THÁI THANH DIVA MỘT THỜI SÀI GÒN

ĐIỀU ÍT BIẾT VỀ THÁI THANH 

DIVA CỦA SÀI GÒN MỘT THUỞ

Thái Thanh vốn là con nhà nòi âm nhạc, chị gái là ca sĩ Thái Hằng, anh rể là nhạc sĩ Phạm Duy, anh trai là nhạc sĩ Phạm Đình Chương, con gái là ca sĩ Ý Lan, nhưng danh ca Thái Thanh cho đến nay dù tóc đã chuyển màu trắng cước vẫn chẳng hề bị chìm lút giữa những nghệ sĩ nổi tiếng trong đại gia đình mình.

Biết hát nhờ nhạc phẩm của Phạm Duy

Gia đình nữ danh ca Thái Thanh vốn là gia đình nòi âm nhạc ở Hà thành xưa. Thái Thanh là thứ nữ của ông Phạm Đình Phụng với người vợ hai. Người vợ đầu của ông Phạm Đình Phụng sinh được 2 người con là Phạm Đình Sỹ và Phạm Đình Viêm. Người vợ thứ hai sinh ra Phạm Thị Quang Thái (ca sĩ Thái Hằng – vợ nhạc sĩ Phạm Duy), nhạc sĩ Phạm Đình Chương và con gái út Phạm Thị Băng Thanh (tức danh ca Thái Thanh). Thái Thanh còn một người chị gái lớn, sinh trước ca sĩ Thái Hằng, nhưng không may đã trúng bom chết khi còn nhỏ.

Song thân của danh ca Thái Thanh đều là những người rất sành nhạc cổ. Thân phụ của Thái Thanh vốn chơi đàn nguyệt, còn thân mẫu chơi đàn tranh và đàn tỳ bà hay có tiếng ở đất Bắc. Nên tất cả anh em của Thái Thanh đều ngấm máu văn nghệ sĩ từ khi còn nhỏ.

Quê ngoại của Thái Thanh ở Sơn Tây, quê nội ở ngay Hà Nội. Thái Thanh chào đời năm 1934 tại làng Bạch Mai, Hà Nội. Năm 1946, 12 tuổi, Thái Thanh đã được ông bà Phạm Đình Phụng đưa theo cùng các anh chị lên Sơn Tây tản cư. Cũng tại nơi đây, người chị đầu của Thái Thanh đã bị trúng bom tử nạn. Ông bà Phạm Đình Phụng lại đưa con chạy về xuôi, mở một quán phở đặt tên là Thăng Long.

Tại quán Thăng Long này, các văn nghệ sĩ kháng chiến thường dừng chân, ăn phở và nghe nhạc. Chị em Phạm Đình Chương (nghệ danh Hoài Bắc), Phạm Thị Quang Thái (nghệ danh Thái Hằng) và Phạm Thị Băng Thanh (nghệ danh Thái Thanh) thường biểu diễn ngay tại quán Thăng Long. Khách đến rất vui vì được thưởng thức “cây nhà lá vườn”.

Đầu năm 1949, anh chị em Thăng Long gia nhập các ban văn nghệ quân đội của liên khu IV. Quán Thăng Long dời về chợ Neo (Thanh Hóa). Tại đây, Thái Hằng kết hôn với Phạm Duy và hành trình âm nhạc của gia đình từ nay nảy nở thêm những tài năng mới, với Duy Quang là con đầu lòng sinh năm 1951, và tiếp theo là các con Duy Cường, Thái Hiền, Thái Thảo.

Chuyện Thái Hằng gặp gỡ và nên vợ chồng với nhạc sĩ Phạm Duy không chỉ là một bước ngoặt lớn với nữ ca sĩ nổi tiếng hi sinh cho chồng con này, mà cũng là dấu mốc quan trọng trong cuộc đời danh ca Thái Thanh.

Thái Thanh bắt đầu hát từ năm 13, 14 tuổi. Đến giờ, nữ danh ca không còn nhớ rõ bài hát đầu tiên mà mình trình diễn là bài nào nhưng chắc chắn là một bài hát của Phạm Duy. Lúc đó, nhạc sĩ Phạm Duy đang theo đuổi Thái Hằng nên thường dùng Thái Thanh làm cái cớ lấy điểm với chị Thái Hằng. Mà Phạm Duy nổi tiếng với tài sáng tác, nên chỉ nghĩ ra cách lấy điểm nhanh nhất và hiệu quả nhất là qua con đường âm nhạc.

Phạm Duy hơn Thái Thanh chục tuổi, còn Thái Hằng hơn Thái Thanh 7 tuổi. Khi anh rể tương lai chinh phục chị gái, Thái Thanh trở thành cầu nối cho Phạm Duy. Hồi đó, có bài “Dòng sông Xanh” nhạc ngoại quốc, lời Việt rất nổi tiếng. Phạm Duy đã đặt lời Việt cho bài “Dòng sông Xanh” cho cô em gái Thái Thanh bé xíu hát để lấy điểm với cô chị Thái Hằng. Năm 1948, Thái Hằng kết hôn với Phạm Duy. Nhạc sĩ Phạm Duy chính thức trở thành người một nhà với Thái Thanh. Chẳng biết Phạm Duy và Thái Hằng nên duyên vì những lẽ gì, nhưng chắc hẳn có một phần công lớn của danh ca Thái Thanh.

Từ sau khi hát bài “Dòng sông Xanh”, Thái Thanh đã cùng chị Thái Hằng và anh trai Phạm Đình Chương đi biểu diễn ở quân khu 4. Lần đầu tiên Thái Thanh hát cho công chúng nghe là ở một vùng quê những ngày tản cư kháng chiến. Khi đó, luôn có những ban nhạc hát cho công chúng ở vùng quê nghe.

Lên sân khấu ở tuổi 14, còn bé xíu mà đứng trước đông đảo bà con, nên Thái Thanh cũng sợ lắm. Nhưng sau khi cất tiếng hát, thì tiếng hát, âm nhạc không những làm Thái Thanh tan biến mọi nỗi sợ mà còn cảm thấy hứng khởi, hạnh phúc, vì lúc đó, Thái Thanh thấy mình vinh dự được đứng trong ban hợp ca gồm các anh các chị như Hoài Trung, Hoài Bắc, Thái Hằng, những thành viên của ban hợp ca “Thăng Long”.

May mắn cho Thái Thanh là song thân của cô đều là nghệ sĩ, yêu âm nhạc nên không ngăn cấm con cái theo nghiệp “xướng ca vô loài”. Các cụ chỉ dặn con nhất định phải học hành trước đã, đàn hát là chuyện phụ thôi, nhưng kể từ năm 1950, Thái Thanh đã lựa chọn đi theo con đường ca hát.

Tên tuổi của Thái Thanh gắn liền với những bản nhạc của Phạm Duy. Kể từ bài “Dòng sông Xanh”, Phạm Duy đặt lời cho Thái Thanh hát, thì Phạm Duy đã biết giọng của Thái Thanh sinh ra là để hát những ca khúc do ông sáng tác. Cũng có người cho rằng, Phạm Duy vì yêu quý giọng hát của Thái Thanh nên đã sáng tác nhiều bài hát hợp với giọng của Thái Thanh.

Trải qua 60 năm, Phạm Duy vẫn khẳng định: trong những người hát nhạc Phạm Duy, ông ưng nhất là Thái Thanh, Duy Quang và sau này có Đức Tuấn. Chỉ có Thái Thanh mới đủ khả năng nâng bổng nhạc của Phạm Duy lên và chỉ có nhạc của Phạm Duy mới đáng để Thái Thanh hát. Nhiều ca khúc của Phạm Duy được Thái Thanh thể hiện đúng chất và đúng tầm hơn hẳn những ca sĩ khác cùng thời – đó là nhận xét của một người làm chuyên môn bỏ công nghiên cứu về nhạc Phạm Duy và tiếng hát Thái Thanh.

Thái Thanh có biệt tài “phiêu” cũng với những ca khúc của Phạm Duy. Có những nhạc phẩm của Phạm Duy, Thái Thanh tự ý đổi ca từ khi lên sân khấu, nhưng nhạc sĩ Phạm Duy phải công nhận điều đó làm cho bản nhạc của ông bỗng mang một chút “duyên lạ”.

Như nhạc phẩm “Cho nhau”, Phạm Duy viết : “Cho nhau ngòi bút cùn trơ – Cho nhau, cho những câu thơ tàn mùa – Cho nốt đêm mơ về già”. Thái Thanh lại hát thành : “Cho nhau ngòi bút còn lưa…”. “Lưa” là một từ cổ, có nghĩa là còn sót lại, nhưng mang một âm thanh u hoài, luyến lưu tiếc nuối. Như trong ca dao Bình Trị Thiên vẫn có câu hát đẫm buồn : “Trăm năm dù lỗi hẹn hò – Cây đa bến – Cô con đò vắng đưa – Cây đa bến Cô còn lưa – Con đò đã khác năm xưa tê rồi”.

Nên từ “còn lưa” đã đẩy ca khúc “Cho nhau” về một cõi xa xưa đầy u hoài, luyến tiếc, để lại một dư âm da diết trong cảm nhận về ngôn từ trong lòng thính giả. Nhờ thế mà chữ tình trong “Cho nhau” trở nên lai láng, mơ hồ về quá vãng, còn day dứt mãi trong lòng tình nhân chứ không còn xao xác, tận cùng như “ngòi bút còn trơ”. Nên dù vậy, Phạm Duy lưu ý không chỉ nhắc nhớ một câu chuyện thú vị trong bài hát chứ chưa hề trách cô em vợ một tiếng nào. Mà vì tình “còn lưa” nên Thái Thanh lại hát câu : “Cho nốt đêm mơ về già” thành “Cho nối đêm mơ về già”, sâu nặng và thủy chung, như cứu rỗi hai linh hồn chưa bao giờ an lạc vì trót nhớ thương, tình lỡ.

Phạm Duy viết : “Cho nhau thù oán hờn ghen – Cho nhau cho cõi âm ty một miền”, Thái Thanh lại hát thành : “Cho nhau cho nỗi âm ty một miền”. Vô tình mà như hữu ý, vì từ “cõi” như là một ý niệm hiện hữu về không gian, như xa anh em về cõi chết, tưởng như “cõi âm ty” rất bao la nhưng thật ra chết là hết có còn vấn vương gì.

Cho em “nỗi âm ty”, từ “nỗi” dùng để diễn tả tâm trạng con người, con người tưởng như không thể sánh được với cả một “cõi” không gian nhưng nỗi lòng người lại bao la đến vô hình. “Nỗi âm ty” là sự chết đang tồn tại trong thực thể còn đang sống. Chính cái “phiêu”, cái sáng tạo rất duyên dáng của Thái Thanh đã nâng những bài hát mà Thái Thanh thể hiện, khiến cùng một nhạc phẩm, nhưng dưới sự thể hiện của Thái Thanh luôn ở tầm rất khác so với các ca sĩ cùng thời.

Thái Thanh được cho là một giọng hát “vượt thời gian”, từng bị dư luận vẽ ra đủ thứ giai thoại về bí quyết học nhạc. Có dư luận nói, Thái Thanh hát hay như thế nhờ chui đầu vào chum để tập phát âm. Lẽ thật, giọng hát Thái Thanh sống mãi vì hai điều: Thái Thanh hát với tình yêu âm nhạc và cháy hết mình khi đứng trước khán giả.

Khi còn nhỏ, Thái Thanh không theo học nhạc ở trường lớp nào. Nhạc lý cũng như là xướng âm, Thái Thanh phải đặt mua sách từ bên Pháp, theo đó tự học, có gì khó thì hỏi nhạc sĩ Phạm Đình Chương. Phạm Đình Chương cũng chủ yếu là tự học rồi từ vốn kiến thức đó lại trở thành thầy của em gái.

Phạm Đình Chương có lần nói : “Cô có cái đặc biệt là trước khi tôi dậy thì cô đã biết rồi”. Thái Thanh có được giọng ca sống mãi với thời gian và vẻ đẹp khiến đàn ông không thể không ngoái nhìn. Có lần ca sĩ Khánh Ly trong dịp hội ngộ Thái Thanh đã nắm bàn tay đẹp có tiếng của Thái Thanh nói: “Nếu cháu là chồng của cô, cháu đành phải để cô đi hát trước khán giả, nhưng cháu sẽ giữ hai bàn tay cô ở lại nhà, cháu không cho ai được nhìn hai bàn tay ấy khi cô hát”.

Danh ca, một người phụ nữ và một người mẹ

Nhớ lần ca sĩ Ý Lan trở lại hát tại Hà Nội trong một đêm nhạc tại Nhà hát Lớn, ca sĩ Ý Lan đã tâm sự, đây là nơi Ý Lan nhất định phải tìm về, vì đó là khung trời kỷ niệm của danh ca Thái Thanh – mẹ cô và tài tử Lê Quỳnh – cha cô. Dù sau này, Thái Thanh và Lê Quỳnh không còn bên nhau, nhưng mong ước được một lần quay lại khung trời kỷ niệm, nơi bắt đầu tình yêu của hai người mãi mãi là ước mơ của tài tử Lê Quỳnh.

Chính tại Nhà hát Lớn, trong một buổi biểu diễn của Thái Thanh, tài tử Lê Quỳnh khi đó còn chưa nổi danh đã phải trốn vé để vào nghe giọng hát mà mình vốn hằng ái mộ, để rồi sau đó bắt đầu một mối duyên đẹp, dù mối duyên đó không trọn vẹn đến cuối đường.

Thái Thanh lập gia đình với Lê Quỳnh năm 1956 và sinh liên tiếp 5 người con, 3 gái, 2 trai. Đó là: Ý Lan sinh năm 1957, Lê Việt 1958, Quỳnh Dao tức Quỳnh Hương 1960, Thanh Loan 1962 và Lê Đại 1964. Cậu út Lê Đại nhiều lần “chê” mẹ là sinh nhiều quá, “y như gái Tầu” vậy. Lê Đại cũng là người kém may mắn nhất trong 5 chị em: khi ra đời khỏe mạnh, nhưng Lê Đại bị bệnh sốt tê liệt từ lúc 8 tháng. Tuy sống sót nhưng Lê Đại bị liệt nửa thân dưới.

Thái Thanh được biết đến là nữ danh ca có ảnh hưởng lớn ở Sài Gòn trước năm 1975 nhưng cũng là một người mẹ hết mình vì gia đình. Năm 4 tuổi, Lê Đại bị ốm, được tổ chức Terre Des Hommes đưa qua nước Ý chữa trị 3 năm liền và năm 1971, Lê Đại trở về Việt Nam khi 7 tuổi. Từ khi sang Mỹ, Thái Thanh đảm đương trách nhiệm làm mẹ với rất nhiều nghị lực.

Thái Thanh tập lái xe dù không thích thú chút nào, nhưng phải tập ngay để có thể hàng ngày đưa đón Lê Đại đi học. Sau 2 năm học tại College Golden West, Lê Đại đã được vào đại học Long Beach. Sự kiên trì và nhẫn nại của bà mẹ Thái Thanh đã giúp Lê Đại (nay là Michael Đại Lê) tự tin hơn, yêu đời hơn. Lê Đại tốt nghiệp đại học năm 1996. Giờ Lê Đại đã đi làm, sống tự lập thoải mái trong một căn hộ riêng gần trường và rất ngưỡng mộ mẹ. Khi sức khỏe tốt, mỗi tuần, Thái Thanh đều đến thăm nom con trai, mang thêm vài món ăn Việt Nam nấu sẵn cho cậu út.

Thái Thanh không chỉ vất vả với Lê Đại. Khi cô bé Thanh Loan sang Mỹ thì cũng là lúc cô bắt đầu bị một dạng bệnh trầm cảm. Thái Thanh một lần nữa lại khổ đau cùng cực trước số phận khắt khe. Trong thời gian tìm hiểu về bệnh trạng của Thanh Loan, biết con không học hành bình thường như các anh chị em được, Thái Thanh đã cố gắng dìu dắt con gái, đi làm những việc thiện nguyện, mong con tìm được niềm vui sống…

Nhưng bệnh tình Thanh Loan cứ nặng dần, sau cùng, Thái Thanh đành phải nghe lời bác sĩ và các bạn đồng cảnh ngộ, đưa con vào một bệnh viện chữa trị. Nhưng Thái Thanh vẫn kiên trì phấn đấu với phương tiện và hoàn cảnh của mình để giúp đỡ con yêu quay trở lại với cuộc sống. Vai trò làm mẹ của 2 con bị bệnh nặng cũng lại đòi hỏi ở Thái Thanh một thứ nghị lực bằng “thép cứng” cùng sự kiên trì lớn lao. Với hoàn cảnh như vậy, những đức tính phi thường nơi người mẹ được tôi luyện đã giúp Thái Thanh được con cái yêu kính.

Sống xa Lê Quỳnh từ năm 1965, Thái Thanh một mình đảm đương vai trò vừa là mẹ, vừa thay cha trong việc nuôi dạy con cái. Khi dịu dàng, lúc nghiêm khắc, Thái Thanh luôn mong các con có được căn bản vững chắc về văn hóa và đạo đức, để mai sau trở thành những Con Người có thể viết hoa.

Dù các con của Thái Thanh đều có giọng ca thiên phú, nhất là Ý Lan và Quỳnh Hương, nhưng khi Ý Lan còn nhỏ, Thái Thanh nhất quyết không cho con theo nghề ca hát. Thái Thanh buộc con phải học hành như bao người khác. Nhưng dường như là số phận, sau này Ý Lan đi làm, lấy chồng rồi mới bước vào nghiệp xướng ca và vẫn nổi tiếng dù bước vào nghề rất muộn.

Ý Lan luôn coi mẹ là thần tượng trong cuộc sống cũng như trong âm nhạc, như Ý Lan đã tâm sự: “Mẹ tôi là một người đàn bà tình cảm và rất can đảm. Suốt thời thơ ấu cho đến khi trưởng thành, hình ảnh của mẹ Thái Thanh âu yếm, chăm sóc và yêu thương các con đã ảnh hưởng đến tôi rất nhiều khi tôi làm mẹ. Tình cảm thiêng liêng của mẹ dành cho tôi là niềm hạnh phúc và cả sự may mắn vô bờ bến”.

Sự nổi tiếng của bố Lê Quỳnh và mẹ Thái Thanh là cả một gia tài dành riêng cho con cái. Ý Lan trở thành ca sĩ như ngày hôm nay là nhờ có cả hai yếu tố quan trọng mà bố mẹ đã để lại trong dòng máu của Ý Lan. Cô tâm sự: “Tôi có tiếng hát và kỹ thuật hát thừa hưởng từ mẹ, còn kỹ thuật trình diễn được thừa hưởng từ bố”. Ý Lan cho đây là điều may mắn, chứ làm sao có thể nghĩ là một áp lực cho cuộc sống của mình.

Đối với riêng tình phụ tử và mẫu tử thì lúc nào gia đình Ý Lan cũng có sự yên ấm. Bố mẹ Ý Lan đã không còn sống chung với nhau từ khi Ý Lan 8 tuổi. Tuy nhiên, bố mẹ vẫn rất quý nhau và trân trọng nhau, cho nên Ý Lan và các em trong gia đình đã quen một nếp sống cố định. Còn về tính tình, có những lúc bố mẹ uốn nắn các con để theo nề nếp căn bản nhưng luôn luôn đi đôi với tình cảm nhẹ nhàng.

Ngoài đời thường, Thái Thanh cũng là một người rất đỗi đàn bà. Chúng ta quen hình dung Thái Thanh trên sàn diễn, khi đang hát, hoặc qua những đĩa, băng nhạc. Chúng ta thường nhớ đến Thái Thanh như một đệ nhất và danh ca và quên mất Thái Thanh trong đời thường như một bà mẹ, một người nội trợ thích nấu ăn, một phụ nữ thích mặc đẹp, ăn ngon, kể cả ăn quà vặt.

Khi 70 tuổi, Thái Thanh vẫn cần mẫn làm các món dưa chua, củ cải ngâm nước mắm, kho cá thu, làm thịt đông… Thái Thanh vẫn say sưa kể về cách làm các món ăn “Bắc Kỳ chính cống”. Cũng như khi đứng trên sân khấu, Thái Thanh dồn hết mình cho âm nhạc thì khi nấu nướng, toàn bộ con người bà, thân, trí và tâm. Thái Thanh đều chú tâm vào chuyện nấu nướng y như khi hát vậy.

Như Thái Thanh tâm sự về cách ứng xử với cây hoa lan : “Cư xử với cây khó lắm, nhất là hoa lan, không như cư xử với người đâu. Nếu mình không chăm sóc tử tế, không khéo, không làm đúng những gì mình phải làm, thì cây nó bỏ đi. Còn với người, người ta sẵn sàng chịu đựng nhau, đôi khi người ta giả dối dể vẫn liên lạc với nhau vì những điều gì đó. Còn với cây, mình có yêu cây thì cây mới ở lại với mình”. (Trí Huân theo Đang yêu)

– Nghe và đọc thêm : trên “Một thời Sài Gòn” ngày 19/3/2011. Mời bấm vào đường dẫn : Nữ ca sĩ THÁI THANH

– Danh Ca Thái Thanh 80 năm cuộc đời vẫn hát

https://youtu.be/JIk49JzPWHE

Yên Huỳnh chuyển tiếp

HOÀNG ANH TUẤN :

ĐẠO DIỄN HAY NHÀ THƠ ?

“Anh đã gặp em một lần duy nhất

Đà Lạt em, Đà Lạt vẫn của anh…”

Hoàng Anh Tuấn sinh năm 1932 tại Hà Nội, khi mới bắt đầu học tiểu học, thân phụ ông phải đổi đi làm việc tại Vinh, gởi ông lại nhà ông bác để đi học. Ông theo học tại trường Dòng Puginier ở Hà Nội, một trường đạo nổi tiếng có kỷ luật và nghiêm khắc.

Năm 1943, phi cơ Nhật bắt dầu dội bom Hà Nội, thân phụ ông bỏ việc ở Vinh, về Hà Nội mang gia đình chạy loạn về Hưng Yên, một tỉnh lỵ êm đềm ở xa Hà Nội. Trong lúc phong trào kháng chiến chống Pháp lên cao, Hoàng Anh Tuấn còn nhỏ nhưng cũng ra khu và học trường trung học Nguyễn Huệ tại làng Sêu thuộc Khu 3 gần Hà Nội và tham gia toán du kích Đống Đa, nhưng sau một thời gian, ông hay thắc mắc về Mao Trạch Đông, bị trù dập, vỡ mộng đi kháng chiến nên bỏ về Hà Nội.

Ông kết bạn với họa sĩ Duy Thanh, bắt đầu sáng tác thơ văn. Năm 14 tuổi, ông có bài thơ đầu tay đăng trên báo Tiểu Thuyết Thứ Bảy của Nhà xuất bản Tân Dân ở Hà Nội.

Năm 16 tuổi, khi chưa học xong trung học, gia đình cho ông sang Pháp du học và trong thời gian ở thành phố Nice, ông đã gặp nhà thơ Nguyên Sa (Trần Bích Lan) khi ấy từ Paris về nghỉ hè. Nguyên Sa đã rủ ông về Paris và tại đây ông đã theo học Trường Điện ảnh IDHEC (Institut Des Hautes Etudes Cinémato- graphiques).

