NGƯỜI NHẠC SĨ VỚI 34 NGƯỜI TÌNH…

NHẠC SĨ Y VŨ TỪNG ĐƯA

34 NGƯỜI TÌNH…. ĐI LẤY CHỒNG  

Sáng tác các bài “Tôi đưa em sang sông” – “Ngày cưới em”…

Nhạc sỹ của nhiều ca khúc nổi tiếng chia sẻ về các cuộc tình của ông. Ở độ tuổi 75, ông đã từng trải qua hàng chục mối tình. Ông là một nhạc sĩ đa tình và hiện người vợ của ông là người tình thứ 35 trong cuộc đời. Đối với những người yêu nhạc, nhạc sĩ Y Vũ không còn là một người quá xa lạ.  Y Vũ tên thật là Trần Gia Hội, sinh năm 1942 tại Hà Nội và là em trai ruột của nhạc sĩ Y Vân.

Ông cho ra đời rất nhiều ca khúc khiến biết bao con tim phải thổn thức vì những câu chuyện đời tư mà chính Y Vũ lồng ghép vào trong ấy : “Kim”, “Điên”, “Hận”, “Ngày không em”, “Ngày cưới em”…

Và đặc biệt nhất có lẽ chính là ca khúc “Tôi đưa em sang sông”, ca khúc vẫn sống mãi cùng với thời gian với những ca từ da diết : “Tôi đưa em sang sông, chiều xưa mưa rơi âm thầm / Để thấm ướt chiếc áo xanh, và đẫm ướt mái tóc em / Nếu xưa trời không mưa, đường vắng đâu cần tôi đưa / Chẳng lẻ chung một lối về mà nở quay mặt bước đi…”

Tại buổi quay hình “Ca sĩ bí ẩn” mới đây, nhạc sĩ Y Vũ tiết lộ người con gái trong ca khúc “Tôi đưa em sang sông” chính là người mà ông luôn nhức nhối và khó quên nhất. Dù Y Vũ đã trao trọn tình cảm, sự yêu thương cho người yêu nhưng cô gái vẫn quyết sang ngang với người đàn ông khác tốt hơn và có cuộc sống đầy đủ hơn. “Cô người yêu đi lấy một ông bác sĩ rất giàu”, ông nhớ lại. Vì quá đau lòng, ông đã viết ca khúc “Tôi đưa em sang sông”.

Nhạc sĩ Y Vũ chia sẻ thêm, sau đó 6 tháng, ông lại nhận được thiệp hồng mời đến dự đám cưới của người yêu cũ. Ông ngồi trong sảnh cưới chỉ có một mình với tâm trạng buồn, lẻ loi. Sau khi về, vì quá tủi thân, nhạc sĩ đã cho ra đời ca khúc “Ngày cưới em” để nói lên tâm trạng cô đơn lúc bấy giờ của mình.

“Khi người yêu đi lấy chồng, tôi được mời đến dự đám cưới. Ngồi với người khác mà cảm thấy như chỉ có một mình. Sau đó về, tôi tủi thân viết tiếp bài “Ngày cưới em” nói về tâm trạng cô đơn trong ngày cưới”, ông nói.

Nhạc sĩ Y Vũ thừa nhận, người nghệ sĩ thường đa tình và khó quên. “Người nghệ sĩ, nhạc sĩ rất đa tình, có thể mỗi bài viết cho một người yêu. Bài “Kim” là tôi viết cho một cô vũ nữ tên Kim, bài “Điên” là tâm trạng thất tình, giống như mộng du, đêm về đi lang thang phải có cậu em dẫn về nhà…”, ông nói.

Nhắc đến bài “Kim”, những người mê nhạc của ông còn nhớ vào năm 1969, Y Vũ làm việc ở Vũng Tàu, tối tối ông thường đi chơi ở vũ trường Blue Star, quen rồi yêu một vũ nữ tên là Kim. Cô gái có hoàn cảnh nghèo này bị bệnh tim. Ðể khích lệ tinh thần Kim, Y Vũ viết bài “Kim”.

Bài hát lập tức nổi tiếng và được ca sĩ Túy Phượng – nữ hoàng nhạc twist lúc đó hát trên cả đài phát thanh lẫn truyền hình. Khoảng một năm sau thì cô gái mất, Y Vũ đau buồn viết tiếp bài “Những tâm hồn hoang lạnh” riêng tặng cho kiếp vũ nữ…

Hiện giờ, ở cái tuổi thất thập, vị nhạc sĩ nhìn lại chặng đường đời ông đã từng đưa 34 người tình “sang sông”, cho đến tận người thứ 35 là người vợ lúc này của Y Vũ mới chính là chuyến đò cuối cùng và ở lại mãi với nhạc sĩ cho đến cuối đời.

35 lần yêu thì 34 lần dở dang, tuy nhiên theo thời gian, những kỷ niệm dù đau thương, không còn nguyên vẹn vẫn được lưu giữ trong gia tài là những ca khúc được ông nâng niu và được khán giả yêu thích cho đến tận bây giờ…

Tôi Đưa Em Sang Sông

https://youtu.be/vGfHJpWeql8

Tôi đưa em sang sông, chiều xưa mưa rơi âm thầm

Để thấm ướt chiếc áo xanh, và đẫm ướt mái tóc em

Nếu xưa trời không mưa, đường vắng đâu cần tôi đưa

Chẳng lẻ chung một lối về mà nỡ quay mặt bước đi

Tôi đưa em sang sông, bàn tay nâng niu ân cần

Sợ bến đất lấm gót chân, sợ bến gió buốt trái tim

Nếu tôi đừng đưa em, thì chắc đôi mình không quen

Đừng bước chung một lối mòn, có đâu chiều nay tôi buồn

Rồi thời gian lặng lẽ trôi,

Đời tôi là cánh chim đi khắp phương trời

Mà đời em là ước mơ,

Đẹp muôn ngàn ý thơ, như ngóng trông chờ

Hôm nao em sang ngang, bằng xe hoa thay con thuyền?

Giờ phút cuối đến tiễn em, nhìn xác pháo vướng gót chân

Gót chân ngày xa xưa sợ lấm trong bùn khi mưa..

Nàng đã thay một lối về, quên cả người trong gió mưa….

Yên Huỳnh chuyển tiếp

– Những Tình Khúc buồn của NS Y Vũ trước 75 (1:05’)

https://youtu.be/f239we0zEd8

1/- TÔI ĐƯA EM SANG SÔNG – Vũ Khanh 6:07 2/- HẬN – Thanh Lan
11: 25 3/- TÌNH MÌNH NGANG TRÁI – Khánh Ly 16:20 4/- CHUYỆN TÌNH ĐẦU – Mỹ Huyền 21:05. 5/- DẤU CHÂN QUA – Khánh Ly 24:14 6/- NGƯỜI XA TÔI – Giao Linh 28:20 7/- ĐIÊN – Nguyễn Hưng 33:20 8/- NGÀY MAI KHÔNG CÓ ANH – Giao Linh 38:40 9/- NHỮNG TÂM HỒN HOANG LẠNH – Thanh Thúy 44:08 10/- TIẾNG HÁT VỀ ĐÊM – Trúc Mai 49:20 11/- CHIỀU RU MẶT TRỜI – Lệ Thu 52:25 12/- NGÀY CƯỚI EM – Đan Nguyên 57:00 13/- TÔI TIỄN NGƯỜI TÔI YÊU – Anh Khoa 1:01:57

Quế Phượng chuyển tiếp

THƠ PHỔ NHẠC : “THÔI”

Nguyễn Long & Y Vân

Chào các bạn,

Hôm nay mình giới thiệu đến các bạn thi khúc “Thôi” của Thi sĩ/Tài tử điện ảnh Nguyễn Long và Nhạc sĩ Y Vân. Nhạc sĩ Y Vân là một nhạc sĩ tiêu biểu của nền Tân Nhạc Việt Nam từ cuối thập niên 1950 đến 1990. Nhiều sáng tác của ông đã trở thành bất hủ và vẫn được trình diễn bởi những ca sĩ hiện thời.

Nhạc sĩ Y Vân tên thật là Trần Tấn Hậu, sinh năm 1933 tại Hà Nội (quê gốc ở Thanh Hóa). Thuở niên thiếu, ông từng theo học nhạc với GS NS Tạ Phước và cũng đã sáng tác từ rất sớm. Mồ côi cha, nhà nghèo, gia đình ông phải dắt díu nhau nương náu trong một túp lều ở ngõ chợ Khâm Thiên. Chính vì thế, ông rất thương mẹ và các em, ông phải đi dạy đàn để lo cho gia đình.

Năm 1952 ông vào Nam, tiếp tục sáng tác, chơi nhạc, hòa âm và dạy nhạc, ngoài ra ông còn viết sách dạy nhạc và đàn guitar. Ông là người đi tiên phong cho dòng Nhạc Trẻ với những bài hát có giai điệu Chachacha, Disco, Twist như: “Sài Gòn”, “Ảo Ảnh”, “60 Năm Cuộc Đời”, “Thôi”.

Thời gian sau năm 1975, ông tham gia Đoàn Ca Nhạc Hương Miền Nam, rồi nhận viết nhạc cho nhiều nguồn: viết nhạc phim, nhạc nền cho sân khấu… Nhạc sĩ Y Vân có 2 đời vợ và 8 người con. Ông mất vào ngày 28 tháng 11 năm 1992 (tức ngày 05 tháng 11 năm Nhâm Thân – âm lịch). Hưởng thọ 60 tuổi (đúng như dự đoán của ông trong bài “60 Năm Cuộc Đời”)

Y Vân có nghĩa là “Yêu Vân”, tên của tiểu thư Tường Vân – người yêu đầu tiên của ông. Ông chọn tên này từ khi chuyện tình giữa ông và tiểu thư Tường Vân tan vỡ. Một số ca khúc của ông đã được viết với tâm sự mất mát này như: “Đò Nghèo”, “Ảo Ảnh”, “Nhạt Nắng”…

Sự nghiệp sáng tác của ông có khoảng trên dưới 200 tác phẩm. Tác phẩm “Lòng Mẹ” của ông rất nổi tiếng và được xem như một trong những ca khúc kinh điển tiêu biểu, sâu sắc và thiêng liêng nhất về tình mẹ. Tác phẩm “Lòng Mẹ” được ông sáng tác vào năm 1952. Từ đó đến nay, bài hát đã được nhiều ca sĩ thể hiện, vì thế nó là một bài hát rất quen thuộc với người Việt Nam từ ngày nó ra đời cho đến ngày nay.

Ngoài “Lòng Mẹ”, các ca khúc còn lại của ông trong phạm vi bài này cũng nổi tiếng không kém và thường được các ca sĩ nhiều thế hệ tiếp tục trình diễn cho đến giờ.

Đồng thời ông còn cùng Lan Đài đồng sáng tác hai quyển sách Tự Học Tây Ban Cầm cũng rất phổ biến:

– Tự học Tây Ban Cầm (nhạc thời trang – nhạc Jazz)

– Tự học Tây Ban Cầm (phương pháp Flamenco)

Thi khúc “Thôi” (Thi sĩ/TTĐA Nguyễn Long và Nhạc sĩ Y Vân)

Thôi em đừng khóc nữa làm gì

Kỷ niệm sầu ân tình cũ xa xưa

Thôi em đừng khóc,

Em đừng khóc, đừng khóc nữa giọt lệ sầu

Làm sao xóa hết tâm tư

Thôi em đừng tới nữa làm gì

Đừng để lòng se lại khúc yêu đương

Thôi em đừng tiếc

Em đừng tiếc, đừng tiếc nữa

Đừng để lòng anh trở lại kiếp u buồn

Ôi, cuộc đời đầy phong ba giữa lòng người

Lệ sầu chia ly buồn tê táI

Ly rượu này đầy thương đau tấm hình hài

Thu man mác buồn mùa thu ơi

Thôi em đừng nhắc nữa làm gì

Từng nẻo đường in hình bóng chung đô

Thôi em đừng nhớ

Em đừng nhớ nữa chuyện của mình

Kiếp nay đành lỡ duyên rồi

Thôi đôi bờ vai đừng rung động

Đã hết rồi còn khóc nữa chi em …

Đã hết rồi còn khóc nữa chi em…

https://www.youtube.com/watch?v=QiUcuGlLApQ
https://www.youtube.com/watch?v=cE8TG_yTF-o
https://www.youtube.com/watch?v=WuNl0yXszv8
https://www.youtube.com/watch?v=hgTNgITGWGA
https://www.youtube.com/watch?v=St9IVl0qHAk
https://www.youtube.com/watch?v=4uPxqT12P6o

Thi sĩ / Đạo diễn điện ảnh Nguyễn Long.

Vĩnh biệt anh Long… “Đất” của tụi em

Lại một người bạn thân nữa của tôi vừa mới ra đi, đó là anh Nguyễn Long, một nam tài tử điện ảnh và kịch nghệ lão thành của sàn quay và sân khấu Việt Nam . Không thể ngờ được là chỉ trong năm 2009 mà cả ba người tuổi tác rất chênh lệnh nhưng lại cùng rủ nhau đi một lượt. Sau Trường Kỳ, Tùng Giang giờ đến Nguyễn Long, dù trong một quẻ tự bói, anh Long cho biết sẽ mãn phần vào năm 2010. Như vậy anh chỉ đoán sai có đúng 2 tháng mà thôi.

Nguyễn Long lớn hơn tôi 10 tuổi, nhưng lúc nào cũng xem tôi như bạn và vẫn thường đòi làm “con nuôi” của Bố Mẹ tôi. Anh được tất cả các anh chị em trong gia đình tôi yêu quý và đôi khi cũng có những cuộc “đụng độ” nhau như “anh em trong nhà” khiến Bố tôi phải la rầy cả bọn. Lúc đó thấy anh Long thật dễ thương, khi vừa cúi đầu vừa nói “con xin lỗi Bố”!

Anh ra đi hôm nay để lại niềm thương tiếc cho gia đình, cho chị Nga và các cháu cũng như anh chị em chúng tôi. Nhưng tôi tin rằng Bố Mẹ tôi sẽ rất vui khi gặp lại anh nơi chín suối, nhất là Trường Kỳ, Tùng Giang và dĩ nhiên sư phụ của anh là “quái kiệt” Trần Văn Trạch cùng nhiều nghệ sĩ khác.

Vĩnh biệt anh Long… “Đất” của tụi em. (Nam Lộc – Mùa Thu California, 2009)

Sau đây là đôi dòng tiểu sử của tài tử Nguyễn Long

Nguyễn Long tên thật là Nguyễn Ngọc Long, sinh ngày 2 tháng 3 năm 1934 tại thành phố Hải Phòng. Năm 1945 học sinh của trường Hoàng Diệu. Năm 1946 gia nhập Ban Văn Nghệ Thiếu Niên Hà Nội. 1947 Ban Thiếu Niên Tuyên Truyền Chiến Khu 3.

Vào Sài Gòn năm 1949 và chính thức bước lên sân khấu kịch nghệ và điện ảnh miền Nam Việt Nam năm 1955 và xuất hiện trong một số phim do VN, Hoa Kỳ và Phi Luật Tân hỗn hợp thực hiện. Khởi sự viết kịch và chuyện phim từ năm 1957 và đã đóng vai chính trong gần 70 vở kịch ngắn, dài trên sân khấu và truyền hình VN.

Năm 1961 tự sản xuất, đạo diễn và đóng vai chính trong các bộ phim nổi tiếng như Mưa Lạnh Hoàng Hôn, Nước Mắt Đêm Xuân, Thuý Đã Đi Rồi, Anh Yêu Em, Hè 72 và OK, OK…! Tổng cộng 14 cuốn phim.

Vượt biên sang định cư tại Mỹ năm 1981, tiếp tục sản xuất, đạo diễn các tác phẩm điện ảnh khác như Mây Xám Chiều Hoang, Như Là Khởi Đầu, Biển Khổ v..v… Đến năm 1984 xoay ra làm báo và phát hành tuần báo Kịch Ảnh. Năm 1992 khởi sự viết sách, bắt đầu bằng tập tài liệu nghiên cứu có tên là “Chủ Nghĩa Tư Hữu”, rồi đến bộ sách “Việt Nam 94” ghi lại ký ức 60 năm lịch sử VN từ 1934 đến 1994. “Việt Nam 95” ghi lại cuộc hành trình của tác giả từ Lạng Sơn đến Cà Mâu. “Việt Nam 1996”, vòng quanh nước Mỹ và sau cùng là “Việt Nam 66 Năm Nhạc, Kịch và Điện Ảnh: 1937 – 2002”, ghi chép lại tiểu sử của hàng trăm nghệ sĩ, đạo diễn, tài tử VN. Đặc biệt trong phần ghi chú tác giả viết rất rõ như sau:

“Những cuốn sách do Nguyễn Long viết (11 cuốn) đều là Bản Quyền Việt Nam . Bất luận người Việt Nam nào cũng có quyền tự do sử dụng một cách miễn phí (free). Được phép trích từng đoạn hay cả bộ sách, kể cả việc in lại mà không cần phải hỏi sự đồng ý của tác giả”. (Nguyễn Long, 2001).

Theo cô Ngọc Hân, con gái út và cũng là người gần gũi nhất với “Bố Nguyễn Long” cho biết thì kể từ muà Hè 2003, nam tài tử Nguyễn Long đã về sống “ẩn dật” gần Vợ Con, đồng thời cũng để dưỡng bệnh tại thành phố Seattle, tiểu bang Washington. Ông không còn liên lạc với bất cứ ai, ngoại trừ Nam Khang, một người em kết nghĩa và nhạc sĩ Trúc Hồ, người vẫn thỉnh thoảng viết thư thăm hỏi cũng như gởi tác quyền các bài thơ được phổ nhạc của ông mà trung tâm Asia thường sử dụng. (theo Nam Lộc)

– Các bài hát chọn lọc hay nhất của NS Y Vân thu âm trước 1975 (3:57’)

https://youtu.be/GXIqPr0AyaQ

Lan Hương chuyển tiếp

Tiếu Lâm Chi Bảo

Bốn người khách vốn thuộc hạng văn thi sĩ… vào một quán nhậu. Trong khi chọn món ăn,cô hầu bàn đến cười duyên:

– “Em rót bia cho mấy anh nhé ?”

Anh A liền tán :

– “Xin lỗi, em mỹ danh là gì, ở đâu ?”

Cô cười dịu dàng:

– “Hỏi quê… rằng biển xanh dâu,

Hỏi tên… rằng mộng ban đầu đã xa”.

Anh B vỗ đùi :

– “Úi chà ! Giỏi thơ thiệt ! Tuyệt vời. Rót bia đi”.

– “Dạ . Cảm ơn quí anh”.

Anh C đon đả :

– “Lấy thêm ly. mời Em cùng ngồi uống cho vui”. – “Dạ”.

Thế là bàn có một bông hồng giữa đám sỏi đá. Anh D mời tất cả cụng ly :

– “Coi bộ em giỏi thơ văn nhỉ !”.

Cô cười rất duyên :

– “Em cũng học mót chút ít để góp chuyện cho vui mà. Quí anh không thấy phiền chứ ? Chắc quí anh giỏi văn thơ lắm thì phải ?”

Anh A xoa bụng, ưỡn ngực :

– “Cũng đủ xài. Ai hỏi gì nói nấy. Nhất là lãnh vực văn học. Không bao giờ bị kẹt”.

– “Thế là quá giỏi rồi. Vậy, em đố các anh về lĩnh vực văn học nhé ?”

Cả bàn nhốn nháo hẳn lên, vui như cá gặp nước. Họ là nhà giáo, nhà thơ nhà văn cả… hớn hở cụng ly chờ đợi cuộc  vui. Cô gái cười, cất giọng oanh vàng :

– “Nếu có một ông khỏa thân” (trần truồng) cõng một  ông cũng khỏa thân… Câu tục ngữ nào tả được cảnh này ?”.

Bốn vị khách không tìm ra câu tục ngữ nói về trường hợp hy hữu này… Anh C thẳng thắn :

– “Chúng tôi thua. Cô giảng đi.

Cô bình tĩnh giải thích :

– Này, một ông khỏa thân, cõng trên lưng một ông cũng khỏa thân… Lúc ấy sẽ có tình trạng mà tục ngữ nói “Gậy ông đập lưng ông”.

– “Úi trời ! Ðúng quá”

Cả bàn cười rộ. Vừa rót thêm bia, cô vừa đố tiếp :

– “Cũng cá iông khỏa thân ấy, ông ta nhảy tõm xuống ao, tục ngữ nói sao nào ?”

Bốn vị khách lại bí … Họ lại yêu cầu cô giải đáp. Cô cười tủm tỉm :

– “Ông khỏa thân mà nhảy xuống ao sẽ gây nên cảnh : “Chim sa cá lặn”.

Cả bàn cười vang như pháo tế t.

– “Úi trời ! Ðúng quá đi. Cá trông thấy chim hãi  quá phải lặn là cái chắc !”

Thừa thắng xông lên, cô ta đố tiếp :

– “Thưa quí anh, cũng cái ông khỏa thân ấy, ông ta ngồi lên hòn đá, tục ngữ bảo sao ?”

Bốn khuôn mặt thông minh kia lại đờ đẫn. Cô gái thong thả giải thích :

– “Ông khỏa thân ngồi lên hòn đá, lúc ấy tục ngữ phán rằng: “Trứng chọi đá !”

Cả bàn cười vang. Ông D  hăm hở :

– “Ðúng quá đi chớ. Trứng này không bể được ! Còn nữ akhông?

Cô gái tiếp :

– Cũng cái ông khỏa thân đó nữa, nay lại ngồi bệt xuống đất không chịu đứng dậy thì theo «tục ngữ» các ông nói sao ?

Bốn khuôn mặt sáng láng trông thật thảm thương, bí rị. Cô gái tiếp :

– Cái ông khỏa thân ngồi bệt xuống đất diễn ra cảnh mà «tục ngữ» gọi là «Ðất lành chim đậu». Ðúng chưa ?

Cả bọn cười vang… (Sưu tầm)

Yên Nhàn chuyển tiếp

Advertisements

SỐ PHẬN CÁC CON LÝ TIỂU LONG

SỐ PHẬN CÁC CON

CỦA LÝ TIỂU LONG

Cái chết uất ức và cuộc đời sóng gió của Lý Quốc Hào

Báo chí Hoa ngữ từng tốn không biết bao nhiêu giấy mực khi viết về cuộc đời, sự nghiệp của ngôi sao tài năng, bạc mệnh Lý Tiểu Long. Câu chuyện cuộc đời vợ con anh cũng không nằm ngoài sự chú ý này. Trang Daily Hồng Kông từng thu hút sự chú ý từ dư luận khi đăng tải nhiều thông tin đáng quan tâm quanh chủ đề này, trong đó giới thiệu :

“Tiểu Long quen biết Linda Lee Cadwell khi cô còn đang là nữ sinh trung học, còn ngôi sao họ Lý là thầy giáo dạy võ thuật. Mối quan hệ thầy trò nhanh chóng nảy nở thành tình yêu, và năm 1963, hai người chính thức hẹn hò”. 

