NGỌC CHÁNH NGƯỜI NS SÀI GÒN XƯA (1)

NHẠC SĨ NGỌC CHÁNH

NGƯỜI ĐÍNH LÊN BẦU TRỜI

ÂM NHẠC SÀIGÒN

NHỮNG VÌ SAO LUNG LINH BẤT TỬ

– Trần Quốc Bảo

Khi gọi điều gì đó bất tử, có nghĩa điều đó có sự sống đời đời hoặc rất dài lâu. Những vì sao được gọi bất tử, chắc chắn đó là những tinh tú mà hào quang lung linh chẳng bao giờ tắt cho dẫu hàng trăm năm trôi qua.

Trong số báo viết về Nhạc sĩ Ngọc Chánh và ban nhạc Shotguns kỳ này, số báo mừng Ông với sinh nhật thứ 80 (13/3/1937), người viết muốn cùng với người yêu nhạc nhìn lại một sự nghiệp âm nhạc đồ sộ mà người nhạc sĩ này đã có công xây dựng và phát triển từ hơn nửa thế kỷ trước, và hôm nay, sau gần 50 năm nhìn lại, tên gọi Shotguns của ban nhạc và những sản phẩm nghệ thuật, hầu như những người yêu nhạc năm xưa ở miền Nam, khó có ai mà quên được.

Khởi đi là ban nhạc Shotguns, được thành lập từ năm 1968, và chấm dứt ngừng hẳn vào cuối tháng 12 năm 1998, có nghĩa, ban nhạc Shotguns đã trị vì trong vương quốc âm nhạc Việt – từ trong nước ra hải ngoại – tròn suốt 30 năm dài.

Viết về nhạc sĩ Ngọc Chánh và ban nhạc Shotguns là phải nhớ đến phòng trà Queen Bee (từ tháng 3 năm 1971 đến tháng 3 năm 1974) và sau đó là phòng trà International – Quốc Tế (từ tháng 3 năm 1974 đến 30/4/1975). Cả hai phòng trà với lối kiến trúc đẹp mắt ấm cúng và hấp dẫn nằm ngay giữa trung tâm Hòn Ngọc Viễn Đông. Ở đó, hàng đêm đã thu hút số đông rất lớn những khách yêu thích ca nhạc.

Nhà báo Lưu Khâm từng ca ngợi : “Người ta đến với vũ trường của nhạc sĩ Ngọc Chánh như tìm về một tổ ấm thân thương dưới ánh đèn màu, tiếng nhạc lời ca của những ca sĩ ưu hạng đương thời và đệ nhất ban nhạc Shotguns. Lắm người ghiền Queen Bee, mê Quốc Tế và sau này ra hải ngoại với Maxim (San Jose), Ritz (Quận Cam) cùng ban nhạc Shotguns như mê một nhân tình tài sắc, tâm vẹn toàn.

Trong khung cảnh lãng mạn, thơ mộng hài hòa giữa nhạc và ca, thời gian như lắng đọng lại để người ta tạm quên những nỗi nhọc nhằn cơ cực của đời sống. Ở đây, tâm tình được dàn trải, thương yêu được gắn bó, ước mơ được nối liền, những trái tim cùng thưởng thức một nhịp đập trên cung điệu tài hoa của Shotguns, lắng nghe và ngắm nhìn những tiếng hát hàng đầu, bồng bềnh sương khói có khả năng dìu người ta về những bến đời hạnh phúc”.

Và qua những lời của nhà báo Lưu Khâm vừa viết, chúng ta thấy ngay những Queen Bee, Quốc Tế trước 75 và sau này ở hải ngoại, vũ trường Maxim (1980-1983), rồi Ritz (1984-1998), nói chung là những vũ trường có bàn tay chỉ huy của nhạc sĩ Ngọc Chánh được ví như một tổ ấm và ban nhạc Shotguns là những cọng rơm đan kết âm thanh dịu dàng và nồng nàn nhất.

Chưa hết, điều đáng nói là những sản phẩm băng nhạc nghệ thuật của Shotguns được bắt đầu tung ra tại miền Nam từ tháng 9 năm 1969. Khách yêu nhạc trên mọi miền đất nước, nếu không thể đến vũ trường, vẫn có thể nghe được những giọng hát, lời ca, những nhạc khúc quen thuộc được thu âm và phát ra từ băng nhạc (cassette) mang danh hiệu Shotguns.

Mỗi sản phẩm là một đúc kết vẹn toàn về nghệ thuật lẫn kỹ thuật. Hàng trăm sản phẩm giá trị như vậy đã khiến Shotguns trở thành một trung tâm băng nhạc được yêu thích nhất, được vồn vã đáp ứng nhất. Báo chí Saigon ngày đó gọi những băng nhạc do Shotguns thực hiện là món ăn tinh thần dự phần quan trọng trong đời sống con người chứa đầy buồn vui hờn giận. Đó là một cô đọng đầy chất nghệ thuật như một ánh lửa bập bùng, rồi âm ỉ của những tâm hồn mặn nồng yêu thương của nhiều thế hệ.

Nhạc sĩ Ngọc Chánh còn có công lao nhiều lắm, khi đã giới thiệu (trực tiếp hoặc gián tiếp) những giòng nhạc mới của Phượng Hoàng (Lê Hựu Hà – Nguyễn Trung Cang), Vĩnh Điện, Trần Quang Lộc, Đynh Trầm Ca, hoặc có công phổ biến những bài thơ của các thi sĩ Phạm Thiên Thư, Nguyễn Tất Nhiên, Vũ Hữu Định, Linh Phương, Phạm Văn Bình, Người Áo Tím… được nhạc sĩ Phạm Duy phổ thành ca khúc.

Và bây giờ xin mời bạn đọc bước vào câu chuyện về “Nhạc sĩ Ngọc Chánh và ban nhạc Shotguns – người đã vẽ lên bầu trời âm nhạc Sàigòn những vì sao lung linh bất tử” do Trần Quốc Bảo thực hiện.

Nhạc sĩ Ngọc Chánh, tên họ thật Nguyễn Ngọc Chánh, sanh ngày 13 tháng 3 năm 1937. Khi ông ra đời, gia đình đang sống tại khu vực Nhà thờ Chí Hòa (Ngã Ba Ông Tạ, quận Tân Bình). Gia đình Ông ở đây cho đến năm 1968 mới dời đi chỗ khác.

Ông có tất cả 10 anh chị em, nhưng tất cả đã mất từ khi còn nhỏ, chỉ còn lại nhạc sĩ Ngọc Chánh (thứ sáu) và cô em út (thứ mười một) tên Ngọc Lan (tên giấy tờ là Nguyễn Thị Trí). Người em gái này đã có giấy tờ đi Mỹ định cư vào giữa tháng 10 năm 1989 nhưng chẳng may lại đột ngột qua đời hai tuần trước. Cô mất vào ngày 25 tháng 9 năm 1989 để lại sự bàng hoàng hụt hẫng và đau đớn cho người con trai tên Long (cũng là tay trống của ban nhạc Shotguns lúc bấy giờ) và cho người anh ruột là Ngọc Chánh.

Nhạc sĩ Ngọc Chánh mê nhạc và có năng khiếu từ thuở bé. Lúc lên 6 tuổi, Ông đã học ghi ta với một anh bạn lớn tên là Cổ Tấn Tịnh Châu, anh này có ngón đàn Flamenco tài giỏi (về sau mất năm 1967). Người nhạc sĩ tài danh vắn số này là em ruột của đại tá TQLC Cổ Tấn Tinh Châu (Chỉ Huy Trưởng Đặc Khu Rừng Sát) phu quân của ca sĩ Dạ Lý hiện sống tại Quận Cam (Cali).

Sau đó Ông học thêm với một nhạc sĩ người Phi là Benito.. nhờ vậy mà ngay từ lúc nhỏ, Ông đã có một số kiến thức khá vững vàng về nhạc lý để từ đó soạn riêng cho mình 2 cuốn sách chỉ dẫn Tự Học Đàn Guitar từ lúc ông mới 13, 14 tuổi (sẽ nói rõ phần sau).

Năm 1945, khi Ông vừa 8 tuổi, gia đình xin cho Ông vào trường dòng Lasan Đức Minh (Tân Định), một nơi nổi tiếng về kỷ luật với các frères khá nghiêm khắc. Trong số các frères, Ông luôn nhớ hình bóng hiền từ nhân ái của Frère Aimé Nguyễn Văn Đức, người đã dậy cho Ông nhiều điều tốt đẹp thuở cắp sách đến trường.

Người viết cũng một thời khoác áo Lasan, đầu tiên là Lasan Mossard, sau về Saigon năm 1975, có một năm học tại Lasan Taberd, đến khi trường bị giải thể, sang học 2 năm cuối tại Lasan Đức Minh. Khi sang bên Mỹ gặp nhạc sĩ Ngọc Chánh, ngoài tình cảm nghệ sĩ, còn là tình huynh đệ cùng trường. Khi người viết đứng ra tổ chức 4 chương trình Lasan Hội Ngộ : Nhớ Ơn Thầy bắt đầu từ kỳ 1 (1986), kỳ 2 (1988), kỳ 3 (1990) và kỳ 4 (1992), những lần tổ chức này, nhạc sĩ Ngọc Chánh đều tạo điều kiện cho mượn vũ trường Ritz làm nơi gây quỹ.

Năm 1948, lúc 11 tuổi, Ông rời Lasan Đức Minh chuyển sang trường Lê Văn Hai học 2 năm. Ở đây, anh dành thì giờ học Pháp văn và học Việt văn với giáo sư Ngọc Thứ Lang (cũng là một tiểu thuyết gia và là người dịch truyện Bố Già). Hai năm sau (1950), Ông được vào học tại Trường Kỹ Thuật Cao Thắng.

Trong khoảng thời gian học tại đây, Ông viết 2 cuốn sách Tự Học về guitar và đến năm 1953 (khoảng 16 tuổi), Ngọc Chánh bán bản quyền 2 cuốn sách này cho nhà xuất bản Mỹ Tín, chủ nhân chuyên làm đàn violon (Tiệm đàn Mỹ Tín có tên trong tự điển Pháp về tài chế tạo đàn violon và ông này cũng là một kịch sĩ, giáo sư Kịch Nghệ của trường Quốc Gia Âm Nhạc trước 75).

Nhờ tiền bản quyền 2 cuốn sách, nhạc sĩ Ngọc Chánh lấy được 24 ngàn, mua đàn piano hết 22 ngàn, còn dư 2 ngàn, Ông dùng làm tiền học phí để học piano, hòa âm và sáng tác với Thầy Dung ở đường Hiền Vương.

Năm 1957, ở tuổi tròn 20, nhạc sĩ Ngọc Chánh đến tuổi động viên. Trước ngày phải đi Thủ Đức, anh được nhận vào làm trong ban Công Dân Vụ. Ở tại nơi đây, anh gặp các nghệ sĩ Thanh Hoài, Thanh Việt, tài tử Kim Vui, kịch sĩ Cảnh (còn được bạn bè gọi thân mật là Cảnh Vịt, chủ nhân Phở Nguyễn Huệ ở Bolsa), Hoàng Long, Huyền Anh.. Làm ở Công Dân Vụ được 3 tháng, anh rời nơi này và bắt đầu ra ngoài tự tìm nơi chơi đàn để mưu sinh.

Những ngày tìm việc thuở đầu đời đó, là những năm tháng khó quên của chàng trai tròn 21 tuổi. Năm 1958, chàng thanh niên rất vui khi có những công việc đầu tiên dù chỉ là chơi đàn trong những quán bé nhỏ, như nhà hàng An Lạc (ở Xa Cảng Miền Tây), sau đó vài tháng, Ông tìm thêm được những chỗ mới khá hơn, như nhà hàng Melody, nhà hàng Tàu Lai Yun..

Ròng rã gần hai năm, năm 1960 – nhạc sĩ Ngọc Chánh được ông Hoành, một người gốc Hoa, chủ nhân thầu ca nhạc tại Hồ Tắm Cộng Hòa (cũng là chủ nhân vũ trường Văn Cảnh) mời về làm chef d’orchestre. Một hôm, có một nhạc sĩ tên Tư giới thiệu Ngọc Chánh một nữ ca sĩ trẻ quê quán ở Bình Long lên Saigon trước tiên, cô dự tính học nghề may, đồng thời cô cũng có một giọng hát lạ mong có dịp tham gia vào làng ca nhạc.

Người nữ ca sĩ với khuôn mặt đẹp và tiếng hát khá ngọt ngào ấy – chính là nữ danh ca Minh Hiếu sau này – đã chinh phục ngay mọi người, từ ông chef d’orchestre cho đến người chủ nhân Hồ Tắm Cộng Hòa – ngay từ phút đầu tiên cô cất lên tiếng hát những bản Kiếp Nghèo, Nỗi Lòng, Gợi Giấc Mơ Xưa. Sau khi được nhận, Minh Hiếu còn được nhạc sĩ Ngọc Chánh dậy thêm về nhạc lý và chẳng bao lâu, người nữ ca sĩ này được nhiều vũ trường và phòng trà khác mời cộng tác. Thời gian này, tại Hồ Tắm Cộng Hòa, có những ca sĩ thường xuyên góp mặt, như Thanh Lan (vợ Ông Cao Xuân Vỹ)..

Năm 1962, chủ nhân Hoành thay người kéo Ngọc Chánh về trình diễn tại vũ trường Văn Cảnh, lúc đó chef d’orchestre là nhạc sĩ Sáu Già. Chỉ một năm sau (1963), Ông được nhà hàng Mỹ Phụng mời về làm chef d’orchestre, trong ban nhạc bấy giờ có Hoàng Liêm guitar, Xuân Mỹ saxo, một người Hoa đánh trống..

Năm 1964, nhạc sĩ Ngọc Chánh được ông bà Long (thân sinh anh Nguyễn Thành Quốc – chủ vũ trường Majestic và Blue Club tại hải ngoại sau này) mời về làm chef d’orchestre, thành phần cũng thế, ngoại trừ không có tay guitar Hoàng Liêm vì anh này bị một tai nạn lớn năm 1963 phải nghỉ làm việc một thời gian).

Năm 1966, với tình hình tổng động viên, Ngọc Chánh tham gia vào Biệt Đoàn Văn Nghệ Trung Ương. Năm 1967, Ban Hoa Tình Thương do bà Tướng Cao Văn Viên thành lập, rút những nghệ sĩ có tài từ nhiều nơi khác về, chẳng hạn bên Công Binh có Khánh Băng, Phùng Trọng, Duy Khiêm, Nguyễn Ánh 9, bên Hải Thuyền có Elvis Phương, bên Địa Phương Quân có Hoàng Liêm, bên Biệt Đoàn Văn Nghệ có Ngọc Chánh, Pat Lâm, Đức Hiếu..

Ngày 31 tháng 1 năm 1968, tức mùng 2 Tết, MTDTGPMN tổng tấn công Sàigòn. Toàn bộ những chương trình ăn chơi giải trí ở các phòng trà, vũ trường đều bị đóng cửa đồng loạt. Giới nghệ sĩ lúc này thất nghiệp cả đám ngoại trừ một số hát được nhạc ngoại quốc thì còn có công việc làm tại các Club Mỹ.

Trong hoàn cảnh này, ca sĩ Pat Lâm được một người cha nuôi người Mỹ có chức quyền cao trong cơ sở USO đề nghị Anh và nhạc sĩ Ngọc Chánh quy tụ những nhạc sĩ có sẵn trong Ban Hoa Tình Thương lúc bấy giờ thành lập một ban nhạc để chơi hàng tuần (thứ bẩy tại U.S.O. Tân Sơn Nhất và mỗi Chủ Nhật tại U.S.O. 119 Nguyễn Huệ Saigon) cũng như chạy thêm show ở các Club Mỹ khác tại Biên Hòa, Long Bình, Vũng Tầu.. với số lương rất cao.

Theo một tài liệu, USO (viết tắt từ United Services Organizations, tổ chức phi lợi nhuận đưa các hoạt động giải trí tới phục vụ quân đội Mỹ đóng ở khắp nơi trên thế giới. Cơ sở là rạp hát – Nguyễn Huệ. Rạp đã ngưng hoạt động từ trước 1975. Về sau là cơ sở U.S.O.119. Nguyễn Huệ).

Trong lúc mọi người đang mất việc, thì lời đề nghị này của người cha nuôi Pat Lâm quả như những giọt nước quý trên sa mạc. Chỉ một tuần sau, ban nhạc được hình thành với Ngọc Chánh (piano), Duy Khiêm (bass), Đức Hiếu (trống), Hoàng Liêm (guitar) và 2 tiếng hát Pat Lâm, Elvis Phương.

Một thời gian ngắn, Pat Lâm tăng cường thêm Ngọc Mỹ – một giọng nữ chỉ mới 22 tuổi mà đã được coi là một giọng ca vững vàng nhất về nhạc ngoại quốc, nhất là về nhạc Jazz, một loại nhạc nếu không có một căn bản nhạc lý vững chắc thì khó mà trình bày được. Khi vừa chơi trong Club Mỹ một thời gian ngắn, tay trống Lưu Bình vào thế Đức Hiếu và có thêm sự hiện diện của Quốc Hùng chơi bass, Duy Khiêm đánh guitare accord.

Còn tên gọi Shotguns, không chỉ vì ban nhạc được thành hình sau cuộc chiến Tết Mậu Thân chỉ vài tuần – mà tên ban nhạc còn được bắt nguồn từ một bài nhạc chào có tên Shotgun rất ăn khách vào thời gian đó.

Theo như một tài liệu : “Shotgun” là tên một dĩa đơn do Junior Walker & All Stars phát hành năm 1965; sáng tác do Walker viết lời và nhạc, sản xuất bởi Berry Gordy Jr. và Lawrence Horn. Trong bốn tuần liên tiếp, dĩa “Shotgun” đứng đầu danh sách các dĩa nhạc R&B Singles ở Hoa Kỳ và đứng hàng thứ tư trên Billboard Hot 100 vào cuối tuần 3 tháng 4 năm 1965.

Nhạc sĩ guitar Jimi Hendrix từng trình diễn bản này trên sân khấu với ban All Stars. Ca sĩ Pat Lâm và nhạc sĩ Ngọc Chánh, hai linh hồn của ban nhạc, quyết định chọn tên Shotguns cho ban nhạc mới thành lập của mình.

Năm 1969, khi tình hình chiến tranh có vẻ đã lắng dịu, sinh hoạt ca nhạc về đêm trở lại bình thường, nhạc sĩ Ngọc Chánh có khuynh hướng muốn về đóng đô trình diễn hàng đêm tại Sàigòn.

Theo nhà báo Nguyễn Việt, trong giai đoạn này, “Ngọc Chánh cùng Hoàng Liêm, Elvis Phương quyết định chuyển hướng từ một ban nhạc chuyên trình diễn loại nhạc Pop Rock kích động sang trình bày nhạc Việt. Bởi Ngọc Chánh có tâm tư, tại sao cứ phải trình diễn cho các Club Mỹ với loại nhạc kích động Pop Rock, Twist, Bebop.. ồn ào náo nhiệt, mà không trở về với cội nguồn cho khán giả Việt thưởng thức những nhịp điệu nhẹ nhàng, lãng mạn, trữ tình như Slow, Boston, Rumba, Tango, Bolero…

Một quyết định xem ra đơn giản nhưng không đơn giản vào thời đó, vì có một số anh chị em trong ban nhạc không đồng tình. Lý do trình diễn ở các Club Mỹ được nhiều tiền hơn trên các sân khấu Việt”.

Thời gian này, nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ có lúc đã mời ban Shotguns về trình diễn Show mỗi đêm với thời lượng một tiếng đồng hồ. Khách tại Maxim rất yêu thích phong cách sống động của ban nhạc và lối trình diễn nóng bỏng của Ngọc Mỹ, Pat Lâm và Elvis Phương.

Cuối năm 1969, đầu 1970, khi Jo Marcel rời Queen Bee, Khánh Ly đã mướn lại và mời ban nhạc Shotguns về đóng đô mỗi đêm. Mỗi đêm, bên cạnh thành phần nhạc sĩ thường xuyên của Shotguns, khán giả đến Queen Bee còn nghe được tiếng đàn piano của Nguyễn Ánh 9 và tiếng trống Anh Thoại.

Tết 1971, Khánh Ly cùng Ngọc Minh và cô em gái Ngọc Anh đi trình diễn tại Mỹ. Lúc trở về, Khánh Ly rời Queen Bee và khai trương chỗ mới ở phòng trà Tự Do. Riêng tại Queen Bee, nhạc sĩ Ngọc Chánh và ban Shotguns quyết định “thầu” lại và mời tiếng hát nữ danh ca Thanh Thúy tái xuất giang hồ sau 5 năm cô giải nghệ đi lấy chồng. Không biết vô tình hay hữu ý, đêm khai trương của hai vũ trường Tự Do và Queen Bee đều cùng một ngày, ngày 16 tháng 3 năm 1971.

Bên phòng trà Tự Do, để cho có nét lạ, đích thân Khánh Ly đến nhà Mai Hương mời cô cộng tác với hợp đồng ký 6 tháng. Tuy chỉ thích hát trên truyền hình, truyền thanh, nhưng vì quý mến Khánh Ly, cho nên Mai Hương đã nhận lời mời. Do đó, trên tờ quảng cáo, Khánh Ly đã ghi : “Và lần đầu tiên, giọng ca chị em với Thái Thanh, “nữ ca sĩ Mai Hương” chịu đi hát phòng trà.

Ngày cuối cùng mãn hợp đồng, đúng 6 tháng sau, ngày 16 tháng 9 năm 1971, trong buổi hát cuối cùng tại Tự Do, Mai Hương đã kêu gia đình đi xem rất đông, ai dè, đêm hôm đó, phòng trà Tự Do bị đặt chất nổ, một số người đã bị thương vong, trong đó có gia đình của ca sĩ Mai Hương, một vài người cháu đã bị thương khá nặng. (Còn 1 kỳ nữa)

Nguyễn Toàn chuyển tiếp

Chú thích ảnh :

H1: Phòng trà International Quốc Tế góc Công Lý, Lê Lợi

H2: Ban nhạc Shotguns thời kỳ thành lập năm 1968. Hàng đầu từ trái: Duy Khiêm (accord guitar), Đức Hiếu (trống), Quốc Hùng (bass), Ngọc Chánh (piano) và hàng cao nhất, từ trái: Pat Lâm, Ngọc Mỹ, Hoàng Liêm.

H3: Nhạc sĩ Ngọc Chánh tại vũ trường Ritz (Quận Cam) năm 1993. H4: Frère Aime Nguyễn Văn Đức, vị sư huynh khả kính đã dậy nhạc sĩ Ngọc Chánh lúc ông lên 8 tuổi. H5: Sân trường Lasan Đức Minh đầy kỷ niệm của nhạc sĩ Ngọc Chánh từ năm 8 tuổi đến 11 tuổi.

H6: Nhạc sĩ Ngọc Chánh thời trai trẻ đôi mươi. H7: Hồ Tắm Cộng Hòa,một trong những nơi đi đàn kiếm tiền của nhạc sĩ Ngọc Chánh thuở đầu đời những năm 1960-1962. H8: Ảnh trái: Nhạc sĩ Ngọc Chánh chụp năm 1964 (27 tuổi) thời gian anh được mời về làm chef d’orchestre vũ trường Eden Rock. H9: Trần Quốc Bảo thay mặt Ban Tổ Chức trao tặng trophy lưu niệm đến nhạc sĩ Ngọc Chánh.

H10: Ngọc Chánh cùng Ban Hoa Tình Thương ra Pleiku năm 1968 hát ủy lạo tinh thần chiến sĩ. Cả nhóm chụp cạnh xe tăng T54 của CS bị bắn hạ. Trong ảnh: NS Duy Khiêm (số 1), Elvis Phương (số 2), Đức Hiếu (số 3), ca sĩ Thu Anh – em gái NS Phượng Liên (số 4), nhạc sĩ Bảo Thu (số 5), NS Hoàng Liêm (số 6), NS Ngọc Chánh (số 7), Pat Lâm (số 8), saxo Nguyễn Hữu Thành (số 9), trống Phùng Trọng (số 10) H11: Các nghệ sĩ ra hát ủy lạo tinh thần chiến sĩ tại Pleiku. Trên cổ mỗi người còn đeo một huy chương. Ngọc Chánh (bìa trái), trong ảnh còn có có Pauline Ngọc, Á Hậu Ngọc Tuyết (đeo kiếng), Trần Văn Trạch, Khả Năng, Thanh Việt, Phương Hoài Tâm.

