CA SĨ CỦA MỘT THỜI SÀI GÒN

Logo Ca nhac

Tr danh dan 3ĐÁNG NHỚ ĐÁNG YÊU

NHỮNG LÒ ĐÀO TẠO CA SĨ

CỦA MỘT THỜI SÀI GÒN

– Trúc Giang MN

Miền Nam trước năm 1975 là vùng đất màu mỡ, phì nhiêu cho cây tự do đơm hoa kết trái. Văn nghệ và âm nhạc cũng do đó là phát triển với muôn màu, muôn sắc vô cùng rực rỡ. Có thể nói nền tân nhạc Việt Nam nầy là thời kỳ cường thịnh nhất lịch sử. Môi trường văn nghệ mở rộng, là nơi để tuổi trẻ phát triển năng khiếu và tranh đua thi thố tài năng âm nhạc.

Nhạc sĩ nổ lực sáng tác vì được tự do diễn đạt cảm xúc của người nghệ sĩ. Nhưng điều quan quan trọng nhất là người dân miền Nam, đủ ăn đủ mặc, sẵn còn cái tâm trạng để thưởng thức âm nhạc qua các đài phát thanh, phát hình, đại nhạc hội, phòng trà ca nhạc và vũ trường. Các trung tâm băng, dĩa cũng góp phần truyền tải âm nhạc đến quần chúng.10-dao-tao-1 Cuộc sống vật chất tương đối đầy đủ, món ăn tinh thần không thể thiếu. Âm nhạc lên ngôi.

Âm nhạc lớn mạnh kéo theo các lò đào tạo ca sĩ, các lớp nhạc, cung ứng tài năng âm nhạc cho miền Nam. Sau năm 1975 nền âm nhạc đó đã được hồi sinh tại hải ngoại với những trung tâm tổ chức trình diễn và sản xuất băng, dĩa nhạc như Trung Tâm Asia, Thúy Nga Paris, Vân Sơn và nhiều trung tâm khác.

10-dao-tao-2Các lò đào tạo ca sĩ trước 1975

Trước năm 1975 các ca sĩ thành danh xuất thân từ các lò đào tạo, từ các phòng trà ca nhạc, vũ trường, phong trào văn nghệ học đường, phong trào nhạc trẻ, các đoàn văn nghệ của Tổng Cục Chiến Tranh Chánh Trị.

Lò nhạc có nhiều môi trường để lăng xê đệ tử của mình, nổi tiếng nhất là lò Nguyễn Đức, đã đào tạo nhiều ca sĩ thành danh trong làng nhạc Việt Nam. Kế đến còn có các lò nhạc như Tùng Lâm, Duy Khánh, Bảo Thu, Hoàng Thi Thơ, Nguyễn Văn Đông…10-dao-tao-3

Lò nhạc Nguyễn Đức với các ca sĩ tên Phương

Nhạc sĩ Nguyễn Đức đã đào tạo nhiều ca sĩ thành danh nhất trước 1975. Một lô ca sĩ tên Phương gồm Phương Hồng Loan, Phương Hoài Tâm, Phương Hồng Hạnh, Phương Hồng Quế, Phương Hồng Ngọc (tức Cẩm Hồng, vợ kịch sũ Ngọc Đức) là những họ Phương trước 1975 và Phương Diễm Hạnh (1999 ở Canada). Trước đó có Hoàng Oanh, Kim Loan và Thanh Lan, hai danh hài Thanh Hoài và Trần Tỷ. Nguyễn Đức còn đào tạo xướng ngôn viên cho đài phát thanh và truyền hình gồm có Bạch Yến, Xuân Kiều, Phương Hồng Trinh.

Lò nhạc nào cũng có môi trường để lăng xê đệ tử của mình trước công chúng. Nhạc sĩ Nguyễn Đức có hai chương trình trên đài truyền hình và hai chương trình ở đài phát thanh để đánh bóng đệ tử của mình. Đài truyền hình số 9 có Ban Thiếu Nhi Sao Băng với 40 thiếu nhi, và Chương Trình Ban Gia Đình Văn Nghệ Nguyễn Đức. Ở đài phát thanh có Ban Việt Nhi và Ban ABC.

10-dao-tao-4

Hơn nửa thế kỷ đào tạo ca sĩ từ trong nước ra tới hải ngoại, với bàn tay phù thủy nhạc sĩ Nguyễn Đức đã biến những thiếu nhi trong ban Việt Nhi và ban Thiếu Nhi Sao Băng trở thành những ca sĩ nổi tiếng hiện nay. Ra hải ngoại năm 1991, định cư ở Toronto, 10-dao-tao-5Canada. Về Việt Nam nhạc sĩ Nguyễn Đức mất tại Sài Gòn ngày 25/5/2015. Thọ 86 tuổi.

Lò nhạc Tùng Lâm

Liên kết Tùng Lâm, Bảo Thu và Duy Khánh : Lò nhạc Tùng Lâm giới thiệu Trang Thanh Lan, Trang Kim Yến, Trang Mỹ Dung rồi Chế Linh, Giang Tử. Riêng Trang Mỹ Dung là tên do gia đình đặt ra. Quái kiệt Tùng Lâm tuy có môi trường lăng xê ca sĩ là Đại nhạc hội và Ban Tạp Lục trên đài truyền hình, nhưng vì Tùng Lâm mù tịt về việc đào tạo thanh âm nên phải liên 10-dao-tao-6kết với lớp nhạc Bảo Thu và Duy Khánh.

Việc liên kết nầy tạo ra cơn sốt đối với các lò nhạc khác vì có đầy đủ môi trường để mầm non trẻ phát triển tài năng. Tùng Lâm có chương trình đại nhạc hội, Bảo Thu có chương trình truyền hình và lớp nhạc dạy thanh âm và nghệ thuật trình diễn. Chế Linh thuộc lò Tùng Lâm nhưng được Duy Khánh đào tạo thành danh đến ngày hôm nay.

Câu chuyện về Tùng Lâm và Chế Linh : Tác giả Nguyễn Việt kể lại. Sáng chủ nhật đại nhạc hội hôm đó tại rạp Olympic, một anh chàng da ngâm đen, tóc quăn vào tận 10-dao-tao-7bên trong hậu trường gặp ông bầu Tùng Lâm để xin hát. Tùng Lâm quyết liệt từ chối. Thế rồi những chủ nhật sau đó, anh ta không bỏ cuộc. Cuối cùng Tùng Lâm phải chịu thua trước cái lì lợm của anh ta. Cho lên hát thử mà không có tiền “cát sê” (Cachet-Pháp). Được giới thiệu tên Chế Linh, hát một bản của Duy Khánh. Bài hát chấm dứt. Hoàng loạt tiếng vỗ tay nhiệt liệt không ngừng ở hàng ghế khán giả. Những tiếng hét bis, bis.

