hương rừng Cà Mau của nhà văn Dương Hà, Sơn Nam. Sau 1975, họa sĩ Lê Minh vẽ truyện tranh Tiết Nhơn Quý chinh đông, Kiếm khách đầu rồng (NXB Mỹ Thuật)…

Họa sĩ Lê Minh mất cha từ năm 16 tuổi, ông và người chị gái sống với mẹ. Từ khi mất cha, ông và gia đình phải lăn lộn kiếm sống bằng gánh hàng hoa mua từ chợ Gò Vấp mang về bán tại chợ Bà Chiểu (quận Bình Thạnh) bán.

9 Le Minh 5Họa sĩ Lê Minh chia sẻ: “Từ bé tôi rất thương mẹ, thấy mẹ vất vả, lo toan nên tôi đã biết tự lo thân cho mình. Việc làm tốt đẹp đầu tiên mà tôi làm được cho gia đình là khi thi đậu vào Trường mỹ thuật. Cũng từ đây, với tài năng vẽ tranh cho báo, tôi dần dần giúp đỡ về kinh tế cho gia đình. Tôi còn sắm cho chị gái cái máy may để học nghề và sinh sống nuôi được gia đình sau này.

Họa sĩ Lê Minh đã sống trên 80 năm trên mảnh đất Sài Gòn, trải qua bao thăng trầm, biến cố lịch sử, đời sống có nhiều vất vả, nhọc nhằn và có cả niềm hân hoan. Họa sĩ Lê Minh tâm sự cuộc đời ông gắn bó nơi này như máu thịt, ông coi mình là một người Sài Gòn chính hiệu. Giờ đây, ngồi trong ngôi nhà trên đường Lê Quang Định (quận Gò Vấp) của cha mẹ để lại, nay đến lượt ông và con cháu sinh sống. Họa sĩ Lê Minh bùi ngùi cho biết : “Cả đời tôi gắn bó với nơi này”. Ngôi nhà cất giữ kỷ niệm những ngày ông gò lưng ngồi vẽ báo, kiếm được đồng tiền đầu tiên về phụ giúp mẹ, lo cho gia đình. (theo P. Phúc)

Cao Bồi Già chuyển tiếp

SG Ng Viet 4PHẢN HỒI : nói thật cùng các bạn, cả hai người, họa sĩ Lê Minh và nhạc sĩ Nguyễn Đức đều là người thân rất thân của tôi trước năm 1975. Đến nay cả hai khi gặp thường jkhen tôi, “tuổi trẻ tài cao”, vì 25 tuổi đã là Thư Ký Tòa Soạn một nhật báo (báo Trắng Đen – một tờ nhật báo bán chạy nhất ở miền Nam lúc bấy giờ).

Theo tôi là dân làm báo và rất am hiểu về môi trường văn hóa văn nghệ, thì ngày xưa các ông chủ hay chọn người “mát tay” vẽ bìa (tâm linh) như họa sĩ Lê Miinh vẽ bìa sách tiểu thuyết, họa sĩ Duy Liêm vẽ bìa poster nhạc, họa sĩ Trường Tồn (nay đổi tên là Chinh Phong) vẽ manchette báo (còn là tên thương hiệu sản phẩm để giự bản quyền) v.v… nên bài viết trên đây không phải khoa trương về hoạ sỉ Lê Minh một cách quá đáng.

Hiện nay phòng tranh cá nhân (thể loại tranh sơn dầu, với hình ảnh thiếu nữ, cảnh trí, tĩnh vật v.v…) của họa sĩ Lê Minh ở ngay nhà riêng, số 572/1/1 đường Lê Quang Định, P1, Q. Gò Vấp.

Về nhạc sĩ Nguyễn Đức thì tôi hiểu rất nhiều, bởi tôi gọi NS Nguyễn Đức là Anh Hai, t9 Le Minh 4uy chỉ là anh em kết nghĩa nhưng tôi kêu như các học trò của anh thường kêu anh như thế.

Bài của cố ký giả Trường Kỳ viết chưa đầy đủ, vì sau ban Tam Ca Tam Vân, nhạc sĩ Nguyễn Đức còn “lăng xê” cặp Quốc Thắng – Kim Chi, sau này còn có Hoàng Oanh, Thanh Lan rồi cùng thế hệ họ Phương có Kim Loan (không phải Kim Loan Mộng Tuyền, nay cô này đang ở Tây Đức), các quái kiệt như Trần Tỷ, Thanh Bằng (sau đổi tên là Thanh Hoài vừa qua đời)…

Nguyễn Việt

indexANH XIN ĐƯA EM

ĐN CUI CUC ĐI

– Trang Hạ

Khi gả về nhà anh, chị mười sáu, anh lên năm tuổi.

Anh là con độc đinh, cha mẹ quý hơn vàng, chỉ tiếc anh quá nhiều bệnh tật.

1/. Cảnh nghèo

Ông nội ở ngoài buôn bán nhỏ, gom được tí tiền. Bà nội tin Phật, một lòng thành kính, một lần bà nội xin được một quẻ xăm giữa miếu ngụt khói hương, nói phải cưới một cô vợ hơn tuổi cho thằng cháu đích tôn thì nó mới qua được vận hạn.

Bà nội đương nhiên tin vào lời Phật dạy chúng sinh nơi khói hương vòng quanh chuông chùa ngân nga, bởi thế ông bà nội bàn tính, đưa lễ hậu, kháo tin quanh vùng tìm mối nhân duyên cho anh.

9 Tao hon 1Nhà chị năm miệng ăn, trông vào mấy sào ruộng bạc màu, chỉ đủ miếng cháo, mùa đông, cha chị vì muốn kiếm thêm ít đồng ra đồng vào, theo người ta lên núi đập đá, tiền chưa kiếm được, nhưng bị đá vỡ dập lưng, tiêu hết cả gia sản, bán sạch cả lương thực, bệnh không khỏi.

Hằng ngày cha chị chỉ có thể nằm trên giường, muốn chết mà chẳng chết cho. Hai đứa em trai còn chưa đủ tuổi lớn. Nỗi khổ sở của gia đình, nỗi ai oán của mẹ, làm những năm thời con gái của chị mang một gánh nặng tâm tư.

Vì thế bà mối đến, réo rắt : “Gả cô nhà đi, tiền thì để dưỡng bệnh cho cha, còn đỡ đần được tiền tiêu trong nhà“.

Mẹ chị lắc đầu, nào có ai muốn đẩy đứa con gái thơ dại của mình vào lò lửa ? Nhưng chị xin : “Mẹ, cho con đi nhé, chỗ tiền ấy có lẽ chữa khỏi cho cha !”.

Tiếng kèn đón dâu thổi vang đầu ngõ trước ngôi nhà nhỏ của chị. Bố chị nằm trên giường tự đấm ngực mình; Con gái phải đem đổi tuổi thanh xuân, chấp nhận lấy một người chả xứng với mình chỉ vì cứu tôi và cứu gia đình này thôi ư !

Mẹ chị chảy nước mắt, tự tay mình cài lên tóc con gái cây trâm gài. Chị mặc áo đỏ đi giày thêu cúi lạy cha mẹ, Tr Ba gia 3tự buông tấm khăn đỏ che đầu mình, nước mắt lúc đó mới chảy ra, trộn phấn má hồng.

Từ đó, số phận cuộc đời chị và hôn nhân giao cả về tay một đứa con nít vô tri.

2/. Cười xót xa

Bà mẹ chồng trẻ tuổi không phải là người khắt khe khó tính, bố chồng ở xa cũng chẳng cần chị tam khấu cửu bái, lạy chào dạ vâng.

Anh vâng lời mẹ gọi chị là chị gái. Hằng ngày, chị ngoài việc giúp mẹ chồng chăm ruộng rau và làm xong việc nhà, thì cắt thuốc cho chồng, sắc thuốc, may áo cho chồng, giặt giũ, cho chồng chơi, cho chồng ngủ, có lúc, anh ho suốt đêm, sốt cao, chị thức cả đêm chườm khăn hạ sốt, cho anh uống nước, uống thuốc. Trong tim chị, chị coi anh như một đứa em trai.

Hàng xóm láng giềng gặp chị, chị thường cúi đầu lặng lẽ, không nói, vội vã đi qua. Không biết là ứng với quẻ xăm của Phật, hay nhờ chính sức mình mà anh vượt qua được bệnh tật, dưới sự chăm chút của chị, anh lần lượt chiến thắng mọi cơn bệnh tật lớn nhỏ: Ho gà, viêm màng não, lở loét v.v… Dần dà, những tình cảm anh dành cho chị vượt quá tình cảm dành cho mẹ mình.

Giữa những kẽ hở lúc bận rộn, hoặc khi anh đã ngủ say, chị thường khóc nước mắt nóng rồi thờ thẫn tự hỏi mình : “Đây là hôn nhân của mình ư, đây là chồng của mình ư?”.

Đến tuổi đi học, chị may cho anh một chiếc túi xách, dắt tay anh đến lớp. Những đứa trẻ trong và ngoài thôn thường vây lấy chị hát to : “Cô con dâu, cô con dâu, làm cái gì ? Tắt đèn, thổi nến, lên giường...”

9 Tao hon 2Chị không biết trong lòng mình là nỗi đau hay nỗi buồn, cúi gằm xuống, mặt đỏ lên rồi trắng bệch, trắng rồi đỏ. Một buổi tối, anh nằm trong chăn nói : “Chị ơi, em yêu chị!”.

Chị lại là vợ. Vợ lại là chị. Chị nhìn gương mặt ngây thơ non nớt của anh, im lặng. Lần đầu tiên chị cười đau khổ.

3/. An ủi nhỏ nhoi

Cha anh ở ngoài buôn bán nhiễm phải thói cờ bạc, chỉ vài ngày mà thua sạch bách bao gia sản tích cóp khổ sở lâu nay. Sau khi bố mẹ chồng chửi bới cãi vã ầm trời, bố chồng chị dứt áo bỏ nhà ra đi, từ đó không ai gặp lại ông nữa, nghe người ta nói khi đó ông bị lính bắt đi làm phu. Lúc đó trên người mẹ chồng chị còn vài thứ trang sức, cầm đi đổi lấy vài đồng tiền.

Mẹ chồng và chị bàn nhau mua lấy ba mẫu đất. Không thể mượn người làm nữa rồi, mẹ chồng con dâu xoay ra xắn ống quần lên lội ruộng, ngày còn ở nhà chị từ nhỏ đã giúp cha mẹ làm ruộng, khổ sở gì chị cũng đã nếm trải qua. Chỉ khổ cho bà mẹ chồng chị xưa nay chưa từng phải trồng lúa bao giờ.

Một nhà vốn giàu có bỗng chốc hóa bần cùng, đàn ông bỏ đi không tăm tích, bà mẹ chồng vừa đau vừa hận, lại thêm việc làm ruộng nặng nhọc, làm bà kiệt quệ, ốm rồi không dậy nổi.

Trước lúc lâm chung, bà kéo tay chị, gần như van vỉ nói : “Nó hãy còn nhỏ dại, xin cô chăm sóc nó, nếu cô muốn ra đi, xin hãy đợi lúc nó trưởng thành”. Chị nắm chặt tay anh. Từ đó, số mệnh của anh lại bị chị dắt đi.

Chị là người phụ nữ trọng tình nghĩa, chưa từng hứa gì, nhưng chị vẫn cùng anh như cũ. Từ đó về sau, ngay cả chính chị cũng không nhận ra mình rốt cuộc là vợ, là chị hay9 Tao hon 3 là mẹ của anh ?

Chị quần quật không ngày không đêm, làm việc để anh tiếp tục đi học. Cuộc sống của họ trôi qua khổ nhọc nhưng bình lặng giữa tình chị em sâu nặng, tình yêu bao la như tình mẫu tử bền chặt.

Khi anh tốt nghiệp trung học thi đỗ vào một trường Đại học Sư phạm, chị thay anh thu xếp hành lý, lại một lần nữa đưa anh tới trường. Chị nhìn cậu con trai trẻ măng vừa qua tuổi dậy thì, do chính tay mình nuôi lớn từ nhỏ đến giờ, chị chỉ dặn anh hãy cố mà học hành, ngoài ra chị không nói thêm điều gì nữa.

Nhưng anh vẫn nói : “Chị, chờ tôi quay về nhé !“.

Tim chị đập nhẹ một nhịp, nhưng mặt vẫn bình thường, có điều khóe miệng ẩn một nụ cười hân hoan rất nhẹ mà người khác khó nhìn thấy. Khóe cười ấy không phải vì câu nói của anh, mà vì những gì chị bỏ ra, đã được đáp đền lần đầu.

4/. Kiếp này

Chị vẫn làm ruộng như trước, nhịn ăn nhịn mặc dành tiền gửi đi. Hai năm đầu, nghỉ hè và nghỉ Tết anh đều về quê giúp chị làm việc. Nhưng năm thứ ba đại học, anh viết thư về nói : Chị đừng gửi tiền nữa. Và kỳ nghỉ tôi cũng không về nữa đâu. Tôi muốn ra ngoài kiếm việc làm thêm, đỡ gánh nặng cho chị. Lúc đó chị đã 29 tuổi.

Ở quê, người như chị đã là mẹ của mấy đứa con. Người trong làng đều bảo, chị nuôi anh lớn khôn, lại còn cho anh thoát ly đi học, thế coi như là đã quá tốt với anh rồi, chị già hơn anh mười một tuổi, thôi đừng chờ chồng nữa.

Tr Thanh nien 2Bây giờ anh đã đi xa, ở ngoài thế giới bao nhiêu xanh đỏ tím vàng, biết chồng mình có về nữa hay là không về nữa !

Chị cũng không biết trong lòng mình là đang thủ tiết, giữ đạo phu thê: Dù sao thì mười mấy năm trước chị cũng là một cô dâu gả cưới đàng hoàng về nhà anh; hay là mình đang vì câu nói trước ngày anh lên đường đi xa : “Chị, chờ tôi quay về nhé !“; hay là chị đang lo âu như người mẹ không yên tâm về đứa con nhỏ của mình đang ở xa; chị cứ chờ.

Chị cứ giữ sự yên tĩnh và ít lời như mấy chục năm nay đã từng. Cuối cùng cũng đã đến lúc anh tốt nghiệp. Anh quay về. Anh đã là một người đàn ông trưởng thành có phong cách và khí chất, dáng dấp một người đàn ông nho nhã hiểu biết.

Còn chị, dãi nắng dầm sương, gương mặt nhọc nhằn lao khổ đã sớm bay hết những nét đẹp thời trẻ, là một người đàn bà nhà quê đích thực. Trong lòng chị chỉ còn coi anh là một đứa em trai thân yêu.

Chị không dám ngờ anh đã nói với chị : “Chị, tôi đã trưởng thành, giờ chúng ta có thể thành thân !”.

Chị nhìn anh, như đang nằm mơ, chị sợ mình đang nghe nhầm. Tr thieu nu 3Anh cũng là một người đàn ông trọng tình trọng nghĩa như chị ?

Chị cười, tự đáy lòng dâng lên miệng cười rạng rỡ, cũng để rơi xuống những giọt nước mắt đẹp đẽ nhất đời người.

5/ Xin lỗi

Anh ở lại thị trấn dạy học, chị ở nhà làm ruộng. Họ có với nhau một con trai một con gái. Sau này, anh đến khu mỏ dầu dạy học, lên chức hiệu trưởng một trường Trung học nhờ vào bằng cấp và kinh nghiệm dạy học của mình.

Vì hộ khẩu, con cái vẫn để ở nhà cho chị nuôi nấng. Sau khi nhập được hộ khẩu, anh về quê đưa vợ con lên trường. Các giáo viên trong trường đến giúp hiệu trưởng dọn nhà.

Có một giáo viên bộc tuệch chạy ra nói : “Hiệu trưởng, sao anh đón mẹ và em trai lên ở mà không đón cả chị nhà và các cháu luôn ?“. Một sự im lặng bao trùm, mọi người đều ngoái đầu nhìn chị.

Lúc ấy, mặt chị sượng trân trân, không biết nên nói gì, chị cười méo mó, nhìn anh biết lỗi. Anh ngoái đầu nhìn chị, nói với tất cả mọi người với giọng chắc nịch : “Chị các chú đây. Có cô ấy mới có tôi ngày hôm nay, thậm chí cả tính mạng tôi”. Chị nghe anh nói, mắt chị dâng lên toàn là nước mắt.

9 Tinh yeu 16/. Năm tháng như bài ca, tình yêu như ngọn lửa

Bây giờ chị đã bảy mươi hai, vì làm việc nặng nhọc quá nhiều, sức khoẻ kém, bệnh phong thấp làm chị đi tập tễnh. Anh sáu mươi mốt, đã về hưu từ lâu.

Hai năm nay họ dọn về khu nhà này ở, nếu hôm nào trời không mưa gió, hoặc ngày quá lạnh, đều có thể gặp bóng dáng họ ở khu sân chơi, bồn hoa; chị nắm gậy chống, anh đỡ một bên, đi chậm chạp từng bước một về phía trước, như đang dìu một đứa trẻ tập đi, chăm sóc như thế, ân cần như thế.

Những người biết chuyện của họ đều nhìn theo, cảm động bởi mối tình sâu nặng và bền chặt của anh và chị, mang nghĩa đủ tình đầy đi dọc một kiếp người. Anh nói : “Cô ấy mang cho tôi sinh mệnh, cho mẹ tôi sự ấm áp, cho tôi một mái nhà, bây giờ, tôi dành nửa cuối đời tôi chăm sóc cô ấy”.

Anh dắt tay chị, như ngày đó chị dắt tay đứa bé năm tuổi, họ cùng mỉm cười, đẹp như nét mây chiều êm ái nơi chân trời mùa hạ. (theo truyện ngắn của Trang Hạ)

Ghi chú : ảnh trong bài chỉ mang tính minh họa

Yên Huỳnh chuyển tiếp

NGHE TIẾNG HÁT… TÀN PHAI

Logo su kien 2

Tr suy nghiCHIỀU NAY,

NGHE NHỮNG TÀN PHAI

Tạp bút

Ngót ba mươi năm, sân khấu không còn đọng trong trí nhớ của tôi. Để tìm chút thư giãn, giữa những bài viết chính trị khô không khốc, youtube trở thành người bạn, gởi lại những tiếng vọng êm đềm và bãng lãng.

Khánh Ly và kỷ niệm

Với túi tiền nho nhỏ, cứ ngỡ, lâu lâu, mình hãy tự cho phép “xài sang” một lúc nào đó, khi Khánh Ly về hát. Ít nhất đối với giọng ca một thời của “Sài Gòn Niềm Nhớ Không Tên“. Đợi từ năm kia, tới năm ngoái và rồi năm nay… Đành mượn lời Nhật Trường – “thôi em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé…” – mà diễn đạt tâm trạng “Em Còn Nhớ Hay Em Đã Quên” – như Trịnh Công Sơn thốt lên. Dù biết “Em” là cho tất cả. “Em” không phải “sở hữu” riêng ai. Nhưng “Em” nói, đến với nhau là cùng tìm về kỷ niệm.