Năm 1964, Lý Tiểu Long và Linda kết hôn.Thời điểm bước vào cuộc sống hôn nhân, cô gái người Anh mới chỉ tròn 19 tuổi. Cặp đôi sống tại Washington và có hai con : Brandon Lee (Lý Quốc Hào )và Shannon Lee (Lý Hương Ngưng). Suốt gần 10 năm sau đó, Linda trở thành người phụ nữ của gia đình, từng bước chăm chút hậu phương cho chồng, trong khi Tiểu Long thành danh trên con đường sự nghiệp.

Vợ đẹp, con ngoan, bản thân lại là người nổi tiếng, giàu có và được khán giả khắp thế giới hâm mộ, cuộc đời Lý Tiểu Long những tưởng đã hoàn mỹ.Thế nhưng, có lẽ ông trời đúng là không cho ai có tất cả. Sau khi siêu sao võ thuật qua đời vào năm 1973, hưởng dương 32 tuổi cũng là lúc sóng gió bất ngờ ập đến với gia đình, vợ con anh.

Con trai Lý Quốc Hào : Ám ảnh về cái chết của cha suốt thời niên thiếu rồi qua đời uất ức bởi một tai nạn hi hữu.  

Lý Quốc Hào sinh năm 1965, là con trai cả của Lý Tiểu Long. Có người cha cực kì nổi tiếng và giỏi võ, không lạ lùng gì khi chỉ mới chập chững tập đi, Lý Quốc Hào đã bắt chước những động tác đánh đấm của cha. Năm 2 tuổi, cậu bé đã bắt đầu được học các chiêu thức võ thuật đơn giản và nhanh chóng bộc lộ năng khiếu thiên bẩm được kì vọng sẽ chẳng thua kém người cha tài năng. Lý Quốc Hào từng tâm sự : “Cha dạy võ từ năm tôi 2 tuổi. Trong mắt tôi, cha là một anh hùng”.

Cha là siêu sao võ thuật với nhiều mối quan hệ với những tên tuổi lớn nên từ thời còn “tay bồng tay bế”, cậu bé đã được tiếp xúc với nhiều huyền thoại khác, trong đó có võ sư Diệp Vấn.

Phát huy tài năng võ thuật, cậu bé họ Lý tiếp tục “hô mưa gọi gió” ở trường học bởi bản tính hiếu thắng, ngông cuồng của mình. Bà Linda – mẹ cậu không biết phải bao nhiêu lần lên tận trường xin lỗi thầy cô và cha mẹ các bé khác nếu chẳng may bị cậu con tung quyền cước đánh đập, bắt nạt.

Lên tiểu học, người ta cũng thấy tên Lý Quốc Hào là đã chạy xa bởi trước đó, danh tiếng chuyển trường tận 3 lần chỉ bởi những lời phê “ngỗ ngược, quậy phá, vô lễ” của cậu đã lừng danh khắp nơi.

Việc Lý Tiểu Long dạy võ cho Lý Quốc Hào quá sớm cũng là một trong những nguyên nhân góp phần khiến cậu bé trở nên nghịch ngợm và hiếu chiến. Không chỉ vợ mà ngay cả Lý Tiểu Long cũng chẳng biết bao nhiêu lần phải xấu hổ vì cậu con trai cưng. Vì lẽ đó mà anh quyết định sẽ không tiếp tục dạy võ cho cậu nữa mà chỉ tập cho cậu một số chiêu cơ bản để tự vệ.

Mặc dù vậy, Lý Quốc Hào vẫn chẳng hề có ý sửa đổi, thích phản kháng và không vâng lời. Nhiều người nói rằng đó chính là gen di truyền từ Lý Tiểu Long bởi trước đó ông cũng khiến cha Lý Hải Tuyền bao phen vất vả.

Đến năm lên 5 tuổi, Quốc Hào đã được cha mẹ đưa về Hồng Kông. Từ đây, sau những lần xuất hiện trên phim trường, cậu có cơ hội cùng cha tham gia một số bộ phim võ thuật và khiến công chúng ngạc nhiên vì khả năng tung quyền xuất chúng. Từ đó, cả hai cha con đều nổi đình nổi đám và thu hút được nhiều người hâm mộ yêu mến.

Cuộc sống yên bình được vây bởi ánh hào quang của Lý Quốc Hào chỉ tồn tại rất ngắn ngủi. Cái chết bất ngờ của Lý Tiểu Long vào năm 1973 đã khiến cậu con trai vấp phải một cú sốc lớn, dẫn đến tổn thương tâm lí, luôn ám ảnh cậu mãi về sau. Vì sợ cậu con trai duy nhất đi vào vết xe đổ của cha nên bà Linda kiên quyết ngăn cản chuyện học võ.

Thế nhưng bỏ ngoài tai lời khuyên của mẹ, Quốc Hào vẫn tích cực luyện tập và nhanh chóng sở hữu võ công đáng nể. Cậu dù bị ám ảnh bởi cái chết của bố, sốc trầm trọng một thời gian nhưng lại không thể thoát khỏi sự ngưỡng mộ về bố, một con người vĩ đại nhường ấy nên kiên quyết học võ đến cùng.

Người ta nhìn từng động tác, các pha hành động trong phim hay cả bên ngoài đều có chung ý tưởng liên hệ đến Lý Tiểu Long, nhất là thần thái, cách ra đòn và cước bộ điềm tĩnh, vững vàng. Sau này, Lý Quốc Hào cũng tham gia đóng phim và được kì vọng sẽ trở thành một ngôi sao lớn của dòng phim võ thuật như bố. Những tác phẩm điện ảnh đánh dấu tên tuổi và sự nghiệp của Quốc Hào có thể kể đến như Kungfu the Movie, Logacy of Range (1986), Show Down in Lettle Tokyo (1991), Rapid Fire (1992).

Năm 1993, Lý Quốc Hào tham gia bộ phim The Crow, khởi quay tại Wilmington, Bắc California và bị một viên đạn thật bắn trúng người. 12 tiếng sau, các bác sĩ tuyên bố anh tử vong ở tuổi 28. Tai nạn được cho là cực kì hi hữu khi nó được gây ra bởi một khẩu súng đạo cụ. Chẳng biết vì nguyên do gì mà trong nòng súng lại bị lắp đạn thật, khiến Lý Quốc Hào qua đời đầy uất ức trên phim trường.

Con gái Lý Hương Ngưng: Thần đồng âm nhạc quyết tâm từ bỏ đàn ca để nối tiếp sự nghiệp võ thuật dang dở của cha và anh trai.

Khi Lý Tiểu Long đột ngột qua đời tại Hồng Kông vào ngày 20/7/1973, Lý Hương Ngưng (Shannon Lee) mới 4 tuổi nên chưa cảm nhận được sự mất mát nhưng bắt đầu hiểu cuộc sống của mình đã thay đổi. Trong khi anh trai Lý Quốc Hào mải mê với những thế võ thì cô bé Lý Hương Ngưng dành trọn niềm đam mê của mình cho ca hát.

Năm 1976, bà Linda – vợ Lý Tiểu Long tái hôn với nhà văn nổi tiếng Tom Bleecker. Đi bước nữa sau khi Lý Tiểu Long mất chưa đầy 3 năm là quyết định mang tính hi sinh của bà Linda vì muốn 2 đứa con bé bỏng có một gia đình hoàn chỉnh.

Thế nhưng, mong ước của người mẹ đau khổ không được như ý, 2 năm sau, hôn nhân đổ vỡ, 3 mẹ con dắt nhau rời khỏi ngôi nhà cha dượng. Chính biến cố ấy đã khiến Lý Hương Ngưng trở nên mạnh mẽ và trưởng thành hơn lứa tuổi của mình.

Hai năm sau khi anh trai nổi lên từ bộ phim Kungfu The Movie, Lý Hương Ngưng đậu vào trường Đại học Tulane (New Orleans, Mỹ) chuyên ngành Âm nhạc. Cho đến năm 1993, khi cô em gái còn chưa kịp trở về gặp và khen anh trai vì những biểu hiện xuất sắc của anh trên màn ảnh Hollywood, Lý Quốc Hào qua đời trên phim trường vì tai nạn súng.

Cái chết của Lý Quốc Hào khiến bà Linda và Lý Hương Ngưng đau đớn tột cùng. Mặc dù cảnh sát công bố kết quả điều tra cho rằng Lý Quốc Hào đã gặp “tai nạn nghề nghiệp”, bị bắn chết bằng một viên đạn thật trong khẩu súng đạo cụ nhưng Lý Hương Ngưng không tin điều đó. Cô lao vào tìm kiếm chứng cứ để chứng tỏ anh trai bị ám sát chứ không phải bị ngộ sát. Nhiều tháng ròng, Lý Hương Ngưng bỏ công việc, bỏ show diễn chỉ với mong muốn tìm ra hung thủ. Mãi cho đến khi được mẹ hết lời khuyên bảo, cô mới chịu kết thúc việc truy tìm nguyên nhân thật quanh cái chết của Lý Quốc Hào.

Suốt một thời gian sau đó, Lý Hương Ngưng nhốt mình trong phòng riêng, xem đi xem lại nhiều lần những bộ phim của cha và anh trai. Cô phát hiện, Lý Quốc Hào đã thừa hưởng nhiều tố chất của Lý Tiểu Long, đó là ý chí kiên cường và thái độ làm việc chuyên nghiệp cùng tình yêu dành cho võ thuật. Điều này cô đưa ra quyết định mang tính bước ngoặt trong đời khi từ bỏ tất cả những thứ mình đang có, bắt đầu tập võ với mục tiêu trở thành một diễn viên võ thuật giống như cha và anh trai, tiếp nối những gì họ còn đang dang dở.

Quyết định của Lý Hương Ngưng bị bà Linda phản đối kịch liệt.Tuy nhiên cô vẫn kiên định với ước mong nối nghiệp võ thuật để giữ lại phần nào hình ảnh cha và anh trong lòng công chúng. Từng có một thời gian, Hương Ngưng bị dè bỉu, mỉa mai vì động tác ẻo lả, đánh võ như múa, thế nhưng cô chưa bao giờ từ bỏ sự nghiệp nối nghiệp cha anh của mình.

Tháng 8/1994, Lý Hương Ngưng kết hôn với họa sĩ Anthony Ian Keasler.Từ khi có gia đình ổn định, cô dành hết thời gian để thực hiện mong muốn của mình. Năm 1997, Hương Ngưng giành được vai nữ chính trong bộ phim High Voltage của đạo diễn Isaac Florentine.

Một năm sau, cô đi theo bước chân cha, trở về Hồng Kông cộng tác với Hãng phim Gia Hòa, tham gia bộ phim Enter The Eagles do đạo diễn Nguyên Khuê thực hiện, đóng chung với Viên Vịnh Nghi, Trần Tiểu Xuân, Vương Mẫn Đức.Lý Hương Ngưng tạo ấn tượng tốt khi đích thân thể hiện những pha nguy hiểm như nhảy tàu, nhảy lầu, cưỡi mô tô, bắn súng… Nỗ lực không ngừng nghỉ khiến Lý Hương Ngưng dần được công chúng đón nhận.

Sự nghiệp điện ảnh đang khởi sắc, tên tuổi vừa nổi lên nhưng Lý Hương Ngưng nhận thấy dù có cố gắng cách mấy cũng không thể trở thành một ngôi sao phim hành động, vì màn ảnh không dành chỗ cho những nữ anh hùng.

Vì vậy, năm 2002, sau khi hoàn thành tác phẩm She, Me and Her, cô chia tay phim trường, an phận với vai trò làm vợ, làm mẹ. Suốt từ đó đến nay, Lý Hương Ngưng quản lí Quỹ giáo dục Lý Tiểu Long và Hiệp hội phát triển Tiệt quyền đạo, bắt đầu một cuộc sống ổn định sau bao thăng trầm từ thuở ấu thơ đến khi trưởng thành.

Sau cái chết của bố, hôn nhân đổ vỡ của mẹ, sự ra đi của anh trai và nhiều năm “lăn lộn” với phim trường, mãi đến những năm tháng tuổi trung niên, Lý Hương Ngưng dường như mới thực sự có một cuộc sống bình lặng, yên ả. (Thu Ngân theo The thao van hoa)

Phan Tất Đại chuyển tiếp

DIVA THÁI THANH

VÀ CHUYỆN TÌNH

3 NGƯỜI KINH ĐIỂN

Có lần, trong một cuộc phỏng vấn của giới truyền thông hải ngoại, một nhà báo đã hỏi Thái Thanh có hay không mối tình giữa bà và nhà văn Mai Thảo, Thái Thanh đã trả lời :

“Có liên hệ tình cảm khi tôi còn ở với chồng và dù bỏ chồng rồi thì anh Mai Thảo vẫn quý tôi đến cái độ tôi muốn thế nào anh ấy chiều như thế. Nhưng mà tôi cổ lỗ sĩ lắm các ông ạ. Hễ không có cưới là không có ăn ở với nhau”.

Theo cách nói của Thái Thanh thì chuyện họ có một thời yêu nhau là sự thật. Và Thái Thanh sẵn sàng sống phần đời còn lại với Mai Thảo sau một đám cưới, nhưng hình như Mai Thảo đã tránh né. Ông ta chỉ muốn sống như đã từng sống với vài người phụ nữ khác.

Cả ba người – Thái Thanh, Lê Quỳnh và Mai Thảo đều là những nhân vật nổi tiếng thuộc loại hàng đầu trong lãnh vực văn học – nghệ thuật tại miền Nam trước năm 1975. Thái Thanh được mệnh danh là “tiếng hát vượt thời gian”. Giọng hát sang trọng và điêu luyện của bà được xếp trên cả Lệ Thu, Khánh Ly một bậc.

Chồng chính thức của Thái Thanh là diễn viên điện ảnh kỳ cựu Lê Quỳnh. Ông còn là một thiếu ta phi công của quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Do cá tính của mỗi người, cuộc sống hôn nhân của họ không được hạnh phúc, dù đã có với nhau 5 người con. Nhưng kẻ phá bĩnh cuối cùng, như giọt nước làm tràn ly, khiến Thái Thanh – Lê Quỳnh phải chia tay là nhà văn Mai Thảo, trong vai một kẻ trộm tình. Kết thúc “chuyện ba người” này là trận đánh ghen của Lê Quỳnh giành cho Mai Thảo từng gây xôn xao một thời trong giới văn nghệ Sài Gòn.

Cho đến hôm nay, trong lòng những người yêu dòng nhạc tiền chiến và âm hưởng tiền chiến thuộc nhiều thế hệ, vẫn chưa có tiếng hát nào thay thế được Thái Thanh ở sự ngọt ngào, truyền cảm, đầy chất kỹ thuật. Được thiên phú một chất giọng opera trong vắt, nhưng Thái  Thanh lại ảnh hưởng làn điệu dân ca chầu văn, quan họ, chèo… từ thủa nhỏ ở quê nhà, đã tạo nên phong cách đặc biệt của riêng bà.

Gần một thế kỷ, âm nhạc Việt Nam đã cho ra đời nhiều tác phẩm bất tử, gắn liền với những giọng ca sống mãi với thời gian, như trường hợp Giọt mưa thu, Con thuyền không bến của Đặng Thế Phong, Buồn  tàn thu, Đàn chim Việt, Thiên thai của Văn Cao, Nương chiều, Bà mẹ Gio Linh, Kỷ niệm của Phạm Duy… Hầu hết những ca khúc kinh điển này đếu gắn liền với tên tuổi Thái Thanh.

oOo

Thái Thanh tên thật là Phạm Thị Băng Thanh, sinh năm 1934 tại Hà Nội, trong một gia đình gắn bó với âm nhạc. Thái Thanh là em ruột của ca sĩ Thái Hằng (vợ của nhạc sĩ Phạm Duy) và là em gái kế của nhạc sĩ nổi tiếng Phạm Đình Chương (ca sĩ Hoài Bắc). Bà còn có một người anh cùng cha khác mẹ khác là Phạm Đình Viêm (ca sĩ Hoài Trung). Họ đã cùng nhau dựng lên ban hợp ca Thăng Long vang danh một thời.

Không thông qua một trường lớp đào tạo nào cả nhưng Thái Thanh, ngoài năng khiếu bẩm sinh ra, còn được các anh chị rèn luyện từ nhỏ, giọng bà có âm vực rộng, nên thể loại âm nhạc của bà rất phong phú, đa dạng.

Thời kỳ đầu bà theo chị là ca sĩ Thái Hằng tham gia kháng chiến, chuyên biểu diễn phục vụ ở các chiến khu. Nghệ danh Thái Thanh bắt đầu từ đó. Năm 1951, bà theo gia đình chị ruột là Thái Hằng – Phạm Duy vào Sài Gòn lập nghiệp, và tiếp tục ca hát. Thái Thanh trở nên nổi tiếng với những ca khúc tiền chiến được đông đảo quần chúng yêu thích, đặc biệt là giới trí thức. Tiếng hát của bà thống trị phần lớn các chương trình phát thanh, truyền hình và phòng trà ở Sài Gòn suốt hơn hai thập niên, dường như không có đối thủ cạnh tranh.

Người chồng tài tử xi nê

Năm 1956, Thái Thanh kết hôn với Lê Quỳnh, một trong số nam diễn viên nổi tiếng thuộc lớp đầu tiên của điện ảnh miền Nam. Ông sinh năm 1934 tại Hà Nội (bằng tuổi Thái Thanh).

Năm 1952, Lê Quỳnh tốt nghiệp tú tài ban văn chương và gia nhập không quân của quân đội Pháp. Về sau chuyển thành không lực của quân đội Việt Nam Cộng Hòa với cấp bậc sau cùng là thiếu tá. Năm 1954, Lê Quỳnh theo gia đình vào Nam lập nghiệp. Ông không mấy thành công trên con đường binh nghiệp, nhưng cuộc đời diễn viên của ông lại là một chuỗi thành công rực rỡ, kể từ sau 1956 trở đi với hàng loạt vai chính trong các bộ phim tình cảm: Đất lành, Hồi chuông Thiên Mụ, Thiếu phụ Nam Xương, Vụ án tình, Ngàn năm mây bay, Đôi mắt người xưa, 11 giờ 30, Chờ sáng, Mùa thu cuối cùng, Bẩy ngầm…

Ngoài ra, Lê Quỳnh cũng xuất hiện trong vai thứ của một số phim quốc tế như: The Quiet American, A Night Of The Dragon, Transit A Saigon. Năm 1969, Lê Quỳnh bắt tay làm bộ phim Giã từ bóng tối trong vai trò đạo diễn, nhưng không được công chúng đón nhận và đó cũng là phim duy nhất mà ông làm đạo diễn. Cũng có thời Lê Quỳnh mon men bước vào con đường hoạt động chính trường khi ra ứng cử dân biểu quốc hội vào năm 1967 nhưng thất cử.

Lê Quỳnh chung sống với Thái Thanh được 9 năm (1956 – 1965) thì gãy gánh, sau khi đã có với nhau 5 mặt con, mà người con đầu là Lê Thị Ý Lan, sinh năm 1957, hiện là ca sĩ nổi tiếng ở hải ngoại, thường về biểu diễn tại Việt Nam (ca sĩ Ý Lan). Là một diễn viên có nét đẹp rất đàn ông, Lê Quỳnh được mô tả như một gã đa tình, nhưng tính tình lại rất ghen tuông.

Chính vì thế cuộc sống vợ chồng của họ luôn là những tháng ngày đầy sóng gió. Có lần, Thái Thanh đi hát cùng với hai người anh của mình là Hoài Trung, Hoài Bắc. Dù có xe đưa đón, nhưng Lê Quỳnh vẫn âm thầm bám sát để theo dõi, và ông đã ghen với cả người lái xe vì anh ta đã lịch sự mở cửa cho Thái Thanh. Tuy nhiên, việc Lê Quỳnh tặng cho nhà văn Mai Thảo một trận đòn ghen ở phòng trà Bồng Lai năm 1965 thì không phải là chuyện ghen bóng ghen gió.

Mai ThảoKẻ trộm tình”

Thật sự, chuyện Mai Thảo dan díu tình cảm với Thái Thanh là có thật. Sau này, chính Mai Thảo đã gần như dàn trải phần lớn tâm sự thầm kín của mình trong tiểu thuyết Mười đêm ngà ngọc. Cho dù ông không xác nhận, cũng không phủ nhận khi được phỏng vấn, có phải đã viết tác phẩm này cho Thái Thanh hay không, tuy nhiên, hầu hết bạn bè thân thiết của Mai Thảo và người đọc đều biết và thấy rõ bóng dáng của Thái Thanh trong đó.

Vào thời điểm này, vợ chồng Thái Thanh – Lê Quỳnh đang sống cuộc sống gia đình như địa ngục, với những xung đột tiếp diễn hàng ngày, và việc phải chia tay nhau chỉ còn là vấn đề thời gian. Tuy nhiên Mai Thảo vẫn là giọt nước cuối cùng làm tràn ly. Ông ta là nguyên nhân cũng là cái cớ cho màn ly dị với diện mạo của một kẻ trộm tình.

Mai Thảo có tên thật là Nguyễn Đăng Quý, gốc gác ở làng Thổ Khối, huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh, nhưng được sinh ra tại chợ Cồn, xã Quần Phương Hạ, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Cha ông là một nhà buôn giàu có. Thơ ấu, ông theo học trường làng, nhưng khi lên trung học thì chuyển về học trường Chu Văn An, Hà Nội.

Năm 1945, ông rời gia đình vào Thanh Hóa để đi theo kháng chiến. Mai Thảo làm công tác viết báo và tham gia các đoàn văn công đi lưu diễn khắp Liên khu 3, Liên khu Tư và Liên khu Việt Bắc. Đến năm 1951 thì ông bỏ về thành đi buôn theo nghiệp cha.

Năm 1954, ông định cư hẳn ở Sài Gòn, và trở thành một trong những nhà văn nổi tiếng. Suốt đời Mai Thảo chưa một lần có vợ, nhưng già nhân ngãi non vợ chồng thì không kể hết. Ông được những bằng hữu thân thiết mô tả như một tay chơi có hạng, từng một thời không đêm nào là không có mặt tại vũ trường, sống trong trùng vây của rượu và gái.