Sau đó mới biết khán giả đó là những người đồng hương họ Chế mà Chế Linh mua vé cho họ vào xem và chờ đúng cái dịp ngày hôm đó để vỗ tay, hô bis!, bis!. Tuy Chế Linh thuộc lò Tùng Lâm nhưng ông bầu đại nhạc hội nầy không biết về thanh âm nên mới liên kết với Duy Khánh, Bảo Thu để rèn luyện ca sĩ.

Những ca sĩ thành danh từ các phòng trà, vũ trường

– Nở rộ phòng trà ca nhạc và vũ trường : Năm 1963 phòng trà ca nhạc nở rộ ở Sài Gòn. Chỉ riêng quận 1 đã có mấy chục phòng trà và vũ trường: Maxim’s, Tự Do, Queen Bee, Đêm Màu Hồng, Orchalet, Rex, Continental, Jo Marcel, Thanh Thế, Kim Sơn, Olympia, Văn Cảnh, Tháp ngà, Ritz, Baccara, Macabane, Anh Vũ, Mỹ Phụng, Bồng Lai, Melody,…Khách đến đó vừa nghe nhạc vừa khiêu vũ.

10-dao-tao-8

– Những ca sĩ nổi bật của phòng trà và vũ trường : Đó là thời điểm của Lệ Thu, Elvis Phương, Nhật Trường, Thanh Lan, Carol Kim, Ngọc Minh, Lan Ngọc, Hồng Vân, Connie Kim, Cathy Huệ, Julie Quang… Phòng trà Anh Vũ ra đời khoảng năm 1957 ở đường Bùi Viện. Lớp ca sĩ đầu tiên được biết đến như danh ca Duy Khánh, Việt Ấn, Nhật Thiên Lan, Lệ Thanh, Thanh Thúy, Minh Hiếu. 9 Minh Hieu 1Ca sĩ Việt Ấn để lại trong lòng khán giả với bản Hận Đồ Bàn làm say mê người nghe.

Cũng tại Anh Vũ, nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 lần đầu tiên đệm dương cầm cho Thanh Thúy hát bài Ướt Mi của Trịnh Công Sơn. Dấu ấn sâu đậm còn in lại trong lòng công chúng là hàng đêm Thái Thanh và ban hợp ca Thăng Long (Hoài Trung, Hoài Bắc) được đánh giá là “Tiếng hát vượt thời gian”.

Thời đó, ca sĩ Sài Gòn được chia làm hai nhóm : một nhóm chuyên hát phòng trà và vũ trường, nhóm kia thường xuất hiện trong các đại nhạc hội hoặc trong những chương trình lưu diễn các tỉnh như : Túy Phượng, Hùng Cường & Mai Lệ Huyền, Chế Linh, Thanh Tuyền, Giao Linh, Phương Hồng Quế…

10-dao-tao-13Trong tất cả các ca sĩ, Thái Thanh luôn được gọi là con chim đầu đàn, “Tiếng Hát Vượt Thời Gian”.

Những lớp nhạc đào tạo ca sĩ

– Lớp nhạc Nguyễn Văn Đông : Năm 1963, Nguyễn Văn Đông là Trưởng Ban Tiếng Thời Gian của đài phát thanh Sài Gòn. Ban nhạc gồm có: Lệ Thanh, Khánh Ngọc, Trần Văn Trạch, Minh Diệu, Mạnh Phát, Thu Hồ, Anh Ngọc…

Thành lập hãng dĩa Continental và Sơn Ca. Năm 1960, Nguyễn Văn 10-dao-tao-9Đông và người bạn tên Huỳnh Văn Tứ, một doanh nhân có tiếng ở Sài Gòn, thành lập hãng dĩa chú trọng về tân nhạc và sân khấu cải lương. Sản xuất những album riêng cho từng cá nhân. Lệ Thu Sơn Ca 9. Thái Thanh và Ban Thăng Long với tên Sơn Ca 10. Tiếp theo là những dĩa Hà Thanh, Phương Dung, Thanh Tuyền, Giao Linh…

Nguyễn Văn Đông thu nhận Giao Linh, Thanh Tuyền và Sơn Tuyền (em Thanh Tuyền) làm học trò. Giao Linh nổi tiếng là “Nữ Hoàng Sầu Mộng”. Thanh Tuyền là “Nữ Hoàng Bolero”.

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông sáng tác những ca khúc nổi tiếng như: Chiều Mưa Biên Giới, Sắc Hoa Màu Nhớ, Tình Khúc Hàng Hàng Lớp Lớp, Mấy Dặm Sơn Khê, Lá Thư 10-dao-tao-10Người Lính Chiến, Phiên Gác Đêm Xuân, Anh Trước Tôi Sau, Lời Giả Biệt…

Nguyễn Văn Đông mang cấp bậc đại tá phục vụ tại Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH. Bị tù cải tạo 10 năm. Đủ điều kiện để được thu nhận vào chương trình HO nhưng vì sức khỏe quá yếu do nhiều chứng bịnh, nên ở lại Sài Gòn chờ… thế nhưng vẫn còn sống đến hiện nay.

Những lớp nhạc Hoàng Thi Thơ, Bảo Thu và Duy Khánh

– Lớp nhạc Hoàng Thi Thơ : Hoàng Thi Thơ đào tạo ba ca sĩ nổi tiếng là Sơn Ca, Họa Mi và Bùi Thiện.

Sáng tác trên 500 bản nhạc về quê hương, dân ca nổi tiếng nhất là những bản: Chuyện Tình La Lan, Nổi Buồn Châu Pha, Chuyện Tình Người Trinh Nữ Tên Thi, Rước Tình Về Quê Hương, Tà Áo Cưới, Đường Xưa Lối Cũ, Trăng Rụng Xuống Cầu, Gạo Trắng Trăng Thanh, 10-dao-tao-11Đám Cưới Trên Đường Quê, Duyên Quê, Ta Với Mình…

Năm 1957, Hoàng Thi Thơ tổ chức nhiều đại nhạc hội ở rạp Thống Nhất Năm 1961, thành lập Đoàn Văn Nghệ Việt Nam với hơn 100 nghệ sĩ có tên tuổi đi lưu diễn qua nhiều quốc gia Châu Á và nhiều thành phố lớn như : Vạn Tượng, Hồng Kong, Đài Bắc, Tokyo,  Bangkok, Singapore, Sénégal, Paris, London, và nhiều nơi ở Hoa Kỳ.