Do đó, sự trở về của Khánh Ly như một hành khách kịp bắt chuyến tàu cuối cùng trên sân ga. Chuyến tàu, nếu không phải mua nhầm vé, chắc người soát vé ngủ gục, nên mặc hành khách lạc tuyến, khi ga đến đầu tiên – sau gần 40 năm xa xứ – không phải Sài Gòn.9 Khanh Ly 1 Cũng không phải Đà Lạt hay Huế, dù tài công tiếp tục đưa người lữ khách rong ruổi lần thứ hai.

Ở đây sương khói mờ nhân ảnh

Ai biết tình ai có đậm đà ?

Sài Gòn, không còn gợi lên những “chiều nội trú bâng khuâng”. Lâu lắm rồi. “Con đường Duy Tân cây dài bóng mát” đã xa vời vợi. Thay vào đó là những vỉa hè luộm thuộm với quán nhậu và tiệm cafe. Chen lẫn vài ngân hàng cùng hiệu kính và cả tiệm… rửa xe. Ừ, có cả một quán ăn kèm hát với nhau của Cẩm Vân. Con đường “duy cái mới”, bây giờ, thế đó (!). Những góc phố ngày xưa chỉ còn lại ánh chiều tà ảm đạm, tô đậm ngón tay vàng khói thuốc, cho những ai muốn tìm về dĩ vãng.

Dường như chẳng còn gì hấp dẫn hay quyến rũ và gợi nhớ ? Nhưng ngày xưa, Khánh Ly hát cho “Người Già và Em Bé“, cho cả dân “Du Mục” với “đàn bò vào thành phố réo buồn tiếng hạt chuông”, chứ đâu chỉ “chiều nay còn mưa, sao em không lại…” hay ân cần ôm lấy “vai em gầy guộc nhỏ như cánh vạc về chốn xa xôi”? Không, Khánh Ly không chỉ kiêu sa như thế. Không cần đài các như vậy. Giản dị hơn nhiều…

Sài Gòn quen lắm nhưng không còn “Sài Gòn đẹp lắm Sài Gòn ơi!”

Người Sài Gòn, không xứng đáng, dù chỉ được phép mua vé “tàu ghế cứng toa hạng hai” để nghe, để nhìn và để ngẫm ngợi những gì Khánh Ly muốn tìm về kỷ niệm (?). Một chút gì phả ra nhạt nhòa từ ánh màu bạc bẽo! Nó hắt xuống phố Sài Gòn lấp lóa màu đen hắc ín, trong không khí nóng hực của ngày hè.

9 Khanh Ly 3Người Sài Gòn nhớ Khánh Ly từ những gì mộc mạc mà rướm máu, hơn là những bóng bẩy và chải chuốt như người Hà Nội xem thấy. Một không gian có vẻ sang trọng nhưng khô và giả. Giả mà như… thật, từ những “bông hoa sống đời”, người ta bán ngoài chợ hay trong các shop để trang trí, làm cảnh cho ngày tết, dịp lễ mà không cần mất công nhiều lắm…

Kỷ niệm, khi gọi tên, nó nên khởi đi từ nơi người ta gắn với tột đỉnh vinh quang và cả nỗi niềm ly biệt. Cả êm mượt như nhung và sóng gió dập vùi. Nước mắt hòa trong thảng thốt trên từng bước chân tháo chạy trong rối bời. Và chia lìa những gì sâu lắng tận đáy tim, in đậm trên từng hàng rào dâm bụt loang lổ. Tan nhanh như từng hạt mưa bong bóng, hòa lẫn “muối mặn” chảy từ khóe mắt. Tất cả nối nhau chảy vô… ống cống. Từ ngày đó – 30/4/1975.

Thế là hết. Dù trẻ lắm, dù mơ hồ, những chao đảo trong tâm khảm vẫn còn nguyên với nỗi sợ hãi lớn dần theo ngày tháng của những năm xưa. Hiển hiện, không thể né tránh. Từ đó, ngụp lặn và đào bới trong… “đống bản nhạc” – như một đống rác buộc dọn dẹp. Lén lút và vụng trộm để tìm mọi cách “tẩu tán” tài sản của chính mình, dù trong mắt “người cách mạng”, chúng nó là thứ cặn bã, lai căng và… phản động ! Một thời của văn hóa nghệ thuật Sài Gòn bỗng chết… ngắc !

Đấy là một trong những điều người Sài Gòn nhớ nhất, trong ngày tháng rầm rập bước chân các anh “giải phóng quân” dộng ầm ầm trên những con đường Sài Gòn thơ mộng. Chốc chốc, gió thốc những bản nhạc bay tán loạn rồi đậu lại trên vỉa hè với vẻ u hoài và xơ xác. Nhiều người thẫn thờ “Để Gió Cuốn Đi” từng bản nhạc như mảnh giấy gói bánh mì. Văn hóa Sài Gòn tuyệt diệt. 9 Khanh Ly 2Tôi biết điều đó, khi từng trang giấy với năm dòng kẻ và những hồn thơ trong đó – được trình bày công phu và trân trọng, thẩm mỹ và đậm cá tính nhạc sĩ sáng tác – đầy dấu chân người qua kẻ lại, chấp chới như cánh bướm rách tả tơi.

Khánh Ly ra đi như hàng triệu người rời bỏ Sài Gòn và miền Nam. Người ở lại chỉ biết nhìn. Lầm lũi và co quắp trong những cơn mưa chiều nặng hạt, mơ về “Những Ngày Xưa Thân Ái” hồn nhiên. Tất cả chỉ còn lại “Như Giấc Chiêm Bao” ngọt ngào. Giấc chiêm bao của đời thực. Dường như định mệnh an bài.

Nói cho ngay, “người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” trở thành chân lý, khi bóng dáng khập khiễng những lời nhạc đầy ắp chất thơ, còn chỗ nào để bày biện tốt hơn trong nhà hát lớn Hà Nội đầy màu sắc lấp lánh ? Với áo quần thơm tho và những bó hoa sặc sỡ. Rỗng. Sáo. Và như những hạt ngọc trai nhân tạo xứng đáng với cái giá của nó.

Nhưng kỷ niệm, cứ ngỡ, là nơi không phải chỗ mình bỏ chạy cùng với nước mắt, vào năm 1954, bé xíu. Nó phải là nơi cưu mang, bước ra khỏi “tàu há mồm” với cái thở phào năm xưa ? Nó phải là nơi gắn bó, thành danh, làm nên tên tuổi và nuôi nấng giọng hát của mình chứ ? Nếu gọi tên “non nớt” khi “Mơ Về Nơi Xa Lắm“, nó có một chút gì kệch cỡm, bởi e rằng lứa tuổi “gió heo may đã về” trở nên chọc ghẹo giới trẻ mất.

Giọng hát của “Nữ Hoàng Chân Đất” bây giờ thích hợp với đôi giày cao gót – dù chông chênh nhiều.

Thời gian quả khắc nghiệt. Như một viên đá mài, chà xát trên dây thanh đới người ca sĩ. Giọng ca Khánh Ly đục hơn và rè hẳn như dây số 1 guitar, lâu ngày bong tróc dần, sau những miệt mài nâng phím lòng, xoa dịu nỗi đau đời dân Việt “Một ngàn năm nô lệ giặc Tàu / Một trăm năm đô hộ giặc Tây / Hai mươi năm nội chiến từng ngày…”.

Làn hơi ngày nào gây nghiện cho khán giả, giờ đã ám đầy khói. Những sợi khói bay lên từ “Tàn Tro” năm cũ. Đứt quãng và mệt nhọc. Đuối sức không chỉ từ thần thời gian cản bước mà còn thiếu hẳn sự tự nhiên trong cách ngắt câu và kiểu lấy hơi nặng nề như “người phu quét đường”9 Khanh ly 2 thở dốc với chiếc xe kéo, cùng một chút khò khè từ buồng phổi nhiều năm không thể thiếu thuốc lá? Âu cũng là lẽ thường.

Giọng ca tái tê và rạn vỡ, bây giờ không còn. Không chỉ là rì rầm như “đại bác đêm đêm dội về thành phố” mà Khánh Ly nì non “Hát Trên Những Xác Người” thay cho những bà mẹ, những người cha hóa điên bên xác con thơ của trận Mậu Thân năm nào… Nhiều lắm…

“Tình cũ không rủ cũng tới”, bây giờ sai mất rồi. Một chút hoài niệm chen lẫn bối rối, khó diễn tả cùng tâm trạng… cụt hứng, khi chờ một kỷ niệm tìm về. Vả chăng, nếu có, người Sài Gòn cũng không thích ngắm nghía giọng ca Khánh Ly với vẻ sang trọng nhưng cứng đơ và đạo mạo, được khoác lên khá khiêng cưỡng như tại Hà Nội. Vốn dĩ người Sài Gòn cũ, dù sành điệu nhưng không sính ngoại với “đặc danh”: “diva”.

Sài Gòn và cả Việt Nam, bây giờ có thứ gì mà không cần đến tiền ? Giờ, lộ thiên chơ vơ, trái tim như cục than đen xì bất động; khe khẽ đập và hổn hển thở theo… hai trăm triệu của Phó Đức Phương. “Áo Lụa Hà Đông” bị xé rách toạc trước mắt người… làm văn hóa. Văn hóa gì đây ? À ! Văn hóa từ “tâm hồn treo ngược ở cành cây” của Sóng Hồng đây mà !

Biết đâu, chuyến trở về thứ hai, với Sài Gòn là bến đợi, chiếc áo dài vàng hoa cúc, không bị phết những nhát cọ “một màu đen đen, 9 Khanh ly 1một màu trắng trắng, chiều hoang vắng chiếc xe tang đi thật vội vàng” ! Trên chuyến xe đó, bên “quần tang áo chế”, người ca sĩ năm nào lê bước chầm chậm để hát nốt những ca từ “Cuối Cùng Cho Một Tình Yêu“.

Nghe những tàn phai

Khi nhắc về “đền đài âm nhạc”, dù quý phái hay bình dân; dù thính phòng hay nhạc nhẹ; dù chắt lọc ngôn từ hay bình dị câu hát, nó vẫn phải dành hết cho thân phận con người – Con Người Việt Nam hôm nay.

Đó không thể gọi là “đền đài” [1], bởi nó chỉ xứng với tên gọi trang trí như những phông màn làm buổi diễn cho những thanh âm rè đục như “Nghe Những Tàn Phai” cất lên trong lòng chế độ. Sao lại chọn Khánh Ly vào lúc này – như một sự giễu cợt cuối cùng mà người cộng sản vốn thích đùa dai ?

Bất kỳ giá trị nào được làm từ dĩ vãng đều trở nên vô nghĩa, nếu người ta không biết hiện tại xuất phát từ đó đang ra sao và làm sao xoay xở nó trong tương lai – tương lai rất gần, đang đến. Một nỗi bế tắc mang bóng dáng “âm nhạc”, khi cầu viện đến cái tên “Khánh Ly”. Tựa như chiếc vợt cũ rách, cố vớt tạm lòng dân – đang rã mục. Thế thôi. Bởi dòng nhạc Trịnh Công Sơn đã là dĩ vãng, không còn được giới trẻ quan tâm nhiều lắm.

“Đồ cổ” chỉ có giá trị khi mang tính lịch sử và truyền lại tinh thần văn hóa vô giá cho con cháu đời sau. Chỉ tiếc, chính tư tưởng thực dụng đến bẽ bàng của người ở trong nước gieo rắc bao năm qua, làm cho giới trẻ không khoái… “đồ cổ” ! Vả lại “môi trường văn hóa” Việt Nam ô nhiễm đến mức ngột ngạt, người ta làm sao có thể ngồi ngân nga hay ngẫm ngợi những câu hát đậm “chất thiền” và đầy tính bao dung của Trịnh Công Sơn nữa ? (theo Nguyễn Ngọc Già)

Ghi chú: Những chữ viết hoa, in nghiêng và trong ngoặc kép là các nhạc phẩm của các nhạc sĩ.

[1] http://motthegioi.vn/chuyen-hang-ngay/giua-bai-hoang-ngo-ve-den-dai-61469.html

Nguyễn Toàn chuyển tiếp

SG Hiep si muHIỆP SĨ MÙ “CHÉM GIÓ”

Có lẽ “lão bà bà” U70 Khánh Ly đã đọc được bài Ôi, thấm thía, tuổi già ở Mỹ”  (xin xem dưới bài chém gió này) , nên “buồn tình đời” đang muốn “rửa chân” chạy theo một số đồng nghiệp, đã và đang về lại Sài Gòn sinh sống trong chuỗi ngày còn lại. Có lẽ Khánh Ly cũng đã thấy hình ảnh của Thái Thanh đang an dưỡng trong Viện dưỡng lão vì căn bệnh “mất trí nhớ” ! Thật khổ, dù Ý Lan còn đó, gia cảnh bà với 5 đứa con chẳng nghèo gì, nhưng vì sinh kế mà chúng nó phải đưa mẹ vào đây. Khánh Ly cũng sợ sẽ có một ngày như thế. Ở Mỹ theo nhiều người nói, đa số bị Mỹ hóa nên không có tình người, họ sống thực dụng nhiều hơn.

Nhưng cách Khánh Ly muốn trở về Sài Gòn như các đồng nghiệp không thật nhún nhường khiêm tốn, trái lại huyênh hoang tính tự cao tự đại, “lão bà bà” muốn “ngày trở về” của mình như một Nguyễn Cao Kỳ hay một Phạm Duy trước đây được người Hà Nội trọng vọng, dù họ là kẻ đã bỏ bom Bắc Việt và là người “diệt Công” trong chiến dịch Bình Định Nông Thôn” vẫn được mọi người vỗ tay cho “ngày trở về” đó.9 Khanh Ly 2 Nên bà bà đã diễn 2 xuất ở thủ đô trung tâm chính trị này cốt để mọi người… nhìn ngó thấy một bà già “phản tỉnh” mà “hồ hởi phấn khởi” vỗ tay đón chào như đã đón chào ông Kỳ ông Duy.

Có lẽ Khánh Ly nghĩ mình cũng có một vai trò “lớn lao” trong sự nghiệp chống Cộng khi qua Mỹ sau ngày 28/4/1975, và nay muốn “tung cánh chim tìm về tổ ấm”, sẽ được mọi người tôn sùng là một ca kỹ hạng VIP ? Tối thiểu cũng phải sánh ngang anh chàng nhạc sĩ họ Trịnh, sau này cũng sẽ có tên đường !!!? Nhưng “lão bà bà” đã thất bại thãm não ở cả 3 xuất diễn vừa qua (2 Hà Nội, 1 Đà Nẵng), và hiểu rằng lão bà bà chỉ là thứ “rác” trong con mắt của mọi người Việt Nam hiện nay mà thôi.

Nguoi gia 2ÔI, THẤM THÍA,

TUỔI GIÀ Ở MỸ !

Người Việt có một câu nói : Mỹ là thiên đường giới trẻ, địa ngục của giới già. Nay tôi đã vào cái tuổi giữa 70, câu nói này thật là thấm thía. Mỹ có tất cả những sản phẩm dành cho thanh thiếu nhi : đồ chơi, phim ảnh, máy chơi điện tử thính thị, khu giải trí có chủ đề (theme parks). Còn đối với người già, thì chỉ có sự cô lập và nỗi cô đơn. Căn bản nếp sống của người Việt dựa vào gia đình, cộng đồng, và khi ta mất những cái đó, ta mất đi một phần lớn cái tôi.

Khi còn sống ở Việt Nam, tôi không bao giờ nghĩ đến việc sinh sống tại một nơi nào khác ngoài quê hương. Ta sống và chết nơi tiền nhân đã sống và đã chết. Ta có thân nhân, giòng họ; ta có gia đình, có những miếu đền.

Một khi ta đã quen miền đất với mồ mả tổ tiên, ta sẽ không còn sợ tử thần và cái chết. Nhưng tại Mỹ, lối sống cũ của chúng ta không còn nữa. Chúng ta bị buộc phải ra đi khi cuộc chiến kết thúc vào năm 1975, và chúng ta đã sống xa xứ từ lúc đó. Ngày nay, bạn bè và thân nhân của chúng ta tản mạn khắp nơi trên thế giới.

Tại Mỹ, càng già càng mất mát nhiều – bạn bè, thân nhân, trí nhớ, khả năng di chuyển, và ý nghĩ của chính mình. Chuông điện thoại kêu. Tôi nhấc ống máy. Đây là bà tên-này-tên-nọ ở Los Angeles. Bà mắc bệnh tiểu đường và mới bị cưa chân. Rồi chuông điện thoại lại reo nũa: Ông tên-ni-tên-nớ ở Georgia bị ung thư phổi, chỉ còn sống khoảng vài tháng. Ở Việt nam, chúng tôi đều là bạn thân. Nhưng với cái tuổi đời chồng chất như tôi, tôi làm sao đến thăm họ được khi họ hàng ngàn cây số cách xa?9 Thai Thanh Làm sao ta tưởng tượng được đến việc gọi điện thoại cho người bạn thân khi họ nằm chờ chết trong bệnh viện, để nói lời xin lỗi là không thể tận mình đến viếng thăm được lần cuối. Ấy vậy, tôi làm điều này mỗi tháng, buồn lắm.

Tôi và chồng tôi, chúng tôi dự định đi một chuyến du lịch Âu châu vào kỳ hè tới đây. Chuyến đi này là chuyến đi cuối cùng, để nói lời giã biệt thân nhân bè bạn. Chúng tôi biết là sau chuyến đi này, chúng tôi sẽ không đi đây đi đó được nữa vì sức khỏe đã kém, sẽ không thấy mặt họ nữa. Tôi gần như không bước xuống được cầu thang nhà vì đầu gối chân rất đau. Nhà thì đã bán, giờ thì chúng tôi ở trong một chung cư có thang máy vì đó là điều kiện duy nhất mà chúng tôi có thể sống độc lập không nhờ vả đến ai bây giờ.

Điều mà tôi quan tâm nhất là trí nhớ suy sụp rất nhiều. Tôi là người giữ gia phả của giòng họ, nhưng tất cả đều nằm ở trong đầu. Biết ai liên quan với ai như thế nào trong họ là nghề đặc biệt của tôi, người con gái trưởng trong nhà.. Nhưng không một đứa con nào của tôi biết được những mối dây liên hệ gia đình trong gia tộc, ngay cả đến những người em của chính tôi. Không có tôi, họ hàng thân thích sẽ trở thành kẻ xa lạ nếu tình cờ gặp nhau trên đường phố. 5 Tuoi gia 1Tôi có thể nhớ đến được những bà con cô dì chú bác ba đời của gia đình bên tôi và của cả bên chồng. Tôi phải viết xuống trước khi trí nhớ tôi lụt hết.