H12: Cơ sở U.S.O số 119 đường Nguyễn Huệ, nơi mà ban nhạc Shotguns trình diễn mỗi Chủ Nhật

H13: Ca Sĩ Pat Lâm và Duy Khiêm. H14: Ban Shotguns chơi hàng tuần mỗi chiều thứ bẩy tại U.S.O Tân Sơn Nhất. Từ trái : Elvis Phương, Ngọc Mỹ, Pat Lâm, Hoàng Liêm, phía sau là Lưu Bình (trống) và Ngọc Chánh (piano).

H15: Ban nhạc Shotguns trên sân khấu Maxim theo lời mời của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ. H16: Quảng cáo của phòng trà Queen Bee – Khánh Ly với ban nhạc Shotguns Ngọc Chánh trên báo Kịch Ảnh số 398 phát hành ngày 25 tháng 4 năm 1970

H17: Ảnh chụp ban nhạc Shotguns trình diễn tại Queen Bee mùa Hè 1970. Trong ảnh có Long Thoại Nguyên (Saxo), Ngọc Chánh, Nguyễn Ánh 9, Như Khiêm, Khánh Ly, 1 anh, Elvis Phương, Hoàng Liêm, Anh Thoại. H18: Thanh Thúy, Hoàng Liêm, Đan Thọ và ban Shotguns tại phòng trà Queen Bee.

H19: Cuốn Băng Vàng Shotguns tung ra vào dịp kỷ niệm 1 năm thành lập (ngày 22 tháng 7 năm 1970) đã tạo chú ý cho người nghe khắp nơi từ ngày đó tìm kiếm đi mua những cuốn băng do Shotguns thực hiện mỗi khi phát hành. Và những bìa băng của Shotguns xưa.

NGỌC CHÁNH NGƯỜI NS SÀI GÒN XƯA (2)

NHẠC SĨ NGỌC CHÁNH

NGƯỜI ĐÍNH LÊN BẦU TRỜI

ÂM NHẠC SÀIGÒN

NHỮNG VÌ SAO LUNG LINH BẤT TỬ

– Trần Quốc Bảo (tiếp theo kỳ 1 và hết)

Còn bên phía phòng trà Queen Bee do Ngọc Chánh làm chủ thì đêm khai trương kết quả ra sao, nhất là khi Anh đã có công mời được giọng ca liêu trai Thanh Thúy tái xuất giang hồ. Mời bạn đọc bài viết của Ngọc Hoài Phương đăng trên tuần báo Hồng số 10 phát hành ngày 14 tháng 7 năm 1971 :

Thanh Thúy ăn khách như thuở nào

“Sau hơn 5 năm xa lánh ánh đèn màu sân khấu, khi tái xuất giang hồ, giọng hát liêu trai của Thanh Thúy vẫn còn ăn khách như thuở nào. Nàng vẫn được đón tiếp với trọn vẹn cảm tình của giới ái mộ dành cho một thần tượng. Và có lẽ ngay chính nàng cũng không thể ngờ được sau quyết định tiếp tục trở lại nghiệp cầm ca này, nàng lại được tiếp đón nồng hậu đến như vậy.

Nhắc đến Thanh Thúy thì bắt buộc phải nhớ lại thuở vàng son của nàng trong những năm 1963, 1964 đã qua. Tên tuổi nàng đã đạt tới tuyệt đỉnh danh vọng trong những năm đó. Và bây giờ, khi trở lại với đám đông trong khung cảnh Queen Bee này, tài nghệ của nàng còn có phần điêu luyện, vững vàng hơn xưa nữa là khác. Giọng ca khàn khàn, lê thê đó vẫn còn dư hấp lực để lôi cuốn người nghe. Và ngày nay nếu nàng vẫn còn được nhiều người ái mộ, thiết tưởng đó là chuyện dĩ nhiên, không có gì đáng ngạc nhiên cả.

Nàng đã chọn Queen Bee cho lần tái xuất hiện này. Đêm 16/3 vừa qua, giới yêu nhạc ở thủ đô đã chen chúc nhau tới đây để được nghe lại giọng ca Thanh Thúy, được nhìn lại vóc dáng quen thuộc của nàng. Vẫn khuôn mặt đó, vóc dáng đó và giọng ca đó, người ta không tìm thấy một sự thay đổi nào ở người ca sĩ này.

Hình như, đối với Thanh Thúy, khoảng thời gian mấy năm qua chưa đủ để cho nàng có những thay đổi quan trọng, có chăng chỉ là tài nghệ của nàng vững vàng hơn mà thôi. Sự tái xuất hiện của Thanh Thúy được ghi nhận như một hiện tượng tốt trong sinh hoạt An Nam ta. Và kể từ buổi tối hôm đó, với sự góp mặt thường xuyên của Thanh Thúy, với dàn nhạc nổi tiếng Shotguns do Ngọc Chánh điều khiển cùng các nghệ sĩ tài danh khác, Queen Bee đã được giới yêu nhạc coi như một nơi giải trí ngon lành nhất, thích thú nhất.

Thường thường các phòng trà rất buồn tình đối với các trận mưa vào buổi tối, bởi vì sẽ vắng khách. Nhưng đối với Queen Bee, mưa hay nắng không phải là một vấn đề quan trọng. Điển hình là trong đêm 1/7, khi bộ biên tập báo Hồng mở cuộc hành quân tại Queen Bee, trời cũng mưa. Vậy mà những khách tới trễ cũng khó khăn trong việc tìm chỗ ngồi. Đây là một điểm son của phòng trà này.

Trở lại với người ca sĩ mang tên Thanh Thúy, điều mà rất nhiều người đã công nhận rằng, mặc dầu đã từng là một giọng ca bậc nhất, đã từng chiếm được ngôi vị cao nhất trong những năm trước đây, và cho tới nay nàng vẫn được đón tiếp nồng hậu như xưa, nhưng không phải vì thế mà Thanh Thúy có bộ mặt kên kên khó chịu như một số nghệ sĩ khác.

Nàng nói năng thật nhỏ nhẹ dễ thương và lúc nào cũng cởi mở với những người đã quen hoặc chỉ mới biết sơ sơ. Với tính tình hòa nhã như vậy, với tên tuổi và tài năng sẵn có, chúng tôi tin tưởng rằng Thanh Thúy sẽ còn gặt hát thêm nhiều thành quả trên bước đường ca hát mà nàng còn nặng nợ, không thể dứt bỏ được”.

Trụ ở Queen Bee được hơn 3 năm, Ngọc Chánh dời phòng trà về ngay trên lầu Bộ Tư Lịnh Khai Sáng 91 ter Công Lý cho dễ sinh hoạt. Ban ngày bán băng nhạc, buổi chiều chuẩn bị vặn máy lên đèn và một ngày đẹp trời của tháng 5 năm 1974, phòng trà Quốc Tế do Ngọc Chánh, Thanh Thúy làm chủ được khai trương thật rầm rộ.

Nhìn lại thật công tâm một chặng đường dài 5 năm của Ngọc Chánh và ban nhạc Shotguns, từ Queen Bee cho đến Quốc Tế, ở đây đã là nơi quy tụ những nhạc sĩ tài danh hàng đầu của Saigon như :

– Nhạc sĩ dương cầm Lê Văn Thiện: người đã hòa âm hàng ngàn nhạc khúc và được hàng trăm ca sĩ ưu hạng trình bày.

– Nhạc sĩ Hoàng Liêm: người solo guitar được khách ái mộ phong tặng đệ nhất Đế Vương Tây Ban Cầm độc tấu.

– Đức Phú, Lưu Bình, Hoàng Hải, Mạnh Tuấn: những tiếng trống cừ khôi đã tạo nên những vũ bão âm thanh với đôi dùi huyền nhiệm.

– Saxo Trần Vĩnh, Xuân Tiên: Hai tiếng kèn như hai ngọn núi cao nhất, hú gió gọi mưa về làm mát lòng người.

– Bass guitar Duy Khiêm: người nhạc sĩ được các ca sĩ ưu ái cho là hạt ngọc quý trong xâu chuỗi kim cương của dòng nhạc.

– Đan Thọ: nhà vĩ cầm với chiếc áo vàng trong cuộc đua violin cho tới nay chưa có người thay thế.

– Nhạc sĩ Cao Phi Long: ngôi sao sáng chói trên vòm trời trompet Việt Nam.

Đồng thời cũng tại hai phòng trà này, nhạc sĩ Ngọc Chánh và ban nhạc Shotguns đã là nơi trình diễn lý tưởng cho những giọng ca nổi tiếng đương thời như Thái Thanh, Thanh Thúy, Elvis Phương, Khánh Ly, Lệ Thu, Mỹ Thể, Trúc Mai.. và là những bệ phóng tuyệt vời của những giọng ca trẻ ngời sáng như Thanh Lan, Dạ Hương, Thái Châu, Diễm Chi, Trọng Nghĩa, Nguyễn Chánh Tín..

Riêng trong lãnh vực thực hiện băng nhạc, mặc dù ra đời sau những hãng băng Jo Marcel, Tú Quỳnh, cộng thêm một bất lợi, là tác phẩm Shotguns đầu tay phát hành ngày 22 tháng 7 năm 1969 được thực hiện ở phòng thu Bùi Hữu Nghĩa trong Chợ Lớn (chuyên viên thu thanh tên Hồng), Ngọc Chánh tin rằng anh sẽ thành công bởi có trong tay ca sĩ Hùng Cường hát 5 ca khúc đang nổi ồn ào, đó là Một Trăm Phần Trăm, Ông Lái Đò, Chiều Hoang Vắng, Kim, Đêm Trao Kỷ Niệm.. bên cạnh đó cuốn băng còn có những giọng ca ăn khách thời đó như Thanh Tuyền, Duy Khánh, Ban Sao Băng, Mai Lệ Huyền, Lệ Thu, Giao Linh, Hoàng Oanh, Phương Hoài Tâm.. nhưng chẳng hiểu sao, cuốn băng không gây được tiếng vang như Ngọc Chánh mong muốn.

Nhà báo Nguyễn Việt đã nhắc lại câu chuyện này như sau : “Giới thưởng thức âm nhạc thời bấy giờ rất kén nghe ca sĩ hát, và ca khúc thuộc dạng lãng mạn trữ tình hay dành cho “sến nương” trong một nhãn hiệu băng nhạc nào đó. Hai trường phái này luôn đối nghịch, nếu nhãn băng có những Lệ Thu, Khánh Ly, Elvis Phương, Thanh Lan… thì sẽ không có những Chế Linh, Giao Linh, Trang Mỹ Dung, Chung Tử Lưu, Giang Tử, Duy Khánh v.v…

Có các nhạc phẩm như Tình nhớ, Con thuyền không bến, Đêm đông, thì thường không nghe những bài thuộc dòng “nhạc sến” như Chuyện tình Lan và Điệp, Nhẫn cỏ cho em v.v… Khán thính giả đã phân chia các hạng bậc ca sĩ, nhạc phẩm như thế để thưởng thức nhằm thư giản tinh thần.

Cho nên khi Ngọc Chánh mở đầu cho nhãn hiệu băng nhạc Shotguns với bài “Một trăm phần trăm” do Hùng Cường hát, trong một cuốn băng có những giọng ca như Thanh Thúy, Thanh Lan, Xuân Sơn, Khánh Ly, Elvis Phương… đã không được giới thính giả chào đón, đi đến thất bại.

Từ kinh nghiệm trên, nhạc sĩ Ngọc Chánh rất thận trong phong cách chọn bài hát, ca sĩ và cả về âm thanh. Đến khi cuốn “Băng Vàng Shotguns” được phát hành, tờ nhật báo Trắng Đen bán chạy nhất lúc bấy giờ viết đến kỹ thuật thu âm audio cao cấp của nhóm nhạc này, giới mộ điệu âm nhạc bắt đầu chú ý và từ đó trở thành nhãn hiệu băng được mọi người tin cậy, bán chạy nhất bấy giờ”.

Thừa thắng xông lên, Ngọc Chánh tung thêm nhiều nhãn hiệu khácngoài Shotguns, Thanh Thúy, và tùy theo giòng nhạc, nếu là nhạc trẻ, Anh xếp vào tủ băng có tên Nhạc Trẻ, những cuốn đầu tiên do Kỳ Phát chăm sóc, chọn bài, ca sĩ chủ lực trong những cuốn băng này là Elvis Phương, Thanh Lan, Minh Phúc & Minh Xuân, Bích Loan và CBC, Julie Quang, Cathy Huệ, Thúy Hà Tú, Vy Vân, Thái Hiền, Duy Quang và ban Dreamers, Tuấn Dũng, Cao Giảng, Trung Hành (Mây Trắng), Paolo Tuấn, Tuấn Ngọc, Thanh Mai, Ái Ly.. và đôi khi mời những special guest như Ngọc Mỹ, Tuấn Ngọc, Carol Kim, Jennie Mai, Trọng Nghĩa..

Bên cạnh tủ băng Nhạc Trẻ, tủ băng Chế Linh, tủ băng cải lương với nhãn hiệu Hồn Nước (do soạn giả Viễn Châu phụ trách). Cũng nói thêm tại đây, cách đây khá lâu, cô Sáu Liên chủ hãng dĩa Việt Nam có tìm cách liên lạc với nhạc sĩ Ngọc Chánh để xin phép sử dụng lại những cuốn băng cải lương mang nhãn hiệu Hồn Nước mà Ngọc Chánh đã thực hiện trước 75.

Sau khi suy nghĩ, Ông đồng ý cho cô Sáu Liên sử dụng những sản phẩm Hồn Nước với điều kiện Bà trao số tiền 1000 dollars (xem như tiền sử dụng) đến tay nhạc sĩ Viễn Châu và một số tiền cũng như thế đến Hội Ái Hữu Tương Tế Nghệ Sĩ (lúc đó do nghệ sĩ Phùng Há chăm sóc). Người viết không rõ câu chuyện kết cuộc về đâu nhưng tấm lòng cao quý âm thầm của nhạc sĩ Ngọc Chánh vô cùng đáng quý.

Điều tiếc nuối của Ngọc Chánh là năm 1974, Ông dự tính một kế hoặc lăng xê những giọng hát trẻ có nhiều triển vọng như Hương Lan, Hải Lý, Nguyễn Chánh Tín,.. nhưng chưa kịp lăng xê thì bởi chiến cuộc lan rộng khắp miền Nam nên mọi kế hoạch đành hủy bỏ.

Biến cuộc 30/4 trờ đến. Cuối năm 1975, để được yên thân, anh nhận lời cộng tác với đoàn kịch Kim Cương vào cuối tháng 12. Những thành viên trong ban nhạc hầu hết là những nhạc sĩ cũ của ban Shotguns như : Ngọc Chánh, Lê Văn Thiên, Đan Thọ, Cao Phi Long, Duy Khiêm, Long Thoại Nguyên, Đức Hiếu, Xuân Tiên.. có thêm Văn Hạnh, Lê Tấn Quốc (chồng Họa Mi), Đặng Văn Hiền..

Những buổi diễn đầu tiên tại Rạp Kinh Thành vé bán hết sạch trong chớp nhoáng bởi những cái tên nạm vàng của miền Nam ngày trước: Lệ Thu, Thanh Tuyền, Thái Châu, Hà Thanh, Thanh Phong, Phương Đại, Họa Mi cùng với một ban nhạc toàn những tên tuổi lẫy lừng.

Ẩn nhẫn chờ thời khoảng 3 năm, Ngọc Chánh cùng gia đình vượt biển đến đảo Pulau Tengah của Mã Lai vào đúng ngày 4 tháng 10 năm 1978. Ngày 1 tháng 4 năm 1979, gia đình Anh đến Mỹ do nhà thờ bảo lãnh. Ở San Pedro 1 tháng, cả nhà dời lên thành phố Van Nuys cư ngụ khoảng 6 tháng. Tháng 10 năm 1979, trong một dịp tình cờ Anh gặp lại Đinh Thành Châu – một thân hữu giờ làm chủ một nhà hàng tại San Jose muốn giao cho Ngọc Chánh làm vũ trường với tiền cho mướn chỉ 2200$ một tháng.

Đêm khai trương của nhạc sĩ Ngọc Chánh và ban Shotguns cùng những tiếng hát Kim Anh (Mùa Thu Lá Bay), Huy Sinh, Hải Lý, Ánh Lệ vào cuối tháng 12 năm 1979 đã thu hút giới mê nhạc năm xưa ở Saigon. Những năm 1980-1981 dù bận nhưng Ông vẫn dành thì giờ đi học chụp ảnh nghệ thuật với nhà nhiếp ảnh Trần Cao Lĩnh.. và nhờ vậy, Ông đã có một số kiến thức về nhiếp ảnh để những năm sau này, khi từ giã thế giới phòng trà, Ông đã lao vào thú vui chụp hình như một đam mê cháy bỏng cuối đời.

Năm 1983, đang sinh hoạt nhộn nhịp, vũ trường Ông bị cháy. Đang dự tính tìm một nơi khác để mở lại thì bỗng một dịp xuống thăm Quận Cam, ông gặp được nhạc sĩ Vô Thường, lúc đó đang cùng Lê Đức Long (chủ một cây xăng) làm chủ một vũ trường và đang muốn sang lại. Chỉ nửa ngày sau, Ngọc Chánh đồng ý chồng tiền.

Từ một diện tích nhỏ khi sang lại năm 1984, đến cuối tháng 12 năm 1989, chỉ 5 năm sau, vũ trường Ritz đã khuếch trương gấp 5. Lúc Trần Quốc Bảo tổ chức đêm ra mắt tờ báo Thế Giới Nghệ Sĩ ngày 8 tháng 12 năm 1989, thì trong vũ trường còn đang xây dựng một bên góc khá ngổn ngang.

Năm 1986, Ông cùng các con mở một nhà in thật lớn, có tên Perfect Printing, được sự yểm trợ của nhiều anh chị em nghệ sĩ và thân hữu xa gần.

Sau 19 năm làm chủ vũ trường, con cái Ông Bà giờ đây học hành cũng đã thành đạt, Ông quyết định giải nghệ và sang lại vũ trường này cho ông Phương. Đêm đầu tiên, đúng vào lễ Noel 1998, người viết và nhiều ca nhạc sĩ (cũng như khách hàng quen) bước chân vào vũ trường mới biết được giờ đây chủ nhân Ritz đã là người mới.

Sau ngày đó, nhạc sĩ Ngọc Chánh cùng vợ dành thì giờ đi du lịch rong chơi nhiều quốc gia. Thì giờ còn lại, Ông chơi tennis, rồi đánh golf, cũng như chuyên tập bộ môn Hồng Gia để giúp cho cơ thể có thêm sức khỏe.

Cách đây 10 năm, năm 2007, Ông bắt đầu đi vào chuyên môn nhiếp ảnh, và nhiều lần ghi danh dự thi, Ông cũng nhiều lần đoạt được những giải thưởng hạng đầu. Tuy nhiên với Ông, niềm vui duy nhất trong thú đam mê này, đó là làm sao tạo được những tác phẩm nghệ thuật mà mình và nhiều người nhìn vào sẽ yêu thích. Cũng như ngày xưa, biết bao giờ quên ăn, đêm không ngủ, để cố đi tìm những phương cách mới lạ cho bảng hiệu Shotguns.

Kết thúc bài viết này, người viết xin trích một bài thơ ngắn mà ngày xưa thi sĩ Hoàng Trúc Ly từng viết về Shotguns : Em là người yêu có sắc / Em là người thương có tài / Em là tình nhân có tâm / Ta si mê nên trở thành nô lệ / Suốt đời ta không hối hận một lần. Kính chúc nhạc sĩ Ngọc Chánh, một sinh nhật thứ 80, mãi mãi tươi trẻ, mãi mãi nồng nàn, để cho thần Thời Gian phải cúi đầu khuất phục. (trích bài Trần Quốc Bảo trong tuần báo Thế Giới Nghệ Sĩ số 109 phát hành ngày 10 tháng 3 năm 2017)

Nguyễn Toàn chuyển tiếp

Chú thích ảnh :

H20: Tờ quảng cáo một băng nhạc Shotguns về Noel ra cuối tháng 12 năm 1969. H21: Tờ quảng cáo show nhạc quy tụ những thành viên Shotguns cũ và những giọng hát vàng nổi tiếng của Saigon trước 75.

H22: Thời gian vũ trường bị cháy, ban nhạc Shotguns vẫn trình diễn những Show lớn vào những dịp Lễ trong năm. H23: Một buổi họp mặt của gia đình Shotguns tại Đường Sơn Quán vào dịp Tết 1975. Từ trái: nhạc sĩ Ngọc Chánh, Anh Ôn Văn Tài, một Cựu Đại Tá (chủ nhân Đường Sơn Quán), nhạc sĩ Mạnh Tuấn, AC Luật sư Lai (Ban Giám Đốc phòng.

NHÂN SINH NHẬT TUỔI 80 (13/3/1937-2017)

NHẠC SĨ NGỌC CHÁNH

và ban nhạc Shotguns trong ký ức văn nghệ sĩ một thời

– CA SĨ THANH THÚY : Thanh Thúy đã biết anh Ngọc Chánh từ những năm 1960-1961, khi ấy anh chơi nhạc tại Hồ Tắm Cộng Hòa. Khoảng năm 1964, Thanh Thúy đi lấy chồng quyết định giải nghệ. Đến khoảng 5 năm sau, có một lần anh tìm gặp và mời Thanh Thúy trở lại, đầu tiên là thu băng, sau đó về cộng tác phòng trà Queen Bee nhân dịp anh sẽ khai trương vào tháng 3 năm 1971.

Ngày đó giữa Thúy và gia đình anh chị Ngọc Chánh gần gũi và thân thiết như gia đình. Dù bận cách mấy, mỗi sáng hết đi hát ở đại nhạc hội, Nha Xổ Số, thu Tivi hoặc thâu băng, đến chiều về là đã chuẩn bị son phấn quần áo để vào vũ trường. Anh em gặp nhau mỗi ngày, chưa kể là có những buổi tập dợt ban nhạc, ăn uống họp mặt gia đình, nên tình thân có thể nói là thâm sâu lắm.

Năm 1974, khi dời phòng trà Queen Bee sang Quốc Tế, mấy anh em cũng làm chung với nhau. Thuở ấy, thành thật mà nói, Thanh Thúy không hề biết nghĩ đến chuyện tiền bạc, chỉ lo công việc hàng đầu là mặt nghệ thuật, chọn lựa bài hát.. mong sao khi thực hiện những tác phẩm băng nhạc Thanh Thúy (có anh Ngọc Chánh góp công phần lớn trong đó), sẽ luôn được khán giả hài lòng về chất lượng cũng như bài bản.

Thấm thoát mà nay cũng đã hơn 46 năm dài kể từ khi cộng tác với anh và ban nhạc Shotguns. Được biết Trần Quốc Bảo và tuần báo Thế Giới Nghệ Sĩ thực hiện một số chủ đề về ban nhạc Shotguns và mừng anh sinh nhật thứ 80, Thanh Thúy kính chúc Anh sức khỏe tràn đầy để còn có thể đi khắp nơi chụp ảnh nghệ thuật như anh yêu thích, cũng như luôn cầu mong gia đình Anh chị và các cháu bình an và luôn gặp nhiều may mắn.

– NHẠC SĨ DUY KHIÊM (tay bass của Shotguns) :  Anh Chánh, Trần Quốc Bảo có nhờ Khiêm viết vài dòng những kỷ niệm về anh cho một bài báo sắp phát hành. Vài dòng làm sao nói hết những kỷ niệm, những hồi ức suốt mấy chục năm từ lúc có cơ hội gặp nhau và chơi nhạc thuở ban Shotgun thành lập năm 1968.