Điều này, cũng được chính Mai Thảo viết rõ trong truyện Một đêm thứ bảy. Nhưng tiền ở đâu ra để Mai Thảo có thể ăn xài như một thiếu gia công tử ? Hãy nghe lời nhà thơ Thái Thủy, một người bạn thân của Mai Thảo nói về trường hợp này: “Văn nghệ sĩ Bắc Hà vào Nam được các cơ quan IRC, Asia Foundation và USIS của Hoa Kỳ giúp đỡ lập ra tờ Sáng Tạo và anh Mai Thảo làm chủ nhiệm. Thời bấy giờ Mai Thảo có khả năng tài chánh, viết nhiều feulletons ăn khách, và tờ Sáng Tạo được tài trợ vững. Anh có xe hơi Fiat hiệu Austin, có nơi ăn chốn ở, có danh vọng trong giới văn học và nổi tiếng ăn chơi hào phóng”.

Một trong những người phụ nữ đã chung sống với Mai Thảo nhiều năm là một cô vũ nữ xinh đẹp tên Cúc, hoa khôi của vũ trường Tự Do. Ngoài Cúc ra, vũ trường này còn có Mỹ (Mỹ “Khùng”) là một cặp bài trùng, thuộc hàng đào nhất ở đây. Có tiền, Mai Thảo vừa ăn ở với cô Cúc, nhưng lại lén lút trăng hoa với Mỹ “khùng”.

Nhưng theo nhà văn Văn Quang, thì nàng Cúc không biết gì về văn học nghệ thuật, không hiểu giá trị văn chương và có thể chẳng hề đọc Mai Thảo. Ông viết về mối tình này của bạn mình chỉ là tình yêu ma quái vũ trường chập chờn dưới ánh đèn màu lung linh và sóng nhạc dập dềnh. Cuộc tình chẳng mặn mà, chỉ là một kết hợp theo nhu cầu.

Tờ Sáng Tạo hết tài trợ thì nàng ra đi, được tài trợ thì nàng trở về, nhưng cũng chẳng kéo dài được ba năm. Và rồi, Mai Thảo tìm đến Thái Thanh, để biến thành một cuộc tình tay ba, giữa ba con người nổi tiếng, từng gây xôn xao dư luận một thời. Mai Thảo và một số bạn bè của ông ngụy trang cho tình yêu ngoài luồng này bằng cụm từ “tình yêu nghệ thuật”, “tình yêu ngà ngọc”.

Nhưng theo nhà thơ Thái Thủy thì: “Cuộc tình giữa Mai Thảo và danh ca Thái Thanh không phải là ngà ngọc mà chỉ là lãng mạn”. Điều này có thể đúng với tính chất của Thái Thanh vào thời điểm hạnh phúc gia đình đang bên bờ vực thẳm, đang rất cần một chỗ dựa tinh thần. Nhưng không thể đúng với một gã đàn ông như Mai Thảo.

Đánh ghen bằng nhẫn sắt

Cuối cùng, chuyện vụng trộm của Mai Thảo – Thái Thanh bị Lê Quỳnh phát hiện, ông đã kết thúc mọi việc bằng một trận đòn ghen vào một buổi tối thứ bảy năm 1965, tại phòng trà Bồng Lai. Lúc bấy giờ, Mai Thảo đang ngồi uống rượu với một vài bạn hữu thì Lê Quỳnh xuất hiện. Ông đã giáng một cú đấm như trời giáng vào mặt Mai Thảo nhưng trượt xuống vai.

Tiếp đến là bàn tay được Lê Quỳnh võ trang bằng chiếc nhẫn sắt để tặng cho Mai Thảo một vết sẹo trên má, rồi rút êm. Nếu không có quyền lực của ông  Nguyễn Cao Kỳ can thiệp, vì quý mến Thái Thanh, muốn giữ danh dự cho bà thì báo chí lúc bấy giờ đã làm rùm beng chuyện này lên rồi.

Sau sự cố này, Lê Quỳnh đã tỏ ra hối hận và tìm cách chuộc lỗi với Thái Thanh để tiếp tục chung sống. Nhưng Thái Thanh đã cương quyết từ chối. Sau khi hai người ly dị, ai cũng tưởng Thái Thanh sẽ đến với Mai Thảo, nhưng tất cả đã không diễn ra như thế. Có lẽ trong thời gian yêu nhau, Thái Thanh đã hiểu rõ hơn con người Mai Thảo, dù là một nhà văn nổi tiếng, nhưng ông ta chỉ là một người tình lang chạ và tất nhiên sẽ không bao giờ là một người chồng tốt. Sau đó, Thái Thanh thành hôn với dân biểu Trần Quý Phong, chủ khách sạn Catinat.

Thái Thanh ngày nay

Bây giờ thì cả Lê Quỳnh, Mai Thảo đều đã thành người thiên cổ, và tiếng hát vượt thời gian Thái Thanh cũng qua ngưỡng cửa 80. Tất cả đã chìm vào quá khứ theo thời gian. Và những thăng trầm cuộc sống đã làm cho người ta lãng quên cho dù đó là chuyện tình giữa ba con người nổi tiếng.

Yên Huỳnh chuyển tiếp

NHỮNG CA KHÚC THÁI THANH TRÌNH BÀY :

1) CHUYỆN TÌNH BUỒN 2) ĐẠO CA 8 – GIỌT CHUÔNG CAM LỘ

3) ĐẠO CA 9 – CHẮP TAY HOA 4) NGÀY XƯA HOÀNG THỊ

5) RU TA NGẬM NGÙI 6) TẠ ƠN ĐỜI 7) TIẾNG HÁT TO 8) TÌNH SẦU DU TỬ LÊ

9) TÌNH HOÀI HƯƠNG 10) CỎ HỒNG 11) NGÀY XƯA HOÀNG THỊ

12) DÒNG SÔNG XANH 13) TÌNH CA 14) HOÀI CẢM

MƠ ƯỚC CỦA NS LAM PHƯƠNG

MƠ ƯỚC CỦA NS LAM PHƯƠNG :

‘CÓ MÔT NGƯỜI BẠN ĐỂ HỦ HỈ’

Tối Thứ Bảy, 24/6/2017, tại Hội trường báo Người Việt diễn ra chương trình văn nghệ “Lam Phương- 80 cuộc đời, 65 năm âm nhạc” thu hút đông đảo khán giả thuộc nhiều thế hệ đến xem.

Nhân dịp này, phóng viên Ngọc Lan đã có cuộc phỏng vấn “chớp nhoáng” với nhạc sĩ Lam Phương để nghe ông chia sẻ những buồn vui trong cuộc đời của người nhạc sĩ tài hoa. Đặc biệt là niềm mơ ước rất thú vị của ông ở tuổi 80.

Ngọc Lan (NL) : Khi nãy nhìn thấy chú Lam Phương vừa ngồi vừa coi những video clip, có lẽ là những bài hát của chú. Mỗi lần ngồi xem ca sĩ trình diễn các ca khúc của mình như thế thì cảm xúc của chú như thế nào ?

Nhạc sĩ Lam Phương : Chắc chắn là rất cảm động, nhất là những bài hát mình viết, nghe để nhớ lại lúc mình sáng tác nó như thế nào.

NL: Chương trình ca nhạc, những ca sĩ hầu hết không phải chuyên nghiệp hay trên một sân khấu lớn, mà chú vẫn có mặt để tham dự. Chú nghĩ gì về việc có mặt ở đây để tham dự một chương trình đơn giản như vậy ?

Nhạc sĩ Lam Phương : Đối với tôi, việc đi dự những buổi nhạc chuyên nghiệp quen rồi. Nhưng tôi vẫn muốn làm điều gì để nâng đỡ đàn em sau này. Cho nên hy vọng sự hiện diện của tôi sẽ giúp cho các cháu ngày sau sẽ tiến lên.

NL: Chú bắt đầu sự nghiệp sáng tác của mình như thế nào  Giống như là năng khiếu bẩm sinh hay xuất phát từ điều gì để đi đến sáng tác đầu tiên của chú ?

Nhạc sĩ Lam Phương : Tôi sáng tác rất sớm, khi mới có 15 tuổi. Đây này là năng khiếu tự nhiên của mình. Lúc đó tôi còn đi học, thức đêm thay vì học bài mình lại có đầu óc sáng tác. Lúc trời khuya dễ có cảm hứng lắm.

NL: Khi sáng tác ra bài nhạc đầu tiên, chú đưa cho ai hát ? Làm sao để người ta biết đến tên của nhạc sĩ Lam Phương ?

Nhạc sĩ Lam Phương : Khổ lắm cháu ơI ! Cái gì khi bắt đầu cũng khó. Khi viết bài đầu tiên đâu có ai biết mình là ai, thành ra mình phải đi đến gặp họ, trình bày bài của mình cho họ biết, rồi họ kêu mình hát, dù hát không được cũng cố gắng hát cho họ nghe, nghe được rồi họ mới chịu hát bài của mình, chứ không có dễ đâu.

NL: Khoảng bao nhiêu lâu sao bài hát đầu tiên của chú thì người ta bắt đầu biết đến tên nhạc sĩ Lam Phương ?

Nhạc sĩ Lam Phương : Bài đầu tiên là bài Chiều Thu Ấy, tôi làm lúc 13 tuổi. Đến năm 15 tuổi mới tung ra mà đâu ai mua, trong khi không có tiền, phải đi mượn tiền để in bài đó. Phải bán cả năm sau mới lấy vốn được. Cũng gian nan lắm !

NL: Phải mấy năm sau sự gian nan đó thì tên tuổi Lam Phương mới được người ta chú ý đến ?

Nhạc sĩ Lam Phương : Hai năm sau. Bài đầu ít người biết lắm, sau này đến bài thứ nhì thì người ta mới biết nhiều, là bài “Nhạc Rừng Khuya,” giai đoạn tôi viết nhạc về quê hương đó, thì lúc đó phong trào mới nổi lên, và người ta mới biết đến tên tôi.

NL: Và khi tên tuổi nhạc sĩ Lam Phương được người ta biết đến nhiều, thì chuyện sáng tác của chú làm ra để đưa đến ca sĩ hay làm ra băng đĩa bán trở nên dễ dàng hơn rất nhiều phải không ạ ?

Nhạc sĩ Lam Phương : Đúng rồi, dễ dàng hơn lúc đầu nhiều lắm, vì người ta đã biết tên mình thì người ta tin tưởng bài mình. Lúc đó mình không cần năn nỉ nữa mà người ta tìm đến mình xem có bài mới không là họ hát.

NL: Trong số những ca sĩ đã trình diễn các sáng tác của chú, chú cảm thấy ưng ý nhất là ca sĩ nào ?

Nhạc sĩ Lam Phương : Cũng khó so sánh, vì tôi viết nhiều loại nhạc lắm, mỗi một loại nhạc có một số ca sĩ riêng, như nhạc quê hương thì có Hương Lan, Mai Thiên Vân, nhạc tình thì có Khánh Hà, Ý Lan, thành ra mình không so sánh được, mỗi ca sĩ chuyên về một loại nhạc, mình không đem ca sĩ hát loại nhạc này với ca sĩ hát loại nhạc khác.

NL: Về bài hát “Chiều Tây Đô,” chú Lam Phương có thể cho biết là chú sáng tác bài đó trong hoàn cảnh như thế nào để có thể nói lên nỗi niềm tâm sự của nhiều người như vậy?

Nhạc sĩ Lam Phương : Trước tiên, tôi không phải là người sanh dưỡng tại Cần Thơ, mà tôi sanh ở Rạch Giá. Nhưng tôi có một người bạn, người bạn đó nói “Sao anh viết cho mọi người được mà anh không viết cho em được? Em ở Tây Đô.” Chính vì vậy mà tôi viết bài “Chiều Tây Đô.”

NL: Còn bài hát “Một Mình” thì sao ạ ?

Nhạc sĩ Lam Phương : Thường những bài hát tôi sáng tác là tôi có một hoàn cảnh riêng của mình. Tôi viết bài đó lúc thôi bà vợ thứ hai, thứ ba, sống một mình. Sống một mình thì tình cảm cô đơn lắm. Tối tôi nằm một mình thấy tình cảnh mình cô độc quá mới viết bài “Một Mình,” đó là hoàn cảnh thật.

NL: Chú viết từ năm 13 tuổi, đến 15 tuổi thì tung sáng tác đầu tiên ra, cho đến bài cuối cùng là lúc chú bao nhiêu tuổi?

Nhạc sĩ Lam Phương : Tôi bệnh là năm 62 tuổi, tức năm 1999. Bốn năm sau, tức 2003, tôi viết bài cuối cùng là “Hạnh Phúc Mang Theo” lúc đó tôi nghĩ mình sắp chết rồi. Tôi nghĩ khi mình chết thì tất cả những kỷ niệm mình mang theo mình, để cho người sống ở lại không nhớ tới để mà buồn, tôi mang theo tất cả.

NL: Mặc dù trải qua một cơn bạo bệnh như vậy và có lúc đã nghĩ là mình không còn sống được lâu, nhưng đến bây giờ đã là 19 năm rồi, mà mỗi lần chú xuất hiện đều trong một thần thái rất là lạc quan, rất là vui. Làm sao chú có được điều đó ?

Nhạc sĩ Lam Phương : Nhờ vậy mà sống lâu đó cháu. Giờ 80 rồi. Tôi nghĩ giờ mình có buồn cũng vậy thôi, tại sao mình không vui để hưởng những ngày cuối cùng của mình cho nó êm đẹp.

NL: Người ta thường nói, người nhạc sĩ, hay thi sĩ cũng vậy, khi họ sáng tác, thường có những tâm sự buồn hay khi xung quanh có những tác động mang tính buồn, tiêu cực thì sáng tác của họ hay hơn. Thì điều đó có đúng không ?

Nhạc sĩ Lam Phương : Phần đông là như vậy. Nhưng riêng tôi thì tôi viết trong mọi hoàn cảnh. Lúc vui tôi viết nhạc vui, lúc buồn tôi viết nhạc buồn, lúc giận viết nhạc giận, không có so sánh được.

NL: Một bài thường từ lúc hình thành ý tưởng đến lúc chú hoàn thành sáng tác mất bao lâu ?

Nhạc sĩ Lam Phương : Cũng tùy, nhưng thường tôi viết mau lắm. Một bài chậm lắm là một tuần thôi. Một bài mà tôi viết 3-4 ngày mà nghe không được là bỏ liền để viết bài khác.

NL: Vậy bài nhanh nhất chú viết trong bao lâu ?

Nhạc sĩ Lam Phương : Trong vài tiếng đồng hồ, trong một đêm.

NL: Chú có thường nghe lại nhạc của chính mình mỗi ngày hay mỗi tuần không ?

Nhạc sĩ Lam Phương : Nghe mỗi ngày (cười). Nghe để coi có chỗ nào yếu, không hay mình sửa lại để sau này tránh đi, để viết hoàn hảo hơn.

NL: Có bao giờ chú nghe lại sáng tác của mình và nghĩ “Ồ tại sao lúc đó mình viết hay như vậy !” Hay có lúc nào lại nghĩ “Trời, sao lúc đó mình viết tệ quá!” ?

Nhạc sĩ Lam Phương : Như tôi đã nói khi viết tôi thấy được mới tiếp tục, còn không được thì thôi bỏ, để khỏi mất thì giờ.

NL: Ngay trong lúc này, khi mà bên hội trường có rất nhiều ca sĩ đang trình diễn những ca khúc của chú, thì chú cảm thấy như thế nào ?

Nhạc sĩ Lam Phương : Đó là niềm sung sướng của người sáng tác. Mình hát không được thì mình nghe người ta hát nhạc của mình. Đó là niềm vui sướng của người sáng tác.

NL: Hiện giờ điều chú lấy làm niềm vui trong đời sống hằng ngày của mình là gì ?

Nhạc sĩ Lam Phương : Bây giờ tôi sống một mình, với gia đình người em. Cuộc sống rất giản dị. Tối ngủ, không thức khuya. Sáng thức sớm, rồi ăn uống, ngủ trưa. Cuộc đời có vậy thôi.

NL: Nếu bây giờ, có một điều ước thật đặc biệt thì chú nghĩ chú ước điều gì ?

Nhạc sĩ Lam Phương (suy nghĩ thật nhanh): Có một người bạn để mình hủ hỉ những lúc buồn. Thế thôi. Bạn thôi. (Cười)

NL: Một người bạn, nhưng là nam hay nữ ?

Nhạc sĩ Lam Phương (cười lớn): Nữ càng tốt !

Đọc thêm : Trên “Một thời Sài Gòn’ ngày 5/12/2013

NHẠC SĨ LAM PHƯƠNG

Trên “Một thời Sài Gòn’ ngày 2/9/2017

LAM PHƯƠNG & NHỮNG MỐI TÌNH (1)

LAM PHƯƠNG & NHỮNG MỐI TÌNH (2)

NHỮNG NHẠC PHẨM  CỦA NS LAM PHƯƠNG

– Cho Em Quên Tuổi Ngọc

Hoàng Kim;

https://youtu.be/x4jBS1cWEt4

– Chuyến đò vĩ tuyến – Giao Linh

http://youtu.be/V634FEJrusk

– Đèn Khuya – Thanh Thúy :  http://youtu.be/ZPVvKO3nmGQ

– Một mình – Quang Dũng :  https://www.youtube.com/watch?v=m_B1mBTmpXE

– Chuyến đò vĩ tuyến – Hoàng Oanh :  http://youtu.be/8-6sbyFZFL8

– Bức tâm thư – Tuấn Vũ & Ngọc Đan Thanh

http://youtu.be/5jeMNBivXzg

BÁNH MÌ SÀI GÒN

Bánh mì đã xuất hiện ở xứ ta trước cái mốc 1859, nhưng được biết đến nhiều là sau khi đội quân viễn chinh chiếm thành Gia Định.

Ngoài người Pháp, cách làm bánh mì đầu tiên được người Hoa tiếp thu, sản xuất bán ra thị trường và trong số khách hàng mua bánh mì thời kỳ đó có cả người Việt : Bồi bàn, thông ngôn, thầy ký có lẽ là những người nếm bánh mì đầu tiên; Kế đó là công chức tân trào, rồi đến tầng lớp Tây học, thị dân và lần lần tỏa rộng phổ biến cả thành thị lẫn nông thôn”

Trong bài Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc của cụ Nguyễn Đình Chiểu năm 1861, ta thấy có hai câu như sau :

Sống làm chi theo quân tả đạo, quăng vùa hương, xô bàn độc, thấy lại thêm buồn

Sống làm chi ở lính mã tà, chia rượu lạt, gặm bánh mì, nghe càng thêm hổ.

Rồi có thêm bài thơ chế :

Vân Tiên ngồi dựa gốc dừa,

Tay cầm chai rượu miệng nhai bánh mì.

Nguyệt Nga mới hỏi ăn gì ?

Vân Tiên mới nói thịt quay bánh mì.

Bánh mì theo chân người Pháp đến Saigon đầu tiên, xuống Nam Kỳ lục tỉnh, ra miền Bắc, sau đó mới phổ biến trên toàn quốc, cho nên khi đề cập đến bánh mì, người ta đề cập đến Saigon : bánh mì Saigon.

Ta thấy những thực phẩm, những vật dụng hàng ngày mà người Pháp mang đến Việt Nam, đều được gọi kèm theo chữ tây như : khoai tây, hành tây, dâu tây, rượu tây, thuốc tây, giày tây …

Trong khi ngoài Bắc gọi bánh mì là bánh tây, thì miền Nam lúc đó đã gọi nó là bánh mì ổ (ổ như chữ ổ của bánh bông lan). Có lẽ một trong các loại bánh mì mà người Pháp du nhập sang đầu tiên là pain de champagne (bánh mì đồng quê) ổ bự, to bè, nhiều ruột, để được vài ngày hay các loại bánh mì hình tròn, hình bầu dục gọi tên là le pain rond, le complet, le bâtard…

Những ổ bánh mì Saigon mới ra lò còn nóng, dậy mùi thơm của bột mì nướng, vỏ giòn rụm, vàng ươm, láng lẩy bơ, nở tròn bụng, ruột trắng mịn và xốp này từ những năm 30 cho mãi đến bây giờ, vẫn là một thứ quà Saigon, mà những người dân ở miền Tây đi Saigon về lại nhà mua làm quà cho con cháu.

Dù bánh mì khắp nơi đều có, ở các tỉnh đều có lò làm bánh mì, nhưng danh tiếng bánh mì Saigon đã đi vào ký ức người ta từ lâu lắm rồi. Ở cửa ngõ thành phố đi các tỉnh đầy những chỗ bán bánh mì.

Bến xe xa cảng miền Đông, miền Tây, lúc nào cũng có những người đội các cần xé đựng bánh mì đến tận cửa xe bán cho khách mua. Nhà thơ Kiên Giang có bài thơ :

– Đáp tàu khói, về quê ăn Tết

Gió bấc đầu mùa gợn sóng đêm

Ôm ổ bánh mì làm gối nhỏ

Đem về cho mẹ với cho em.

Còn ông Công Tử Hà Đông thì viết :

Bánh mì ăn không cũng ngon

Ta đi trăm núi, ngàn sông biển

Không đâu bánh mì ngon

Bằng bánh mì Saigon.

Bánh mì ăn kèm với gì ?

Ăn bánh mì theo ông Tây, bà đầm từ thời thuộc địa là ăn bánh mì với fromage, trứng (omelette, oeufs au plat), thịt nguội (paté, jambon, saucisse à), beurre, mứt trái cây (confiture) như dâu, cam, nho àhay chấm sữa nóng cho bữa ăn sáng. Dùng bánh mì ăn kèm với súp (soupe), bí tết (bifteck), ra gu (ragout)à trong bữa ăn tối.

Tuy cũng ăn giống như vậy, nhưng người Saigon đã dần dà cải tiến cho hợp với khẩu vị của mình như: Ăn bánh mì với những miếng phô mai “ Đầu con bò cười (La vache qui rit)”, phối hợp thêm chuối già.

Ăn sáng bằng bánh mì trét bơ mặn Bretel, rắc chút đường cát trắng; Bánh mì chấm sữa nóng, pha thêm một chút cà phê cho có mùi thơm hay ăn bánh mì trét bơ chấm cà phê sữa nóng; Bánh mì chấm sữa đặc có đường hiệu Ông Thọ hay Con chim (hiệu Ông Thọ – Hiệu sữa Longevity, trước đây thuộc hãng Foremost, Mỹ, hình “Ông Thọ chống gậy”, nói lên tuổi thọ của người dùng. Hiệu Con chim của hãng Nestlé, Thụy Sỹ, đúng ra là hình một tổ chim, gồm một chim mẹ và hai chim con)…

Nổi tiếng ở Sài Gòn có lẻ tiệm Hòa Mã của vợ chồng ông Bắc kỳ di cư, rồi tiệm Hương Lan ở Bưu Điện Sài Gòn, xe bánh mì chả lụa của bà Bắc ở đường Phan Thanh Giản… nói ra thì rất nhiều. Kết bài bằng mấy câu thơ :

Ngồi buồn gặm ổ bánh mì

Mùi thơm chả quế thầm thì bên tai

Bánh mì hương vị mặn mà

Bỏ tình anh gặm mì gà ba-tê

Bánh mì xá xíu ai chê

Lại thêm xíu mại cho “phê” cõi người

”Xì dầu” anh xịt đã đời

Thừa thiên “ớt hiểm” cho vừa xót xa

Bánh mì thịt nguội có hành

Mua năm tặng một cả làng anh quơ

Cho dù người có thị phi

Yêu đời anh “ xực ” bánh mì mà thôi. ( st).