Thỉnh thoảng vào buổi sáng khi thức dậy, tôi lặng nhìn cây cối ngoài phố và tự hỏi tôi đang ở nơi nào. Đôi lúc, tôi đi sang khu chung cư kế cận, nơi có một số mèo hoang, và cho chúng ăn những thức ăn thừa. Khi tôi cất tiếng gọi, chúng nhận ra giọng nói của tôi và bổ xua lại. Bây giờ, chúng là những niềm vui nhỏ của tôi.

Đương nhiên những ngày hạnh phúc nhất là những ngày con cháu đến thăm. Nhưng chúng cũng có đời sống riêng, thỉnh thoảng chỉ đến chơi được một lúc rồi về, tôi làm gì cho hết những khoảng thì giờ trống trải sau đó?

Mẹ tôi, bà mất năm bà 97 tuổi, và mẹ chồng tôi, qua đời lúc 95 tuổi; cả hai người có sống chung trong một khu dưỡng lão nhiều năm. Tôi thường đi xe buýt đến thăm hai bà mỗi ngày, ngay cả khi còn đi làm. Từ lúc đó tôi đã biết cái thảm não của người già trên đất Mỹ, ngay khi tôi còn trẻ trung mạnh khỏe. Các nhân viên điều dưỡng ở đó thường nói với tôi là hai bà có phước lắm, thường có được con cháu đến thăm. Tôi trả lời : “Đó là lối sống của người Việt Nam “. Còn những người già khác, con cháu họ ít đến. Tôi có nhớ một số bà lão, ngồi trên những chiếc xe đẩy, ngóng trông con cháu hay người thân, ngày này qua ngày khác, nhưng chẳng thấy ai. Có cả một bà cụ, cụ còn sống lâu hơn những người con trai; mỗi ngày bà vẫn ngồi chờ trông mong hình ảnh người con trai bước qua khung cửa. Thật tội nghiệp khi người ta sống dai như vậy trong sự cô đơn!

5 Tuoi gia 4Ở xứ Mỹ này, tuổi già đúng là tuổi lỡ thời ; cả hai đều không được người ta kính nể hay cho một chút gì quan trọng. Ở quê nhà, các ông già bà lão thì được nể vì nhất, vì họ là những người chia xẻ túi khôn cùng kinh nghiệm cho những người đi sau. Điều đó không có ở đây. Không ai muốn nghe tiếng nói của người già. Họ cảm thấy bị cô lập ngoài vòng ranh giới của con cháu Mỹ hóa của họ. Chúng cười vang về nhiều thứ mà tôi không hoàn toàn hiểu được. Mỹ đúng là một quốc gia của giới trẻ hơn là giới già như tôi.

Vào những buổi chiều mùa đông, tôi ngồi nhìn những hàng cây trơ trụi lá, tâm hồn lạc lõng. Tôi nghĩ về cái thế giới mà tôi đã biết, nay đã bay xa, như làn khói hương trầm. Tôi nghĩ đến cố hương, đến những mùa lễ Tết ở Saigon, đến những đám cưới, đám hỏi, đến những chuyến du lịch, những lần tíu tít họp mặt gia đình, ai ai cũng có mặt, con nít chạy quanh, người lớn ngồi nói chuyện đời chuyện gẫu, đàn bà con gái quây quần chung lo việc bếp nước. Và tôi cảm thấy rất khao khát những ngày quá khứ xa xưa.

Quế Phượng chuyển tiếp

Logo kinh di 1

4 Nho rang 1AI HIỂU NỔI ĐÀN BÀ ???

Để trả thù bạn trai cũ tội phụ tình, một nữ nha sĩ người Ba Lan đã nhổ sạch cả hàm răng của anh chàng khi anh ta đến điều trị sâu răng.

Quá tức giận việc tình cũ bỏ đi theo cô gái khác, nữ nha sĩ người Ba Lan Anna Mackowiak đã nhổ sạch hàm răng của bạn trai cũ là anh Marek Olszewski (45 tuổi) trong khi anh này đến phòng khám của cô để… điều trị chiếc răng sâu. Sau khi tiêm cho tình cũ 1 liều thuốc mê khá mạnh, nha sĩ Anna thong thả nhổ từng chiếc răng của bạn trai cũ cho đến chiếc cuối cùng.

Khi tỉnh dậy, Marek thấy miệng của mình đã được băng bịt kín và cảm thấy trống trải. Tuy nhiên, cô người yêu cũ đã lập tức trấn an anh rằng đó chỉ là tác dụng phụ của thuốc gây tê.

4 Nho rang 2Marek an tâm trở về nhà và ngủ ngon lành vào đêm ấy. Cho đến sáng ngày hôm sau khi tỉnh dậy, mở miếng băng trong miệng rồi nhìn vào gương, Marek không thể tin vào mắt mình vì toàn bộ hàm răng của anh đã không cánh mà bay. Ngay say đó, Marek Olszewski đâm đơn kiện cô người yêu cũ.

Biện minh cho hành động “trả thù” của mình, nữ nha sĩ Anna nói : “Tôi đã cố tập trung vào công việc của mình và không để cảm xúc lấn át, nhưng khi nhìn anh ta nằm đó, tất cả những gì tôi có thể nghĩ là : “Thằng khốn !”, và tôi quyết định nhổ sạch răng hắn”.

Sau khi sự việc bị phanh phui, Anna đã bị tước giấy phép hành nghề, còn anh chàng bạn trai Marek Olszewski bị cô người yêu mới “đá” với lý do không thể yêu nổi một người đàn ông không có… răng.

Yên Huỳnh chuyển tiếp

70 NĂM TÌNH CA VIỆT NAM

70 NĂM TÌNH CA VN

Nghe đã luôn…

Xin mời thưởng thức một phần kho tàng âm nhạc Việt Nam. Nếu quý độc giả chưa có thời gian download trọn bộ “70 năm tình ca trong tân nhạc Việt Nam “, xin quý vị chọn lọc và thưởng thức các buổi phát thanh mà quý vị đặc biệt yêu thích.

Trong trường hợp các links (Phần 01, phần 2,…) dưới đây không hoạt động, xin quý vị vui lòng bấm vào link :

http://blog.yume.vn/xem-blog/70-nam-tinh-ca-trong-tan-nhac-viet-nam.sontran155.35CBD8F5.html
hoặc:
http://ngaydochungminh.com/70NamTinhCa/70NamTinhCa.html

70 Năm Tình Ca  Trong Tân Nhạc Việt Nam (1930 – 2000)

Trích từ SBS radio (Úc Châu) do Hoài Nam biên soạn

Phần 01: 1930 Nguyễn Văn Tuyên, Đặng Thế Phong

Phần 02 1940 Lê Thương

Phần 03: Văn Cao phần 1

Phần 04: Văn Cao phần 2

Phần 05: Dương Thiệu Tước

Phần 06: 1945-1946

Phần 07: Thẩm Oánh , Canh Thân, Tô Vũ, Nguyễn Thiện Tơ

Phần 08: Thế nào là nhạc tiền chiến

Phần 09: Pham Duy Nhượng, Lê Hoàng Long, Tu Mi, Võ Đức Phấn

Phần 10: Lưu Hữu Phước, Trần Hoàn, Tô Hoài, Tô Vũ

Phần 11: Hoàng Giác, Nguyễn Văn Khánh, Nguyễn Văn Tí

Phần 12: Nguyễn Thiện Tơ, Nguyễn Văn Quỳ, Hoàng Dương

Phần 13: Đoàn Chuẩn – Từ Linh

Phần 14: Phạm Duy, Hoàng Trọng, Ngọc Bích

Phần 15: Văn Giảng, Châu Kỳ

Phần 16: Anh Việt, Lâm Tuyền

Phần 17: Tổng kết giai đoạn 1938-1954

Phần 18: Hoàng Trọng

Phần 19: Ngọc Bích, Xuân Tiên

Phần 20: Vũ Thành, Đan Thọ

Phần 21: Phạm Duy

Phần 22: Lê Trọng Nguyễn

Phần 23: Hoàng Nguyên

Phần 24: Lê Mộng Nguyên, Nguyễn Hiền, Nhật Bằng

Phần 25: Phạm Đình Chương 1

Phần 26: Phạm Đình Chương 2

Phần 27: Văn Phụng

Phần 28: Hoàng Thi Thơ

Phần 29: Nguyễn Văn Đông

Phần 30: Tuấn Khanh

Phần 31: Y Vân

Phần 32: Anh Bằng

Phần 33: Minh Kỳ

Phần 34: Lê Dinh

Phần 35: Phạm Mạnh Cương, Phạm Trọng Cầu

Phần 36: Lam Phương

Phần 37: Trúc Phương

Phần 38: Huỳnh Anh

Phần 39: Khánh Băng

Phần 40: Duy Khánh

Phần 41: Mạnh Phát

Phần 42: Nhật Trường

Phần 43: Hoài Linh

Phần 44: Song Ngọc

Phần 45: Nhật Ngân, Thanh Sơn

Phần 46: Nguyễn Ánh 9

Phần 47: Đỗ Lễ, Bảo Thu

Phần 48: Hoài An, Nguyễn Vũ

Phần 49: Trường Hải, Dzũng Chinh, Hàn Châu

Phần 50: Cung Tiến phần 1

Phần 51: Cung Tiến phần 2

Phần 52: Thanh Trang, Anh Việt Thu

Phần 53: Phạm Thế Mỹ

Phần 54: Trầm Tử Thiêng Phần 1

Phần 55: Trầm Tử Thiêng Phần 2

Phần 56: Trường Sa

Phần 57: Từ Công Phụng

Phần 58: Trịnh Công Sơn Phần 1

Phần 59: Trịnh Công Sơn Phần 2

Phần 60: Lê Uyên Phương Phần 1

Phần 61: Lê Uyên Phương Phần 2

Phần 62: Vũ Thành An

Phần 63: Ngô Thụy Miên Phần 1

Phần 64: Ngô Thụy Miên Phần 2

Phần 65: Ban Nhạc Trẻ Phượng Hoàng_Phần 1

Xuân Kỷ Sửu: Xuân Trong Tân Nhạc Viêt Nam

Phần 66: Ban Nhạc Trẻ Phượng Hoàng_Phần 2

Phần 67: Đức Huy, Nam Lộc, Quốc Dũng, Tùng Giang

Phần 68: Phạm Duy Phần 1

Phần 69: Phạm Duy Phần 2

Phần 70: Phạm Duy Phần 3

Phần 71: Phạm Duy Phần 4

Phần 72: Tổng Kết Thời Kỳ Thứ 2 Trong 70 Năm Tình Ca

Phần 73: Thời Kỳ Sau 1975 Phần 1

Phần 74: Thời Kỳ Sau 1975 Phần 2

Phần 75: Trầm Tử Thiêng

Phần 76: Hoàng Thi Thơ, Phạm Duy, Song Ngọc, Anh Bằng, Đăng Khánh

Phần 77: Tùng Giang, Duy Quang

Phần 78: Đức Huy

Phần 79: Trần Quảng Nam , Vũ Tuấn Đức, Hoàng Quốc Bảo, Margurerite Phạm

Phần 80: Nguyệt Ánh, Việt Dũng, Duy Trác, Trần Ngọc Sơn

Phần 81: Đăng Khánh

Phần 82: Trúc Hồ

Phần 83: Lê Tín Hương, Trịnh Nam Sơn, Hoàng Thanh Tâm, Đỗ Cung La, Anh Tài, Đặng Hiền

Phần 84: Ngô Thụy Miên

Phần 85: Lam Phương

Phần 86: Anh Bằng, Từ Công Phụng

Phần 87: Nguyễn Đình Toàn

Phần 88: Nguyễn Ánh 9

Phần 89: Trần Quang Lộc

Phần 90: Nguyễn Trung Cang – Lê Hựu Hà – Quốc Dũng

Phần 91: Bảo Chấn – Bảo Phúc

Phần 92: Thanh Tùng – Phú Quang – Quốc Bảo

Phần 93: Ngọc Lễ – Trần Tiến

Phần 94: Sơ lược về âm nhạc VN trong 34 năm 1975-2009

PS : Đây là tập hợp các bài viết về các tác giả nổi tiếng trong nền Tân Nhạc Việt Nam. Hy vọng các bạn sẽ cảm nhận được những khúc tình ca và phổ biến các tình ca của Tân Nhạc Việt Nam. Một nền Tân Nhạc đang bị giới trẻ lãng quên và chìm đắm trong các ca khúc quá dễ giải và vô vị. Nguồn : Ngaydochungminh

Trịnh Công Sơn với những tình khúc như lời tỏ tình với cuộc sống.

Phạm Duy với dòng âm nhạc đậm nét dân tộc với đủ các thể loại Tình Ca, Du Ca, Trường Ca,…

Đoàn Chuẩn với các ca khúc bất hủ về mùa thu.

Lê Uyên với các ca khúc về tình yêu lứa đôi trần trụi và đời thường.

Vũ Thành An với các bài Không tên bất tử.

Từ Công Phụng với những ca khúc tình tự với cuộc sống và giọng ca trầm.

Lam Phương, nhạc sĩ bất hạnh trong tình yêu, với những thăng trầm trong cuộc sống được biểu hiện qua các sáng tác của ông.

Lê Thương, nghệ sĩ đa tài với sáng tác nổi tiếng trường ca Hội Trùng Dương.

Đặng Thế Phong, người nhạc sĩ thiên tài nhưng  mệnh yểu với một số ca khúc được biết đến như: Giọt mưa thu, Con thuyền không bến…buồn thê lương…….

Dương Thiệu Tước, người nghệ sĩ đa tài và thâm thúy

NẾU KHÔNG NGHE ĐƯỢC :

– Nó lên real player có sẵn trong máy và báo không chạy được. Bạn nghe bằng softwear nào vậy ? Cho tớ biết với. Cám ơn bạn trước.

– Các bạn có thể lấy VLC về tại đây : http://www.videolan.org/vlc/

– Hoặc bạn vào website dưới đây download VLC Media Player rồi install. Dùng nó nghe nhạc và vido rất ok.

http://download.cnet.com/VLC-Media-Player/3000-13632_4-10267151.html

NGHE “70 NĂM TÌNH CA

TRONG TÂN NHẠC VIỆT NAM

1/- Cách đây vài năm, một người bạn ở bên Úc gởi cho tôi CD thâu lại chương trình “70 năm Tình Ca trong tân nhạc Việt Nam “ do Hoài Nam phụ trách trên đài phát thanh SBS ở Úc. Do bận rộn nhiều công việc, tôi bỏ quên CD ấy trong ngăn kéo. Mãi đến vài tháng sau, tình cờ thấy lại, tôi lấy ra đem theo trong xe để nghe trong lúc trên đường đến sở làm.

Ngay từ những giây phút đầu tiên của phần thứ nhất trong chương trình, giọng nói ấm áp của người phụ trách đã khiến tôi phải chú ý. Sau đó, nếu có bất cứ một thời gian rảnh rỗi nào, tôi đều dùng để nghe cái CD chứa những chương trình phát thanh thật là hấp dẫn ấy. CD có 50 chương trình đã phát thanh được thâu lại và vẫn chưa hòan tất. Tôi tìm địa chỉ đài phát thanh SBS trên mạng để nghe tiếp chương trình của ông Hoài Nam. Và tất nhiên, thâu lại. Vì ông Hoài Nam có thông báo rằng ông không có ý định thực hiện những CD cho chương trình của mình, thính gỉa nếu thích, có thể thâu lại trước khi đài SBS xóa bỏ vì sức chứa những bài lưu trữ của đài có giới hạn. Cuối cùng, tính đến chương trình phát thanh cuối cùng kết thúc 70 năm Tình ca Việt Nam vào đầu năm 2010, tôi có trong tay tổng cộng 94 phần (episodes ), mỗi phần chiếm thời lượng khỏang từ 20 phút cho đến 30 phút. Lấy trung bình 25 phút một phần thì 94 phần của chương trình này dài khoảng 2400 phút hay khoảng 40 tiếng hồ liên tục.

Công trình đồ sộ dài 40 tiếng đồng hồ thu thanh nói về Tình ca trong nền tân nhạc Việt Nam kể từ giai đọan phôi thai năm 1930 cho đến năm 2009, tức khỏang 70 năm, công trình mà ông Hoài Nam khiêm tốn gọi là “chương trình tân nhạc dẫn giải“ quả thật đã gây ở tôi một ấn tượng thật mạnh mẽ, đến độ tôi phải tìm hiểu xem tác giả là người thế nào mà đầy khả năng, tâm huyết thực hiện một chương trình khiến rất nhiều bạn bè người quen kẻ biết của tôi, khi được giới thiệu, đã ngay lập tức bày tỏ sự yêu thích và thán phục.

Với từ khóa “70 năm tình ca Việt Nam“ gõ vào ổ tìm kiếm Google, kết quả cho thấy chương trình này được nối kết (link) hoặc đem về ở hầu hết những diễn đàn, trang mạng điện tử về âm nhạc, về văn chương. Nhiều trang còn có phần minh họa thêm về hình ảnh các nhạc sĩ, các ca sĩ rất chuyên nghiệp, kèm thêm phần bình luận của người xem (nghe). Tất cả đều không tiếc lời khen ngợi chương trình. Nhưng, về tác giả, tôi đã không biết được gì thêm, ngoài cái tên Hoài Nam xa lạ. Ông không có một chức vị gì đứng trước cái tên, chẳng hạn nhạc sĩ, nhà biên khảo, hoặc nhà thơ, nhà văn, những tước hiệu mà tôi cứ đinh ninh sẽ bắt gặp đâu đó trên mạng với cái tên Hoài Nam đi kèm theo. Tước hiệu duy nhất cho tên ông là “phát thanh viên Hoài Nam của đài phát thanh SBS“ tôi tìm thấy trên trang diễn đàn âm nhạc Việt Nam thư quán. Càng ngạc nhiên hơn nữa, tuy chương trình 70 năm tình ca của ông đã hoàn tất hơn một năm nay, đã được giới thưởng ngọan ưa thích và khen ngợi, nhưng tôi không tìm thấy một bài viết nào về công trình của ông, một công trình mà theo tôi rất xứng đáng được quảng bá, giới thiệu đến mọi thành phần người yêu thích âm nhạc, già cũng như trẻ, ngòai nước cũng như trong nước.