Năm 1958, ông về nước làm đạo diễn cho hãng phim Alpha ở Sài gòn rồi chuyển sang viết cho các báo như Đồng Nai và Tiền Tuyến, các tạp chí như Hiện Đại. Từ năm 1965 đến năm 1974, ông làm giám đốc của Đài phát thanh Đà Lạt. Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, ông học tập cải tạo 2 năm ở trại Phan Đăng Lưu rồi được trả tự do, sống vất vưởng ở Sài gòn thêm 2 năm nữa trước khi sang Pháp đoàn tụ với gia đình sau 20 năm xa cách.

Ông sống tại Pháp một thời gian dài rồi cùng với gia đình định cư tại bang Ohio của Mỹ vào năm 1981.

Con gái ông đã tập hợp những bài thơ của ông để in tập thơ “Yêu em, Hà Nội và những bài thơ khác” ra mắt vào năm 2004 tại tòa soạn báo Người Việt, chỉ 1 năm trước khi ông qua đời (ngày 1/9/2006) tại thành phố San Jose, bang California.
Hoàng Anh Tuấn có nhiều tình cảm với thành phố Hà Nội và có tới 4 bài thơ về Hà Nội (“Bài thơ Hà Nội”, “Hà Nội, mùa thu và em”, “Yêu em Hà Nội” và “Mưa Sài gòn, mưa Hà Nội”) nhưng cho tới nay, bài thơ của ông về Hà Nội được nhiều người biết đến nhất là bài “Mưa Sài gòn, mưa Hà Nội” đã được Phạm Đình Chương phổ nhạc.

Ca khúc “Mưa Sài gòn, mưa Hà Nội” của Phạm Đình Chương với ban hợp ca Thăng Long : (nguyên tác thơ và nhạc “Mưa Sài gòn mưa Hà Nội – xin bấm vào đường link sau đây:  Bai tho – Mua Saigon mua Ha Noi )

https://youtu.be/F_-q370tkTQ

Ca khúc “Mưa Sài gòn, mưa Hà Nội” với Quỳnh Giao, Mai Hương và Kim Tước:

https://youtu.be/IwQhWQyeY18

Trong 9 năm làm giám đốc Đài phát thanh Đà Lạt, vợ chồng Hoàng Anh Tuấn ở trong ngôi biệt thự số 11 đường Hoa Hồng (rue Des Roses, nay là đường Huỳnh Thúc Kháng). Tác giả Nguyễn Vĩnh Nguyên cho biết : “Căn nhà số 11 đường Hoa Hồng mà họa sĩ Đinh Cường và GS Đỗ Long Vân ở cũng là nơi cư ngụ của vợ chồng nhà văn Hoàng Anh Tuấn – Ngô Thy Liên. Ông Hoàng Anh Tuấn là nhà điện ảnh gốc Hà Nội, du học tại Pháp, chọn Đà Lạt làm nơi phát triển sự nghiệp. Ông chính là quản đốc Đài phát thanh Đà Lạt giai đoạn 1965. Hoàng Anh Tuấn có những câu thơ về Đà Lạt thật nhẹ nhàng, êm đềm như địa đàng thuở ban sơ:

“Có những buổi trăng về từ suối bạc

Đem phong lan trang điểm một trời hương

Đà Lạt của ta trong thần thoại hoang đường

Lang tình tứ đã gặp Bian e ấp

Anh đã gặp em một lần duy nhất

Đà Lạt em, Đà Lạt vẫn của anh…”

Tên tuổi của ông gắn liền với ngành điện ảnh trong vai trò đạo diễn. Bốn cuốn phim sự do ông đạo diễn là :

1/- Ngàn năm mây bay (1963), dựa theo tiểu thuyết của nhà văn Văn Quang, hãng Thái Lai sản xuất với các diễn viên Lê Quỳnh, Bích Sơn, Bích Thủy, Phạm Huấn

2/- Hai chuyến xe hoa (1961) dựa trên tiểu thuyết cùng tên của Nguyễn Bính Thinh và tuồng cải lương của Thái Thụy Phong ; hai diễn viên chính trong phim là Thanh Nga và Thành Được.

3/- Nước mắt đêm xuân với các diễn viên Mai Trường, Nguyễn Long, Lệ Quyên

4/- Xa lộ không đèn (1972) với các diễn viên Thanh Nga, Hoài Trung, Trang Thanh Lan và Năm Châu. (theo Huỳnh Duy Lộc)

Phim : Xa lộ không đèn (1972) (1:33’) : https://youtu.be/HxlulRdfn5E

Sang Huỳnh chuyển tiếp

Đọc thêm : trên “Một thời Sài Gòn” ngày 23/3/2010 : Đạo diễn HOÀNG ANH TUẤN

THÁNG 4 NHỚ NGUYÊN SA

THÁNG TƯ NHỚ NGUYÊN SA

Chuyện cùng “Nga buồn như con chớ ốm”

Mười chín năm qua, từ ngày nhà thơ Nguyên Sa qua đời (18 Tháng Tư 1998), những đóa cúc vàng trên mộ ông trong nghĩa trang ở thành phố Westminster vẫn vàng rực, nhờ sự chăm sóc ân cần từ người vợ thủy chung.

Vợ nhà thơ Nguyên Sa, bà Trịnh Thúy Nga, người đi vào cõi thơ Nguyên Sa với những câu mở đầu “tếu táo” :

“Hôm nay Nga buồn như một con chó ốm

Như con mèo ngái ngủ trên tay anh

Ðôi mắt cá ươn như sắp sửa se mình

Ðể anh giận sao chả là nước biển !…”

Trên đời, chắc chỉ có mình ông, nhà thơ Nguyên Sa, viết thư thông báo đám cưới của mình bằng thơ. Cũng chẳng có ai đặt tựa cho bài thơ báo hỷ “cộc lốc” như ông – chỉ vỏn vẹn một chữ “Nga,” tên người con gái ông lấy làm vợ. Thế mà người ta nhớ ! Có ai mà không nhớ thơ tình Nguyên Sa ! Và bà Nguyên Sa -Trịnh Thúy Nga, luôn nhớ một câu chuyện chẳng thể nào cũ.

Tháng Giêng Mai Thảo đã qua

Tháng Tư chợt nhớ Nguyên Sa, lại buồn.

(thơ Ngọc Hoài Phương)

“Năm 1952, sau khi hồi cư về Hà Nội, tôi được gia đình cho sang Pháp du học cùng với người anh họ. Ông Lan (tên nhà thơ Nguyên Sa: Trần Bích Lan) qua trước hai năm. Ông thân sinh của ông ấy buôn bán lớn, sợ Việt Minh làm phiền nên cho ba người con lớn sang Pháp du học. Tôi quen em gái ông ấy ở Paris, tình cờ đến nhà chơi nên quen ông”.

Quen nhau Tháng Mười Hai năm 1952, đến mùa Hè năm 1953, ông làm bài thơ tỏ tình tặng bà. Cho đến giờ, chưa ai biết nội dung bài thơ đó như thế nào, vì bà muốn giữ kín, cho riêng bà. Chỉ biết rằng, trái tim của cô nữ sinh tên Nga từ đó có một hình bóng, mà cô luôn trân trọng nhớ về, từ mùa Hè năm đó.

Bà hồi tưởng lại : “Hồi đó tôi còn trẻ, cũng chẳng suy nghĩ gì cả, chỉ lo học thi đậu xong rồi về. Phải lo học xong cho sớm chứ đời sống bên Pháp đắt đỏ lắm. Cũng trong năm 1953, cụ thân sinh ông Lan mất ở Hà Nội, ông ấy phải ngưng học, về nước để giúp đỡ gia đình. Lúc đó chúng tôi yêu nhau rồi, ông ấy cũng muốn dỗ dành tôi về Việt Nam chung, nhưng tôi còn ham học cao lên. Tuổi trẻ mà, ai cũng có giấc mơ lớn, và tôi cũng muốn thực hiện ước mơ của mình.”

Cuộc chia tay này là nguyên nhân bài thơ “Paris có gì lạ không em ?” ra đời trong nỗi nhớ khắc khoải của ông.

“Paris có gì lạ không em ?

Mai anh về em có còn ngoan

Mùa xuân hoa lá vương đầy ngõ

Em có tìm anh trong cánh chim


Paris có gì lạ không em ?

Mai anh về mắt vẫn lánh đen

Vẫn hỏi lòng mình là hương cốm

Chả biết tay ai làm lá sen?…”

Câu hỏi cuối ông gởi lại bà trong sự chờ đợi, thay cho câu hỏi “Em có bằng lòng làm vợ anh không ?” Để rồi hai năm sau gặp lại nhau ở Paris, khi bà khẽ gật đầu ưng thuận “làm lá sen” suốt đời cho ông, thì ông mới viết bài thơ đính hôn thay cho thiệp báo hỷ gởi cho gia đình, bằng hữu, trong niềm vui sướng tột độ.

“Chúng mình lấy nhau

Cần gì phải ai hỏi…

Cả anh cũng không cần phải hỏi anh

‘Có bằng lòng lấy em ?…’

Vì anh đã trả lời anh

Cũng như em trả lời em

Và cũng nghẹn ngào nước mắt !…”

(Nga – Nguyên Sa)

Bà Nga nhớ lại : “Sinh viên tụi tôi ở lại Pháp sau Hiệp Định Genève chia đôi đất nước, gia đình lo tản cư vào Nam nên đâu có gởi tiền qua được. Chúng tôi ra Tòa Đốc Lý Paris ký giấy hôn thú, bạn bè theo đông lắm. Xong kéo nhau ra quán cà phê đối diện uống cà phê, ăn bánh. Bạn bè chung tiền trả tiền cho cô dâu, chú rể. Thế thôi.”

Đám cưới sinh viên Việt Nam nghèo ở kinh đô ánh sáng diễn ra như thế. Chú rể chẳng mặc lễ phục, cô dâu không có áo cưới, mà ngay cả nhẫn cưới họ cũng chẳng mua được. Nhưng có sao đâu, vì ông trao cho bà những thứ quý hơn nhẫn cưới.

“Người ta làm thế nào cấm được chúng mình yêu nhau

Nếu anh không có tiền mua nhẫn đeo tay

Anh sẽ hôn đền em

Và anh bảo em soi gương

Môi anh tròn lắm cơ

Tròn hơn cả chữ O

Tròn hơn cả chiếc nhẫn

Tròn hơn cả hai chiếc nhẫn đeo tay!…”

(Nga – Nguyên Sa)

oOo

Mười chín năm ông ra đi, chữ O tròn trên má vẫn chẳng phai nhòa, vì với bà, ông chẳng bao giờ đi xa cả, mà chỉ chuyển chỗ từ ngôi nhà ở thành phố Irvine đến nơi đầy nắng và gió ở thành phố Westminster.

“Đối với tôi thì lúc nào ông cũng quanh quẩn đâu đây, trong cái nhà này. Tôi ở trong nhà, hay đi bất cứ con đường nào, đều thấy hình bóng ông ở bên cạnh tôi hết.” Bà Nga nói.

Nhà thơ Ngọc Hoài Phương cho biết, lúc sinh thời Nguyên Sa rất thích hoa cúc vàng – như câu thơ trong bài “Áo lụa Hà Đông” của ông : Áo nàng vàng, anh về yêu hoa cúc – nên bà Nga chỉ mang hoa cúc ra mộ ông thôi. “Nếu để ý sẽ thấy, hoa cúc vàng trên mộ nhà thơ Nguyên Sa không bao giờ tàn hay héo cả vì được bà Nga chăm sóc rất kỹ. Hoa sắp héo sẽ được bà thay bằng hoa mới.” Nhà thơ Ngọc Hoài Phương cho biết.

Hôm gặp bà ở mộ ông, bà cho hay : “Ông ấy không bao giờ nghĩ đến cái chết, hay mình được chôn cất ở đâu cả. Khi ông ấy mất, tôi ra đây xem rồi chọn cho ông chỗ này. Nó gần hồ nước, lại dưới một bóng cây. Lúc trước trông vắng vẻ, giờ trông ấm cúng vì chung quanh ông có rất nhiều bạn bè.”

“Hồi nhà tôi mới mất, ngày nào tôi cũng ra đây, sửa bông, cắt cỏ. Giờ thì lớn tuổi rồi, thì một tuần tôi ra thăm ông ấy 2 lần. Nhiều khi bực mình với ông ấy cũng ra đây nói cho ông ấy biết.”

“Hồi ông Lan còn sống, tôi rất ít tiếp xúc với bạn ông ấy lắm, nhưng từ hồi ông ra đây, tôi được gặp nhiều người thăm ông, an ủi nâng đỡ tôi. Tôi nhớ ông Đỗ Ngọc Yến (nhà báo, sáng lập nhật báo Người Việt), hồi đó, cứ có ai từ xa đến Little Saigon, muốn gặp tôi thì ông ấy cứ nói cứ ra thăm mộ Nguyên Sa thì gặp bà Nga. Cho nên ở đây tôi được gặp nhiều người lắm, kể cả bạn cũ ở Việt Nam sang chơi. Cuối năm còn có người hẹn tôi ra đây cho cá kho, dưa chua nữa.”

Điều trùng hợp là sự lựa chọn nơi yên nghỉ cho ông, lại chính là nơi ông từng mơ ước được về qua câu thơ của ông, được bà khắc trên mộ.

“Nằm chơi ở góc rừng này

Chưa thiên thu cũng đã đầy cỏ hoang

Xin em một sợi tóc vàng

Làm hoa khởi sự cho ngàn kiếp sau

Biết đâu thảo mộc bớt đau

Biết đâu có bản kinh cầu dâng lên?”

Và trong bài Tân Ước trong tập thơ cuối cùng, hình như lời “năn nỉ” của ông cũng được bà chiều theo.

“…Anh vẫn nhận ra em, em khác biệt mà vẫn đồng nhất, giấc mơ gián đoạn bao nhiêu, em vẫn trở lại, giấc mơ phi lý, em khắng khít bằng những liên tục vuốt ve, liên tục hiền dịu, liên tục chăm sóc. Em liên tục không gian em, liên tục luận lý em. Tân ước nói có thế giới ở ngoài thế giới, khác biệt và bao trùm thế giới. Em có phải là giấc mơ ở trong giấc mơ và phủ kín giấc mơ?”

Chẳng biết như thế nào, nhưng trong thế giới thật này, “Nga buồn như con chó ốm” tiếp tục dùng đôi tay “làm lá sen” phủ kín “hương cốm” Nguyên Sa cho đến tận cùng. (theo Vũ Đình Trọng – Người Việt)

Kiều Văn chuyển tiếp

GIẢI MÃ THỨ BẬC

THẦY HAI, CON TÁM…

CỦA SÀI GÒN XƯA

Công chức, người có học là thầy Hai, người Hoa buôn bán là chú Ba, đại ca giang hồ là anh Tư, lưu manh là anh Năm… người lao động nghèo xếp thứ Tám.

Chiều muộn hôm qua có cậu bạn đi công việc ghé ngang nhà rủ làm ly cà phê tán dóc. Nói chuyện lan man một hồi, tự nhiên anh chàng kể công ty em có ông già gác cửa rất hay nói câu “bỏ qua đi Tám”…

“Em chả hiểu, có lần hỏi thì ổng nói đại khái là dùng khi can ngăn ai bỏ qua chuyện gì đó, nhưng sao không phải là Sáu hay Chín mà lại là Tám thì ổng cũng không biết”, cậu bạn thắc mắc.

Dựa vào những câu chuyện xưa cũ, những giai thoại, nên kể ra đây chút nguyên cớ của câu thành ngữ có lẽ sắp “thất truyền” này, biết đâu có dịp nào đó anh em có thể dùng để “buôn dưa lê” lúc “trà dư tửu hậu”.

Trước hết, phải biết là câu này phát sinh ở khu vực Sài Gòn – Chợ Lớn từ thời Pháp thuộc, khoảng đầu thế kỷ 20. Thời đó, cách xưng hô thứ bậc trong xã hội rất phổ biến và phần nào phản ánh vị trí xã hội, giai cấp… một cách khá suồng sã và dễ chấp nhận.

Đứng trên hết là các “quan lớn” người Pháp hoặc các quan triều nhà Nguyễn, thành phần này thì không “được” xếp thứ bậc vì giới bình dân hầu như không có cơ hội tiếp xúc đặng xưng hô hay bàn luận thường xuyên. Kế đến là các công chức làm việc cho chính quyền, họ ít nhiều là dân có học và dân thường hay có dịp tiếp xúc ngoài đời, là cầu nối giữa họ với các thủ tục với chính quyền, hoặc đó là thành phần trí thức, đó là các “thầy Hai thông ngôn”, hay “thầy Hai thơ ký”…

Hàng thứ Ba là các thương gia Hoa Kiều, với tiềm lực tài chính hùng hậu và truyền thống “bang hội” tương trợ, liên kết chặt chẽ trong kinh doanh, các “chú Ba Tàu” nghiễm nhiên là 1 thế lực đáng vị nể trong mắt xã hội bình dân Sài Gòn – Chợ Lớn thời đó.

Xếp thứ Tư là các “đại ca” giang hồ, những tay chuyên sống bằng nghề đâm chém và hành xử theo luật riêng, tuy tàn khốc và “vô thiên vô pháp” nhưng khá “tôn ti trật tự (riêng)” và “có đạo nghĩa” chứ không tạp nhạp và thiếu nghĩa khí như các băng nhóm “trẻ trâu” hiện đại. Các “anh Tư dao búa” vừa là hung thần, vừa ít nhiều lấy được sự ngưỡng mộ của giới bình dân (và cũng không ít tiểu thư khuê các) thời đó.

Thứ đến là vị trí của giới lưu manh hạ cấp hơn: các anh Năm đá cá lăn dưa, móc túi giật giỏ, hay làm cò mồi mại dâm…

Bị giới bình dân ghét hơn đám lưu manh côn đồ là các “thầy Sáu phú-lít (police)”, “thầy Sáu mã tà”, “thầy Sáu lèo”. Chức trách là giữ an ninh trật tự, chuyên thổi còi đánh đuổi giới buôn gánh bán bưng bình dân, nhưng các “thầy Sáu” này cũng không từ cơ hội vơ vét ít tiền mọn “hối lộ” của họ để “nhẩm xà” (uống trà).

Và trong giới buôn bán thì không thể thiếu chuyện vay vốn làm ăn, mặc dù Tàu hay Việt cũng đều có tổ chức cho vay. Nhưng phổ biến và “quy củ” nhất ở cấp độ trung – cao khu vực Sài Gòn – Chợ Lớn thời đó là các “anh Bảy Chà và”, các anh này là các nhà tài phiệt người Ấn, vừa giàu vừa ít bị “ghét”, vừa ít nhiều có quan hệ qua lại với giới chức người Pháp, lại làm ăn đúng luật lệ, ít thừa cơ bắt chẹt lãi suất nên khá được giới kinh doanh tín nhiệm.

Xếp thứ Tám chính là lực lượng đông đảo nhất xã hội bình dân bấy giờ: họ là giới lao động nghèo chỉ có sức lục làm vốn nuôi miệng, từ bốc vác, gánh nước bồng em, đến “sang” hơn chút xíu là phu xe kéo…

Tuy đông nhưng lại yếu thế nhất vì thất học, không có tiền như thầy Hai, anh Ba, cũng hiền lành chứ không bặm trợn phản kháng bạt mạng như các anh Tư anh Năm nên họ thường xuyên chịu sự áp bức, bắt nạt từ mọi phía. Cách để yên thân khả dĩ nhất với họ là khuyên nhau cắn răng nhẫn nhịn, quên đi để sống: “Bỏ qua đi Tám”, bây giờ chắc là đã dễ hiểu rồi.

Không còn liên quan nữa, nhưng nhân tiện sẵn nói luôn về thứ bậc chót cùng trong xã hội thời đó: các cô, các chị Chín xóm Bình Khang chuyên “kinh doanh” bằng “vốn tự có”.

Dài dòng tí để trình bày chút kiến giải về một câu thành ngữ đang dần bị quên lãng dùng để bày tỏ thái độ khuyên người hoặc tự an ủi mình hãy đừng để ý những chuyện không vui, hay bị ai đó “chơi không đẹp”. Nếu lỡ đọc thấy không có gì thú vị thì thôi, “bỏ qua đi Tám”.

Hai Điếu ĐĐ chuyển tiếp

VÌ SAO LẠI GỌI

“ANH HAI SÀI GÒN” ?

 “Anh Hai Sài Gòn” là cách gọi vui, thân mật, nhưng cũng thể hiện tính cách phóng khoáng, dám làm dám chịu của dân Sài Gòn nói riêng và Nam bộ nói chung. Vì sao lại là “Anh Hai” chứ không là “Anh Cả” ? Như thế nào mới là “người Sài Gòn” ?

Khó nhận diện người Sài Gòn gốc

Năm 1558, Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa, bắt đầu gây dựng chính quyền Chúa Nguyễn ở Đàng Trong. Đây là cái mốc quan trọng của quá trình “Nam tiến” trong lịch sử Việt Nam, cũng là quá trình hình thành văn hóa vùng đất phía Nam trong xu thế mang theo và gìn giữ văn hóa cội nguồn, đồng thời tiếp nhận những yếu tố văn hóa của cư dân vùng đất mới.

Đến năm 1698, Phủ Gia Định được thành lập, Sài Gòn – Gia Định hình thành từ đó. Chỉ hơn 300 năm nhưng người Sài Gòn đã kịp định hình một bản sắc riêng dễ nhận biết giữa những người của vùng miền khác. Điều này hình thành từ nguồn gốc lưu dân và hoàn cảnh lịch sử xã hội của Nam bộ/Sài Gòn.

Lưu dân người Việt vào Nam bộ trước hết và đông nhất là những người “tha phương cầu thực” vì không có đất đai, không có phương kế sinh sống ở quê hương. Thành phần thứ hai là những người chống đối triều đình, quan lại địa phương bị truy bức nên phải tìm đường trốn tránh. Thứ ba là những tội đồ bị buộc phải ly hương (một hình phạt nặng của thời phong kiến). Ngoài ra, còn có số ít người tương đối giàu có, muốn mở rộng và phát triển việc làm ăn trên vùng đất mới nên nhập vào hàng ngũ lưu dân tới Nam bộ…

Khi Sài Gòn được hình thành như một trung tâm của vùng đất phía Nam thời chúa Nguyễn, một đô thị lớn thời thuộc Pháp thì nơi đây cũng là nơi dân tứ xứ tiếp tục đổ về. Người nhập cư là thành phần hữu cơ của bất cứ đô thị nào, Sài Gòn vốn hình thành từ những lớp “người nhập cư” rồi trở thành “người Sài Gòn”, rồi lại tiếp tục thu nhận và chia sẻ cho những lớp người nhập cư mới.

Chỉ hơn 300 năm thôi, khó có thể nói ai là người Sài Gòn “gốc” bởi nơi đây người ta đến rồi đi, nhiều người ở lại nhưng hàng năm vẫn luôn trở về quê nhà. Một thành phố cởi mở, dung dị, hòa hợp và tôn trọng những cộng đồng khác nhau.

Sống trong những điều kiện lịch sử luôn biến động, người dân Nam bộ/Sài Gòn đã tạo dựng một nếp sống tinh thần ấm áp, bình đẳng, lấy tình nghĩa, nghĩa khí làm trọng. Người Sài Gòn/Nam bộ sống chung với các dân tộc: Người Khmer hiền hậu, tính cộng đồng thôn xóm cao; Người Hoa chịu khó, giỏi tổ chức sản xuất, buôn bán và tương trợ giúp đỡ trong làm ăn;

Người Chăm cần cù, khéo léo… Sự ảnh hưởng qua lại của văn hóa, lối sống càng làm cho cá tính người Sài Gòn/Nam bộ cởi mở phóng khoáng hơn trong giao lưu, nhạy bén với cái mới, thấm nhuần một tinh thần bình đẳng, nhân nghĩa, bao dung, đồng thời rạch ròi, quyết liệt vượt ra khỏi những ràng buộc, gò bó của khuôn mẫu…

Người Sài Gòn không phân biệt “quê”, “tỉnh”, “đồng hương” hay không, vì vậy nói đến tính cách người Sài Gòn có thể được coi là sự khái quát tính cách người Nam bộ.