Những kỷ niệm đáng nhớ lúc thiếu thời đôi khi nó không là gì lớn lao nhưng là những dấu ấn hằn sâu trong suốt cuộc đời nhau. Có gì đâu anh Chánh, chiếc Vespa của anh không có cần đạp máy, bị gẫy hay là mất gì đó, điều đó không quan trọng, chỉ có là khi muốn chạy, anh lên ngồi sang số rồi một người đẩy, sau đó cười ngặt nghẽo, anh em mình là những nhạc sĩ nghèo mà vui quá phải không anh.

Anh và Khiêm là hàng xóm bao nhiêu năm mà không biết nhau. Ở xóm ông Tạ, Khiêm ở đầu hẻm, anh ở xóm trong. Sau khi lập ban, vô tình hỏi nhau mới biết, “Ủa, vậy hả !” thật đơn giản mà dễ thương làm sao. Anh có nhớ anh em mình gọi Pat Lâm là gì không ? “Ông thầy Tàu”. Vậy đó, Pat Lâm vẫn vui với tên gọi đó. Sau 75, trong một chuyến vượt biên, tàu Pat Lâm bị bắn chìm, xác trôi vào bờ với đứa con trong tay, nhiều người chứng kiến nói lại, nhưng anh em mình không biết an táng nơi nào.

Bao nhiêu năm trôi giạt nơi xứ người, mỗi người một nơi, kẻ còn người mất, tuổi ngày càng cao, những kỷ niệm một thời của ban shotgun, của anh Chánh, của Khiêm, của những anh em còn lại là một hoài niệm đẹp trong cuộc đời nhạc sĩ.

Vài dòng nhưng cũng đã dài, nhân có bài viết về ngày Sinh Nhật anh. Duy Khiêm Chúc anh Sinh Nhật thật vui, sức khỏe dồi dào và mong lại có dịp gặp nhau để nhắc lại một thời huy hoàng đã rất xa…

– CA SĨ PAULINE NGỌC : Nhạc sĩ Ngọc Chánh là một ông anh giỏi, rất giỏi và sáng tạo. Rất nhiều ý kiến mới trong lãnh vực Văn Nghệ và gan dạ cùng mình. Từ đi làm công trong ban nhạc để trở thành chủ phòng trà và tinh mắt lúc nào cũng theo kịp thị hiếu cũng như sự yêu thích của khán thính giả.

Nhạc sĩ Ngọc Chánh từ làm băng Shotgun đến Nhạc trẻ đều thành công độc đáo. Lúc nào cũng đi tiên phong, không ngán thua cuộc hay lỗ vốn. Anh Ngọc Chánh đã đem Pauline Ngọc từ Club Mỹ Long Bình về hát phòng trà Queen Bee, cũng như thế với anh Elvis Phương.

Thời đó anh Đức Huy đóng đô ở phòng trà Mỹ Phụng bến Bạch Đằng, còn Duy Quang, Julie Quang – ban Dreamers ở Club Hai bà Trưng, Mây Trắng ở Key Hole, nhưng Queen Bees thì hỗn hợp Nhạc trẻ và giòng nhạc tình với nữ Hoàng sầu muộn Thanh Thúy rất tuyệt vời!

Nghệ sĩ về hát ở phòng trà Queen Bee của anh Ngọc Chánh và chị Thanh Thúy thì sướng lắm. Ba tháng đầu Pauline Ngọc được ký contrat hát độc quyền, khỏi chạy vòng vòng hát chỗ khác, và được chú Ngọc Hoài Phương cùng những ký giả khác thay phiên viết bài lancer mình qua sự hướng dẫn của anh Ngọc Chánh. Chị bắt đầu sự nghiệp là từ đó nên yêu quý anh Ngọc Chánh suốt đời. Cầu Chúa thương cho anh ấy sức khỏe và bình an để xách máy đi vòng Thế giới chụp ảnh dài dài !

– CA SĨ ANH KHOA : – Hỏi : Khi mới vào nghiệp ca hát, những ca khúc nào có thể coi là “tủ” của anh ? Những bản nào khiến khán thính giả, nếu nghe lại, vẫn nhớ đến ca sĩ Anh Khoa ? Và, nhạc sĩ nào đã có ảnh hưởng lớn đến anh?

– Anh Khoa : Phải nói đến những “Bài không tên” của Vũ Thành An. Nhưng bài đã đưa tôi lên tên tuổi sáng chói nhất, chỉ có một bài thôi, là “Bao giờ biết tưong tư” (nhạc Phạm Duy, lời Ngọc Chánh). Sau này, có nhiều người ca bài đó, nhưng thật sự đa số khán giả vẫn đánh giá tôi hát bài đó là đạt nhất.

– NHÀ BÁO NGUYỄN VIỆT :  Năm 1969, Ngọc Chánh thành lập Trung tâm băng nhạc Shotguns, thu âm ở một phòng thu trên đường Bùi Hữu Nghĩa. Vì cộng tác chặt chẽ với nhạc sĩ Phạm Duy nên Ngọc Chánh đã nhờ Phạm Duy đặt lời cho bản nhạc “Bao giờ biết tương tư” (năm 1972) ông đã viết cho phim “Điệu ru nước mắt” dựa theo tác phẩm của nhà văn Duyên Anh. Ca sĩ Anh Khoa đã hát rất thành công bản nhạc này đúng ý ông nhất.

Nhạc sĩ Ngọc Chánh còn viết bản nhạc “Vết thù trên lưng ngựa hoang” cho bộ phim cùng tên của đạo diễn Lê Hoàng Hoa. Lúc đầu, ông định nhờ nhà văn Duyên Anh viết lời, nhưng sau đó đã để cho Phạm Duy viết lời. Duyên văn nghệ giữa Ngọc Chánh và nhạc sĩ Phạm Duy còn mang lại cho nền tân nhạc Việt Nam một bài hát nữa là “Tuổi biết buồn” cũng do Phạm Duy đặt lời.

Ca khúc “Bao giờ biết tương tư” trong phim “Điệu ru nước mắt” là lời tâm tình của một chàng trai biết thế nào là nỗi sầu tương tư khi tình yêu đến. Mãi đến khi đã thật sự yêu nàng, chàng mới biết thế nào là nỗi nhớ da diết mà người ta thường gọi là nỗi tương tư của một người phải xa cách người yêu để từng ngày qua là một ngày mong chờ được nhìn thấy bóng dáng của nàng. (theo Trần Quốc Bảo – Thế Giới Nghệ Sĩ)

Nguyễn Toàn chuyển tiếp

Chú thích ảnh :

H1: Lễ phát giải Kim Khánh 1973 do nhật báo Trắng Đen tổ chức. Từ trái sang phải: Bạch Tuyết, bầu Xuân (Dạ Lý Hương), Mai Lệ Huyền, Trần Quang, Thẩm Thúy Hằng, Elvis Phương, Thanh Thúy, Ngọc Chánh

H2: Ban nhạc Shotguns từ Saigon lên Đà Lạt dự đám cưới Duy Khiêm ngày 3 tháng 12 năm 1969. Từ trái sang phải : Pát Lâm, Ngọc Chánh, Elvis Phương, Ngọc Mỹ, Quốc Hùng, Hoàng Liêm, Duy Khiêm. H3: Anh chị Bảo Hà, Duy Khiêm.

H4: Một bức ảnh quý chụp tại Đà Lạt tháng 12 năm 1969. Phía sau là vũ trường Tulipe Rouge, nơi mà Khánh Ly đã hát trước khi về Saigon năm 1965-1966. Từ trái sang phải : Elvis Phương, Ngọc Chánh, vợ chồng Pat Lâm, Ngọc Mỹ, Duy Khiêm, Quốc Hùng và Hoàng Liêm. H5: Nhạc sĩ Ngọc Chánh và Phạm Duy từ những ngày trong nước đến khi ra hải ngoại luôn sát cánh hoạt động bên nhau.

H6: Buổi họp mặt Pauline Ngọc sang Cali lần đầu ngày 26 tháng 4 năm 2010. Từ trái: Ngọc Chánh, Trung Nghĩa, Pauline Ngọc, Lưu Thế Vũ, Anh Thời Billars, Trần Quốc Bảo.. H7: Bài hát Bao Giờ Biết Tương Tư (sáng tác của Phạm Duy – Ngọc Chánh) đã đưa tên tuổi Anh Khoa đến gần người yêu nhạc tại Saigon những năm 1971-1972

MỪNG NS NGỌC CHÁNH TUỔI 80

Chúc mừng nhạc sĩ Ngọc Chánh

SINH NHẬT TUỔI 80

(13/3/1937 – 13/3-2017)

Mời các bạn đọc lại bài viết :

BAN NHẠC SHOTGUNS

VÀ NGƯỜI NHẠC SĨ ĐA TÀI

– Bài : NGUYỄN VIỆT

Tôi biết nhạc sĩ Ngọc Chánh từ ngày anh còn làm ở phòng trà khiêu vũ trường Queen Bee trên lầu của thương xá Eden, lúc đó đang do nữ ca sĩ Khánh Ly khai thác. Bấy giờ Ngọc Chánh đang chơi piano và organ trong một ban nhạc chưa được đặt thành tên, và cũng chưa được nổi tiếng lắm trong các hoạt động âm nhạc ở miền Nam bấy giờ.

Nhưng rồi một ngày, khi Khánh Ly ra mở phòng trà riêng trên đường Tự Do (bây giờ là Đồng Khởi), ông Tuất chủ nhân phòng trá Queen Bee giao lại cho nữ ca sĩ Thanh Thúy quản lý. Từ đó một ban nhạc mới được thành hình, một ban nhạc mang âm thanh của loại súng liên thanh ra đời, tức ban nhạc Shotguns, do nhạc sĩ Ngọc Chánh làm Chef d’orchest hợp cùng các nhạc sĩ Hoàng Liêm (guitar), Hùng (bass), Ngọc Chánh (piano, organ), Lưu Bình (trống) và các ca sĩ chủ lực gồm Thanh Thúy, Elvis Phương, Pat Lâm và Ngọc Mỹ. Sau này có thêm các nhạc sĩ Cao Phi Long, Đan Thọ, Lê Văn Thiện, ca sĩ có thêm những Thanh Lan, Xuân Sơn, Thái Châu, Nguyễn Chánh Tín, cùng chen vai sát cánh bên nhau, hoạt động từ băng nhạc, ca vũ trường đến các show diễn tại các Club Mỹ, trên các sân khấu đại nhạc hội hay đài phát thanh, truyền hình.

MỘT NHẠC SĨ CÓ TÀI KINH DOANH

Thời gian còn cộng tác tại phòng trà Queen Bee, ban nhạc của nhạc sĩ Ngọc Chánh còn phục vụ trong đoàn văn nghệ Hoa Tình Thương và các Club Mỹ, với phong cách trình diễn loại nhạc kích động như ban nhạc của Khánh Băng – Phùng Trọng. Bởi ca sĩ chủ lực của ban Shotguns là Pat Lâm và Ngọc Mỹ, vào thời đó chưa ai hát nhạc ngoại quốc qua mặt được (năm 1971, khi Ngọc Mỹ đi Mỹ trình diễn và cô đã ở lại Mỹ hát cho một ban nhạc nổi tiếng từ đó).

Cuối những năm 1960, nhạc sĩ Ngọc Chánh sau khi thành hình ban nhạc Shotguns, anh đã cùng Hoàng Liêm, Elvis Phương quyết định chuyển hướng từ một ban nhạc chuyên trình diễn loại nhạc Pop Rock kích động sang trình bày nhạc Việt. Bởi Ngọc Chánh có tâm tư, tại sao cứ phải trình diễn cho các Club Mỹ với loại nhạc kích động Pop Rock, Twist, Bebop.. ồn ào náo nhiệt, mà không trở về với cội nguồn cho khán giả Việt thưởng thức những nhịp điệu nhẹ nhàng, lãng mạn, trữ tình như Slow, Boston, Rumba, Tango, Bolero… Một quyết định xem ra đơn giản nhưng không đơn giản vào thời đó, vì có một số anh chị em trong ban nhạc không đồng tình. Lý do trình diển ở các Club Mỹ được nhiều tiền hơn trên các sân khấu Việt.

Sau khi chọn được hướng đi mới, nhạc sĩ Ngọc Chánh bắt đầu đứng ra thành lập cơ sở Nguồn Sống, chuyên sản xuất băng nhạc nhằm tạo đất sống mới cho các ca nhạc sĩ trong ban nhạc; đồng thời cùng nữ ca sĩ Thanh Thúy lập phòng trà khiêu vũ trường mang tên International Quốc Tế nằm ở mũi tàu Lê Lợi, Nguyễn Trung Trực, Công Lý (nay là đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa), và mở cả kiosque mang tên Khai Sáng nằm dưới tầng trệt của phòng trà, làm nơi tổng phát hành băng nhạc do anh sản xuất.

Nói về sản xuất băng nhạc, nhớ lại lúc khởi đầu khai sinh ra nhãn hiệu băng Shotguns, mấy cuốn đầu tiên không nói là thất bại nhưng thật sự chưa gây được ấn tượng trên thị trường, mặc dù có những nhà văn tên tuổi như nhà văn Nguyễn Đình Toàn, ký giả Quỳnh Như viết lời giới thiệu một cách rộng rãi ra công chúng. Chính nhạc sĩ Ngọc Chánh cũng biết là thất bại, không thành công, là vì có những bài hát nằm đan xen trong chủ đề, tuy hợp với giới thưởng thức này nhưng lại là “khắc tinh” với giới khác. Bởi người nghe nhạc đã phân từng loại ca sĩ lẫn từng loại nhạc phẩm.

Như tầng lớp SVHS thì thích những giọng ca của Thanh Lan, Khánh Ly, Lệ Thu, Xuân Sơn, Anh Khoa, Jo Marcel, Sĩ Phú, Elvis Phương, Tuấn Ngọc… Đại đa số công chúng thích nghe Thanh Thúy, Minh Hiếu, Phương Dung, Thanh Tuyền, Túy Hồng, Nhật Trường, Thái Châu… qua những nhạc phẩm mang tính văn hóa và nghệ thuật . Còn lại các ca sĩ như Chế Linh, Duy Khánh, Hùng Cường, Mai Lệ Huyền, Phương Hồng Quế, Sơn Ca, Giang Tử, Trang Thanh Lan, Trang Mỹ Dung, Thiên Trang… thích hợp cho những nhạc phẩm thị hiếu, được soạn theo kiểu mà người đời thường gọi là “nhạc sến”, như các nhạc phẩm : Một trăm phần trăm, Chuyện tình Lan và Điệp, Nhẫn cỏ cho em, Đồi thông hai mộ, Rước tình về với quê hương v.v…

Giới thưởng thức âm nhạc thời bấy giờ rất kén nghe ca sĩ hát, và ca khúc thuộc dạng lãng mạn trữ tình hay dành cho “sến nương” trong một nhãn hiệu băng nhạc nào đó. Hai trường phái này luôn đối nghịch, nếu nhãn băng  có những Lệ Thu, Khánh Ly, Elvis Phương, Thanh Lan… thì sẽ không có những Chế Linh, Giao Linh, Trang Mỹ Dung, Chung Tử Lưu, Giang Tử, Duy Khánh v.v… Có các nhạc phẩm như Tình nhớ, Con thuyền không bến, Đêm đông, thì thường không nghe những bài thuộc dòng “nhạc sến” như Chuyện tình Lan và Điệp, Nhẫn cỏ cho em v.v… Khán thính giả đã phân chia các hạng bậc ca sĩ, nhạc phẩm như thế để thưởng thức nhằm thư giản tinh thần.

Cho nên khi Ngọc Chánh mở đầu cho nhãn hiệu băng nhạc Shotguns với bài “Một trăm phần trăm” do Hùng Cường hát, trong một cuốn băng có những giọng ca như Thanh Thúy, Thanh Lan, Xuân Sơn, Khánh Ly, Elvis Phương…  đã không được giới thính giả chào đón, đi đến thất bại.

Từ kinh nghiệm trên, nhạc sĩ Ngọc Chánh rất thận trong phong cách chọn bài hát, ca sĩ và cả về âm thanh. Đến khi cuốn “Băng Vàng Shotguns” được phát hành, tờ nhật báo Trắng Đen bán chạy nhất lúc bấy giờ viết đến kỹ thuật thu âm audio cao cấp của nhóm nhạc này, giới mộ điệu âm nhạc bắt đầu chú ý và từ đó trở thành nhãn hiệu băng được mọi người tin cậy, bán chạy nhất bấy giờ.

Nói về kỹ thuật thu âm, thông thường với băng nhựa 8 ly thường được sử dụng từ cuối thập niên 1960, người làm băng nhạc cũng ghi âm trên master tape loại băng 8 ly với âm thanh stereo gồm 4 track. Còn Ngọc Chánh ghi âm bằng master tape 16 ly với âm thanh hifi 6 track, tức có 6 đường rảnh độc lập, mỗi rảnh ghi âm một thứ âm thanh riêng biệt, có thể mix chồng lên nhau. Từ master tape này khi chuyển sang ra băng 8 ly sẽ có chất lượng âm thanh hoàn hảo chuẩn xác hơn. Đồng thời trong cuốn “Băng Vàng Shotguns” về phần hòa âm các nhạc phẩm đều do nhạc sĩ Lê Văn Thiện biên soạn, mới lạ hơn những bản hòa âm mà các băng nhạc khác chỉ soạn theo kiểu “mì ăn liền”. Bởi khi mix, trong đó với âm thanh 4 chiều chuyển động (hifi), người ta có thể phân tích được các loại nhạc khí. Hợp cùng những giọng ca hàng đầu bấy giờ như Thanh Thúy, Khánh Ly, Lệ Thu, Elvis Phương, Anh Khoa trình bày v.v…

Sau cuốn “Băng Vàng Shotguns” thành công và được thính giả ủng hộ liên tục những cuốn băng nhạc sau, nhạc sĩ Ngọc Chánh bắt đầu đưa ra nhãn băng thứ hai mang tên nữ ca sĩ “Thanh Thúy”, với thể nhạc khác với thể nhạc của băng Shotguns, cũng đạt kết quả mỹ mãn. Ngọc Chánh liền cho ra nhiều nhãn hiệu băng khác nhằm chiếm trọn thị trường băng nhạc lúc đó, vì làm kinh doanh băng nhạc phải nhạy bén với lớp người thưởng ngoạn.

Cơ sở sản xuất Nguồn Sống của Ngọc Chánh mở thêm thể loại nhạc trẻ mang tên “Băng nhạc Trẻ”; chủ lực gồm ca sĩ Thanh Lan và ban nhạc Phượng Hoàng của Elvis Phương, Nguyễn Trung Cang… và do Kỳ Phát thực hiện nhằm cạnh tranh với các nhãn hiệu băng do Trường Kỳ, Tùng Giang, Nam Lộc, Jo Marcel thực hiện

Nhận thấy ba bước kinh doanh đầu tiên đều thành công, nhạc sĩ Ngọc Chánh mạnh dạn ra một nhãn hiệu băng trái với tay nghề, tức loại băng mang thể loại tân cổ giao duyên, cải lương và hồ quảng tên “Hồn Nước”.

Chủ lực gồm những nghệ sĩ sân khấu thành danh trên sân khấu cải lương và hồ quảng như Thanh Nga, Thành Được, Phượng Liên, Dũng Thanh Lâm, Thanh Kim Huệ, Thanh Điền, Tấn Tài, Bạch Lê, Thanh Bạch v.v… trong đó phần nhạc đệm tân nhạc vẫn là Shotguns, còn về cổ nhạc quy tụ nhạc sĩ Bảy Bá (tức soạn giả Viễn Châu) điều hành, có Văn Vĩ đàn guitar, Năm Cơ đàn kềm và cả ban nhạc hồ quảng của Đức Phú.

Không ngừng ở nhãn băng thứ tư, Ngọc Chánh tiếp tục ra mắt nhãn băng thứ năm mang tên “Chế Linh” dành cho người thích nghe “nhạc sến”…

Đó là về quá trình sản xuất kinh doanh băng nhạc. Vì thế ban nhạc Shotguns vào năm 1973 được đọc giả, khán thính giả ái mộ bình chọn là “Ban nhạc được ái mộ nhất” của Giải Kim Khánh Nghệ Thuật thường được tổ chức hàng năm.

Sau ngày 30/4/1975, nhạc sĩ Ngọc Chánh còn ở lại Sài Gòn, vài năm sau anh mới đi Mỹ bằng đường biển. Ở Mỹ, Ngọc Chánh đã gầy dựng lại ban nhạc và nhãn hiệu băng nhạc Shotguns, vì nó đã trở thành một thương hiệu đã được mọi người tin cậy từ những năm 1970. Đồng thời trên đất Mỹ, anh còn mở phòng trà Ritz để giới thiệu những tài năng mới và những thân hữu nghệ sĩ đang sinh sống tại hải ngoại.

Trước đây và bây giờ cũng vậy, nhạc sĩ Ngọc Chánh luôn sống nhã nhặn khiêm tốn, hòa đồng cùng mọi người, kể cả khi đã có địa vị tiếng tăm. Vì thế với Ngọc Chánh, hình ảnh của anh rất ít xuất hiện trước công chúng, tuy nhiên mọi người khi nghe nói đến tên Ngọc Chánh là biết anh là ông bầu của một ban nhạc và băng nhạc nổi tiếng, đồng thời là tác giả của nhiều ca khúc hợp soạn cùng nhạc sĩ Phạm Duy, những nhạc phẩm của anh ai cũng nhớ như Bao giờ biết tương tư, Tuổi biết buồn, Vết thù trên lưng ngựa hoang…

GIỚI THIỆU CA SĨ MÁT TAY

Tuy nhạc sĩ Ngọc Chánh không có “lò đào tạo ca sĩ” như các nhạc sĩ khác và cũng không tự nhận mình là thầy đào tạo của một ca sĩ nào, nhưng anh lại là người giới thiệu tài năng mới rất mát tay như những Elvis Phương, Thái Châu, Nguyễn Chánh Tín hay Xuân Sơn cô ca sĩ từng được mệnh danh ca sĩ “Trăng sáng vườn chè”; đi hát từ thời Khánh Ly đang còn khai thác phòng trà Queen Bee, ít người biết đến, sau về cộng tác với ban nhạc Shotguns cô đã trở nên nổi tiếng, hay một Hải Lý mới chớm nở chưa kịp kết nụ ra hoa, Ngọc Chánh đã không còn kịp đưa tên tuổi lên như những đàn anh đàn chị vì thời cuộc đổi thay.

Nhưng có lẽ bất ngờ nhất khi nói Ngọc Chánh là người tìm thấy giọng ca của nữ ca sĩ Minh Hiếu đầu tiên. Anh từng lăng xê Minh Hiếu trước cả nhạc sĩ Đức Quỳnh. Theo nhạc sĩ Ngọc Chánh tâm sự :

– “Vào năm 1961 tôi đang phụ trách ban nhạc ở hồ tắm Cộng Hòa trên đường Lê Văn Duyệt (bây giờ tên đường Cách Mạng Tháng 8). Năm đó có một người con gái yêu thích ca nhạc. Cô ta từ Binh Long lên Saigon học hát và học may. Tôi có người bạn nhạc sĩ nhờ tôi hướng dẫn và giúp đở. Thật ra những ngày đầu gặp tôi, cô ta chỉ hát được hai bài là “Nổi Lòng” của Nguyễn văn Khánh và “Gợi Giấc Mơ Xưa” của Lê Hoàng Long (theo dạng bài hát tủ). Nhưng vì tôi là Chef d’orchestre nên đưa cô vào hát ở hồ tắm Cộng Hòa không có gì trở ngại. Cô ấy tên Minh Hiếu.