NHỮNG CHỦ ĐỀ TÁO BẠO

TRONG TRANH TRUYỀN THỐNG

NHẬT BẢN

Ukiyo-e, tức tranh in bản gỗ, là “dấu son” nổi bật trong lịch sử mỹ thuật Nhật Bản. Không chỉ thịnh hành như một trường phái hội họa độc đáo, ukiyo-e còn tạo tiền đề quan trọng cho rất nhiều trào lưu nghệ thuật đương đại. Tính lôi cuốn đến “mê hoặc” của thể loại tranh truyền thống này, tuy nhiên, vượt xa những hình ảnh phong cảnh hay lễ hội vui tươi. Ở ukiyo-e, chủ đề tình dục, đồng tính, thậm chí kinh dị, nhận được sự chú ý đặc biệt.

1/- Shunga – tranh ảnh “phòng the” ; Shunga (xuất phát từ từ gốc Hán “xuân họa” – tranh vẽ về mùa xuân) là phong cách ukiyo-e phát triển mạnh vào khoảng thế kỉ 17-19. Shunga tập trung mô tả cảnh ân ái chốn lầu xanh, chân dung những nàng kỹ nữ với dáng điệu gợi cảm, quyến rũ, cùng nhiều hoạt động “người lớn” khác nơi phố đèn đỏ.

Có quá trình tạo dựng suốt 300 năm, đến nay, Shunga đã trở thành dạng tranh ukiyo-e nổi tiếng, rất được yêu thích. Dù mang nét cổ xúy tính dục, xã hội Nhật thời bấy giờ không phân loại tranh in như văn hóa phẩm khiêu dâm. Thực tế, chế độ Tokugawa, giai đoạn Shunga trở nên “cực thịnh,” không cấm đoán việc thể hiện đề tài tình dục trên tranh ảnh.

Nghệ sĩ nổi bật, từng tạo dấu ấn lớn nhờ Shunga, không thể không nhắc đến Katsushika Hokusai (1760-1849). Bức “Người phụ nữ và đôi bạch tuộc” (ảnh trên) của ông, xuất hiện lần đầu như tranh minh họa cho một tựa sách xuất bản năm 1814, đã trở thành ví dụ điển hình nhất của phong cách Shunga truyền thống.

2/- Wakashu – những “mỹ nam” lưỡng tính : Bức vẽ bên thực hiện bởi họa sĩ nổi tiếng thời Edo, Suzuki Harunobu, tái hiện một ngày thường nhật trong khu phố đèn đỏ, thủ đô nước Nhật thế kỉ 18. Bạn sẽ muốn tập trung vào nhân vật mặc kimono sọc, cầm quạt, ngồi phía trái khung tranh. Người này mang gương mặt thanh tú, bề ngoài hệt như phụ nữ, nhưng thật ra lại là nam giới. Tên gọi cho họ là “wakashu,” nhân vật lưỡng tính đầu tiên tìm thấy trong tranh ukiyo-e.

Wakashu là khái niệm bắt nguồn từ các sử gia Nhật, dùng để ám chỉ một “mỹ nam,” hay người đàn ông có dáng vấp hấp dẫn cả hai giới. Vào thời Edo thịnh vượng, họ làm công việc mua vui – đàn hát trong kỹ viện. Hoặc, wakashu còn được hiểu như nhóm diễn viên được đào tạo đặc biệt, chuyên đóng vai nữ trên sân khấu ca kịch truyền thống.

Đối với ukiyo-e, hình tượng wakashu hiện diện không nhiều, nhưng luôn rất lôi cuốn và độc đáo. Tương tự Shunga, bằng cách phát họa wakashu, họa sĩ ukiyo-e đã tạo nên dấu ấn chưa từng có xoay quanh chủ đề nhạy cảm như tình dục và đồng tính. Nhìn ngắm những “mỹ nam” này trên tranh màu, người xem dễ dàng bị thu hút bởi nét duyên dáng, thần thái sống động của họ. Như nhiều nhà giám tuyển và chuyên gia sưu tầm tranh ukiyo-e nhận xét, vẻ đẹp riêng ở wakashu đã “thách thức ranh giới giới tính” trong lịch sử mỹ thuật Nhật Bản.

3/- Thế giới rùng rợn của ukiyo-e : Nhật Bản với nền hội họa lâu đời, không thiếu cảm hứng cho tranh vẽ kinh dị. Yếu tố ma quỷ, linh hồn cho đến cái chết được người nghệ sĩ “tái sinh” trên mặt giấy thông qua truyện cổ, giai thoại lẫn sự kiện kinh hoàng có thật.

Nổi tiếng hàng đầu thuộc thể loại ukiyo-e là dạng tranh in minh họa cho “kusazoshi,” một phong cách truyện dân gian phổ biến từ những năm 1700, thời Edo. Kusazoshi được hiểu như tiền thân của truyện tranh kinh dị ngày nay. Chúng khai thác nhiều khía cạnh “lạnh gáy” tiềm ẩn nơi đời sống thường ngày lẫn thần thoại Nhật Bản. Tranh ukiyo-e với nét cọ uyển chuyển, “truyền thần,” càng khiến câu chuyện kể thêm phần đặc sắc đến rợn người. .

Không ít “huyền thoại” ukiyo-e như họa sĩ thiên tài Hokushai, Toyokuni I, Utagawa Kunisada đều có niềm đam mê lớn dành cho chủ đề kinh dị. Bên cạnh mục tiêu gây sợ hãi hay thể hiện bài học răn đe đạo đức, đôi khi một số nhân vật yêu quái hoặc hồn ma trong tranh vẽ còn nhằm gây cười cho độc giả kusazoshi. (theo JapanTimes)

Yên Huỳnh tổng hợp chuyển tiếp

GIA ĐÌNH TỔNG ĐỐC PHƯƠNG

BẬT MÍ GIA SẢN TỶ PHÚ

GIÀU THỨ 2 SÀI GÒN MỘT THỜI

Tổng đốc Phương tên thật Đỗ Hữu Phương, từng được xem là tỷ phú giàu thứ hai tại Sài Gòn trong tứ đại phú “Nhất Sỹ, nhì Phương, tam Xường, tứ Trạch”.

Ở quận 3, phía sau BV Mắt Saint Paul có một ngôi từ đường cổ hơn 100 tuổi. Người ta gọi là Đỗ Hữu Từ đường, là nơi thờ tự dòng họ Đỗ Hữu, còn gọi là đền Tổng đốc Phương nhưng người dân từ xưa quen gọi là đền Bà Lớn, vì cũng là nơi thờ người vợ của Tổng đốc Phương, do bà vốn có nhiều công đức với dân chúng quanh vùng.

Không tạo ân oán

Biết tiếng Hán và tiếng Pháp nhưng Đỗ Hữu Phương lại rất chuộng văn hóa Pháp nên tìm cách ra làm việc với Pháp. Sau khi chiếm được thành Chí Hòa năm 1861, Pháp mở cửa thương mại và mở rộng mối quan hệ với người Hoa trong vùng để phát triển buôn bán. Ông Phương nhờ người quen giới thiệu với tham biện hạt Chợ Lớn lúc này là Đại úy Francis Garnier và được Garnier tuyển dụng. Đến năm 25 tuổi được phong làm hộ trưởng ở Chợ Lớn.

Dù làm việc cho Pháp nhưng chủ trương của ông Phương là không gây thù chuốc oán, cho nên ngay cả trong trường hợp không dụ hàng được mà phải đưa quân đánh dẹp, sau đó Đỗ Hữu Phương lại đứng ra che chở và xin chính phủ Pháp ân xá cho những người Việt tham gia khởi nghĩa.

Trong tài liệu của Pháp mang ký hiệu SL. 312 ở Cục Lưu trữ Nhà nước II, có đoạn khen ngợi Đỗ Hữu Phương: “Ông ta cố gắng tránh đổ máu trong lúc dập tắt nhiều cuộc nổi loạn gần đây. Ông ta đã xin chính phủ Pháp ân xá cho một số đông những đồng bào của ông đã cầm vũ khí chống lại chúng ta…”.

Nhờ cách hành xử như vậy cho nên dù bị ghét vì theo Pháp nhưng nhiều người vẫn cho rằng Đỗ Hữu Phương là người hiền.

Câu chuyện lạ lùng về tình bạn

Nguyễn Hữu Huân đỗ đầu thi hương năm Nhâm Tý nên được gọi là Thủ Khoa Huân. Ông vốn là bạn thân với Đỗ Hữu Phương từ nhỏ. Sau này lớn lên hai người hai ngả đường. Năm 1864, Nguyễn Hữu Huân bị bắt ở An Giang, Pháp xử án 10 năm tù, đày sang Guyan rồi Cayenne – là thuộc địa của Pháp ở Nam Mỹ.

Sau khi ông thọ án năm năm, Đỗ Hữu Phương đứng ra bảo lãnh để xin chính phủ Pháp ân xá cho Thủ Khoa Huân. Ngoài ra ông Phương xin đưa Thủ Khoa Huân về an trí ngay ở nhà của mình và phục chức giáo thụ là chức cũ trước đây để dạy học cho sinh đồ ở vùng Chợ Lớn.

Lợi dụng việc cho dạy học, Thủ Khoa Huân bí mật liên lạc với nhiều sĩ phu yêu nước và hội kín của Hoa kiều để mua vũ khí chuẩn bị khởi nghĩa. Thủ Khoa Huân bỏ trốn khỏi nhà Đỗ Hữu Phương rút về Mỹ Tho cùng với Âu Dương Lân để hội quân khởi nghĩa. Cuộc khởi nghĩa lần thứ ba này được rất nhiều nông dân và địa chủ ủng hộ nên thanh thế rất mạnh.

Phải hai năm sau, Pháp đưa quân bất ngờ tấn công thẳng vào căn cứ Bình Cách mới đánh dẹp được. Thủ Khoa Huân chạy thoát nhưng sang năm khi đi huy động quân binh khởi nghĩa thì bị Pháp phục kích bắt. Sau khi bị giam ở Mỹ Tho và được Tỉnh trưởng Gailland chiêu dụ hàng nhưng Thủ Khoa Huân vẫn từ chối, Pháp quyết định xử tử ông.

Vươn lên ngôi thứ hai của tứ đại phú

Trong quá trình làm việc, Đỗ Hữu Phương được thăng làm đốc phủ sứ Vĩnh Long, tổng đốc danh dự, rồi làm phụ tá Xã Tây Chợ Lớn, dân gian quen gọi là Tổng đốc Phương. Đây là chức vụ không quá lớn nhưng thiên hạ đồn rằng chức vụ này giúp ông Phương trở thành trung gian cho các thương gia Hoa kiều hối lộ viên chức Pháp, nhờ vậy thu rất nhiều tiền của trong các phi vụ làm ăn này.

Tuy nhiên, nguồn tin khác cho rằng nhờ giao thiệp rộng, lại nhanh nhạy với việc làm ăn buôn bán nên ông Phương đã gầy dựng, mở mang các mối làm ăn thông qua các chuỗi cửa hiệu trong vùng Chợ Lớn.

Ông Phương có người vợ họ Trần (không rõ tên) là con của một viên tri phủ miền Trung. Bà là người rất giỏi giang trong việc quán xuyến nhà cửa và buôn bán. Nhà có hơn 2.000 mẫu ruộng do Toàn quyền Doumer cho khẩn trưng ruộng đất, bà vợ không chỉ lo việc cai quản, thu hoa lợi từ ruộng đất mà còn điều hành hệ thống buôn bán, phân phối hàng hóa cả ngàn cửa hiệu trong vùng. Hai vợ chồng “song kiếm hợp bích”, chồng ngoại giao mở mang, vợ tề gia, tiền đẻ ra tiền, đến mức thiên hạ đồn gia đình có gia nhân chuyên cho việc đếm tiền vì tiền thu vào nhiều quá, bà vợ không thể đếm xuể.

Nhớ đến nguồn gốc Minh Hương của mình, Đỗ Hữu Phương đã xây dựng nên Nghĩa Nhuận hội quán trên đường Gò Công. Ông Phương cũng đã bỏ tiền xây dựng Trường Collège de Jeunes Filles Indigènes tức Trường nữ Trung học Sài Gòn, sau này gọi là Trường Áo Tím, Gia Long, nay là Trường THPT Nguyễn Thị Minh Khai.

Ngoài ra ông ta cũng bỏ nhiều tiền tu bổ rất nhiều chùa chiền miếu mạo quanh vùng nên được dân chúng ghi công. Dọc theo kinh Chợ Lớn có một cây cầu gọi là cầu Ông Lớn. Ông Lớn đây chính là Đỗ Hữu Phương, theo lý giải của nhà nghiên cứu Vương Hồng Sển. Hồi đó người dân không gọi bằng tên thật. Cũng như sau này ngôi từ đường thờ người vợ rồi trở thành từ đường của dòng họ, được gọi là đền Bà Lớn.

Phong lưu cuối đời

Danh vọng và tiền bạc đều có đủ, Đỗ Hữu Phương sống phong lưu, thụ hưởng. Ông nhiều lần sang Pháp du ngoạn, đi thăm thú thủ đô nhiều nước châu Âu và đi vòng quanh thế giới. Trong danh sách các hành khách đi tàu Anadyr từ Sài Gòn đến Marseille ngày 29-4-1889 có tên ông cùng với hai người con. Điều này chứng tỏ ông tham dự Hội chợ kỷ niệm 100 năm cách mạng Pháp và sau này góp phần tổ chức khu triển lãm Đông Dương ở Hội chợ quốc tế Paris năm 1900.

Đỗ Hữu Phương sống trong một tòa nhà được xem là to nhất nhì Sài Gòn, nằm trên bờ kênh Xếp (sau này lấp thành đường gọi là đường Tổng đốc Phương, nay là Châu Văn Liêm). Bề ngoài nhà kiểu Tây nhưng bên trong nội thất theo kiểu Việt và Trung Hoa.

Bá tước Pierre Barthélemy kể lại khi được viếng thăm : “Nhà ông là một sự pha trộn lạ kỳ giữa Âu và Á. Sân trong thiết kế theo kiểu Trung Hoa, chung quanh sân là các phòng kiểu An Nam mà một phòng salon ở tận trong rất đáng chú ý. Đối diện với salon này là một biệt thự kiểu Âu. Bàn thờ trong phòng salon An Nam này là một công trình tuyệt diệu nổi tiếng, bàn thờ được cẩn xà cừ. Những cột nhà làm bằng gỗ teck rất quý, trụ mái nhà của phòng salon này trông rất thanh tao và trên một bàn làm bằng gỗ quý là những chai rượu absinthe, amer Picon và những sản phẩm của Pháp khác. Ông Phủ thích đãi khách các đồ ăn đặc biệt và ông ta cũng biết thưởng thức các loại rượu của chúng ta. Nếu phải diễn tả hết tất cả sự giàu sang của nội thất An Nam này thì phải viết rất nhiều trang giấy…”.

Bá tước Pierre Barthélemy cũng kể về bữa ăn đặc biệt với những món ăn Tây, Việt và Trung Hoa, trong đó ông được đãi món đuông dừa vô cùng ấn tượng.

Đỗ Hữu Phương còn được biết đến như một người giao thiệp rộng, hiếu khách, hào phóng và sành điệu mà chính Toàn quyền Paul Doumer cũng phải kể lại trong hồi ký về Đông Dương : “Ông Phủ ở Chợ Lớn tiếp khách người Âu trong nhà ông, mời uống rượu Champagne và bánh petits beurres de Nantes, cho khách xem một vài sản phẩm đặc thù lạ kỳ của người An Nam và tổ chức theo sự đòi hỏi, ước muốn của khách, xem một tuồng hát của người bản xứ (hát bội)…”.

Trong nhà mình, ông Phương có xây cả một rạp hát bội nhỏ để chiêu đãi khách khứa. Ông thường đến nhà hàng, khách sạn Continental ở Sài Gòn và Café de la Paix, nơi gặp gỡ của các bạn bè Pháp-Việt thượng lưu trí thức để giao lưu. (theo Dân Việt)

ĐỖ HỮU VỊ

NGƯỜI PHI CÔNG VIỆT NAM

ĐẦU TIỂN

“Ngay từ những thập niên đầu thế kỷ 20 Việt Nam đã có phi công được lịch sử hàng không ghi nhận, đó là Đỗ Hữu Vị” “Ông là một người Việt gốc Sài Gòn, đi lính ở nước Pháp và trở thành sĩ quan không quân trong Thế chiến thứ nhất” – nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu nói…

Người con trai đặc biệt của Tổng Đốc Phương

Điều thú vị là trong dịp kỷ niệm 100 năm Thế chiến thứ nhất, truyền hình Pháp đã công bố các hình ảnh, tư liệu quý hiếm về binh lính Việt tham gia chiến trường này. Hình ảnh Đỗ Hữu Vị với bộ ria mép đầy chất lính xuất hiện nhiều lần, từ các tấm ảnh ông chụp chung với các sĩ quan Pháp ở trường đào tạo không quân đến cảnh ông ngồi lái máy bay, cưỡi ngựa. Các bưu ảnh cũng in hình ảnh, tên tuổi ông trang trọng…

Đỗ Hữu Vị là con trai thứ năm trong 11 người con của ông Đỗ Hữu Phương, vị tổng đốc khét tiếng giàu có nhất nhì miền Nam hồi cuối thế kỷ thứ 19, đầu thế kỷ 20. Sinh năm 1883 theo giấy tờ khai tại Pháp (có tài liệu cho rằng năm sinh thật của ông là 1881), ông Vị cùng các anh em trai của mình được người cha chịu ảnh hưởng sâu nặng văn hóa Pháp cho theo học trường Tây tại Sài Gòn.

Sau đó, anh em ông tiếp tục sang Pháp học Trường Janson de Sailly, Paris. Giống cha mình, họ nhanh chóng trở thành “người Pháp” hơn cả dân Pháp.

Rời ngôi trường cổ kính này, ngày 1/10/1904, ông Vị đăng ký nhập học Trường võ bị Saint-Cyr. Đây là trường đào tạo sĩ quan cực kỳ danh giá của nước Pháp, lò tôi luyện của rất nhiều tướng lãnh Pháp, trong đó có đại tướng Leclerc, tổng tư lệnh quân đội viễn chinh Pháp quốc tại Đông Dương.

Trải qua hai năm ở Saint-Cyr, năm 1906 Đỗ Hữu Vị ra trường với quân hàm thiếu úy (sous – lieutenant) trong quân đoàn lê dương số 1, tham chiến tại các chiến địa Oujda Maroc, Casablanca, Algérie… Sau một thời gian dài chinh chiến, đến cuối năm 1910 ông Vị tiếp tục đăng ký vào Trường Quân sự lái máy bay (l’école militaire de pilotage).

Đây là thời điểm nền hàng không thế giới mới ở buổi bình minh phát triển, đặc biệt là không quân, nên sự chọn lựa của ông được rất nhiều người ngưỡng mộ.

Tháng 11/1911, ông tốt nghiệp khóa học được cấp bằng lái máy bay của Aéroclub de France và thăng một cấp lên trung úy. Nam Phong Tạp Chí số tháng 2-1920 đã có bài viết rằng Đỗ Hữu Vị là phi công Việt Nam đầu tiên bay vòng quanh nước Pháp.

Trong hồ sơ quản bạ quân đội, Đỗ Hữu Vị tham gia quân đội Pháp ở Maroc. Nhưng đến năm 1914 ông trở lại Việt Nam để trở thành một trong những người Việt đầu tiên học vận hành loại thuyền lướt trên sông chạy bằng động cơ cánh quạt máy bay do Charles de Lambert chế tạo.

Đây chính là khoảng thời gian nền khoa học hàng không thế giới mới xuất hiện ở nước Việt. Đỗ Hữu Vị trở thành phi công Việt Nam bay biểu diễn cùng các phi công nước ngoài ở Sài Gòn và Hà Nội. Ông cũng tham gia câu lạc bộ hàng không đầu tiên do người Pháp thành lập ở Đông Dương.

Tuy nhiên, Đỗ Hữu Vị không thể nán lại quê hương được lâu. Năm 1914, cuộc đại chiến thế giới bùng phát khốc liệt, ông lại cấp tốc sang Pháp cùng người anh Đỗ Hữu Chấn để tái nhập đơn vị không quân chiến đấu ngay tại chiến trường chính quốc này. Ông đã tình nguyện tham gia nhiều trận chiến nguy hiểm và được giao trách nhiệm phi đội phó một phi đội máy bay ném bom.

Tham chiến

Năm 1915, thời điểm Thế chiến thứ nhất diễn ra vô cùng ác liệt, quân Pháp chịu nhiều thiệt hại nặng trước đối thủ Đức. Cũng trong năm chiến sự nóng bỏng này, Đỗ Hữu Vị rơi máy bay sau một trận đánh vì trúng một trận bão lớn. Chiếc chiến đấu cơ hư hỏng hoàn toàn, ông bị thương nặng, bất tỉnh gần chục ngày với cánh tay gãy, vỡ xương hàm mặt nhưng một lần nữa lại thoát chết…

Sự can đảm của Đỗ Hữu Vị tiếp tục làm cho người Pháp kính nể khi ông không chịu giải ngũ theo tiêu chuẩn thương binh được hưởng, mà vẫn tình nguyện ở lại đơn vị dù không thể lái máy bay được nữa. Được thăng quân hàm đại úy, ông đảm nhiệm công việc mặt đất hỗ trợ không chiến. Sau đó ông gia nhập quân đoàn kỵ binh lê dương số 1 và được giao nhiệm vụ chỉ huy đại đội số 7 cùng khoảng 300 quân ở mặt trận Somme, miền Bắc nước Pháp.

Trong một đợt chỉ huy xung phong, ông bị trúng nhiều phát đạn súng trường của quân Đức và lần này thì ông tử thương ngay tại chiến địa. Các chiến hữu Pháp đã chôn cất người lính Việt dũng cảm Đỗ Hữu Vị ở cánh đồng làng Dompierre bên bờ sông Somme.

Bốn năm sau, người anh Đỗ Hữu Chấn cũng là một sĩ quan quân đội Pháp đã đưa hài cốt em mình về nước trên chuyến tàu vượt đại dương. Tổng đốc Phương lúc này đã mất nhưng anh em trong gia đình đã tổ chức lại cho Đỗ Hữu Vị một đám tang trang trọng nhất Sài Gòn vào thời điểm ấy.