Có thể nói, tính cách người Sài Gòn bắt nguồn từ yếu tố, điều kiện thực tế nhất ở Sài Gòn là “LÀM” : “Làm ăn”, “Làm chơi ăn thiệt”, “Làm đại”, “Dám làm dám chịu”… được thể hiện một cách giản dị, thiết thực, “liều lĩnh” nhưng cũng đầy trách nhiệm

Phác họa đức tính người Sài Gòn

Ở Sài Gòn/Nam bộ, “dư luận xã hội” không nặng nề khe khắt với những cái khác, cái mới. Người Nam bộ khá dân chủ trong các mối quan hệ xã hội và cả trong gia đình, từ cách xưng hô (người Nam bộ thường xưng “tui”) đến việc cá nhân ít lệ thuộc, phụ thuộc vào cộng đồng.

Gần đây, một số tờ báo có những bài viết về chủ đề “Thế nào là người Sài Gòn ?”, hầu hết các ý kiến đều cho rằng, người Sài Gòn không chỉ là người “ba đời” sống ở Sài Gòn, càng không phải là người có “hộ khẩu thành phố”, mà là bất cứ ai dù quê ở đâu, sống ít hay nhiều năm tại Sài Gòn. Đó là những con người:

– Năng động nhưng không bon chen.

– Sôi nổi nhưng không ồn ào.- Bình thản nhưng nghĩa hiệp, trượng nghĩa.- Tôn trọng cá nhân nhưng hay làm từ thiện, thích giúp người.

– Chứng kiến điều xấu, là nạn nhân của cái ác nhưng luôn tử tế, vẫn tin người.

– Ăn xài thoải mái, biết tính toán nhưng không tính đếm so đo.

– Sống và chơi nhiệt tình, hết mình với bạn bè.

– Về thăm quê, rồi vào lại Sài Gòn mà cảm giác như về nhà.

– Không chê bai những gì khác mình, thích thì chơi không thích thì thôi, nhẹ nhàng.

– Không định kiến, dễ chấp nhận cái mới.

– Và cuối cùng là không lưu manh, ghét lưu manh.

Chỉ vậy thôi, bất kể người tỉnh nào vùng miền nào,  miễn là sống ở Sài Gòn, rồi có tính cách như vậy, thì đó là Người Sài Gòn…Có thể nói đây là những tính cách khá “dương tính”, “hướng ngoại”, như nhiều nhà nghiên cứu văn hóa phân tích. Có lẽ vì vậy mà người ta thường gọi người Sài Gòn một cách trìu mến là “Anh Hai Sài Gòn”.

Ở miền Bắc con trai trưởng trong nhà gọi là Anh Cả nhưng miền Nam lại gọi Anh Hai. Vì sao là Anh Hai mà không phải là Anh Cả? Có thể từ vài giả thuyết sau: Chúa Nguyễn Hoàng là người con trai thứ hai của Nguyễn Kim, mở đường vào Nam khai phá nên để tôn trọng ông, người dân gọi người con lớn của mình, trai hay gái, cũng chỉ là (thứ) Hai.

Hoặc, có ý kiến cho rằng, khi có phong trào lưu dân vào Nam khai khẩn, trong gia đình thường để con trai thứ ra đi vì người con trai trưởng có vai trò ở lại quê nhà phụng dưỡng cha mẹ và thờ cúng tổ tiên. Cũng có người cho rằng, trong làng quê Nam bộ xưa có ông Cả (Hương Cả) là người đứng đầu, vì vậy trong các gia đình chỉ có người thứ Hai…

Tuy khác nhau về nguồn gốc “thứ Hai” của “anh Hai Sài Gòn” hay “anh Hai Nam bộ” nhưng có thể nhận thấy có chung một điểm: Đó là người con thứ không bị ràng buộc trách nhiệm nặng nề “giữ hương hỏa, nền nếp” như người con trưởng nên có thể “rộng chân” ra đi, tự do hơn khi tiếp nhận cái mới, thay đổi cái cũ lạc hậu, dễ thích nghi, có khi thử, liều. Nhưng vì không có gia đình họ hàng bên cạnh để mà dựa dẫm “tại, vì, bởi…” nên phải có trách nhiệm “dám chịu” nếu lỡ sai lầm. (theo Nguyễn Thị Hậu)

Phan Tất Đại chuyển tiếp

NHÀ VĂN TRƯƠNG ĐẠM THỦY

Giới thiệu

nhà văn nhà thơ, nhà báo

TRƯƠNG ĐẠM THỦY

& truyện “MA XEM HÁT”

– Bài Nguyễn Việt

Nhà văn, nhà thơ Trương Đạm Thủy, tên thật Trương Minh Hiếu. Sinh năm 1940 tại Bến Tre. Anh từng đoạt giải truyện ngắn trên nhật báo Tiếng Chuông của ông Đinh Văn Khai vào đầu thập niên 1960 và sống chết với ngòi bút tại Sài Gòn cũng từ năm 1960 cho đến nay.

Tôi biết nhà văn Trương Đạm Thủy từ giữa thập niên 1960 từ tờ tuần báo Ngày Mới của ông Hoàng Phố lúc đó nằm ở số 54 Võ Tánh (nay là một siêu thị trên tên đường mới là Nguyễn Trãi) gần ngã sáu Phù Đổng; còn tôi chỉ là một “văn nghệ trẻ” đang tập tễnh vào đời. Lúc đó anh còn rất trẻ, viết truyện ngắn và làm thơ rất hay, cùng với Bình Nguyên Lộc, Phan Trần Duyên (Phan Yến Linh), Phương Triều, Ngô Tỵ thay nhau mỗi người mỗi tập truyện ngắn mỗi tuần.

Lúc đó tôi mê một truyện ngắn của Trương Đạm Thủy, một truyện có tên “Tháng giêng cỏ non” nói về một cô gái gánh nước mướn bị người cha dượng hãm hiếp không còn đời con gái, khi có một chàng trai ngỏ ý lấy cô làm vợ, cô gái khóc nói sợi dây thừng đã đứt, nếu cột thì vẫn còn tỳ vết” – loại dây câu móc thùng lấy từ giếng nước lên – để thấy một cô gái dù thất học nhưng luân lý đạo đức Á Đông vẫn luôn tồn tại trong đầu óc mọi người, luôn lấy tiết trinh đánh giá nhân phẩm của người phụ nữ.

Cô gái mang mặc cảm vì không còn tiết trinh để trao lại cho người yêu. Còn chàng trai trẻ không vì tính phong kiến của người đời, vẫn giang tay đón nhận thực tế dù cho có phũ phàng, để cùng người yêu đến một chân trời mới nơi đó chỉ có tháng Giêng mùa Xuân và cỏ non. Hay một bài thơ mang tựa “Thì thầm trong tối” mà tôi mê nhất một đoạn : “nếu biết tôi nghèo, em yêu tôi không / sự nghiệp trắng tay tóc xanh phiêu bồng / con tim nhỏ, mang nhiều thương tích lớn / Ước vọng chưa thành đời đã long đong…” diễn tả nội tâm của một anh nghèo đang yêu và mặc cảm trong tình yêu.

Và vì truyện và thơ Trương Đạm Thủy làm tôi say mê, thích lối văn phong bình dị mà sâu sắc, lãng mạn và trữ tình, và ai đọc cũng hiểu bởi văn chương thơ phú của anh không “xa hoa” với những ngôn từ “vĩ mô” theo mốt thời thượng bây giờ. Tôi xin làm em anh từ dạo đó.

Nhà văn Trương Đạm Thủy rất ít người thân, anh nói mồ côi cha mẹ từ dưới quê Bến Tre lên Sài Gòn kiếm sống, rồi anh dẫn tôi về trên một gác trọ nhỏ đang thuê trong hẽm đường Phan Thanh Giản khi xưa, để tiện dịp anh em gặp gỡ nhau hơn. Cũng từ đó tôi biết nhà văn Trương Đạm anh còn cộng tác với nhiều báo – từ giữa thập niên 1960 – như Lẽ Sống, Chuông Mai, Tia Sáng… và các tuần san tuần báo khác, đa phần do người miền Nam biên tập.

Sau này khi tôi về cộng tác với nhật báo Trắng Đen, anh đã có mặt ngay từ số báo đầu tiên phụ trách trang trong, giữ mục tuyển thơ cùng Cẩm Thi – Lý Dũng Tâm, Phan Trần Duyên, trang văn nghệ trẻ và một fueilleton. Khi anh bận bịu và không thích gò bó bị “đóng khung” của những người làm báo chuyên nghiệp, anh đã giao lại những khoản mục này cho tôi phụ trách để được tự do bay nhảy khắp các nơi.

Vì thế tôi biết cuộc đời nhà văn Trương Đạm Thủy rất “ba chìm bảy nổi”, lúc ngày xưa người ta đi xe gắn máy nhiều hơn đi xe hơi, thì anh đã có một chiếc xe “Đơ-chơ-vô con cóc” cầm lái chạy giật le với đời, tuy chiếc xe không mới tinh hoành tráng nhưng cũng đủ làm mọi người phải nhìn anh bằng đôi mắt thán phục.

Với nghề cầm bút, ít ai biết nhà văn Trương Đạm Thủy ngoài tài viết truyện ngắn, làm thơ anh còn viết fueilleton, giữ mục tuyển thơ cho nhiều tờ nhật báo và tuần báo vào thời trước 1975, nổi tiếng trong nhóm “Sông Hậu” cùng với các nhà văn nhà thơ khác như Hoài Điệp Tử, Tâm Đạm – Dương Trữ La, Ngô Tỵ, Phương Triều; nhóm này giờ đây chỉ còn có anh là đang sống để tiếp tục “dzung dzăng dzung dẻ” với văn nghệ và với cõi dương trần đang trong độ tuổi gần Bát Tuần này.

Và cũng ít ai biết nhà văn Trương Đạm Thủy còn là một võ sư hoặc từng kinh qua nhiều môn võ thuật khác như Vovinam, Thái Cực Quyền, Aikido… nhờ vậy sau những năm 1975 nhiều gia đình phải ăn cơm độn với bobo, còn gia đình anh vẫn có gạo trắng nước trong của miền đồng bằng sông Cửu Long để nấu nhờ vào tiền “bồi dưỡng” vào mỗi sáng anh dạy võ dưỡng sinh cho người cao tuổi nơi những công viên cây xanh.

Bây giờ cuộc sống mọi người đã khá hơn, còn anh thì lại “long đong” với phận già, viết chuyện phiếm, làm thơ, viết văn cho các báo để nhận nhuận bút từng bài rồi cùng các anh em tri kỷ của “một thời Sài Gòn” như nhà thơ Thiên Hà, như tôi – bởi người của một thời giờ xưa giờ đây không còn nhiều, có người đã khuất núi, có người đã đi xa – cùng vô CLB Văn Nghệ uống lai rai vài chai bia để nói chuyện “văn nghệ văn gừng” quá khứ hiện tại tương lai, rồi về ngủ một giấc, cho đến hôm sau tiếp tục kéo cày để tiếp tục hùn tiền uống bia cùng với mọi người, cho cuộc sống tồn tại của ngày hôm ấy luôn thấy vui vẻ, yêu đời.

Vào đầu thiên niên kỷ thứ III mọi người còn thấy nhà văn Trương Đạm Thủy một mình một ngựa sắt (chiếc “xế điếc” đòn dông) rong ruổi trên các đường phố đi tìm bạn bè thân hữu mới cũ cho qua ngày tháng. Cái năm mọi người đã bắt đầu đi xe gắn máy hàng hiệu, hàng thùng, thì anh chỉ có một cái xe cánh én loại “sơ-công-hen” dùng lã lướt cho khỏi mỏi gối chùng chân, đi từ ngã tư Xóm Gà – Gia Định (nơi anh đang sống) đến quán Văn Nghệ ngồi nhâm nhi bên ly bia và đấu láo mọi sự trên đời cùng mọi người – trừ chuyện “chính trị chính em”, anh không bao giờ hưởng ứng. Thấy vậy vào giữa năm 2009 vừa qua, đứa con trai lớn mới hay ra, anh thường vất vả khi cái “xế nổ” cũ xì này hay giỡ chứng giữa đường, đã sắm cho anh một chiếc xe gắn máy mới khui thùng. Bây giờ anh “yêu xe như con, yêu xăng như máu” chăm chút cho xe mỗi ngày.

Cuộc đời nhà văn, nhà thơ Trương Đạm Thủy là như thế, rất văn nghệ và sống bằng văn nghệ. Anh không luồn cúi, bi lụy ai để có một cuộc sống xuyênh xoang như mọi đồng nghiệp khác; mà sống tự tại bằng thế “đứng tấn” bởi hai chân cũng như bằng đôi tay còn cầm bút được. Nên không ai biết anh là nhà văn hội viên trong Hội Nhà Văn thành phố, vì anh cũng khá trầm tính và rất khiêm tốn không khoe khoang với những chức danh in trong danh thiếp, hay trong những tập truyện, thơ từng xuất bản cũng không có đôi dòng nói về tiểu sử hay cuộc đời của anh…

Còn nói về tình ái, nhà văn nhà thơ nào mà không lãng mạn, ngày anh còn trẻ đã yêu đơn phương một chị làm “thầy cò” trên báo Ngày Mới, đến giờ anh vẫn còn nhắc đến tên Họa Mi của chị, rồi hỏi tôi có còn gặp không. Nói như thế không phải nhà văn nhà thơ Trương Đạm Thủy không chung tình, chung thủy; trước 1975 anh cưới vợ, vợ anh làm ở một hãng dược phẩm trên đường Nguyễn Bỉnh Khiêm đến nay vẫn “đầu gối tay ấp” mặn nồng bên nhau cùng với hai con. Con trai anh hiện giờ đang thành đạt trên trường đời, con gái đã lấy chồng đi theo chồng xa xứ. Nên ngày ngày anh vui với những đứa cháu nội sau những giờ không đi tìm bạn bè thân hữu…uống bia.

Có lẽ tôi chỉ biết về nhà văn, nhà thơ, nhà báo Trương Đạm Thủy chỉ có bấy nhiêu, và nhưng có lẽ cũng đã gói ghém hết cuộc đời và sự nghiệp văn thơ của anh trong bài viết này, không còn thiếu xót bao nhiêu, nếu có, xin mọi người cho thêm những đóng góp phản hồi.

Những tác phẩm của nhà văn nhà thơ Trương Đạm Thủy đã xuất bản vào thập niên 1960 – 1975 : Miền đất hồi sinh (tập truyện), Cành cây nước lũ (tiểu thuyết), Chuyện những dòng sông (tập truyện).

Từ thập niên 1990 : Không có tình yêu (tiểu thuyết), Bên kia bờ cỏ xanh (tiểu thuyết), Như lá vàng bay (tiểu thuyết).Vào thập niên thế kỷ 21 : Thơ tình Trương Đạm Thủy, Hát xẩm giữa đêm (thơ) – Hợp tuyển thơ Bến Tâm Hồn 1, 2 (Một thời Sài Gòn), 3 (Tôi còn kỷ niệm). Đang thai nghén tập truyện ngắn : Vượt vũ môn

Nguyễn Việt

Sau đây xin giới thiệu đến các bạn một truyện ngắn của nhà văn Trương Đạm Thủy :

MA XEM HÁT

Mới đó mà gần hết mùa đông, chỉ còn hơn mươi ngày nữa đã đến xuân rồi. Đêm càng thêm lạnh. Mấy đứa trẻ ngồi làm một vòng tròn cạnh ngoại Bảy dưới mái hiên nhà ngoại. Ngọn đèn bão treo trên cây xà đỡ mái hiên lắc lư trong ngọn gió bấc hắt hiu. Ngoại Bảy têm miếng trầu nhai tóp tép như để nhớ lại chuyện đời xửa đời xưa…

Gánh hát nghèo

– Hồi đó ngoại còn nhỏ lắm, như tụi bây thời bây giờ. Mẹ ngoại, tức bà cố cũng làm bà đỡ như ngoại. Chuyện bà cố đi đỡ đẻ về khuya gặp ma quỉ yêu tinh coi như chuyện cơm bữa bởi hồi đó làng mình còn hoang vu lắm. Nhà cửa thưa thớt, cách nhau năm sáu tiếng hú mới có người nghe. Hồi đó có một gánh hát nghèo, cố nói gánh đó thường di chuyển trên ghe, nay làng nầy mai làng khác hát để kiếm cơm nuôi đoàn nghệ sĩ cũng nghèo như gánh. À, đó là gánh hát của ông bầu Hớn.

Hôm đó mới hơn ba giờ chiều từ xa trên con sông chảy qua làng mình đã nghe thấy tiếng trống hiệu vang lên. Người lớn, trẻ em đều náo nức reo lên: “Gánh hát về ! Có gánh hát về !”. Nửa giờ sau có hai chiếc ghe lớn cặp bến chợ. Bầu Hớn nhảy lên bờ chạy lên Nhà Việc, tức là nơi các ông hương chức hội tề làm việc, xin phép tắc. Dễ thôi, chỉ cần dành nguyên hàng ghế mời danh dự cho hương cả, hương chủ, hương thân, hương hào, hương quản… là xong thôi.

Gánh hát Bầu Hớn nhìn qua đã thấy nghèo rồi, từ bầu gánh đến đào kép đều quần áo lôi thôi. Phông màn của gánh hát thì cũ kỷ có cái rách dọc ngang phải đắp vá nhiều chổ.

Ngoại Bảy nhả miếng trầu châm một điếu thuốc. Ngưng nghỉ giây lâu ngoại tiếp:

– Được làng xã chấp thuận cho hát xong bầu Hớn vội vả cho dựng sân khấu ngay trong lòng chợ. Bảng quảng cáo tuồng “Phạm Công – Cúc Hoa” được dựng ngay trước cửa chợ. Trống và phèn la cũng được các “cậu chài” nổi lên inh ỏi.

Năm đó các làng xã bị hạn hán thất mùa nên gánh bầu Hớn đã đi hát một tháng ròng mà đào kép đói vẫn đói bởi chẳng có ai có tiền để đi coi hát. Đến làng nầy bầu Hớn hy vọng khán giả khá hơn để toàn thể nhân viên còn có cơ may chịu đựng. Trời sụp tối trống phèn la càng thúc giục nhưng chỉ ngoài đám trẻ con quần áo lôi thôi lếch thếch ra chẳng thấy có một người lớn nào đến xem.

Mặt mày bầu Hớn nhăn nhó thảm hại. Nếu như đêm nay ế khách thì ngày mai đào kép lấy gì ăn? Ông Hớn cứ đi ra đi vào cửa chợ ngóng khách, cũng chẳng thấy ai ngoài một ít người kẻ chợ lác đác trước sân chợ.

Đám trẻ chắc lưỡi :

– Tội nghiệp ông bầu quá hả ngoại ?

Ngoại buồn buồn :

– Ờ, tội nghiệp đời xướng ca ba chìm bảy nổi quá. Đêm ấy ngoài các ông hương của làng xã và năm ba khán giả khá giả ra cả rạp hát trong lòng chợ vắng hoe vắng hoắc. Bầu Hớn đành cho diễn mà trong bụng khóc ròng. May sao tuồng diễn hay quá nên các ông hội tề thương tình hùn nhau cho mấy bao gạo và chục con gà con vịt cho đào kép có gì lót dạ qua đêm.

Đêm hát vãng, bầu Hớn rầu rỉ đi ra ngoài sân chợ rồi thẫn thờ đi xuống bến sông. Chợ làng khuya càng thêm vắng vẻ, con trăng khuyết đầu tháng trôi bềnh bồng trên nền trời như con thuyền vô chủ đứt dây neo. Bỗng từ đâu đó dưới bến sông đi lên một người dàn bà mặt hoa da phấn. Vừa đến gần bầu Hớn người dàn bà đã lên tiếng :

– Có phải ông đây là bầu Hớn ?

Bầu Hớn mau mắn :

– Ừ, tôi là bầu Hớn đây.

Người dàn bà mỉm cười :

– Tôi biết gánh hát của ông đang ế nên đến giúp ông. Mai ông lui ghe đi đến hát chỗ làng tôi đi, bảo đảm có hơn trăm khách. Mà không lo, tui bao dàn.

– Làng của cô đây là làng nào, ở đâu ?

– Tui chỉ cho. Mai lúc nước lớn ông cho ghe đi ngược về phía dòng nước, đi đến lúc trời sụp tối sẽ thấy có người cầm đuốc ra bờ sông đón. Đừng lo, sân khấu đã có người dựng sẵn, đến là hát ngay lại có gà qué, heo cúi để các người ăn khuya. Đây, tui đặt trước cho lượng vàng, ngày mai nhớ làm đúng lời tui dặn.

Bầu Hớn mừng rỡ :

– Dạ dạ, ngày mai đúng giờ nước lớn chúng tôi sẽ lui ghe.

Hôm sau mới sáng bầu Hớn đả cho nhân viên chuẩn bị hòm trấp đưa lần xuống ghe. Đến trưa chợ vắng người thì đưa tiếp phông màn xuống. Đào kép thì di chuyển từ người một. Họ lui ghe mà như đi ăn trộm vì sợ các ông hội tề cản trở bởi xin phép hát mười ngày cớ sao mới một đêm mà lặn mất ?

Đến giờ nước lớn nhớ theo lời dặn bầu Hớn cho lịnh lui ghe. Chẳng biết có ma quỉ nào che chở không mà bầu đoàn đào kép của gánh bầu Hớn có cả ba bốn mươi người ra đi lúc mới xế chiều mà cả chợ, cả ban hội tề cũng chẳng ai thấy chẳng ai hay.

Mặt trời xế dần, xế dần… Hai chiếc ghe của gánh bầu Hớn bắt đầu đi vào một đoạn sông cây dừa nước, cây bần, cây tạp mọc um tùm. Chiều dần xuống đoạn sông càng hoang vắng. Lũ chim nghe mái chèo khua động cất cánh bay tán loạn. Cảnh vật hoang vu quá làm ai nấy trên thuyền đều lo sợ. Riêng bầu Hớn nhờ có cây vàng lận lưng nên vẫn hớn hở chỉ tay cho thuyền đi tới.

Rồi mặt trời cũng thấp dần, thấp dần. Phía trước mũi thuyền đỏ như máu màu nắng quái hoàng hôn. Hai bên bờ sông cây cối đã chìm lẫn vào bóng tối mờ ảo. Bản thân bầu Hớn cũng bắt đầu lo lắng tự hỏi : “Hay là bọn cướp dụ mình đến đây để cướp của giết người ? Nhưng bây giờ cũng chẳng làm sao quay ghe lại được. Vàng của người ta mình đã nhận, dành một liều một ăn một thua”.

Đang nghĩ vẫn vơ như vậy đột nhiên phía bên phải thuyền trên bờ sông đã thấy có người mặc toàn đồ trắng tay quơ quơ ánh đuốc. Bầu Hớn mừng rỡ ra lệnh cho thuyền cặp vào. Lại xuất hiện thêm hàng chục người cùng xuống thuyền khuân vác hộ rương trấp phông màn.