2/- Một người bạn nhạc sĩ của tôi bảo, tất cả những người yêu thích chương trình 70 năm Tình ca Việt Nam đều nợ ông Hoài Nam một lời cám ơn viết bằng chữ hoa. Có lẽ vì lời nhắc nhở ấy, tôi đã không thể chỉ biết ngồi đó gậm nhấm những âm thanh hạnh phúc khi nghe giọng nói trầm ấm ngọt ngào của ông Hòai Nam rót vào hồn bao kỷ niệm của một thời, qua lời giới thiệu lai lịch một bài hát quen thuộc, hòan cảnh bài hát ấy ra đời và số phận người nhạc sĩ sáng tác bản nhạc ấy bây giờ ra sao.

Hãy thử tưởng tượng công trình 70 năm tình ca Việt nam được biên sọan theo hình thức thông thường như trước đây dưới hình thức một quyển sách, cũng những phân chia thời kỳ, những dẫn giải, những trích dẫn bài nhạc đầy đủ cả lời (có thể cả nhạc kẻ) và so sánh quyển sách ấy với hình thức mà ông Hoài Nam, tác giả công trình đã thực hiện. Tất nhiên, người yêu nhạc hẳn sẽ chọn công trình của ông Hoài Nam, vì nó sống động, hấp dẫn hơn rất nhiều. Người ta nghe nhạc, chứ ít ai đọc nhạc. Thực hiện bằng hình thức Audio, người biên sọan phải rất là cẩn trọng, vì mọi sơ suất sẽ dễ dàng bị người nghe nhận diện. Đọc tên một bài nhạc, người yêu nhạc có thể chưa nhận ra ngay được đó là bài nào, của ai. Nhưng khi giai điệu bài hát cất lên, người mộ điệu nhận ra ngay bài hát , dù đôi khi không nhớ hay không biết tên bài hát. Trong suốt 94 buổi phát thanh, đã hơn một lần ông Hoài Nam mắc sai sót. Những sai sót đó , hoặc do chính ông phát hiện ra, hoặc do thính giả liên lạc báo cho ông biết. Nhắc đến chi tiết này ở đây để thấy người thực hiện đã chọn một công việc thập phần khó khăn.

Mặt khác, do nguyên gốc là một chương trình phát thanh, có một thời biểu phát nhất định vào một giờ nào đó trong ngày, hay một ngày nào đó trong tuần, đôi khi không hẳn đã thuận tiện cho nhiều người đón nghe. May thay, với kỹ thuật hiện nay, việc thu lại để nghe, hay tìm nghe trên mạng điện tử vào những ngày giờ thích hợp nhất cho mình thưởng thức đã khiến một công trình biên sọan như của ông Hoài Nam đã trở nên phổ biến đến nhiều giới, nhiều nơi khác nhau và nhiều thế hệ nối tiếp nhau. Cách đây 40 năm, nếu chúng ta có được phương tiện kỹ thuật trong tầm tay như hiện nay, thì hẳn tòan bộ chương trình “Nhạc Chủ Đề“ mỗi tối thứ Năm trên đài phát thanh Sài Gòn dạo ấy do nhà thơ Nguyễn Đình Toàn phụ trách ắt sẽ được ghi lại và ngày nay chúng ta sẽ có một gia tài âm nhạc đồ sộ chứ không phải chỉ một chương trình hiếm hoi được lưu giữ trong băng nhạc chủ đề Tình Ca Việt Nam phát hành năm 1970 mà thời gian gần đây chúng ta thấy lưu truyền trên mạng. Hoặc chương trình “Tiếng Nhạc Tâm Tình” do ca sĩ Anh Ngọc phụ trách, nhà văn Mai Thảo viết và đọc lời dẫn nhập, sẽ được biết đến bởi nhiều thế hệ chứ không chỉ những người cùng thời với ông Hoài Nam như ông đã giới thiệu trong phần nói về nhà thơ, nhà văn, nhạc sĩ Nguyễn Đình Toàn. Nhắc lại sự tiếc nuối này để chúng ta trân trọng hơn nữa chương trình 70 năm Tình ca trong tân nhạc Việt nam gồm 94 episodes mà nhiều người yêu nhạc đang sở hữu trong tay.

3/- 70 năm tình ca trong tân nhạc Việt Nam được Hoài Nam chia ra làm 3 giai đọan với 5 thế hệ nhạc sĩ.

Giai đọan thứ nhất là từ năm 1930 cho đến năm 1946 với những bản nhạc tình bất hủ của những tên tuổi lẫy lừng thuộc thế hệ nhạc sĩ tiên phong Văn Phụng, Văn Cao, Dương Thiệu Tước, Thẩm Óanh, Đòan Chuẩn, Đặng thế Phong, Nguyễn Thiện Tơ, Phạm Duy, Hòang Trọng, Ngọc Bích, Anh Việt, Lâm Tuyền , Lê Thương . . . Đây cũng là thời kỳ của những bài hát mà các nhạc sĩ Lê Thương, Hòang Nguyên gọi là tiếng hát những ngày chưa chiến tranh hay nhạc tiền chiến mà chúng ta thường gọi, dù tên gọi này không được chính xác lắm.

Giai đọan thứ hai là từ năm 1954 cho đến 1975, lấy dấu mốc Hiệp Định Geneve 1954 cho đến biến cố lịch sử 30/4/1975. Trong giai đọan này, Hoài Nam còn chia ra làm 2 thời kỳ : thời kỳ 1 là từ những ngày tháng miền Nam tương đối còn thanh bình với những nhạc sĩ thế hệ thứ hai như Hòang Nguyên, Hòang Trọng, Ngọc Bích, Xuân Tiên, Lê Trọng Nguyễn, Hòang Thi Thơ v…v cho đến giữa những năm 60s. Thời kỳ 2 là khi cuộc chiến tranh trở nên khốc liệt với sự ra đời của thế hệ nhạc sĩ thứ ba như Trịnh Công Sơn, Minh Kỳ, Hòai linh, Trúc Phương, Khánh Băng, Y Vân v..v.. Đây cũng là giai đọan Hoài Nam đầu tư công sức vào nhiều nhất với số lượng 55 episodes so sánh với 17 episodes của giai đọan 1 và 21 episodes cho giai đọan 3.

Giai đọan thứ ba là từ sau 1975 cho đến 2009 với các nhạc sĩ thuộc thế hệ thứ tư như : Nguyễn Trung Cang, Lê Hựu Hà, Nam Lộc, Nguyễn Ánh 9, Lê Tín Hương v..v.. và thứ năm như Trúc Hồ, Vũ Tuấn Đức, Ngọc Lễ v…v.. cùng với những nhạc sĩ thế hệ thứ hai, thứ ba ở hải ngọai hay còn sinh sống trong nước.

Việc phân chia từng giai đọan cho nền tân nhạc Việt Nam dựa vào những biến cố lịch sử chứ không dựa vào những thay đổi về khuynh hướng sáng tác , theo tôi, tác giả đã có được sự lựa chọn phù hợp và đúng đắn. Bởi vì chính những biến cố lịch sử đã tạo nên một dòng nhạc phản chiến hay dòng nhạc xiển dương những tình cảm trong thời chiến trước 1975, đã tạo nên một dòng nhạc hướng vọng quê nhà ở hải ngọai những năm từ 1975 đến 80. Lịch sử Việt Nam từ khi hình thành nền tân nhạc tới nay đầy dẫy những biến cố có khả năng làm thay đổi cách sống, cách nghĩ của nhiều người, nhiều thế hệ, và các sáng tác văn học nghệ thuật, trong đó có âm nhạc – nhất là nhạc tình – một sản phẩm của con người trong giai đọan nhất định nào đó.

Theo dõi 94 chương trình phát thanh của ông Hoài Nam, người nghe chóang ngợp vì mức độ phong phú của những thông tin. Một bài nhạc mà người nghe có thể đã nghe đi nghe lại hàng chục lần nhưng chưa bao giờ được biết tên tác giả là ai, nói gì đến hòan cảnh bài nhạc ấy ra đời và vị trí của nó trong một giai đọan lịch sử. Với 70 năm tình ca trong âm nhạc Việt Nam, người mộ điệu có cơ hội biết được những thông tin quý báu đó. Thí dụ như người nhạc sĩ hòan tòan xa lạ với giới thưởng ngọan trước 75 cũng như sau 75 Marguerite Phạm, theo tiết lộ của Hoài Nam, chính là tác giả một bài hát rất được ưa chuộng là “ Sao đành xa em “ (Đêm nay, một mình em. Cô đơn dưới ánh đèn vàng…) và Marguerite Phạm không ai khác hơn chính là nữ ca sĩ Nguyệt Ánh nổi tiếng với những bài nhạc tranh đấu một thời.

Còn nhiều những chi tiết khác, những nhạc sĩ “xa lạ“ khác, mà chính tôi, một người mê nhạc từ nhỏ, cũng chỉ biết được nhờ theo dõi chương trình 70 năm Tình ca Việt Nam của Hoài Nam. Đó là một trong những đặc tính của chương trình khiến người nghe thích thú và kiên trì theo dõi với cả một sự háo hức. Đối với những nhạc sĩ đã thành danh và tác phẩm của họ được hầu hết mọi người biết đến, thì sự trình bày của Hoài Nam lại khiến người nghe khoan khóai biểu lộ sự đồng tình. Niềm vui lúc này là ở chỗ đồng điệu, đồng cảm. Thí dụ như hai phần phát thanh đặc biệt dành cho nhạc sĩ quá cố Trầm Tử Thiêng. Sự trân trọng của người thực hiện chương trình 70 năm tình ca dành cho người nhạc sĩ suốt một đời vì nghệ thuật này nói lên tấm lòng biết ơn chân thành của ông , cũng là tấm lòng biết ơn của biết bao con người từng rung động vì những bài nhạc tình , từng yêu mến nhân cách cao quý của người nhạc sĩ.

Tất cả những bài nhạc được dùng để minh họa trong những phần dẫn giải, giới thiệu đều là những bài nhạc quen thuộc với nhiều người. Nhưng điểm thú vị nhất trong lúc nghe lại những bài nhạc ấy trong chương trình 70 năm tình ca là người nghe được nghe từ tiếng hát của người ca sĩ tiêu biểu nhất cho bài nhạc, cũng là tiêu biểu nhất cho thời điểm bài nhạc ra đời, hoặc người ca sĩ đã giới thiệu bài nhạc ấy với công chúng lần đầu tiên . Sự lựa chọn tinh tế đó chứng tỏ người thực hiện phải có một kiến thức phong phú, đã từng sống qua và ghi nhớ được những sinh họat văn nghệ một thời và khả năng bắt đúng mạch hơi thở của giới thưởng ngọan của từng thời kỳ mà ông đang giới thiệu.

Chính ở điểm này mà tôi cảm thấy mình phải ít nhất một lần nói lên lời cám ơn với ông Hoài Nam. Trải suốt 70 năm, khối lượng sáng tác về âm nhạc – dù chỉ là giới hạn ở những bài tình ca – đồ sộ biết chừng nào, không ai có thể có thì giờ thưởng thức được hết kho tàng quý giá ấy. Nhưng , may mắn thay, chúng ta đã có ông Hòai Nam bỏ công chắt lọc lại, chỉ chọn ra những bài nhạc tiêu biểu nhất của một nhạc sĩ, tiêu biểu nhất cho một giai đọan lịch sử, tiêu biểu nhất với một ca sĩ nào đó và những lời dẫn giải ngắn gọn, nhưng đầy đủ và trân trọng.

Một công trình như thế, tưởng phải là công sức của nhiều người, nhiều giới, với sự đầu tư đầy đủ cả về thời gian lẫn tiền bạc. Nhưng hình như – theo tôi biết – ông Hoài Nam đảm trách công việc ấy chỉ với những phương tiện mà ông có được với tư cách một cộng tác viên chương trình tiếng Việt của đài phát thanh SBS. Và hẳn nhiên, với tấm lòng yêu nghệ thuật vô bờ. Nếu không có tình cảm ấy thúc đẩy, chưa chắc gì một nhóm người nào đó với sự tài trợ đầy đủ về phương tiện có thể thực hiện được một công trình đầy giá trị như ông Hòai Nam đã làm.

4/- Một điểm khác của chương trình 70 năm tình ca khiến tôi rất tâm đắc với người thực hiện. Đó là thái độ khiêm tốn, cầu thị, trân trọng và hiểu biết của ông Hoài Nam trong lúc làm công việc giới thiệu các nhạc sĩ. Những nhận xét của ông chừng mực, chính xác và khách quan. Ngay từ đầu, ông Hoài Nam xác nhận ông không có khả năng làm công việc phê bình âm nhạc và không có ý định làm công việc này. Ông chỉ có những nhận xét, mà ông giới hạn chúng từ quan điểm riêng và sự hiểu biết của người thực hiện. Xét cho cùng, khi thực hiện một chương trình đồ sộ phong phú, đa dạng như chương trình 70 năm tình ca  người thực hiện khó tránh khỏi những nhận xét mang tính cách phê bình trong lúc dẫn giải. Nhưng tính cầu thị rất khả ái của ông Hoài Nam đã giúp ông dừng lại trong những giới hạn cần thiết.

Chẳng hạn, khi nói về dòng nhạc mà ông gọi là “thời trang“ của tình ca Việt Nam giữa những năm 60, 70 (lọai nhạc mà có người gọi là nhạc sến, hay nhẹ nhàng hơn là “nhạc quê hương“),Hoài Nam đã rất cẩn trọng trong những dẫn giải của mình. Theo tôi, ở điểm này, Hoài Nam thật nghiêm túc. Ông chỉ nêu chúng ra để phân biệt với những khuynh hướng sáng tác khác cùng thời, đôi khi ở cùng một tác giả nhưng có những khuynh hướng sáng tác khác nhau. Hiện nay, cuộc tranh luận về nhạc sến (tức lọai nhạc thời trang theo Hoài Nam) vẫn còn diễn ra ở trong nước. Số người bênh, số người chê vẫn có những lý lẽ riêng của họ, nên sự cẩn trọng của ông Hòai Nam là cần thiết.

Hoặc, khi nói về những nhạc sĩ “gây tranh cãi  như Trịnh Công Sơn chẳng hạn, ông minh định rất rõ hướng đi và mục đích của mình trong lúc giới thiệu. Sự thẳng thắn và dứt khóat ấy đã ngăn lại được nhiều đầu óc quá khích, cực đoan hay đem quan điểm, lập trường làm thước đo nghệ thuật. Khi giới thiệu những nhạc sĩ trong nước ở thời kỳ sau 75, ông thật khiêm tốn khi tự đánh giá sự giới hạn trong việc theo dõi cũng như nguồn tài liệu của mình khi làm công việc này. Dù vậy, theo tôi, sự thẩm định của ông thật xuất sắc khi giới thiệu những khuôn mặt tiêu biểu ở trong nước. Mặt khác, với tư cách người tị nạn sinh sống ở Hải ngọai, ông đã mạnh dạn vượt lên trên mọi thái độ hẹp hòi, thái độ “lên gân lập trường“ để công khai công nhận thành quả nghệ thuật của người trong nước, nhất là những nghệ sĩ xuất thân từ miền Bắc như Trần Tiến, Phú Quang, hay là người miền Nam tập kết ra Bắc như Thanh Tùng v..v.. Cái cung cách trang trọng ông giới thiệu nhạc sĩ gốc bộ đội Trần Tiến đã khiến tôi vô cùng xúc động. Qua sự giới thiệu của ông, người nghe ở bên này chiến tuyến hẳn phải đồng ý với ông rằng người nhạc sĩ ở bên kia chiến tuyến ấy xứng đáng nhận một sự chào đón nồng ấm, dù cái oan nghiệt của cuộc chiến vừa qua đã xui khiến có lúc chúng ta là những kẻ thù không đội trời chung của nhau.

Có thể những ghi nhận của ông về nhạc tình trong nước sau 75 còn nhiều thiếu sót, nhưng đó là sự thiếu sót tha thứ được. Vả chăng, chính ông cũng xác nhận rằng những tác giả không được ông nhắc đến trong chương trình của mình không phải vì ông Chúng ta đang sống giữa một thế giới thừa mứa nhiều thứ, nhưng lại thiếu lòng khoan dung và sự khiêm tốn , thì thái độ ấy của tác giả 70 năm tình ca là một tấm gương để cho mọi người cùng soi. Trong bối cảnh bát nháo của các diễn đàn hiện nay, lợi dụng những phương tiện khoa học kỹ thuật trong tầm tay, nhiều người đã không kềm chế được con thú trong bản năng của mình, có những lời lẽ lăng mạ người không cùng quan điểm hoặc mượn diễn đàn ảo ( hay còn gọi là diễn đàn giấu mặt, giấu tên ) để trút hết những bực bội riêng tư vào việc phê bình người khác một cách vô trách nhiệm , càng khiến sự nghiêm túc trong khen , chê của Hòai Nam thêm phần giá trị. Người nghe có thể không đồng ý với ông về một vấn đề nào đó, nhưng chắc chắn vẫn phải kính trọng cung cách ông trình bày quan điểm của mình.

5/- Tôi vẫn không thể giải tỏa được nỗi ấm ức của mình khi dùng danh xưng khách sáo “ông Hoài Nam“ để viết về một người tôi ngưỡng mộ, dù chỉ biết ông qua 2400 phút của chương trình 70 năm Tình ca trong tân nhạc Việt Nam. Tôi đã nhiều lần đắm mình trong giọng nói ấm áp ngọt ngào và những bài nhạc tình đầy ắp kỷ niệm của hai ngàn bốn trăm phút quý báu ấy, cũng như tôi đã lưu trữ chúng để làm của truyền lại cho con cháu mai sau. Nhiều bạn bè tôi cũng đã làm như vậy. Một anh bạn nhà văn, khi nhận được “quà biếu“ của tôi là tòan bộ 94 episodes của 70 năm Tình ca, đã viết thật giản dị, mộc mạc mà chí tình “Hoài Nam làm một công trình xịn hết biết “. Một người bạn khác, trong đêm Giáng sinh lạnh buốt của mùa Đông Wichita, đã viết cho tôi “Anh T. Vấn ơi ! Tôi đang ngồi cạnh lò sưởi, ly rượu vang trên tay và cùng với người mẹ già 80 tuổi, chúng tôi nghe 70 năm Tình ca mà anh gởi tặng. Quả là những khỏanh khắc tuyệt vời mà tôi được hưởng ! “. Một đứa cháu của tôi thuộc thế hệ 8x sinh sống ở trong nước, nghe xong chương trình, đã bộc lộ ngắn ngủi “Quá đã ! bác Ba ơi !“.