Năm 1967, thành lập Đoàn Văn Nghệ Maxim gồm 70 diễn viên ca-vũ-nhạc-kịch tại nhà hàng Maxim’s.

– Lớp nhạc Duy Khánh : Duy Khánh tên thật là Nguyễn Văn Diệp sinh năm 1936 tại Quảng Trị. Là ca sĩ có giọng ca đặc biệt. Khi ở chung cư đường Trần Hưng Đạo, Duy Khánh mở lớp dạy thanh nhạc cho học trò 12, 13 tuổi. Duy Khánh hướng dẫn Chế Linh, Lâm Gia Minh, Trường Vũ trở thành những ca sĩ chuyên nghiệp.

Bản nhạc tiêu biểu của Duy Khánh là những bài: Xuân Nầy Con Không Về, Ai Ra Xứ Huế, Xin Anh Giữ Trọn Tình Quê, và 40 bài hát: Thương Về Miền Trung, Bao Giờ Em Quên, Biết Trả Lời Sao, Đêm Bơ Vơ, NS Bao Thu 4Lối Về Đất Mẹ, Sao Không Thấy Anh Về, Sầu Cố Đô, Thư Về Em Gái Thành Đô… Duy Khánh mất ngày 12-2-2003 tại Quận Cam, Cali.

– Lớp nhạc Bảo Thu : Bảo Thu tên thật là Nguyễn Trung Khuyến (cũng là tên khi biêu diễn và dạy ảo thuật), sinh ngày 19/12/1944 tại Sài Gòn. Hai học trò nổi bật nhất là Thanh Tâm (vợ ông) và Thanh Mai. Ông sáng tác trên 50 bản nhạc như : Giọng Ca Dĩ Vãng, Cho Tôi Được Một Lần, Đừng Hỏi Vì Sao Tôi Buồn, Nếu Xuân Nầy Vắng Anh, Hoa Tình Thương, Em Đâu Rồi…

Bảo Thu còn là ảo thuật gia danh hiệu Nguyễn Khuyến, có bằng Tiến Sĩ Ảo Thuật do Hiệp Hội Ảo Thuật Quốc Tế trao tặng. Màn đặc biệt là hóa con thỏ thành chim bồ câu…

– Những biệt danh của các ca sĩ : “Nữ Hoàng Sầu Mộng” với Giao Linh. “Nữ Hoàng Bolero” Thanh Tuyền. “Tiếng Hát Khói Sương”, “Tiếng Hát Liêu Trai”, “Tiếng Hát Lúc Không Giờ” của Thanh Thúy. “Giọng Ca Tủ Lạnh” của Mai Lệ Huyền. Còn có biệt danh là “Cúc Lủi” vì khi hát cứ lủi ra phía trước. Tên thật của Mai Lệ Huyền là Nguyễn Thu Cúc, sinh năm 1946 tại Lào. Cô mang hai dòng máu Việt Lào. Lớn lên ở Bình Long.

10-dao-tao-12

Với giọng khàn khàn nhún nhẩy trong các bản nhạc Twist, Agogo gây không khí náo nhiệt mỗi khi cặp Hùng Cường & Mai Lệ Huyền đứng trên sân khấu.

Nhóm nhạc sĩ Trịnh Lâm Ngân (Trần Trịnh, Lâm Đệ, Nhật Ngân) sáng tác một loạt các bản nhạc kích động cho cặp đôi nầy. Các bản như : Gặp Nhau Trên Phố, Vòng Hoa Yêu Thương, Hai Trái Tim Vàng, Mắt Xanh Con Gái, Làm Quen Với Lính.

Các nhạc sĩ khác gồm Khánh Băng, Y Vân, Hoàng Thi Thơ, Tuấn Lê, Giao Tiên,cũng viết riêng cho Mai Lệ Huyền & Hùng Cường những ca khúc : Say, Lính Dù lên điểm, Người Lính Chung Tình, Ghét Anh Lắm, Thiên Duyên Tiền Định, Túp Lều Lý Tưởng, Xây Nhà Bên Suối, Hờn Anh Giận Em

– Mối tình đơn phương mang xuống tuyền đài chưa tan : Chàng nhạc sĩ ở tuổi ba mươi, NS Truc Phuong 3dang dở mối tình đầu với cô học trò con nhà giàu có, Trúc Phương đã rời Trà Vinh lên thủ đô Sài Gòn. Một lần nữa, hình ảnh của ca sĩ Thanh Thúy đã dẫm lên con tim đau khổ của chàng nhạc sĩ đam mê sáng tác. Thanh Thúy nổi danh, được yêu thích qua những ca khúc của Trúc Phương.

Tâm trạng, nổi lòng của người mang tình yêu đơn phương vẫn còn vang vọng qua những bản nhạc: Chuyện Chúng Mình, Hai Lối Mộng, Ai Cho Tôi Tình Yêu, Chiều Cuối Tuần, Buồn Trong Kỷ Niệm, Bóng Nhỏ Đường Chiều, Tàu Đêm Năm Cũ, Hình Bóng Cũ.

Với Trúc Phương, duyên nợ bẽ bàng nhưng mối giao cảm vẫn còn cao đẹp. Hình ảnh Thanh Thúy vẫn trọn vẹn trong tim Trúc Phương. Tiếng hát Thanh Thúy chơi vơi trên đỉnh non cao, trái tim rướm máu của Trúc Phương đi dần xuống vực thẳm. Trúc Phương từ trần ngày 18-9-1995.

Được tin Trúc Phương vĩnh biệt trần gian, Thanh Thúy viết : – “Anh Trúc Phương, một ngôi sao sáng của vòm trời âm nhạc Việt Nam vừa vụt tắt. Tin anh qua đời đến với tôi quá đột ngột. Tôi đã bàng hoàng xúc động với sự mất mát lớn lao nầy. ACS Thanh Thuy 1nh và tôi không hẹn nhưng đã gặp nhau trên con đường sống cho kiếp tằm. Anh trút tâm sự qua cung đàn, còn tôi qua tiếng hát. Trong khoảng thập niên 60, tên tuổi anh và tôi gắn liền nhau: nhạc Trúc Phương, tiếng hát Thanh Thúy…

“Đường đời đã chia đôi chúng tôi ra hai ngã, hai hướng đi. Tôi đã giã từ sân khấu, giã từ lời ca tiếng nhạc, theo chồng đi đến những phương trời xa. Còn anh vào quân ngũ và tiếp tục hăng say sáng tác, hầu hết những nhạc phẩm đều nói về cuộc đời người lính phong sương, xa nhà, xa thành phố, xa người em nhỏ hậu phương…

“Rồi lại thêm một lần cuộc đời lại chia đôi chúng tôi đôi ngã : Anh kẹt lại quê nhà, tôi sống đời lưu vong…” (TGNS, tháng 2-1996).