Theo chân đoàn người tiếp đón, đoàn bầu Hớn đi dưới ánh đuốc qua một đoạn rừng cây thưa thì bỗng trước mắt đoàn hiện ra một thôn xóm sầm uất, nhà ngói tường vôi san sát, đèn sáng như sao sa. Đi thêm một khắc đã thấy một rạp hát bề thế, đèn “măng sông” treo hàng chục chiếc. Chung quanh rạp lại treo đầy đèn lồng ánh sáng tỏa ra thật đẹp. Người thiếu phụ hôm qua xuất hiện chào đón nồng nhiệt bầu Hớn. Thiếu phụ tươi cười :

– Rạp, sân khấu, phông màn đã chuẩn bị đâu đó xong xuôi. Đêm nay ông cho diễn luôn hai tuồng “Phạm Công – Cúc Hoa” và “Phụng Nghi Đình” cho làng xem cho thỏa mãn.

Bầu Hớn cười khổ :

– Làm sao một đêm mà diễn được hai tuồng ?

Nữ nhân khoát tay :

– Không lo, đêm nay sẽ dài lắm. Cứ diễn, diễn hết một tuồng sẽ có cháo gà, cháo vịt chiêu đãi để lấy sức. Rồi còn heo qué muốn ăn thứ gì có người lo thứ đó.

Đoàn bầu Hớn vào rạp đã thấy choáng váng bởi cảnh trí rực rỡ ở đây. Sân khấu với phông màn cực kỳ lạ mắt. Đèn màu giăng mắc khắp nơi, lại nghe một mùi hương gì đó như hương nhang cúng. Được một lát thì đàn sáo nổi lên rôm rả như nhạc đám ma. Rồi từng đoàn, từng đoàn khán giả đủ cả già trẻ lớn bé có cả trăm người lần lượt vào rạp.

Nhìn khán giả đông đảo chất kín rạp làm bầu Hớn vô cùng hoan hỉ. Vị nữ nhân xuất hiện căn dặn :

– Bây giờ ông cho diễn đi, đừng lo gì cả. Hôm nay tui bao dàn. Ngoài tiền mua dàn, diễn hay còn có thưởng hậu.

Quá sướng bầu Hớn cho lệnh diễn. Được tin sẽ có nhiều tiền ban thưởng nên ai nấy đều ra sức ca diễn sao cho thật hay. Cứ mỗi lớp tuồng hay đều được khán giả phía dưới ném tiền lên ào ào như bươm bướm, bầu Hớn cho người ra sân khấu lượm ôm cả ôm không hết.

Xong vở Phạm Công – Cúc Hoa ra sau rạp hát đã thấy bày dãy tiệc đầy thịt thà gà cháo cho các nghệ sĩ giải lao. Ai nấy no nê lại thấy tiền thưởng quá nhiều nên mọi người lại nức lòng diễn tiếp tuồng hai, rồi đền tuồng thứ ba. Mà lạ quá, sao đoàn hát cứ diễn hoài mà đêm vẫn chưa hết, hình như đêm vẫn còn dài lắm. Song cứ diễn, cứ ăn uống, cứ có tiền thưởng nên ai nấy đều hưng phấn phô diễn hết tài năng.

Hết Phạm Công – Cúc Hoa đến Lưu Kinh Đính Giải Giá Thọ Châu lại đến Lữ Bố Hí Điêu Thuyền rồi Tôn Tẩn Giả Điên mà trời vẫn chưa sáng. Dù được cho ăn uống thỏa thuê nhưng các diễn viên tài tử, nghệ sĩ của gánh hát bầu Hớn đều quá mệt mỏi. May sao khi họ sắp hết hơi thì tiếng gà ran trong thôn xóm mé Đông đã chợt gáy.

Đám khán giả nháo nhác đứng dậy. Nữ nhân bao dàn nhét vội vào tay bầu Hớn mấy thỏi vàng lớn rồi biến mất. Cả đoàn hát sau đó tự nhiên rơi vào giấc ngủ say sưa chưa từng có. Từ bầu gánh cho đến đào kép, nhân viên đều lăn ra sân khấu ngủ say như chết, tiếng mớ, tiếng ngáy vang lên khắp nơi.

Mãi cho đến tận trưa mới có người đến lay bầu Hớn :

– Chú Hớn, chú Hớn dậy đi, sao cái gì lạ quá !

Bầu Hớn dụi mắt nạt :

– Lạ lạ cái gì, tao đang ngủ mà.

– Dậy, lạ lắm chú ơi !

Bầu Hớn mở mắt ra nhìn quanh rồi kêu “Trời” một tiếng đoạn ngất xỉu. Bởi lạ thật ! Chung quanh xóm làng nhà ngói tường sơn, rạp hát lộng lẫy đâu biến mất hết rồi. Cả đoàn hát, từ đào kép đến mấy cậu chài đều đang nằm ngủ say như chết giữa một bãi tha ma mồ cao mả thấp, bia mộ cái đứng cái xiêu. Chung quanh những người nằm ngủ thì la liệt những tờ giấy tiền âm phủ.

Khi bầu Hớn tỉnh dậy ông sờ túi thấy còn mấy thỏi vàng liền mở ra, ai ngờ chỉ là vàng mả. Sợ hết cả hồn ông gào lên :

– Lui ghe mau lên, đêm rồi chúng ta hát cho những con ma ở nghĩa địa nầy. Lui ghe lẹ lên.

Cả đoàn chạy ra hai chiếc ghe thì thấy cả hai chiếc ghe đang nằm chơ vơ trên một bãi sông cùn chung quanh đầy lau sậy không một bóng người… Ngoại kể một hơi rồi kết :

– Nhưng nghe nói sau đêm diễn tuồng cho ma coi thì gánh hát của bầu Hớn bắt đầu phất lên, diễn ở đâu là có đông khán giả đến đó. Có khán giả không muốn đi xem hát rồi cũng như bị ai ám vẫn phải kiếm tiền mua vé đi xem cho bằng được. Có người trong đoàn hát nói là những con ma mê tuồng hát đã trả ơn cho gánh hát của bầu Hớn. Có người còn luận : Ma coi vậy chớ cũng có tình nghĩa, làm ơn cho nó, nó chẳng quên ơn…

Trương Đạm Thủy

NGỌC CHÁNH NGƯỜI NS SÀI GÒN XƯA (1)

NHẠC SĨ NGỌC CHÁNH

NGƯỜI ĐÍNH LÊN BẦU TRỜI

ÂM NHẠC SÀIGÒN

NHỮNG VÌ SAO LUNG LINH BẤT TỬ

– Trần Quốc Bảo

Khi gọi điều gì đó bất tử, có nghĩa điều đó có sự sống đời đời hoặc rất dài lâu. Những vì sao được gọi bất tử, chắc chắn đó là những tinh tú mà hào quang lung linh chẳng bao giờ tắt cho dẫu hàng trăm năm trôi qua.

Trong số báo viết về Nhạc sĩ Ngọc Chánh và ban nhạc Shotguns kỳ này, số báo mừng Ông với sinh nhật thứ 80 (13/3/1937), người viết muốn cùng với người yêu nhạc nhìn lại một sự nghiệp âm nhạc đồ sộ mà người nhạc sĩ này đã có công xây dựng và phát triển từ hơn nửa thế kỷ trước, và hôm nay, sau gần 50 năm nhìn lại, tên gọi Shotguns của ban nhạc và những sản phẩm nghệ thuật, hầu như những người yêu nhạc năm xưa ở miền Nam, khó có ai mà quên được.

Khởi đi là ban nhạc Shotguns, được thành lập từ năm 1968, và chấm dứt ngừng hẳn vào cuối tháng 12 năm 1998, có nghĩa, ban nhạc Shotguns đã trị vì trong vương quốc âm nhạc Việt – từ trong nước ra hải ngoại – tròn suốt 30 năm dài.

Viết về nhạc sĩ Ngọc Chánh và ban nhạc Shotguns là phải nhớ đến phòng trà Queen Bee (từ tháng 3 năm 1971 đến tháng 3 năm 1974) và sau đó là phòng trà International – Quốc Tế (từ tháng 3 năm 1974 đến 30/4/1975). Cả hai phòng trà với lối kiến trúc đẹp mắt ấm cúng và hấp dẫn nằm ngay giữa trung tâm Hòn Ngọc Viễn Đông. Ở đó, hàng đêm đã thu hút số đông rất lớn những khách yêu thích ca nhạc.

Nhà báo Lưu Khâm từng ca ngợi : “Người ta đến với vũ trường của nhạc sĩ Ngọc Chánh như tìm về một tổ ấm thân thương dưới ánh đèn màu, tiếng nhạc lời ca của những ca sĩ ưu hạng đương thời và đệ nhất ban nhạc Shotguns. Lắm người ghiền Queen Bee, mê Quốc Tế và sau này ra hải ngoại với Maxim (San Jose), Ritz (Quận Cam) cùng ban nhạc Shotguns như mê một nhân tình tài sắc, tâm vẹn toàn.

Trong khung cảnh lãng mạn, thơ mộng hài hòa giữa nhạc và ca, thời gian như lắng đọng lại để người ta tạm quên những nỗi nhọc nhằn cơ cực của đời sống. Ở đây, tâm tình được dàn trải, thương yêu được gắn bó, ước mơ được nối liền, những trái tim cùng thưởng thức một nhịp đập trên cung điệu tài hoa của Shotguns, lắng nghe và ngắm nhìn những tiếng hát hàng đầu, bồng bềnh sương khói có khả năng dìu người ta về những bến đời hạnh phúc”.

Và qua những lời của nhà báo Lưu Khâm vừa viết, chúng ta thấy ngay những Queen Bee, Quốc Tế trước 75 và sau này ở hải ngoại, vũ trường Maxim (1980-1983), rồi Ritz (1984-1998), nói chung là những vũ trường có bàn tay chỉ huy của nhạc sĩ Ngọc Chánh được ví như một tổ ấm và ban nhạc Shotguns là những cọng rơm đan kết âm thanh dịu dàng và nồng nàn nhất.

Chưa hết, điều đáng nói là những sản phẩm băng nhạc nghệ thuật của Shotguns được bắt đầu tung ra tại miền Nam từ tháng 9 năm 1969. Khách yêu nhạc trên mọi miền đất nước, nếu không thể đến vũ trường, vẫn có thể nghe được những giọng hát, lời ca, những nhạc khúc quen thuộc được thu âm và phát ra từ băng nhạc (cassette) mang danh hiệu Shotguns.

Mỗi sản phẩm là một đúc kết vẹn toàn về nghệ thuật lẫn kỹ thuật. Hàng trăm sản phẩm giá trị như vậy đã khiến Shotguns trở thành một trung tâm băng nhạc được yêu thích nhất, được vồn vã đáp ứng nhất. Báo chí Saigon ngày đó gọi những băng nhạc do Shotguns thực hiện là món ăn tinh thần dự phần quan trọng trong đời sống con người chứa đầy buồn vui hờn giận. Đó là một cô đọng đầy chất nghệ thuật như một ánh lửa bập bùng, rồi âm ỉ của những tâm hồn mặn nồng yêu thương của nhiều thế hệ.

Nhạc sĩ Ngọc Chánh còn có công lao nhiều lắm, khi đã giới thiệu (trực tiếp hoặc gián tiếp) những giòng nhạc mới của Phượng Hoàng (Lê Hựu Hà – Nguyễn Trung Cang), Vĩnh Điện, Trần Quang Lộc, Đynh Trầm Ca, hoặc có công phổ biến những bài thơ của các thi sĩ Phạm Thiên Thư, Nguyễn Tất Nhiên, Vũ Hữu Định, Linh Phương, Phạm Văn Bình, Người Áo Tím… được nhạc sĩ Phạm Duy phổ thành ca khúc.

Và bây giờ xin mời bạn đọc bước vào câu chuyện về “Nhạc sĩ Ngọc Chánh và ban nhạc Shotguns – người đã vẽ lên bầu trời âm nhạc Sàigòn những vì sao lung linh bất tử” do Trần Quốc Bảo thực hiện.

Nhạc sĩ Ngọc Chánh, tên họ thật Nguyễn Ngọc Chánh, sanh ngày 13 tháng 3 năm 1937. Khi ông ra đời, gia đình đang sống tại khu vực Nhà thờ Chí Hòa (Ngã Ba Ông Tạ, quận Tân Bình). Gia đình Ông ở đây cho đến năm 1968 mới dời đi chỗ khác.

Ông có tất cả 10 anh chị em, nhưng tất cả đã mất từ khi còn nhỏ, chỉ còn lại nhạc sĩ Ngọc Chánh (thứ sáu) và cô em út (thứ mười một) tên Ngọc Lan (tên giấy tờ là Nguyễn Thị Trí). Người em gái này đã có giấy tờ đi Mỹ định cư vào giữa tháng 10 năm 1989 nhưng chẳng may lại đột ngột qua đời hai tuần trước. Cô mất vào ngày 25 tháng 9 năm 1989 để lại sự bàng hoàng hụt hẫng và đau đớn cho người con trai tên Long (cũng là tay trống của ban nhạc Shotguns lúc bấy giờ) và cho người anh ruột là Ngọc Chánh.

Nhạc sĩ Ngọc Chánh mê nhạc và có năng khiếu từ thuở bé. Lúc lên 6 tuổi, Ông đã học ghi ta với một anh bạn lớn tên là Cổ Tấn Tịnh Châu, anh này có ngón đàn Flamenco tài giỏi (về sau mất năm 1967). Người nhạc sĩ tài danh vắn số này là em ruột của đại tá TQLC Cổ Tấn Tinh Châu (Chỉ Huy Trưởng Đặc Khu Rừng Sát) phu quân của ca sĩ Dạ Lý hiện sống tại Quận Cam (Cali).

Sau đó Ông học thêm với một nhạc sĩ người Phi là Benito.. nhờ vậy mà ngay từ lúc nhỏ, Ông đã có một số kiến thức khá vững vàng về nhạc lý để từ đó soạn riêng cho mình 2 cuốn sách chỉ dẫn Tự Học Đàn Guitar từ lúc ông mới 13, 14 tuổi (sẽ nói rõ phần sau).

Năm 1945, khi Ông vừa 8 tuổi, gia đình xin cho Ông vào trường dòng Lasan Đức Minh (Tân Định), một nơi nổi tiếng về kỷ luật với các frères khá nghiêm khắc. Trong số các frères, Ông luôn nhớ hình bóng hiền từ nhân ái của Frère Aimé Nguyễn Văn Đức, người đã dậy cho Ông nhiều điều tốt đẹp thuở cắp sách đến trường.

Người viết cũng một thời khoác áo Lasan, đầu tiên là Lasan Mossard, sau về Saigon năm 1975, có một năm học tại Lasan Taberd, đến khi trường bị giải thể, sang học 2 năm cuối tại Lasan Đức Minh. Khi sang bên Mỹ gặp nhạc sĩ Ngọc Chánh, ngoài tình cảm nghệ sĩ, còn là tình huynh đệ cùng trường. Khi người viết đứng ra tổ chức 4 chương trình Lasan Hội Ngộ : Nhớ Ơn Thầy bắt đầu từ kỳ 1 (1986), kỳ 2 (1988), kỳ 3 (1990) và kỳ 4 (1992), những lần tổ chức này, nhạc sĩ Ngọc Chánh đều tạo điều kiện cho mượn vũ trường Ritz làm nơi gây quỹ.

Năm 1948, lúc 11 tuổi, Ông rời Lasan Đức Minh chuyển sang trường Lê Văn Hai học 2 năm. Ở đây, anh dành thì giờ học Pháp văn và học Việt văn với giáo sư Ngọc Thứ Lang (cũng là một tiểu thuyết gia và là người dịch truyện Bố Già). Hai năm sau (1950), Ông được vào học tại Trường Kỹ Thuật Cao Thắng.

Trong khoảng thời gian học tại đây, Ông viết 2 cuốn sách Tự Học về guitar và đến năm 1953 (khoảng 16 tuổi), Ngọc Chánh bán bản quyền 2 cuốn sách này cho nhà xuất bản Mỹ Tín, chủ nhân chuyên làm đàn violon (Tiệm đàn Mỹ Tín có tên trong tự điển Pháp về tài chế tạo đàn violon và ông này cũng là một kịch sĩ, giáo sư Kịch Nghệ của trường Quốc Gia Âm Nhạc trước 75).

Nhờ tiền bản quyền 2 cuốn sách, nhạc sĩ Ngọc Chánh lấy được 24 ngàn, mua đàn piano hết 22 ngàn, còn dư 2 ngàn, Ông dùng làm tiền học phí để học piano, hòa âm và sáng tác với Thầy Dung ở đường Hiền Vương.

Năm 1957, ở tuổi tròn 20, nhạc sĩ Ngọc Chánh đến tuổi động viên. Trước ngày phải đi Thủ Đức, anh được nhận vào làm trong ban Công Dân Vụ. Ở tại nơi đây, anh gặp các nghệ sĩ Thanh Hoài, Thanh Việt, tài tử Kim Vui, kịch sĩ Cảnh (còn được bạn bè gọi thân mật là Cảnh Vịt, chủ nhân Phở Nguyễn Huệ ở Bolsa), Hoàng Long, Huyền Anh.. Làm ở Công Dân Vụ được 3 tháng, anh rời nơi này và bắt đầu ra ngoài tự tìm nơi chơi đàn để mưu sinh.

Những ngày tìm việc thuở đầu đời đó, là những năm tháng khó quên của chàng trai tròn 21 tuổi. Năm 1958, chàng thanh niên rất vui khi có những công việc đầu tiên dù chỉ là chơi đàn trong những quán bé nhỏ, như nhà hàng An Lạc (ở Xa Cảng Miền Tây), sau đó vài tháng, Ông tìm thêm được những chỗ mới khá hơn, như nhà hàng Melody, nhà hàng Tàu Lai Yun..

Ròng rã gần hai năm, năm 1960 – nhạc sĩ Ngọc Chánh được ông Hoành, một người gốc Hoa, chủ nhân thầu ca nhạc tại Hồ Tắm Cộng Hòa (cũng là chủ nhân vũ trường Văn Cảnh) mời về làm chef d’orchestre. Một hôm, có một nhạc sĩ tên Tư giới thiệu Ngọc Chánh một nữ ca sĩ trẻ quê quán ở Bình Long lên Saigon trước tiên, cô dự tính học nghề may, đồng thời cô cũng có một giọng hát lạ mong có dịp tham gia vào làng ca nhạc.

Người nữ ca sĩ với khuôn mặt đẹp và tiếng hát khá ngọt ngào ấy – chính là nữ danh ca Minh Hiếu sau này – đã chinh phục ngay mọi người, từ ông chef d’orchestre cho đến người chủ nhân Hồ Tắm Cộng Hòa – ngay từ phút đầu tiên cô cất lên tiếng hát những bản Kiếp Nghèo, Nỗi Lòng, Gợi Giấc Mơ Xưa. Sau khi được nhận, Minh Hiếu còn được nhạc sĩ Ngọc Chánh dậy thêm về nhạc lý và chẳng bao lâu, người nữ ca sĩ này được nhiều vũ trường và phòng trà khác mời cộng tác. Thời gian này, tại Hồ Tắm Cộng Hòa, có những ca sĩ thường xuyên góp mặt, như Thanh Lan (vợ Ông Cao Xuân Vỹ)..

Năm 1962, chủ nhân Hoành thay người kéo Ngọc Chánh về trình diễn tại vũ trường Văn Cảnh, lúc đó chef d’orchestre là nhạc sĩ Sáu Già. Chỉ một năm sau (1963), Ông được nhà hàng Mỹ Phụng mời về làm chef d’orchestre, trong ban nhạc bấy giờ có Hoàng Liêm guitar, Xuân Mỹ saxo, một người Hoa đánh trống..

Năm 1964, nhạc sĩ Ngọc Chánh được ông bà Long (thân sinh anh Nguyễn Thành Quốc – chủ vũ trường Majestic và Blue Club tại hải ngoại sau này) mời về làm chef d’orchestre, thành phần cũng thế, ngoại trừ không có tay guitar Hoàng Liêm vì anh này bị một tai nạn lớn năm 1963 phải nghỉ làm việc một thời gian).

Năm 1966, với tình hình tổng động viên, Ngọc Chánh tham gia vào Biệt Đoàn Văn Nghệ Trung Ương. Năm 1967, Ban Hoa Tình Thương do bà Tướng Cao Văn Viên thành lập, rút những nghệ sĩ có tài từ nhiều nơi khác về, chẳng hạn bên Công Binh có Khánh Băng, Phùng Trọng, Duy Khiêm, Nguyễn Ánh 9, bên Hải Thuyền có Elvis Phương, bên Địa Phương Quân có Hoàng Liêm, bên Biệt Đoàn Văn Nghệ có Ngọc Chánh, Pat Lâm, Đức Hiếu..

Ngày 31 tháng 1 năm 1968, tức mùng 2 Tết, MTDTGPMN tổng tấn công Sàigòn. Toàn bộ những chương trình ăn chơi giải trí ở các phòng trà, vũ trường đều bị đóng cửa đồng loạt. Giới nghệ sĩ lúc này thất nghiệp cả đám ngoại trừ một số hát được nhạc ngoại quốc thì còn có công việc làm tại các Club Mỹ.

Trong hoàn cảnh này, ca sĩ Pat Lâm được một người cha nuôi người Mỹ có chức quyền cao trong cơ sở USO đề nghị Anh và nhạc sĩ Ngọc Chánh quy tụ những nhạc sĩ có sẵn trong Ban Hoa Tình Thương lúc bấy giờ thành lập một ban nhạc để chơi hàng tuần (thứ bẩy tại U.S.O. Tân Sơn Nhất và mỗi Chủ Nhật tại U.S.O. 119 Nguyễn Huệ Saigon) cũng như chạy thêm show ở các Club Mỹ khác tại Biên Hòa, Long Bình, Vũng Tầu.. với số lương rất cao.

Theo một tài liệu, USO (viết tắt từ United Services Organizations, tổ chức phi lợi nhuận đưa các hoạt động giải trí tới phục vụ quân đội Mỹ đóng ở khắp nơi trên thế giới. Cơ sở là rạp hát – Nguyễn Huệ. Rạp đã ngưng hoạt động từ trước 1975. Về sau là cơ sở U.S.O.119. Nguyễn Huệ).

Trong lúc mọi người đang mất việc, thì lời đề nghị này của người cha nuôi Pat Lâm quả như những giọt nước quý trên sa mạc. Chỉ một tuần sau, ban nhạc được hình thành với Ngọc Chánh (piano), Duy Khiêm (bass), Đức Hiếu (trống), Hoàng Liêm (guitar) và 2 tiếng hát Pat Lâm, Elvis Phương.

Một thời gian ngắn, Pat Lâm tăng cường thêm Ngọc Mỹ – một giọng nữ chỉ mới 22 tuổi mà đã được coi là một giọng ca vững vàng nhất về nhạc ngoại quốc, nhất là về nhạc Jazz, một loại nhạc nếu không có một căn bản nhạc lý vững chắc thì khó mà trình bày được. Khi vừa chơi trong Club Mỹ một thời gian ngắn, tay trống Lưu Bình vào thế Đức Hiếu và có thêm sự hiện diện của Quốc Hùng chơi bass, Duy Khiêm đánh guitare accord.

Còn tên gọi Shotguns, không chỉ vì ban nhạc được thành hình sau cuộc chiến Tết Mậu Thân chỉ vài tuần – mà tên ban nhạc còn được bắt nguồn từ một bài nhạc chào có tên Shotgun rất ăn khách vào thời gian đó.