Như một cách làm giảm nhẹ sự ấm ức còn chất chứa trong lòng, tôi bắt chước chính ông Hoài Nam khi nói về sự nghiệp sáng tác của nhà thơ, nhà văn, nhạc sĩ Nguyễn Đình Tòan và tác phẩm “Bông Hồng tạ ơn“ mà Nguyễn Đình Tòan sọan với mục đích tạ ơn những văn thi nghệ sĩ đã cống hiến cho đời những tác phẩm nghệ thuật sống mãi với thời gian. Ông Hoài Nam ghi nhận rằng, trong tác phẩm đó, Nguyễn Đình Tòan , lẽ dĩ nhiên, không thể tạ ơn chính mình, nên Hòai Nam mượn chương trình phát thanh nói về Nguyễn Đình Tòan để gởi đến người nhạc sĩ đa tài một bông hồng mà ông rất xứng đáng được nhận. Bài viết này có thể chưa nói hết được giá trị công trình có một không hai của ông Hoài Nam, nhưng tác giả của nó cũng mạo muội thay mặt những thính giả yêu thích chương trình 70 năm tình ca gởi đến người thực hiện chương trình là ông Hoài Nam như một bông hồng tươi thắm nhất của lòng biết ơn.

Xin ông hãy nhận cho chúng tôi được nhẹ lòng và thỏai mái đắm mình trong từng giây phút của hai ngàn bốn trăm phút 70 năm tình ca Việt Nam mỗi khi có dịp.

Tôi kèm theo ở đây 2 cái links dành cho những vị nào muốn đem về cất giữ trong máy của mình tòan bộ chương trình 70 năm tình ca trong tân nhạc Việt Nam của Hoài Nam gồm 94 episodes không trân trọng sự nghiệp của họ, mà chỉ là vì sự cách trở về địa lý khiến ông không có được sự hiểu biết cần thiết cũng như nguồn tài liệu đầy đủ để giới thiệu.

Link thứ nhất gồm episodes 1 cho đến 38.

http://www.megaupload.com/?d=B4IN5CED

Link thứ hai gồm episodes 39 đến 94.

http://www.megaupload.com/?d=LE2TJV54

Hoặc nếu không muốn đem về máy, quý vị có thể vào nghe trực tiếp theo link dưới đây :

70 năm tình ca Việt nam

Nghiêm Vĩnh Phong post

NHỮNG TÊN GỌI ĐẤT GIA ĐỊNH XƯA

SÔNG NÚI MIỀN NAM :

GIA ĐỊNH THÀNH XƯA

Đất Nam Việt mà trước đây người ta còn gọi là Nam Kỳ, người Tây Phương khi đặt chân lên xứ mình hồi thế kỷ 16, 17 đã gọi bằng tên Cochinchine hay Đằng Trong. Còn nhỏ hơn có đất Gia Định, và ở đất này khi xưa có rất nhiều địa danh.

Người ta cũng gọi xứ này là Đồng Nai (đồng có nhiều nai), Lộc Dã, Lộc Đồng (cùng một nghĩa) hoặc Nông Nại, là nơi mà người Việt mình đặt chân lần đầu tiên năm 1623. Sử chép rằng Chúa Sãi Vương Nguyễn phúc Nguyên (1613-1635), đã gả Công chúa Ngọc Vạn, lệnh ái thứ 2, cho vua Cao Miên Chei Chetta II (1618-1626) từ Xiêm trở về lên ngôi báu và đóng đô tại Oulong.

Nhờ sự giao hiếu ấy vua Cao Miên mới cho phép người Việt di dân vào Nam Bộ. Chúng ta đã đặt đầu cầu tại Mô Xoài(gò trồng xoài), gần Bà Rịa đúng vào năm 1623 (Theo Claude Madrolle -Indochine du Sud,Paris 1926).

Cũng trong năm này một phái đoàn ngoại giao đã được cử sang Oulong để thương thuyết sự nhượng lại Sở Thuế quan Saigon.Về sau đến đời vua Réam Thip Dei Chan(1642-1659),em vua trước,vị hoàng hậu Việt Nam nói trên đã xin vua Cao Miên cho phép người Việt được quyền khai thác xứ Biên Hòa năm 1638.

Sở dĩ vua Cao Miên đã giao hảo với nước ta và tự ý nhân nhượng một phần nào,là vì muốn cậy thế lực của triều đình Huế để chế ngự ảnh hưởng của người Xiêm.Như vậy chúng ta đã đến sinh cơ, lập nghiệp,khai khẩn đất đai Nam Bộ là do sự thỏa thuận hoàn toàn của đôi bên,chứ tuyệt nhiên không phải là một sự xâm nhập. Lại nữa nhờ uy thế của chúng ta mà Cao Miên đã đối phó hiệu quả với những tham vọng của nước Xiêm và bảo toàn được nền độc lập của mình.

Nói tóm lại sự hiện diện của chúng ta từ hơn 800 năm nay tại Nam bộ rất là hợp tình,hợp lý và hợp pháp. Nói một cách khác công cuộc Nam tiến của tổ tiên ta là một sự kiện lịch sử bất di bất dịch,nó hiển nhiên cũng như cuộc Tây tiến của người Âu Châu tại Mỹ Quốc và cuộc Đông tiến của người Anh tai Úc Châu.

Con sông Đồng Nai đã đưa ta đến tỉnh Biên hòa (hòa bình ở biên cương), một trấn đã được sáp nhập vào nước ta năm 1653. Khoảng đất này xưa được gọi là Đông phố đúng ra là Giãn phố vì hai chữ Đông và Giãn viết theo chữ Hán hơi giống nhau.Về sau nơi này đã được triều đình Huế giao cho bọn người Trung Hoa gốc Quảng Tây di cư theo hai tướng Trần Thượng Xuyên và Trần An Bình đến khai khẩn và lập nghiệp năm 1679 tại Cù lao Phố,sau khi nhà Minh bị nhà Thanh lật đổ.

Miền trên Biên hòa thì có Hố Nai (hố sập nai), Trảng Bom (trảng là một đồi bằng phẳng và rộng rải có trồng nhiều cây chum-bao hom đọc trạnh thành bom, sinh ra một thứ dầu gọi là chaulmougra, dùng để trị phong hủi. Phía dưới là nhà thương điên Nguyễn Văn Hoài, một nhà bác học đã quả quyết với chúng tôi rằng trong một đời người,số giờ mà chúng ta điên cuồng cộng lại ít nhất cũng được vài năm !

Biên Hòa là quê hương của Đỗ Thành Nhân, một trong Gia định Tam hùng. Hai người kia là Võ Tánh quê ở Gò Công và Nguyễn Huỳnh Đức quê ở Tân An. Biên hòa là xứ bưởi bòng ngon ngọt có tiếng nên mới có câu ca dao :

Thủy để ngư, thiên biên nhạn

Cao khả xạ hề,  đê khả điếu,

Chỉ kích nhơn tâm bất khả phòng

E sau lòng lại đổi lòng,

Nhiều tay tham bưởi chê bòng lắm anh

Chúng ta đi ngang qua trước ngọn núi Châu Thới, cao 65m trên có ngôi chùa Hội sơn, được trùng tu vào đầu thế kỷ thứ 19,  nhờ công đức sư Khải Long :

Bao giờ cạn lạch Đồng Nai,

Nghiêng chùa Châu Thới mới sai lời nguyền !

Rồi đến Thủ Đức với những hồ bơi nước suối,và những gói nem ngon lành.Thủ nhắc lại ngày xưa có những chức quan văn như thủ bạ,thủ hô lo về việc thuế má và nhơn thế bộ. Do đó mà có những địa danh như Thủ Thiêm, Thủ Thừa, Thủ Ngữ v.v.. để nhắc lại tên mấy ông thủ bạ và thủ hộ ngày trước. Miền Thủ Đức lại nhắc cho ta hai câu đối “tréo dò” :

Xứ Thủ Đức năm canh thức đủ

Kẻ cơ thần trở lại Cần Thơ

Có lẽ vì năm canh thức đủ mà có kẻ than thân trách phận tự mình sánh với cái nem Thủ Đức lột trần :

Người ta năm chị bảy em

Tôi đây như thể chiếc nem lột trần

Phía tay mặt là Gò Vấp, xưa kia là một ngọn đồi trồng cây vấp. Thứ cây này xưa kia được coi như thần mộc, yểm hộ cho dân tộc Chàm. Dã sử thuật lại rằng vào đời vua Chiêm cuối cùng là Pô Romé (1627-1651),vua này muốn vừa ý một ái phi người Việt đã ra lệnh đốn cây Kraik (vấp) cổ thụ rợp bóng nơi vườn ngự uyển. Hơn một trăm thị vệ lực lưỡng không sao hạ nổi vì vết rìu mỗi lần bổ xong thì khép lại ngay. Nhà vua tức giận cầm lấy rìu hạ xuống một nhát,tức thời một tiếng rên rỉ vang lên và cây gục xuống giữa một vũng máu. Và cũng từ đó vận khí nước Chiêm suy dần cho đến ngày tàn tạ.

Bây giờ ta vào thành phố Saigon, nơi mà hơn 300 năm về trước (1674) tiền đạo quân ta lần đầu tiên đã đặt chân tới,mang theo khẩu hiệu : “Tĩnh vi nông, động vi binh”. Quân ta không phải tư động mà đến, chính là do lời yêu cầu khẩn thiết của nhà đương cuộc hồi bấy giờ.

Họ khai khẩn đất đai với sức dẻo dai sẵn có, đào sông ngòi trong vùng đất thấp và đây đó khắp nơi,xây dựng thành trì kiên cố. Một trong những công tác quân sự ấy do tướng Nguyễn Đức Đàm xây năm 1772, rồi đến thành trì Phan An xây năm 1790, kế đến là thành Gia Định xây năm 1836. Những thành ấy xây đắp với mấy vạn nhân công và bao nhiêu tài trí như đã ghi trong câu ngạn ngữ :

Dân đất Bắc / Đắp thành Nam :

Đông đã là đông ! / Sầu Tây vòi vọi !

Chúng ta đang ở trung tâm thành phố Saigon (Sài là củi, gòn là bông gòn) chuyển sang chữ nho thành Sài-côn là củi gòn, vì chữ nôm gòn viết là Côn, như Ông Trịnh Hoài Đức (1765-1825) đã ghi trong tác phẩn Gia Định Thống Chí mà hiện nay chúng còn một bản dịch ra pháp văn của ông Gabriel Aubaret.

Theo một số người khác thì Saigon có lẽ do chữ Đê Ngạn đọc thành Tai Ngon hay Thay gon theo giọng Quảng Đông hay Tingan theo giọng Triều Châu,dùng để chỉ thành phố do người Tàu lập nên năm 1778 sau khi họ phải rời bỏ Biên hòa vì chiến sự giữa Nguyễn Ánh và Tây Sơn,để nhờ sự bảo hộ của quân đội chúa Nguyễn đóng tại Bến Nghé.

Nguyên ủy xa hơn cả có lẽ là sự chuyển âm của một danh xưng tối cổ Preikor,có nghĩa là rừng gòn,một loại cây hiện nay còn trồng ở Thủ Đô.

Theo Ông Verdeille thì Saigon có thể là hai chữ nho : Tây Cống đọc chạnh ra,tên này ám chỉ rằng thành phố là phần đất xưa kia đã được các vị vua phía Tây cống hiến cho ta. Ta nên lưu ý rằng tên Saigon chỉ được dùng trong các văn kiện của Pháp kể từ 1784 trở đi mà thôi.

Còn danh xưng của Chợ-lớn mà người Tây đọc liền lại là Cholon, nó chỉ ngôi chợ xưa kia nằm trên địa điểm hiện tại của Sở Bưu điện Chợ-lớn kéo dài tới tận Đại Thế Giới cũ. Chợ này lập song song với chợ nhỏ hiện nay còn tồn tại với tên chợ Thiếc ở phía trường đua Phú Thọ. Về sau Chợ-lớn được dời tới Chợ-lớn mới do nhà đại phú Quách Đàm xây tặng, tượng họ Quách vẫn còn ở giữa đỉnh chợ Bình Tây

Sự biến đổi địa âm dạng của địa danh Saigon đã tùy sự hiện diện liên tiếp của những người quốc tịch khác nhau như Preikor (rừng gòn),Tai- Ngon hay Thầy gòn của người Trung Hoa mà ta đọc là Đê-ngan,người phương tây dùng chữ la mã ghi là Saigon từ năm 1784.

Hồi xưa tên Saigon chỉ áp dụng cho khu vực Chợ lớn hiện thời, còn chính Saigon bây giờ thì khi ấy là Bến Nghé (theo Trịnh Hoài Đức, theo các nhà hàng hải Âu Mỹ, theo bản đồ do ông Trần Văn Học vẽ ngày mùng 4 tháng chạp năm Gia-long thứ 14 (1815) ghi trên vùng Chợ-lớn hiện tại chỗ nhà thương Chợ-Rẫy ba chữ Saigon xứ, khoảng gần Cây Mai và Phước Lâm) Khu Saigon cao, nằm phía Đồn Đất tức là cái đồn thâu hẹp năm 1836 sau khi Lê Văn Khôi nổi loạn, chắc đã có người ở từ thời thượng cổ, chứng cớ là những khí giới và đồ dùng bằng đá mài tìm thấy khi đào móng nhà thờ Đức Bà. Khu thấp thường gọi là Bến Nghé hay bến Thành.

Bến Thành là cái tên ở gần hào thành Gia-Định, nguyên trước có cái rạch nối liền hào thành với sông Bến-Nghé và có cái chợ gọi là chợ Bền Thành. Cái rạch ấy về sau lấp đi thành Đại lộ Nguyễn Huệ và đến bây giờ có câu ca dao như sau :

Chợ Bến Thành đèn xanh đèn đỏ,

Anh nhìn cho tỏ thấy rõ đèn màu;

Lấy em anh đâu kể sang giàu,

Rau dưa mắm muối có nơi nào hơn em !

Bến Nghé theo Trịnh Hoài Đức là cái bến uống nước của trâu con, do một tên rất cũ là Kompong Krabey (bến trâu) đã được Việt hóa. Nhưng ông Đốc phủ Trần Quang Tuất (1765-1825) cho rằng nơi đây có lắm con cá sấu chúng thườn kêu nghé nên gọi là Bến Nghé – Trịnh hoài Đức dịch là” Ngưu-tân” Bến Nghé là cái bến sông Saigon có tên là sông Bến Nghé,cũng có tên là Tân Bình Giang hay là Đức Giang lấy nguồn ở Ban Bót(theo gia-định thống chí) .Còn cái rạch Bến nghé nối dài bởi kinh Tàu -hủ (Arroyo chinois) ngày xưa có tên là Bình Dương và chỗ nó chảy ra giáp sông Bến Nghé gọi là Vàm Bến Nghé.Bến Nghé tức là Saigon và khi ta nói Đồng Nai-Bến Nghé tức là nói đến Nam Bộ vậy.

Phía đông Saigon có một cái kênh gọi là rạch Thị Nghè hay là rạch Bà Nghè. Bà tên là Nguyễn Thị Canh, con gái thống suất Nguyễn Cửu Văn tức Văn Trường Hầu, đẹp duyên với một ông nghè. Để cho chồng bà tiện đường qua rạch hàng ngày vào làm trong thành, bà cho dựng một chiếc cầu mà dân sự có thể dùng được. Để tỏ lòng nhớ ơn một bậc nữ lưu, họ đã gọi cầu ấy là cầu Bà Nghè. Đến khi Tây đến đánh thành Saigon,pháo hạm Avalanche tiến vào rạch này đầu tiên nên họ mới gọi là Arroyo de l’Avalanche.
Trên rạch Bến Nghé hồi xưa có nhiều chiếc cầu ván dựng tạm cho người qua lại. Chiếc cầu nổi tiếng hơn cả là cầu Ông Lãnh, được xây nhờ công ông Lãnh binh, thời tả quân Lê Văn Duyệt. Còn những chiếc cầu khác là Cầu Muối, Cầu Khóm (thơm), Cầu Kho và Cầu học (giếng học). Về các công sự thì có :

Chợ Bến Thành (mới) xây năm 1914 trùng tu năm 1950

Nhà thờ Đức Bà khởi công năm 1877, hoàn thành năm 1883

Sở Bưu Điện và Tòa án cất năm 1883

Dinh Norodom khởi công ngày chủ nhật 23-2-1868 với sự tham dự dông đảo của dân chúng. Thủy sư Đô Đốc De La Grandìère với sự hiện diện của kiến trúc sư Hermitte từ HongKong tới,đã đặt viên đá đầu tiên vuông vức mỗi bề nửa mét, trong đó đựng một hộp chì chứa nhũng đồng tiền vàng và bạc dập hình vua Napoléon III. Đức Giám mục Miche, cai quản địa phận,với một số đông con chiên,đã ban phép lành và đọc một diễn văn lời lẽ cao quý đã làm cử tọa đặc biệt chú ý. Công cuộc xây cất trên một khoảng đất rộng 14 mẫu tây đã phải dùng tới hai triệu viên gạch, và cái móng dày tới 3,5m tốn mất 2.436 thước khối đá xanh Biên Hòa.Công tác đã hoàn thành năm 1875 và người đầu tiên đến ở trong dinh đó là Thủy sư Đô Đốc Roze.Sau 84 năm Pháp thuộc,ngày 7-9-1954 Đại tướng Ely, Cao ủy Pháp đã trả dinh thự này cho Chính phủ Việt Nam thời bấy giờ.
Tòa Đô Sảnh (1901-1908) trên có một gác chuông do họa sĩ Ruffier trang trí mặt tiền
Viện Bảo Tàng Quốc Gia xây năm 1927, khánh thành ngày 1-1-1929 ,bị vụ nổ nhà thuốc súng làm hư hại ngày 8-3-1946 và được hoàn lại chính phủ Việt Nam ngày 19-9-1951 thu thập tới 4.000 cổ vật đã kê thành mục lục và trình bày trong 14 gian phòng.

Vườn Cầm Thảo (Sở Thú) tương tự với rừng Vincennes ở Pháp,được lập năm 1864.Sau khi đã san bằng,việc đứa thú tới nhốt nơi đó hoàn tất năm 1865.Ngày 28-3-1865 nhà thực vật học Pierre đảm nhiệm việc điều khiển vườn Cầm Thảo Saigon và ngày nay nhiều giống cây ở xứ ta còn mang tên nhà bác học ấy.

Đây đó ta còn gặp một số địa danh nguồn gốc Tây Phương như : Ba-Son (Arsenal) trong có một bến sửa tàu (bassin de radoub) xây bằng ximăng cốt sắt từ năm 1858,và bến tàu nổi được hạ thủy tháng giêng năm 1866. Chữ Ba-Son do chữ Bassin mà ra.
Vườn Bờ Rô (do chữ Jardin des Beaux Jeux) hay là vườn Ông Thượng, xưa kia là hoa viên của Tổng Trấn Lê Văn Duyệt, nay là vườn Tao Đàn.

Dakao là biến danh của Đất Mộ (đất của lăng) Lăng-tô là biến danh của Tân thuận, tên một làng mà dân Saigon thường đến hóng mát (pointe des flaneurs).