Nhận xét về Thanh Thúy, nhà văn Hồ Trường An viết: “Thanh Thúy là nghệ sĩ có tư cách, có phẩm hạnh. Cô không gây ngộ nhận nào cho nhóm ký giả ưa săn tin giật gân… Trong hàng ngũ các nữ ca sĩ nổi tiếng thuở xa xưa thì Thanh Thúy, Lệ Thanh và Hoàng Oanh là nhu mì, khiêm tốn, ngoan hiền. Ở chót vót đỉnh danh vọng mà Thanh Thúy không hề nói một lời kiêu căng hay một lời làm thương tổn tha nhân, không hề bôi bẩn kẻ vắng mặt, 10-dao-tao-14không khoe khoang thành tích của mình khi tiếp xúc với báo chí”. Nhìn lại cuộc đời nghệ sĩ, Thanh Thúy được ái mộ từ nghệ thuật đến nhân cách.

Kết luận

Âm nhạc Miền Nam đã có một thời phồn thịnh. Phát triển nhanh. Sở thích của quần chúng khiến cho âm nhạc trở nên đa dạng, mang nhiều màu sắc riêng biệt cho tầng lớp khán thính giả khác nhau. “Lò nhạc” “sản xuất” ca sĩ nổi tiếng nhất là lò Nguyễn Đức với các ca sĩ tên Phương đã thành danh. Các trung tâm sản xuất băng, dĩa nhạc cũng đã góp phần phổ biến âm nhạc đến quảng đại quần chúng. (theo Trúc Giang – Minnesota 6-2-2017)

Đón xem : cùng một bài viết của Trúc Giang : nói về Thanh Thúy & Thanh Lan

Nguyễn Toàn chuyển tiếp

Logo Van nghe

truc-thanh-tamthơ Trúc Thanh Tâm

CƠN MƯA ĐỜI PHÔI PHAI

Về ngang trường đại học

Vời vợi mắt buồn xưa

Tóc em dài còn để

Lợp bờ vai, nắng thưa!

Hàng cây xanh kỷ niệm

Tr thuy macNgười cũ đã xa trường

Mười năm, anh trôi nổi

Mười năm, em nhớ thương!

Con đường dài hun hút

Quán cà phê ngày nào

Cô bé mười năm cũ

Giờ đã biết yêu nhau!

Mười năm, anh có lẽ

Hạnh phúc cũng no long

thieu-nu-2Mười năm, em biết khổ

Tình đầu sông, cuối sông!

Xa nhau mười năm đó

Những bão giông cuộc đời

Những đam mê, nông nổi

Nên tình là gương soi!

Biết còn gì để nói

Cho cuộc tình đôi ta

Những ngày xưa hờn dỗi

Những bây giờ xót xa!

Mười năm dài vô tận

thieu-nu-1Anh treo hoài ước mơ

Mười năm, em chờ đợi

Cùng nhau chung chuyến đò!

Về ngang trường đại học

Anh thấy buồn hơn xưa

Mỗi người đi mỗi ngã

Cuộc đời và cơn mưa!

Ôi, mười năm để nhớ

mua-thu-1Hay mười năm để quên

Làm người đâu phải dễ

Dù rằng còn con tim !

Hãy bay đi nỗi nhớ

Trong phấn son cuộc đời

Thương một màu mắt cũ

Cơn mưa đời phôi pha i!

Trúc Thanh Tâm (Châu Đốc)

LUẬN VỀ SÁCH TRUYỆN MA

Logo Van nghe

9 Truyen ma 3LUẬN VỀ SÁCH

TRUYỆN MA KINH DỊ

Bài Lan Hương

Mấy năm về trước, báo chí xuất bản ở Sài Gòn hay nhắc đến loạt truyện kinh dị, đa số đều lên án, bởi mấy người viết phê bình này cho rằng truyện ma “mang tính giật gân để câu khách” hoặc “chuyện ma kinh dị nhảm nhí” ?!

Trong khi đó không nói đến nội dung của hàng loạt cuốn phim nhựa, phim truyền hình nhiều tập chiếu trên tivi hằng ngày, sản xuất từ trong nước và nước ngoài, còn kinh dị, nhảm nhí gấp bội phần (vì hình ảnh sống động hơn chữ viết), như thế có công bằng không ? Và như nhà văn Nguyễn Việt tâm sự : hiện nay nhiều phim bộ truyền hình, phim nhựa, kịch trên sân khấu đã trước tác các tác phẩm truyện ma ấy, nếu không nói đã “đạo văn”, để khỏi trả tiền tác quyền. Đa số truyện ma bị trước tác đều dựa vào các tác phẩm của Nguyễn Lê Quan và Người Khăn Trắng (tức của 2 tác giả Nguyễn Việt và nhà văn Thượng Hồng vừa mới qua đời)

Theo người viết bài này được biết, đây thuộc hành động “ném đá giấu tay” của các nhà sách “không có đầu sách”,9 Truyen ma 4 mướn người viết để “hạ bệ” lẫn nhau theo kiểu “trâu cột ghét trâu ăn”.

Những người viết truyện ma

Bởi nhìn vào “lịch sử” những người viết truyện ma hiện giờ chỉ đếm trên đầu ngón tay, mà mỗi người viết ấy đã có “sân riêng”. Chúng ta hãy nghe lời tâm sự của nhà văn, nhà báo Nguyễn Việt như sau :

“…Trong thời gian từ năm1965 đến năm 1968, nhà văn nhà báo Nguyễn Việt còn viết sách và trông coi kỹ thuật ấn loát cho hai ông “trùm làm sách lá cải” là ông Bạch Vân (Nguyễn Văn An) và ông Bê (Nguyễn Văn Bê), bằng các cuốn truyện bằng tranh do họa sĩ Nguyễn Thọ và Trường Tồn (nay đã đổi tên họa sĩ Nguyễn Tài và Chinh Phong) vẽ qua các tựa liên hoàn như Con quỷ truyền kiếp, Lão tướng số, Cuộc đời của bé Phước, Con quỷ một giò v.v… và viết tiểu thuyết ma thường dày hơn 100 trang khổ 14 x 20cm ký dưới bút hiệu ký chung là Người Khăn Trắng, Khách Giang Hồ, gồm các người viết “ruột” như Nguyễn Việt, Hoàng Phương Hùng (Thượng Hồng), An Dạ Thảo, Vương Mộng Linh, Thể Hà Vân cùng một số tác giả vãng lai khác.