Theo như một tài liệu : “Shotgun” là tên một dĩa đơn do Junior Walker & All Stars phát hành năm 1965; sáng tác do Walker viết lời và nhạc, sản xuất bởi Berry Gordy Jr. và Lawrence Horn. Trong bốn tuần liên tiếp, dĩa “Shotgun” đứng đầu danh sách các dĩa nhạc R&B Singles ở Hoa Kỳ và đứng hàng thứ tư trên Billboard Hot 100 vào cuối tuần 3 tháng 4 năm 1965.

Nhạc sĩ guitar Jimi Hendrix từng trình diễn bản này trên sân khấu với ban All Stars. Ca sĩ Pat Lâm và nhạc sĩ Ngọc Chánh, hai linh hồn của ban nhạc, quyết định chọn tên Shotguns cho ban nhạc mới thành lập của mình.

Năm 1969, khi tình hình chiến tranh có vẻ đã lắng dịu, sinh hoạt ca nhạc về đêm trở lại bình thường, nhạc sĩ Ngọc Chánh có khuynh hướng muốn về đóng đô trình diễn hàng đêm tại Sàigòn.

Theo nhà báo Nguyễn Việt, trong giai đoạn này, “Ngọc Chánh cùng Hoàng Liêm, Elvis Phương quyết định chuyển hướng từ một ban nhạc chuyên trình diễn loại nhạc Pop Rock kích động sang trình bày nhạc Việt. Bởi Ngọc Chánh có tâm tư, tại sao cứ phải trình diễn cho các Club Mỹ với loại nhạc kích động Pop Rock, Twist, Bebop.. ồn ào náo nhiệt, mà không trở về với cội nguồn cho khán giả Việt thưởng thức những nhịp điệu nhẹ nhàng, lãng mạn, trữ tình như Slow, Boston, Rumba, Tango, Bolero…

Một quyết định xem ra đơn giản nhưng không đơn giản vào thời đó, vì có một số anh chị em trong ban nhạc không đồng tình. Lý do trình diễn ở các Club Mỹ được nhiều tiền hơn trên các sân khấu Việt”.

Thời gian này, nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ có lúc đã mời ban Shotguns về trình diễn Show mỗi đêm với thời lượng một tiếng đồng hồ. Khách tại Maxim rất yêu thích phong cách sống động của ban nhạc và lối trình diễn nóng bỏng của Ngọc Mỹ, Pat Lâm và Elvis Phương.

Cuối năm 1969, đầu 1970, khi Jo Marcel rời Queen Bee, Khánh Ly đã mướn lại và mời ban nhạc Shotguns về đóng đô mỗi đêm. Mỗi đêm, bên cạnh thành phần nhạc sĩ thường xuyên của Shotguns, khán giả đến Queen Bee còn nghe được tiếng đàn piano của Nguyễn Ánh 9 và tiếng trống Anh Thoại.

Tết 1971, Khánh Ly cùng Ngọc Minh và cô em gái Ngọc Anh đi trình diễn tại Mỹ. Lúc trở về, Khánh Ly rời Queen Bee và khai trương chỗ mới ở phòng trà Tự Do. Riêng tại Queen Bee, nhạc sĩ Ngọc Chánh và ban Shotguns quyết định “thầu” lại và mời tiếng hát nữ danh ca Thanh Thúy tái xuất giang hồ sau 5 năm cô giải nghệ đi lấy chồng. Không biết vô tình hay hữu ý, đêm khai trương của hai vũ trường Tự Do và Queen Bee đều cùng một ngày, ngày 16 tháng 3 năm 1971.

Bên phòng trà Tự Do, để cho có nét lạ, đích thân Khánh Ly đến nhà Mai Hương mời cô cộng tác với hợp đồng ký 6 tháng. Tuy chỉ thích hát trên truyền hình, truyền thanh, nhưng vì quý mến Khánh Ly, cho nên Mai Hương đã nhận lời mời. Do đó, trên tờ quảng cáo, Khánh Ly đã ghi : “Và lần đầu tiên, giọng ca chị em với Thái Thanh, “nữ ca sĩ Mai Hương” chịu đi hát phòng trà.

Ngày cuối cùng mãn hợp đồng, đúng 6 tháng sau, ngày 16 tháng 9 năm 1971, trong buổi hát cuối cùng tại Tự Do, Mai Hương đã kêu gia đình đi xem rất đông, ai dè, đêm hôm đó, phòng trà Tự Do bị đặt chất nổ, một số người đã bị thương vong, trong đó có gia đình của ca sĩ Mai Hương, một vài người cháu đã bị thương khá nặng. (Còn 1 kỳ nữa)

Nguyễn Toàn chuyển tiếp

Chú thích ảnh :

H1: Phòng trà International Quốc Tế góc Công Lý, Lê Lợi

H2: Ban nhạc Shotguns thời kỳ thành lập năm 1968. Hàng đầu từ trái: Duy Khiêm (accord guitar), Đức Hiếu (trống), Quốc Hùng (bass), Ngọc Chánh (piano) và hàng cao nhất, từ trái: Pat Lâm, Ngọc Mỹ, Hoàng Liêm.

H3: Nhạc sĩ Ngọc Chánh tại vũ trường Ritz (Quận Cam) năm 1993. H4: Frère Aime Nguyễn Văn Đức, vị sư huynh khả kính đã dậy nhạc sĩ Ngọc Chánh lúc ông lên 8 tuổi. H5: Sân trường Lasan Đức Minh đầy kỷ niệm của nhạc sĩ Ngọc Chánh từ năm 8 tuổi đến 11 tuổi.

H6: Nhạc sĩ Ngọc Chánh thời trai trẻ đôi mươi. H7: Hồ Tắm Cộng Hòa,một trong những nơi đi đàn kiếm tiền của nhạc sĩ Ngọc Chánh thuở đầu đời những năm 1960-1962. H8: Ảnh trái: Nhạc sĩ Ngọc Chánh chụp năm 1964 (27 tuổi) thời gian anh được mời về làm chef d’orchestre vũ trường Eden Rock. H9: Trần Quốc Bảo thay mặt Ban Tổ Chức trao tặng trophy lưu niệm đến nhạc sĩ Ngọc Chánh.

H10: Ngọc Chánh cùng Ban Hoa Tình Thương ra Pleiku năm 1968 hát ủy lạo tinh thần chiến sĩ. Cả nhóm chụp cạnh xe tăng T54 của CS bị bắn hạ. Trong ảnh: NS Duy Khiêm (số 1), Elvis Phương (số 2), Đức Hiếu (số 3), ca sĩ Thu Anh – em gái NS Phượng Liên (số 4), nhạc sĩ Bảo Thu (số 5), NS Hoàng Liêm (số 6), NS Ngọc Chánh (số 7), Pat Lâm (số 8), saxo Nguyễn Hữu Thành (số 9), trống Phùng Trọng (số 10) H11: Các nghệ sĩ ra hát ủy lạo tinh thần chiến sĩ tại Pleiku. Trên cổ mỗi người còn đeo một huy chương. Ngọc Chánh (bìa trái), trong ảnh còn có có Pauline Ngọc, Á Hậu Ngọc Tuyết (đeo kiếng), Trần Văn Trạch, Khả Năng, Thanh Việt, Phương Hoài Tâm.

H12: Cơ sở U.S.O số 119 đường Nguyễn Huệ, nơi mà ban nhạc Shotguns trình diễn mỗi Chủ Nhật

H13: Ca Sĩ Pat Lâm và Duy Khiêm. H14: Ban Shotguns chơi hàng tuần mỗi chiều thứ bẩy tại U.S.O Tân Sơn Nhất. Từ trái : Elvis Phương, Ngọc Mỹ, Pat Lâm, Hoàng Liêm, phía sau là Lưu Bình (trống) và Ngọc Chánh (piano).

H15: Ban nhạc Shotguns trên sân khấu Maxim theo lời mời của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ. H16: Quảng cáo của phòng trà Queen Bee – Khánh Ly với ban nhạc Shotguns Ngọc Chánh trên báo Kịch Ảnh số 398 phát hành ngày 25 tháng 4 năm 1970

H17: Ảnh chụp ban nhạc Shotguns trình diễn tại Queen Bee mùa Hè 1970. Trong ảnh có Long Thoại Nguyên (Saxo), Ngọc Chánh, Nguyễn Ánh 9, Như Khiêm, Khánh Ly, 1 anh, Elvis Phương, Hoàng Liêm, Anh Thoại. H18: Thanh Thúy, Hoàng Liêm, Đan Thọ và ban Shotguns tại phòng trà Queen Bee.

H19: Cuốn Băng Vàng Shotguns tung ra vào dịp kỷ niệm 1 năm thành lập (ngày 22 tháng 7 năm 1970) đã tạo chú ý cho người nghe khắp nơi từ ngày đó tìm kiếm đi mua những cuốn băng do Shotguns thực hiện mỗi khi phát hành. Và những bìa băng của Shotguns xưa.

NGỌC CHÁNH NGƯỜI NS SÀI GÒN XƯA (2)

NHẠC SĨ NGỌC CHÁNH

NGƯỜI ĐÍNH LÊN BẦU TRỜI

ÂM NHẠC SÀIGÒN

NHỮNG VÌ SAO LUNG LINH BẤT TỬ

– Trần Quốc Bảo (tiếp theo kỳ 1 và hết)

Còn bên phía phòng trà Queen Bee do Ngọc Chánh làm chủ thì đêm khai trương kết quả ra sao, nhất là khi Anh đã có công mời được giọng ca liêu trai Thanh Thúy tái xuất giang hồ. Mời bạn đọc bài viết của Ngọc Hoài Phương đăng trên tuần báo Hồng số 10 phát hành ngày 14 tháng 7 năm 1971 :

Thanh Thúy ăn khách như thuở nào

“Sau hơn 5 năm xa lánh ánh đèn màu sân khấu, khi tái xuất giang hồ, giọng hát liêu trai của Thanh Thúy vẫn còn ăn khách như thuở nào. Nàng vẫn được đón tiếp với trọn vẹn cảm tình của giới ái mộ dành cho một thần tượng. Và có lẽ ngay chính nàng cũng không thể ngờ được sau quyết định tiếp tục trở lại nghiệp cầm ca này, nàng lại được tiếp đón nồng hậu đến như vậy.

Nhắc đến Thanh Thúy thì bắt buộc phải nhớ lại thuở vàng son của nàng trong những năm 1963, 1964 đã qua. Tên tuổi nàng đã đạt tới tuyệt đỉnh danh vọng trong những năm đó. Và bây giờ, khi trở lại với đám đông trong khung cảnh Queen Bee này, tài nghệ của nàng còn có phần điêu luyện, vững vàng hơn xưa nữa là khác. Giọng ca khàn khàn, lê thê đó vẫn còn dư hấp lực để lôi cuốn người nghe. Và ngày nay nếu nàng vẫn còn được nhiều người ái mộ, thiết tưởng đó là chuyện dĩ nhiên, không có gì đáng ngạc nhiên cả.

Nàng đã chọn Queen Bee cho lần tái xuất hiện này. Đêm 16/3 vừa qua, giới yêu nhạc ở thủ đô đã chen chúc nhau tới đây để được nghe lại giọng ca Thanh Thúy, được nhìn lại vóc dáng quen thuộc của nàng. Vẫn khuôn mặt đó, vóc dáng đó và giọng ca đó, người ta không tìm thấy một sự thay đổi nào ở người ca sĩ này.

Hình như, đối với Thanh Thúy, khoảng thời gian mấy năm qua chưa đủ để cho nàng có những thay đổi quan trọng, có chăng chỉ là tài nghệ của nàng vững vàng hơn mà thôi. Sự tái xuất hiện của Thanh Thúy được ghi nhận như một hiện tượng tốt trong sinh hoạt An Nam ta. Và kể từ buổi tối hôm đó, với sự góp mặt thường xuyên của Thanh Thúy, với dàn nhạc nổi tiếng Shotguns do Ngọc Chánh điều khiển cùng các nghệ sĩ tài danh khác, Queen Bee đã được giới yêu nhạc coi như một nơi giải trí ngon lành nhất, thích thú nhất.

Thường thường các phòng trà rất buồn tình đối với các trận mưa vào buổi tối, bởi vì sẽ vắng khách. Nhưng đối với Queen Bee, mưa hay nắng không phải là một vấn đề quan trọng. Điển hình là trong đêm 1/7, khi bộ biên tập báo Hồng mở cuộc hành quân tại Queen Bee, trời cũng mưa. Vậy mà những khách tới trễ cũng khó khăn trong việc tìm chỗ ngồi. Đây là một điểm son của phòng trà này.

Trở lại với người ca sĩ mang tên Thanh Thúy, điều mà rất nhiều người đã công nhận rằng, mặc dầu đã từng là một giọng ca bậc nhất, đã từng chiếm được ngôi vị cao nhất trong những năm trước đây, và cho tới nay nàng vẫn được đón tiếp nồng hậu như xưa, nhưng không phải vì thế mà Thanh Thúy có bộ mặt kên kên khó chịu như một số nghệ sĩ khác.

Nàng nói năng thật nhỏ nhẹ dễ thương và lúc nào cũng cởi mở với những người đã quen hoặc chỉ mới biết sơ sơ. Với tính tình hòa nhã như vậy, với tên tuổi và tài năng sẵn có, chúng tôi tin tưởng rằng Thanh Thúy sẽ còn gặt hát thêm nhiều thành quả trên bước đường ca hát mà nàng còn nặng nợ, không thể dứt bỏ được”.

Trụ ở Queen Bee được hơn 3 năm, Ngọc Chánh dời phòng trà về ngay trên lầu Bộ Tư Lịnh Khai Sáng 91 ter Công Lý cho dễ sinh hoạt. Ban ngày bán băng nhạc, buổi chiều chuẩn bị vặn máy lên đèn và một ngày đẹp trời của tháng 5 năm 1974, phòng trà Quốc Tế do Ngọc Chánh, Thanh Thúy làm chủ được khai trương thật rầm rộ.

Nhìn lại thật công tâm một chặng đường dài 5 năm của Ngọc Chánh và ban nhạc Shotguns, từ Queen Bee cho đến Quốc Tế, ở đây đã là nơi quy tụ những nhạc sĩ tài danh hàng đầu của Saigon như :

– Nhạc sĩ dương cầm Lê Văn Thiện: người đã hòa âm hàng ngàn nhạc khúc và được hàng trăm ca sĩ ưu hạng trình bày.

– Nhạc sĩ Hoàng Liêm: người solo guitar được khách ái mộ phong tặng đệ nhất Đế Vương Tây Ban Cầm độc tấu.

– Đức Phú, Lưu Bình, Hoàng Hải, Mạnh Tuấn: những tiếng trống cừ khôi đã tạo nên những vũ bão âm thanh với đôi dùi huyền nhiệm.

– Saxo Trần Vĩnh, Xuân Tiên: Hai tiếng kèn như hai ngọn núi cao nhất, hú gió gọi mưa về làm mát lòng người.

– Bass guitar Duy Khiêm: người nhạc sĩ được các ca sĩ ưu ái cho là hạt ngọc quý trong xâu chuỗi kim cương của dòng nhạc.

– Đan Thọ: nhà vĩ cầm với chiếc áo vàng trong cuộc đua violin cho tới nay chưa có người thay thế.

– Nhạc sĩ Cao Phi Long: ngôi sao sáng chói trên vòm trời trompet Việt Nam.

Đồng thời cũng tại hai phòng trà này, nhạc sĩ Ngọc Chánh và ban nhạc Shotguns đã là nơi trình diễn lý tưởng cho những giọng ca nổi tiếng đương thời như Thái Thanh, Thanh Thúy, Elvis Phương, Khánh Ly, Lệ Thu, Mỹ Thể, Trúc Mai.. và là những bệ phóng tuyệt vời của những giọng ca trẻ ngời sáng như Thanh Lan, Dạ Hương, Thái Châu, Diễm Chi, Trọng Nghĩa, Nguyễn Chánh Tín..

Riêng trong lãnh vực thực hiện băng nhạc, mặc dù ra đời sau những hãng băng Jo Marcel, Tú Quỳnh, cộng thêm một bất lợi, là tác phẩm Shotguns đầu tay phát hành ngày 22 tháng 7 năm 1969 được thực hiện ở phòng thu Bùi Hữu Nghĩa trong Chợ Lớn (chuyên viên thu thanh tên Hồng), Ngọc Chánh tin rằng anh sẽ thành công bởi có trong tay ca sĩ Hùng Cường hát 5 ca khúc đang nổi ồn ào, đó là Một Trăm Phần Trăm, Ông Lái Đò, Chiều Hoang Vắng, Kim, Đêm Trao Kỷ Niệm.. bên cạnh đó cuốn băng còn có những giọng ca ăn khách thời đó như Thanh Tuyền, Duy Khánh, Ban Sao Băng, Mai Lệ Huyền, Lệ Thu, Giao Linh, Hoàng Oanh, Phương Hoài Tâm.. nhưng chẳng hiểu sao, cuốn băng không gây được tiếng vang như Ngọc Chánh mong muốn.

Nhà báo Nguyễn Việt đã nhắc lại câu chuyện này như sau : “Giới thưởng thức âm nhạc thời bấy giờ rất kén nghe ca sĩ hát, và ca khúc thuộc dạng lãng mạn trữ tình hay dành cho “sến nương” trong một nhãn hiệu băng nhạc nào đó. Hai trường phái này luôn đối nghịch, nếu nhãn băng có những Lệ Thu, Khánh Ly, Elvis Phương, Thanh Lan… thì sẽ không có những Chế Linh, Giao Linh, Trang Mỹ Dung, Chung Tử Lưu, Giang Tử, Duy Khánh v.v…

Có các nhạc phẩm như Tình nhớ, Con thuyền không bến, Đêm đông, thì thường không nghe những bài thuộc dòng “nhạc sến” như Chuyện tình Lan và Điệp, Nhẫn cỏ cho em v.v… Khán thính giả đã phân chia các hạng bậc ca sĩ, nhạc phẩm như thế để thưởng thức nhằm thư giản tinh thần.

Cho nên khi Ngọc Chánh mở đầu cho nhãn hiệu băng nhạc Shotguns với bài “Một trăm phần trăm” do Hùng Cường hát, trong một cuốn băng có những giọng ca như Thanh Thúy, Thanh Lan, Xuân Sơn, Khánh Ly, Elvis Phương… đã không được giới thính giả chào đón, đi đến thất bại.

Từ kinh nghiệm trên, nhạc sĩ Ngọc Chánh rất thận trong phong cách chọn bài hát, ca sĩ và cả về âm thanh. Đến khi cuốn “Băng Vàng Shotguns” được phát hành, tờ nhật báo Trắng Đen bán chạy nhất lúc bấy giờ viết đến kỹ thuật thu âm audio cao cấp của nhóm nhạc này, giới mộ điệu âm nhạc bắt đầu chú ý và từ đó trở thành nhãn hiệu băng được mọi người tin cậy, bán chạy nhất bấy giờ”.

Thừa thắng xông lên, Ngọc Chánh tung thêm nhiều nhãn hiệu khácngoài Shotguns, Thanh Thúy, và tùy theo giòng nhạc, nếu là nhạc trẻ, Anh xếp vào tủ băng có tên Nhạc Trẻ, những cuốn đầu tiên do Kỳ Phát chăm sóc, chọn bài, ca sĩ chủ lực trong những cuốn băng này là Elvis Phương, Thanh Lan, Minh Phúc & Minh Xuân, Bích Loan và CBC, Julie Quang, Cathy Huệ, Thúy Hà Tú, Vy Vân, Thái Hiền, Duy Quang và ban Dreamers, Tuấn Dũng, Cao Giảng, Trung Hành (Mây Trắng), Paolo Tuấn, Tuấn Ngọc, Thanh Mai, Ái Ly.. và đôi khi mời những special guest như Ngọc Mỹ, Tuấn Ngọc, Carol Kim, Jennie Mai, Trọng Nghĩa..

Bên cạnh tủ băng Nhạc Trẻ, tủ băng Chế Linh, tủ băng cải lương với nhãn hiệu Hồn Nước (do soạn giả Viễn Châu phụ trách). Cũng nói thêm tại đây, cách đây khá lâu, cô Sáu Liên chủ hãng dĩa Việt Nam có tìm cách liên lạc với nhạc sĩ Ngọc Chánh để xin phép sử dụng lại những cuốn băng cải lương mang nhãn hiệu Hồn Nước mà Ngọc Chánh đã thực hiện trước 75.

Sau khi suy nghĩ, Ông đồng ý cho cô Sáu Liên sử dụng những sản phẩm Hồn Nước với điều kiện Bà trao số tiền 1000 dollars (xem như tiền sử dụng) đến tay nhạc sĩ Viễn Châu và một số tiền cũng như thế đến Hội Ái Hữu Tương Tế Nghệ Sĩ (lúc đó do nghệ sĩ Phùng Há chăm sóc). Người viết không rõ câu chuyện kết cuộc về đâu nhưng tấm lòng cao quý âm thầm của nhạc sĩ Ngọc Chánh vô cùng đáng quý.

Điều tiếc nuối của Ngọc Chánh là năm 1974, Ông dự tính một kế hoặc lăng xê những giọng hát trẻ có nhiều triển vọng như Hương Lan, Hải Lý, Nguyễn Chánh Tín,.. nhưng chưa kịp lăng xê thì bởi chiến cuộc lan rộng khắp miền Nam nên mọi kế hoạch đành hủy bỏ.

Biến cuộc 30/4 trờ đến. Cuối năm 1975, để được yên thân, anh nhận lời cộng tác với đoàn kịch Kim Cương vào cuối tháng 12. Những thành viên trong ban nhạc hầu hết là những nhạc sĩ cũ của ban Shotguns như : Ngọc Chánh, Lê Văn Thiên, Đan Thọ, Cao Phi Long, Duy Khiêm, Long Thoại Nguyên, Đức Hiếu, Xuân Tiên.. có thêm Văn Hạnh, Lê Tấn Quốc (chồng Họa Mi), Đặng Văn Hiền..

Những buổi diễn đầu tiên tại Rạp Kinh Thành vé bán hết sạch trong chớp nhoáng bởi những cái tên nạm vàng của miền Nam ngày trước: Lệ Thu, Thanh Tuyền, Thái Châu, Hà Thanh, Thanh Phong, Phương Đại, Họa Mi cùng với một ban nhạc toàn những tên tuổi lẫy lừng.

Ẩn nhẫn chờ thời khoảng 3 năm, Ngọc Chánh cùng gia đình vượt biển đến đảo Pulau Tengah của Mã Lai vào đúng ngày 4 tháng 10 năm 1978. Ngày 1 tháng 4 năm 1979, gia đình Anh đến Mỹ do nhà thờ bảo lãnh. Ở San Pedro 1 tháng, cả nhà dời lên thành phố Van Nuys cư ngụ khoảng 6 tháng. Tháng 10 năm 1979, trong một dịp tình cờ Anh gặp lại Đinh Thành Châu – một thân hữu giờ làm chủ một nhà hàng tại San Jose muốn giao cho Ngọc Chánh làm vũ trường với tiền cho mướn chỉ 2200$ một tháng.

Đêm khai trương của nhạc sĩ Ngọc Chánh và ban Shotguns cùng những tiếng hát Kim Anh (Mùa Thu Lá Bay), Huy Sinh, Hải Lý, Ánh Lệ vào cuối tháng 12 năm 1979 đã thu hút giới mê nhạc năm xưa ở Saigon. Những năm 1980-1981 dù bận nhưng Ông vẫn dành thì giờ đi học chụp ảnh nghệ thuật với nhà nhiếp ảnh Trần Cao Lĩnh.. và nhờ vậy, Ông đã có một số kiến thức về nhiếp ảnh để những năm sau này, khi từ giã thế giới phòng trà, Ông đã lao vào thú vui chụp hình như một đam mê cháy bỏng cuối đời.