“Minh Hiếu là người rất có khiếu về ca nhạc, lại thêm đam mê nên chỉ sau 6 tháng đã nổi tiếng. Minh Hiếu bắt đầu hát cho phòng trà “Arc en Ciel” trong Chợ Lớn rồi phòng trà Đức Quỳnh bên rạp Việt Long xưa và Văn Cảnh. Còn được mời thâu dĩa hát cho những hãng dĩa 33 tour ở Sài Gòn thời bấy giờ v.v…”

Hay khi Ngọc Chánh nói đến hai ca sĩ Elvis Phương và Hương Lan thời mới vào nghề :

– “Bài hát đầu tiên của Elvis Phương hát là “Mộng Dưới Hoa”. Ngày đó Elvis Phương hát như người Mỹ hát tiếng Việt, vừa ngọng, vừa đớt thật là khó nghe, nhưng sau một thời gian anh em hướng dẫn, Elvis Phương bắt đầu hát hay dần, hay dần cho đến hôm nay nhiều ca sĩ trẻ trong nước lẫn hải Ngoại chưa ai có giọng ca tốt như Elvis Phương.

“Hoặc như Hương Lan là giọng ca hiếm có khi thâu bài nhạc Hoa lời Việt “Mùa Thu Lá Bay”, nếu cô ấy chịu đi theo con đường này chắc là từ đó đến giờ sẽ không có đối thủ cạnh tranh, nhưng sau tôi không còn thời gian hướng dẫn nữa…”

Phải chăng vì thế Hương Lan chỉ thuộc nữ ca sĩ trung trung đến bây giờ ?! vì từ xưa đến nay các ông bầu tổ chức ca nhạc thường không đưa tên tuổi Hương Lan thành “vơ-đét” của đêm diễn.

Nói về Xuân Sơn hay Nguyễn Chánh Tín cũng thuộc ca sĩ trong ban Shotguns. Cho thấy vào thời kỳ trước những năm 1965, đa số các nam nữ ca sĩ đều từ văn nghệ học đường, từ năng khiếu mà hình thành ra chất giọng riêng biệt. Tuy nhiên không có người hướng dẫn “lăng xê”, khi đi hát lại không chọn đúng nhạc phẩm sở trường, thích gì hát đó nên không thể tự tạo được ấn tượng cho giới thưởng thức.

Thí dụ như Xuân Sơn thích đi hát từ năm 12 tuổi, lớn lên lại trúng tuyển Giải Nhất cuộc thi Tuyển Lựa Ca Sĩ với ca khúc “Trở về Mái Nhà Xưa”. Sau đó Xuân Sơn được mời hát trong các chương trình tại Đài phát thanh, rồi phòng trà. Từng được nhạc sĩ Đỗ Lễ hướng dẫn về nhạc lý và xướng thanh, nhưng quanh đi quẩn lại chỉ có một bài tủ “Trăng Sáng Vườn Chè” của Văn Phụng nên không thành danh. Sau này về hát với ban Shotguns qua những nhạc phẩm như Nắng Thủy Tinh, Ru Em Từng Ngón Xuân Nồng, Lệ Đá, Biển Nhớ, Lá Đổ Muôn Chiều, Tôi Ru Em Ngủ… nữ ca sĩ Xuân Sơn mới đạt đến sự ngưỡng mộ của khán thính giả.

HƯỚNG DẪN TIẾNG HÁT ELVIS PHƯƠNG

Elvis Phương năm tuổi 14 đang theo học tại trường Jean Jacques Rousseau (bây giờ tên trường Lê Quý Đôn). Rất thích ca sĩ Elvis Presley với thể nhạc Rock And Roll, khiến cho quên ăn, quên ngủ, và anh luôn muốn trở thành một Elvis Presley VN. Vì vậy với tên thật Phạm Ngọc Phương, anh đã kết hợp với tên mình cùng tên thần tượng để thành tên gọi Elvis Phương cho đến ngày nay.

Elvis Phương tuy không học nhạc nhưng do năng khiếu đã mau chóng lãnh hội được căn bản về nhạc lý qua bạn bè và qua băng dĩa nhạc. Trong những năm còn học ở J.J.Rousseau là thời gian thật tuyệt vời, anh cùng các bạn thành lập ban nhạc có tên The Rockin’ Stars, có tiếng trong giới trẻ yêu thích nhạc ngoại quốc. Đến năm 1964, ban The Rockin’ Stars tan đàn, và Elvis Phương liền được mời vào hát cùng ban nhạc Les Vampires để trình diễn tại các Club Mỹ. Sau đó gia nhập vào đoàn Văn Nghệ Hoa Tình Thương.

Trong suốt thời gian phục vụ trong đoàn văn nghệ Hoa Tình Thương cùng với ban nhạc Shotguns, Elvis Phương đã gần như chuyển hướng với việc trình bày ca khúc, ít hát nhạc ngoại quốc mà chỉ hát nhạc Việt để đáp ứng yêu cầu của mọi người và cả trong các nhãn hiệu băng do Ngọc Chánh sản xuất.

Sau khi được các nhạc sĩ trong ban nhạc hướng dẫn cách phát âm cho đúng lời Việt, và tự tạo cho mình một sắc thái riêng biệt, từ đó anh đã tự tạo cho mình một kỹ thuật phát âm với những tiếng nấc, tiếng nghẹn đặc biệt, như nhạc phẩm “Lời cuối cho em” là bước đầu đưa tên tuổi Elvis Phương lên hàng danh ca. Sau đó Elvis Phương còn thành công qua những nhạc phẩm khác như Xé thư tình, Kỷ vật cho em, Áo anh sứt chỉ đường tà, Về đây nghe em, Những bước chân âm thầm, Vết thù trên lưng ngựa hoang v.v…. Đó là chưa kể những nhạc phẩm ngoại quốc lời Việt như Godfather, Aline, Main Dans La Main, Lady Belle, Love Story, vv…

Đến năm 1972, Elvis Phương trở nên nổi bật khi xuất hiện cùng ban nhạc Mây Trắng sau là ban Phượng Hoàng qua những nhạc phẩm của Lê Hựu Hà và Nguyễn Trung Cang, như Tôi muốn, Thương nhau ngày mưa, Lời người điên, Yêu người yêu đời, vv…

Năm 1973, Elvis Phương đoạt giải “Nam ca sĩ tân nhạc được mến chuộng nhất” của “Giải Kim Khánh Nghệ Thuật”.

TRẦN VĂN TRẠCH GIỚI THIỆU…

Còn ca sĩ Thái Châu vào năm 1966 mới 15 tuổi, đi theo gánh hát của mẹ tức nghệ sĩ Kim Nên, cùng thời với các nghệ sĩ như Kim Chưởng, Thanh Tao, Thúy Nga, Út Trà Ôn… ba anh còn là phó giám đốc của Cty cải lương Kim Chung; cho nên Thái Châu đã mang dòng máu nghệ sĩ từ trong gia đình, vì nhà có 4 anh em đều sống với ánh đèn sân khấu. Lúc đó ai cũng nghĩ Thái Châu sẽ là hậu duệ tiếp bước đường của cha mẹ.

Thế nhưng, tâm hồn cậu bé Trương Chiêu Thông (tên thật của Thái Châu) lại bị mê đắm bởi những ca khúc lãng mạn trữ tình trong tân nhạc hơn là hát sáu câu vọng cổ bên cổ nhạc.

Đến mùa hè năm 1966, khi đoàn hát của mẹ anh ra Vũng Tàu, anh ban ngày phụ giúp cha mẹ một vài công việc trong đoàn hát, còn đêm tìm đến quán cà phê nhạc nơi có nhạc sĩ Nguyễn Đình Nghĩa (thổi sáo) và Trần Xuân Ngã (violon) quản lý ở đây, để nghe các ca nghệ sĩ biểu diễn.

Ở quán này có giờ dành cho khán giả lên hát như phong trào Hát với nhau ngày nay. Thái Châu xin lên hát, đêm đó có cha mẹ anh đi xem và Thái Châu đã hát ca khúc “Lần đầu cũng như lần cuối” (sáng tác của Minh Kỳ). Không ngờ đêm đó hai nhạc sĩ Nguyễn Đình Nghĩa và Trần Xuân Ngã chính thức đề nghị anh tham gia biểu diễn tại quán có trả lương.

Năm 1969, Thái Châu vừa đi học vừa biểu diễn tại phòng trà Đệ nhất do Mai Lệ Huyền đang phụ trách. Một đêm tình cờ gặp quái kiệt Trần Văn Trạch đến nghe hát, nhà quái kiệt ngỏ ý giới thiệu Thái Châu gia nhập vào ban nhạc Shotguns của Ngọc Chánh. Chính Thái Châu tâm sự : “Tôi mừng còn hơn ai cho vàng vì ban nhạc này đang rất nổi tiếng, nhiều danh ca đã cộng tác và nhiều mầm non ca sĩ đã thành danh từ ban nhạc này”.

Về với ban Shotguns, được Ngọc Chánh giúp đỡ, động viên trong tình anh em, vì vậy Thái  Châu đã tự tạo dấu ấn qua nhiều ca khúc dành riêng cho anh. Điển hình như các bài Tôi đưa em sang sông (Y Vũ), Tình như mây khói, Tình chết theo mùa đông (Lam Phương), Linh hồn tượng đá (Mai Bích Dung), Bài thánh ca buồn (Nguyễn Vũ)… và trở thành giọng hát chủ lực trong ban nhạc Shotguns từ đó.

Nguyễn Việt

Tùy Bút Thanh Lan

NHẠC SĨ NGỌC CHÁNH

CON CHIM ĐẦU ĐÀN

CỦA BAN SHOTGUNS

Những ai từng sống ở Saigon đều biết đến băng nhạc Shotguns. Cái tên khiến cho mọi người liên tưởng đến tiếng súng bắn Bang Bang. Và đó cũng là bài hát nổi tiếng khắp hoàn cầu mà Thanh Lan đã thâu cho băng nhạc này, do nhạc sĩ Ngọc Chánh thực hiện.

Thời gian mới thâu cho Shotguns thì Thanh Lan hát rất nhiều nhạc tiền chiến hoặc tình ca nhẹ nhàng êm dịu, một hai năm sau đó mới chọn lọc những bản nhạc Pháp để thâu song ngữ Việt Pháp, nên có thêm rất đông khán giả trẻ hâm mộ trong giới sinh viên, học sinh.

Còn nhớ lần đầu tiên gặp nhạc sĩ Ngọc Chánh, ông đã đến tận phòng thâu để gặp Thanh Lan. Lúc ấy Thanh Lan đang thâu một bài hát cho trung tâm Tú Quỳnh của nhạc sĩ Phạm Mạnh Cương. Cũng phải nói rõ, thời đó các trung tâm không có phòng thâu riêng mà chỉ cần thuê phòng thâu của những chuyên viên nào mà mình thấy thâu hay và tin tưởng.

Bởi vậy chuyện nhạc sĩ Ngọc Chánh đến phòng thâu khi ca sĩ đang thâu cho một trung tâm khác để mời thâu cho trung tâm sắp ra mắt của mình cũng chẳng có gì là lạ. Hơn nữa thời đó mấy ai mà có điện thoại nhà.

Nhạc sĩ Ngọc Chánh dáng người tầm thước nhanh nhẹn, khi nói chuyện thì nhìn thẳng người đối diện. Ông có nụ cười rất tươi, cười từ trong lòng cười ra, không phải cười xã giao.

Ông có biệt tài khi đã nghe giọng ai hát rồi thì sẽ biết ngay ca sĩ đó cần hát loại nhạc nào để có thể có rất nhiều thính giả hâm mộ trong thời gian ngắn. Nhớ mãi những lần ông đưa những bài hát thật buồn cho Thanh Lan thâu thì mỗi lần hát xong ông đều nhắc : “Nức nở nhe, nức nở nhe”.. nhưng nét mặt thì lúc nào cũng tươi. Có lẽ trong cuộc đời ông dù những lúc sóng gió ông cũng luôn luôn bình tĩnh giải quyết mọi khó khăn vì ông là người luôn tỉnh táo. Thời đại này ở Mỹ người ta gọi là “cool guy”.

Nhạc sĩ Ngọc Chánh thân thiết, hết lòng với đồng nghiệp và cả một đời dành cho âm nhạc. Từ những buổi trình diễn sôi động với ban nhạc Shotguns tại các Club Mỹ , ông trở thành nhà sản xuất băng nhạc nổi tiếng của Saigon.

Kỷ niệm khó quên với nhạc sĩ Ngọc Chánh là chuyến đi Nhật để trình diễn live bản nhạc “Tuổi biết buồn” do hai nhạc sĩ Phạm Duy và Ngọc Chánh cùng sáng tác. Bài hát được vào chung kết sau khi đựoc ban giám khảo tuyển chọn trên 100 bài hát từ các nước Âu, Á, và Mỹ Châu.

Nên cả 3 đựoc mời qua Nhật để tham dự buổi trình diễn một đêm tháng 10 lạnh lẻo vô cùng , nhưng trong khán phòng Budokan Hall thì ấm áp và nhộn nhịp với 10 ngàn khán giả vây quanh một sân khấu tròn chứa trên 100 nhạc công. Nhờ chuyến đi đó nên Thanh Lan được hãng đĩa hát Victor tại Tokyo mời ở lại một tuần để thâu 2 bài hát bằng tiếng Nhật:

– Aino hio Kesanaide (Đừng phá vỡ ân tình, nhạc Nhật). – Yume Miru (Tuổi mộng mơ, nhạc Phạm Duy).

Bẵng đi hơn hai chục năm sau, nhạc sĩ Ngọc Chánh lại mời Thanh Lan hát tại phòng trà Ritz của ông ở miền Nam Cali. Thời gian và những gay gắt của cuộc đời cũng không làm ông thay đổi. Vẫn là người anh văn nghệ ngày nào đến tự giới thiệu mình rồi tươi cười hỏi:

– Thanh Lan thâu bài hát cho tôi được không ?

Nhạc sĩ Ngọc Chánh là một nghệ sĩ biết cân bằng nghề nghiệp và gia đình nên đã thành công về mọi mặt. Hài lòng về những thành quả âm nhạc ông đã hiến cho đời, hài lòng với những người con hiếu thảo thành danh ngoài xã hội.

Hiện nay ông vui với những nét đẹp của thiên nhiên qua ống kính của chính ông. Vì tâm hồn ông luôn đẹp nên quanh ông tất cả đều xinh tươi. Người nghệ sỹ muốn ghi lại những hình ảnh đẹp những nơi ông đã đi qua, cũng như ngày xưa ông đã muốn gìn giữ lại những nốt nhạc réo rắt để cùng chia xẻ với mọi tầng lớp yêu nhạc.

Thanh Lan xin thân chúc anh Ngọc Chánh một ngày sinh nhật 80 tuổi nhiều niềm vui giữa gia đình đầy ắp tiếng cười và tiếng nhạc. (Thanh Lan – California tháng 3 năm 2017).

Nguyễn Toàn chuyển tiếp

H1: Ban nhạc Shotguns trong một lần trình diễn năm 1971. Từ trái sang: Hoàng Liêm, Thanh Lan, Elvis Phương, Hà Thanh, Ngọc Chánh.

H2: Bài hát Bang Bang do nhạc sĩ Phạm Duy chuyển ngữ lời Việt thành Khi Xưa Ta Bé giao cho Thanh Lan hát đầu tiên và nay sau 45 năm, ca khúc này đã trở thành dấu ấn của cô

H3: Đĩa nhạc Thanh Lan hát bằng tiếng Nhật 2 ca khúc Tuổi Mộng Mơ (được dịch là The Ages Of Dreams) và Đừng Phá Vỡ Ân Tình (Don’t Turn Off The Light Of Love) H4: Mặt trong của cuốn băng nói về tiểu sử Thanh Lan bằng tiếng Nhật

H5: Những kỷ niệm quý báu từ dĩa hát, hình ảnh. của Thanh Lan trong chuyến đi Nhật 40 năm trước vừa được đoàn phim Nhật trao tặng tận tay cho Thanh Lan năm 2015. Món quà quý giá vô ngần.

“QUÁI KIỆT” MỘT THỜI SÀI GÒN

Logo nhan vat 1

9-tr-van-trach-1QUÁI KIỆT TRẦN VĂN TRẠCH !

https://youtu.be/gXCqMCxXnE0

Mời nghe ca khúc “Xổ Số Kến Thiết Quốc Gia”

Trần Văn Trạch khi còn là học sinh lớp 7 trường Nguyền đình Chiểu đã từng làm mưa làm gió về văn nghệ tại rạp hát Thầy Năm Tú Mỹ Tho – Mặc Nhân TVC. Hiện tượng Trần Văn Trạch đã đến với tôi vào năm 1939 tại rạp hát Thầy Năm Tú, Mỹ Tho vào mùa bãi trường năm ấy.

Trần Văn Trạch sinh năm 1924 tại làng Đông Hòa, tỉnh Mỹ Tho, học sinh trường Collège de Mỹ Tho. Ngày lễ phát thưởng bãi trường niên học 1937-38 của trường được tổ chức long trọng tại rạp hát Thầy Năm Tú. Trần Văn Trạch lúc bấy giờ mới học lớp 2ème (deuxième année tức là đệ nhị niên tức là lớp 7 bây giờ) được phân công phụ trách phần văn nghệ, đồng thời là hoạt náo viên (animateur) vừa bằng tiếng Việt vừa bằng tiếng Pháp.

Có nghĩa là nhà trường khoán trắng cho Trần Văn Trạch, một học sinh lớp 7 cáng đáng một trọng trách không dễ chút nào.

Lúc bấy giờ, chính quyền Pháp ở Đông Dương đang tổ chức cuộc đua xe đạp vòng quanh Đông Dương, nên sau khi ra trình diện và chào khán giả xong, MC. Trần Văn Trạch nói : “Kính thưa quí vị. Hiện nay chúng ta đang theo dõi cuộc đua xe đạp vòng quanh Đông Dương, tôi cũng xin đưa quí vị đi vòng quanh Đông Dương nhưng bằng lời ca tiếng hát”. Đợi cho tiếng vỗ tay chấm dứt, cậu bé lóp 7 tiếp tục : “Tôi xin bắt đầu cuộc hành trình từ Nam ra Bắc. Ở Nam kỳ có lối nói thơ “Lục Vân Tiên”, tôi xin nói một một đoạn thơ Lục Vân Tiên:luc-van-tien-1

Vân Tiên cõng mẹ đi ra

Đụng phải cột nhà cõng mẹ trở vô

Vân Tiên cõng mẹ trở vô

Đụng phải cái bồ cõng mẹ trở ra

Vân Tiên cõng mẹ trở ra

Đạp bãi cứt gà cõng mẹ trở vô

Vân Tiên cõng mẹ trở vô

Đụng phải chày vồ cõng mẹ trở ra

Vân Tiên cõng mẹ trở ra


Mặc dù còn nhỏ tuổi, trới phú cho Trần Văn Trạch một giọng ấm áp, cùng với lối diễn xuất lẩm ca lẩm cẩm cỏng mẹ ra, vô… đầy tính chất mộc mạc phương nam, khán giả đổ ra cười nghiêng, cười ngửa. Đợi cho mọi người thôi cười, Trần Văn Trạch lấy lại vẻ trịnh trọng, xoa xoa tay và nhỏ nhẹ thưa : “Kính thưa quí vị, quí vị có biết Lục Vân Tiên cõng mẹ đi đâu không ? Chính mẹ bịnh nên Lục Vân Tiên cõng mẹ đi tìm thầy hốt thuốc, nhưng vì mù loà, Lục Vân Tiên đi ra đụng vật nầy đi vô đụng vật kia. Loay hoay mãi không tìm ra lối đi… Vậy mà quí vị nỡ nào cười cho cái đau khỏ của một người con hiếu thảo cõng mẹ đi trị bịnh. Lẽ ra quí vị nên chỉ đường cho Lục Vân Tiên mới phải…”.

Không khí đang vui vẻ ồn ào bỗng trở nên lặng trang. Quí bà mẹ học sinh dự lễ lấy khăn ra lau nước mắt. Các cô học sinh gái sụt sịt khóc, kể cả thầy cô cũng chưng hửng cho cái tài năng sớm lộ của đứa học trò mình.

Chưa hết, tiếp tục đi vòng quanh Đông Dương, Trần Văn Trạch 3 Gai Hue 1đưa khán giả ra Huế. Nơi đây, chàng nghệ sĩ tí hon nầy không biết học ở đâu, vì thời bấy giờ việc giao lưu văn hóa giữa ba miền còn rất hạn chế, đã cho khán giả nghe với một giọng Huế nữ đặc sệt, trọ trẹ, nặng nặng, ấm ấm, ức ức… khó cho người miền Nam bắt chước:

Chiều chiều trước bến Vân Lâu

Ai ngồi, ai câu, ai sầu, ai thảm,

Ai thương, ai cảm, ai nhớ, ai trông.

Thuyền ai thấp thoáng bên sông,

Đưa câu mái đẩy chạnh lòng nước non.

Tiếp tục ra Bắc, lại một thể loại dân ca đặc thù bài hát theo điệu cò lả:

Con cò… là cò bay lả… í a lả lả bay la

Bay từ… là từ cửa phủ… bay ra là ra cánh đồng

Tình tính tang… là tang tính tình

Cô mình rằng… ấy anh chàng ơi

Rằng có biết biết hay không…

rằng có nhớ là nhớ hay không ?

Với giọng Bắc ẻo lả, mấy từ nhồi duyên dáng theo điệu ca dân gian, và qua từ màn văn nghệ đầu tiên đến giờ, anh học sinh Trần Văn Trạch thật sự đã chinh phục khán giả. 9-tr-van-trach-3Rạp hát Thầy Năm Tú rộng là thế, khán giả đông là thế mà cả rạp im phăng phắc để nghe, để thưởng thức một cái gì mà từ trước đến giờ chưa được nghe, chưa được thưởng thức.

Đến khi anh đưa khán giả vào xứ Lào để trông anh múa lèo với những cánh tay uyển chuyển đưa lên cao, cùng với 10 ngón tay uốn éo cử động, và hai bàn chân khi nhón lên khi hạ xuống nhịp nhàng uyển chuyển theo dòng nhạc Lào 9-tr-van-trach-2buồn buồn, xa vắng.

Rồi anh lại đưa khán giả vào xứ Chùa Tháp qua màn biểu diễn điệu múa Lâm thôn độc đáo Khmer cùng với nhưng câu hát Dù kê bòn ơi ! Bòn ơi !… tâu náaaa…

Những điều nầy tôi viết theo ký ức của tôi không hề qua tư liệu hay bài viết của ai vì tôi nhỏ hơn anh 2 tuổi, học chung trường với anh nhưng sau anh 2 lớp. Tôi đến dự lễ phát thưởng để xem anh trình diễn văn nghệ không phải với tư cách lãnh thưởng, càng không thể là khách mời chỉ là thằng nhỏ… đi coi hát cọp.

Sau buổi văn nghệ nầy một cô đầm, con của một người Pháp làm việc tại Mỹ Tho, nói với cha : “Ba gả con cho anh học trò đó, nếu không con cũng theo không ảnh.”. Và cô thiếu nữ người Pháp nầy, người bị anh chàng học trò tài ba nầy hớp hồn ngay trong đêm văn nghệ nầy, sau nầy là Trần Văn Trạch phu nhân.

9-tr-van-trach-4Chuyện nhân vật “Mỹ Tho Trần Văn Trạch” đến đây chấm dứt cũng đũ rồi nhưng tác giả xin phép viết thêm đôi dòng. Nói về Trần Văn Trạch phải nói đủ : Trần Văn Trạch nhạc sĩ, Trần Văn Trạch ca sĩ, Trần Văn Trạch kịch tác gia, Trần Văn Trạch kịch sĩ, Trần Văn Trạch soạn giả, Trần Văn Trạch người dẫn chương trình, Trần Văn Trạch người lập chương trình… Bất cứ trong lĩnh vực nào mà Trần Văn Trạch tham gia, ai ai cũng thấy cái “dấu ấn đặc thù Trần Văn Trạch” nổi lên.