“Bây giờ vào những năm từ 2007 trở về sau, loại truyện ma kinh dị bắt đầu xuất hiện trở lại trên các nhà sách, chỉ còn hai nhà văn nhà báo là Nguyễn Việt và Hoàng Phương Hùng (đã đổi tên Thượng Hồng) viết. 9 Truyen ma 5Về sau có thêm vài tác giả khác. Nhà văn Thượng Hồng ưu tiên giữ bút hiệu Người Khăn Trắng, còn nhà văn Nguyễn Việt ký với Nguyễn Lê Quan hoặc Khách Giang Hồ….”

Nên truyện ma kinh dị đã xuất hiện trên 40 năm qua tại Sài Gòn. Và như đã nói những người viết truyện ma đều tự nhận các sáng tác của mình thuộc vào hàng sách “lá cải” do những ông trùm “sách lá cải” đặt hàng. Bởi khi muốn kinh doanh vào ngành hàng nào, người đầu tư phải tìm hiểu thị trường mới mong có lợi nhuận.

Những người đầu tư vào truyện ma khi xưa là ông Bê và Bạch Vân như đã nói, họ đã thành công từ truyện tranh cho đến tiểu thuyết; những người về sau thuộc hàng đại gia giàu tiền và có đủ phương tiện nằm trong Tổng Phát Hành Sách Báo thời bấy giờ là Đồng Nai, Nam Cường, Nguồn Sống muốn chen chân cũng không có người viết, hoặc có cũng không thể để tên Người Khăn Trắng hay Khách Giang Hồ, vì đã trở thành ”thương hiệu độc quyền” của mấy ông trùm sách lá cải này.

Sách văn học ?

Chúng ta hãy đọc một vài đoạn mà các báo ở Sài Gòn vừa lên tiếng “phê bình” loại truyện ma, kinh dị nói trên :

“Loại sách này xuất hiện trên thị trường khoảng năm 2007, ban đầu chỉ có NXB Thanh Hóa xuất bản với khoảng trên 20 đầu sách dưới chủ đề truyện kinh dị chọn lọc, tuyển tập “ma nữ đa tình”. Thấy loại sách này “hốt bạc”, có ít nhất ba NXB :9 Truyen ma 2 NXB Lao Động, NXB Thanh Niên và NXB Đà Nẵng đã nhảy vào, chen chân với  số lượng lên đến hàng trăm tựa, núp dưới danh nghĩa sách văn học. (lời người viết : chưa tác giả nào dám tự nhận loại sách này thuộc sách văn học !)

“Xem qua đề dẫn của những quyển sách này thì rất “nhẹ nhàng”: những truyện (ma, kinh dị) trong quyển sách này là do quá trình sưu tầm, hay “đó là những câu chuyện hoàn toàn hư cấu… với mục đích mong mọi người sống thiện, sống đúng đạo lý, đừng bao giờ hại đến ai”.

“Có NXB còn ngụy biện “không có chủ trương tuyên truyền mê tín dị đoan. Đây là tác phẩm văn học hư cấu trong không gian huyền ảo với mục đích mang đến cho bạn đọc giá trị nghệ thuật cũng như giá trị giáo dục”… Tuy nhiên, nếu những ai từng đọc qua những quyển sách này có thể sẽ bị ám ảnh bởi những câu chuyện quỷ nhập, đi đêm gặp ma, xác chết không đầu  và những trò mê tín dị đoan như gọi hồn, làm phép, yểm bùa trừ ma quỷ… Để câu khách hơn, trong một số truyện còn khai thác  cả chuyện phòng the, chuyện dung tục… trái thuần phong mỹ tục. ..”

Không biết người viết phê bình này đúng hay sai, có thể vì một vài người viết mới gia nhập vào làng viết sách truyện ma, đã quá tay khi diễn tả chuyện phòng the cho thêm phần gây cấn giật gân để câu khách, trái với lối dựng truyện của hai tác giả kỳ cựu là Người Khăn Trắng và Khách Giang Hồ khi xưa và bây giờ. Mặc dù cũng có những đoạn ái tình nhục dục cho câu chuyện thêm phần linh động, cuốn hút người đọc nhưng chưa bao giờ họ viết trái thuần phong mỹ tục, bởi họ là những người viết chuyên nghiệp, cũng từng là người biên tập trong ngành sách báo.

Tr Ma 3Có nhảm nhí không ?

Chúng ta hãy đọc một vài lời dẫn truyện sau đây của Khách Giang Hồ và Người Khăn Trắng, nhằm đánh giá truyện ma được viết như thế nào :

Trong chúng ta có lẽ ai cũng đã nghe qua hoặc xem sách báo phim ảnh, nói về các loài ma quỷ thường xuất hiện đi phá quấy hay xâm hại đến tâm linh con người. Nhất là trong thời đại văn minh, màn ảnh và truyền hình thường quảng bá những bộ phim kinh dị nói về các loài ma quỷ một cách kinh dị gớm ghiết.

“Thật sự trên thế gian này có ma quỷ hay không ?

“Ở phương Tây, đa số người biết đến ma quỷ là loài ma cà rồng, thứ ác quỷ hữu hình có răng nanh chuyên đi hút máu, sống trà trộn cùng loài người. Nhưng trong thực tế ma cà rồng hoàn toàn không có thật, nó chỉ là truyền thuyết sau trở thành huyền thoại, bởi sự hư cấu của các nhà văn châu Âu từ đầu thế kỷ 19 trở lại đây.

“Còn trong thế giới tâm linh phương Đông, không ai nói đến ma cà rồng, thứ ác quỷ hữu hình nói trên; mà chỉ nhắc đến những loài ma quỷ vốn vô hình vô sắc, thường xâm nhập vào phần xác con người rồi dùng linh hồn ma quỷ để chi phối con người đi thực hiện những chuyện tàn bạo ác nhân thất đức. Hay rùng rợn hơn khi nói đến quỷ nhập tràng, ma sói, tương tự như loài ma cà rồng nơi phương Tây vừa nói mà thôi.