Năm 1983, đang sinh hoạt nhộn nhịp, vũ trường Ông bị cháy. Đang dự tính tìm một nơi khác để mở lại thì bỗng một dịp xuống thăm Quận Cam, ông gặp được nhạc sĩ Vô Thường, lúc đó đang cùng Lê Đức Long (chủ một cây xăng) làm chủ một vũ trường và đang muốn sang lại. Chỉ nửa ngày sau, Ngọc Chánh đồng ý chồng tiền.

Từ một diện tích nhỏ khi sang lại năm 1984, đến cuối tháng 12 năm 1989, chỉ 5 năm sau, vũ trường Ritz đã khuếch trương gấp 5. Lúc Trần Quốc Bảo tổ chức đêm ra mắt tờ báo Thế Giới Nghệ Sĩ ngày 8 tháng 12 năm 1989, thì trong vũ trường còn đang xây dựng một bên góc khá ngổn ngang.

Năm 1986, Ông cùng các con mở một nhà in thật lớn, có tên Perfect Printing, được sự yểm trợ của nhiều anh chị em nghệ sĩ và thân hữu xa gần.

Sau 19 năm làm chủ vũ trường, con cái Ông Bà giờ đây học hành cũng đã thành đạt, Ông quyết định giải nghệ và sang lại vũ trường này cho ông Phương. Đêm đầu tiên, đúng vào lễ Noel 1998, người viết và nhiều ca nhạc sĩ (cũng như khách hàng quen) bước chân vào vũ trường mới biết được giờ đây chủ nhân Ritz đã là người mới.

Sau ngày đó, nhạc sĩ Ngọc Chánh cùng vợ dành thì giờ đi du lịch rong chơi nhiều quốc gia. Thì giờ còn lại, Ông chơi tennis, rồi đánh golf, cũng như chuyên tập bộ môn Hồng Gia để giúp cho cơ thể có thêm sức khỏe.

Cách đây 10 năm, năm 2007, Ông bắt đầu đi vào chuyên môn nhiếp ảnh, và nhiều lần ghi danh dự thi, Ông cũng nhiều lần đoạt được những giải thưởng hạng đầu. Tuy nhiên với Ông, niềm vui duy nhất trong thú đam mê này, đó là làm sao tạo được những tác phẩm nghệ thuật mà mình và nhiều người nhìn vào sẽ yêu thích. Cũng như ngày xưa, biết bao giờ quên ăn, đêm không ngủ, để cố đi tìm những phương cách mới lạ cho bảng hiệu Shotguns.

Kết thúc bài viết này, người viết xin trích một bài thơ ngắn mà ngày xưa thi sĩ Hoàng Trúc Ly từng viết về Shotguns : Em là người yêu có sắc / Em là người thương có tài / Em là tình nhân có tâm / Ta si mê nên trở thành nô lệ / Suốt đời ta không hối hận một lần. Kính chúc nhạc sĩ Ngọc Chánh, một sinh nhật thứ 80, mãi mãi tươi trẻ, mãi mãi nồng nàn, để cho thần Thời Gian phải cúi đầu khuất phục. (trích bài Trần Quốc Bảo trong tuần báo Thế Giới Nghệ Sĩ số 109 phát hành ngày 10 tháng 3 năm 2017)

Nguyễn Toàn chuyển tiếp

Chú thích ảnh :

H20: Tờ quảng cáo một băng nhạc Shotguns về Noel ra cuối tháng 12 năm 1969. H21: Tờ quảng cáo show nhạc quy tụ những thành viên Shotguns cũ và những giọng hát vàng nổi tiếng của Saigon trước 75.

H22: Thời gian vũ trường bị cháy, ban nhạc Shotguns vẫn trình diễn những Show lớn vào những dịp Lễ trong năm. H23: Một buổi họp mặt của gia đình Shotguns tại Đường Sơn Quán vào dịp Tết 1975. Từ trái: nhạc sĩ Ngọc Chánh, Anh Ôn Văn Tài, một Cựu Đại Tá (chủ nhân Đường Sơn Quán), nhạc sĩ Mạnh Tuấn, AC Luật sư Lai (Ban Giám Đốc phòng.

NHÂN SINH NHẬT TUỔI 80 (13/3/1937-2017)

NHẠC SĨ NGỌC CHÁNH

và ban nhạc Shotguns trong ký ức văn nghệ sĩ một thời

– CA SĨ THANH THÚY : Thanh Thúy đã biết anh Ngọc Chánh từ những năm 1960-1961, khi ấy anh chơi nhạc tại Hồ Tắm Cộng Hòa. Khoảng năm 1964, Thanh Thúy đi lấy chồng quyết định giải nghệ. Đến khoảng 5 năm sau, có một lần anh tìm gặp và mời Thanh Thúy trở lại, đầu tiên là thu băng, sau đó về cộng tác phòng trà Queen Bee nhân dịp anh sẽ khai trương vào tháng 3 năm 1971.

Ngày đó giữa Thúy và gia đình anh chị Ngọc Chánh gần gũi và thân thiết như gia đình. Dù bận cách mấy, mỗi sáng hết đi hát ở đại nhạc hội, Nha Xổ Số, thu Tivi hoặc thâu băng, đến chiều về là đã chuẩn bị son phấn quần áo để vào vũ trường. Anh em gặp nhau mỗi ngày, chưa kể là có những buổi tập dợt ban nhạc, ăn uống họp mặt gia đình, nên tình thân có thể nói là thâm sâu lắm.

Năm 1974, khi dời phòng trà Queen Bee sang Quốc Tế, mấy anh em cũng làm chung với nhau. Thuở ấy, thành thật mà nói, Thanh Thúy không hề biết nghĩ đến chuyện tiền bạc, chỉ lo công việc hàng đầu là mặt nghệ thuật, chọn lựa bài hát.. mong sao khi thực hiện những tác phẩm băng nhạc Thanh Thúy (có anh Ngọc Chánh góp công phần lớn trong đó), sẽ luôn được khán giả hài lòng về chất lượng cũng như bài bản.

Thấm thoát mà nay cũng đã hơn 46 năm dài kể từ khi cộng tác với anh và ban nhạc Shotguns. Được biết Trần Quốc Bảo và tuần báo Thế Giới Nghệ Sĩ thực hiện một số chủ đề về ban nhạc Shotguns và mừng anh sinh nhật thứ 80, Thanh Thúy kính chúc Anh sức khỏe tràn đầy để còn có thể đi khắp nơi chụp ảnh nghệ thuật như anh yêu thích, cũng như luôn cầu mong gia đình Anh chị và các cháu bình an và luôn gặp nhiều may mắn.

– NHẠC SĨ DUY KHIÊM (tay bass của Shotguns) :  Anh Chánh, Trần Quốc Bảo có nhờ Khiêm viết vài dòng những kỷ niệm về anh cho một bài báo sắp phát hành. Vài dòng làm sao nói hết những kỷ niệm, những hồi ức suốt mấy chục năm từ lúc có cơ hội gặp nhau và chơi nhạc thuở ban Shotgun thành lập năm 1968.

Những kỷ niệm đáng nhớ lúc thiếu thời đôi khi nó không là gì lớn lao nhưng là những dấu ấn hằn sâu trong suốt cuộc đời nhau. Có gì đâu anh Chánh, chiếc Vespa của anh không có cần đạp máy, bị gẫy hay là mất gì đó, điều đó không quan trọng, chỉ có là khi muốn chạy, anh lên ngồi sang số rồi một người đẩy, sau đó cười ngặt nghẽo, anh em mình là những nhạc sĩ nghèo mà vui quá phải không anh.

Anh và Khiêm là hàng xóm bao nhiêu năm mà không biết nhau. Ở xóm ông Tạ, Khiêm ở đầu hẻm, anh ở xóm trong. Sau khi lập ban, vô tình hỏi nhau mới biết, “Ủa, vậy hả !” thật đơn giản mà dễ thương làm sao. Anh có nhớ anh em mình gọi Pat Lâm là gì không ? “Ông thầy Tàu”. Vậy đó, Pat Lâm vẫn vui với tên gọi đó. Sau 75, trong một chuyến vượt biên, tàu Pat Lâm bị bắn chìm, xác trôi vào bờ với đứa con trong tay, nhiều người chứng kiến nói lại, nhưng anh em mình không biết an táng nơi nào.

Bao nhiêu năm trôi giạt nơi xứ người, mỗi người một nơi, kẻ còn người mất, tuổi ngày càng cao, những kỷ niệm một thời của ban shotgun, của anh Chánh, của Khiêm, của những anh em còn lại là một hoài niệm đẹp trong cuộc đời nhạc sĩ.

Vài dòng nhưng cũng đã dài, nhân có bài viết về ngày Sinh Nhật anh. Duy Khiêm Chúc anh Sinh Nhật thật vui, sức khỏe dồi dào và mong lại có dịp gặp nhau để nhắc lại một thời huy hoàng đã rất xa…

– CA SĨ PAULINE NGỌC : Nhạc sĩ Ngọc Chánh là một ông anh giỏi, rất giỏi và sáng tạo. Rất nhiều ý kiến mới trong lãnh vực Văn Nghệ và gan dạ cùng mình. Từ đi làm công trong ban nhạc để trở thành chủ phòng trà và tinh mắt lúc nào cũng theo kịp thị hiếu cũng như sự yêu thích của khán thính giả.

Nhạc sĩ Ngọc Chánh từ làm băng Shotgun đến Nhạc trẻ đều thành công độc đáo. Lúc nào cũng đi tiên phong, không ngán thua cuộc hay lỗ vốn. Anh Ngọc Chánh đã đem Pauline Ngọc từ Club Mỹ Long Bình về hát phòng trà Queen Bee, cũng như thế với anh Elvis Phương.

Thời đó anh Đức Huy đóng đô ở phòng trà Mỹ Phụng bến Bạch Đằng, còn Duy Quang, Julie Quang – ban Dreamers ở Club Hai bà Trưng, Mây Trắng ở Key Hole, nhưng Queen Bees thì hỗn hợp Nhạc trẻ và giòng nhạc tình với nữ Hoàng sầu muộn Thanh Thúy rất tuyệt vời!

Nghệ sĩ về hát ở phòng trà Queen Bee của anh Ngọc Chánh và chị Thanh Thúy thì sướng lắm. Ba tháng đầu Pauline Ngọc được ký contrat hát độc quyền, khỏi chạy vòng vòng hát chỗ khác, và được chú Ngọc Hoài Phương cùng những ký giả khác thay phiên viết bài lancer mình qua sự hướng dẫn của anh Ngọc Chánh. Chị bắt đầu sự nghiệp là từ đó nên yêu quý anh Ngọc Chánh suốt đời. Cầu Chúa thương cho anh ấy sức khỏe và bình an để xách máy đi vòng Thế giới chụp ảnh dài dài !

– CA SĨ ANH KHOA : – Hỏi : Khi mới vào nghiệp ca hát, những ca khúc nào có thể coi là “tủ” của anh ? Những bản nào khiến khán thính giả, nếu nghe lại, vẫn nhớ đến ca sĩ Anh Khoa ? Và, nhạc sĩ nào đã có ảnh hưởng lớn đến anh?

– Anh Khoa : Phải nói đến những “Bài không tên” của Vũ Thành An. Nhưng bài đã đưa tôi lên tên tuổi sáng chói nhất, chỉ có một bài thôi, là “Bao giờ biết tưong tư” (nhạc Phạm Duy, lời Ngọc Chánh). Sau này, có nhiều người ca bài đó, nhưng thật sự đa số khán giả vẫn đánh giá tôi hát bài đó là đạt nhất.

– NHÀ BÁO NGUYỄN VIỆT :  Năm 1969, Ngọc Chánh thành lập Trung tâm băng nhạc Shotguns, thu âm ở một phòng thu trên đường Bùi Hữu Nghĩa. Vì cộng tác chặt chẽ với nhạc sĩ Phạm Duy nên Ngọc Chánh đã nhờ Phạm Duy đặt lời cho bản nhạc “Bao giờ biết tương tư” (năm 1972) ông đã viết cho phim “Điệu ru nước mắt” dựa theo tác phẩm của nhà văn Duyên Anh. Ca sĩ Anh Khoa đã hát rất thành công bản nhạc này đúng ý ông nhất.

Nhạc sĩ Ngọc Chánh còn viết bản nhạc “Vết thù trên lưng ngựa hoang” cho bộ phim cùng tên của đạo diễn Lê Hoàng Hoa. Lúc đầu, ông định nhờ nhà văn Duyên Anh viết lời, nhưng sau đó đã để cho Phạm Duy viết lời. Duyên văn nghệ giữa Ngọc Chánh và nhạc sĩ Phạm Duy còn mang lại cho nền tân nhạc Việt Nam một bài hát nữa là “Tuổi biết buồn” cũng do Phạm Duy đặt lời.

Ca khúc “Bao giờ biết tương tư” trong phim “Điệu ru nước mắt” là lời tâm tình của một chàng trai biết thế nào là nỗi sầu tương tư khi tình yêu đến. Mãi đến khi đã thật sự yêu nàng, chàng mới biết thế nào là nỗi nhớ da diết mà người ta thường gọi là nỗi tương tư của một người phải xa cách người yêu để từng ngày qua là một ngày mong chờ được nhìn thấy bóng dáng của nàng. (theo Trần Quốc Bảo – Thế Giới Nghệ Sĩ)

Nguyễn Toàn chuyển tiếp

Chú thích ảnh :

H1: Lễ phát giải Kim Khánh 1973 do nhật báo Trắng Đen tổ chức. Từ trái sang phải: Bạch Tuyết, bầu Xuân (Dạ Lý Hương), Mai Lệ Huyền, Trần Quang, Thẩm Thúy Hằng, Elvis Phương, Thanh Thúy, Ngọc Chánh

H2: Ban nhạc Shotguns từ Saigon lên Đà Lạt dự đám cưới Duy Khiêm ngày 3 tháng 12 năm 1969. Từ trái sang phải : Pát Lâm, Ngọc Chánh, Elvis Phương, Ngọc Mỹ, Quốc Hùng, Hoàng Liêm, Duy Khiêm. H3: Anh chị Bảo Hà, Duy Khiêm.

H4: Một bức ảnh quý chụp tại Đà Lạt tháng 12 năm 1969. Phía sau là vũ trường Tulipe Rouge, nơi mà Khánh Ly đã hát trước khi về Saigon năm 1965-1966. Từ trái sang phải : Elvis Phương, Ngọc Chánh, vợ chồng Pat Lâm, Ngọc Mỹ, Duy Khiêm, Quốc Hùng và Hoàng Liêm. H5: Nhạc sĩ Ngọc Chánh và Phạm Duy từ những ngày trong nước đến khi ra hải ngoại luôn sát cánh hoạt động bên nhau.

H6: Buổi họp mặt Pauline Ngọc sang Cali lần đầu ngày 26 tháng 4 năm 2010. Từ trái: Ngọc Chánh, Trung Nghĩa, Pauline Ngọc, Lưu Thế Vũ, Anh Thời Billars, Trần Quốc Bảo.. H7: Bài hát Bao Giờ Biết Tương Tư (sáng tác của Phạm Duy – Ngọc Chánh) đã đưa tên tuổi Anh Khoa đến gần người yêu nhạc tại Saigon những năm 1971-1972

MỪNG NS NGỌC CHÁNH TUỔI 80

Chúc mừng nhạc sĩ Ngọc Chánh

SINH NHẬT TUỔI 80

(13/3/1937 – 13/3-2017)

Mời các bạn đọc lại bài viết :

BAN NHẠC SHOTGUNS

VÀ NGƯỜI NHẠC SĨ ĐA TÀI

– Bài : NGUYỄN VIỆT

Tôi biết nhạc sĩ Ngọc Chánh từ ngày anh còn làm ở phòng trà khiêu vũ trường Queen Bee trên lầu của thương xá Eden, lúc đó đang do nữ ca sĩ Khánh Ly khai thác. Bấy giờ Ngọc Chánh đang chơi piano và organ trong một ban nhạc chưa được đặt thành tên, và cũng chưa được nổi tiếng lắm trong các hoạt động âm nhạc ở miền Nam bấy giờ.

Nhưng rồi một ngày, khi Khánh Ly ra mở phòng trà riêng trên đường Tự Do (bây giờ là Đồng Khởi), ông Tuất chủ nhân phòng trá Queen Bee giao lại cho nữ ca sĩ Thanh Thúy quản lý. Từ đó một ban nhạc mới được thành hình, một ban nhạc mang âm thanh của loại súng liên thanh ra đời, tức ban nhạc Shotguns, do nhạc sĩ Ngọc Chánh làm Chef d’orchest hợp cùng các nhạc sĩ Hoàng Liêm (guitar), Hùng (bass), Ngọc Chánh (piano, organ), Lưu Bình (trống) và các ca sĩ chủ lực gồm Thanh Thúy, Elvis Phương, Pat Lâm và Ngọc Mỹ. Sau này có thêm các nhạc sĩ Cao Phi Long, Đan Thọ, Lê Văn Thiện, ca sĩ có thêm những Thanh Lan, Xuân Sơn, Thái Châu, Nguyễn Chánh Tín, cùng chen vai sát cánh bên nhau, hoạt động từ băng nhạc, ca vũ trường đến các show diễn tại các Club Mỹ, trên các sân khấu đại nhạc hội hay đài phát thanh, truyền hình.

MỘT NHẠC SĨ CÓ TÀI KINH DOANH

Thời gian còn cộng tác tại phòng trà Queen Bee, ban nhạc của nhạc sĩ Ngọc Chánh còn phục vụ trong đoàn văn nghệ Hoa Tình Thương và các Club Mỹ, với phong cách trình diễn loại nhạc kích động như ban nhạc của Khánh Băng – Phùng Trọng. Bởi ca sĩ chủ lực của ban Shotguns là Pat Lâm và Ngọc Mỹ, vào thời đó chưa ai hát nhạc ngoại quốc qua mặt được (năm 1971, khi Ngọc Mỹ đi Mỹ trình diễn và cô đã ở lại Mỹ hát cho một ban nhạc nổi tiếng từ đó).

Cuối những năm 1960, nhạc sĩ Ngọc Chánh sau khi thành hình ban nhạc Shotguns, anh đã cùng Hoàng Liêm, Elvis Phương quyết định chuyển hướng từ một ban nhạc chuyên trình diễn loại nhạc Pop Rock kích động sang trình bày nhạc Việt. Bởi Ngọc Chánh có tâm tư, tại sao cứ phải trình diễn cho các Club Mỹ với loại nhạc kích động Pop Rock, Twist, Bebop.. ồn ào náo nhiệt, mà không trở về với cội nguồn cho khán giả Việt thưởng thức những nhịp điệu nhẹ nhàng, lãng mạn, trữ tình như Slow, Boston, Rumba, Tango, Bolero… Một quyết định xem ra đơn giản nhưng không đơn giản vào thời đó, vì có một số anh chị em trong ban nhạc không đồng tình. Lý do trình diển ở các Club Mỹ được nhiều tiền hơn trên các sân khấu Việt.

Sau khi chọn được hướng đi mới, nhạc sĩ Ngọc Chánh bắt đầu đứng ra thành lập cơ sở Nguồn Sống, chuyên sản xuất băng nhạc nhằm tạo đất sống mới cho các ca nhạc sĩ trong ban nhạc; đồng thời cùng nữ ca sĩ Thanh Thúy lập phòng trà khiêu vũ trường mang tên International Quốc Tế nằm ở mũi tàu Lê Lợi, Nguyễn Trung Trực, Công Lý (nay là đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa), và mở cả kiosque mang tên Khai Sáng nằm dưới tầng trệt của phòng trà, làm nơi tổng phát hành băng nhạc do anh sản xuất.

Nói về sản xuất băng nhạc, nhớ lại lúc khởi đầu khai sinh ra nhãn hiệu băng Shotguns, mấy cuốn đầu tiên không nói là thất bại nhưng thật sự chưa gây được ấn tượng trên thị trường, mặc dù có những nhà văn tên tuổi như nhà văn Nguyễn Đình Toàn, ký giả Quỳnh Như viết lời giới thiệu một cách rộng rãi ra công chúng. Chính nhạc sĩ Ngọc Chánh cũng biết là thất bại, không thành công, là vì có những bài hát nằm đan xen trong chủ đề, tuy hợp với giới thưởng thức này nhưng lại là “khắc tinh” với giới khác. Bởi người nghe nhạc đã phân từng loại ca sĩ lẫn từng loại nhạc phẩm.

Như tầng lớp SVHS thì thích những giọng ca của Thanh Lan, Khánh Ly, Lệ Thu, Xuân Sơn, Anh Khoa, Jo Marcel, Sĩ Phú, Elvis Phương, Tuấn Ngọc… Đại đa số công chúng thích nghe Thanh Thúy, Minh Hiếu, Phương Dung, Thanh Tuyền, Túy Hồng, Nhật Trường, Thái Châu… qua những nhạc phẩm mang tính văn hóa và nghệ thuật . Còn lại các ca sĩ như Chế Linh, Duy Khánh, Hùng Cường, Mai Lệ Huyền, Phương Hồng Quế, Sơn Ca, Giang Tử, Trang Thanh Lan, Trang Mỹ Dung, Thiên Trang… thích hợp cho những nhạc phẩm thị hiếu, được soạn theo kiểu mà người đời thường gọi là “nhạc sến”, như các nhạc phẩm : Một trăm phần trăm, Chuyện tình Lan và Điệp, Nhẫn cỏ cho em, Đồi thông hai mộ, Rước tình về với quê hương v.v…

Giới thưởng thức âm nhạc thời bấy giờ rất kén nghe ca sĩ hát, và ca khúc thuộc dạng lãng mạn trữ tình hay dành cho “sến nương” trong một nhãn hiệu băng nhạc nào đó. Hai trường phái này luôn đối nghịch, nếu nhãn băng  có những Lệ Thu, Khánh Ly, Elvis Phương, Thanh Lan… thì sẽ không có những Chế Linh, Giao Linh, Trang Mỹ Dung, Chung Tử Lưu, Giang Tử, Duy Khánh v.v… Có các nhạc phẩm như Tình nhớ, Con thuyền không bến, Đêm đông, thì thường không nghe những bài thuộc dòng “nhạc sến” như Chuyện tình Lan và Điệp, Nhẫn cỏ cho em v.v… Khán thính giả đã phân chia các hạng bậc ca sĩ, nhạc phẩm như thế để thưởng thức nhằm thư giản tinh thần.

Cho nên khi Ngọc Chánh mở đầu cho nhãn hiệu băng nhạc Shotguns với bài “Một trăm phần trăm” do Hùng Cường hát, trong một cuốn băng có những giọng ca như Thanh Thúy, Thanh Lan, Xuân Sơn, Khánh Ly, Elvis Phương…  đã không được giới thính giả chào đón, đi đến thất bại.

Từ kinh nghiệm trên, nhạc sĩ Ngọc Chánh rất thận trong phong cách chọn bài hát, ca sĩ và cả về âm thanh. Đến khi cuốn “Băng Vàng Shotguns” được phát hành, tờ nhật báo Trắng Đen bán chạy nhất lúc bấy giờ viết đến kỹ thuật thu âm audio cao cấp của nhóm nhạc này, giới mộ điệu âm nhạc bắt đầu chú ý và từ đó trở thành nhãn hiệu băng được mọi người tin cậy, bán chạy nhất bấy giờ.