Các quan chức phủ toàn quyền và quân đội Pháp đã thay nhau túc trực tang lễ, tri ân người sĩ quan không quân Việt đầu tiên đã dũng cảm chiến đấu và hi sinh cho nước Pháp. Thái độ trân trọng của chính quyền Pháp sau đó còn được thể hiện qua các bưu thiếp Đông Dương in ảnh ông.

Đặc biệt ở thành phố Casablanca, Maroc và làng Lafaux, Picardie, Pháp đều có đường mang tên Đỗ Hữu Vị. Tại Việt Nam thời Pháp thuộc, nhiều con đường, trường học tại các thành phố lớn như Sài Gòn, Hà Nội, Đà Nẵng cũng được đặt tên ông.

HOÀI NIỆM THẦY VĂN GIÃNG

AI VỀ SÔNG TƯƠNG

Thầy Ngô Văn Giảng qua đời ngày 9/5/2013 tại Melbourne – Úc, hưởng thọ 89 tuổi. Tin buồn loan ra, tôi bâng khuâng nhớ về 54 năm trước, năm 1959, thầy là giáo sư âm nhạc của chúng tôi tại trường Hàm Nghi, Huế. Thuở ấy, thầy mới ngoài 30, dáng điệu phương cường, đi chiếc xe gắn máy hiệu Zunndapp của Đức nổ bịch bịch nổi bật cả sân trường.

Tôi còn nhớ ngày đầu tiên khi Thầy bước vào lớp đệ Thất B1 của chúng tôi, trò Trương Phước Ni bắt tay làm loa đứng dậy chào thầy bằng câu : “Đường trường xa muôn vó câu bay dập dồn…” Thầy cười rất tươi cho cả lớp, nhưng cũng lập nghiêm nhìn chú học trò rắn mắt ở dãy bàn cuối lớp. Đây là câu mở đầu của hùng ca Lục Quân Việt Nam, một trong những bài ca mang tiết điệu hành khúc, hùng tráng nổi tiếng nhất của Thầy – nhạc sĩ Văn Giảng – như Thúc Quân, Đêm Mê Linh, Qua Đèo, Nhảy Lửa

Thầy đã là một nhạc sĩ thành danh, nổi tiếng trong cả nước, trước khi trở thành giáo sư âm nhạc của trường Hàm Nghi. Nhưng nhiều người chỉ biết Văn Giảng qua những bản hùng ca. Bởi thế, vào mấy năm đầu thập niên 1950, khi bản nhạc để đời của Thầy, Ai Về Sông Tương, trở thành một bản tình ca thời danh với tên tác giả là Thông Đạt có lẽ ít ai để ý rằng, trong góc khuất của những tâm hồn nghệ sĩ thì bên cạnh nhịp đời hào hùng vươn tới vẫn có tiếng thở dài chan chứa điệu buồn.

Hai niên khóa học với nhạc sĩ Văn Giảng, tôi thích học nhạc thì ít mà mê Thầy kể chuyện thì nhiều. Cứ mỗi cuối giờ, Thầy có một câu chuyện kể về các giai thoại âm nhạc. Thích nhất là những chuyện thâm cung bí sử của những nghệ sĩ âm nhạc tài hoa. Chẳng hạn như bản nhạc Ngày Về của Hoàng Giác, Thầy xướng âm lên và phân tích cho chúng tôi nghe rằng, tiết điệu của bài ca đó có những trường canh trãi dài xa vắng và âm hưởng thương nhớ quặn lòng “rất Tây Phương” vì đây là bản nhạc do một người lính Đức trong đội quân viễn chinh của Pháp viết lên giai điệu. Nhạc sĩ Hoàng Giác chỉ soạn ca từ…

Hoặc như bản nhạc Trầm Hương Đốt của Bửu Bác, xuất xứ là bài Hải Triều Âm. Đây là một trong những bản nhạc nghi lễ đầu tiên dùng trong sinh hoạt chùa viện đã bứt phá từ giai điệu ngũ âm “Đăng Đàn Cung” để tiến lên bát cung của phương Tây. Bởi vậy mà ảnh hưởng âm điệu “thánh ca nhà thờ” như âm vang trầm trầm không cao không thấp quá tầm uyển thanh của organ thể hiện rất rõ trong giai điệu của bản nhạc.

Nhưng thú vị hơn cả là lịch sử bản nhạc Ai Về Sông Tương. Thầy kể rằng, thời trai trẻ, Thầy ở Thành Nội và yêu một cô gái ở Kim Long – Kim Long có gái mỹ miều; trẫm thương, trẫm nhớ, trẫm liều trẫm đi… mà – nhưng duyên không thành vì gia đình nho phong của cô bé không có cái nhìn thiện cảm với đời nghệ sĩ, nhất là nghệ sĩ trong ngành âm nhạc, xướng ca… Thế là chia tay và cô bé đi lấy chồng !

Rồi một hôm, Thầy vào rạp Xi-nê Tân Tân, gần cầu Trường Tiền bên bờ Bắc sông Hương để coi phim “Bé Nhà Trời” (Les enfants du paradis). Ngay trước mắt Thầy, ở hàng ghế trước có một cô Bé tóc dài. Tuy nhìn không rõ mặt nhưng từ dáng dấp đến hương tóc thoang thoảng mùi hoa Ngâu của người thiếu nữ đã làm sống lại hình ảnh người tình Kim Long “ngày xưa Hoàng Thị” ấy.

Thầy bị xúc động đến nỗi không thể còn ngồi lại lâu hơn trong rạp chiếu bóng để xem phim, nên vội vàng ra khỏi rạp. Thầy cỡi chiếc xe đạp Dura Mercier của Thầy và đạp xe dọc theo bờ sông Hương để vô cửa Thượng Tứ vào nhà ở Thành Nội. Thoáng chốc dòng sông Hương hiện ra như là dòng sông Tương chia biệt trong truyện tình cổ thư Trung Quốc. Thầy vừa đến nhà là dựng ngay chiếc xe đạp ngoài hiên, đi nhanh vào nhà và vội vã sáng tác bản nhạc bằng tất cả sự hoài niệm và háo hức nghệ thuật với sự chấn động dị thường như phép lạ hóa thân. Bản nhạc Ai Về Sông Tương được viết ra trong vòng mười lăm phút !

Sau đó, Thầy bí mật ký tên là Thông Đạt và chép một bản gởi ra đài phát thanh toàn quốc là đài Pháp Á ở Hà Nội. Mấy hôm sau, Mạnh Phát vừa là nhạc sĩ vừa là ca sĩ đã hát bản Ai Về Sông Tương lần đầu trên đài Pháp Á Hà Nội. Bản nhạc sáng tác năm 1949 đã nhanh chóng nổi tiếng trong toàn cả nước.

Đã trải qua hơn 60 năm, những mối tình đã cũ, những hẹn hò thuở răng trắng tóc xanh đã thành “răng long đầu bạc”. Nhưng Ai Về Sông Tương vẫn mới như thời gian là nước chảy qua cầu, vẫn còn là tiếng lòng tình tự của những đôi tình nhân ước hẹn không thành. Bản nhạc với một giai điệu thướt tha lãng mạn, lời lẽ đậm nét hoài niệm trữ tình làm dậy lên nguồn tình cảm sướt mướt, mượt mà mà rất “sang” ấy như một dòng suối tươi tắn, mát dịu trong một hoàn cảnh tạm hồi sinh sau cuộc chiến:

Ai có về bên bến sông Tương

Nhắn người duyên dáng tôi thương

Bao ngày ôm mối tơ vương

Tháng với ngày mơ nhuốm đau thương

Tâm hồn mơ bóng em luôn

Mong vài lời em ngập hương…

Nghe ca khúc “Ai về sông Tương” do Tuấn Ngọc trình bày :

https://youtu.be/wQby8Mf5rcU

Cũng theo lời Thầy vui vui kể chuyện rằng, Mạnh Phát, là bạn thân của Văn Giảng, đã nhờ Văn Giảng đến nhà ấn hành tân nhạc gần như độc nhất thời bấy giờ là nhà xuất bản Tinh Hoa ở Huế do ông Tăng Duyệt làm giám Đốc để hỏi cho ra Thông Đạt là ai ngay sau khi bản nhạc phát trên đài Pháp Á. Thầy tảng lờ như không hay biết. Nhưng mãi đến ba tháng sau thì tông tích của Thông Đạt mới được tiết lộ. “Mạnh Phát vô Huế chơi khi biết tui là Thông Đạt, hắn đấm lưng tui thùi thụi như rứa thì thôi ! ”Thầy Văn Giảng cười vui kể lại.

Một lần trong giờ học nhạc, trò Nguyễn Xuân Huế là tay đọc tiểu thuyết đệ nhất trong lớp hỏi Thầy : “Thưa Thầy, tại sao mình có sông Hương, mình cũng có Hương giang đầu, Hương giang vỹ mà Thầy lại phải vay mượn sông Tương của Tàu như rứa ạ ?”. Thầy trả lời, đại khái là tại sông Hương chưa có chuyện tình nào nổi tiếng trong tình sử như sông Tương. Tương Giang là một con sông ở Trung Hoa, bắt nguồn từ núi Duyên Hải, chảy qua Hồ Nam dài hơn hai ngàn dặm. Còn ý “ai về sông Tương” của Thầy trong bản nhạc là bắt nguồn từ cảm hứng của bốn câu thơ tình sử trích từ khúc Trường Tương Tư của nàng Lương Ý, đời Hậu Chu. Nàng và Lý Sinh yêu nhau say đắm nhưng phải chia tay. Nàng làm thơ mong gửi gấm nguồn tâm sự đau khổ khi phải xa cách người yêu:

Quân tại Tương Giang đầu

Thiếp tại Tương Giang vĩ

Tương tư bất tương kiến

Đồng ẩm Tương Giang thủy

(Chàng ở đầu sông Tương / Thiếp ở cuối sông Tương / Nhớ nhau không thấy mặt / Cùng uống nước sông Tương)

Sau đó không lâu, tôi lại được “gặp” Thầy qua một tác phẩm mang tính chất đạo ca của khách hành hương mà tôi đã gặp trên chuyến đò Thừa Phủ : Nhạc phẩm Từ Đàm Quê Hương Tôi. Lần nầy Thầy để tên tác giả là Nguyên Thông. Bản nhạc tuy được liệt vào thể loại nhạc tôn giáo nhưng cả giai điệu lẫn ca từ đã vượt ra ngoài khuôn khổ giới hạn của văn hóa chùa viện.

Cảm quan nghệ thuật sáng tạo của người nhạc sĩ tài hoa đã dung hóa được tính chất tráng liệt của hùng ca như Thúc Quân, Lục Quân Việt Nam, làn điệu mượt mà lãng mạn của tình ca như Ai Về Sông Tương, Ai Đưa Con Sáo Sang Sông và biểu tượng thiêng liêng, siêu thoát của đạo ca như Mừng Đản Sanh, Ca Tỳ La Vệ, Từ Đàm Quê Hương Tôi.

Những nhạc sĩ tài hoa của nền tân cổ nhạc Việt Nam thuộc thế hệ Chiến Tranh Việt Nam lần lượt ra đi. Nghệ thuật và người nghệ sĩ đến với đời và ra đi không bằng tấm vé một chiều. Tác phẩm để lại cho thế hệ kế thừa sẽ làm cho con đường sáng tạo nghệ thuật rộn ràng và phong quang hơn. Với hơn 50 tác phẩm âm nhạc phong phú giá trị nghệ thuật để lại cho đời, nhạc sĩ Văn Giảng đã cống hiến phần tinh hoa lớn nhất của đời mình vì lợi lạc của tha nhân mà các nhà tu Phật giáo thường gọi là “công hạnh viên thành”. Thế hệ đàn em, học trò như chúng tôi có điểm tựa tinh thần đáng tự hào cùng tấm lòng trân trọng trong giờ phút tưởng niệm và bái biệt Thầy. (theo Trần Kiêm Đoàn)

Phan Tất Đại tổng hợp chuyển tiếp

CUỘC TÌNH CỦA NS HỌ TRỊNH

NÀNG BÍCH DIỄM

CỦA TRỊNH CÔNG SƠN

XUẤT HIỆN Ở HUẾ

(vào tháng 3 2017)

“..ta mang cho em một chút tình…”

“Diễm xưa” của Trịnh Công Sơn lần đầu tiên xuất hiện : Được cho là người tình đầu tiên của cố nhạc sĩ tài hoa Trịnh Công Sơn, nhân vật “bí ẩn” đã đi vào huyền thoại trong sáng tác “Diễm xưa” của chàng họ Trịnh, lần đầu tiên xuất hiện trước công chúng.

Xuất phát cho ý tưởng độc đáo này là giáo sư Thái Kim Lan, hiện đang công tác tại CHLB Đức. Qua lời mời của cô Lan, Ngô Thị Bích Diễm (Diễm) đã đồng ý về Huế gặp gỡ một buổi duy nhất với công chúng. Tuy nhiên khách được mời hạn chế qua điện thoại, chỉ những người thân quen, một thời gắn bó với Trịnh.

Cuộc gặp gỡ quá đặc biệt không được thông báo trước đã diễn ra tại trung tâm văn hóa Liễu Quán, TP Huế, tối 12/3/2017 vừa qua.

“Sau khi Trịnh Công Sơn mất, Diễm đã trở thành một huyền thoại. Từ đó đến giờ, rất ít ai biết hình bóng cô Diễm trong tuyệt phẩm Diễm xưa là ai. Hôm nay, sự im lặng đó được phá vỡ”, Thái Kim Lan tâm sự.

Bà Diễm tâm sự những điều chưa nói đã quá lâu. Kể từ khi Trịnh Công Sơn mất, bà hoàn toàn im lặng với quá khứ.

Nhà văn hóa Huế, giáo sư Bửu Ý, đã kể lại một câu chuyện tình về Sơn và Diễm. “Ngày xưa, cây cầu Phủ Cam tuy ngắn nhưng đầy duyên nợ. Trịnh Công Sơn ở căn gác tầng 2, số nhà 11/03 đường Nguyễn Trường Tộ. Hàng ngày, chàng cứ đứng lấp ló sau cây cột, lén nhìn một người đẹp. Nàng đi bộ từ bên kia sông, qua cầu Phủ Cam, dạo gót hồng dưới hàng long não, ngang qua chỗ Sơn ở là chàng cứ sướng ran cả người. Một tình yêu “hương hoa” kéo dài cho đến cuối đời chàng. Sau này, mỗi một mối tình tiếp theo của Sơn đều có hình ảnh cô gái đó. Tên cô là Diễm, người đã tạo cảm xúc cho Sơn sáng tác vô số bản tình ca bất hủ”, lời kể của giáo sư Bửu Ý.

Tao ngộ Huế sau bao nhiêu năm “ẩn giấu”, bà vẫn mặc một áo dài Huế xưa, chân đi hài. Nét mặt hiền, nhân ái và hay cười nhẹ. Độ tuổi 60 vẫn không làm mất đi nhan sắc thuở nào của “Diễm”. Sự có mặt của Diễm đã làm thỏa lòng toàn bộ mọi người có mặt trong khán phòng.

Một chất giọng Bắc xưa nhè nhẹ cất lên, Bích Diễm đã thổ lộ cùng khán giả “Huế đối với tôi thật bình yên. Trong Huế có một tình yêu. Từ lâu tôi đã giữ im lặng. Quá nhiều kỷ niệm từ thời thơ ấu tại Huế. Dù đi xa đã lâu nhưng tôi vẫn yêu nơi đây như ngày ban đầu. Trong con người quý nhất là tình cảm. Anh Sơn đã lồng hết những cung bậc đó vào nhạc. Xin cảm ơn anh Sơn, cảm ơn Huế vì sự đón tiếp nồng hậu”.

Những câu nói bị ngắt ý giữa chừng vì xúc động của bà đã làm không ít người đồng điệu rơi nước mắt. Trên nền guitar và piano sâu lắng, nhiều người bạn đã hát tặng “Diễm xưa” những ca khúc tên tuổi của cố nhạc sĩ tài hoa Trịnh Công Sơn, mà trong đó không thể thiếu ca khúc Diễm xưa.

Gặp “Diễm xưa” của Trịnh Công Sơn : Lần đầu tiên sau hơn 50 năm, người yêu, đồng thời là nhân vật trong bài hát “Diễm xưa” nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã “lộ diện” và công khai chuyện tình cảm của mình với cố nhạc sĩ tài hoa. 

Tối 12-3, tại Trung tâm Văn hoá Liễu Quán, thành phố Huế, TS Triết học Thái Kim Lan, Việt kiều Đức cùng một nhóm bạn “Huế xưa” đã bất ngờ tổ chức một đêm nhạc Trịnh Công Sơn theo kiểu ngẫu hứng. Điều bất ngờ gây háo hức và tò mò nhất của đêm nhạc này là sự xuất hiện của nhân vật “Diễm”, người yêu, đồng thời là nhân vật trong bài hát “Diễm xưa” của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.

Không chỉ là những người trẻ yêu nhạc trịnh của thế hệ 7X, 8X, 9X…, mà ngay cả với rất nhiều người cùng thời, thậm chí là có quen biết, giao du qua lại với cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, người con gái trong “Diễm xưa” vẫn đã, đang là một huyền thoại sương khói.

Bởi vậy, sự xuất hiện và công khai chuyện tình cảm của mình với cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn lần đầu tiên sau hơn 50 năm im lặng của một “Diễm xưa” bằng xương bằng thịt, đã mang đến những cảm xúc rất đặc biệt đối với gần 100 người, phần lớn là trí thức Huế có mặt trong đêm nhạc.

Sinh thời, hơn một lần cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn tự bạch về “Diễm xưa” như thế này : “ Thuở ấy có một người con gái rất mong manh, đi qua những hàng cây long não lá li ti xanh mướt để đến Trường Đại học Văn khoa ở Huế…. Nhà cô ấy ở bên kia sông, mỗi ngày phải băng qua một cây cầu rồi mới gặp hàng long não để đến trường. Từ ban công nhà tôi nhìn xuống, cái bóng dáng ấy đi đi về về mỗi ngày bốn bận. … .

Người con gái đi qua những hàng cây long não bây giờ đã ở một nơi xa, đã có một đời sống khác. Tất cả chỉ còn là kỷ niệm. Kỷ niệm nào cũng đáng nhớ nhưng cứ phải quên. Người con gái ấy là ”Diễm của những ngày xưa”.

“Diễm xưa” tên thật là Ngô Thị Bích Diễm, con gái của ông Ngô Đốc Kh , người Hà Nội, dạy Pháp văn tại trường Đồng Khánh và trường Quốc Học Huế. “Tôi sinh ra ở Hà Nội, nhưng lớn lên ở Huế, trưởng thành ở Sài Gòn, sau đó đi du học nước ngoài và bây giờ cùng chồng và các con sống, định cư ở Mỹ”, bà Diễm cho biết.

Theo hồi ức của nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân và nhiều người cùng thời với bà có mặt tại đêm nhạc thì bà Bích Diễm, thời là người yêu của Trịnh Công Sơn rất giống bố, người gầy và dong dỏ ng cao, nét mặt thanh tú, bước đi thong thả nhẹ nhàng…. Qua thời gian, “Diễm xưa” bây giờ đã là một mệnh phụ, tuy nhiên khuôn mặt, dáng người, phong thái…vẫn còn lưu dấu những nét đẹp kiêu sa, đài các một thời.

Tại buổi nhạc, vì là lần đầu tiên xuất hiện trước công chúng, bà Diễm đã rất xúc động và lúng túng. Bà kể điều được điều mất đại ý: Bà quen biết nhạc sĩ Trịnh Công Sơn qua hoạ sĩ Đinh Cường, thời ấy (khoảng những năm 1960) là một học trò Pháp văn của cha bà. Nhà bà ở 46 đường Phan Chu Trinh, bên kia sông An Cựu, đối diện với nhà cũ của Trịnh Công Sơn ở đường Nguyễn Trường Tộ, thành phố Huế.

Trong thời gian hai người quen biết nhau, có lần bà tặng cho nhạc sĩ Trịnh Công Sơn một nhánh Hoàng lan đầy hoa rất lớn bẻ từ nhà bà, và điều này đã trở thành một “cú sốc” tình cảm lớn đối với nhạc sĩ, theo như lời kể lại của em gái nhạc sĩ với bà sau này….

Nhà văn, GS Bửu Ý, một người bạn thân của nhạc sĩ phát biểu tại đêm nhạc: “Sinh thời, Trịnh Công Sơn có đến hơn…23 người tình. Tuy nhiên, do mối tình đầu với bà Bích Diễm quá sâu nặng cho nên những mối tình sau này, thật ra Trịnh Công Sơn chỉ là đi tìm hình bóng của bà Diễm trước đó mà thôi”.

“Diễm xưa” hoài niệm : Trở về Huế để làm từ thiện, thăm lại bạn bè và được sống trong hoài niệm, cô nữ sinh Trường Đồng Khánh – người con gái tạo cảm hứng cho nhạc sĩ họ Trịnh sáng tác ca khúc Diễm xưa – Ngô Bích Diễm đã hồi tưởng về ngày xưa

Phóng viên : Chị và nhạc sĩ Trịnh Công Sơn quen nhau trong hoàn cảnh nào ?

Bà Bích Diễm : Sơn quen tôi qua hoạ sĩ Đinh Cường. Hai người là bạn thân của nhau. Ngày đó, anh Cường thuê nhà trọ ngay trong con hẻm nhà tôi. Có vài lần qua nhà tôi chơi, anh Sơn rủ Đinh Cường đi cùng. Nhà anh Sơn ở không xa nhà tôi. Anh Sơn ở số 11/3, đường Nguyễn Trường Tộ, tôi ở nhà 46 (cũ) đường Phan Chu Trinh. Từ nhà anh Sơn đi qua cầu Phủ Cam, rẽ tay phải đi bộ vài phút là đến nhà tôi. Sơn hay đến nhà tôi chơi. Lúc ấy, nhà tôi có cây dạ lan hương, hoa nở rất thơm.

Anh Sơn rất thích mùi hoa này. Lúc nào đến chơi cũng nhận xét về mùi thơm của hoa. Có lần tôi đã tặng anh một nhành hoa. Sau đó, tôi nghe các em gái của anh nói lại là cành hoa tôi tặng đã làm chấn động tình cảm của anh.

Phóng viên : Vậy có phải Diễm xưa là tình yêu say mê của Trịnh Công Sơn dành cho chị ?

Bà Bích Diễm : Tình cảm của Sơn dành cho tôi quá đẹp nên lúc nào tôi cũng trong trạng thái mơ hồ. Tôi không dám nhận mình là người con gái trong nhạc phẩm Diễm xưa. Nhưng đó là một mối tình rất đẹp của chúng tôi ngày ấy.