“Nhưng dù là ma hay quỷ, hữu hình hay vô hình, nhưng chưa ai đã thấy được hình dáng của ma quỷ, nếu có là chỉ do óc tưởng tượng mà hình thành trong tâm trí mọi người. Nên có người cho rằng, ma quỷ xuất hiện chỉ do ảo giác sinh ra ảo ảnh, hay dùng triết lý để nói “người cũng là ma, ma cũng là người”, vì cái tâm của người khi không tốt9 Truyen ma 1 là chính linh hồn của loài ma quỷ đang dựa vào phần xác để thực hiện những thứ tội ác mà “trời không dung, đất không tha” kia thôi.

“Mà tại sao lại có hiện tượng ma báo oán?

“Nếu bạn đã xem bộ phim “Oan hồn” chiếu trên màn ảnh nhỏ, kể về một thanh niên bị giết oan ức, vì thế linh hồn anh ta không thể siêu thoát, phải trả xong mối thù tức phải báo oán, đồng thời làm thêm điều thiện, cuối cùng linh hồn của anh cũng đã được giải thoát lên cõi vĩnh hằng.

“Cuốn phim trên rất tương hợp với cuộc đời thường, do nội dung và hình ảnh đã diễn đạt đến hiện tượng : ma luôn ở cạnh mọi người, nhưng người lại không bao giờ thấy được ma hoặc chỉ có những nhà ngoại cảm, người sống trong thế giới tâm linh mới thấy ma luôn xuất hiện xung quanh chúng ta. Vì thế, nếu không có thù sẽ không có oán để hồn ma đến trả hận.

“Cho nên, nếu chúng ta không tham sân si thì không bao giờ phải gặp ma, dù chỉ do ảo giác, ảo ảnh từ tâm linh sinh ra những tưởng tượng đến mê tín”.

Hay một đoạn giới thiệu sách sau đây :

“Từ cổ thiên kim, trên cõi dương gian có biết bao nhiêu câu chuyện được thêu dệt mờ ảo về cõi âm. Cõi huyền bí, hư hư, ảo ảo ấy cho đến nay cũng là những câu chuyện từ Tr Blogger 2cõi người mà ra.

“Bởi vậy, hầu như những chuyện ma quái lưu truyền trong dân gian, hay viết thành sách nỗi tiếng như “Liêu trai chí di” (Trung Quốc), “Truyền kỳ mạn lục” (Việt Nam) và nhiều cuốn sách khác đều như thể là hiện thân phía âm bản của thế giới con người. Cuộc đấu tranh giữa cái ác và cái thiện, cái thấp hèn và cái cao thượng, những khát vọng công lý với lẽ sống công bằng, mơ ước về một cuộc sống hạnh phúc… đều là những chủ đề lớn trong những câu chuyện kinh dị ấy. Do đó, sau những lớp áo khói sương vô hình mang màu sắc tâm linh lại chính là những điều gần gủi, thiết cốt với con người.

“Những tập truyện mà của tác giả Người Khăn Trắng cũng không ngoài những chủ đề này. Từ những câu chuyện lưu truyền đâu đó trong dân gian, tác giả Người Khăn Trắng bằng hư cấu văn học đã xây dựng những câu chuyện ma không chỉ “đọc chơi cho vui” mà còn mang ý nghĩa nhân văn khá sâu sắc, cùng những bài học khá thấm thía về lẽ sống, về cách làm người…

“Trong một số tập tác giả đã thể hiện rõ tính đấu tranh giai cấp. Những kẻ gieo rắc cái ác, thường là bọn cường hào ác bá, sau khi thoả mãn nhục dục, đã giết hại các cô thiếu nữ trong trắng rủ bỏ trách nhiệm. Hồn ma các nàng hiên về trả thù. Đó cũng là khát vọng của nhân dân, trong khi chưa được pháp luật trừng phạt thì hãy dùng phép mầu của tâm linh trừng trị bọn chúng…”4 Tinh nhan

Lan Hương

CÒN GẶP NHAU…  

Còn gặp nhau thì hãy cứ vui 

Chuyện đời như nước chảy hoa trôi, 

Lợi danh như bóng mây chìm nổi 

Chỉ có tình thương để lại đời. 

HNC 3-1 hop mat 1Còn gặp nhau thì hãy cứ thương 

Tình người muôn thuở vẫn còn vương, 

Chắt chiu một chút tình thương ấy 

Gửi khắp muôn phương vạn nẻo đường.

Còn gặp nhau thì hãy cứ chơi 

Bao nhiêu thú vị ở trên đời, 

Vui chơi trong ý tình cao nhã 

Cuộc sống càng thêm nét tuyệt vời. 

DSC_3967Còn gặp nhau thì hãy cứ cười 

Cho tình thêm thắm, ý thêm tươi 

Cho hương thêm ngát, đời thêm vị 

Cho đẹp lòng tất cả mọi người. 

Còn gặp nhau thì hãy cứ chào 

Giữa miền đất rộng với trời cao, 

DSC_3969Vui câu nhân nghĩa, tròn sau trước 

Lấy chữ chân tình gửi tặng nhau. 

Còn gặp nhau thì hãy cứ say 

Say tình, say nghĩa bấy lâu nay 

Say thơ, say nhạc, say bè bạn 

Quên cả không gian lẫn tháng ngày. 

HNC Ky niem 1Còn gặp nhau thì hãy cứ đi 

Đi tìm chân lý – lẽ huyền vi 

An nhiên tự tại – lòng thanh thản 

Đời sống tâm linh thật diệu kỳ.  

Khi vui luôn có nhau trong tình tri kỷ. Lúc buồn cũng có nhau trong tình tương ái tương thân, nói với nhau những lời yêu thương dịu ngọt, cho nhau những nụ cười, những niềm vui, những ngọt bùi, để khi theo quy luật tự nhiên, luật vô thường, mọi vật đều có thể mất đi, thì “chỉ có Tình Thương để lại đời !”. ..  (Trích từ GS TS Trần Văn Khê)

Lan Hương chuyển tiếp

Logo khoi hai

8 benh no 2BỆNH NỔ :

KHI NGƯỜI TRẺ… “NỔ”

“Nổ” chơi cho vui (hay còn gọi là “chém gió”, “quăng bom”…) đang trở thành một thói quen phổ biến ở một bộ phận bạn trẻ hiện nay. Hầu hết đều cho rằng đây là thú vui vô thưởng vô phạt và không có gì đáng lo ngại.