Nói về kỹ thuật thu âm, thông thường với băng nhựa 8 ly thường được sử dụng từ cuối thập niên 1960, người làm băng nhạc cũng ghi âm trên master tape loại băng 8 ly với âm thanh stereo gồm 4 track. Còn Ngọc Chánh ghi âm bằng master tape 16 ly với âm thanh hifi 6 track, tức có 6 đường rảnh độc lập, mỗi rảnh ghi âm một thứ âm thanh riêng biệt, có thể mix chồng lên nhau. Từ master tape này khi chuyển sang ra băng 8 ly sẽ có chất lượng âm thanh hoàn hảo chuẩn xác hơn. Đồng thời trong cuốn “Băng Vàng Shotguns” về phần hòa âm các nhạc phẩm đều do nhạc sĩ Lê Văn Thiện biên soạn, mới lạ hơn những bản hòa âm mà các băng nhạc khác chỉ soạn theo kiểu “mì ăn liền”. Bởi khi mix, trong đó với âm thanh 4 chiều chuyển động (hifi), người ta có thể phân tích được các loại nhạc khí. Hợp cùng những giọng ca hàng đầu bấy giờ như Thanh Thúy, Khánh Ly, Lệ Thu, Elvis Phương, Anh Khoa trình bày v.v…

Sau cuốn “Băng Vàng Shotguns” thành công và được thính giả ủng hộ liên tục những cuốn băng nhạc sau, nhạc sĩ Ngọc Chánh bắt đầu đưa ra nhãn băng thứ hai mang tên nữ ca sĩ “Thanh Thúy”, với thể nhạc khác với thể nhạc của băng Shotguns, cũng đạt kết quả mỹ mãn. Ngọc Chánh liền cho ra nhiều nhãn hiệu băng khác nhằm chiếm trọn thị trường băng nhạc lúc đó, vì làm kinh doanh băng nhạc phải nhạy bén với lớp người thưởng ngoạn.

Cơ sở sản xuất Nguồn Sống của Ngọc Chánh mở thêm thể loại nhạc trẻ mang tên “Băng nhạc Trẻ”; chủ lực gồm ca sĩ Thanh Lan và ban nhạc Phượng Hoàng của Elvis Phương, Nguyễn Trung Cang… và do Kỳ Phát thực hiện nhằm cạnh tranh với các nhãn hiệu băng do Trường Kỳ, Tùng Giang, Nam Lộc, Jo Marcel thực hiện

Nhận thấy ba bước kinh doanh đầu tiên đều thành công, nhạc sĩ Ngọc Chánh mạnh dạn ra một nhãn hiệu băng trái với tay nghề, tức loại băng mang thể loại tân cổ giao duyên, cải lương và hồ quảng tên “Hồn Nước”.

Chủ lực gồm những nghệ sĩ sân khấu thành danh trên sân khấu cải lương và hồ quảng như Thanh Nga, Thành Được, Phượng Liên, Dũng Thanh Lâm, Thanh Kim Huệ, Thanh Điền, Tấn Tài, Bạch Lê, Thanh Bạch v.v… trong đó phần nhạc đệm tân nhạc vẫn là Shotguns, còn về cổ nhạc quy tụ nhạc sĩ Bảy Bá (tức soạn giả Viễn Châu) điều hành, có Văn Vĩ đàn guitar, Năm Cơ đàn kềm và cả ban nhạc hồ quảng của Đức Phú.

Không ngừng ở nhãn băng thứ tư, Ngọc Chánh tiếp tục ra mắt nhãn băng thứ năm mang tên “Chế Linh” dành cho người thích nghe “nhạc sến”…

Đó là về quá trình sản xuất kinh doanh băng nhạc. Vì thế ban nhạc Shotguns vào năm 1973 được đọc giả, khán thính giả ái mộ bình chọn là “Ban nhạc được ái mộ nhất” của Giải Kim Khánh Nghệ Thuật thường được tổ chức hàng năm.

Sau ngày 30/4/1975, nhạc sĩ Ngọc Chánh còn ở lại Sài Gòn, vài năm sau anh mới đi Mỹ bằng đường biển. Ở Mỹ, Ngọc Chánh đã gầy dựng lại ban nhạc và nhãn hiệu băng nhạc Shotguns, vì nó đã trở thành một thương hiệu đã được mọi người tin cậy từ những năm 1970. Đồng thời trên đất Mỹ, anh còn mở phòng trà Ritz để giới thiệu những tài năng mới và những thân hữu nghệ sĩ đang sinh sống tại hải ngoại.

Trước đây và bây giờ cũng vậy, nhạc sĩ Ngọc Chánh luôn sống nhã nhặn khiêm tốn, hòa đồng cùng mọi người, kể cả khi đã có địa vị tiếng tăm. Vì thế với Ngọc Chánh, hình ảnh của anh rất ít xuất hiện trước công chúng, tuy nhiên mọi người khi nghe nói đến tên Ngọc Chánh là biết anh là ông bầu của một ban nhạc và băng nhạc nổi tiếng, đồng thời là tác giả của nhiều ca khúc hợp soạn cùng nhạc sĩ Phạm Duy, những nhạc phẩm của anh ai cũng nhớ như Bao giờ biết tương tư, Tuổi biết buồn, Vết thù trên lưng ngựa hoang…

GIỚI THIỆU CA SĨ MÁT TAY

Tuy nhạc sĩ Ngọc Chánh không có “lò đào tạo ca sĩ” như các nhạc sĩ khác và cũng không tự nhận mình là thầy đào tạo của một ca sĩ nào, nhưng anh lại là người giới thiệu tài năng mới rất mát tay như những Elvis Phương, Thái Châu, Nguyễn Chánh Tín hay Xuân Sơn cô ca sĩ từng được mệnh danh ca sĩ “Trăng sáng vườn chè”; đi hát từ thời Khánh Ly đang còn khai thác phòng trà Queen Bee, ít người biết đến, sau về cộng tác với ban nhạc Shotguns cô đã trở nên nổi tiếng, hay một Hải Lý mới chớm nở chưa kịp kết nụ ra hoa, Ngọc Chánh đã không còn kịp đưa tên tuổi lên như những đàn anh đàn chị vì thời cuộc đổi thay.

Nhưng có lẽ bất ngờ nhất khi nói Ngọc Chánh là người tìm thấy giọng ca của nữ ca sĩ Minh Hiếu đầu tiên. Anh từng lăng xê Minh Hiếu trước cả nhạc sĩ Đức Quỳnh. Theo nhạc sĩ Ngọc Chánh tâm sự :

– “Vào năm 1961 tôi đang phụ trách ban nhạc ở hồ tắm Cộng Hòa trên đường Lê Văn Duyệt (bây giờ tên đường Cách Mạng Tháng 8). Năm đó có một người con gái yêu thích ca nhạc. Cô ta từ Binh Long lên Saigon học hát và học may. Tôi có người bạn nhạc sĩ nhờ tôi hướng dẫn và giúp đở. Thật ra những ngày đầu gặp tôi, cô ta chỉ hát được hai bài là “Nổi Lòng” của Nguyễn văn Khánh và “Gợi Giấc Mơ Xưa” của Lê Hoàng Long (theo dạng bài hát tủ). Nhưng vì tôi là Chef d’orchestre nên đưa cô vào hát ở hồ tắm Cộng Hòa không có gì trở ngại. Cô ấy tên Minh Hiếu.

“Minh Hiếu là người rất có khiếu về ca nhạc, lại thêm đam mê nên chỉ sau 6 tháng đã nổi tiếng. Minh Hiếu bắt đầu hát cho phòng trà “Arc en Ciel” trong Chợ Lớn rồi phòng trà Đức Quỳnh bên rạp Việt Long xưa và Văn Cảnh. Còn được mời thâu dĩa hát cho những hãng dĩa 33 tour ở Sài Gòn thời bấy giờ v.v…”

Hay khi Ngọc Chánh nói đến hai ca sĩ Elvis Phương và Hương Lan thời mới vào nghề :

– “Bài hát đầu tiên của Elvis Phương hát là “Mộng Dưới Hoa”. Ngày đó Elvis Phương hát như người Mỹ hát tiếng Việt, vừa ngọng, vừa đớt thật là khó nghe, nhưng sau một thời gian anh em hướng dẫn, Elvis Phương bắt đầu hát hay dần, hay dần cho đến hôm nay nhiều ca sĩ trẻ trong nước lẫn hải Ngoại chưa ai có giọng ca tốt như Elvis Phương.

“Hoặc như Hương Lan là giọng ca hiếm có khi thâu bài nhạc Hoa lời Việt “Mùa Thu Lá Bay”, nếu cô ấy chịu đi theo con đường này chắc là từ đó đến giờ sẽ không có đối thủ cạnh tranh, nhưng sau tôi không còn thời gian hướng dẫn nữa…”

Phải chăng vì thế Hương Lan chỉ thuộc nữ ca sĩ trung trung đến bây giờ ?! vì từ xưa đến nay các ông bầu tổ chức ca nhạc thường không đưa tên tuổi Hương Lan thành “vơ-đét” của đêm diễn.

Nói về Xuân Sơn hay Nguyễn Chánh Tín cũng thuộc ca sĩ trong ban Shotguns. Cho thấy vào thời kỳ trước những năm 1965, đa số các nam nữ ca sĩ đều từ văn nghệ học đường, từ năng khiếu mà hình thành ra chất giọng riêng biệt. Tuy nhiên không có người hướng dẫn “lăng xê”, khi đi hát lại không chọn đúng nhạc phẩm sở trường, thích gì hát đó nên không thể tự tạo được ấn tượng cho giới thưởng thức.

Thí dụ như Xuân Sơn thích đi hát từ năm 12 tuổi, lớn lên lại trúng tuyển Giải Nhất cuộc thi Tuyển Lựa Ca Sĩ với ca khúc “Trở về Mái Nhà Xưa”. Sau đó Xuân Sơn được mời hát trong các chương trình tại Đài phát thanh, rồi phòng trà. Từng được nhạc sĩ Đỗ Lễ hướng dẫn về nhạc lý và xướng thanh, nhưng quanh đi quẩn lại chỉ có một bài tủ “Trăng Sáng Vườn Chè” của Văn Phụng nên không thành danh. Sau này về hát với ban Shotguns qua những nhạc phẩm như Nắng Thủy Tinh, Ru Em Từng Ngón Xuân Nồng, Lệ Đá, Biển Nhớ, Lá Đổ Muôn Chiều, Tôi Ru Em Ngủ… nữ ca sĩ Xuân Sơn mới đạt đến sự ngưỡng mộ của khán thính giả.

HƯỚNG DẪN TIẾNG HÁT ELVIS PHƯƠNG

Elvis Phương năm tuổi 14 đang theo học tại trường Jean Jacques Rousseau (bây giờ tên trường Lê Quý Đôn). Rất thích ca sĩ Elvis Presley với thể nhạc Rock And Roll, khiến cho quên ăn, quên ngủ, và anh luôn muốn trở thành một Elvis Presley VN. Vì vậy với tên thật Phạm Ngọc Phương, anh đã kết hợp với tên mình cùng tên thần tượng để thành tên gọi Elvis Phương cho đến ngày nay.

Elvis Phương tuy không học nhạc nhưng do năng khiếu đã mau chóng lãnh hội được căn bản về nhạc lý qua bạn bè và qua băng dĩa nhạc. Trong những năm còn học ở J.J.Rousseau là thời gian thật tuyệt vời, anh cùng các bạn thành lập ban nhạc có tên The Rockin’ Stars, có tiếng trong giới trẻ yêu thích nhạc ngoại quốc. Đến năm 1964, ban The Rockin’ Stars tan đàn, và Elvis Phương liền được mời vào hát cùng ban nhạc Les Vampires để trình diễn tại các Club Mỹ. Sau đó gia nhập vào đoàn Văn Nghệ Hoa Tình Thương.

Trong suốt thời gian phục vụ trong đoàn văn nghệ Hoa Tình Thương cùng với ban nhạc Shotguns, Elvis Phương đã gần như chuyển hướng với việc trình bày ca khúc, ít hát nhạc ngoại quốc mà chỉ hát nhạc Việt để đáp ứng yêu cầu của mọi người và cả trong các nhãn hiệu băng do Ngọc Chánh sản xuất.

Sau khi được các nhạc sĩ trong ban nhạc hướng dẫn cách phát âm cho đúng lời Việt, và tự tạo cho mình một sắc thái riêng biệt, từ đó anh đã tự tạo cho mình một kỹ thuật phát âm với những tiếng nấc, tiếng nghẹn đặc biệt, như nhạc phẩm “Lời cuối cho em” là bước đầu đưa tên tuổi Elvis Phương lên hàng danh ca. Sau đó Elvis Phương còn thành công qua những nhạc phẩm khác như Xé thư tình, Kỷ vật cho em, Áo anh sứt chỉ đường tà, Về đây nghe em, Những bước chân âm thầm, Vết thù trên lưng ngựa hoang v.v…. Đó là chưa kể những nhạc phẩm ngoại quốc lời Việt như Godfather, Aline, Main Dans La Main, Lady Belle, Love Story, vv…

Đến năm 1972, Elvis Phương trở nên nổi bật khi xuất hiện cùng ban nhạc Mây Trắng sau là ban Phượng Hoàng qua những nhạc phẩm của Lê Hựu Hà và Nguyễn Trung Cang, như Tôi muốn, Thương nhau ngày mưa, Lời người điên, Yêu người yêu đời, vv…

Năm 1973, Elvis Phương đoạt giải “Nam ca sĩ tân nhạc được mến chuộng nhất” của “Giải Kim Khánh Nghệ Thuật”.

TRẦN VĂN TRẠCH GIỚI THIỆU…

Còn ca sĩ Thái Châu vào năm 1966 mới 15 tuổi, đi theo gánh hát của mẹ tức nghệ sĩ Kim Nên, cùng thời với các nghệ sĩ như Kim Chưởng, Thanh Tao, Thúy Nga, Út Trà Ôn… ba anh còn là phó giám đốc của Cty cải lương Kim Chung; cho nên Thái Châu đã mang dòng máu nghệ sĩ từ trong gia đình, vì nhà có 4 anh em đều sống với ánh đèn sân khấu. Lúc đó ai cũng nghĩ Thái Châu sẽ là hậu duệ tiếp bước đường của cha mẹ.

Thế nhưng, tâm hồn cậu bé Trương Chiêu Thông (tên thật của Thái Châu) lại bị mê đắm bởi những ca khúc lãng mạn trữ tình trong tân nhạc hơn là hát sáu câu vọng cổ bên cổ nhạc.

Đến mùa hè năm 1966, khi đoàn hát của mẹ anh ra Vũng Tàu, anh ban ngày phụ giúp cha mẹ một vài công việc trong đoàn hát, còn đêm tìm đến quán cà phê nhạc nơi có nhạc sĩ Nguyễn Đình Nghĩa (thổi sáo) và Trần Xuân Ngã (violon) quản lý ở đây, để nghe các ca nghệ sĩ biểu diễn.

Ở quán này có giờ dành cho khán giả lên hát như phong trào Hát với nhau ngày nay. Thái Châu xin lên hát, đêm đó có cha mẹ anh đi xem và Thái Châu đã hát ca khúc “Lần đầu cũng như lần cuối” (sáng tác của Minh Kỳ). Không ngờ đêm đó hai nhạc sĩ Nguyễn Đình Nghĩa và Trần Xuân Ngã chính thức đề nghị anh tham gia biểu diễn tại quán có trả lương.

Năm 1969, Thái Châu vừa đi học vừa biểu diễn tại phòng trà Đệ nhất do Mai Lệ Huyền đang phụ trách. Một đêm tình cờ gặp quái kiệt Trần Văn Trạch đến nghe hát, nhà quái kiệt ngỏ ý giới thiệu Thái Châu gia nhập vào ban nhạc Shotguns của Ngọc Chánh. Chính Thái Châu tâm sự : “Tôi mừng còn hơn ai cho vàng vì ban nhạc này đang rất nổi tiếng, nhiều danh ca đã cộng tác và nhiều mầm non ca sĩ đã thành danh từ ban nhạc này”.

Về với ban Shotguns, được Ngọc Chánh giúp đỡ, động viên trong tình anh em, vì vậy Thái  Châu đã tự tạo dấu ấn qua nhiều ca khúc dành riêng cho anh. Điển hình như các bài Tôi đưa em sang sông (Y Vũ), Tình như mây khói, Tình chết theo mùa đông (Lam Phương), Linh hồn tượng đá (Mai Bích Dung), Bài thánh ca buồn (Nguyễn Vũ)… và trở thành giọng hát chủ lực trong ban nhạc Shotguns từ đó.

Nguyễn Việt

Tùy Bút Thanh Lan

NHẠC SĨ NGỌC CHÁNH

CON CHIM ĐẦU ĐÀN

CỦA BAN SHOTGUNS

Những ai từng sống ở Saigon đều biết đến băng nhạc Shotguns. Cái tên khiến cho mọi người liên tưởng đến tiếng súng bắn Bang Bang. Và đó cũng là bài hát nổi tiếng khắp hoàn cầu mà Thanh Lan đã thâu cho băng nhạc này, do nhạc sĩ Ngọc Chánh thực hiện.

Thời gian mới thâu cho Shotguns thì Thanh Lan hát rất nhiều nhạc tiền chiến hoặc tình ca nhẹ nhàng êm dịu, một hai năm sau đó mới chọn lọc những bản nhạc Pháp để thâu song ngữ Việt Pháp, nên có thêm rất đông khán giả trẻ hâm mộ trong giới sinh viên, học sinh.

Còn nhớ lần đầu tiên gặp nhạc sĩ Ngọc Chánh, ông đã đến tận phòng thâu để gặp Thanh Lan. Lúc ấy Thanh Lan đang thâu một bài hát cho trung tâm Tú Quỳnh của nhạc sĩ Phạm Mạnh Cương. Cũng phải nói rõ, thời đó các trung tâm không có phòng thâu riêng mà chỉ cần thuê phòng thâu của những chuyên viên nào mà mình thấy thâu hay và tin tưởng.

Bởi vậy chuyện nhạc sĩ Ngọc Chánh đến phòng thâu khi ca sĩ đang thâu cho một trung tâm khác để mời thâu cho trung tâm sắp ra mắt của mình cũng chẳng có gì là lạ. Hơn nữa thời đó mấy ai mà có điện thoại nhà.

Nhạc sĩ Ngọc Chánh dáng người tầm thước nhanh nhẹn, khi nói chuyện thì nhìn thẳng người đối diện. Ông có nụ cười rất tươi, cười từ trong lòng cười ra, không phải cười xã giao.

Ông có biệt tài khi đã nghe giọng ai hát rồi thì sẽ biết ngay ca sĩ đó cần hát loại nhạc nào để có thể có rất nhiều thính giả hâm mộ trong thời gian ngắn. Nhớ mãi những lần ông đưa những bài hát thật buồn cho Thanh Lan thâu thì mỗi lần hát xong ông đều nhắc : “Nức nở nhe, nức nở nhe”.. nhưng nét mặt thì lúc nào cũng tươi. Có lẽ trong cuộc đời ông dù những lúc sóng gió ông cũng luôn luôn bình tĩnh giải quyết mọi khó khăn vì ông là người luôn tỉnh táo. Thời đại này ở Mỹ người ta gọi là “cool guy”.

Nhạc sĩ Ngọc Chánh thân thiết, hết lòng với đồng nghiệp và cả một đời dành cho âm nhạc. Từ những buổi trình diễn sôi động với ban nhạc Shotguns tại các Club Mỹ , ông trở thành nhà sản xuất băng nhạc nổi tiếng của Saigon.

Kỷ niệm khó quên với nhạc sĩ Ngọc Chánh là chuyến đi Nhật để trình diễn live bản nhạc “Tuổi biết buồn” do hai nhạc sĩ Phạm Duy và Ngọc Chánh cùng sáng tác. Bài hát được vào chung kết sau khi đựoc ban giám khảo tuyển chọn trên 100 bài hát từ các nước Âu, Á, và Mỹ Châu.

Nên cả 3 đựoc mời qua Nhật để tham dự buổi trình diễn một đêm tháng 10 lạnh lẻo vô cùng , nhưng trong khán phòng Budokan Hall thì ấm áp và nhộn nhịp với 10 ngàn khán giả vây quanh một sân khấu tròn chứa trên 100 nhạc công. Nhờ chuyến đi đó nên Thanh Lan được hãng đĩa hát Victor tại Tokyo mời ở lại một tuần để thâu 2 bài hát bằng tiếng Nhật:

– Aino hio Kesanaide (Đừng phá vỡ ân tình, nhạc Nhật). – Yume Miru (Tuổi mộng mơ, nhạc Phạm Duy).

Bẵng đi hơn hai chục năm sau, nhạc sĩ Ngọc Chánh lại mời Thanh Lan hát tại phòng trà Ritz của ông ở miền Nam Cali. Thời gian và những gay gắt của cuộc đời cũng không làm ông thay đổi. Vẫn là người anh văn nghệ ngày nào đến tự giới thiệu mình rồi tươi cười hỏi:

– Thanh Lan thâu bài hát cho tôi được không ?

Nhạc sĩ Ngọc Chánh là một nghệ sĩ biết cân bằng nghề nghiệp và gia đình nên đã thành công về mọi mặt. Hài lòng về những thành quả âm nhạc ông đã hiến cho đời, hài lòng với những người con hiếu thảo thành danh ngoài xã hội.

Hiện nay ông vui với những nét đẹp của thiên nhiên qua ống kính của chính ông. Vì tâm hồn ông luôn đẹp nên quanh ông tất cả đều xinh tươi. Người nghệ sỹ muốn ghi lại những hình ảnh đẹp những nơi ông đã đi qua, cũng như ngày xưa ông đã muốn gìn giữ lại những nốt nhạc réo rắt để cùng chia xẻ với mọi tầng lớp yêu nhạc.

Thanh Lan xin thân chúc anh Ngọc Chánh một ngày sinh nhật 80 tuổi nhiều niềm vui giữa gia đình đầy ắp tiếng cười và tiếng nhạc. (Thanh Lan – California tháng 3 năm 2017).

Nguyễn Toàn chuyển tiếp

H1: Ban nhạc Shotguns trong một lần trình diễn năm 1971. Từ trái sang: Hoàng Liêm, Thanh Lan, Elvis Phương, Hà Thanh, Ngọc Chánh.

H2: Bài hát Bang Bang do nhạc sĩ Phạm Duy chuyển ngữ lời Việt thành Khi Xưa Ta Bé giao cho Thanh Lan hát đầu tiên và nay sau 45 năm, ca khúc này đã trở thành dấu ấn của cô

H3: Đĩa nhạc Thanh Lan hát bằng tiếng Nhật 2 ca khúc Tuổi Mộng Mơ (được dịch là The Ages Of Dreams) và Đừng Phá Vỡ Ân Tình (Don’t Turn Off The Light Of Love) H4: Mặt trong của cuốn băng nói về tiểu sử Thanh Lan bằng tiếng Nhật

H5: Những kỷ niệm quý báu từ dĩa hát, hình ảnh. của Thanh Lan trong chuyến đi Nhật 40 năm trước vừa được đoàn phim Nhật trao tặng tận tay cho Thanh Lan năm 2015. Món quà quý giá vô ngần.

“QUÁI KIỆT” MỘT THỜI SÀI GÒN

Logo nhan vat 1

9-tr-van-trach-1QUÁI KIỆT TRẦN VĂN TRẠCH !

https://youtu.be/gXCqMCxXnE0

Mời nghe ca khúc “Xổ Số Kến Thiết Quốc Gia”

Trần Văn Trạch khi còn là học sinh lớp 7 trường Nguyền đình Chiểu đã từng làm mưa làm gió về văn nghệ tại rạp hát Thầy Năm Tú Mỹ Tho – Mặc Nhân TVC. Hiện tượng Trần Văn Trạch đã đến với tôi vào năm 1939 tại rạp hát Thầy Năm Tú, Mỹ Tho vào mùa bãi trường năm ấy.