Phóng viên : Chị nghĩ về Trịnh Công Sơn thế nào ?

Bà Bích Diễm :  Anh Sơn như một dòng sông…

Phóng viên : Nghe nói do gia đình chị, cụ thể là ông cụ thân sinh đang là giáo viên Trường Quốc học Huế, không muốn chị thành thân với một nghệ sĩ ?

Bà Bích Diễm : Tôi sinh ra ở Hà Nội. Năm 1952, gia đình tôi vào Huế nên tôi lớn lên ở Huế trưởng thành ở Sài Gòn. Nhưng đi bất cứ đâu, thậm chí sau này khi tôi đã định cư ở Mỹ, vẫn có nhiều người gặp tôi lần đầu đều hỏi tôi có phải là người Huế không ? Vì phong cách, dáng dấp của tôi rất giống người Huế. Có lẽ đó là một trong những điều làm Sơn quý mến tôi. Với tôi, Huế luôn khép kín, bí ẩn, dù đi bất cứ đâu, suốt cả cuộc đời, Huế vẫn luôn ở trong tim tôi.

Phóng viên : Một mối tình thật đẹp, nhưng vì sao hai người không cùng nhau đi hết cuộc đời?

Bà Bích Diễm : Năm 1963, lúc 20 tuổi, tôi vào Sài Gòn học đại học, còn Sơn sau đó cũng vào học Trường Sư phạm Quy Nhơn. Sau đó tôi du học ở Mỹ nên không có điều kiện gặp lại anh.

Phóng viên : Dịch giả Bửu Ý, bạn thân của Trịnh Công Sơn nói rằng ông mới đếm sơ sơ thì Sơn đã có 23 người đẹp đi qua đời ông. Tất cả đều nói giọng Bắc như chị. Người nào Sơn cũng yêu say mê nhưng vẫn tìm hình bóng của Diễm qua từng người một, Diễm vẫn là niềm cảm hứng để Sơn dâng tặng cho đời những tình ca bất hủ. Chị nghĩ sao về điều này?

Bà Bích Diễm : (Nói trong cảm xúc dâng tràn, bà Diễm cười nhưng đôi hàng mi hoen ướt). Hình bóng anh Sơn đã bao trùm lên suốt cuộc đời tôi. Thế là quá đủ rồi !

Còn đó chất Huế : Đêm 12-3, trong khán phòng của Trung tâm Liễu quán, Huế, chật ních khán giả, những người bạn thân thiết của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đến để cùng hát nhạc Trịnh, nhớ về người nhạc sĩ tài hoa đã cống hiến hết mình cho âm nhạc Việt Nam.

Và có lẽ còn một nguyên nhân không kém phần quan trọng nữa là để gặp lại “Diễm xưa”, người phụ nữ đã tạo nên nguồn cảm hứng bất tận cho nhiều tình ca bất tử của Trịnh Công Sơn, trong đó có bài Diễm xưa. Bà Diễm từ Mỹ trở lại Huế để làm từ thiện, thăm lại bạn bè và được sống trong hoài niệm.

Bước sang tuổi 67, Diễm vẫn mang vẻ đẹp dịu dàng, đài các của cô gái Huế gần 50 năm về trước. Bà ngồi đó, bên cạnh những người bạn thân của Trịnh Công Sơn như dịch giả Bửu Ý, nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân… từng chứng kiến mối tình đẹp của chàng nghệ sĩ lãng tử họ Trịnh và người đẹp nữ sinh Đồng Khánh năm xưa. (theo Phan Nguyên Luân… thực hiện)

LỜI BÀN CỦA HIỆP SĨ MÙ : Nói về giai đoạn Trịnh Công Sơn gập được Bích Diễm. Thật ra TCS lúc này vẫn còn là con số không to tướng trong làng tân nhạc miền Nam bấy giờ. Mặc dù ca khúc “Diễm Xưa” được Trịnh Công Sơn sáng tác đã lâu từ Huế, nhưng đến năm 1960, người ta mới biết đến bài “Diễm Xưa” của nhạc sĩ họ Trịnh đang do Khánh Ly trình bày trên sân cỏ quán cà phê Văn, sau Đại học Văn Khoa Sài Gòn.

Nên bài viết trên chắc rằng cô Bích Diễm ngày xưa chỉ quen với Trịnh Công Sơn mà không có chút tơ tưởng chút tình nào (nếu có thì sau 1960, cô Diễm đã ra mắt mọi người). Chỉ sau khi cô Diễm đi du học, bấy giờ Trịnh Công Sơn mới bộc bạch trường hợp sang tác ca khúc “Diễm xưa” khi được báo chí phỏng vấn.

Nhưng không chỉ có Bích Diễm, còn Dao Ánh, Nga Mi – người đẹp trong gia đình bốn chị em tên Mi, Lưu Thị Kim Đính v.v… đều là “người tình trong mộng” của Trịnh Công Sơn. Nhưng Khánh Ly lại là người phụ nữ có một vị trí đặc biệt trong sự nghiệp âm nhạc của Trịnh Công Sơn. Tuy nhiên… tất cả vỡ mộng chỉ vì chàng nhậc sĩ “hào hoa” ấy không thể lấy ai.

AI LÊN XỨ HOA ĐÀO…

– Nguyễn Ngọc Chinh

Khoảng thập niên 60, không ít người miền Nam trong một phút ngẫu hứng nào đó đã thả hồn theo lời ca tiếng nhạc của một bài hát rất thịnh hành :

Ai lên xứ hoa đào dừng chân bên hồ nghe chiều rơi.

Nghe hơi giá len vào hồn người chiều xuân mây êm trôi

Ai lên xứ hoa đào đừng quên bước lần theo đường hoa

Hoa bay đến muôn người, ngại ngần rồi hoa theo chân ai…

Xứ hoa đào là một trong những tên gọi Đà Lạt mà nhạc sĩ Hoàng Nguyên đã thi vị hóa Paris Nhỏ hay Thành phố Hoa… Tuy nhiên, hoa đào trên Đà Lạt không phải là loại anh đào trắng (sakura) của Nhật, cũng không phải là cây đào có quả mà ta gọi là đào lông. Người Đà Lạt gọi đó là cây mai nhưng lại không phải là mai vàng thường thấy ở miền Nam.

Mai Đà Lạt nở rộ vào dịp Giáng sinh và Tết. Mai Đà Lạt không rực ánh vàng như những cây mai mừng xuân thường thấy được trang trí ở Sài Gòn. Mai Đà Lạt có nhụy phơn phớt hồng pha lẫn cánh hoa màu hồng phấn, cũng chẳng giống hoa đào Nhật Tân Hà Nội vốn thuộc loại đào lông.

Đà Lạt ngày xưa, suốt con dốc từ cầu Ông Đạo lên khu Hòa Bình, cứ vào cuối tháng 12 cây mai nở rộ hai bên đường để báo hiệu mùa xuân đã về. Quanh hồ Xuân Hương những gốc mai già trụi lá cũng bắt đầu trổ bông khiến Đà Lạt nhuộm một mầu hồng nhạt hơn màu xác pháo như nhắc mọi người ngày Tết sắp đến.

Sau thời gian hoa mai nở rộ, cây bắt đầu đâm chồi xanh và trên cành xuất hiện những chùm trái tím đỏ. Trái mai rụng đầy dưới gốc và nằm yên ở đó cho đến khi hòa vào lòng đất. Trái mai đắng ngắt nên cả đến bọn trẻ cũng chê vì ăn chẳng được và thế là mai trở nên ‘bất khả xâm phạm’ cho đến khi hóa thân, hòa quyện với đất.

Điều đáng buồn là những cội mai già theo thời gian đã từ từ biến mất khỏi Đà Lạt khiến những người ‘yêu’ Đà Lạt cảm thấy như mất đi cái gì đó mỗi khi trở lại chốn xưa. Đà Lạt cũng kém vui khi thiếu những cánh mai hồng của ngày nào. Biết vậy… nhưng chẳng biết làm sao.

Đà Lạt không hổ danh với tên gọi Thành phố Hoa. Thôi thì đủ loại hoa với đủ các giống, trăm hồng nghìn tía. Có một loài hoa dại mà có lẽ chỉ người gốc Đà Lạt mới để ý: hoa Cúc quỳ, còn gọi là hoa hướng dương dại hay nên thơ hơn là hoa Dã quỳ.

Dã quỳ thường nở vàng bờ dậu hoặc ven đường. Thật ra loài hoa này chẳng ai trồng chứ nói chi đến việc bỏ công chăm sóc. Vò lá Dã quỳ trong tay và đưa lên mũi ngửi ta thấy mùi hăng hắc, khó chịu… nhưng ngắm hoa dại nở rộ một màu vàng tươi lại khiến lòng vui một niềm khó tả.

Cũng có màu vàng như Dã quỳ nhưng nhạt hơn và nhỏ hơn là những cành Mimosa mà có người bảo đây là loài hoa tượng trưng cho những mối tình chớm nở. Lại có ý kiến cho rằng Mimosa nói lên một tình yêu thầm kín hay tượng trưng cho một vẻ đẹp khiêm tốn.

Có thể ai đó nghĩ rằng những nụ hoa Minosa có hình cầu giống hoa trinh nữ nên mới thi vị hóa Mimosa là Trinh nữ Hoa vàng. Các cô gái Đà Lạt đang yêu thường ép Minosa vào trang sách cũng tựa như ép lá thuộc bài để mong mọi chuyện sẽ thuận lợi cả trong tình yêu lẫn chuyện học hành (?). Hoa Mimosa rất thơm nhưng lại có rất nhiều phấn nên những ai bị dị ứng với phấn hoa chắc chắn sẽ tránh xa loài hoa này.

Đà Lạt còn rất nhiều loài hoa với những cái tên thật đặc biệt. Forget-me-not, thuộc họ myosotis, còn được gọi là hoa lưu ly, với thông điệp đừng quên tôi nhé. Hoa tigôn qua bài thơ nổi tiếng của TTKH được thi vị hóa qua hình ảnh… hoa dáng như tim vỡ. Cái tên hoa hồng Brigitte Bardot lấy hình tượng của cô đào BB với cặp môi lúc nào cũng như mời gọi nụ hôn…

Lại có những loài hoa mang những cái tên thật dân giã. Đà Lạt có một loại dây leo người ta thường gọi là bìm bịp, đây là loại cây mọc hoang nhưng lại có hoa rất đẹp, màu tím nhạt tựa như loa kèn. Tôi còn nhớ ngày còn nhỏ thường cắt dây leo bìm bịp thành những đoạn ngắn để làm ‘đạn’ bắn ná thung. Đạn bằng dây bìm bịp bẻ cong hình chữ U khi bắn trúng người cũng đau thấm thía…

Có một loại giây leo mang tên mát mát hay mác mác cho hoa màu tím nhạt và trái non màu xanh, khi chín biến sang màu tím than. Bên trong ruột của trái mát mát là những hột nhỏ màu cam có vị chua chua. Trái mát mát ở Đà Lạt ngày nay được còn được gọi là chanh dây (passion fruit) hoặc chanh leo rất phổ biến trong công nghiệp nước giải khát.

Sẽ là một thiếu sót lớn khi nói đến hoa Đà Lạt mà không đả động gì đến hoa lan. Từ xưa đến nay, lan vẫn được biết đến như một loài hoa quý phái, hoa của các bậc vua chúa vương giả. Bố tôi thưở còn sinh thời cũng là một người mê lan đến độ mẹ tôi nhiều lúc phải… bực mình vì thú vui tao nhã của ông.

Vào thập niên 60 nhà tôi có hẳn một vườn lan ở Đà Lạt. Bố tôi dành hết thì giờ cho lan, chỉ để chiêm ngưỡng chứ không hề bán. Ngược lại, ông mua rất nhiều lan của người Thượng để bộ sưu tập của mỗi ngày một phong phú. Ông còn tổ chức các buổi vào rừng để tự săn tìm lan cùng với người Thượng.

Dụng cụ đi rừng của ông chỉ có búa để đóng những cái đinh dài từ 15 đến 20 phân lên thân cây làm bực thang trèo lên lấy lan. Sau đó dùng dây thòng cây lan xuống chứ không ném vì sợ cây và hoa bị dập! Đi săn thú trong rừng là chạy theo một mục tiêu di động trong khi đi lùng phong lan lại phải quan sát một mục tiêu cố định mằn ở trên cao.

Bố tôi bảo tìm được lan trong rừng là cái duyên may của từng người, có người đứng ngay dưới cây lan mà vẫn không ‘thấy’! Hôm nào kém ‘duyên’ ông tìm những khúc cây mục đem về để trồng lan!

Nhìn ông trau chuốt, lau từng chiếc lá của cây lan bằng bông gòn tẩm nước mới thấy một niềm đam mê đặc biệt. Chính sự đam mê này đã khiến những người thích phong lan gần gũi với nhau hơn, bất kể ranh giới xã hội, bất phân giàu nghèo.

Tướng ‘Big’ Minh cũng là người mê chơi lan, dinh của ông ở Sài Gòn còn được gọi là Dinh Hoa Lan. Mỗi khi lên Đà Lạt ông thường ở tại nhà số 7 Lê Thái Tổ (Câu lạc bộ của Ngự Lâm Quân), số 9 ở ngay bên cạnh là Trung tâm Thực nghiệm Lâm sản có một vườn lan và xuôi dốc khoảng 50m là vườn lan của bố tôi ở số 9/1 Lê Thái Tổ.

Hễ có mặt ở Đà Lạt, Tướng Minh thế nào cũng ghé vườn lan 9/1, chỉ để ngắm hoa. Tôi biết mặt Đại úy Nhung, sĩ quan tùy viên của Tướng Minh mỗi khi ông ghé thăm vườn từ những năm 60s… Sau này, ông Nhung là người được coi như có liên quan đến việc ám sát Tổng thống Ngô Đình Diệm trong thiết vận xa M113 năm 1963.

Hoa lan ở Đà Lạt có trên 200 loài, trong đó có 5 loài được phát hiện lần đầu tiên trên thế giới được mang tên Đà Lạt hay Langbiang. Lan Đà Lạt được xếp thành 3 loại chính: thổ lan (lan mọc dưới đất), thạch lan (lan mọc trên đá) và phong lan (lan cộng sinh mọc trên thân của những cây khác).

Ở Việt Nam, theo các tài liệu lưu hành, hoa lan được biết đến và trồng dưới thời vua Trần Anh Tông (1258-1293). Hầu hết các đề tài nghiên cứu về hoa lan Việt Nam đều do các nhà khoa học người nước ngoài thực hiện. Mới đây, qua bộ sách Cây cỏ miền Nam Việt Nam của GS. Phạm Hoàng Hộ đã liệt kê và bổ sung thêm các loài phong lan nâng tổng số lan có ở Việt Nam lên 755 loài.

Lan được đặt tên theo hình dáng và màu sắc của hoa. Có những cái tên nghe rất văn vẻ như bạch hạc, nhất điểm hồng, thủy tiên, tiên hài, hàm lân, kim điệp, long tu, hoàng lan, hạc đính, giáng hương… cũng có những tên rất dân giã như bò cạp, gấm đất…

Có nhà nghiên cứu nào đó đã ghép tên 24 loại hoa lan thành một bài thơ mang âm hưởng thơ Đường luật, thất ngôn bát cú :

Ngọc điểm, Long tu, Nhất điểm hồng

Mặc lan, Ý thảo, Tục đoạn lông

Huyết nhung, Phượng vĩ, Hàm lân cứng

Hạc đính, Hoàng long, Thanh đạm trung

Trân châu, Gấm đất, Chu đinh tím

Bạch diệp, Luân trần, Mao Tuyết nhung

Dã hạc, Giáng hương, Hồng câu thảo

Thủy tiên, Hạc vĩ, Bạch huệ đồng”. (theo Nguyễn Ngọc Chính)

Yên Huỳnh tổng hợp chuyển tiếp

TRẦN VĂN TRẠCH & NGUYỄN NHƯỢC PHÁP

QUÁI KIỆT TRẦN VĂN TRẠCH

(1924-1994)

– MC Việt Thảo – Quái Kiệt Trần Văn Trạch- Vũ Trường Ritz- 1993

https://youtu.be/5uXar7gBJbQ

– Trần Văn Trạch & Việt Hùng : 

https://youtu.be/_ItPZdtsNbU

Trần Văn Trạch & những ca khúc trình bày :

– Tê Lê Phôn – Thu Âm Trước 1975 : https://youtu.be/kt-raWHjMU8

– Xe Lửa Mùng 5 – Trần Văn Trạch https://youtu.be/V4X6TH7Etr0

– Ba Giờ Khuya – Thu Âm Trước 1975 https://youtu.be/iR157-oVKmY

– Đồng Hồ Đeo Tay (Trần Văn Trạch) / (Dĩa hát Tân Thanh TT-67 Pre 1975) :

https://youtu.be/SsaR0YaNGIg

– Chiều Mưa Biên Giới – Nguyễn Văn Đông – Thu Âm Trước 1975 : https://youtu.be/WQGGGMEOcu8

–  Mùa Thu Chết (pre 75) https://youtu.be/iAop3usHNAk

– Không (Nguyễn Anh 9) https://youtu.be/QuoCSHFUr6w

– Con Thuyền không Bên (Đặng Thế Phong)

https://youtu.be/-oqlEXaD1h4

– Tà Áo Tím (Hoàng Nguyên)

https://youtu.be/CYZqRCSfsNY

– Sầm Giang Tái Ngộ 03 – Hài hước

https://youtu.be/HD5zURWzb8s

Tân nhạc Việt Nam có nhiều những tình ca buồn, số lượng đến hàng ngàn bản nhạc. Khi nghe những bản nhạc buồn, con người cũng lắng hồn vào tiếng nhạc và có cảm giác buồn. Ngược lại khi nghe nhạc vui, tâm hồn người cũng mở rộng chào đón hân hoan. Những bản hùng ca lại làm khơi động những ý chí hào hùng, yêu nuớc. Nghe những bản du ca thấy muốn dấn thân làm việc xã hội. Những bản nhạc nhi đồng làm người nghe thấy tâm hồn trẻ lại.

Một loại nhạc có thể nói khó sáng tác nhất là nhạc hài hước, loại nhạc nghe có thể vui đến bật tiếng cười. Nhạc hài hước Việt Nam có lẽ chỉ có độ chừng vài chục bản, do những nhạc sĩ thật đặc biệt sáng tác. Một trong những người đó, một ngạc nhiên cho hầu như tất cả mọi người, là tác giả Trường Ca Hòn Vọng Phu. Chính Lê Thương là người đầu tiên viết nhạc hài hước Việt Nam với những bản nhạc Hòa Bình 48, Liên Hiệp Quốc, Làng Báo Sài Gòn…

Nhưng nói đến chuyện viết nhạc hài hước và rồi tự đơn ca trình diễn lấy, nổi tiếng cả nước, trong lịch sử âm nhạc Việt Nam chỉ có một người: Trần Văn Trạch.

Ca nhạc sĩ Trần Văn Trạch, tên thật là Trần Quang Trạch, sinh năm 1924 ở Mỹ Tho, sinh trưởng trong một gia đình toàn là những nhân vật có tiếng về Cổ Nhạc Việt Nam. Tuy trong gia đình có những nhân vật khoa bảng lỗi lạc về âm nhạc như anh ruột giáo sư tiến sĩ âm nhạc Trần Văn Khê, cháu ruột tiến sĩ âm nhạc Trần Quang Hải… Trần Văn Trạch phải nói được nhiều người Việt Nam biết đến hơn cả.

Ông Trần Văn Trạch có khiếu âm nhạc từ nhỏ, biết nhiều về Cổ Nhạc, thông thạo đàn kìm và tỳ bà, hát Vọng Cổ rất “mùi”, nhưng lại thích Tân Nhạc hơn. Sau khi học xong trường Trung Học Mỹ Tho, Trần Văn Trạch bắt đầu với nghề thương mại, lập lò làm chén bán ở Vĩnh Kim nhưng không đuợc khá lắm.

Năm 1945, ông Trần Văn Trạch bỏ nghề buôn bán, lên Sài Gòn “giang hồ” và tìm cách đi hát cho những phòng trà, vũ trường nhỏ. Đến khoảng năm 1947, nghệ sĩ Trần Văn Trạch bắt đầu trình diễn những bài hát hài hước. Những bản nhạc hài hước đầu tiên ông trình bầy là những bản sáng tác bởi nhạc sĩ Lê Thương đã kể ở trên.

Nhưng về sau, vì nhu cầu trình diễn, ông Trần Văn Trạch đã tự sáng tác ra những bản nhạc hài hước để tự mình trình diễn lấy. Bản nhạc Anh Phu Xích Lô là sáng tác đầu tiên của ca nhạc sĩ Trần Văn Trạch :

Có ai mà muốn đi tới Chợ Lớn

Có ai mà muốn đi tới Chợ Mới

Có ai mà muốn đi chóng cho mau tới

Ê ! Tôi xin mời lại đây…

Những bài hát nổi tiếng ngày đó là Cái Đồng Hồ Tay, Cây Bút Máy, Anh Chàng Thất Nghiệp, Sở Vòi Rồng, Đừng Có Lo, Tôi Đóng Xi-Nê, Ba Chàng Đi Hỏi Vợ, Chiếc Ô-Tô Cũ… Bài nhạc nào của nhạc sĩ Trần Văn Trạch cũng làm người nghe cười… bể bụng. Thí dụ bài Tai Nạn Tê-lê-phôn :

Từ đâu nạn đưa tới

Gắn chi cái tê-lê-phôn

Bởi tôi muốn làm tài khôn

Khiến tôi muốn thành ra ma

Không vào Chợ Quán, cũng ra Biên Hòa…

Tuy vậy, không phải ông Trần Văn Trạch chỉ sáng tác nhạc hài hước. Chuyến Xe Lửa Mùng 5, kể chuyện đi thăm mẹ của một anh chàng. Đây là một bản nhạc lúc đầu nghe thấy có vẻ là nhạc hài hước, với những tiếng động của nhà ga, xe lửa… Nhưng đoạn cuối là một khúc thương ca, khi người về đến nhà mới biết mẹ đã qua đời.

Một bản nhạc có cả hài hước pha lẫn chút triết lý là Khi Người Ta Yêu Nhau:

Khi người ta yêu nhau

Yêu trong lúc hai mươi tuổi đầu

Thì không phải vì tiền đâu

Nhưng mà chẳng được bao lâu…

Những đoạn giữa nói về các tuổi ba mươi, bốn mươi, năm mươi, sáu mươi và:

Khi người ta yêu nhau

Yêu trong lúc bẩy mươi tuổi đầu

Thì không phải vì tiền đâu

Nhưng mà chẳng còn bao lâu.