“Ngồi trò chuyện với nhau mà không có màn “chém gió” thì đời còn gì vui. “Nổ” ở người trẻ giống như ăn cơm phải có hoa quả đi kèm ấy mà” – Hoàng Hiệp (24 tuổi, chuyên viên ngân hàng) phẩy tay, ví von.

“Bom tấn” loại nào cũng có

“Nhỏ Xuân là hoa khôi trường VL, vậy chứ đẹp trai con bà hai như tui cưa là đảm bảo “đổ” à nghen”, 8 benh no 1“Chán ghê, tối qua đi shopping lỡ hứng tay cà thẻ đi tong mấy chục triệu”… – đó là những câu “chém gió” mà bạn bè của Q.Phong (22 tuổi, Q.1) thường nghe anh nói mỗi khi mọi người có dịp hàn huyên cùng nhau.

Đối với bạn bè thân, những câu nói trên của Q.Phong thường giúp không khí buổi gặp mặt thêm sôi nổi, gần gũi. Một số khác cho rằng ở một chừng mực nào đó, điều này cũng tạo nên nét duyên ngầm ở anh chàng. Ý thức được điều đó, Q.Phong ngày càng tự tin và lạm dụng khả năng này.

“Lương mấy công ty đó “bèo” quá nên tui chẳng dại đầu quân vào. Tui đang cân nhắc lời mời từ một số công ty khác”, “Mấy cái này dễ òm, tui làm một buổi là đảm bảo đâu vào đấy ngay”… – M.Hùng (25 tuổi, tốt nghiệp ngành thiết kế web) lại có thói quen tự “đánh bóng” bản thân trước bạn bè cũ. M.Hùng cũng từng khiến nhiều đồng nghiệp ganh tị vì anh sở hữu album hình chụp chung với rất nhiều ca sĩ, 8 benh no Adiễn viên nổi tiếng… kèm theo lời khẳng định chắc nịch: “Mấy người đó đều là họ hàng của tui hết !”.

Thời học đại học, Bùi Ly (25 tuổi, quê Bình Dương) từng khiến nhiều bạn bè kinh ngạc với lối ăn diện ngất trời, xài tiền hệt như tiểu thư con nhà giàu. Ly thường tự hào khoe gia đình làm nghề kinh doanh và hạnh phúc khi được gắn mác “nữ hoàng hàng hiệu”, “cô gái sexy”…

Mọi chuyện chỉ vỡ lỡ khi cha mẹ của Bùi Ly áo sờn vai, từ dưới quê đột ngột xuất hiện tại lễ tốt nghiệp của con gái (dù cô cố giấu tiệt người thân thông tin về ngày trọng đại này). Danh hiệu “nữ hoàng hàng hiệu” sau đó trở thành “nữ hoàng quăng bom”, một số bạn bè thậm chí cười khẩy: “Chắc là nó được “đại gia” nuôi !”.

“Nổ” quá sẽ có sát thương !

Tiếng xấu về chuyện “quăng bom” theo Bùi Ly từ lúc tốt nghiệp đến tận khi cô đã trở thành một nhân viên mẫn cán. Bùi Ly hiện luôn phiền muộn về lỗi lầm của quá khứ, bởi “Thời đó do quen “nổ” về bản thân nên tôi chẳng dám kết thân với ai. Chỉ được sống trong vỏ bọc hào nhoáng thời gian ngắn mà giờ nỗi dằn vặt cứ kéo dài mãi” – 8 benh no 3Bùi Ly rầu rĩ nói.

Tương tự, M.Hùng cũng nhanh chóng trở thành “siêu anh hùng chém gió” trong mắt người thân. “Lúc trước cứ ngỡ nói chơi cho vui chẳng có hậu quả nghiêm trọng gì, vậy mà…” – M.Hùng nhớ lại những lần bẽ mặt vì bị bạn bè vạch mặt do “nổ”. Năng lực ở mức trung bình khá nên M.Hùng phải rất vất vả để kiếm được những cơ hội làm việc trong thời buổi kinh tế khó khăn.

Trái đất tròn, M.Hùng sau đó trở thành đồng nghiệp của một người quen nên năng lực, mức thu nhập thực tế cũng như mối quan hệ “ảo tung chảo” với giới showbiz đều bị bóc mẽ.

Không quá nghiêm trọng như trường hợp M.Hùng hay Bùi Ly, anh chàng Q.Phong chỉ rơi vào tình trạng mà như anh tả: “Mọi người hiện giờ chỉ tin khoảng 50% điều tôi nói”. Đã vài lần Q.Phong chạnh lòng khi bản thân có tâm sự và cập nhật tâm trạng thật trên Facebook, nhưng bạn bè ít ai quan tâm vì cho rằng anh chỉ cố tình làm quá cho vui.

Cai nhau 2Theo ThS tâm lý Nguyễn Thị Trang Nhung, việc “nổ”, nói xạo – dù ở dạng vô hại hay dạng có thể gây nguy hại – đều xuất phát từ việc người nói hoặc muốn mua vui, muốn “tỏa sáng” hay vì mục đích riêng có lợi cho họ.

ThS Trang Nhung cho rằng trong cuộc sống đôi khi cũng cần có những câu nói quá… vì ở một chừng mực nào đó điều này sẽ giúp cuộc sống thêm thú vị, hài hước. Nhưng ngược lại, theo bà, khi “nổ” quá nhiều, người nói sẽ tạo cảm giác nghi ngờ cho những người xung quanh và có thể dẫn đến chuyện chẳng ai tin họ, kéo theo giá trị bản thân bị suy giảm.

Đồng tình với quan điểm của ThS Trang Nhung, ThS xã hội học Phạm Thị Thúy chia sẻ sự nói quá, phóng đại nhằm mục đích “đánh bóng” bản thân của người “nổ” sớm muộn gì cũng sẽ lộ diện. Khi những giá trị “thật – giả” bị phơi bày, kéo theo đó sẽ là sự ê chề, xấu hổ.Bo tay 1

Theo nhận định của ThS Thúy, việc “quăng bom”, nói quá “làm màu” là căn bệnh khá phổ biến hiện nay ở người trẻ. Nguồn gốc của căn bệnh là do nhận thức sai về giá trị bản thân. Họ thường có suy nghĩ nếu nói về bản thân, khoác lên mình những giá trị ảo như sự giàu có, sự quen thân VIP, làm nơi sang… là mình sẽ tăng giá trị trong mắt người khác, sẽ “oách” hơn.