Trần Văn Trạch sinh năm 1924 tại làng Đông Hòa, tỉnh Mỹ Tho, học sinh trường Collège de Mỹ Tho. Ngày lễ phát thưởng bãi trường niên học 1937-38 của trường được tổ chức long trọng tại rạp hát Thầy Năm Tú. Trần Văn Trạch lúc bấy giờ mới học lớp 2ème (deuxième année tức là đệ nhị niên tức là lớp 7 bây giờ) được phân công phụ trách phần văn nghệ, đồng thời là hoạt náo viên (animateur) vừa bằng tiếng Việt vừa bằng tiếng Pháp.

Có nghĩa là nhà trường khoán trắng cho Trần Văn Trạch, một học sinh lớp 7 cáng đáng một trọng trách không dễ chút nào.

Lúc bấy giờ, chính quyền Pháp ở Đông Dương đang tổ chức cuộc đua xe đạp vòng quanh Đông Dương, nên sau khi ra trình diện và chào khán giả xong, MC. Trần Văn Trạch nói : “Kính thưa quí vị. Hiện nay chúng ta đang theo dõi cuộc đua xe đạp vòng quanh Đông Dương, tôi cũng xin đưa quí vị đi vòng quanh Đông Dương nhưng bằng lời ca tiếng hát”. Đợi cho tiếng vỗ tay chấm dứt, cậu bé lóp 7 tiếp tục : “Tôi xin bắt đầu cuộc hành trình từ Nam ra Bắc. Ở Nam kỳ có lối nói thơ “Lục Vân Tiên”, tôi xin nói một một đoạn thơ Lục Vân Tiên:luc-van-tien-1

Vân Tiên cõng mẹ đi ra

Đụng phải cột nhà cõng mẹ trở vô

Vân Tiên cõng mẹ trở vô

Đụng phải cái bồ cõng mẹ trở ra

Vân Tiên cõng mẹ trở ra

Đạp bãi cứt gà cõng mẹ trở vô

Vân Tiên cõng mẹ trở vô

Đụng phải chày vồ cõng mẹ trở ra

Vân Tiên cõng mẹ trở ra


Mặc dù còn nhỏ tuổi, trới phú cho Trần Văn Trạch một giọng ấm áp, cùng với lối diễn xuất lẩm ca lẩm cẩm cỏng mẹ ra, vô… đầy tính chất mộc mạc phương nam, khán giả đổ ra cười nghiêng, cười ngửa. Đợi cho mọi người thôi cười, Trần Văn Trạch lấy lại vẻ trịnh trọng, xoa xoa tay và nhỏ nhẹ thưa : “Kính thưa quí vị, quí vị có biết Lục Vân Tiên cõng mẹ đi đâu không ? Chính mẹ bịnh nên Lục Vân Tiên cõng mẹ đi tìm thầy hốt thuốc, nhưng vì mù loà, Lục Vân Tiên đi ra đụng vật nầy đi vô đụng vật kia. Loay hoay mãi không tìm ra lối đi… Vậy mà quí vị nỡ nào cười cho cái đau khỏ của một người con hiếu thảo cõng mẹ đi trị bịnh. Lẽ ra quí vị nên chỉ đường cho Lục Vân Tiên mới phải…”.

Không khí đang vui vẻ ồn ào bỗng trở nên lặng trang. Quí bà mẹ học sinh dự lễ lấy khăn ra lau nước mắt. Các cô học sinh gái sụt sịt khóc, kể cả thầy cô cũng chưng hửng cho cái tài năng sớm lộ của đứa học trò mình.

Chưa hết, tiếp tục đi vòng quanh Đông Dương, Trần Văn Trạch 3 Gai Hue 1đưa khán giả ra Huế. Nơi đây, chàng nghệ sĩ tí hon nầy không biết học ở đâu, vì thời bấy giờ việc giao lưu văn hóa giữa ba miền còn rất hạn chế, đã cho khán giả nghe với một giọng Huế nữ đặc sệt, trọ trẹ, nặng nặng, ấm ấm, ức ức… khó cho người miền Nam bắt chước:

Chiều chiều trước bến Vân Lâu

Ai ngồi, ai câu, ai sầu, ai thảm,

Ai thương, ai cảm, ai nhớ, ai trông.

Thuyền ai thấp thoáng bên sông,

Đưa câu mái đẩy chạnh lòng nước non.

Tiếp tục ra Bắc, lại một thể loại dân ca đặc thù bài hát theo điệu cò lả:

Con cò… là cò bay lả… í a lả lả bay la

Bay từ… là từ cửa phủ… bay ra là ra cánh đồng

Tình tính tang… là tang tính tình

Cô mình rằng… ấy anh chàng ơi

Rằng có biết biết hay không…

rằng có nhớ là nhớ hay không ?

Với giọng Bắc ẻo lả, mấy từ nhồi duyên dáng theo điệu ca dân gian, và qua từ màn văn nghệ đầu tiên đến giờ, anh học sinh Trần Văn Trạch thật sự đã chinh phục khán giả. 9-tr-van-trach-3Rạp hát Thầy Năm Tú rộng là thế, khán giả đông là thế mà cả rạp im phăng phắc để nghe, để thưởng thức một cái gì mà từ trước đến giờ chưa được nghe, chưa được thưởng thức.

Đến khi anh đưa khán giả vào xứ Lào để trông anh múa lèo với những cánh tay uyển chuyển đưa lên cao, cùng với 10 ngón tay uốn éo cử động, và hai bàn chân khi nhón lên khi hạ xuống nhịp nhàng uyển chuyển theo dòng nhạc Lào 9-tr-van-trach-2buồn buồn, xa vắng.

Rồi anh lại đưa khán giả vào xứ Chùa Tháp qua màn biểu diễn điệu múa Lâm thôn độc đáo Khmer cùng với nhưng câu hát Dù kê bòn ơi ! Bòn ơi !… tâu náaaa…

Những điều nầy tôi viết theo ký ức của tôi không hề qua tư liệu hay bài viết của ai vì tôi nhỏ hơn anh 2 tuổi, học chung trường với anh nhưng sau anh 2 lớp. Tôi đến dự lễ phát thưởng để xem anh trình diễn văn nghệ không phải với tư cách lãnh thưởng, càng không thể là khách mời chỉ là thằng nhỏ… đi coi hát cọp.

Sau buổi văn nghệ nầy một cô đầm, con của một người Pháp làm việc tại Mỹ Tho, nói với cha : “Ba gả con cho anh học trò đó, nếu không con cũng theo không ảnh.”. Và cô thiếu nữ người Pháp nầy, người bị anh chàng học trò tài ba nầy hớp hồn ngay trong đêm văn nghệ nầy, sau nầy là Trần Văn Trạch phu nhân.

9-tr-van-trach-4Chuyện nhân vật “Mỹ Tho Trần Văn Trạch” đến đây chấm dứt cũng đũ rồi nhưng tác giả xin phép viết thêm đôi dòng. Nói về Trần Văn Trạch phải nói đủ : Trần Văn Trạch nhạc sĩ, Trần Văn Trạch ca sĩ, Trần Văn Trạch kịch tác gia, Trần Văn Trạch kịch sĩ, Trần Văn Trạch soạn giả, Trần Văn Trạch người dẫn chương trình, Trần Văn Trạch người lập chương trình… Bất cứ trong lĩnh vực nào mà Trần Văn Trạch tham gia, ai ai cũng thấy cái “dấu ấn đặc thù Trần Văn Trạch” nổi lên.

Một chuyện nhỏ. Ông Trần Văn Trạch có rất nhiều biệt tài. Như trong chương trình văn nghệ phát thưởng ở Trường Nguyễn Đình Chiểu nói trên, ông đã đưa khán giả từ đoạn đầu vui cười hả hê qua chất hài có duyên của ông, rồi lập tức chuyển qua chất bi thương xúc cảm một cách tài tình. 9-tr-van-trach-5Nhạc phẩm “Chuyến xe lửa mùng năm” cũng vậy. Đoạn đầu với cái giọng của một thằng bé ngoài Trung vì chiến tranh lìa mẹ vào Sài Gòn bán báo kiếm sống. Tết đến em có dư một số tiền nhỏ về quê cho mẹ.

Ngồi trên xe lửa về quê thằng bé ca hát nghêu ngao vui vẻ nghĩ rằng sẽ gặp mẹ, ôm mẹ vào lòng, nhưng khi về quê thì mới biết chiến tranh đã thiêu rụi ngôi nhà và mẹ cũng đã chết từ lâu. Đoạn nầy dòng nhạc, lời ca chuyển thành thống thiết… thính giả chỉ còn biết lấy khăn lau nước mắt.

Một chuyên nhỏ. Nhanh trí. Trong một vở kịch, nghệ sĩ Trần Văn Trạch đóng vai một anh hùng trừ gian diệt bạo. Theo vở kịch là khi bắt được tên cướp… đưa cây súng sáu chĩa vào đầu tên ăn cướp, bóp cò, súng nổ, tên cướp ngã ra chết, đền mạng… Nhưng trớ trêu, đạn giả bị lép, súng không nổ trái với kịch bản…

Trần Văn Trạch bình tĩnh không để cho vở kịch bị sượng nên lớn tiếng nói với giọng kẻ cả, bảo tên cướp : “Ha… ha… lần nầy ta tha cho ngươi, lần sau còn tái phạm ta không tha đâu… ha… ha…”. Tên cướp lẽ ra khi súng nổ ngã lăn ra chết nhưng súng không nổ cũng lỡ bộ nhưng nghe Trần Văn Trạch cương một câu mừng quá cũng cương 9-tr-van-trach-6theo và xin… lạy Trần Văn Trạch cám ơn cứu tử. Màn hạ. Ông bầu… chịu quá. Khán giả không biết gì, cũng vỗ tay…

Một chuyện nhỏ. Bản nhạc “Xổ số Kiến thiết”, một bản nhạc “quảng cáo” thôi, tầm thường như vậy, thế mà vào tay của Trần Văn Trạch đã trở thành một ca khúc hay mãi đến bây giờ cũng không ai có thể hát được như vậy.

Một chuyện không nhỏ. Ngay khi còn nhỏ tập tành ca hát là Trần Văn Trạch, với giọng thiên phú nên bắt chước ca sĩ Pháp là Tino Rossi hát giọng ténor. Ca sĩ ténor Tino Rossi biết được điều nầy nên khi Trần Văn Trạch đến Pháp, Vo taychính Tino Rossi, không tị hiềm, lại tìm Trần Văn Trạch để lời khen ngợi và còn lăng-xê cho Trần Văn Trạch hát trên Radio, trên Télé của Pháp.

Người đời ban tặng ông danh hiệu “quái kiệt” không ngoa và quái kiệt Trần Văn Trạch bị ung thư gan từ Mỹ trở về Paris chữa bệnh và đã mất vào ngày 12 tháng 4 năm 1994 ở tuổi 70. Và ông đã yên nghĩ tại nghĩa trang Valenton, Paris

Phan Tất Đại chuyển tiếp

Cau nguyenVIẾNG MỘ

“QUÁI KIỆT”

TRẦN VĂN TRẠCH

Nhân dịp sang Pháp tham dự Lễ tưởng niệm 100 ngày mất của GS-TS Trần Văn Khê, tôi được tháp tùng cùng GS-TS Trần Quang Hải và vợ ông là danh ca Bạch Yến thăm mộ cố nghệ sĩ Trần Văn Trạch, cũng là chú ruột của ông Hải, tại nghĩa trang Cimetière Intercommunal de Valenton, ngoại ô Paris – Pháp.

“Quái kiệt” Trần Văn Trạch (sinh năm 1924 – mất năm 1994) là chú ruột GS-TS Trần Quang Hải. Theo phong tục ở Pháp, tới ngày lễ Thánh, người thân thường mang hoa cúc đến mộ người đã khuất viếng thăm. Vì bận việc rời Paris một thời gian, không thể đến đúng ngày nên GS-TS Trần Quang Hải và vợ mang hoa đến trước một tuần. Tôi may mắn được tháp tùng theo họ.

Mộ “quái kiệt” Trần Văn Trạch tọa lạc trong khu nghĩa trang yên tĩnh, thoáng đãng. Chậu hoa cúc vàng rực được đặt lên mộ phần người đã khuất.

9-vieng-mo-1“Chú tôi là một nghệ sĩ tài hoa. Trong số nhiều con của ông, có Hà Trần hiện là giáo viên dạy piano tại một trường đại học lớn của Pháp, rất quan tâm đến đời sống văn hóa dân tộc. Nay viếng mộ chú, thắp nén hương lòng, tôi cảm nhận chú tôi đang tươi cười với con cháu, ông không còn lạnh lẻo trên xứ người. Thế hệ con cháu của ông vẫn tiếp nối truyền thống gia đình, giữ gìn và phát huy những di sản văn hóa nghệ thuật dù ở bất kỳ quốc gia nào” – GS-TS Trần Quang Hải tâm sự.

“Vua vọng cổ” Viễn Châu kể rằng “quái kiệt” Trần Văn Trạch là người khai sinh ra trào lưu độc diễn hài hước. Chỉ với một cái loa cầm tay, ông có thể điều khiển tâm trạng khán giả khóc cười, vui giận, hờn dỗi theo câu chuyện. Ông còn có tài giả giọng đủ thứ âm thanh, nhạc cụ, tiếng động vật, tiếng xa lửa chạy bằng miệng và hơi thở.

Về sáng tác, “quái kiệt” Trần Văn Trạch có nhiều bài hát thập niên 1950 – 1960 của thế kỷ trước, mang tính cổ động tuyên truyền, thu hút khán thính giả nhờ giai điệu và ca từ rất dễ nhớ. Điển hình là bài “Cái đồng hồ tay”, do ông sáng tác và thể hiện mà đến hôm nay, nhiều khán giả thời trước vẫn còn nhớ.

9-vieng-mo-2

“Thưa quý ngài, mỗi người đều có mang một cái đồng hồ. Mà đồng hồ người ta có hai cây kim: một cái chỉ giờ, một cái chỉ phút. Còn đồng hồ của tôi có tới năm mười cây kim ở trong đó: cái chỉ giờ, cái chỉ phút, cái chỉ tháng, cái chỉ ngày, mặt trăng, mặt trời, hướng nam, hướng bắc, nước lớn, nước ròng. Cho nên xem vô, nếu mà sai cây kim thì cũng phải điên đầu với nó.Tr Cau nguyen 3

Tích tắc tích/ Sướng thay tôi về, từ brocanteur mới về đây/ Tích tắc tích/ Rất biết ăn xài, mang trong tay cái đồng hồ tay/ Có kim chỉ giờ này/ Có kim chỉ ngày này/ Thêm vô cung trăng nó quay khi khuyết khi đầy/ Tích tắc tích/ Trong lòng tôi cũng khuây này/ Mỗi hôm trong tuần, muốn xem hôm gì/ Đặc biệt lắm là cái đồng hồ này, mình muốn biết bữa nay thứ mấy, nó cũng có cây kim chỉ ở trong nữa/ Lundi, jeudi, chúa nhật, ngày ta hay đi/ Muốn biết bắc nam đi trên đàng/ Cũng có cái kim như địa bàn/ Và waterproof, automatic, thêm extra plaque anti-magnetic, anti lang bang, anti khoai lang, anti lung tung nhìn vào mà phát rung!!!/ Ôi! cái đồng hồ/ Ôi! cái đồng hồ”.

Lan Hương chuyển tiếp

Chủ đề : Tiếng hát “quái kiệt Trần Văn Trạch

– MC Việt Thảo- Quái Kiệt Trần Văn Trạch

Tại vũ trường Ritz (của NS Ngọc Chánh) – 1993

https://youtu.be/5uXar7gBJbQ

9-tr-van-trach– Xe Lửa Mùng 5

https://youtu.be/V4X6TH7Etr0

– Trần Văn Trạch & Việt Hùng

https://youtu.be/_ItPZdtsNbU

– Sầm Giang Tái Ngộ 03 – Trần Văn Trạch

Đêm Sầm Giang Tái Ngộ tại Montréal – 1994-05-22

https://youtu.be/HD5zURWzb8s?list=RDV4X6TH7Etr0

– Chiều Mưa Biên Giới

https://youtu.be/WQGGGMEOcu8

– Mùa Thu Chết

Mời nghe nhạc phẫm Mùa Thu Chết của Phạm Duy qua tiếng hát của quái kiệt Trần Văn Trạch. Đặc biệt ở đây Trần Văn Trạch trình bày nhạc phẫm này bằng cả hai thứ tiếng : Việt và Pháp.

https://youtu.be/iAop3usHNAk

– Xuân Đất Khách

https://youtu.be/-5Nmhe_IZa8

Quế Phượng chuyển tiếp

Logo Van nghe

Hoa phuong 2ĐÀN CHIM HỘI TỤ

– Như Phương

Còn hơn mười tháng mới đến ngày Kỷ Niệm Một Trăm Năm ngày thành lập trường Đồng Khánh. Hồi đêm, Thường đã nói chuyện với tôi về tiết mục Văn Nghệ góp vui cho ngày Phượng Vỹ 2017.

Thường là nữ sinh Đồng Khánh, đồng thời là nhân viên của trường nên Thường chú ý với các việc liên quan tới Cô Thầy của trường xưa… Promo của chúng tôi ở Bắc Mỹ cũng khá đông. Mỗi lần gặp nhau ở Họp Mặt Phượng Vỹ thì… tha hồ ồn ào.

Nhớ mùa Họp Mặt 2013, kỷ niệm 25 năm Sinh Hoạt của Phượng Vỹ Houston. Trước đó hai ngày, chúng tôi đã có gặp nhau: một nhóm ở nhà Mẫu Đơn, một nhóm ở nhà Diệu Cầm, một nhóm ở nhà Phan Tâm… thay đổi từng năm; có khi ở nhà chị Thu Hồng; nhà Như Hoa… Không nói được nỗi vui của những U70 này. Nhưng hai ngày sau tiếp tục gặp nhau; chúng tôi không ngồi yên trong chỗ ngồi của mình, còn ” lăn xăn” khắp các bàn; hết chuyện này đến chuyện kia. Tay bắt, mặt  mừng, tía lia…

9-dong-khanh-2Năm đó, Buổi Sơ Ngộ tại nhà Mẫu Đơn, nhộn hết sức. Tiền Hội Ngộ ở Maxim’s ồn ào. Không ai ăn nhiều. Tối đến về nhà đói bụng làm sao! Rồi Lê chở Tôn Kính, Bồng Lai và tôi đi chơi, ghé thăm Hạnh…

Cứ mỗi lần họp mặt; các cựu nam sinh có uống chút chút. Còn các cô lấy nụ cười cho no bụng… Cũng vui. Vui hơn đi dự những tiệc Đám Cưới.

oOo

9-dong-khanh-1Kế hoạch của nhóm chúng tôi sẽ trình diễn nhạc cảnh CGNSĐK trên sân khấu Phượng Vỹ Houston vào tháng Chín 2017. Nhân sự có lẽ nhiều; Nhạc cảnh thì dễ hơn Vũ Khúc. Tôi muốn nhóm chúng tôi có một mục múa cho chương trình hấp dẫn nhưng các bạn ờ xa nhau, không làm sao tập dượt nhiều lần trước Đại Hội. Chỉ có nhóm Houston là tập múa được thôi. Tôi nghĩ là nhiều bạn còn ” mềm mại” nhờ tập ZUMBA hằng ngày. Bồng Lai, Kim Tri, Tôn Kính, Diệu Minh, Thường, Hiếu Tâm, Xuân Hoàng, Tâm Anh, Ngọc Lãnh, Mỹ Châu, Đông Lan… là những bạn còn sức khỏe và bước đi còn mềm mại lắm đó.

Ở nhà thì được gọi bằng ” bà” nhưng lên sân khấu thì … các bà là các nữ sinh ĐK cũ chứ phải chơi. Cho đến nay, các bạn U70 vẫn còn múa trong các chương trình Văn Nghệ của các Hội Ái Hữu … Đó là điều vui… cho Tuổi Vàng ở xứ này…

Chương trình Văn Nghệ sắp tới của Phượng Vỹ chắc là hay lắm. Thường chờ coi bạn nào trong nhóm chúng tôi ghi danh tham dự Đại Hội Kỷ Niệm sắp tới thì mới chuẩn bị y phục và nhân số cho màn Nhạc Cảnh.

Tôi chưa có ý định tham dự Đại Hội đó vì còn lấn cấn với họp mặt ở Dallas vào June 2017. TX cũng là xứ nổi tiếng về phong cảnh nhưng mùa Hè nóng quá. Nếu đến TX hai lần trong mùa Hè thì…hơi ngán.

Mùa Hè vừa qua, khi tôi rời Dallas, nhiệt độ ở đó là 103F. Ớn quá. Với cái áo màu trắng phong phanh mà chịu không nổi khi bước ra khỏi xe để vô phòng check- in. Mỗi lần máy bay đáp phi trường LAX sau mùa Vacation, tôi thấy nhẹ nhõm cả người với cơn gió biển từ Pacific Ocean thổi vào. Phi trường LAX cũng như Phi trường John Wayne …  gió mát dịu về mùa Hè… Vì vậy, nhiều bạn ngại ngùng đi TX vào đầu tháng Chín.

Diệu Khanh, Lạc, Lê, Từ, Mẫu Đơn, Sửu, Tuyết Ngọc, Ngọc Cầm…. là những thành viên Văn Nghệ hầu như hằng năm của PV/ Houston.

Năm 2017 đánh dấu Lần Họp Mặt Quan Trọng: thời gian đã chín muồi của từng người nên một bạn nói là nên dự vì Cánh Chim Đầu Đàn năm tới đã 82 rồi.

Hoa phuongNgoảnh lại thấy tuổi đời không nhỏ

Tâm hồn còn dưới mái trường xưa

Vui đi nhé ngày mai nắng hay mưa

Tình Thầy, tình Bạn muôn đời khắn khít

Nửa đời tha hương, lòng tha thiết

Thuở áo trắng sân trường đáng yêu

9 Gai Hue 2Nhớ xưa, trong tay vui sáng chiều

Nay cứ rứa cho đời không nhạt

Giả như cơn gió đem ta hơi mát

Bỏ mặc một lúc cháu ở nh

Tìm lại tuổi hồng ngôi trường x

Ở đó là Phượng Vỹ tình trường cũ

Giả như chút “thiêng liêng” một thuở

Tr Hue 2Kỷ niệm như lễ giỗ nhớ nguồn

Vui thấy Cô Thầy được khỏe luôn

Mừng Bạn còn trao nhau chuyện tếu

Phượng Vỹ tên gọi ngày thơ ấu

Bay về đây hát khúc hoan ca

Có nơi đâu tự nhiên một nhà

Như Đồng Khánh trường xưa Họp Mặt.

“Không có mợ thì chợ cũng đông” đó là câu ngạn ngữ từ xưa. Phượng Vỹ là bức họa của cổng trường trên sân khấu của MARIOTT hoặc của MARK ADAMS… nhưng sao có cảm giác như đứng trước sông Hương nhìn vô Trường Đồng Khánh.

Vậy mới biết tình cũ sống động như “cái gì Thiêng Liêng”, là Ân Nghĩa, là Tình Cảm Sâu Đậm nhất của Thời Gian Đầu Đời. (theo Như Phương 11/11/2016)

Yên Huỳnh chuyển tiếp