Hai câu Nhưng mà chẳng được bao lâu và Nhưng mà chẳng còn bao lâu nghe có vẻ giống nhau. Nhưng suy nghĩ cho kỹ thấy hai ý nghĩa khác hẳn nhau và cho thấy Trần Văn Trạch là người có đầu óc, biết dùng chữ khá thâm thúy. Cái triết lý giản dị, có thể học được từ bài hát là nếu vì vấn đề tiền mà yêu nhau, thì đó không phải là tình yêu chân thật.

Một bản nhạc phải nói hầu như ngày xưa người Việt Nam nào cũng phải biết đến, vì được ông hát đi hát lại mỗi tuần khi có xổ số tại rạp Thống Nhất, Sài Gòn và sau này trực tiếp truyền thanh qua đài phát thanh Sài Gòn. Tuần lễ nào người dân nước Việt ở khắp nơi đều nghe thấy tiếng người nghệ sĩ trình bầy bài này qua làn sóng điện. Đó là bài hát Xổ Số Kiến Thiết Quốc Gia, do Trần Văn Trạch viết và hát :

Kiến thiết quốc gia

Giúp đồng bào ta

Xây đắp muôn người

Được nên cửa nhà

Tô điểm giang san

Qua bao lầm than

Ta thề kiến thiết

Trong giấc mộng vàng

Triệu phú đến nơi

Năm muời đồng thôi

Mua lấy xe nhà

Giàu sang mấy hồi

Kiến thiết quốc gia

Giúp đồng bào ta

Ấy là thiên chức

Của người Việt Nam

Mua số mau lên

Xổ số gần đến

Mua số mau lên

Xổ số… gần… đến…

Một bản nhạc khác Trần Văn Trạch sáng tác không hài hước một chút nào cả là bản nhạc hùng mạnh Chiến Xa Việt Nam, bài được hát đi hát lại trong những dịp đài phát thanh cần chạy nhạc hùng như Ngày Quân Lực, Ngày Quốc Khánh… hay khi có… đảo chánh.

Ca sĩ Trần Văn Trạch cũng có hát những nhạc không hài hước và hát thật hay. Một thí dụ điển hình là bản Chiều Mưa Biên Giới của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông đã nổi tiếng sau khi chính do Trần Văn Trạch hát rất điêu luyện, với phần nhạc đệm từ một băng nhạc thu sẵn, của một ban nhạc bên Pháp. Lúc đó vào khoảng thập niên 1960, phương pháp trình diễn này coi như rất mới. Từ đây, đã phát sinh ra những loại hát có nhạc đệm sẵn (karaoké).

Ngoài sáng tác nhạc, hát ông còn là trưởng ban nhạc Sầm Giang của đài phát thanh Pháp Á, vào khoảng thập niên 1950. Ban này gồm những ca sĩ nổi tiếng đương thời như Linh Sơn, Tâm Vấn, Minh Diệu, Mạnh Phát, Tôn Thất Niệm…

Trần Văn Trạch không chỉ hoạt động trong lãnh vực âm nhạc. Cũng trong thập niên 1950, khi điện ảnh vẫn còn là một môn nghệ thuật phôi thai ở Việt Nam, Trần Văn Trạch đã đóng cùng với nữ nghệ sĩ Kim Cương trong những phim như Lòng Nhân Đạo, Giọt Máu Rơi… và về sau còn làm đạo diễn điện ảnh cho những phim như Thoại Khanh Châu Tuấn (do Kim Cương và Vân Hùng đóng), Trương Chi Mỵ Nương (do Trang Thiên Kim và La Thoại Tân đóng)…

Nhưng có lẽ công trình ông đóng góp nhiều nhất cho nghệ thuật là những buổi Đại Nhạc Hội, với chuyện sáng tác và sự trình diễn những bản nhạc hài hước đã kể trên của ông.

Danh từ Đại Nhạc Hội chỉ những buổi trình diễn ca nhạc xen kẽ với kịch, ảo thuật… tại các rạp hát do chính ông Trần Văn Trạch đặt ra và từ đó cũng do chính ông đã phát huy chủ trương, bắt đầu từ khoảng năm 1949. Dĩ nhiên một trong những tiết mục quan trọng nhất của những buổi Đại Nhạc Hội này là màn hát nhạc hài hước của chính Trần Văn Trạch.

Nghe Trần Văn Trạch hát thấy vui và lạ. Ông có biệt tài bắt chước được những âm thanh như tiếng còi tầu xe lửa, tiếng xe hơi chạy, tiếng những cầm thú… Nhưng nếu chỉ nghe không cũng chưa thấy hết cái hay của ông, mà phải nhìn ông trình diễn mới thấy hết được cái linh hoạt của bài hát do ông sáng tác. Giọng hát mộc mạc, đơn giản của người Nam và cách trình diễn hoạt náo những bản nhạc hài hước của chính mình, đã làm nên tên tuổi Trần Văn Trạch, người được dân chúng Việt Nam gọi là Quái Kiệt.

Với những chương trình Đại Nhạc Hội, Trần Văn Trạch đã trình diễn rất nhiều tại Sài Gòn. Danh tiếng của ông nổi như cồn. Ông đã đi khắp các tỉnh ở miền Nam và trước khi xẩy ra Hiệp Định Genève 1954 chia cắt đất nước, có lần ông ra cả miền Bắc trình diễn.

Về sau có những người khác theo quan niệm như vậy của ông tổ chức Đại Nhạc Hội cũng rất thành công như nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ, nữ nghệ sĩ Kim Cương…

Sau “Giải Phóng 1975”, Trần Văn Trạch bị kẹt lại Việt Nam và ông cũng vẫn đi lưu diễn thường xuyên cho đến khi qua Pháp năm 1977. Từ đó, ở Paris, ngoài việc mưu sinh hàng ngày, ông cũng vẫn có những hoạt động âm nhạc như băng nhạc và video Hài Hước Trần Văn Trạch, trình diễn nhạc ở Pháp hay ở Úc, Hoa Kỳ… và hoạt động xã hội nhất là trong những buổi hát giúp quyên tiền cho những con tầu về lại biển Đông vớt người Việt tỵ nạn vượt biển.

Năm 1994, nghệ sĩ Trần Văn Trạch qua đời tại Paris, vì bệnh ung thư gan.

Nhớ lại hình ảnh ngày xưa của người nghệ sĩ quá cố, có dáng dấp giang hồ với mái tóc dài và phong trần, lái chiếc xe mui trần cũ kỹ và bụi bậm, đang thân thiện hiền hòa vẫy chào mọi người ở đường phố Sài Gòn, phải công nhận một điều:

Ca nhạc sĩ Trần Văn Trạch, người có một không hai trong lịch sử âm nhạc Việt Nam, quả là một Quái Kiệt tài hoa trong tâm tưởng của mọi người dân Việt mãi mãi…

Xem thêm (bấm vào đường link) : Quái Kiệt Trần Văn Trạch trên “Một thời Sài Gòn” ngày 05/07/2010

MỐI TÌNH CỦA

TÁC GIẢ ‘CHÙA HƯƠNG’

Mối tình hoảng loạn với người ái nam ái nữ của tác giả ‘Chùa Hương”

– Ít ai biết nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp từng có mối tình với một người con gái bí ẩn. Câu chuyện tình này đã để lại cho chàng thi sĩ trẻ nỗi buồn sâu sắc và cả sự hoảng hốt…

Cuộc đời bi thương và 3 bức thư của nhà thơ

Ảnh hưởng từ cha, học giả Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyễn Nhược Pháp dù học hành giỏi giang, đỗ đạt cao, nhưng không quan tâm đến quan trường, mà chỉ mê đọc, nghiên cứu văn thơ, viết sách, làm báo. Ngoài thơ, Nguyễn Nhược Pháp còn viết không ít truyện ngắn và kịch…

Tuy nhiên, khác nhiều bạn cùng làng văn thuở đó, Nguyễn Nhược Pháp sống hồn nhiên và trong sáng, không ham mê ả đào, thuốc phiện, những thứ hay cám dỗ tuổi trẻ tò mò.

Ông Nguyễn Lân Bình (cháu gọi Nguyễn Nhược Pháp là bác), từng kể : “Theo các bác trong gia đình nói chuyện, bác Pháp không chỉ được thừa hưởng sự tài hoa và thông minh của học giả Nguyễn Văn Vĩnh, ông còn được thừa hưởng luôn cả sự đào hoa và tâm hồn lãng mạn của cha mình. Bởi vậy trong thơ, văn và kịch ông viết, luôn phảng phất những “bóng hồng” đầy mộng mị”.

Mối tình câm với người đẹp nức tiếng Hà thành

Thông qua những thế hệ cùng trang lứa với Nguyễn Nhược Pháp, đặc biệt là các gương mặt từng là đồng môn với nhà thơ, chúng ta được đọc nhiều lần, qua nhiều thời kỳ những ghi chép và lời kể của những bậc tiền nhân, trong đó có câu chuyện nói về

Giai nhân Hà thành – Đỗ Thị Bính (1915). Bà Bính là con của thương gia Đỗ Bá Lợi – nhà tư sản lớn vào loại có hạng ở Hà thành lúc đó. Bà Bính được miêu tả là người thiếu nữ với làn da nõn nà, vóc dáng thanh tú với đôi mắt phượng hồng. Bà đã làm cho bao kẻ mê mẩn, thầm yêu, trộm nhớ….

Vậy nhưng, dù là tiểu thư khuê các, con nhà giàu có, lại đẹp nức tiếng, nhưng bà Bính được nhiều người chung quanh quý mến vì lối sống rất giản dị, nhân hậu, chan hòa với mọi người.

Ngày ấy, trước hiên nhà cô Bính ở phố Nguyễn Thái Học có trồng nhiều loại hoa thơm. Thường cứ đến chiều, nàng vừa ra ngắm hoa, vừa ngồi trên ghế đá đọc sách.

Chàng thư sinh nhỏ nhắn Nguyễn Nhược Pháp, lúc nào cũng mang một hồn thơ lai láng, mộng mơ và đầy cảm xúc, đã đem lòng thương trộm cô tiểu thư Đỗ Thị Bính từ lúc nào không biết..

Bấy giờ Nguyễn Nhược Pháp đang làm việc tại tòa báo L’Annam Nouveau – Nước Nam Mới, chàng thường tìm đủ lý do để được đi qua nhà nàng, chỉ những mong được thấy nàng, ngắm nàng, người yêu trong mộng, từ đó thêm cảm xúc làm thơ ngợi ca.

Tất nhiên, giai nhân cũng biết chàng thư sinh ấy “cảm mến” mình. Đã có đôi lần, hai người đã trò chuyện với nhau qua rào cây tầm xuân hữu tình và thật lãng mạn. Cái sự “đầu mày cuối mắt” của chàng thi sĩ với giai nhân đã để cả hai bên gia đình đều biết.

Nhưng một biến cố khủng khiếp của gia đình chàng thi sỹ đã khiến cho mối tình ấy không thể đơm hoa, kết trái, đó là sự kiện học giả Nguyễn Văn Vĩnh – cha của nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp, gặp đại nạn, ông mất một cách cô độc bên miền Nam nước Lào heo hút.

So với gia cảnh người đẹp Đỗ Thị Bính, chàng thi sĩ lúc này chỉ là kẻ tay trắng. Nhất là trong bối cảnh gia đình đang bị chính quyền đương thời o ép, chàng đã đành phải đào sâu chôn chặt mối tình ngắn ngủi qua hàng rào ấy. Nhà thơ đã gửi gắm nỗi lòng vào tập thi phẩm mang tên “Ngày xưa” với 10 bài thơ đầy tâm sự. Thi phẩm này đã đưa tên tuổi ông tìm được chỗ đứng trong phong trào Thơ mới ở thế kỷ 20.

Mặt khác, lòng tự trọng của Nguyễn Nhược Pháp cũng không nhỏ khi tự đặt mình trong hoàn cảnh một cuộc sống đổ vỡ, nên hãy đừng mơ ước cao xa, nhất là với một tiểu thư khuê các, cành vàng lá ngọc… Hình như, thi sỹ đã “tự ti” về cái thân phận của một người vốn đã mất mẹ đẻ từ nhỏ, giờ lại mất cả người cha uy danh…

Mối tình hoảng loạn với người con gái bí ẩn

Người đời, cứ nghĩ đến chàng thi sỹ đa cảm đó, họ lại nhắc đến mối tình trong mộng của chàng với mỹ nhân đất Hà Thành – Đỗ Thị Bính. Nhưng mấy ai biết rằng, tác giả của bài thơ “Chùa Hương” đã từng có tình ý với một người con gái bí ẩn cho đến khi kết thúc bằng sự bi đát.

Vẫn Ông Nguyễn Lân Bình lại kể : “Trước đây, tôi đã có được nghe các bác các chú trong gia đình đôi lần kể về giai thoại này. Tôi nghĩ với sự hào hoa, đa tài của Nguyễn Nhược Pháp, việc ông khiến bao bóng hồng thổn thức là điều làm sao tránh”.

Trong một vài bài viết, nhà thơ Nguyễn Vỹ (1912-1971) – bạn rất thân của Nguyễn Nhược Pháp, từng thuật lại mối tình của bạn mình với một cô gái… bí ẩn.

Câu chuyện diễn ra nhân chuyến đi chơi xa cùng Nguyễn Vỹ với ba cô gái bằng tàu hỏa từ Hà Nội lên Yên Bái. Tất cả ngồi cùng toa. Tàu lướt qua bao nhiêu vùng đất lạ, nhưng hôm ấy, chẳng thấy chàng thi sĩ quan tâm đến. Ngược lại, mắt Nguyễn Nhược Pháp đã phải sững sờ, dán chặt vào một cô gái mặc bộ áo dài đen. Khuôn mặt nàng thanh tú, làn da như trứng gà bóc trên một thân hình cân đối được nhấn mạnh bằng đôi môi chúm chím, đỏ mọng.

Lập tức, vẻ đẹp của nàng đã khiến Nguyễn Nhược Pháp liêu xiêu. Với tính cách rụt rè, hình như chưa bao giờ thấy ai nói chàng là người mạnh dạn, cho nên, suốt cuộc hành trình, Nguyễn Nhược Pháp chỉ dám nhìn trộm, ngắm nàng từ xa bằng ánh mắt như nhìn vào cõi xa xăm, chứ không dám dấn bước làm quen.

Chiều tối, khi tàu đến Yên Bái, cô gái đã ngồi xe kéo chạy nhanh xa khỏi tầm mắt, Nguyễn Nhược Pháp vẫn mơ màng dõi theo, lòng dạ ngổn ngang, xao xuyến.

Cả đêm hôm đó, chàng thao thức chẳng ngủ được, rầm rì nhỏ to với nhà thơ Nguyễn Vỹ. Được biết, chuyến đi chơi đó, là do cô Thanh Tú – là người thầm yêu Nguyễn Nhược Pháp đứng ra chủ trò, tổ chức.

Nguyễn Vỹ viết: “Tôi biết từ lâu rồi, rằng Nguyễn Nhược Pháp không yêu cô Thanh Tú, nhưng Thanh Tú thì yêu Nguyễn Nhược Pháp gần như mê mẩn. Thanh Tú chủ động tổ chức cuộc du hành này, để có cớ mời Nhược Pháp lên nhà. Chết nỗi, ông cụ của cô lại là bạn thân với ông Nguyễn Văn Vĩnh, và nghe đâu, ông cụ cũng muốn gả Thanh Tú cho người con trai giỏi giang mà hiền lành của ông Vĩnh”.

Hôm từ Yên Bái trở về, làm sao, vô tình Nguyễn Nhược Pháp lại đi cùng tàu hỏa với cô gái đó. Tàu vừa dừng, là chàng thi sĩ trẻ mất hút… lướt theo gót giai nhân.

Nguyễn Nhược Pháp đã đeo đuổi cô gái đó có đến cả năm trời. Chàng đã kiên nhẫn tìm được địa chỉ nhà “cô tiên giáng trần”, và đánh tiếng làm quen.

Nhưng thật lạ lùng và buồn bã thay, người con gái đó tỏ ra rất lạnh lùng, thậm chí, nàng đã cương quyết từ chối dứt khoát tình cảm nồng nàn của chàng thi sĩ, cho dù hình như, trong lòng nàng đã có những rung động.

Thấy bảo, chàng thi sĩ, tuy là người duy nhất được làm quen với nàng, nhưng tình cảm của chàng luôn nằm trong thế tuyệt vọng, chẳng khác gì ném một quả bóng xịt vào tường.

Và cũng có được một ngày, Nguyễn Nhược Pháp liều lĩnh viết lá thư mời cô gái đến để trò chuyện tại nơi ở riêng của Nguyễn Vỹ. Chàng thi sĩ đau khổ, quyết định một lần nữa, dồn tất cả sự liều lĩnh, sẽ nói thẳng lời cầu hôn với nàng. Chàng bấm bụng, đây là lần cuối cùng mình bày tỏ.

Khi gặp nhau, cô gái lặng lẽ nhìn chàng, rồi gục đầu xuống vai, vừa thổn thức, vừa nức nở khóc, và xin chàng tha lỗi… vì em không thể yêu anh được, dù anh là người duy nhất em yêu ! Nói xong, cô vụt chạy khi nước mắt vẫn dàn dụa, mà vẫn không quên chào vĩnh biệt Nguyễn Nhược Pháp.

Ngay ngày hôm sau, có tin báo : Một thiếu nữ đã tự tử trên hồ Trúc Bạch, thi thể được vớt đã chở vào nhà thương Phủ Doãn (bệnh viện Việt Đức ngày nay). Như có linh cảm, Nguyễn Nhược Pháp rủ Nguyễn Vỹ cùng đến bệnh viện.

Nguyễn Nhược Pháp được phép vào nhận mặt nạn nhân, khi chàng quay ra, khuôn mặt chàng thất thần, với sự hoang mang đến tột độ, vì không hiểu tại sao giai nhân lại từ chối lời tỏ tình của mình, và bỏ chạy bằng việc nhảy xuống hồ quyên sinh ?!

Người y tá thấy Nguyễn Vỹ là bạn với chàng trai thất thần kia, bèn kéo ra một góc khuất nói nhỏ : “Chúng tôi đã khám nghiệm tử thi. Nhưng có điều khác thường, là cô ấy không phải hoàn toàn là phụ nữ. Những trường hợp người con gái như thế, thường người ta gọi là ái nam ái nữ!”.

Chẳng bao lâu, Nguyễn Nhược Pháp cũng từ biệt cuộc đời tài hoa của mình khi tuổi đời đang ở ngưỡng thanh xuân phơi phới, mang theo bao nỗi day dứt về trần thế, trong đó có cả mối tình với cô gái bí ẩn ngày nào.

Xem thêm (bấm vào đường link) : Câu Chuyện “Chùa Hương” trên “Một thời Sài Gòn” ngày 11/04/2017

Yên Huỳnh tổng hợp chuyển tiếp

HUYỀN THOẠI GIANG HỒ SÀI GÒN

HUYỀN THOẠI

GIANG HỒ SÀI GÒN

– Nguyễn Chính

Hai chữ “Giang Hồ” gần đây được nhắc tới trên cộng đồng mạng, đó là đề tài thời sự nóng hổi… Bài viết dưới đây chỉ nói về giới giang hồ của “Sài Gòn xưa”, trong một cuốn sách đã được xuất bản tại Hoa Kỳ : “Hồi ức Sài Gòn”. Qua bài viết này, người đọc có thể nhìn “giang hồ” qua hai lăng kính Xưa và Nay.

oOo

Giang hồ, theo một số học giả, có chiết tự từ tên con sông Tam Giang và hồ nước Ngũ Hồ bên Tàu. Đây là những địa danh có nhiều người đến ngao du, ngoạn cảnh. Thế nhưng, khi nói đến dân giang hồ người ta liên tưởng ngay đến những tay anh chị ‘lục lâm thảo khấu’, ‘đầu trộm đuôi cướp’, ‘đâm thuê chém mướn’ hay nói theo từ vựng của thời nay là ‘xã hội đen’.

Thế giới ngầm thường chứa đựng nhiều huyền thoại vì người ta thường thêm thắt những chi tiết không có thực để tô điểm về cuộc đời của các ‘anh hùng hảo hán’. Trong bài viết này, tác giả giới thiệu 3 loại giang hồ điển hình của Sài Gòn xưa : giang hồ trí thức, giang hồ lục lâm và giang hồ anh chị.

Giang hồ trí thức : Sơn Vương Trương Văn Thoại

Nhân vật ‘giang hồ – trí thức’ nổi tiếng ở miền Nam, thập niên 30, là Sơn Vương Trương Văn Thoại với thành tích 34 năm ngồi tù, trong đó có 32 năm khổ sai ở Côn Đảo. Ngoài việc nổi tiếng là một tên cướp ‘trọng nghĩa’ và ‘hào hoa’, Sơn Vương còn là một nhà văn được nhiều người đọc hâm mộ.

Ở vào tuổi thanh niên, Trương Văn Thoại vùi đầu vào sách, từ loại kiếm hiệp Tàu và tiểu thuyết Tây viết về những tên cướp nghĩa hiệp, từ Robin Hood của A. Dumas đến Carmen của Merimée. Đặc biệt, Trương Văn Thoại cực kỳ say mê nhân vật trong tiểu thuyết của nhà văn Phú Đức: Bách-xi-ma lái … ‘khúc dồi’ phóng như bay đuổi theo Hoàng Ngọc Ẩn đang cưỡi trên… Điếu Xì Gà.

Cuối năm 1925, mới hơn 16 tuổi, Trương Văn Thoại đã quyết chí bỏ làng theo tiếng gọi… giang hồ. Anh thanh niên giàu nghĩa khí đã bỏ ra hơn 6 năm trời lăn lộn khắp vùng núi Thị Vải, núi ông Trịnh, núi Mây Tào ở Long Hải, Bà Rịa, để theo một đại lão sư, mai danh ẩn tích nhằm học võ và học đạo.

Năm 1931, Thoại hạ sơn về Sài Gòn, sống lăn lóc cùng giới thợ thuyền. Những năm đầu thập kỷ 30, lề đường De la Some (Hàm Nghi) được coi là nơi tập trung của đủ hạng người. Từ các thầy bói, kính đen che mắt, đến các văn nhân, chủ báo cũng có mặt tại đây. Trong số những người làm báo, Trương Văn Thoại làm quen với Nguyễn An Ninh, chủ bút tờ La Cloche Fêlée (Tiếng Chuông Rè). Cảm phục ý chí và sự nghiệp của Nguyễn An Ninh, Trương Văn Thoại đã dần dần bước vào nghiệp cầm bút, trở thành một cộng sự đắc lực của tờ La Cloche Fêlée.