Một chuyện nhỏ. Ông Trần Văn Trạch có rất nhiều biệt tài. Như trong chương trình văn nghệ phát thưởng ở Trường Nguyễn Đình Chiểu nói trên, ông đã đưa khán giả từ đoạn đầu vui cười hả hê qua chất hài có duyên của ông, rồi lập tức chuyển qua chất bi thương xúc cảm một cách tài tình. 9-tr-van-trach-5Nhạc phẩm “Chuyến xe lửa mùng năm” cũng vậy. Đoạn đầu với cái giọng của một thằng bé ngoài Trung vì chiến tranh lìa mẹ vào Sài Gòn bán báo kiếm sống. Tết đến em có dư một số tiền nhỏ về quê cho mẹ.

Ngồi trên xe lửa về quê thằng bé ca hát nghêu ngao vui vẻ nghĩ rằng sẽ gặp mẹ, ôm mẹ vào lòng, nhưng khi về quê thì mới biết chiến tranh đã thiêu rụi ngôi nhà và mẹ cũng đã chết từ lâu. Đoạn nầy dòng nhạc, lời ca chuyển thành thống thiết… thính giả chỉ còn biết lấy khăn lau nước mắt.

Một chuyên nhỏ. Nhanh trí. Trong một vở kịch, nghệ sĩ Trần Văn Trạch đóng vai một anh hùng trừ gian diệt bạo. Theo vở kịch là khi bắt được tên cướp… đưa cây súng sáu chĩa vào đầu tên ăn cướp, bóp cò, súng nổ, tên cướp ngã ra chết, đền mạng… Nhưng trớ trêu, đạn giả bị lép, súng không nổ trái với kịch bản…

Trần Văn Trạch bình tĩnh không để cho vở kịch bị sượng nên lớn tiếng nói với giọng kẻ cả, bảo tên cướp : “Ha… ha… lần nầy ta tha cho ngươi, lần sau còn tái phạm ta không tha đâu… ha… ha…”. Tên cướp lẽ ra khi súng nổ ngã lăn ra chết nhưng súng không nổ cũng lỡ bộ nhưng nghe Trần Văn Trạch cương một câu mừng quá cũng cương 9-tr-van-trach-6theo và xin… lạy Trần Văn Trạch cám ơn cứu tử. Màn hạ. Ông bầu… chịu quá. Khán giả không biết gì, cũng vỗ tay…

Một chuyện nhỏ. Bản nhạc “Xổ số Kiến thiết”, một bản nhạc “quảng cáo” thôi, tầm thường như vậy, thế mà vào tay của Trần Văn Trạch đã trở thành một ca khúc hay mãi đến bây giờ cũng không ai có thể hát được như vậy.

Một chuyện không nhỏ. Ngay khi còn nhỏ tập tành ca hát là Trần Văn Trạch, với giọng thiên phú nên bắt chước ca sĩ Pháp là Tino Rossi hát giọng ténor. Ca sĩ ténor Tino Rossi biết được điều nầy nên khi Trần Văn Trạch đến Pháp, Vo taychính Tino Rossi, không tị hiềm, lại tìm Trần Văn Trạch để lời khen ngợi và còn lăng-xê cho Trần Văn Trạch hát trên Radio, trên Télé của Pháp.

Người đời ban tặng ông danh hiệu “quái kiệt” không ngoa và quái kiệt Trần Văn Trạch bị ung thư gan từ Mỹ trở về Paris chữa bệnh và đã mất vào ngày 12 tháng 4 năm 1994 ở tuổi 70. Và ông đã yên nghĩ tại nghĩa trang Valenton, Paris

Phan Tất Đại chuyển tiếp

Cau nguyenVIẾNG MỘ

“QUÁI KIỆT”

TRẦN VĂN TRẠCH

Nhân dịp sang Pháp tham dự Lễ tưởng niệm 100 ngày mất của GS-TS Trần Văn Khê, tôi được tháp tùng cùng GS-TS Trần Quang Hải và vợ ông là danh ca Bạch Yến thăm mộ cố nghệ sĩ Trần Văn Trạch, cũng là chú ruột của ông Hải, tại nghĩa trang Cimetière Intercommunal de Valenton, ngoại ô Paris – Pháp.

“Quái kiệt” Trần Văn Trạch (sinh năm 1924 – mất năm 1994) là chú ruột GS-TS Trần Quang Hải. Theo phong tục ở Pháp, tới ngày lễ Thánh, người thân thường mang hoa cúc đến mộ người đã khuất viếng thăm. Vì bận việc rời Paris một thời gian, không thể đến đúng ngày nên GS-TS Trần Quang Hải và vợ mang hoa đến trước một tuần. Tôi may mắn được tháp tùng theo họ.

Mộ “quái kiệt” Trần Văn Trạch tọa lạc trong khu nghĩa trang yên tĩnh, thoáng đãng. Chậu hoa cúc vàng rực được đặt lên mộ phần người đã khuất.

9-vieng-mo-1“Chú tôi là một nghệ sĩ tài hoa. Trong số nhiều con của ông, có Hà Trần hiện là giáo viên dạy piano tại một trường đại học lớn của Pháp, rất quan tâm đến đời sống văn hóa dân tộc. Nay viếng mộ chú, thắp nén hương lòng, tôi cảm nhận chú tôi đang tươi cười với con cháu, ông không còn lạnh lẻo trên xứ người. Thế hệ con cháu của ông vẫn tiếp nối truyền thống gia đình, giữ gìn và phát huy những di sản văn hóa nghệ thuật dù ở bất kỳ quốc gia nào” – GS-TS Trần Quang Hải tâm sự.

“Vua vọng cổ” Viễn Châu kể rằng “quái kiệt” Trần Văn Trạch là người khai sinh ra trào lưu độc diễn hài hước. Chỉ với một cái loa cầm tay, ông có thể điều khiển tâm trạng khán giả khóc cười, vui giận, hờn dỗi theo câu chuyện. Ông còn có tài giả giọng đủ thứ âm thanh, nhạc cụ, tiếng động vật, tiếng xa lửa chạy bằng miệng và hơi thở.

Về sáng tác, “quái kiệt” Trần Văn Trạch có nhiều bài hát thập niên 1950 – 1960 của thế kỷ trước, mang tính cổ động tuyên truyền, thu hút khán thính giả nhờ giai điệu và ca từ rất dễ nhớ. Điển hình là bài “Cái đồng hồ tay”, do ông sáng tác và thể hiện mà đến hôm nay, nhiều khán giả thời trước vẫn còn nhớ.

9-vieng-mo-2

“Thưa quý ngài, mỗi người đều có mang một cái đồng hồ. Mà đồng hồ người ta có hai cây kim: một cái chỉ giờ, một cái chỉ phút. Còn đồng hồ của tôi có tới năm mười cây kim ở trong đó: cái chỉ giờ, cái chỉ phút, cái chỉ tháng, cái chỉ ngày, mặt trăng, mặt trời, hướng nam, hướng bắc, nước lớn, nước ròng. Cho nên xem vô, nếu mà sai cây kim thì cũng phải điên đầu với nó.Tr Cau nguyen 3

Tích tắc tích/ Sướng thay tôi về, từ brocanteur mới về đây/ Tích tắc tích/ Rất biết ăn xài, mang trong tay cái đồng hồ tay/ Có kim chỉ giờ này/ Có kim chỉ ngày này/ Thêm vô cung trăng nó quay khi khuyết khi đầy/ Tích tắc tích/ Trong lòng tôi cũng khuây này/ Mỗi hôm trong tuần, muốn xem hôm gì/ Đặc biệt lắm là cái đồng hồ này, mình muốn biết bữa nay thứ mấy, nó cũng có cây kim chỉ ở trong nữa/ Lundi, jeudi, chúa nhật, ngày ta hay đi/ Muốn biết bắc nam đi trên đàng/ Cũng có cái kim như địa bàn/ Và waterproof, automatic, thêm extra plaque anti-magnetic, anti lang bang, anti khoai lang, anti lung tung nhìn vào mà phát rung!!!/ Ôi! cái đồng hồ/ Ôi! cái đồng hồ”.

Lan Hương chuyển tiếp

Chủ đề : Tiếng hát “quái kiệt Trần Văn Trạch

– MC Việt Thảo- Quái Kiệt Trần Văn Trạch

Tại vũ trường Ritz (của NS Ngọc Chánh) – 1993

https://youtu.be/5uXar7gBJbQ

9-tr-van-trach– Xe Lửa Mùng 5

https://youtu.be/V4X6TH7Etr0

– Trần Văn Trạch & Việt Hùng

https://youtu.be/_ItPZdtsNbU

– Sầm Giang Tái Ngộ 03 – Trần Văn Trạch

Đêm Sầm Giang Tái Ngộ tại Montréal – 1994-05-22

https://youtu.be/HD5zURWzb8s?list=RDV4X6TH7Etr0

– Chiều Mưa Biên Giới

https://youtu.be/WQGGGMEOcu8

– Mùa Thu Chết

Mời nghe nhạc phẫm Mùa Thu Chết của Phạm Duy qua tiếng hát của quái kiệt Trần Văn Trạch. Đặc biệt ở đây Trần Văn Trạch trình bày nhạc phẫm này bằng cả hai thứ tiếng : Việt và Pháp.

https://youtu.be/iAop3usHNAk

– Xuân Đất Khách

https://youtu.be/-5Nmhe_IZa8

Quế Phượng chuyển tiếp

Logo Van nghe

Hoa phuong 2ĐÀN CHIM HỘI TỤ

– Như Phương

Còn hơn mười tháng mới đến ngày Kỷ Niệm Một Trăm Năm ngày thành lập trường Đồng Khánh. Hồi đêm, Thường đã nói chuyện với tôi về tiết mục Văn Nghệ góp vui cho ngày Phượng Vỹ 2017.

Thường là nữ sinh Đồng Khánh, đồng thời là nhân viên của trường nên Thường chú ý với các việc liên quan tới Cô Thầy của trường xưa… Promo của chúng tôi ở Bắc Mỹ cũng khá đông. Mỗi lần gặp nhau ở Họp Mặt Phượng Vỹ thì… tha hồ ồn ào.

Nhớ mùa Họp Mặt 2013, kỷ niệm 25 năm Sinh Hoạt của Phượng Vỹ Houston. Trước đó hai ngày, chúng tôi đã có gặp nhau: một nhóm ở nhà Mẫu Đơn, một nhóm ở nhà Diệu Cầm, một nhóm ở nhà Phan Tâm… thay đổi từng năm; có khi ở nhà chị Thu Hồng; nhà Như Hoa… Không nói được nỗi vui của những U70 này. Nhưng hai ngày sau tiếp tục gặp nhau; chúng tôi không ngồi yên trong chỗ ngồi của mình, còn ” lăn xăn” khắp các bàn; hết chuyện này đến chuyện kia. Tay bắt, mặt  mừng, tía lia…

9-dong-khanh-2Năm đó, Buổi Sơ Ngộ tại nhà Mẫu Đơn, nhộn hết sức. Tiền Hội Ngộ ở Maxim’s ồn ào. Không ai ăn nhiều. Tối đến về nhà đói bụng làm sao! Rồi Lê chở Tôn Kính, Bồng Lai và tôi đi chơi, ghé thăm Hạnh…

Cứ mỗi lần họp mặt; các cựu nam sinh có uống chút chút. Còn các cô lấy nụ cười cho no bụng… Cũng vui. Vui hơn đi dự những tiệc Đám Cưới.

oOo

9-dong-khanh-1Kế hoạch của nhóm chúng tôi sẽ trình diễn nhạc cảnh CGNSĐK trên sân khấu Phượng Vỹ Houston vào tháng Chín 2017. Nhân sự có lẽ nhiều; Nhạc cảnh thì dễ hơn Vũ Khúc. Tôi muốn nhóm chúng tôi có một mục múa cho chương trình hấp dẫn nhưng các bạn ờ xa nhau, không làm sao tập dượt nhiều lần trước Đại Hội. Chỉ có nhóm Houston là tập múa được thôi. Tôi nghĩ là nhiều bạn còn ” mềm mại” nhờ tập ZUMBA hằng ngày. Bồng Lai, Kim Tri, Tôn Kính, Diệu Minh, Thường, Hiếu Tâm, Xuân Hoàng, Tâm Anh, Ngọc Lãnh, Mỹ Châu, Đông Lan… là những bạn còn sức khỏe và bước đi còn mềm mại lắm đó.

Ở nhà thì được gọi bằng ” bà” nhưng lên sân khấu thì … các bà là các nữ sinh ĐK cũ chứ phải chơi. Cho đến nay, các bạn U70 vẫn còn múa trong các chương trình Văn Nghệ của các Hội Ái Hữu … Đó là điều vui… cho Tuổi Vàng ở xứ này…

Chương trình Văn Nghệ sắp tới của Phượng Vỹ chắc là hay lắm. Thường chờ coi bạn nào trong nhóm chúng tôi ghi danh tham dự Đại Hội Kỷ Niệm sắp tới thì mới chuẩn bị y phục và nhân số cho màn Nhạc Cảnh.

Tôi chưa có ý định tham dự Đại Hội đó vì còn lấn cấn với họp mặt ở Dallas vào June 2017. TX cũng là xứ nổi tiếng về phong cảnh nhưng mùa Hè nóng quá. Nếu đến TX hai lần trong mùa Hè thì…hơi ngán.

Mùa Hè vừa qua, khi tôi rời Dallas, nhiệt độ ở đó là 103F. Ớn quá. Với cái áo màu trắng phong phanh mà chịu không nổi khi bước ra khỏi xe để vô phòng check- in. Mỗi lần máy bay đáp phi trường LAX sau mùa Vacation, tôi thấy nhẹ nhõm cả người với cơn gió biển từ Pacific Ocean thổi vào. Phi trường LAX cũng như Phi trường John Wayne …  gió mát dịu về mùa Hè… Vì vậy, nhiều bạn ngại ngùng đi TX vào đầu tháng Chín.

Diệu Khanh, Lạc, Lê, Từ, Mẫu Đơn, Sửu, Tuyết Ngọc, Ngọc Cầm…. là những thành viên Văn Nghệ hầu như hằng năm của PV/ Houston.

Năm 2017 đánh dấu Lần Họp Mặt Quan Trọng: thời gian đã chín muồi của từng người nên một bạn nói là nên dự vì Cánh Chim Đầu Đàn năm tới đã 82 rồi.

Hoa phuongNgoảnh lại thấy tuổi đời không nhỏ

Tâm hồn còn dưới mái trường xưa

Vui đi nhé ngày mai nắng hay mưa

Tình Thầy, tình Bạn muôn đời khắn khít

Nửa đời tha hương, lòng tha thiết

Thuở áo trắng sân trường đáng yêu

9 Gai Hue 2Nhớ xưa, trong tay vui sáng chiều

Nay cứ rứa cho đời không nhạt

Giả như cơn gió đem ta hơi mát

Bỏ mặc một lúc cháu ở nh

Tìm lại tuổi hồng ngôi trường x

Ở đó là Phượng Vỹ tình trường cũ

Giả như chút “thiêng liêng” một thuở

Tr Hue 2Kỷ niệm như lễ giỗ nhớ nguồn

Vui thấy Cô Thầy được khỏe luôn

Mừng Bạn còn trao nhau chuyện tếu

Phượng Vỹ tên gọi ngày thơ ấu

Bay về đây hát khúc hoan ca

Có nơi đâu tự nhiên một nhà

Như Đồng Khánh trường xưa Họp Mặt.

“Không có mợ thì chợ cũng đông” đó là câu ngạn ngữ từ xưa. Phượng Vỹ là bức họa của cổng trường trên sân khấu của MARIOTT hoặc của MARK ADAMS… nhưng sao có cảm giác như đứng trước sông Hương nhìn vô Trường Đồng Khánh.

Vậy mới biết tình cũ sống động như “cái gì Thiêng Liêng”, là Ân Nghĩa, là Tình Cảm Sâu Đậm nhất của Thời Gian Đầu Đời. (theo Như Phương 11/11/2016)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

“SẦU NỮ” ÚT BẠCH LAN QUA ĐỜI

logo-chia-buon

Tr phan uu 4“SẦU NỮ” ÚT BẠCH LAN

QUA ĐỜI

Nữ nghệ sĩ Út Bạch Lan tên thật là Đặng Thị Hai, sinh năm 1935, tại ấp Lộc Hóa, xã Lộc Giang, Đức Hòa, Long An.

Bà được mệnh danh là giọng ca sầu nữ, sau thời gian điều trị căn bệnh ung thư gan, đã trút hơi thở cuối cùng lúc 22 giờ 55 phút ngày 4/11/2016 tại nhà riêng, thọ 82 tuổi. Chị Hạnh – người cháu ruột của NS Út Bạch Lan cho biết, gia đình phát hiện bà bị bệnh ung thư gan từ đầu năm 2016, đã đưa bà vào bệnh viện Chợ Rẫy hóa trị. Sau đó bà được đưa về nhà điều dưỡng, vẫn tiếp tục gắn bó với CLB Sân khấu Lạc Long Quân và CLB sân khấu Hoa Lan Trắng, biểu diễn các chương trình văn nghệ từ thiện.

10-ut-bach-lan-1“Không thể ngờ má tôi lại đi đột ngột, thật đau lòng. Tang lễ sẽ cử hành tại chùa Xá Lợi, gia đình sẽ thông tin chính xác sau” – chị Hạnh đã khóc và cho biết.

Ngày 24/10, là suất tập cuối cùng của NS Út Bạch Lan tại rạp Công Nhân, chuẩn bị diễn vở “Mẹ ngồi sàng gạo” (kịch bản : Bắc Sơn). Nhưng đến tối 27/10, gia đình đã báo tin bà không thể tham gia vì căn bệnh ung thư gan đã trở nặng, nghệ sĩ Cao Mỹ Châu (Nhà hát cải lương Trần Hữu Trang) đã lập tức thay thế bà, thể hiện vai người mẹ trong vở diễn này, nhằm mục đích trao học bổng cho con em nghệ sĩ nghèo và công nhân sân khấu gặp hoàn cảnh khó khăn.

Từ ngày 28/10, gia đình đã đưa bà đi điều trị thuốc nam nhưng do căn bệnh đã biến chứng, bà suy yếu dần và trút hơi thở tại nhà riêng trong sự thương xót của người thân, đồng nghiệp.

Nữ NS Út Bạch Lan sinh ra trong gia đình nghèo khó. Thủa đầu khởi nghiệp, bà cùng danh cầm Văn Vĩ đã tạo nên mối lương duyên để cả hai – người trở thành danh ca, người trở thành danh cầm. NS Năm Cần Thơ là người phát hiện ra giọng ca trầm ấm, trữ tình của bà đã tìm đến chợ Bàu Sen mời bà và danh cầm Văn Vĩ về đài phát thanh 10-ut-bach-lan-2Pháp Á để thu bài “Trọng Thủy – Mỵ Châu”, sau đó bà được ký hợp đồng làm việc cho đài với nghệ danh Bạch Lan. Nhưng để nhớ cái tên mà mẹ đã đặt, bà đã xin nhà đài gắn tên Út vào, từ đó bà chính thức bước vào nghề hát với nghệ danh Út Bạch Lan.

Vào những băm của thập niên 1950, cặp diễn viên Út Bạch Lan – Thành Được đã làm rạng rỡ sân khấu Kim Chưởng. Bà và NS Thành Được đã làm nên thương hiệu của đoàn Thanh Minh Thanh Nga. Bà kết hôn với nghệ sĩ Thành Được một thời gian thì cũng chia tay, bà lập đoàn hát Tân Hoa Lan và diễn với NS Thanh Tú.

Được xem là thế hệ kế tiếp của NS Phùng Há, bà vẫn đang tiếp tục sự nghiệp của mình. Những năm tháng còn lại của đời mình; bà đã chọn vào cửa Phật, không phải xuống tóc quy y mà đêm gỏ mõ tụng kinh, ngày chọn sân chùa làm sân khấu, hát trích đoạn những vở tuồng về Phật để lấy tiền trùng tu, sửa chữa chùa chiền.

Từ cô bé hát rong thuở nào nơi vỉa hè góc chợ, bà đứng trên sân khấu và tỏa sáng rực rỡ. Giữa thập niên 50 (thế kỷ XX), sầu nữ Út Bạch Lan bắt đầu được báo chí và khán giả chú ý qua vở cải lương “Đồ Bàn di hận” trên sân khấu Thanh Minh.

Bà là tấm gương không ngừng khổ luyện trong diễn xuất, trau chuốt kỹ thuật ca ngâm, để những vai diễn của bà luôn được mới mẻ, đầy sáng tạo. NS Út Bạch Lan đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng khán giả qua các vở diễn: “Dưới hàng phượng vĩ”, “Nước mắt kẻ sang Tần”, “Tình cô gái Huế”, “Thuyền ra cửa biển”, “Thần nữ dâng Ngũ Linh Kỳ”, “Nước chảy qua cầu”, “Biên Thùy nổi sóng”, “Tình tráng sĩ”, “Nhớ rừng”….

10-ut-bach-lan-3Thành công nối tiếp thành công, bà được các hãng đĩa tranh nhau mời thu thanh đĩa đơn, đĩa tuồng đa dạng từ xã hội, cổ tích, sử Việt Nam đến Trung Hoa, Tây, Nhật… với số lượng nhiều nhất so với những danh ca khác. Vai chị Hằng (Vở “Con gái chị Hằng” soạn giả Hà Triều – Hoa Phượng) là vai vàng giúp bà đạt tới đỉnh vinh quang.

Hơn 60 năm gắn bó với nghề, bà là nữ danh ca có nhiều vai diễn để đời, được báo giới và công chúng đặt cho nhiều biệt danh như: “Đệ nhất đào thương”, “Nữ hoàng vọng cổ”, “Vương nữ Sương chiều”, “Sầu nữ Út Bạch Lan”. (theo Thanh Hiệp)

10-ut-bach-lan-9Nghệ Sĩ Út Bạch Lan

Từ năm 1955 đến cuối thập niên 60, những danh ca vọng cổ đã chiếm lãnh vị trí hàng đầu, đẩy lùi những tài năng diễn xuất xuống hàng thứ yếu trong sinh hoạt của sân khấu cải lương. Đó là các nghệ sĩ Út Bạch Lan, Thành Được, Hữu Phước, Ngọc Giàu, Hùng Cường, Bạch Tuyết, Dũng Thanh Lâm, Thanh Nga, Lệ Thủy, Mỹ Châu, Minh Vương, Minh Cảnh, Minh Phụng, Tấn Tài, Thanh Kim Huệ, Phượng Liên. . .

Trong số nghệ sĩ được khán giả mộ điệu và giới báo chí kịch trường phong tặng những mỹ hiệu, Út Bạch Lan là người được tặng cho nhiều mỹ hiệu nhất: ở làng dĩa nhựa người ta gọi cô là Nữ Hoàng vọng cổ, ở sân khấu là Đệ nhứt đào thương, Nữ hồng sầu mộng, sầu nữ Út Bạch Lan, Sầu nữ Liêu Trai, Vương nữ Sương Chiều….

Hồi năm 1945, Mẹ cô cùng cảnh ngộ với mẹ của Văn Vĩ nên hai bà kết nghĩa chị em với nhau, sống chung và đi làm mướn độ nhựt ở Chợ Lớn Mới (chợ Bình Tây hiện giờ).

Lúc đó Văn Vĩ tên là Đinh Văn Dậm, vì đau ban trái không chữa được nên bị mù từ nhỏ, ông thầy thuốc đặt tên Văn Vĩ thay cho tên Dậm. Văn Vĩ học đàn guitare cổ nhạc và đàn rất giỏi. 10-ns-van-viBé Út 11 tuổi, Văn Vĩ: 15 tuổi, khi có dịp rãnh, Văn Vĩ dạy cho Bé Út ca. Bé Út nghe máy hát dĩa của hàng xóm, học thuộc nhiều bản vọng cổ khác. Bé Út thấy có người mù đi hát dạo trong chợ, được người ta cho tiền, bèn rủ Văn Vĩ lén mẹ đi hát dạo, hy vọng có tiền giúp đỡ cho hai bà mẹ. Hai anh em Văn Vĩ, Bé Út hát dạo từ Chợ Lớn Mới qua các phố phường Chợ Lớn Cũ, ra tới Chợ Bến Thành Saigon.