Bây giờ chúng ta rời Saigon xuống đò Thủ-Thiêm qua bên kia sông xem địa phận đang trù định một chương trình kiến thiết rộng lớn,để biến nơi này thành một khu vực nguy nga tráng lệ.

Con đò Thủ-Thiêm ngày xưa đã hấp dẫn một số đông những chàng trai trẻ :

Bắp non mà nướng lửa lò,

Đố ai ve được con đò Thủ-Thiêm.

nhưng một ngày kia chàng trai phải ra đi trong khói lửa chiến tranh,đến khi trở về thì than ôi :

Ngày đi trăm hoa hẹn hò,

Ngày về vắng bóng con đò Thủ-Thiêm

Từ Thủ-Thiêm chúng ta thẳng tiến đến một nơi gọi là Nhà Bè hay là Ngã Ba Sông Nhà Bè, nơi mà con sông Đồng Nai gặp con sông Saigon cũng gọi là sông Bến Nghé. Ngày xưa ở chỗ ấy ông Thủ khoa Hườn có lập nhà bè để bố thí lúa gạo cho những kẻ lỡ đường và ngày nay còn vọng lại mấy câu hò tình tứ của cô lái miền quê :

Nhà Bè nước chảy chia hai:

Ai về Gia định Đồng Nai thì về !

Rời Nhà Bè, chúng ta trở lại Saigon để đi về miền Bà Chiểu, một vùng ngoại ô trù mật ở phía đông, chúng ta phải đi qua một cái cầu gọi là Cầu Bông, vì xưa kia ở gần đó Tả Quân Lê Văn Duyệt có lập vườn hoa rất ngoạn mục.

Bà Chiểu tỉnh lỵ Gia định,nổi tiếng về lăng Tả Quân Lê Văn Duyệt (1764-1832),một vĩ nhân được người Việt và người Tàu tôn thờ như một vị thần thánh.

Theo Trương Vĩnh Ký thì Bà Chiểu là một trong 5 bà vợ của ông Lãnh Binh đã xây cái cầu ông Lãnh. Theo phương pháp kinh tế tự túc mà các cụ ngày xưa thường áp dụng, ông đã lập ra 5 cái chợ, giao cho mỗi bà cai quản một cái : Bà Rịa (Phước Lễ), Bà Chỉểu (Gia-Định), Bà Hom (Phước Lâm), Bà Quẹo (phía Quán Tre) và Bà Điểm (phía Thụân Kiều). Riêng chợ Bà Điểm gần làng Tân thới quê hương của Cụ Đồ Chiểu tác giả Lục Vân Tiên, thi phẩm đầu giường của đồng bào Nam bộ là nơi bán trầu ngon có tiếng ở Miền Nam. Món trầu là đầu câu chuyện,cho nên bao nhiêu chuyện,hay dở gì cũng do miếng trầu trao cho nhau mà sinh ra cả :

Trồng trầu trồng lộn dây tiêu

Con theo hát bội mẹ liều con hư !

Từ Bà Chiểu chúng ta trở lại Saigon để rẽ về Phú Nhuận, qua Cầu Kiệu hay là Cầu Xóm Kiệu là nơi xưa kia trồng rất nhiều hành kiệu. Phú-Nhuận (giàu sang và thuần nhã) là nơi còn nhiều cổ tích như : Lăng Đô-đốc Võ Di Nguy, mất tại cửa bể Thị Nại năm 1801. Lăng Trương Tấn Bửu và lăng Võ quốc Công tức là hậu quân Vũ Tính, nơi đây vua Gia-Long có cho trồng 4 cây thông đưa từ Huế vào để tỏ lòng mến tiếc.Võ Tánh là một trong Gia-Định tam hùng mà dân chúng nhắc tới trong những điệu hò giao duyên. Theo thường lệ : Người con gái lên tiếng trước :

Nghe anh làu thông lịch sử,

Em xin hỏi thử đất Nam-Trung :

Hỏi ai Gia-Định tam hùng,

Mà ai trọn nghĩa thủy chung một lòng ?

Người con trai liền đáp lại :

Ông Tánh, Ông Nhân cùng Ông Huỳnh Đức,

Ba Ông hết sức phò nước một long

Nổi danh Gia-Định tam hùng:

Trọn nghĩa thủy chung có Ông Võ Tánh,

Tài cao sức mạnh,trọn nghĩa quyên sinh,

Bước lên lầu bát giác thiêu mình như không !

Về phía Tân Sơn Hòa có Lăng Cha Cả là một cổ tích kiến trúc Việt Nam xưa nhất ở vùng Saigon. Nơi đây mai táng Đức Giám Mục Bá-Đa-Lộc, mất tại cửa Thị Nại năm 1799.

Rời khỏi ngoại ô Saigon chúng ta thuê một chiếc thuyền con về vùng Lái-Thiêu (tức là ông Lái gốm họ Huỳnh đã thiêu nhà vì say rượu) để thăm vườn trái :

Ghe anh Nhỏ mũi tráng lường

Ở trên Gia-Định xuống vườn thăm em.

Nơi đây quy tụ rất nhiều trái ngon đặc biệt như : dâu da,thơm,bòn bon,mít tố nữ,măng cụt và nhất là sầu riêng (Durion) là giống cây từ Mã-Lai đưa vào Cây Sầu riêng thân cao lá ít,trái có gai bén nhọn kinh khủng,cho nên trời chỉ cho phép nó rụng khi đêm khuya thanh vắng mà thôi!Đồng bào Nam-bộ liệt nó vào hàng đầu trong các loài trái,vì nó có đủ năm mùi hương vị đặc biệt như quả lê Trung hoa.Những người xa lạ phải chịu nhẫn nại một thời gian mới thông cảm và khi đã thông cảm rồi thì thèm muốn như mê say,chỉ trừ anh học trò thi rớt :

Có anh thi rớt trở về

Bà con đón hỏi nhiều bề khó khăn

Sầu riêng anh chẳng buồn ăn,

Bòn bon, tố nữ anh quăng cùng đường !

Tại vùng Lái Thiêu,có một ngôi nhà thờ cổ kính xây từ thế kỷ XVIII trên ngọn đồi xinh tươi,chung quanh có nhiều lò gốm,lò sành và một trường dạy học cho trẻ em câm điếc với một phương pháp riêng biệt.

Đến Búng chúng ta không quên đi thăm chùa Phước Long ở vùng An-Sơn, có ông huề thượng thâm nho,thường ra nhiều câu đối bí hiểm cho những khách nhàn du :

Rượu áp sanh(absinthe) say chí tử

Có người đã đối lại như sau :

Bóng măng cụt mát nằm dài

Trong chùa ông huề thượng có ghi hai câu :

Cúng bình hoa, tụng pháp hoa,hoa khai kiến Phật.

Dâng nải quả,tu chánh quả,quả mãn thông Thần

(sưu tầm bài viết của ông Tân Việt Điêu trong Văn hóa nguyệt san số 33 năm 1958)

Phú Lê post (theo Hồ Đình Vũ)

HUYỀN THOẠI “CHỦ NHẬT BUỒN”

BẢN TÌNH CA “TUYỆT MẠNG”

HUYỀN THOẠI CA KHÚC

“CHỦ NHẬT BUỒN” 

Nhạc sĩ Seress Rézso và ca khúc “Chủ nhật buồn”, nguyên tác tiếng Hung.

http://nghenhac.info/Album/Nhac-tre/7224/Chu-nhat-buon-Nhung-ca-khuc-bat-tu-2-Nhieu-ca-si.html

 “Ca khúc chết người”, “Quốc ca của những kẻ tự tử”, đó là những cái tên mà người đời đã đặt cho bài “Chủ nhật buồn” (Gloomy Sunday, Sombre Dimanche). Nguyên tác tiếng Hungary là Szomorú vasárnap, đây là một ca khúc được liệt vào hàng bất tử trong lịch sử âm nhạc đại chúng thế giới.

Rất nhiều người Việt đã quen thuộc với giai điệu quen thuộc của ca khúc “Chủ nhật buồn”, được nhạc sĩ Phạm Duy viết lời Việt và phổ biến. Thế nhưng ít ai chú ý rằng đó là một bài hát xuất xứ từ Hungary, từng đi chinh phục thế giới qua các phiên bản tiếng Anh – Gloomy Sunday – hay tiếng Pháp – Sombre Dimanche.

Mang tựa gốc là Szomorú vasárnap, từng được mệnh danh là “Ca khúc chết người”, “Quốc ca của những kẻ tự tử”, ngay tại Hungary, bài “Chủ nhật buồn” được xem như thương hiệu tầm cỡ thế giới bậc nhất của Hungary trong âm nhạc, còn tại nước Pháp, vào năm 1999, ca khúc này được bình chọn là bản nhạc tình buồn nhất của thế kỷ XX.

Bài hát u sầu này đã được dịch ra hơn 100 thứ tiếng trên thế giới (trong đó có cả tiếng Việt và Quốc tế ngữ esperanto), thu hút không biết bao nhiêu là đại danh ca của thế giới, từ Billie Holiday, Ray Charles, Ricky Nelson, tại Mỹ, cho đến Sarah Brightman tại Ireland, Björk tại Iceland hay Serge Gainsbourg tại Pháp…, không kể đến các các ca sĩ hát tiếng Nhật, tiếng Hoa, tiếng Hàn…

Một trong những ca sĩ được cho là đã thể hiện hay nhất bài hát này là nữ danh ca Mỹ người da đen Billie Holliday, mà cách thể hiện đầy cảm xúc, đã khiến cho bài hát của cô bị cấm tại Anh Quốc vào năm 1941 vì bị cho là làm nản lòng người nghe vào lúc nước này cần động viên tinh thần dân chúng để chống Phát xít Đức.

Ngoài cách thể hiện đầy u uẩn, ray rứt của Billie Holiday, ca khúc Gloomy Sunday cũng từng được nhiều ca sĩ khác trình bày với một phong cách nhẹ nhàng hơn, chẳng hạn như phiên bản của ca sĩ Mỹ Ricky Nelson, từng nổi tiếng trong giới hát nhạc ‘’đồng quê’’ (country music).

“Chủ nhật buồn” xuất xứ từ một bài thơ… thất tình

Theo thông tín viên Hoàng Nguyễn từ thủ đô nước Hung, ca khúc “Chủ nhật buồn”, nhạc của Seress Rezső, lời thơ của Jávor László và Seress Rezső, ra đời vào giữa thập niên 30 thế kỷ trước tại Budapest. Tất cả xuất phát từ một bài thơ… thất tình của Jávor László, khi đó 26 tuổi, phóng viên hình sự một tờ báo ở Budapest.

Ðó là năm 1933. Chàng trai Jávor László buộc phải chia tay với người yêu, khi đó đã là vợ kẻ khác. Tương truyền, trong buổi hẹn hò bí mật cuối cùng, Jávor tuyên bố chấm dứt hoàn toàn mối quan hệ và đối với chàng, cô gái không còn tồn tại nữa.

Bài thơ “Chủ nhật buồn” đã ra đời như thế, như một kỷ niệm cho mối tình đã chết, đầy tang tóc với câu mở đầu : “Chủ nhật buồn với muôn cành hoa trắng – Anh chờ em với lời kinh cầu”, để rồi khi mối tình không còn và ngày chủ nhật đối với anh chỉ còn là nước mắt và nỗi âu sầu.

Sau khi ra đời, bài thơ không được ai biết tới và tác giả thi phẩm đã đề nghị Seress Rezső, một nhạc sĩ tự học, phổ nhạc cho bài thơ đó. Sau vài tháng, bài hát “Chủ nhật buồn” ra đời, và người nhạc sĩ không hề biết nhạc lý đã phải huýt sáo để nhờ một thanh niên thạo nhạc ghi lại với giá 5 đồng.

Tiếng tăm của bài ca “tuyệt mạng”

Trong khi các tác giả đang buồn bã vì ca khúc không chạy như ý muốn thì đột nhiên, báo chí Hungary loan tin trong vòng 2 tuần liền, đã có hai người tự sát bên bản nhạc “Chủ nhật buồn”. Tháng 11/1935, báo chí Hungary mở cuộc tấn công phê phán ca khúc và gọi nó là “bài ca giết người”.

Lúc đó, báo chí Thụy Sĩ, Ý, Pháp, Ðức bắt đầu viết về “Chủ nhật buồn”, nơi khen, nơi chê, và truyền thông quốc tế bắt đầu gọi ca khúc là “Quốc ca của những kẻ tự tử”. Từ Châu Âu lan sang Bắc Mỹ, tờ New York Times còn loan tin tại Budapest, đã có một làn sóng người nhảy xuống dòng Danube tự tử khi nghe bài hát.

Tất nhiên, đây chỉ là một trong những “huyền thoại đô thị” mà Budapest cũng có không ít, nhưng điều đáng chú ý là cơn sốt “Chủ nhật buồn” khi đó mới có ở một số nước, chứ chưa hề có ở Hungary. Chỉ khi một ông bầu âm nhạc người Pháp sang Budapest để nghe ca khúc, rồi mang bản nhạc về và cho dựng tại Paris, lúc đó cả thế giới mới biết đến Seress, người nhạc sĩ.

“Chủ nhật buồn” bắt đầu chinh phục thế giới bằng cơn sốt như vậy. Cả châu Âu hướng về mốt… đau buồn tập thể, dẫn đến… tự sát, như thế ! Jávor, chàng trai thất tình, bỗng nổi tiếng với bài thơ “Chủ nhật buồn”, đã nói với báo giới khi nghe phong thanh về thành công “chết người” của mình : “Giờ, người ta nghĩ đến tôi như kẻ đào mồ với chiếc xẻng trong tay”.

Giải mã ‘’ma lực’’ của ca khúc ‘’Chủ nhật buồn’’

Người ta nói nhiều đến “Chủ nhật buồn” như một bài ca có ma lực vô cùng đặc biệt, khiến người nghe ảo não, sầu muộn đến độ phải tự tìm đến cái chết. Không thể biết được đâu là sự thật, đâu là chứng cuồng tầm cỡ thế giới, và đâu là món nghề quảng cáo của sự kinh doanh nghề sân khấu.

Quả thực, cạnh thi thể nhiều người tự vẫn, có bản nhạc của ca khúc, nhất là ở Hungary. Nhưng xứ sở này, dù có “Chủ nhật buồn” hay không, cũng đã được liệt vào hàng những quốc gia hàng đầu thế giới trong các thống kê về số người tự sát !

Thời kỳ 1935-36, khi bài hát ra đời, nhân loại đang đứng trước cuộc Thế chiến thứ hai sắp bùng nổ và cuộc khủng hoảng kinh tế đang ở độ trầm trọng. Khi tìm hiểu nguyên do và bản chất của hiện tượng “Chủ nhật buồn”, những luận văn “nặng ký” đã không quên điều đó.

Tuy nhiên, như mọi người đều nhận thấy, giai điệu đơn điệu, lặp đi lặp lại theo cung đô thứ của bài ca, đã thể hiện một cái gì đó đáng kể. Và quả thực, mỗi thời đại đều có một “bài ca chết người” của mình.

Chỉ vài năm sau khi bài thơ của Jávor László ra đời, “Chủ nhật buồn” – kèm giai điệu của Seress Rezső – đã được dịch ra gần 30 thứ tiếng; bản nhạc và những chiếc đĩa hát “Chủ nhật buồn” tràn ngập thị trường thế giới, gieo rắc không khí buồn đau, chết chóc khắp châu Âu, Mỹ, Phi và lan sang cả Trung Quốc…

Thành công của thi phẩm “Chủ nhật buồn” vượt xa mọi mong đợi. Cố nhiên, ngoài sự đau khổ của Jávor László, cần một ai khác phổ nhạc cho những vần thơ tang tóc đó. Ðó là Seress Rezső, một nhạc sĩ tự học, vụng về nhưng thiên tài : từ Quận VII bùn lầy nước đọng của thủ đô Budapest, ông đã có một bài ca được các cây đại thụ trong làng nhạc quốc tế xưng tụng.

Seress Rezső, nhạc sĩ thiên tài nhưng không biết nhạc lý

Seress chào đời năm 1899 trong một gia đình gốc Do Thái và thường được gọi với cái tên “Seress bé nhỏ” vì ông chỉ cao hơn 1m55 chút đỉnh. Cả đời chỉ chơi nhạc buổi tối ở Kulacs và Kispipa, hai tiệm ăn nhỏ và đầy khói thuốc lá ở Budapest, nơi đầu thập niên 30 từng là nơi gặp gỡ của tầng lớp tiểu thị dân nghèo khó.

Như hồi tưởng của người đương thời, chỉ ở giữa tiệm ăn họa chăng còn chút hơi ấm của chiếc lò sưởi gạch màu nâu, chứ khách khứa ngồi gần cửa ra vào vẫn phải mặc nguyên áo khoác vì lạnh lẽo. Hầu như thực khách không mấy khi thấy rõ Seress ngồi khuất sau chiếc dương cầm.

Miệng phì phép thuốc lá, giọng khản đặc, chỉ chơi dương cầm kiểu “mổ cò” với hai ngón của bàn tay phải, lần mò tìm nốt nhạc, vậy mà theo lời kể của người đương thời, hàng ngày, từ 6 giờ tối đến rạng sáng, Seress đã tạo nên một bầu không khí “bốc lửa” tại nơi ông chơi nhạc.

Otto Klemperer, nhạc trưởng lừng danh người Đức đã có lời nhận xét ngắn gọn về Seress : “Không phải nhạc sĩ – chỉ là thiên tài”. Chắc chắn như thế, vì trong 40 năm ròng rã của đời nghệ sĩ, Seress không hề biết viết, biết đọc bản nhạc, ông cũng không biết hát theo nghĩa thực của từ này.

Cách sáng tác của Seress cũng đặc biệt : vừa huýt sáo, ông vừa ngẫm nghĩ và khi được giai điệu nào “hợp lý”, ông nhờ người ghi lại thành bản nhạc. Thô sơ vậy nhưng Seress là tác giả của ít nhất 40 ca khúc đỉnh cao mà nhiều người Hungary cho rằng không tồi hơn, thậm chí, có thể còn hay hơn “Chủ nhật buồn” !

Vào thời điểm “Chủ nhật buồn” ra đời, báo chí đã viết về người nhạc sĩ như sau : “Ở nước ngoài, nếu một nhạc sĩ chỉ sáng tác được một phần tư số ca khúc được ưa thích so với Seress, thì người ấy hẳn phải sống vương giả, có nhà lầu, xe hơi, và có thể lựa chọn các hợp đồng phim ảnh. Còn Seress thì chơi dương cầm ở một quán nhỏ, thù lao “vương giả” mỗi tối là vài đồng và một bữa tối thanh đạm”.