Theo Hán tự, chữ “Thoại” được ghép bởi 3 chữ Sơn, Vương và Nhi. Bút danh Sơn Vương được Thoại khai sinh từ đó. Chẳng bao lâu, tên tuổi Sơn Vương đã khá nổi danh trong nghề cầm bút. Những bài báo của ông thổi vào công luận một dư âm lạ, đầy màu sắc bình dân và nỗi cảm thông sâu sắc đối với tầng lớp bần cùng.

Có thể xem Sơn Vương như một người tiên phong có công trong việc cách tân nền tiểu thuyết Việt Nam thời đó. Ông chuyên viết ‘tiểu thuyết võ hiệp kỳ tình’ nhưng tác phẩm của Sơn Vương đã có sự thay đổi lớn lao về mặt hình thức. Nhân vật ‘tướng cướp nghĩa hiệp’ cướp của nhà giàu chia cho dân nghèo của Sơn Vương đã đoạn tuyệt hẳn với hình tượng ‘thanh gươm lưng ngựa’ thời trước. Thay vào đó là các trang công tử lái xe hơi như bay, bắn súng lục bằng cả hai tay và ném tạc đạn như đồ chơi. Đáng kể nhất là 3 tác phẩm của Sơn Vương : Luật rừng xanh, Chén cơm lạtTướng cướp hào hoa.

Trong hơn hai năm (1931-1933), Sơn Vương đã đơn thương độc mã, gây ra hàng chục vụ cướp kinh thiên động địa nhắm vào các phú hộ khắp các vùng từ Đồng Nai đến Sài Gòn, Long An nhưng tung tích vẫn không hề bị lộ. Người ta chỉ thầm ngưỡng mộ một Sơn Vương – nhà văn – cao gầy dong dỏng nói năng nhỏ nhẹ, thường ngồi trọn buổi sáng bên lề đường với một bộ xá xẩu bằng lụa Tân Châu để bán sách của chính mình.

Con mồi lớn nhất của Sơn Vương là René Gaillard, Giám đốc hãng cao su Mimot. Sau một thời gian theo dõi, Sơn Vương biết rõ hàng tháng Gaillard cùng một tài xế và một vệ sĩ trên chiếc Peugeot đến Ngân hàng Đông Dương để lĩnh tiền về phát lương cho công nhân. Số tiền mỗi kỳ lên đến 50.000 đồng. Sơn Vương quyết định sẽ chặn xe cướp vali tiền với một… khẩu súng giả !

Vụ cướp táo tợn được đồn khắp Sài Gòn chỉ một ngày sau. Dân nghèo được một phen hả dạ, bởi kẻ bị trừng trị là một ‘Tây thực dân’ khét tiếng tàn ác. Giới lục lâm Sài Gòn – Lục tỉnh cũng thầm khen tác giả của vụ cướp – dù chẳng biết là ai – bạo gan và chơi rất bảnh, khiến tên chủ Tây vừa mất tiền vừa mất mặt.

Giới giang hồ Nam kỳ nói chung có màu sắc nghĩa hiệp, là một đặc tính của người dân ‘đàng trong’, trọng danh dự và nhân nghĩa. Với Sơn Vương, chuyến ‘đi hát’ đó (một từ lóng chỉ chuyện cướp bóc của giới giang hồ) lại là tai hoạ và cũng là vụ cướp cuối cùng trong cuộc đời ngang dọc.

Kẻ bị cướp – René Gaillard – vốn cũng xuất thân từ một tên cướp khét tiếng của đảo Corse. Tuy đã giã từ nghề thảo khấu nhưng trong huyết quản Gaillard, dòng máu đảo Corse vẫn còn ngùn ngụt. Bị Sơn Vương cướp tiền, Gaillard tuyên bố: Thưởng 5.000 đồng bạc Đông Dương – một phần mười số tiền bị cướp – cho bất cứ ai tìm ra tung tích thủ phạm.

Bazin – tên mật thám khét tiếng tàn ác sau này – đang là một cò tập sự ở bót Catinat. Y xua hết mã tà, lính kín dưới quyền ra sức điều tra, lùng sục, quyết giật cho được món tiền 5.000 đồng mà Gaillard đã rêu rao. Vốn là cáo già, Bazin rất quan tâm đến những chi tiết vụ cướp. Y nhanh chóng nhận ra rằng, loại xe hơi Clément Bayard chặn đường cướp tiền của Gaillard cả Sài Gòn chỉ có không hơn 10 chiếc (xe hơi hiệu Clément Bayard được sản xuất từ Pháp từ năm 1903 đến 1922).

Bazin liên tục gọi tài xế và chủ nhân của những chiếc xe hơi loại này lên làm ‘ăng kết’. Bị tra hỏi quá nhiều lần, Năm Đường (chủ nhân chiếc xe đã cho Sơn Vương mượn để ‘đi hát’) biết chắc sẽ bị bại lộ nên vội ra đầu thú, nộp lại 10.000 đồng được chia sau vụ cướp đồng thời khai ra tên Sơn Vương. Một tháng sau, Sơn Vương bị toà tiểu hình kết án năm năm khổ sai và bị đày ra Côn Đảo.

Tháng 7/1936, một số tù nhân ở Côn Đảo được phóng thích. Sơn Vương cũng được xét trả về đất liền, tiếp tục thụ hình tại Hà Tiên. Trong tù, Sơn Vương đã hô hào tù nhân đập phá khám khiến chủ tỉnh Hà Tiên đã quyết định đày Sơn Vương ra đảo Phú Quốc.

Từ Phú Quốc trở về, chỉ một năm sau, Sơn Vương lại bị tống vào tù. Lần này ông bị bắt vì một lý do… lãng xẹc. Tại ghi-sê bán vé của một rạp chiếu bóng ở Chợ Lớn, Sơn Vương bị một gã hung hăng đạp giày đau điếng. Ông đẩy hắn ra, tên này lập tức nhảy vào đánh Sơn Vương. Cáu tiết, ông xô mạnh, tên gây sự bật ngửa ra sau, ngã chỏng gọng. Rất không may, kẻ gây sự lại là … sếp mật thám của bót Polo trong Chợ Lớn.

Ra toà, Sơn Vương bị kết tội du đãng, bị đưa đi giam giữ tại trại Pursat (Cao Miên). Sơn Vương trốn trại và tìm đường qua Thái Lan nhưng không lâu sau, ông lại bị bắt khi tìm cách về lại Sài Gòn. Lần này ông bị kết án 10 năm tù vì tội vượt ngục, bị tống vào phòng 17, bót Catinat. Đầu năm 1942, ông bị đày ra Côn Đảo lần thứ hai.

Trong thời gian ở Côn Đảo, Sơn Vương giết một ‘ăng ten’ trong số tù nhân. Với tội mới, Sơn Vương lại phải nhận thêm một án chung thân khổ sai nữa. Theo quy định, án chung thân hồi đó được tính là 32 năm. Tổng cộng, đời Sơn Vương đã 4 lần nhận án gồm 1 lần 5 năm, 1 lần 10 năm và 2 án chung thân khổ sai (32 năm). Tính ra ông phải nhận mức án những 79 năm tù …

Năm 1984, Sơn Vương trở lại quê nhà ở Gò Công và mất tại đó vào năm 1987, chấm dứt một cuộc đời ‘trí thức giang hồ’.

Giang hồ thảo khấu : Bình Xuyên

Đến thập niên 50, nổi bật trong giới giang hồ có lực lượng Bình Xuyên, nguyên thủy là tên của ấp Bình Xuyên thuộc làng Chánh Hưng, Nhà Bè. Sau năm 1945, danh xưng Bình Xuyên được dùng để chỉ Lực lượng Bình Xuyên với nòng cốt là dân giang hồ miền Nam, hoạt động ở vùng ven Sài Gòn trong suốt 10 năm, từ 1945 đến 1955.

Từ năm 1948, Bình Xuyên là một lực lượng quân sự bổ sung nằm trong khối Liên hiệp Pháp dưới danh xưng công an xung phong, địa bàn hoạt động ở xung quanh Sài Gòn. Với sự đồng thuận của Pháp, Bình Xuyên kiểm soát nhiều sòng bài, nhà thổ, cùng những thương cuộc lớn nhỏ khắp vùng Sài Gòn – Chợ Lớn trong đó phải kể đến Casino Grande Monde (Đại Thế Giới), Casino Cloche d’Or (Kim Chung), Bách hóa Noveautes Catinat.

Lê Văn Viễn (tức Bảy Viễn) là người chỉ huy Bình Xuyên, hợp tác với Bảo Đại để thành lập chính quyền Quốc gia Việt Nam. Thành phần này là lực lượng Bình Xuyên được biết đến nhiều nhất vào thập niên 1950. Sau Hiệp định Genève (1954), Bình Xuyên đúng ra phải nhập vào Quân đội Quốc gia Việt Nam nhưng lại không tòng phục.

Lê Văn Viễn sinh năm 1904 tại xã Phong Đước, quận Cần Giuộc, Chợ Lớn, thuộc gia đình điền chủ. Bảy Viễn học hết trường làng đến lớp ba thì bỏ nhà đi lưu lạc giang hồ. Trong thời gian khoảng 10 năm, Bảy Viễn học võ ở nhiều nơi. Sau đó Bảy Viễn xưng anh chị tại trường đua Phú Thọ, tập hợp được một số du đãng em út. Vùng hoạt động của nhóm Bảy Viễn bấy giờ là Chợ Thiếc, An Bình, Cù lao Chánh Hưng và xóm Phạm Thế Hiển từ cầu Hiệp Ân đổ xuống cầu Chữ Y.

Với tiền đánh cướp ở các chợ vùng ngoại ô như Cần Giuộc, Nhà Bè, Giồng Ông Tố, Bảy Viễn sắm xe lô-ca-xông cho thuê, đôi khi còn dùng các xe này để đi ăn cướp. Bảy Viễn cũng chịu ảnh hưởng nặng loại tiểu thuyết ‘ăn cướp, bắn súng, lái xe đua’ như Bách-si-ma, Hoàng Ngọc Ẩn của nhà văn Phú Đức nổi tiếng thời bấy giờ. Ăn mặc đúng thời trang, Bảy Viễn lái xe tới những tiệm vàng ở các chợ quận, mua cả bụm vàng rồi để lại một băng đạn trước khi lên xe vọt mất.

Tháng 7/1954 Thủ tướng Ngô Đình Diệm chấp chính, thành lập chính phủ trung ương và nộp danh sách nội các. Lê Văn Viễn đòi được tham chính và đưa ra yêu sách lập chính phủ mới. Lực lượng Bình Xuyên cùng với quân đội Cao Đài và Hòa Hảo còn lập Mặt trận Thống nhất Toàn lực Quốc gia và gửi tối hậu thư buộc chính phủ phải có danh sách mới trước ngày 26/3/1955.

Ngô Đình Diệm không chịu nhượng bộ nên Bình Xuyên mở cuộc tấn công Bộ tổng tham mưu rồi pháo kích vào Dinh Độc Lập. Sang tháng 4/1955, quân Bình Xuyên đánh thành Cộng Hòa. Quân đội Quốc gia phản công, phá được căn cứ chính của Bình Xuyên ở khu vực cầu Chữ Y, lực lượng Bình Xuyên phải triệt thoái khỏi Sài Gòn – Chợ Lớn và rút về Rừng Sát.

Bảy Viễn bị bắt với 17 tiền án ăn cướp có súng, bị kêu án 15 năm khổ sai, đày ra Côn Đảo. Mười lăm ngày sau, Bảy Viễn vượt ngục bằng bè và được thuyền đánh cá vớt. Một năm sau hắn lại bị bắt đưa ra Côn Đảo. Hai tháng sau hắn lại trốn về đất liền. Nhà tù Côn Đảo mở cuộc điều tra tìm hiểu vì sao Bảy Viễn trốn quá dễ dàng như vậy. Nguyên do là Bảy Viễn có tay em ngoài đảo sẵn sàng giúp ‘đại ca’ đóng bè làm buồm, tiếp tế cơm khô, nước ngọt. Một số thầy chú cũng ngán Bảy Viễn nên cố tình nhắm mắt làm ngơ.

Tháng 9/1955 Ngô Đình Diệm phái đại tá Dương Văn Minh (Big Minh) mở Chiến dịch Hoàng Diệu truy nã Bình Xuyên ở Rừng Sát. Quân Bình Xuyên bị hoàn toàn tiêu diệt. Lê Văn Viễn đào tẩu sang Campuchia rồi lưu vong sang Pháp, chấm dứt thực lực của Bình Xuyên.

Xem thêm trên “Một thời Sài Gòn” ngày 15/3/2012. Bấm vào đường dẫn sau :

Bảy Viễn : cuộc đời ngang dọc

Giang hồ anh chị : Đại Cathay

Đến thập niên 60, nổi bật nhất trong giới giang hồ có Đại Cathay. Người ta nói nhiều về một Đại Cathay, với mái tóc bồng bềnh, quần Jean, giày cao cổ ‘đờ-mi-bốt’, trên môi không rời điều thuốc và chiếc hộp quyẹt Zippo… Những gì mà Đại Cathay đã tạo dựng chỗ đứng của mình trong giới giang hồ thật khác biệt và đã trở thành… huyền thoại. Đối với Đại Cathay, sự liều lĩnh không được đánh giá cao bằng lối sống ‘giang hồ tình nghĩa’.

Đại sinh năm 1940, con của Lê Văn Cự, vốn cũng là một tay giang hồ hảo hớn ở khu vực chợ Cầu Muối. Khi còn nhỏ Đại sống với cha mẹ ở đường Đỗ Thành Nhân, Khánh Hội (nay là đường Đoàn Văn Bơ, Quận 4). Cả cha lẫn mẹ đều nghèo, làm nghể chẻ củi thuê cho một vựa củi nằm bên kia Cầu Mống, cạnh Chợ Cũ, Quận 1.

Đại thường xuyên trốn học và chơi với đám trẻ con bụi đời cạnh vựa củi. Hiền lành, ít nói, dù khuôn mặt rất ngầu, tính phóng khoáng, lại rất ‘lì đòn’. Những đức tính được ‘thừa kế’ từ cha đã giúp Đại nhanh chóng được đám trẻ đồng cảnh mến mộ. Mới 10 tuổi, ‘thủ lĩnh’ Đại đã thường xuyên luồn lách vào các chợ ăn trộm dưa, chuối về chia cho chúng bạn.

Đại bỏ học, sang vườn hoa Cầu Mống đánh giày, bán báo. Khu vực làm ăn của Đại là xung quanh ngã tư Công Lý (nay là Nam Kỳ Khởi Nghĩa) – Nguyễn Công Trứ gần rạp xi-nê Cathay. Không ngày nào trước cửa rạp hát không xảy ra những vụ đánh lộn giành khách giữa đám trẻ bụi đời. Lì lợm và liều lĩnh, Đại lăn xả vào đối thủ, liên tục tấn công, dù kẻ đó có cao hơn, to hơn.

Trăm lần như một, Đại luôn là kẻ chiến thắng, dù tay chân mặt mũi đầy thương tích. Nghiễm nhiên, hắn trở thành thủ lĩnh của đám nhóc tì du thủ du thực trong khu vực. Cũng vì thế, gã đã ráp thêm ‘tên địa bàn hoạt động’ vào sau tên cúng cơm để trở thành Đại Cathay, một đại ca hùng cứ trên đường Nguyễn Công Trứ. Đó là năm 1954, lúc Đại mới 14 tuổi.

Trở thành ‘anh chị’, Đại được quyền sống mà không mó tay vào bất cứ việc gì. Hắn vẫn đóng thùng đánh giày, nhưng là để giao cho đàn em ‘đi làm’ mang tiền về nộp. Được cái, hắn rất hào phóng. Đại Cathay chia hết tiền cho đàn em, chỉ giữ lại cho mình 1 khoản nhỏ, đủ cà phê, thuốc lá cho ngày kế tiếp. Vì vậy, đàn em rất khoái và chịu nghe lời “anh Đại”. Ở đây ta thấy giới giang hồ miền Nam rất trọng ‘đạo nghĩa’ và ‘công bằng’ dù trình độ văn hóa của họ rất thấp.

Nằm ngay cạnh khu vực của Đại Cathay là bót cảnh sát quận Nhì, thường được gọi là bót Dân Sinh, nổi tiếng dữ dằn. Rất nhiều lần, sau khi dẫn đàn em đi chinh phạt các khu vực khác hoặc đánh dằn mặt người của các băng nhóm đến giành lãnh địa, Đại Cathay đã bị xách tai lôi về bót. Cuối cùng, cảnh sát tống Đại Cathay vào trại tế bần ở Thủ Đức. Sau nhiều lần vào trại rồi trốn ra khỏi tế bần, Đại Cathay càng liều lĩnh hơn, kinh nghiệm hơn, và càng lao đầu vào những trận thư hùng.

Năm 1955, Đại Cathay chuyển sang sinh sống ở khu vực hãng phân Khánh Hội, cạnh Nhà máy thuốc lá Bastos. Đám giang hồ khu vực này ‘nghênh đón’ Đại Cathay khá nồng nhiệt bằng những trận hỗn chiến. Một lần nữa, sự lì đòn của Đại lại giành phần thắng. Toàn bộ khu vực Khánh Hội, quanh cầu Ông Lãnh, gồm toàn dân giang hồ ở bến tàu, vựa cá, vựa rau cải đều quy phục dưới trướng của Đại Cathay.

Đầu những năm 1960, thuyết hiện sinh và phong trào hippie bắt đầu thâm nhập Sài Gòn. Đại Cathay tuy ít học nhưng cũng không hề kém cạnh các bậc trí giả trong khoản ăn chơi. Đám nghệ sĩ, trí thức cũng nể Đại Cathay vì tính chịu chơi và khoái vẻ ngang tàng, bụi bặm của gã.

Nguồn lợi lớn hơn cả mà Đại Cathay thu được lại không phải từ tiền thuế ‘bảo kê’. Chính giới doanh nghiệp làm ăn lớn là kẻ tình nguyện đóng góp đều đặn để Đại nuôi quân, đồng thời để nhờ vả Đại làm hậu thuẫn khi cần gây sức ép hay giành giật trên thương trường với kẻ khác. Cả anh em tỉ phú Hoàng Kim Qui (vua kẽm gai), Xí Ngàn ‘mặt rỗ’ (vua thuốc Bắc), La Thành Nghệ (vua thuốc đỏ) và hơn chục ông vua các ngành nghề khác của người Hoa là những người đều đặn chu cấp cho Đại. Cũng nhờ uy thế của các ‘vua’, Đại Cathay cũng làm quen và “chơi chịu” với khá đông nhân vật quyền thế và tên tuổi khác.

Sài Gòn thập niên 60 nổi tiếng có ‘tứ đại giang hồ’ gồm Đại Cathay, Huỳnh Tỳ, Ngô Văn Cái và Nguyễn Kế Thế. Cả miền Nam đều biết tiếng ‘tứ nhân bang’, nhất là sau khi cuốn tiểu thuyết Điệu ru nước mắt của nhà văn Duyên Anh ra đời. Sau một trận hỗn chiến giữa ‘tứ đại giang hồ’, Đại Cathay lên đứng đầu nhóm và một trận chiến kinh hồn với băng đảng người Hoa của Tín Mã Nàm đã đưa Đại Cathay lên ngôi ‘bang chủ’ trong một đế chế mà khắp Sài Gòn – Chợ Lớn chẳng có một băng nhóm nào dám đối đầu.

Cả một bộ máy quân sự khổng lồ của miền Nam dưới thời Nguyễn Cao Kỳ hình như cũng phải ‘xuống nước’. Tướng ‘Sáu Lèo’ Nguyễn Ngọc Loan (khi đó nắm quyền chỉ huy lực lượng cảnh sát) ngỏ ý mời Đại Cathay về làm đại úy cảnh sát để ‘dĩ độc trị độc’. Đại Cathay thẳng thừng từ chối:

Tôi xuất thân du đãng, làm sao có thể quay lưng diệt du đãng được? Nếu tôi nhận lời, du đãng không chém, tôi cũng chết vì thân bại danh liệt”.

Đại và cả đám đàn em bị tống ra Trung tâm hướng nghiệp tại đảo Phú Quốc, hay còn gọi là ‘Trại Cửu Sừng’. Đây là nơi lưu đày những tên lưu manh ngoại hạng dày thành tích bất hảo nhưng không có chứng cớ để bắt quả tang, do chính Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Loan đề nghị thành lập nhằm “bài trừ du đãng, chấn hưng đạo đức, thượng tôn luật pháp”.

Người vợ cuối cùng, cũng là cuộc tình sâu nặng nhất của Đại Cathay, là cô Nhân, con gái chủ tiệm đồ gỗ Đồng Nhân nổi tiếng nằm trên đường Hồng Thập Tự (nay là Nguyễn Thị Minh Khai) đối diện với vũ trường Olympic. Nhân ở lại Sài Gòn, biết chắc rằng loại ‘tù không án’ như chồng mình e khó có ngày về. Cô cùng anh trai vung tiền ra tìm cách cứu Đại Cathay.

Khi biết cô Nhân đang tìm cách lo lót tổ chức cho Đại Cathay vượt ngục… Tướng Nguyễn Ngọc Loan đã chỉ đạo cứ để cho Đại Cathay thực hiện kế hoạch. Đến giờ chót, theo lệnh Loan, toàn bộ toán lính gác của trại hướng nghiệp bất ngờ bị đổi. Toán lính gác mới ráo riết truy kích đám tép riu, còn riêng Đại Cathay được cố tình cho đào thoát vào núi Tượng.

Sau đó, tướng Loan cho một tiểu đội biệt kích do thiếu úy Trần Tử Thanh chỉ huy, được trực thăng chở từ Sài Gòn ra truy kích Đại. Trần Tử Thanh sau này đã từng khoe với nhiều phóng viên của một số tờ báo ở Sài Gòn trước 1975 rằng chính tay mình đã nổ súng hạ gục Đại Cathay.

Trên đây chỉ là lời đồn đại, ‘đoán non đoán già’ về ngày tàn của Đại Cathay. Huyền thoại về cuộc đời và cái chết của Đại Cathay vẫn có nhiều chi tiết chưa được làm rõ về một tên ‘giang hồ ngoại hạng’.

Xem thêm trên “Một thời Sài Gòn” ngày 23/12/2011. Bấm vào đường dẫn sau :

Cuộc đời của Đại Cathay

oOo

Chuyện của giới giang hồ miền Nam là một kho tàng vô tận, chuyện thật cũng có, người đời thêu dệt thành huyền thoại cũng không ít. Chẳng hạn như cuộc đời các tướng cướp Bạch Hải Đường, Điền Khắc Kim, những tay anh chị như Tín Mã Nàm và gần đây nhất là ông trùm Năm Cam…

Yên Huỳnh chuyển tiếp