Nữ nghệ sĩ Út Bạch Lan tên thật là Đặng Thị Hai, sinh năm 1935, tại ấp Lộc Hóa, xã Lộc Giang, Đức Hóa, Long An. Thân phụ của cô là ông Nguyễn Văn Chưa, làm nghề nài ngựa đua, qua đời năm 1966. Mẹ của cô là bà Đặng Thị Tư, năm nay 88 tuổi, mẹ cô thường gọi cô là bé Út.

Lúc đó đang có chiến tranh Việt – Pháp, Văn Vĩ và Bé Út đàn ca, tụ tập người nghe rất đông tại Bùng Binh Sài Gòn, bọn Biện Chằ (tức cảnh sát Tây) sợ có biểu tình, giải tán số người tụ tập nghe ca và bắt Văn Vĩ và Bé Út, đánh cho mấy cây “ma trắc”, rồi đem về nhốt ở bốt quận Nhì.

Cơ duyên

Ông Xếp Tây lai, bạn của nhạc sĩ Jean Tịnh và ca sĩ Thành Công, đài Pháp Á thấy hai đứa trẻ biết đờn ca cổ nhạc nên tha cho về. 10-nam-can-thioĐây là một cơ duyên khiến cho ca sĩ Thành Công trở thành người đầu tiên dìu dắt Út Bạch Lan trên con đường sự nghiệp cầm ca.

Ở chợ Bàu Sen, một ông người Bắc tốt bụng cho hai bà mẹ với Văn Vĩ, Bé Út che mái lều cạnh bức tường nhà của ông để ở. Ông bày cho Văn Vĩ mở lớp dạy ca cổ nhạc, tự tay ông vẽ giùm bảng dạy ca cổ nhạc dựng trước nhà. Từ đó hai gia đình Văn Vĩ, Bé Út có nơi cư trú, hai bà mẹ đi mua gánh bán bưng ở chợ Bàu Sen. Văn Vĩ đàn, dạy ca cổ nhạc.

Thỉnh thoảng Bé Út và Văn Vĩ đi đàn ca ở các đám tiệc, đám cưới. Cô Năm Cần Thơ nghe tiếng đồn, tới nghe Bé Út ca, cô Năm Cần Thơ dẫn Bé Út đi ca nơi quán cổ nhạc Họa Mi của cô trong khu Đại Thế Giới Chợ Lớn. Văn Vĩ cũng được mướn đàn cho quán nhậu có ca cổ nhạc của cô Năm Cần Thơ. Ngoài ra, cô Năm Cần Thơ còn dẫn Bé Út đi ca ở Đài Phát Thanh Pháp Á.

Ca sĩ Thành Công, nhạc sĩ Jean Tịnh gặp lại Bé Út và rất mến mộ ngón đờn guitare sắc sảo của Văn Vĩ nên mời hai anh em gia nhập Ban Thành Công, nhóm cổ nhạc của Đài Phát Thanh Pháp Á với nhạc sĩ Hai Long, ca sĩ Sáu Thồng, Ba Tình, Văn Chung, Việt Hùng. Thành Công đặt tên cho Bé Út là Út Bạch Lan.

10-ut-bach-lan-4Năm 1952, Út Bạch Lan theo đoàn Kim Khánh của ông Bầu Cang lúc đó đang hát tuồng kiếm hiệp của Mộng Vân như : Trộm mắt phật, Cây Đèn thần, Cánh bườm đen. Các nữ diễn viên Kim Nên, Thu Ba, bé Hồng Vân, Ngọc An đều có vai trong tuồng; phải đợi có cô nào bịnh không hát được thì Út Bạch Lan mới có dịp hát thế tuồng.

Út Bạch Lan thấy không có tương lai nên đi đầu quân cho đoàn hát Tơ Huệ, cô vẫn bị bắt làm thế nữ, quân hầu. Cô bỏ về Sài Gòn, theo Thành Công, Sáu Thồng, Chín Sớm ca cổ nhạc ở Đài Phát Thanh Quốc Gia và Đài Pháp Á.

Năm 1955, cô gia nhập đoàn Kim Thanh của Út Trà Ôn, Thanh Tao, Kim Chưởng và Thúy Nga. Ở sân khấu Kim Thanh, Út Bạch Lan chỉ học múa và thỉnh thoảng đóng một vai đào phụ. Anh Viễn Châu, viết thêm Út Bạch Lan ca hai câu vọng cổ trong tuồng của anh là “Tình vương hoa thắm”. Khán giả rất khen ngợi.

Năm 1961, Út Bạch Lan lập đoàn hát lấy tên bảng hiệu: Út Bạch Lan – Thành Được. Đoàn có những tuồng như : Trảm mã trà, Đêm huyền diệu, Chân trời hạnh phúc, Khi rừng mới sang thu, Bốn mùa hoa nở, Bao giờ vườn sứ mưa hoa, Tìm suối tiên, 10-ut-bach-lan-6Cuối đường hoa mộng, Thuyền về bến Ngự, Em đi trên phím nhạc, Khi hoa anh đào nở, Trăng sương cầu trúc, Sầu qua mấy nhịp cầu duyên.

Nổi tiếng

Sau đó Viễn Châu viết thêm hai câu vọng cổ trong tuồng “Đời cô Nga” của anh để Út Bạch Lan ca. Thành công vượt sức tưởng tượng của mọi người: khán giả vỗ tay nhiệt liệt không thua gì khi anh Út Trà Ơn ca. Vãn hát, khán giả đứng nghẹt cửa hậu trường để xem mặt Út Bạch Lan.

Trang kịch trường đăng hình của Út Bạch Lan với câu đề rất kêu của ký giả Nguyễn Ang Ca : “Một ngôi sao lạ vụt ngời sáng trên vòm trời nghệ thuật sân khấu cải lương”. Ông Trần Tấn Quốc viết : “Út Bạch Lan, một giọng ca vọng cổ thảm sầu, bứt ruột bứt gan người nghe”. Ký giả Kiên Giang Hà Huy Hà viết : “Sầu nữ Út Bạch Lan, chất giọng đồng pha thổ nghe thương cảm chơi vơi, đêm đêm khơi nguồn lệ của hàng ngàn khán giả mộ điệu cải lương”..

Nhiều đại diện của hãng dĩa Hồng Sơn, Hồng Hoa, Tứ Hải đến mời Út Bạch Lan ca thu dĩa vọng cổ.10-ut-bach-lan-5

Năm 1955, Út Bạch Lan rời đoàn Kim Thanh, cùng với anh Hồng Giang về đầu quân cho đoàn Thanh Minh, hát thường trực tại rạp Thành Xương. Út Bạch Lan đã thành công lớn qua các tuồng : Biên Thùy nổi sóng, Cánh Bườm lửa, Tình tráng sĩ, Đồ Bàn di hận, Nhớ rừng, Tình người nữ cứu thương, Cung đàn trên sông lạnh, Núi Liễu sông Bằng, Hồi trống Vân Lâu, Áo gấm khôi nguyên, Cầu gỗ Hồng Mai Thôn, Người đẹp Bạch Hoa Thôn, Sơn nữ Phà Ca, Người thợ rừng, Thiên Thần trên thiết mã, Hoa Mộc Lan, Chén cơm đô thành, Đất Việt của người Việt; của các soạn giả Thiếu Linh, Nguyễn Phương, Mộc Linh, Lê Khanh.

Diễn viên cùng diễn chung với Út Bạch Lan trên sân khấu Thanh Minh thời gian 1955 đến 1958 có: Út Trà Ôn, Năm Nghĩa, Hồng Giang, Minh Tấn, Quang Phục, Sáu Nhỏ, Vinh Sang, hề Kim Quang, hề Châu Hí, Hề Núi, Văn Ngà, Chí Hiếu, các cô Thu Ba, Hồng Vân, Ba Kim Anh, Thanh Nga, Mai Búp, Ngọc Chúng.

10-ut-bach-lan-7Năm 1958, Út Bạch Lan ký hợp đồng về hát cho đoàn Kim Chưởng với nghệ sĩ Thành Được. Khán giả khó quên cô qua những vở tuồng : Chưa tắt lửa lòng, Bên đồi trăng cũ, Thuyền ra cửa biển, Áo trắng nàng Mộng Trinh, Nửa bản tình ca, Người đẹp thành Bát Đa .

Trên sân khấu Kim Chưởng, Út Bạch Lan và Thành Được thành hôn có hôn thơ giá thú đàng hoàng, cô Phùng Há làm chủ hôn.

Năm 1961, Út Bạch Lan lập đoàn hát lấy tên bảng hiệu : Út Bạch Lan – Thành Được. Đoàn có những tuồng như : Trảm mã trà, Đêm huyền diệu, Chân trời hạnh phúc, Khi rừng mới sang thu, Bốn mùa hoa nở, Bao giờ vườn sứ mưa hoa, Tìm suối tiên, Cuối đường hoa mộng, Thuyền về bến Ngự, Em đi trên phím nhạc, Khi hoa anh đào nở, Trăng sương cầu trúc, Sầu qua mấy nhịp cầu duyên.

Cuối năm 1961, đoàn Lan – Được rã, Út Bạch Lan và Thành Được trở về hát cho đoàn Thanh Minh – Thanh Nga. Út Bạch Lan với giọng đồng pha thổ, như rót mật ngọt vào lòng người nghe. Soạn giả Viễn Châu sáng tác bài vọng cổ Hoa Lan Trắng, kể chuyện đời của Út Bạch Lan.

Giúp người

Sau 1975, Út Bạch Lan hát cho đoàn cải lương Sài Gòn 1, rồi về quê nhà hát cho đoàn cải lương Long An.

Sau 1990, cô về hát cho Câu Lạc Bộ sân khấu cải lương và hát giúp gây quỹ cứu trợ nạn nhân bão lụt, giúp người nghèo cô đơn ở thành phố và giúp bệnh nhân nghèo được điều trị miễn phí ở bệnh viện An Bình. Hơn 10-ut-bach-lan-8bảy mươi tuổi đời, hơn 50 năm sân khấu, Út Bạch Lan, một giọng ca để đời, hiếm có trong nền nghệ thuật cải lương suốt nửa thế kỹ qua. Người đời đã gọi cô là Sầu nữ:

Lắng đọng gồm thâu những cuộc đời,

Vào hồn “sầu nữ ” Thấm tình người ,

Cho nên nghệ thuật thanh xuân mãi ,

Tiếng hát ngàn xa vượt tuổi trời.

Nguyễn Văn Danh chuyển tiếp

Logo Van nghe

10-tu-cong-phung-1TỪ DUNG VÀ TỪ CÔNG PHỤNG

“TRÊN NGỌN TÌNH SẦU”

Cùng thời với Lê Uyên và Phương còn đôi song ca nổi tiếng khác là Từ Dung – Từ Công Phụng. (xem thêm tại đây: Lê Uyên Phương – Một thời vang bóng)

Từ Công Phụng sinh năm 1942 tại Ninh Thuận, là nhạc sĩ sáng tác nổi tiếng giai đoạn 1950 – 1975 tại miền Nam. Ông có thể hình to lớn, nhưng phong thái lại rất nghệ sĩ, ăn nói nhẹ nhàng, lịch sự, dễ gây thiện cảm với mọi người.

Là người dân tộc Chăm, được chính quyền Sài Gòn ưu đãi theo chính sách đối với các dân tộc thiểu số. Vì thế, chưa tốt nghiệp tú tài, Từ Công Phụng đã được ưu tiên vào học trường đại học Quốc Gia Hành chính. Tuy nhiên, chỉ học được hơn một năm thì ông bỏ học, đi làm biên tập viên cho một đài phát thanh. Không như nhiều bài báo trong và ngoài nước cho rằng Từ Công Phụng đã tốt nghiệp cử nhân Luật tại Sài Gòn.

Không qua một trường lớp âm nhạc nào, nhưng với năng khiếu bẩm sinh và tâm hồn nhạy cảm, Từ Công Phụng tự học để trở thành một tên tuổi lớn trong lĩnh vực sáng tác. Năm 1960, ông ra mắt ca khúc đầu tay Bây giờ tháng mấy khi vừa tròn 18 tuổi và ngay lập tức trở nên nổi tiếng. Có thời gian Từ Công Phụng sống tại Đà Lạt và cùng Lê Uyên Phương thành lập nhóm nhạc Ngàn Thông, 10-tu-cong-phung-2biểu diễn hàng tuần trên đài phát thanh Đà Lạt.

Không dữ dội như Lê Uyên Phương, nhạc của Từ Công Phụng đầy chất trữ tình, êm ái với ca từ trau chuốt, sang trọng. Ông còn có khả năng phổ nhạc cho thơ, đặc biệt là thơ của Du Tử Lê. Tiêu biểu như những bài Trên Ngọn tình sầu, Ơn em…

Năm 1968, Từ Công Phụng gặp Từ Dung – cô gái có làn da trắng, đẹp lộng lẫy, từng đoạt danh hiệu Á hậu trong một cuộc thi sắc đẹp tại miền Nam. Đôi trai tài gái sắc này sau đó nên duyên chồng vợ.

Sinh năm 1945, Từ Dung là con gái của nhà văn Hoàng Đạo (Nguyễn Tường Long) trong nhóm Tự Lực Văn Đoàn, là cháu ruột của hai nhà văn Nhất Linh (Nguyễn Tường Tam) và Thạch Lam (Nguyễn Tường Lân). Năm 1965, Từ Dung tốt nghiệp Tú tài toàn phần và đến năm 1969 lấy bằng cử nhân văn chương.

Từ Dung rất say mê ca hát và cũng được trời ban cho một chất giọng khá hay. Lúc bấy giờ, cô đang theo học thanh nhạc với ca sĩ Châu Hà, vợ của nhạc sĩ Văn Phụng. Chính môi trường này đã đưa đẩy Từ Dung gặp gỡ rồi quen biết với Từ Công Phụng. Tu Cong PhungLần đầu họ xuất hiện bên nhau trên sân khấu quán Văn ở đại học văn khoa với ca khúc Bây giờ tháng mấy.

Vào thời điểm này, có 3 cặp đôi nổi đình nổi đám là thần tượng của thanh niên, sinh viên, học sinh : Khánh Ly – Trịnh Công Sơn, Lê Uyên – Phương, Từ Dung – Từ Công Phụng. Mỗi cặp một đặc điểm riêng nhưng giống nhau ở chỗ giọng nam kiêm luôn sáng tác. Trong 3 cặp này thì Từ Dung – Từ Công Phụng ít nổi tiếng hơn nhưng cũng là một hiện tượng trong đời sống âm nhạc dạo đó.

Sống với nhau có một con gái thì Từ Dung – Từ Công Phụng chia tay, một cuộc chia tay khá buồn ! Chẳng ai biết được nguyên nhân dẫn đến sự đổ vỡ này. Nhưng theo một người quen thân của cặp đôi, vào một chiều 30 Tết, 10-tu-cong-phung-4người này tình cờ gặp Từ Công Phụng trên đường và họ rủ nhau đi bộ về nhà. Dọc đường, Từ Công Phụng tâm sự hết nỗi niềm của mình với những lời trách móc Từ Dung. Nhưng đó cũng chỉ là những lời từ phía của Từ Công Phụng, còn Từ Dung thì chẳng nghe nói một lời nào.

Năm 1980, Từ Công Phụng sang Mỹ, định cư tại Portland, tiểu bang Oregan và lập gia đình mới với một người phụ nữ tên là Kim Ái. Thời gian này, Từ Dung còn ở lại Việt Nam, bà mướn một căn phòng trong cư xá Ngân hàng, quận 3 và có biểu hiện tâm thần. Bà ít khi mở miệng nói với ai một lời nào. Đêm đêm, bà thường khỏa thân ngồi lặng lẽ trong bóng tối trước hiên thềm như một pho tượng. Một thời gian sau, Từ Dung qua cơn trầm cảm và cũng sang định cư tại Mỹ và sinh sống tại tiểu bang Hawaii. Từ Dung cũng đã lập gia đình 10-tu-cong-phung-5khác với một người đàn ông Mỹ.

Ở Mỹ, Từ Công Phụng vẫn tiếp tục cuộc đời sáng tác và ca hát, ông đã nhiều lần về thăm quê nhà và ít nhất đã có hai lần biểu diễn tại một phòng trà nổi tiếng ở Sài Gòn. Cuối năm 2012, ông có đêm nhạc riêng tại Nhà hát Thành phố. Còn Từ Dung thì im hơi lặng tiếng, chẳng còn nghe ai nhắc đến tên bà nữa. Ngay cả Từ Công Phụng trong các bài phỏng vấn cũng chỉ nói đến Kim Ái và các con sau này – như Từ Dung chưa bao giờ xuất hiện trong sự nghiệp và cuộc đời của ông. Mọi chuyện dường như đã chìm hẳn vào quên lãng. Âu đó cũng là nỗi đau “hồng nhan bạc phận” của Từ Dung. (theo nguồn: Duyên Dáng Việt Nam)10-tu-cong-phung-3

Những tình khúc bất hủ của Nhạc Sĩ Từ Công Phụng (1:23’)

https://youtu.be/FaFEnElHYro

Từ Dung hát Đêm Độc Thoại của Từ Công Phụng

https://youtu.be/f2sKsahaVZs

Vùng Trời Kỷ Niệm – Từ Dung & Từ Công Phụng :  https://youtu.be/naYh5Ll2OrA

Lời Cuối – Từ Dung & Từ Công Phụng : https://youtu.be/tEiDIGPlLXg

Lan Hương chuyển tiếp

FRANCISCO DE PINA CHA ĐẺ CHỮ QUỐC NGỮ

Logo bay gio ke

9 Quoc ngu 1ALEXANDRE DE RHODES

KHÔNG PHẢI LÀ “CHA ĐẺ”

CHỮ QUỐC NGỮ ?

Tại hội thảo “Dinh trấn Thanh Chiêm và chữ quốc ngữ” do UBND tỉnh Quảng Nam tổ chức ngày 24/8/16 ở huyện Điện Bàn, nhiều ý kiến cho rằng giáo sĩ Francisco de Pina là người đặt nền tảng cho việc ra đời của chữ quốc ngữ. Hội thảo thu hút hàng trăm nhà khoa học, sử học, chuyên gia trên khắp cả nước tham dự.

Tại hội thảo, ông Thanh phó chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam, cho biết những nghiên cứu của các nhà khoa học suốt gần 15 năm qua đã đưa ra những kết luận khoa học có giá trị về vai trò, công lao của Francisco de Pina (người Bồ Đào Nha) và Alexandre de Rhodes (người Pháp) trong sáng tạo, hoàn thiện chữ quốc ngữ vào đầu thế kỷ 17.

Theo tiến sĩ Trần Đức Anh Sơn phó viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế xã hội Đà Nẵng, hội thảo thu hút 69 tham luận là những nghiên cứu khoa học đầy tâm huyết, giàu sức thuyết phục. Trong đó nhiều nghiên cứu khẳng định vai trò tiên phong của giáo sĩ Francisco de Pina trong việc sáng tạo chữ quốc ngữ và giáo sĩ Alexandre de Rhodes là người có công hoàn thiện chữ quốc ngữ thông qua việc tu chỉnh, biên soạn và xuất bản hai cuốn sách quan trọng là Từ điển Việt – Bồ – La và Phép giảng tám ngày vào năm 1651.

Nhà sử học Dương Trung Quốc cho biết có lẽ một thời gian rất dài chúng ta nhắc đến Alexandre de Rhodes có vai trò hết sức quan trọng trong sự đóng góp phát triển chữ quốc ngữ, và quan trọng là di cảo ông để lại. Quả thật trong điều kiện tư liệu lúc đó, ông Rhodes là người đóng góp rất lớn.9 Quoc ngu 3

Nhưng sau này khi chúng ta có điều kiện nghiên cứu nhiều hơn, những công trình đã tiếp cận các nguồn tư liệu rất khó tiếp cận thì mới thấy được ông Francisco de Pina là người không những đi trước mà còn để lại nhiều dấu ấn, bằng chứng lịch sử để thấy ông là người sớm nhất, giỏi tiếng Việt nhất thời điểm ấy. Vì thế chúng ta tôn vinh một cách công bằng nhưng không phải vì thế mà hạ thấp người này, nâng cao người khác.

“Nhưng ngay chính trong sách ông Alexandre de Rhodes viết cũng nói rất rõ là viết từ điển dựa vào thành quả của những người đi trước. Điều đó cho thấy sự hình thành, phát triển chữ quốc ngữ có sự đóng góp của nhiều thế hệ, là cả một quá trình, từ chỗ ý tưởng đầu tiên đến thử nghiệm đầu tiên, rồi có cả một công trình đi vào đời sống” – ông Dương Trung Quốc nhấn mạnh.

Theo thông tin tại hội thảo, năm 1617 giáo sĩ Francisco de Pina được cử vào xứ Đàng Trong giúp đỡ Nhật kiều công giáo ở Hội An. Sau đó giáo sĩ chú tâm nghiên cứu, sáng tạo chữ quốc ngữ. Và tại Thanh Chiêm, nơi được Chúa Tiên Nguyễn Hoàng chọn làm dinh trấn của Quảng Nam, đã ra đời trường dạy quốc ngữ đầu tiên.

Thanh Chiêm và chữ Quốc ngữ

Dựa vào bức thư do chính tay Thụy Quốc Công Nguyễn Phúc Nguyên gửi cho Nhật Bản năm 1601 và các sử liệu, ta có thể dựng được quá trình hình thành Dinh trấn Thanh Chiêm ở Quảng Nam như sau :

– Năm 1570, do Nguyễn Bá Quýnh từ trấn thủ Quảng Nam được vua Lê triệu đến trấn thủ Nghệ An, Đoan Quận Công Nguyễn Hoàng từ chức vụ trấn thủ Thuận Hóa, được kiêm lãnh hai xứ Thuận Hóa – Quảng Nam “đeo ấn tổng trấn tướng quân”, nhưng ông chưa bao giờ vào Quảng Nam xem xét tình hình cuộc sống dân cư, mà chỉ “giao cho tùy tướng là Dũng Quận Công lưu thủ Quảng Nam để thu phục dân chúng”.

9 Quoc ngu 7– Năm 1592, Đoan Quốc Công cùng Hầu tước Nguyễn Phúc Nguyên ra Đông Đô giúp vua Lê đánh nhà Mạc, có công, nên Hầu tước Nguyễn Phúc Nguyên được thăng một bậc thành Thụy Quận Công.

– Năm 1600, vua Lê trao chức Đô thống Nguyên soái, trấn thủ Quảng Nam cho Nguyễn Phúc Nguyên tại Đoan Môn. Sau khi nhận ấn tín, hai cha con Nguyễn Hoàng, Nguyễn Phúc Nguyên bỏ về Nam. Cũng trong năm này, để đi trước một bước giúp con mình, Nguyễn Hoàng vào Quảng Nam xem xét tình hình và chọn nơi xây dựng kho tàng, chứa lương tiền… Đó là tiền thân của Dinh trấn Thanh Chiêm.

– Năm 1601, Thụy Quốc Công Nguyễn Phúc Nguyên chính thức vào trấn thủ Quảng Nam, đặt dinh quân đội, khu hành chính… ở nơi cha mình đã xây dựng, và phát triển thành Dinh trấn Thanh Chiêm…

Công đầu thuộc về Francisco de Pina

Francisco de Pina đặt chân đến Quảng Nam từ năm 1617, nhưng đến năm 1923 ông mới ổn định cư sở làm việc tại Thanh Chiêm, thủ phủ tỉnh Quảng Nam thời đó. Điều này, cho ta xác định việc ông được thụ phong linh mục cũng là vào thời điểm này, tức là năm 1623 như linh mục Đỗ Quang Chính nhận định.