Cho dù đã có rất nhiều tiền tác quyền trong các ngân hàng ngoại quốc, nhưng Seress không bao giờ đặt chân ra nước ngoài và cũng không bao giờ đụng chạm được đến những khoản tiền đó. Sau Ðệ nhị Thế chiến, Hungary về phe thua cuộc và số tiền của ông đã bị “đóng băng” với lý do… nước Hung phải bồi thường thiệt hại chiến tranh cho Đồng minh !

Không chỉ là tác giả phần nhạc của “Chủ nhật buồn”, Seress Rezső còn đặt lời hai cho ca khúc, biến bài hát từ một bản tình ca thành một tác phẩm với âm hưởng của ngày tận thế với những câu như: “Mùa thu tới và lá vàng rơi – Tình người chết rục trên đất này”.

Seress Rezső : Từng thoát chết trong gang tấc để rồi lại tự vẫn quyên sinh

Cảm hứng ấy được tạo bởi những trải nghiệm cá nhân : cuối Đệ nhị Thế chiến, vì nguồn gốc Do Thái của mình, Seress Rezső bị bắt vào trại tập trung và trong khoảnh khắc kinh hoàng, khi phải tự đào hố chôn mình, một sĩ quan Đức từng nghe ông hát “Chủ nhật buồn” tại Budapest trước đó vài năm đã cứu ông khỏi cái chết chắc chắn.

Những năm tháng sau đó dưới thời Cộng sản, cái tên Seress Rezső cũng bị đưa vào danh mục cấm vì chính quyền cho rằng các sáng tác của ông mang yếu tố độc hại, hơn nữa, theo cách nói thời bấy giờ, chúng “phục vụ cho chủ nghĩa đế quốc”.

Năm 1956, khi mấy trăm ngàn dân Hung di tản sau cuộc cách mạng mùa thu bị Liên Xô đàn áp, Seress đã có thể ra nước ngoài và bạn bè ông cũng khuyên nhà nhạc sĩ như vậy. Nhưng không gì khiến Seress rời nước Hung ! Ông quá yêu vô mảnh đất Budapest và trong 10 năm cuối đời, không bao giờ ông bước khỏi Quận VII nơi ông sinh sống và chơi nhạc.

Lúc sáu mươi chín tuổi, tháng 1/1968, khi biết mình lâm trọng bệnh, Seress đã tìm đến cái chết vào một ngày thứ Hai buồn bã bằng cách nhảy từ cửa sổ căn hộ ông sống, tại tầng 4 một tòa nhà. Cả đời bị ám ảnh bởi cái chết, bài ca do ông phổ nhạc và đặt một lời cũng là một “tình ca chết chóc”, vậy mà chính cái chết đã đưa Seress vào bất tử, như bản “Chủ nhật buồn” trước đó 35 năm.

Phiên bản tiếng Việt của Phạm Duy dựa theo bản tiếng Pháp

Không chỉ nổi tiếng trên thế giới, “Chủ nhật buồn” còn được biết đến ở Việt Nam rất sớm, từ đầu thập niên 50, qua lời Việt của nhạc sĩ Phạm Duy. Trong một hồi tưởng, nhạc sĩ cho biết trong thời gian du học ở Pháp, ông rất yêu những bản nhạc tình của một nữ nhạc sĩ Pháp đương thời và có soạn lời tiếng Việt cho một số bài của cô, trong đó, có bản “Chủ nhật buồn” mà Phạm Duy nghĩ là đã được phóng tác từ dân ca Hung-gia-lợi.

Ca từ của bản tiếng Việt, mặc dù, như lời Phạm Duy, là được phỏng theo bản tiếng Pháp, nhưng lại theo sát và phản ánh tinh thần của nguyên bản một cách tài tình và đáng phục : “Chủ nhật buồn, đi lê thê – Cầm một vòng hoa đê mê – Bước chân về với gian nhà – Với trái tim cùng nặng nề…”

Bài ca do Phạm Duy đặt lời được du nhập vào Việt Nam đúng lúc đất nước phân ly, lòng người tan nát và tao loạn. Như Phạm Duy nhận xét, “Chủ nhật buồn” có thể đã ảnh hưởng nhiều đến dòng nhạc tình nói về thân phận những cặp tình nhân yêu nhau trong cơn mê sảng và nhức nhối, với tâm thức có thể xa nhau (vĩnh viễn) bất cứ lúc nào, xuất hiện ở miền Nam cuối thập niên 50 thế kỷ trước.

Phạm Duy nhìn thấy ảnh hưởng và dấu ấn khá rõ ràng của “Chủ nhật buồn” trong “Lời buồn thánh”, một nhạc phẩm tân lãng mạn của Trịnh Công Sơn, hoặc trong nỗi buồn của ngày Chủ nhật mùa mưa ở ca khúc “Tuổi đá buồn” : “Trời còn làm mưa, mưa rơi mênh mang – Từng ngón tay buồn em mang em mang – Đi về giáo đường, ngày Chủ nhật buồn…”.

Ra đời cách đây gần 8 thế kỷ, cho đến nay, “Chủ nhật buồn” vẫn là nguồn cảm hứng cho nhiều ca sĩ, ban nhạc với những cách thể hiện khác nhau của bài hát. Mang tâm tình của một cá nhân (Jávor László), được thăng hoa bởi nét nhạc và tâm tự sầu cảm của Seress Rezső, “Chủ nhật buồn” xứng đáng là một ca khúc vượt thời gian của dòng nhạc tình quốc tế thế kỷ thứ XX!

Huỳnh Văn Yên post (Theo Hoàng Nguyễn)

LỜI BÀI HÁT

“CHỦ NHẬT BUỒN”

(lời Việt : Phạm Duy)

– Chủ nhật buồn

đi lê thê

cầm một vòng hoa đê mê

bước chân về với gian nhà

với trái tim co’n nặng nề

– xót xa gì ?

oán thương gì ?

đã biết nuôi hương chia ly

trót say mê

đã yêu thì dẫu vô duyên còn nặng thề

– ngồi một mình

nghe mưa rơi

mặc lệ tràn câu thiên thu

gió hiên ngoài

nhắc một loài dế giun hoài ru thương ru

ru ơi ru… hời

– Chủ nhật nào

tôi im hơi……

đợi chờ không nguôi ngoai

bước chân người

nhớ thương tôi !!!

đến với tôi thì muộn rồi………

– trước quan tài

khói hương mờ bốc lên như vạn ngàn lời

dẫu qua đời

mắt tôi cười vẫn đăm đăm nhìn về người

– hồn lìa rồi

nhưng anh ơi …..

tình còn nồng đôi con ngươi

nhắc cho ai biết cuối đời

có một người yêu không thôi

ơi hỡi ơi…… người ……

Mời các bạn ngge ca khúc này qua 2 nữ ca sĩ trình bày (một nhạc Pháp, một lời Việt)

http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=42in3J80JO

http://youtu.be/oswOfn5uMqg

Mục Lục Nhạc Lời Việt Phạm Duy

Trong khi dọn nhà tôi tìm được tài liệu này, các ca khúc của nhạc sĩ Phạm Duy được “Việt hóa” sắp phân loại theo thứ tự ABC. Xin post lên đây để các bạn nào yêu thích lời Việt Phạm Duy có thêm một tài liệu để tham khảo.

Đa số lời nhạc các bài nhạc ngoại quốc được “Việt hóa” có thể tìm thấy nơi những đường dẫn sau đây :

http://www.phamduy2010.com/04loiviet/
hay tại http://loivietphamduy.blogspot.com/ (là một trang tôi dùng để phân loại bài hát theo nhãn, từ thường dùng …)

Một bài viết khác rất thú vị của nhạc sĩ, kể về sự học nhạc từ nhạc Classic:

http://www.phamduy2010.com/02sokhao/10hoc_o_classic.php

Quế Phượng

CẢI CHÍNH VỀ MỘT

“NICK NAME”

Các bạn,

Hiện giờ bọn hacker thường vào những trang blog & website lấy những nickname để tung những tin bài không phải của chính những nickname này, để gửi đến các thân hữu. Như là một sự lừa đảo, “ném đá giấu tay”.

Trường hợp nickname Viet Nguyen trong những ngày gần đây đã gây hiểu lầm trong các bạn, vì tôi chỉ ký tên Nguyễn Việt trong những email qua nickname và địa chỉ  khaisang2002@…. Vì thế tôi xin cải chính, nếu các bạn có nhận được những tin bài qua email có tên Viet Nguyen và không phải địa chỉ nói trên, tức không phải những tin bài này do tôi post đi.

Xin chân thành kính báo.

Nguyễn Việt

LUẬT GIA TÌM VIỆC

Tôi LÊ VĂN CHẤN, Chứng chỉ hành nghề dịch vụ làm các thủ tục về thuế Số : 2010000007. Luật Gia, Cộng tác viên Trung tâm Tư vấn pháp luật số 01 Hội Luật gia Quận Gò Vấp, TP.HCM.

Nghề nghiệp : – Hỗ trợ nghiệp vụ hành chính Công ty – Tư vấn pháp luật.

Tìm việc làm, Thời gian : mỗi ngày 01 buỗi (từ thứ hai đến thứ sáu/tuần). Tiền công / tháng : theo thỏa thuận.

Địa chỉ : Luật Gia Lê Văn Chấn. 02 đường Nguyễn Văn Nghi, Phường 05, Quận Gò Vấp. ĐT: 0913608931 Email: levanchan99@yahoo.com

“Chú Tư Cầu” LÊ XUYÊN

Nhà văn LÊ XUYÊN

TIỂU THUYẾT GIA

VĂN CHƯƠNG NAM BỘ

Viên Linh

Ðược bạn ra đề tài viết về “đồng quê miền Nam” Lê Xuyên viết truyện đầu tiên trong đời : Chú Tư Cầu.

Nhà văn Lê Xuyên mất khoảng 21:30 ngày 2/3/2004 tại Sài Gòn, hai ngày sau một cuộc họp mặt tưởng niệm đã được diễn ra trọng thể tại một hội trường ở Hoa Kỳ, với di ảnh người quá cố và một bình hoa bày trên diễn đàn, cùng rất đông văn nghệ sĩ trí thức, bạn đồng nghiệpnăm xưa, và thân hữu độc giả hâm mộ, đã tới nhắc nhở về anh, kể chuyện về anh, trong không khí trang nghiêm mà ấm áp.

Diễn giả Võ Long Triều, nguyên chủ nhiệm nhật báo Ðại Dân Tộc mà Lê Xuyên là tổng thư ký Tòa soạn, vừa cất tiếng đọc bài tưởng niệm “Lê Xuyên ơi !…” thì nghẹn ngào, không đọc được nữa, khiến nhà thơ Ðỗ Quí Toàn phải đọc thay. Lần lượt lên phát biểu có tác giả Viên Linh, từng viết truyện dài cho tờ Dân Ý khi Lê Xuyên cũng làm tổng thư ký, và các nhà văn Thảo Trường, ông Hoài Sơn, ký giả Vũ Ánh…

Người viết bài này những năm trước 1975 đã bốn lần phỏng vấn Lê Xuyên, mỗi lần phỏng vấn theo một đề tài riêng, không kể những cuộc trò chuyện vô đề, lúc này lúc khác, khi ở tờ báo này, lúc ở tòa soạn khác, hay nơi quán xá, hội trường câu lạc bộ báo chí, v.v… Trong những lần đó, đề tài “Tác phẩm đầu tay” là thú vị nhất.

Trong nghiệp văn, cho dù nổi tiếng đến đâu, hậu vận ra sao mặc lòng, đứa con đầu đời của một nhà văn – tức là tác phẩm đầu tay của nhà văn đó – hầu như chiếm một chỗ lớn nhất, đẹp nhất, trong trí tưởng của người sáng tạo ra nó. Trường hợp vào nghề của Lê Xuyên rất đẹp. Mà tác phầm đầu tay của ông, có thể nói là hiếm hoi, lại là tác phẩm nổi tiếng nhất, quan trọng nhất của ông.

Câu hỏi được đưa cho ông là một lá thư đánh máy gửi đi. Và câu trả lời của Lê Xuyên là một hai tờ giấy viết tay, gửi lại.

Nhà văn Lê Xuyên nói về tác phẩm “Chú Tư cầu”

“Chú Tư Cầu, một chuyện tình kể trong bốn bức tường nhà giam, hễ nghe ai đá động tới là tôi không được mấy yên bụng.

“Ý kiến, cảm tưởng của tôi về tác phẩm đầu tay ? Thật là khó nói. Vì việc tôi vào nghề báo cũng như viết truyện dài đầu tiên đăng trên nhựt báo, bất quá cũng chỉ là một vấn đề số mạng.

“Ðành rằng hồi còn nhỏ, hồi còn đi học tôi cũng thích làm văn, làm thơ, nhưng quả tình tôi không ngờ có ngày mình lọt được vô nghề này. Truyện dài đầu tay của tôi là ‘Chú Tư Cầu’ đăng trên nhựt báo ‘Sài Gòn Mai.’ Ðang thất nghiệp, tôi được anh Vương Hữu Ðức (lúc bấy giờ là tổng thư ký tòa soạn nhựt báo Sài Gòn Mai) gọi tới để làm phụ với anh, và cũng chính anh Ðức đã bảo tôi viết cho tờ S.M. một truyện dài ‘đồng quê miền Nam.’ Có lẽ vì tin tưởng phần nào ở tôi, và chắc do khiếu ‘đánh hơi’ nhà nghề nên anh Ðức chỉ ‘hạ lịnh’ vỏn vẹn cho tôi như thế. Và tôi bắt đầu viết ‘Chú Tư Cầu.’

“Cũng may là hồi còn kẹt trong tù, tôi được mấy anh em ở miệt quê kể cho nghe rất nhiều câu chuyện sống với đầy đủ tình tiết (mà Chú Tư Cầu là một) và trước khi bị kẹt, có một thời gian tôi về ẩn náu tại miền Tây, nên chụp vô chuyện Chú Tư Cầu là tôi viết phăng tới liền, chớ nếu không, thì ‘tang gia bối rối’ biết bao nhiêu !

“Giả sử lúc bấy giờ anh Ðức bảo tôi viết truyện gián điệp hay truyện ma gì đó, tôi cũng viết như thường. Như vậy chẳng do ‘phần số,’ chẳng do ‘thiên định’ là gì ?

“Chưa hết. Sau này, khi tôi viết truyện thứ ba hay thứ tư gì đó, trong một lúc ‘tâm tình cởi mở’ với tôi, ông chủ nhiệm S.M. có tiết lộ rằng hồi tôi mới bắt đầu viết truyện ‘Chú Tư Cầu,’ có người mấy lần khuyên ông nên ‘cúp’ truyện này để thay thế vào một truyện khác, nhưng ông không nghe. (nhưng chắc có lúc ông gần xiêu lòng !) Lời tiết lộ nầy (tuy rất ‘vô hại’) cũng đủ làm cho tôi muốn đổ mồ hôi hột. Giả sử ông chủ nhiệm chịu nghe lời khuyến cáo ấy ? – thì làm gì có trọn truyện ‘Chú Tư Cầu’ – cái được gọi là ‘tác phẩm đầu tay’ của tôi ! Và làm gì còn có Lê Xuyên trên cõi đời này !

“Tất cả chỉ là một thứ hên xui khá toát mồ hôi lạnh đối với một kẻ sống về nghề văn, nghề báo. Bởi vậy, ngày nay, hễ nghe ai đá động đến chuyện ‘tác phẩm đầu tay’ là tôi không được mấy ‘yên trong bụng.’ Ðời tôi, tôi còn phải đương đầu rất nhiều với sự hên xui kia mà ! Và bộ hên hoài được sao ?”

Trong phần trả lời, nhà văn Lê Xuyên có nhắc tới mấy chữ “hồi còn kẹt trong tù.” Ðộc giả có thể không rõ lắm, nếu không tìm hiểu thêm về ông.

Lê Xuyên tên thật Lê Bình Tăng, sinh năm 1927 tại Cần Thơ, hoạt động cầm súng chống Pháp từ trước năm 20 tuổi.

Ở tuổi có ý thức chính trị, ông tham gia đảng phái, cùng hoạt động chung, ở chung phòng với một đảng viên khác rất nổi tiếng là Phạm Thái. Người sau này từng xuất bản tờ báo tranh đấu có tên Tự Quyết ở Sài Gòn. Một nhà cách mạng lão thành khác của đảng Ðại Việt, là ông Hoài Sơn, có lên Diễn Ðàn hôm 5/3/2004 kể rằng Lê Xuyên người thì gầy gò nhỏ bé, nặng có hơn bốn mươi mấy ký lô, nhưng “nhận định thời cuộc rất sắc bén.” Tuy vậy ông ít nói. “Nếu Phạm Thái nói không ngừng, anh em trong phòng gọi là ‘máy nói,’ thì Lê Xuyên bị gọi là ‘máy câm.’”

Lê Xuyên, vì hoạt động đảng phái, nên ở tù thời gia đình trị Đệ Nhất Cộng Hòa miền Nam. Mãi 1960 mới được thả. Một nhà văn nói nhiều có khi chỉ viết được những cuốn sách mỏng; còn Lê Xuyên đã sản xuất những cuốn sách khoảng bảy, tám trăm trang. Không có cuốn truyện nào của ông mỏng hơn bốn trăm trang cả. Chú Tư Cầu: 907 trang. Ðêm Không Cùng: 639 trang. Rặng Trâm Bầu: 419 trang. Vợ Thầy Hương: 496 trang. Vùng Bão Lửa: 543 trang.

Nhà Văn Lê Xuyên

Những Ngày Cuối Đời

– Văn Quang

Gần 10 giờ đêm 2/3/2004, chị Lê Xuyên điện thoại cho tôi báo tin anh Lê Xuyên vừa mất lúc 9 giờ 20, tức là cách đó nửa giờ. Lời chị kèm theo rất chân tình :

– Tôi gọi cho anh trước khi gọi cho nhà đòn.

Tôi hiểu ý chị và phải nói tôi hiểu từ lâu mới đúng. Gia đình anh chị trong hoàn cảnh sinh sống rất khó khăn chật vật, vì thế nên tôi đã dặn chị trước : nếu có chuyện gì cần chị cứ gọi cho tôi. Tôi không tin vào tôi mà tin vào tình yêu thương của bạn bè từ khắp nơi luôn sẵn sàng giúp đỡ Lê Xuyên nên hứa ngay : Chị cứ lo mọi việc cho tang lễ của anh, còn chuyện khác để anh em chúng tôi lo. Chị vui vẻ :

– Nếu thế tôi an tâm rồi.

Buông điện thoại, tôi hoàn toàn không ngạc nhiên trước cái tin buồn này. Từ hai năm nay, Lê Xuyên nằm một chỗ, có thể nói thẳng nằm đó chờ ngày “về với ông bà”. Một năm trước đây thôi, anh phải vào bệnh viện, chị cũng gọi cho tôi, chị cho tôi xem giấy “nhập viện” của anh và số tiền phải trả. Tôi cũng lại làm cái nhiệm vụ thông báo cho một số anh em ở nước ngoài để kiếm tiền trả bệnh viện. Không phải chỉ có riêng chúng tôi mà còn những người quen khác của anh, những người bạn đồng hương, những người học cùng trường cùng lớp, có cả những người không hề quen biết cũng xúm nhau vào chung lo. Hầu như ai cũng hiểu rằng ngày “ra đi” của anh không xa. Nhưng may mắn, anh vẫn còn qua được vài mùa xuân. Những lần sau này tôi đến thăm anh, anh nằm đó nhưng tỉnh táo, không nói chuyện được song hỏi nhiều điều, anh vẫn nhớ, vẫn hiểu. Khi anh gật đầu, thỉnh thoảng có được một nụ cười, đôi mắt ánh lên một niềm vui. Nhất là khi tôi cố gợi lại một vài câu chuyện vớ vẩn từ hồi xa xưa chúng tôi gặp nhau ở ngoài đường hoặc ở toà soạn một vài tờ báo.

Để cho anh được sống lại với những kỷ niệm cũ, tôi kể lại một buổi sáng sớm vào khoảng năm 1971-72, sau một đêm đánh chắn với vợ chồng ông chủ báo Kịch Ảnh đường Cống Quỳnh, tôi lái xe về nhà. Qua đường Lê Lai, tôi thấy Lê Xuyên cúi đầu đi trên hè phố. Tôi đậu xe sát lại, Lê Xuyên vẫn chưa thèm nhận ra là xe của ai. Tôi bóp còi, lúc đó anh mới ngước lên nhìn và toét miệng cười. Ít khi ông Lê Xuyên cười lắm. Tôi đẩy cửa xe, thò đầu ra hỏi :

– Ăn sáng chưa ?

– Chưa… gì hết trọi, có tiền đâu mà ăn.

– Lên đây, tôi đưa ông đi ăn sáng.

Leo lên xe, anh hỏi thẳng :

– Đêm qua được hay thua ?

– Được.

– Nhà không còn một xu, tui để tiền trong túi cũng hết luôn.

Tôi cười và hiểu cái sự “hết tiền trong túi” của anh dù mới lãnh lương. Móc trong cóp xe, tôi chia cho anh một nửa số tiền được bạc đêm hôm qua và dặn dò rất kỹ :

– Mang về toà soạn cất vào ngăn kéo để tiêu dần đấy.

– Ừ, tốt. Ông ăn sáng chưa, cho tôi đi với. Lâu rồi không được ăn đồ Tây.

Tôi cười :

– Ra Givral hay Brodard, ông thích chỗ nào.

– Đâu cũng được.

Chúng tôi ra Givral, sáng sớm tinh mơ chỉ có hai bàn có khách. Tôi gọi mì jambon là món “đặc sản” ở đây còn Lê Xuyên gọi omelette jambon ngồi nhai bỏm bẻm lấy làm thú vị lắm. Ăn xong tôi bảo ông có tiền rồi, lấy xe taxi về toà soạn, tôi phải về nhà thay quần áo rồi còn vào phải vào sở chào cờ vì hôm nay là sáng thứ hai. Lê Xuyên cười hì hì :

– Cả đời tôi chưa biết chào cờ là cái gì. Tôi chỉ chào ông chủ báo khi lần đầu tiên đến làm. Ngô Quân cũng thế mà Hồ Anh cũng thế.

Thỉnh thoảng tôi đưa bài đến báo Thời Thế, đôi khi vào buổi trưa, tôi lại rủ Lê Xuyên đi ăn trưa, hôm có tiền thì chui vào Chợ Lớn ăn cơm Tàu Bát Đạt. Có lần tôi rủ :

– Chúng tớ có cái phòng thuê ở trên lầu ba để thỉnh thoảng chơi phé, lấy tiền sâu gửi lại tay quản lý nên bất cứ lúc nào cần phòng là có ngay. Ông có muốn nằm lại đây một buổi không ?

Bản tính anh hiền lành nên hỏi lại :

– Nằm làm gì, tôi phải về làm việc chứ.

– Ông ngây thơ thật hay ngây thơ cụ, ông cứ lên với tôi là biết ngay “nằm làm gì”. Ông muốn Tàu cũng có mà ta cũng có.

Dĩ nhiên đến nước này thì ông bạn tôi phải hiểu, nhưng ông lắc đầu quầy quậy như anh con trai mới lớn bị bà mẹ bắt lấy vợ sớm. Tôi đưa ông trở lại toà soạn và xác nhận với anh em rằng “Lê Xuyên nó đứng đắn thật các ông ạ”. Một ông bạn tôi cãi : “Nó nhát chứ đứng đắn cái gì”. Thôi thì nhát cũng được, đứng đắn cũng được nhưng nó không giống tụi mình. Và một điều ai cũng nhận thấy là chưa bao giờ thấy mặt Lê Xuyên ở bất cứ cái phòng trà tiệm nhảy nào, ngay cả chỗ đông người anh cũng tránh. Tôi cứ lẩm cẩm ngồi nhắc lại từng chuyện khiến anh thú lắm, đó là lúc anh được sống với dĩ vãng.

Cũng vào khoảng thời gian đó, tờ báo Thời Thế có một loạt bài điều tra phóng sự về một vụ tham nhũng của một ông “Tướng Vùng”. Ông Tướng nhờ một Đại tá và một Trung tá gặp tôi để nhờ tôi can thiệp. Tôi chẳng biết trắng đen ra sao, nhưng đã có lời nhờ thì tôi làm. Tôi gọi điện thoại cho Lê Xuyên để nói với anh những gì tôi được nghe và đề nghị anh “thông cảm” cho ngưng loạt bài đó kẻo làm mất uy tín của một người chỉ huy vùng chiến thuật. Lê Xuyên nói ngay :

– Ông nói thì tôi nghe, nhưng để tôi thu xếp với anh em cho có đầu có đuôi.
Sau đó tôi điện thoại cho ông chủ báo Hồ Anh, lúc đó tôi mới biết đã có một hai ông nghị sĩ dân biểu can thiệp, nhưng Lê Xuyên vẫn cứ tiếp tục cho đăng loạt bài này. Ông Hồ Anh bảo tôi cứ nói chuyện với Lê Xuyên, nếu anh ấy chịu thì không có gì trở ngại.
Chỉ có thế thôi. Rất bất ngờ, hôm sau tôi đọc được hàng chữ trên trang nhất : “Vì có người bạn chúng tôi can thiệp nên chúng tôi thấy cần phải chấm dứt loạt phóng sự này”.

Quả thật đó là điều khiến tôi hết sức cảm động và ngay lúc đó tôi trở nên áy náy vì biết đâu đó là một sự thật mà công sức của anh phóng viên trẻ đã bỏ ra bị tôi “kỳ đà cản mũi”. Tôi gọi lại cho Lê Xuyên, anh chỉ cười :

– Thông cảm với phóng viên rồi, nó bảo ngưng cũng được, viết thế đủ rồi.

Tôi rủ anh đi ăn trưa, anh nói :

– Tôi vừa ngưng phóng sự mà đi ăn với ông thì khác gì đi ăn hối lộ. Thôi hôm nào ông được bạc mình lại đi ăn đồ Tây. Hôm nay tôi bận quá ông ạ.

Lê Xuyên cúp máy và tôi thì cứ ân hận, chẳng hiểu vì sao. Chuyện này còn có nhiều nhân chứng còn sống ở đâu đó, may ra họ còn nhớ. Tôi thì chẳng bao giờ quên.
Hơn mười năm sau, khi tôi ở trại cải tao ra, Thanh Thương Hoàng dẫn tôi đến thăm Lê Xuyên. Anh ngồi bán thuốc lá lẻ ở một góc phố (*). Chiếc quầy thuốc bé tẹo nhưng cũng đủ che hết tấm thân gầy gò của anh. Chúng tôi nhìn nhau và cùng cảm thông rất sâu sắc cái thân phận mình lúc này. Anh chớp mau mắt nói như để an ủi hơn mười hai năm tù của tôi :

– Trông ông vẫn cứ phong độ như ngày nào.

Tôi thẳng thừng thương bạn :

– Còn ông, trông chán bỏ mẹ. Đ… khóc được chứ…

Hai bàn tay bạn tôi run lên, lật bật đút chiếc chìa khoá vào ngăn tủ kính để mấy gói ba số năm bán lẻ (hồi đó ba số năm quý lắm) :

– Hút thuốc lá không ?

– Không, tớ hút thuốc lào quen rồi, về đây hút thứ nặng hơn mới đủ đô.

Thanh Thương Hoàng rủ sang bên con hẻm phía trước ăn sáng. Đó là con hẻm lối đi vào một ngôi chùa hay ngôi đình gì đó. Không có hủ tíu, Lê Xuyên phải chạy đi gọi ở một nơi nào quen bán chịu cho anh ở gần đó. Lê Xuyên trở lại với con người thật của anh. Vẫn hiền lành, cười tủm và chân quê. Phải nhìn thấy cái cười tủm của anh mới biết tại sao anh viết về những cuộc tình của những đôi trai gái đồng ruộng miền Nam hay đến như thế, láu cá đến như thế. Tôi nhủ thầm : Thằng cha này tâm ngẩm tầm ngầm mà ghê lắm đấy. Nó không nói mà chỉ viết nên nó viết được nhiều hơn mình. Chỉ có nó mới viết được những “dòng chảy ngầm” của trai gái thôn quê miền Nam thật đến thế và hấp dẫn đến thế. Lê Xuyên khác với một số những cây bút hoàn toàn Nam Bộ như Bình Nguyên Lộc và Sơn Nam ở chính cái “thật” của anh, tiểu thuyết của anh không màu mè, không lý luận, không khoác bộ áo nghiên cứu sưu tầm về phong tục tập quán dưới hình thức này hoặc dáng vẻ khác. Từng động tác, từng thái độ, từng lối ứng xử trong nhân vật của anh cứ như những con người thật lồ lộ đang ở trước mặt chúng ta vậy.

Trước mặt tôi, ông già Lê Xuyên vẫn còn cái hóm hỉnh riêng, nhưng bây giờ thì như anh nói : “..Đếch viết nữa”. Tôi hỏi không viết được hay không thích ? Câu trả lời của anh gọn lỏn : “Bỏ đi Tám”. Tôi không thể hiểu nổi ba chữ “bỏ đi Tám” mà anh dùng. Có một nỗi chua chát nào đó trong cái tâm sự thật của anh ? Đến cái thẻ chứng minh nhân dân anh cũng không muốn làm nên anh ở nàh anh mà anh không có tên trong sổ hộ khẩu, cứ như ở lậu, công dân lậu. Thái độ đó có đồng nghĩa với sự “Bỏ đi Tám” của anh không ? Chỉ có anh mới hiểu và bây giờ anh mang theo anh về thế giới bên kia.
Cách đây vài năm, tôi có viết một bài về Lê Xuyên và may mắn nhận được sự giúp đỡ thiết thực của khá nhiều bạn bè. Trong đó có một vài tờ báo muốn đăng lại những truyện dài của anh, tôi hỏi, anh chỉ lắc đầu: “Chẳng còn cuốn nào” và cả chị Lê Xuyên cũng không kiếm được cuốn nào cả.

Ba năm sau cùng, anh không còn sức để ngồi bán thuốc lá lẻ nữa. Thỉnh thoảng tôi và Nguyễn Thuỵ Long đến thăm anh, cố dìu anh ra quán cà phê cuối ngõ ngồi lai rai tâm sự vặt. Hai năm sau này thì dù chúng tôi có cố lôi anh đi cũng không nổi nữa. Anh như cái bóng trong góc tối của gian phòng chật chội vây quanh bởi hàng trăm thứ lỉnh kỉnh nào bàn ghế, chai lọ, giường tủ. Chỉ có cô con gái út săn sóc cho anh, bà vợ và các con lớn của anh vất vả với công việc hàng ngày. Cái chết đến từ từ theo từng ngày giờ buồn tênh, dường như anh chán cả cái sống và cái chết, không thèm chú ý đến nó nữa.

Khi tôi đến với anh lần cuối là lúc các con anh đang thay quần áo cho anh trước khi nhập quan. Cái thân hình gầy gò trần trụi của anh phơi ra, tất cả chỉ còn có thế. Tôi chuyển ngay cho chị số tiền mà tôi mới gửi e-mail tối hôm qua thông tin về sự ra đi của anh, nhanh chóng được đáp ứng. Các bạn ở Virginia, San Jose, Santa Ana yêu cầu tôi chuyển tiền đến lo tang lễ cho anh. Một người bạn đưa ngay đến 2 triệu và mang đến vòng hoa đầu tiên của bạn bè Sài Gòn. Hôm sau chị Lê Xuyên với bà con đến phúng :

– Có các bác bạn văn của nhà tôi giúp nên tôi mạnh tay làm đủ thứ việc cho nhà tôi. Mạnh vì gạo bạo vì tiền, có phải không các bác ? Không có bạn bè, tôi chẳng còn biết xoay sở ra sao.

Tôi nói với chị :

– Chắc sẽ còn nữa, có một số anh em chưa gửi về kịp, xin chị an tâm đi tiếp con đường ai cũng phải đi.

Buổi chiều ngày 5/3, đúng hai giờ lễ động quan bắt đầu, giữa trời nắng chang chang, chúng tôi đưa người quá cố đến nghĩa trang Bình Hưng Hoà. Có rất nhiều người bên hè phố lặng lẽ tiễn đưa anh. Đám tang nhà văn Lê Xuyên không ồn ào như đám tang của những nhà nghệ sĩ mà ở đây người ta cho rằng đó là những “nhà nghệ sĩ lớn”, nhưng những con người thầm lặng ấy đưa tiễn anh với tất cả tấm lòng mình. Họ không nói gì, không có kèn saxo như trong đám tang Trịnh Công Sơn, không có những giọt nước mắt dài ngắn thở than của những danh ca nghệ sĩ, không có những bài “điếu văn” lâm ly bi đát, nhưng đám tang Lê Xuyên đầy ắp những tình yêu thương từ xa xưa đọng lại, từ bốn phương, tám hướng lãng đãng bay về phủ kín khung trời Sài Gòn.

(*) Xe thuốc lá đẩy nằm trên đường Nguyễn Tri Phương Q10

(chú thích motthoisaigon)

Về nhà văn lão thành Lê Xuyên

– Nguyễn Việt

Tháng 3/2011 là tháng tròn 7 năm ngày mất của nhà văn lão thành Lê Xuyên. Và khi nhắc đến tên ông, không kể giới văn nghệ sĩ, ký giả còn đa số mọi người dân miền Nam khi xưa và đến bây giờ hình như từ trong nước ra đến hải ngoại đều biết đến tên ông qua tác phẩm “Chú Tư Cầu”, một giọng văn giản dị nhưng xúc tích nhiều ngôn từ, ngữ điệu của người miệt đồng bằng sông Cửu Long.

Tôi nhớ mãi một kỷ niệm khó quên, do là người trong ban biên tập của nhật báo Trắng Đen, phụ trách trang trong tức trách nhiệm với những bài vở chuyên mục và cả những feuilleton (tiểu thuyết trường thiên tải đăng mỗi ngày) từ các nhà văn tên tuổi bấy giờ như Trần Đức Lai, Vị Thủy, Lê Xuyên, bà Lan Phương, Trương Đạm Thủy, Kim Sơn, Từ Khánh Phụng, Thương Lan v.v…

Nhà văn Lê Xuyên lúc đó đang làm tổng biên tập bên báo Dân Ý (có trụ sở tòa soạn trên đường Gia Long, đối diện rạp long Phụng) nhưng báo nào mời ông viết feuilleton ông cũng gật đầu cái rẹt. Tính ra, lúc đó mỗi ngày nhà văn Lê Xuyên phải nạp bài cho 3, 4 tờ báo và còn chịu trách nhiệm bài vở bên tờ Dân Ý. Nhiều người nói ông phát tài, với chức vụ và các feuilleton đó, mỗi tháng ông lãnh lương cũng gần cả trăm ngàn. Nên biết với tên tuổi của nhà văn Lê Xuyên, không báo nào trả tiền tác quyền dưới 15 ngàn/tháng (những nhà văn khác chỉ ở khoảng 10 đến 12 ngàn) mà vàng lúc đó chỉ trên 30 ngàn/lượng. Vậy mà ông vẫn đi chiếc vespa cà tang “thời Bảo Đại còn ở truồng tắm mưa” (theo lời dí dỏm của các đồng nghiệp với ông).

Ông chủ báo Trắng Đen giao nhiệm vụ cho tôi, người phụ trách các feuilleton “không để chừa trắng tiểu thuyết của ai với lời cáo lỗi : tác giả bị bệnh bất ngờ, xin cáo lỗi tạm ngưng 1 kỳ”. Ông chủ báo còn nhấn mạnh, nhất là những tiểu thuyết đang “ăn khách” của Trần Đức Lai, Lê Xuyên.

Chính vì lẽ đó, đôi khi có nhà văn bị cảm cúm thật, đôi khi vì quá mệt  mỏi bởi các bài vở khác không còn thời gian… viết. Nhà văn Lê Xuyên thì thường xuyên, nói theo ngôn từ hiện đại ngày nay là bị quá tải, nên luôn luôn trễ giờ hay quên “nộp bài” cho báo. Tôi phải ngồi nặn… thêm khúc không có bài để không “cáo lỗi cùng bạn đọc”. Nhưng mình đâu phải cha đẻ cốt truyện, cho nên những đoạn văn ấy chỉ dám tả cảnh, hay trở lại hồi tưởng v.v… cho trang báo lúc nào cũng đầy chữ. Mà qua bên báo Dân Ý hối ông nộp cũng không xong, đành phải thất lễ.

Một hôm nhà văn Lê Xuyên – sau khi quên nộp bài – ông đến không như những nhà văn khác với bộ mặt giận dỗi – một phần do tự ái, bởi những báo khác nếu không nộp bài kịp giờ thì họ chừa trắng – ông đến lại cười cười nói với tôi “chú mày muốn chia lương với tao sao ?” biết câu nói đùa, nhưng tôi vẫn phải thanh minh “ông chủ báo không cho em để trắng tiểu thuyết của ai, qua hối anh viết cũng không xong, đành viết theo kiểu vô thưởng vô phạt nhằm trám chỗ chờ anh giao bài tiếp thôi mà”. Nhà văn Lê Xuyên, vẫn nụ cười nhân hậu nói : “Ừ để tao cố gắng giao bài cho chú mày đều đặn”.

Tính nhà văn Lê Xuyên là như vậy, và nghề viết feuilleton cũng thường gặp những trường hợp này.

Lê Hoàng Nguyễn (tổng hợp)