Nếu vậy, thì chính thời điểm này, Francisco de Pina mới có đủ điều kiện và thời gian hệ thống hóa, biên soạn lại những gì mà ông đã thu thập được trước đó để sáng tạo ra chữ Quốc ngữ tại cư sở Thanh Chiêm và cũng tại Thanh Chiêm, Francisco de Pina viết bức thư gửi cho Cha bề trên ở Ma Cao Jéromino Rodriguez báo cáo việc ông đã biên soạn được một chuyên luận nhỏ về từ vựng và các thanh của ngôn ngữ này (tiếng Việt) 9 Quoc ngu 4và ông đang bắt tay viết về ngữ pháp…

Dĩ nhiên, lá thư ấy chỉ được gửi đi theo con đường duy nhất là từ Hội An, theo các thương thuyền về Ma Cao, chứ không hẳn Francisco de Pina viết tại Hội An.

Theo nghiên cứu của Roland Jacques, cũng như một số nhà nghiên cứu khác, cho rằng: chính các vị giáo sư người Bồ Đào Nha hồi ấy trong Hội dòng Tên hoạt động sớm và tích cực có sự hỗ trợ của con chiên người Nhật và người Hoa tại Quảng Nam, nên trong giao thiệp, tiếng Bồ Đào Nha rất có ảnh hưởng đối với việc sáng tạo chữ Quốc ngữ (lúc ban đầu chưa tiếp xúc với giáo sĩ Pháp, chưa có sự liên hệ nào với chữ Latinh).

Và trên thực tế, chữ Quốc ngữ đầu tiên của Việt Nam hồi đó có nhiều chữ viết dùng theo chữ viết của Bồ, mà ta có thể nghiệm thấy rõ trong chứng minh của nhiều nhà nghiên cứu.

Sau ngày bị nạn tại biển Hội An (15.12.1625) tất cả công trình nghiên cứu chữ Quốc ngữ của Francisco de Pina, là những tài liệu được tập trung vào tay Alexandre de Rhodes, giúp cho Rhodes sử dụng cùng với những tài liệu của các giáo sĩ dòng Tên khác của thời đó viết nên Tự điển Annam – Lusitan – La Tinh năm 1651.

Vậy là đã quá rõ để ngày này chúng ta tôn vinh: “cái nôi” khai sinh ra chữ Quốc ngữ là thủ phủ Thanh Chiêm – tỉnh Quảng Nam và tôn vinh vị thủy tổ phát minh ra chữ Quốc ngữ là người Bồ Đào Nha có tên là: Francisco de Pina.

Có điều đặc biệt người viết bài này ghi nhận được giữa câu chuyện trao đổi với linh mục Roland Jacques trong một lần gặp gỡ, có đến mấy lần ông nhấn mạnh rằng: chữ Quốc ngữ của ta có được là nhờ công đầu tiên của giáo sĩ Francisco de Pina, người Bồ Đào Nha sáng tạo, còn Alexandre de Rhodes có công bồi đắp, 9 Quoc ngu 5hoàn thiện – đó cũng là công đáng kể.

Ảnh hưởng của người Nhật

Thực ra, Pina nhờ người Việt đọc chữ Hán và nói phát âm của nó để ghi phiên âm tiếng Việt. Tiếp theo, Pina nhờ người Nhật đọc chữ Hán để nghe ý nghĩa của nó bằng tiếng Latinh. Lúc đó, người Nhật không biết tiếng Bồ Đào Nha nên dịch sang tiếng Latinh. Pina hiểu được nghĩa của từ rồi viết (dịch) sang tiếng Bồ Đào Nha. Làm như vậy, các nhà truyền giáo người châu Âu mới hiểu được từ vựng tiếng Việt một cách chính xác.

Chính vì thế, đằng sau lý do Pina trở thành người nói giỏi tiếng Việt đầu tiên trong các nhà truyền đạo Kitô (ở Đàng Trong) là có sự hỗ trợ của người Nhật. Nếu không có sự hỗ trợ người Nhật thì việc ký âm tiếng Việt bằng chữ Latinh sẽ ra đời muộn hơn so với thực tế đã diễn ra trong lịch sử.

Vậy tại sao Pina biết được chỗ cách trong danh từ 2 âm tiết ? Theo tôi hiểu, ông đã dựa vào chữ Hán, và học hỏi cách phiên âm và ý nghĩa của từ. Hiểu rõ các từ rồi thì có thể quay lại cấu thành các từ để xác định rõ chỗ tách biệt giữa từ với từ. Công việc này chắc hẳn có sự tham gia của người Nhật. Vì người Nhật biết chữ Hán. 9 Quoc ngu 6Sau khi tách từ, ông dùng cách phiên âm tiếng Nhật Bản và tiếng Trung Hoa, ký âm bằng chữ Latinh và dựa vào kiến thức hệ thống âm vần tiếng Trung Hoa để xác định được nguyên âm, phụ âm và thanh điệu của tiếng Việt. Như vậy, hệ thống phiên âm tiếng Việt bằng ký tự Latinh sẽ hoàn thành. Lúc bây giờ, kiến thức phiên âm tiếng Nhật Bản và tiếng Trung Hoa bằng chữ Latinh đã không xa lạ đối với các nhà truyền đạo Kitô.

Như vậy, chúng ta không thể phủ nhận được việc người Nhật Bản có liên quan sâu sắc đến quá trình thiết lập hệ thống phiên âm tiếng Việt bằng ký tự Latinh.

Học viện Việt Ngữ học đầu tiên trên thế giới

Nhờ quan hệ tốt với thế tử Nguyễn Phúc Kỳ ở Dinh trấn Thanh Chiêm, nên Pina đã lập một trú sở mới ở đây vào khoảng cuối năm 1624, đầu năm 1625 và đến tháng 5 năm 1625, Pina chính thức trở thành Cha bề trên quản nhiệm trú sở truyền giáo Thanh Chiêm (Residentia Dinh Ciam), trú sở quan trọng nhất tại Đàng Trong vì nó ở ngay cạnh dinh trấn Quảng Nam, thủ phủ thứ hai của xứ này do thế tử Nguyễn Phúc Kỳ 9 Quoc ngu 2đứng đầu.

Không chỉ có hoạt động nghiên cứu và sáng tạo chữ Quốc ngữ, tại trú sở Thanh Chiêm, Pina vừa là thầy dạy tiếng Latinh cho các thầy giảng người Việt vừa là giáo sư Việt ngữ cho hai giáo sĩ dưới quyền mới đến hồi cuối năm 1624 là Antônio de Pina Fontes và Đắc Lộ (Alexandre de Rhodes), người mà sau này được thực dân Pháp tôn vinh, một cách có dụng ý, như là ông tổ của chữ Quốc ngữ. Nói không ngoa, trú sở Thanh Chiêm là Học viện Việt ngữ học đầu tiên trên thế giới, mà Pina có tư cách là vị Giám đốc khai lập và Đắc Lộ là vị Giám đốc kế nhiệm.

Đối với công việc nghiên cứu tiếng Việt, đọc lại những lời của giáo sĩ Đắc Lộ, ta có thể thấy ông chưa bao giờ tự nhận mình là người đầu tiên sáng tạo ra chữ Quốc ngữ như những gì mà linh mục Léopold Cadière về sau xưng tụng. Tuy không phải là người đầu tiên sáng tạo ra chữ Quốc ngữ, nhưng Đắc Lộ lại là người có công trong việc biên tập, chỉnh lý, tu sửa một thứ chữ đang thời kỳ phôi thai.Ghi chep

Công việc biên tập ấy không hề đơn giản chút nào, mà thực sự là công trình khoa học sáng chói của Đắc Lộ. Có thể, Đắc Lộ không giỏi chữ Quốc ngữ như các linh mục Pina, Amaral hay Barbosa, nhưng ông may mắn hơn các giáo sĩ khác là sách của ông đã được xuất bản và tồn tại cho đến ngày hôm nay. Do đó, công lao của Đắc Lộ cũng đáng được tôn vinh, mặc dù ông không giữ địa vị công đầu. (nguồn báo Quảng Nam)

Nguyễn Văn Danh chuyển tiếp

9 Con De Tham 1CON GÁI CỤ ĐỀ THÁM

HÙM XÁM YÊN THẾ !

Giai thoại con gái…. Đề Thám…

Hoàng Hoa Thám để lại một người con gái Hoàng Thị Thế với số phận khác thường. Bà sinh 31-3-1901 tại Phồn Xương, được đính hôn với hoàng tử của hoàng đế Trung Hoa lúc lên 3. Tháng 6-1909, bà bị người Pháp phục kích bắt trong núi rừng Yên Thế.

Bà được toàn quyền Pháp Albert Sarraut nhận làm con nuôi, sang Pháp năm 1917, theo học trường nội trú Jeanne D’Arc ở Biarritz, lấy tên là Marie Beatrice Destham.

Về Bắc Kỳ, bà làm thủ thư tòa Thống sứ Hà Nội, sống từ 1925 đến 1927 với em trai Hoàng Văn Vi tại phố Hàm Long. Trở lại Paris, bà được Albert Sarraut giới thiệu như bà là công chúa. Bà tự xưng là công chúa Hoàng Thị Thế – công chúa Trung Hoa, năm 1930 đóng bộ phim Lá Thư, dựa theo truyện ngắn của William Somerset Maugham, sau đó là bộ phim “La Donna Bianca”. Năm 1935, bà đóng phim “Bí mật của lục bảo” của Maurice de Canonge.

9 Con De Tham 2

Năm 1959, bà được Ngô Đình Diệm mời về Sài Gòn nhưng khộng kết quả. Năm 1961, bà sống tại nhà 16 đường Boulboone ở Toulouse. Ít lâu sau, chính phủ Việt Nam đề nghị bà phụ trách một hiệu sách Pháp ở Bắc Giang.A Vui quaNăm 1974, bà về Hà Nội và sống tại phòng 31 khu tập thể Văn Chương.

Bà qua đời ngày 9-12-1988. Bà được chôn tại Phồng Xương, Yên Thế, Bắc Giang. Bà có một chồng, ly hôn năm 1940 và một con trai Jean Marie Albert Ảthur. (theo Andrew sưu tầm)

Hai Điếu ĐĐ chuyển tiếp

9 Banh mi 1BÁNH MÌ VÀ

HƠN 14.000 NĂM LỊCH SỬ

Hương vị chiếc bánh mì pa-tê kẹp thịt đậm đà, chua chua ngọt ngọt của Việt Nam trở thành một thương hiệu nổi tiếng khắp năm châu. Hình ảnh người đàn ông đội chiếc mũ bê-rê với chiếc bánh mì dài kẹp tay cũng là một trong những đặc trưng của nước Pháp. Nhiều người cho rằng bánh mì có nguồn gốc từ châu Âu và được du nhập ra khắp thế giới. Nhưng không, bánh mì bắt nguồn từ Ai Cập, xuất hiện khoảng 12.000 năm trước Công Nguyên (TCN) và có nhiều hình dạng khác nhau từ khoảng 3.500 năm TCN.

Vào thời kỳ đồ đá mới : 53’) nhờ nắm được kỹ thuật lên men, được đánh giá là một trong những kỳ tích văn hóa của nhân loại, người Ai Cập sống bên bờ sông Nil đã phát minh ra bánh mì, khởi nguồn của món ăn cơ bản.

Phát hiện trên được nhà sử học người Pháp Adrien Berthelot, hướng dẫn viên tại khu vực thời cổ đại trong bảo tàng Louvre, giải thích với nhật báo công giáo La Croix (25/07/2016). Ông nói : «Người Ai Cập ghi chép lại tất cả trên giấy cói và khắc lên đá những thời điểm quan trọng của cuộc sống hàng ngày. Những hành động được cho là kéo dài và lặp đi lặp lại ngay cả bên kia thế giới».

Và những ký tự tượng hình Ai Cập cổ cho thấy bánh mì chiếm một vị trí quan trọng trong cuộc sống hàng ngày. 9 Banh mi 2Vẫn theo nhà sử học, «Sự chuyển đổi lúa mì thành bánh xảy ra vào thời kỳ trái đất ấm lên. Quá trình định cư và phát triển trồng trọt được nhận thấy tại nhiều địa điểm trên khắp hành tinh và diễn ra trong cùng một khoảng thời gian. Nước là yếu tố cần thiết để làm hoạt động chu trình sản xuất. Sông Nil, với những trận lũ lụt và sình lầy mầu mỡ, đã mở ra con đường này cho người Ai Cập. Vùng Lưỡng Hà (Mesopotamia) là khu vực lý tưởng. Herodote từng nói rằng Ai Cập là một món quà của sông Nil. Một ốc đảo trải dài đến 2.000 km, trở thành khu vực trồng ngũ cốc quan trọng và là điểm khởi đầu của vựa trồng lúa mì của người La Mã».

Người Ai Cập tin có được loại ngũ cốc này là nhờ thần Osiris, người cai quản linh hồn người chết. Thần Osiris là người phán xét những ai xứng đáng được sống vĩnh cửu hay bị đầy ải vào địa ngục tối tăm. Để giữ trọn lời hứa ân sủng, người chết có công được phép trở thành người phục vụ tang lễ với nhiệm vụ là reo hạt và thu hoạch để đảm bảo phần bánh mì của thần Osiris.

Tại bảo tàng Louvre, người ta thấy nhiều bức tượng nhỏ mang túi lúa mì nặng trên lưng. Trên bàn thờ lễ, người ta thấy những chiếc bánh lớn được khắc trong đá. Đó là những chiếc bánh mì mà lời cầu nguyện của người sống biến chúng thành bánh thật cho người chết. Và trên thành những công trình tang lễ, như kim tự tháp hay lăng tẩm, người dân ở thế giới bên kia vẫn có thể tìm được nhiều công thức làm bánh khác nhau.

Theo những ghi chép bằng chữ tượng hình Ai Cập, có đến 19 loại bánh mì với cách và thời gian làm chín khác nhau : như đổ khuôn hay nướng trực tiếp trên đá… Nhà sử học Alexandre Burtard cho biết : «Phương thức bảo tồn đặc biệt những di sản khảo cổ tại hoang mạc Ai Cập đã cho phép phát hiện ra được những loại bánh mì có từ nhiều thiên niên kỷ, trong đó nhiều mẫu được bảo quản tại bảo tàng Louvre».

Ông Jean-Philippe de Tonnac, đồng phụ trách cuốn Từ điển Phổ thông về Bánh mì 9 Banh mi 3(Dictionnaire universel du pain) nhận xét : « Người ta giết một con vật, người ta ăn nó, sau đó chẳng còn gì. Ngược lại, sau vụ thu hoạch, người ta có thể có thức ăn trong vòng một năm. Hơn nữa, người ta còn có thể bảo quản thóc thu hoạch được để cấy vào năm sau. Thế giới Lưỡng Hà là nơi thí nghiệm những kinh nghiệm đầu tiên của ngành nông nghiệp. Văn học xứ Xu-me (miền nam Lưỡng Hà) mang dấu ấn những sản phẩm bánh mì đầu tiên ».

Men bánh mì, phát minh hóa học kì diệu

Chỉ cần bốn thành phần cơ bản là có thể làm ra được bánh mì : bột, nước, muối và men nở nổi tiếng. Đó là một loại bột mà quá trình lên men, dù đã được phân tích kỹ về mặt khoa học, vẫn là một điều thu hút những người nhào bột và nhìn thấy bánh nở phồng trước khi ngọn lửa làm nó rắn lại.

Một trong những thắc mắc của các nhà khảo cổ và sử gia là bằng cách nào người Ai Cập lại có thể kiểm soát được quá trình làm bánh mì cần độ chính xác và khéo léo. Và có phải họ là người đã phát minh ra men bánh mì ?

Nhà sử học nổi tiếng về lương thực, Steven Kaplan, cho biết : «Dường như họ tình cờ tìm ra phương pháp này. Đó là loại bột có thể gồm đại mạch và nước, sau đó được ủ, rồi lên men, cuối cùng có thể được nấu chín. Kết quả là một hình thù lạ lẫm, nhưng không phải để vất «đồ thối rữa» đó đi giống như một điềm xấu. Đây mới chỉ là bước đầu của giai đoạn lên men, điều bí ẩn được chứng minh khoa học mà vẫn thần kỳ».

Còn nhà sử học Alexandre Burtard lại thiên về sự hiểu biết và nắm vững kỹ thuật : «Thường bánh mì có nguồn gốc từ cháo ngũ cốc. Quá trình nấu chín giúp nó được bảo quản mà không bị thiu. Sau này, nhờ nắm vững quy trình nướng chín nên một nghề mới xuất hiện : nghề làm bánh mì».

Homer từng đánh giá người văn minh khác với người hoang dã nhờ đặc điểm «ăn bánh mì». 9 Banh mi 4Còn trong cuốn Lịch sử bánh mì từ 6.000 năm, Heinrich Eduard viết : «Bánh mì chế ngự tinh thần và vật chất của thế giới cổ đại, từ người Ai Cập đã phát minh ra và biến bánh mì thành nền tảng của đời sống kinh tế của họ, cho đến khi người Do Thái biến bánh mì thành điểm xuất phát của pháp chế tôn giáo và xã hội. Sau đó là người Hy Lạp đã biết sáng tạo ra những huyền thoại sâu sắc và trang trọng nhất về những bí ẩn của thành Eleusis. Cuối cùng là người La Mã đã biến bánh mì thành một vấn đề chính trị. Cho tới ngày Chúa Jesus nói : « Hãy ăn đi ! Ta là bánh hằng sống ! »

Bánh mì dài (baguette), một đặc trưng của Pháp.

Xuất phát từ Ai Cập, bánh mì đến Hy Lạp, Roma và phương tây để trở thành một loại lương thực cơ bản, là thành phần tham khảo và điều hòa xã hội.

Trong số chiến lợi phẩm từ các cuộc trường chinh của Alexandre Đại Đế (356-323 trước Công Nguyên), người Hy Lạp đã chiếm được phát minh của người Ai Cập : đó là bánh mì. Bằng cách cải tiến nó và thêm vào các hương vị như hồi hay mật ong, họ đã đưa bánh mì vào kỷ nguyên của ẩm thực với 72 loại khác nhau.

Sau này, những nô lệ Hy Lạp phục vụ người La Mã đã dạy lại cho họ nghệ thuật làm bánh này. Những thợ làm bánh mì đầu tiên được gọi là « depistores » (những người dùng chày để giã bột). Đây là công việc cha truyền con nối mà người con trai không thể từ chối, nếu không sẽ bị phạt nặng. 9 Banh mi 5Dần dần, họ đảm trách một « nhiệm vụ chung » và được xếp vào hàng công chức.

Khách hàng có thể mua được các loại bánh mì đủ hình dạng khác nhau, kể cả loại bánh mì đặc biệt ăn kèm lúc thưởng thức hải sản. Đế chế La Mã đảm bảo ổn định xã hội bằng cách phân phát « bánh mì và trò giải trí ».

Một trăm năm trước Công Nguyên, người La Mã đã lắp đặt cối xay bằng nước để hoạt động các thớt cối xay. Và phải đến hơn 4 thế kỷ sau đó, người Gaulois (Pháp) mới biết đến phát minh này.

Tại Pháp, quy định đầu tiên về bánh mì xuất hiện vào năm 630, dưới thời vua Dagobert : Các tiệm bánh mì phải nằm gần hoàng gia, các thành trì và tu viện. Những người làm bánh mì được gọi là « talemelier ». Từ này có bắt nguồn từ « tamis » (cái rây) được dùng để sàng bột.

Vào thế kỷ XI, bánh mì là một trong những loại lương thực chính. Được Cơ Đốc Giáo khuyến khích sản xuất và phân phối, nó trở thành nguồn thu nhập chính của giáo hội. Phần lớn nông dân tự làm bánh và chỉ trả một khoản phí để xay hạt và một khoản khác để được quyền sử dụng lò nướng chung, từ đó xuất hiện loại bánh mì đen.

Từ «boulanger» bắt nguồn từ vùng Picardie, có nguồn gốc từ «boulenc» (những người làm bánh mì tròn). Từ này trở nên phổ biến trong ngôn ngữ đời thường vào khoảng giữa thế kỷ XIII. Theo ngôn ngữ latin trung đại, «boulengarius» biến thành «bolengier» trong tiếng Pháp trước khi cố định thành Bo tay 1«boulanger» như hiện nay.

Chỉ dụ ngày 19/01/1322 cho phép người làm bánh mì làm việc buổi đêm. «Bánh mì trắng» được cho thêm bọt bia làm bột nở (cách làm được thừa hưởng từ người Gaulois) được dành cho giới quý tộc và tư sản. Còn ở nông thôn, người nông dân làm «bánh mì đen» từ các loại ngũ cốc họ có trong tay nên có hình dạng thô hơn.

Ngày nay, bánh mì được dùng làm thước đo biểu tượng chỉ ra những dấu hiệu đầu tiên về tình cảnh đói kém hay giá cả tăng vọt. Như Lionel Poilâne từng viết : «Kể về lịch sử bánh mì, là kể một chút về lịch sử của loài người». (theo Thế Hằng)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

CUỘC ĐỜI NS TÒNG SƠN – LÊ UYÊN PHƯƠNG

Logo Van nghe

9 Tong Son 1NHỮNG NĂM CUỐI ĐỜI CỦA

NGHỆ SĨ TÒNG SƠN

và nỗi niềm khi lá đơn xin vào trại dưỡng lão nghệ sĩ bị từ chối

Tuổi già bệnh tật và không còn nơi nương thân, nghệ sĩ Tòng Sơn viết đơn xin vào ở trong Khu dưỡng lão nghệ sĩ ở Q8 trên đường Âu dương Lân, nhưng đơn của ông bị từ chối…

Vào năm 2000, Tổng thống Mỹ Bill Clinton có chuyến thăm Việt Nam. Dịp này, Tổng thống Bill Clinton cùng đoàn tùy tùng ghé thăm cảng Container quốc tế Việt Nam ở Sài Gòn. Nghệ sĩ khẩu cầm Tòng Sơn được vinh dự mời đến biểu diễn. Giữa hàng trăm quan khách cấp cao cấp của hai nước, nghệ sĩ Tòng Sơn tự tin thể hiện tài năng của mình qua cây kèn harmonica, những âm điệu trầm bổng du dương vang lên đã làm say đắm cả phái đoàn ngoại giao nước Mỹ. Khi bản nhạc vừa chấm dứt, những tràng pháo tay vang lên không dứt tán thưởng cho tài nghệ của ông…

Nhắc lại câu chuyện xa xưa cách đây 16 năm để thấy rằng nghệ sĩ Tòng Sơn đã từng có một thời “oanh liệt” trong làng giải trí Việt Nam. Ông là một trong những người được khán giả mến mộ đặt cho biệt danh là “quái kiệt”. Buồn thay ngày tháng rất đẹp ấy đã xa rồi. Hoàn cảnh của ông giờ bi đát lắm. Bước qua tuổi 86 với bệnh tật, cô đơn, nghèo túng, ông phải sống trong ngôi nhà trọ diện tích chưa tới 12m2 ở khu Bàn Cờ, 9 Tong Son 2BSài Gòn và một mình chống chọi với bệnh tim ngày càng thêm trầm trọng. Có lần những người cùng xóm thấy cả buổi ông không mở cửa phòng, họ đập cửa nhà thấy ông đang nằm thoi thóp đau đớn. Mọi người vội đưa ông vào viện cấp cứu.

Để giữ hình ảnh của mình mãi đẹp trong lòng khán thính giả, ông sợ những người yêu mến ông phải thấy cảnh một ông lão Tòng Sơn tàn tạ nơi đầu đường xó chợ, vì thế ông quyết định viết một lá đơn xin được vào ở tại Khu dưỡng lão nghệ sĩ. Đơn của ông bị từ chối với lý do ông không phải là hội viên của Hội âm nhạc thành phố. Tuyệt vọng, lão nghệ sĩ Tòng Sơn chỉ còn biết kêu… trời !

Nói đến Tòng Sơn, những người mộ điệu nghĩ ngay đến người nghệ sĩ được mệnh danh là “quái kiệt” bởi cách sử dụng nhạc cụ của ông rất quái lạ và độc đáo. Tòng Sơn có thể cùng một lúc thổi hai cây kèn một ở lỗ mũi và một ở miệng. Độc đáo hơn ông vừa thổi vừa ăn chuối và vừa uống bia. Tài nghệ như thế nên từ những thập niên 50 của thế kỷ trước, tên tuổi của Tòng Sơn nổi tiếng khắp miền Nam. Ông được mời lưu diễn khắp nơi trong và ngoài nước, từ châu Á đến châu Mỹ, châu Âu…

Đến thăm ông vào một buổi sáng Sài Gòn có vài cơn mưa nhỏ, căn phòng trọ chật hẹp trong khu Bàn Cờ nơi ông ở không đủ sức chứa đến năm sáu người. Phòng ở trống trơn, chỉ có chiếc giường là vật có nhiều diện tích nhất. Góc bàn nhỏ bày la liệt những vỉ thuốc chữa bệnh, thuốc trợ tim. Có lẽ thứ làm ông tự hào nhất là tấm bằng xác lập kỷ lục “Người có phong cách biểu diễn khẩu cầm độc đáo nhất Việt Nam” 9 Tong Son 3của Trung tâm Sách Kỷ lục Việt Nam xác nhận. Trên tường còn treo một vài tấm ảnh của ông thời trai trẻ, một chàng trai phong độ, đẹp trai và tài hoa.

“Tôi là một người suốt đời chưa từng có tên ghi trong sở nhà đất”, nghệ sĩ Tòng Sơn nói vui khi nhắc đến gia cảnh của mình. Đằng sau câu đùa đó là nụ cười với nỗi niềm chua xót. Ông cho biết, hơn 60 năm tuổi nghề, ông chưa từng có cho mình một ngôi nhà riêng, lang thang hết trọ chỗ này chuyển đến trọ chỗ khác. Từng có một gia đình và có đến 10 đứa con nhưng rốt cuộc “từng người tình bỏ ta đi như những dòng sông nhỏ”. Người tình của ông, tri kỷ của ông giờ chỉ còn là tiếng kèn với những giai điệu buồn đến nao lòng.

Tòng Sơn không phải là tên thật của ông. Ông tên là Dương Ngô Tòng, nghệ danh Tòng Sơn là để tri ân công lao dưỡng dục của thân phụ ông. “Sơn là tên cha tôi, Tòng Sơn có nghĩa là theo cha”, đó là giải thích của lão nghệ sĩ về nghệ danh của mình.

Nghệ sĩ Tòng Sơn sinh ra và lớn lên ở miền Tây Nam Bộ. Tuổi thơ của ông là những ngày chinh chiến chạy giặc Tây. Chưa bao giờ ông nghĩ sau này mình sẽ trở thành một danh cầm, một “quái kiệt” như bây giờ. Số phận run rủi, trong một lần tình cờ ông nhặt được cây kèn harmonica của một người lính Pháp đánh rơi trên đường đi bố ráp. Chiếc kèn Tây là lạ và đẹp ngày ấy đã gắn liền với số phận của ông.

Năm 16 tuổi, bằng chiếc kèn nhặt được, những giai điệu vỡ lòng bắt đầu được phát ra từng chính miệng của Tòng Sơn. Đi đâu Tòng Sơn cũng mang theo cây kèn harmonica ấy. 9 Tong Son 5Năm 1950, Tòng Sơn lên Sài Gòn làm thợ sắp chữ cho một nhà máy in. Những buổi tối buồn và nhớ nhà, Tòng Sơn lại mang kèn ra thổi, lúc đó Tòng Sơn mới phát hiện ra mình có năng khiếu về nhạc cụ này.

Tòng Sơn chính thức bước vào con đường nghệ thuật vào khoảng năm 1956 sau khi ông trúng tuyển trong cuộc thi “Tuyển lựa tài tử” do Đài phát thanh Pháp Á tổ chức. Từ đó tiếng kèn của ông vang xa và ngày càng điêu luyện hơn với các ngón nghề có một không hai. Thế giới nghệ thuật đầy hào hoa, cám dỗ đã quyến rũ Tòng Sơn bước vào. Nơi đó ông nhận được những vinh quang và cả những bạc bẽo đắng cay.

Tuổi già, bệnh liên miên không đi biểu diễn được, lão nghệ sĩ Tòng Sơn phải đối diện với một thực tế phũ phàng, tiền ăn cho mình, tiền thuốc, tiền trọ và nhiều thứ nữa. “Bạn bè, người thân và các nghệ sĩ đồng nghiệp chỉ giúp đỡ một phần nào thôi chứ làm sao lo hết được. Tôi đứng trên sân khấu Trống Đồng biểu diễn cho khán giả đến 25 năm, nhưng đến nay họ cũng cắt mất show này. Tôi sợ một ngày phải cô đơn nằm chết ở một góc phố nào đó”, nghe nghệ sĩ Tòng Sơn tâm sự mà chúng tôi cay mắt.

9 Tong Son 4Câu chuyện của nghệ sĩ Tòng Sơn kể cho chúng tôi nghe thỉnh thoảng phải dừng lại bởi cơn đau đột ngột. Mặt ông nhăn lại nhưng sau đó lại nở một nụ cười rất hiền. Nghệ sĩ Tòng Sơn nói rằng ông từng có một thời “oanh liệt” nhưng điều đó không quan trọng, bởi sứ mệnh của người nghệ sĩ là cống hiến, là con tằm rút ruột nhả tơ. Quy luật muôn đời là vậy, than trách để làm gì. Trong câu chuyện của Tòng Sơn, ông cố tránh né nhắc đến những cuộc tình, những người đàn bà đã từng được ông gọi là vợ. Có lẽ đó là nỗi niềm, là những điều thầm kín mà ông cần được tôn trọng.

Tất cả đã trôi qua, thực tại của ông bây giờ là căn bệnh tim ngày càng trầm trọng. Ông muốn có một chốn bình yên để nương náu khi tuổi đã về già. Tuy nhiên, cái mơ ước tưởng chừng như nhỏ bé ấy lại là quá xa vời với một người nghệ sĩ cả đời cống hiến như ông.

Mở chiếc valy chứa đầy các loại kèn harmonica lớn nhỏ mà ông cả đời sưu tập được, chọn một chiếc, nghệ sĩ Tòng Sơn thổi cho chúng tôi nghe bài Hạnh phúc lang thang.

“Nhưng năm tháng vô tình mà lòng người cũng vô tình / Rồi màu úa thay màu xanh / Người yêu xa bến mộng đò xưa đã sang sông dòng đời trôi mênh mông / Dáng xưa nay xa rồi đường khuya 9 Tong Son 6mưa rơi rơi/ Phố xưa quên một người bàn chân gieo đơn côi / Gió mang theo cơn lạnh về rót lệ trên môi…”.

Căn phòng trọ của ông bỗng trở nên chật hẹp, giai điệu bài hát buồn đến não nùng vượt xa khỏi không gian bé nhỏ ấy rồi lên tận đến trời xanh. Sài Gòn lại mưa, đôi mắt của nghệ sĩ Tòng Sơn ươn ướt.

Lá đơn xin vào Khu dưỡng lão nghệ sĩ của ông bị trả lại vẫn còn nằm im dưới chiếc gối ngủ mỗi đêm, thi thoảng ông đem ra đọc lại rồi ngậm ngùi tự hỏi : “Tôi có phải là một người nghệ sĩ không ?”.

Chương trình Một đời âm nhạc 

Chương trình Một đời âm nhạc – tôn vinh và gây quỹ giúp nghệ sĩ Tòng Sơn diễn ra vào 20 giờ tối thứ bảy 27/8/2016, tại nhà hát The V Show (sân khấu Nam Quang cũ).

Tham gia chương trình có các nghệ sĩ Vân Sơn, Tấn Beo, Chí Tài, Cát Phượng, ca sĩ hải ngoại Ngọc Ánh, Quang Hà, Nguyễn Phi Hùng, Khánh Bình, Khánh Ngọc, Minh Luân, Vỹ Khang, Vi Thảo, Ngọc Hân, Tiến Vinh, Thu Hồng, Lâm Ngọc Huỳnh, Mai Yến Chi, doanh nhân Kim Ánh Ngọc, nhóm Nhật Nguyệt, nhóm V Music New, 9 Tong Son 2Anhóm Ayor, quái kiệt Mai Đình Tới, quái kiệt Nguyễn Thế Vinh, “Người nhiều mặt” Phi Long… (theo Tiểu Vũ) 

– Nghệ sĩ khẩu cầm Tòng Sơn

https://youtu.be/G214tXPAnJ4

– Nghệ sĩ khẩu cầm cuối cùng ở Sài Gòn

https://youtu.be/03FREOqP0G4

– Harmonica huyền thoại – (0:19’)

https://youtu.be/K5l7SoGOqhI

Nghệ sĩ Tòng Sơn : Yêu thương cuộc sống (0:22’)

https://youtu.be/CFgeFFO7Dms

9 Le Uyen Phuong 1CẶP ĐÔI LÊ UYÊN PHƯƠNG 

MỘT THỜI VANG BÓNG

Những năm đầu của thập kỷ 70, Việt Nam bước vào giai đoạn khốc liệt nhất của cuộc chiến tranh. Trong đạn bom và máu lửa, phong trào phản chiến của học sinh, sinh viên diễn ra ngày càng rầm rộ.

Còn nhớ những đêm văn nghệ xuống đường tại Sài Gòn, bên cạnh những ca khúc Da Vàng của Trịnh Công Sơn, sự xuất hiện cặp song ca Lê Uyên – Phương như một hiện tượng, họ đã thổi một luồng gió mới vào nền tân nhạc thời bấy giờ.

Với giai điệu nồng nàn, khắc khoải đôi khi bàng bạc và triết lý, Lê Uyên – Phương đã được giới trẻ đón nhận nồng nhiệt trong những ca khúc nổi tiếng :

Bài ca hạnh ngộ, Còn nắng trên đồi, Dạ khúc cho tình nhân, Lời gọi chân mây, Vũng lầy của chúng ta…

Tuổi thơ

Lê Uyên Phương sinh năm 1941 tại Đà Lạt, là một trong những nhạc sĩ lớn của âm nhạc miền Nam Việt Nam trước 1975. Ông tên thật là Lê Minh Lập. Do giấy tờ bị thất lạc trong chiến tranh, tên của ông bị khai nhầm thành Lê Minh Lộc rồi Lê Văn Lộc. Ông giữ tên Lê Văn Lộc từ đó đến giờ.

Cha của Lê Uyên Phương vốn họ Phan nhưng vì cuộc cách mạng của Phan Bội Châu nên phải đổi thành họ Lê. Mẹ của Lê Uyên Phương là Công Tôn Nữ Phương Nhi, ông lấy chữ Phương trong tên của mẹ làm9 Le Uyen Phuong 2 tên cho mình. Cùng với chữ Uyên, tên người bạn gái đầu tiên, ông ghép thành Lê Uyên Phương.

Bản nhạc đầu tiên “Buồn đến bao giờ” được Lê Uyên Phương viết tại Pleiku vào năm 1960. Tám năm sau đó (1968), Lê Uyên Phương gặp Lâm Phúc Anh ở Đà Lạt, hai người thành hôn.

Họ trở thành đôi tình nhân song ca nổi tiếng. Lâm Phúc Anh không muốn dùng tên thật nên lấy tên là Lê Uyên. Hai người thường xuất hiện song ca trước công chúng nên được gọi Lê Uyên và Phương.

Thật ra, Lê Uyên là người Trung Hoa thuần chủng, sinh 1952 tại phố Hàng Bồ, Hà Nội. Cha chị người gốc Hải Nam, mẹ người Triều Châụ. Năm 1954, Lê Uyên cùng với bố mẹ và người em gái là Lâm Phi Yến từ Hà Nội di cư vào Nam, cư ngụ trong một ngôi nhà rất khang trang ở Chợ Lớn. Đây cũng là nơi đặt văn phòng của một Công ty vận tải chạy đường Qui Nhơn, Huế và Đà Nẵng do thân phụ chị khai thác.

Năm 1969, họ dắt nhau xuống Sài Gòn. Trong những năm đầu cùng nhau đi hát, Lê Uyên và Phương chỉ giới hạn phạm vi hoạt động của mình trong khuôn viên đại học với phong trào Du ca Việt Nam. Với giọng ca thiết tha và trầm ấm, 9 Le Uyen Phuong 3Lê Uyên và Phương đã đem một luồng gió mới đến với khán giả giả Sài Gòn những năm sau đó…

Yêu nhau trong lo âu…

Lê Uyên Phương là một người đa tài. Tuy nhiên, đến 27 tuổi, anh vẫn chưa có “mảnh tình vắt vai”. Lúc bấy giờ, trên thân thể chàng xuất hiện nhiều khối u lạ. Mặc dù bác sĩ chưa định ra chính xác là bệnh gì, nhưng ai cũng nghĩ chàng mắc bệnh ung thư xương, không biết sẽ ra đi vào lúc nào. Chính vì thế, anh không nghĩ đến hôn nhân  để khỏi gây khổ luỵ cho người khác.

Ngày ấy, 16 tuổi, nàng là nữ sinh trung học xinh đẹp và ngây thơ, được cha (một thương gia giàu có) đưa lên Đà Lạt  học tại Virgo Maria, một trường nữ trung học có tiếng thời bấy giờ. Vừa xinh đẹp, vừa giàu có, Lê Uyên được nhiều chàng trai tán tỉnh, ngày đêm thương nhớ.

Như một định mệnh, nàng lại gặp và yêu đắm say Phương, chàng nhạc sĩ mang trong mình căn bệnh hiểm nghèo không biết sẽ ra đi lúc nào. Nàng như con nai hiền, anh như một khu rừng già luôn xòe bóng mát chở che. Lê Uyên Phương hơn Lê Uyên 11 tuổi. Năm ấy, anh đã là một ông thầy giáo dạy Triết và  Nhạc tại một vài trường ở Đà Lạt. Chàng được học violon từ bé và bắt đầu sáng tác nhạc từ năm 20 tuổi, nhưng không ký tên thật là Lê Minh Lộc mà dùng bút danh Lê Uyên Phương.

Lê Uyên đã tâm sự : “Tôi yêu bởi cái tài và con người hiền lành, đạo đức, rộng lượng của anh. Nhưng yêu tha thiết hơn chính là vì căn bệnh hiểm nghèo của anh. 9 Le Uyen Phuong 4Cuộc tình chúng tôi lãng mạn, đau đớn cũng bởi không biết một ngày nào đó cả hai sẽ chia lìa nhau. Chúng tôi yêu nhau nồng nàn và như thành một khối từng ngày, từng giờ cũng bởi cái chết luôn ám ảnh”.

Một nghiệt ngã khác trong cuộc tình định mệnh này là gia đình Lê Uyên không chấp nhận cho con gái đến với một người nay sống, mai chết như Phương. Cha, mẹ Lê Uyên cấm không cho họ gặp mặt nhau mỗi ngày. Trong thời gian về lại Sài Gòn, để được gặp mặt, họ phải ngồi suốt ngày trong nhà ga Sài Gòn. Có khi bụng đói rã rời, chỉ có mẩu bánh mì nhỏ trong bụng, ấy vậy mà họ vẫn không lìa nhau. Họ sống như thế một tháng trời. Những lúc nhớ thương người yêu da diết, anh dành hết cho âm nhạc. Những ca khúc trong tập “Khi loài thú xa nhau” đã ra đời trong hoàn cảnh chia lìa như thế.

Sau này, nhà văn Song Thao có viết về cuộc đời và hoàn cảnh những tác phẩm của Lê Uyên Phương:

“Hồi đó… Nàng quen em gái anh và thỉnh thoảng vẫn lui tới nhà. Lúc đầu nói chuyện thường thường rồi sau anh trở thành “cố vấn” của nàng. Nàng hỏi ý kiến anh đủ thứ chuyện kể cả chuyện yêu đương nhăng nhít”. Họ yêu nhau lúc nào không biết. Tôi hỏi anh ngỏ tình yêu ở đâu. Trên đồi ! Đà Lạt có những ngọn đồi mộng mơ cho những kẻ yêu nhau quấn quít..

Tiếng Lê Uyên và Phương từ chiếc máy cassette quấn lấy nhau vọng ra :

9 Le Uyen Phuong 9“ …Lệ ngập ngừng bờ mi.

Giọt nước mắt lăn nỗi buồn.

Giọt nước mắt xa cách vời vợi trông.

Giờ này còn nhìn nhau.

Nhìn đắm đuối như suối bền.

Nhìn suốt kiếp như chết mòn.

Nhìn hấp hối thương đau.

Ngày mai ta không còn thấy nhau”

(Cho Lần Cuối).

Anh khẽ bảo tôi chính vì bài này mà người ta đồn là anh sắp chết. Bệnh tật của anh đã trở thành huyền thoại. Người ta bảo là anh chỉ còn sống được một năm nữa. Người ta đồn là vào năm 1972 anh sẽ chết. Anh đưa bàn tay trái cho tôi coi. Trên lưng ngón tay trỏ nổi lên một cục bằng trái cà chua nhỏ đỏ au và mòng mọng. Những đường gân máu chạy nổi thấy rõ. “Bác sĩ cũng chưa thể định là bệnh gì.

Bây giờ nó đã nổi thêm trên mấy ngón khác và một vài chỗ trong người. Muốn chữa bây giờ chỉ có thể cắt ngón tay này nhưng tôi chưa muốn cắt”. Anh xác nhận là những bài ca viết về sự chia phôi không phải là do bị ám ảnh bởi cái chết nhìn thấy trước mà do sự rắc rối và xa cách của mối tình đẹp nhất đời anh và khi được hạnh phúc anh luôn luôn sợ ngày nó sẽ hết. Người nghệ sĩ không những sống cho mình mà còn thông cảm được với cuộc sống của những người khác. Anh đã nhìn thấy cái chết và 9 Le Uyen Phuong 5đã nghĩ nhiều về cái chết…”

“Chuyện tình của họ đòi đoạn đớn đau. Gia đình nàng không chấp nhận. Họ mê say trong trốn chạy. Năm 1968, hai người sống ở Sài Gòn. Họ không có một chỗ gặp gỡ nhau. Suốt ngày hai người ngồi trong sân nhà ga Sài Gòn. Thỉnh thoảng họ phải làm bộ ngoắc tay những hành khách ngồi trên xe ca của hãng Hàng không Việt Nam cho ra vẻ ngồi chờ người nhà. Mỗi ngày chỉ có một mẩu bánh mì nhỏ trong bụng.

Họ sống như vậy một tháng trời. Tình yêu của họ được kết hợp bằng những ngày không có nhau. Chính những ngày xa cách nhớ thương là thời gian anh sáng tác nhạc. Những bản nhạc đang dần dần quen thuộc với mọi người được kết tinh trong sự nhớ thương đó nên nặng mang sự chia phôi. Mười hai bài trong tập “Khi Loài Thú Xa Nhau” được viết trong thời kỳ này. Nó không còn mang tình yêu thơ mộng, tình yêu trong trí tưởng, thật xa và thật huyền diệu như mười bài trong tập “Yêu Nhau Khi Còn Thơ” được sáng tác trong thời kỳ trước đó khi chưa gặp Lê Uyên”.

…Đà Lạt hoang sơ quyến rũ đã đưa anh trở về những rung cảm nguyên thủy của buổi hồng hoang. Không có Đà Lạt chắc khó có một thứ nhạc độc đáo Lê Uyên Phương. Mỗi ngày anh thức dậy từ sớm đi lang thang khắp núi đồi Đà Lạt tới khoảng nắng lên thì trở về nhà nghỉ. Khi mặt trời đi ngủ anh lại đi cho tới tối trở về ngồi vào viết tới sáng”.

9 Le Uyen Phuong 6

Ngày mai, ta không còn thấy nhau.

Năm 1979, Lê Uyên và Phương rời khỏi Việt Nam và định cư tại Nam California, Hoa Kỳ. Họ có hai con gái là Lê Uyên Uyên và Lê Uyên My. Sau 15 năm chung sống, khoảng năm 1984 hôn nhân của hai người tan vỡ.

Sau đó, Lê Uyên Phương lâm bệnh nặng. Sau một thời gian điều trị ở bệnh viện UCI (University Of California in Irvine) Lê Uyên Phương đã về nhà người con gái lớn của anh là Lê Uyên Uyên để sống. Đó là những ngày tháng bi thảm với một tình trạng sức khỏe sa sút do căn bệnh ung thư phổi tàn phá.

Cuối cùng, anh lại được đưa lại bệnh viện này để trút hơi thở cuối cùng vào chiều thứ Ba 29/06/1999, hưởng dương 59 tuổi. Ông ra đi trong niềm luyến tiếc của mọi người yêu âm nhạc.9 Le Uyen Phuong 7

Ngày anh ra đi,  Lê Uyên suy sụp và gần như không gượng lại nỗi. Lê Uyên nhớ lại : “Lúc anh mất, tôi đã chuẩn bị thuốc ngủ để theo anh. Tôi khóc từ sáng đến đêm khuya, ngày nào cũng khóc và ngay khi tôi định tìm đến cái chết bởi quá tuyệt vọng thì tôi cảm nhận được có điều gì đó từ anh không muốn tôi như vậy.

Có thể anh đã xui khiến một người bạn gọi đến cho tôi. Tôi còn nhớ rất rõ đó là ngày thứ 50 anh mất. Tôi không ngờ người bạn ấy có thể nói được những lời mà trước đây anh từng nói với tôi : “Nếu như nhạc của anh không có mình (anh không gọi tôi bằng em mà gọi là mình) thì không biết phải làm sao. Mình không thể khóc hoài như vậy, mình phải sống và có bổn phận gìn giữ, đưa âm nhạc của anh thăng hoa”.

Hơn 16 năm trôi qua… Giờ đây, Lê Uyên Phương không còn nữa nhưng tình khúc của ông đã trở thành những viên ngọc quý. Với giai điệu đam mê, đầy luyến tiếc, người ta còn thấy ở Lê Uyên Phương một tấm lòng bao dung và sự chắt chiu cho âm nhạc. 9 Le Uyen Phuong 9Một ngày nào đó, trong góc khuất của đời sống, ngồi nghe lại “Dạ khúc cho tình nhân”:

“…Ngày em thắp sao trời

Chờ trăng gió lên khơi

Mà mưa bão tơi bời

Một ngày mưa bão không rơi

Trên đôi vai thanh xuân

Ướp hôn nồng bên gối đắm sayÁnh sao trời theo gió rụng rơi đầy…”

chúng ta mới thấy hết sự da diết, nồng cháy và ngọt ngào của một tình yêu đã đi xa. (theo Trương Văn Khoa)

– Những ca khúc hay nhất của Lê Uyên Phương (1:49’)

https://youtu.be/V0IKZkMJCow

– Những tình khúc bất tử của Lê Uyên Phương (1:10’)

https://youtu.be/Lh2O97JwE_4

– Tuyển tập những bài hát hay nhất của Lê Uyên Phương (2:10’)

https://youtu.be/7AqSMVj6Ggk

– Tiếng hát Lê Uyên (nhạc Trịnh Công Sơn) (0:27’)

https://youtu.be/7G9UAenAWKM

Lê Uyên là một nữ ca sĩ đã thành danh từ khi còn ở trong nước, với tiếng hát đã gắn liền với những ca khúc của Lê Uyên Phương kể từ cuối thập niên 60. Ra đến hải ngoại tên tuổi của Lê Uyên vẫn giữ được một chỗ đứng cao với một giọng hát mạnh cùng một sự diễn đạt đầy tình cảm. Sau trên 30 năm góp mặt trong làng ca nhạc, 9 Le Uyen Phuong 8tuy rằng hiện nay những hoạt động của chị cũng như những ca sĩ cùng thời khác không còn được mạnh mẽ như xưa, nhưng đối với mọi người thì Lê Uyên vẫn là một khuôn mặt lớn.

List : 1/. Tôi sẽ đi thăm- 2/. Huế Sài Gòn Hà Nội – 3/. Hát trên những xác người – 4/. Ngày dài trên quê hương – 5/. Ca dao mẹ – 6/. Người con gái Việt Nam – 7/. Gia tài của mẹ – 8/. Bài ca dành cho những xác người – 9/. Người về bỗng nhớ – 10/. Hãy nhìn lại

Lan Hương tổng hợp chuyển tiếp