Nhưng thực chất họ chỉ “oách” hơn với những người cùng nhận thức sai như họ. Còn phần lớn mọi người đều biết giá trị thật của mỗi người là ở nhân cách, đạo đức, cá tính, tài năng, hành động… (theo Công Nhật – Bình Thanh)

Quế Phượng chuyển tiếp

“QUÁI KIỆT” MỘT THỜI SÀI GÒN

Logo nhan vat 1

9-tr-van-trach-1QUÁI KIỆT TRẦN VĂN TRẠCH !

https://youtu.be/gXCqMCxXnE0

Mời nghe ca khúc “Xổ Số Kến Thiết Quốc Gia”

Trần Văn Trạch khi còn là học sinh lớp 7 trường Nguyền đình Chiểu đã từng làm mưa làm gió về văn nghệ tại rạp hát Thầy Năm Tú Mỹ Tho – Mặc Nhân TVC. Hiện tượng Trần Văn Trạch đã đến với tôi vào năm 1939 tại rạp hát Thầy Năm Tú, Mỹ Tho vào mùa bãi trường năm ấy.

Trần Văn Trạch sinh năm 1924 tại làng Đông Hòa, tỉnh Mỹ Tho, học sinh trường Collège de Mỹ Tho. Ngày lễ phát thưởng bãi trường niên học 1937-38 của trường được tổ chức long trọng tại rạp hát Thầy Năm Tú. Trần Văn Trạch lúc bấy giờ mới học lớp 2ème (deuxième année tức là đệ nhị niên tức là lớp 7 bây giờ) được phân công phụ trách phần văn nghệ, đồng thời là hoạt náo viên (animateur) vừa bằng tiếng Việt vừa bằng tiếng Pháp.

Có nghĩa là nhà trường khoán trắng cho Trần Văn Trạch, một học sinh lớp 7 cáng đáng một trọng trách không dễ chút nào.

Lúc bấy giờ, chính quyền Pháp ở Đông Dương đang tổ chức cuộc đua xe đạp vòng quanh Đông Dương, nên sau khi ra trình diện và chào khán giả xong, MC. Trần Văn Trạch nói : “Kính thưa quí vị. Hiện nay chúng ta đang theo dõi cuộc đua xe đạp vòng quanh Đông Dương, tôi cũng xin đưa quí vị đi vòng quanh Đông Dương nhưng bằng lời ca tiếng hát”. Đợi cho tiếng vỗ tay chấm dứt, cậu bé lóp 7 tiếp tục : “Tôi xin bắt đầu cuộc hành trình từ Nam ra Bắc. Ở Nam kỳ có lối nói thơ “Lục Vân Tiên”, tôi xin nói một một đoạn thơ Lục Vân Tiên:luc-van-tien-1

Vân Tiên cõng mẹ đi ra

Đụng phải cột nhà cõng mẹ trở vô

Vân Tiên cõng mẹ trở vô

Đụng phải cái bồ cõng mẹ trở ra

Vân Tiên cõng mẹ trở ra

Đạp bãi cứt gà cõng mẹ trở vô

Vân Tiên cõng mẹ trở vô

Đụng phải chày vồ cõng mẹ trở ra

Vân Tiên cõng mẹ trở ra


Mặc dù còn nhỏ tuổi, trới phú cho Trần Văn Trạch một giọng ấm áp, cùng với lối diễn xuất lẩm ca lẩm cẩm cỏng mẹ ra, vô… đầy tính chất mộc mạc phương nam, khán giả đổ ra cười nghiêng, cười ngửa. Đợi cho mọi người thôi cười, Trần Văn Trạch lấy lại vẻ trịnh trọng, xoa xoa tay và nhỏ nhẹ thưa : “Kính thưa quí vị, quí vị có biết Lục Vân Tiên cõng mẹ đi đâu không ? Chính mẹ bịnh nên Lục Vân Tiên cõng mẹ đi tìm thầy hốt thuốc, nhưng vì mù loà, Lục Vân Tiên đi ra đụng vật nầy đi vô đụng vật kia. Loay hoay mãi không tìm ra lối đi… Vậy mà quí vị nỡ nào cười cho cái đau khỏ của một người con hiếu thảo cõng mẹ đi trị bịnh. Lẽ ra quí vị nên chỉ đường cho Lục Vân Tiên mới phải…”.

Không khí đang vui vẻ ồn ào bỗng trở nên lặng trang. Quí bà mẹ học sinh dự lễ lấy khăn ra lau nước mắt. Các cô học sinh gái sụt sịt khóc, kể cả thầy cô cũng chưng hửng cho cái tài năng sớm lộ của đứa học trò mình.

Chưa hết, tiếp tục đi vòng quanh Đông Dương, Trần Văn Trạch 3 Gai Hue 1đưa khán giả ra Huế. Nơi đây, chàng nghệ sĩ tí hon nầy không biết học ở đâu, vì thời bấy giờ việc giao lưu văn hóa giữa ba miền còn rất hạn chế, đã cho khán giả nghe với một giọng Huế nữ đặc sệt, trọ trẹ, nặng nặng, ấm ấm, ức ức… khó cho người miền Nam bắt chước:

Chiều chiều trước bến Vân Lâu

Ai ngồi, ai câu, ai sầu, ai thảm,

Ai thương, ai cảm, ai nhớ, ai trông.

Thuyền ai thấp thoáng bên sông,

Đưa câu mái đẩy chạnh lòng nước non.

Tiếp tục ra Bắc, lại một thể loại dân ca đặc thù bài hát theo điệu cò lả:

Con cò… là cò bay lả… í a lả lả bay la

Bay từ… là từ cửa phủ… bay ra là ra cánh đồng

Tình tính tang… là tang tính tình

Cô mình rằng… ấy anh chàng ơi

Rằng có biết biết hay không…

rằng có nhớ là nhớ hay không ?

Với giọng Bắc ẻo lả, mấy từ nhồi duyên dáng theo điệu ca dân gian, và qua từ màn văn nghệ đầu tiên đến giờ, anh học sinh Trần Văn Trạch thật sự đã chinh phục khán giả. 9-tr-van-trach-3Rạp hát Thầy Năm Tú rộng là thế, khán giả đông là thế mà cả rạp im phăng phắc để nghe, để thưởng thức một cái gì mà từ trước đến giờ chưa được nghe, chưa được thưởng thức.

Đến khi anh đưa khán giả vào xứ Lào để trông anh múa lèo với những cánh tay uyển chuyển đưa lên cao, cùng với 10 ngón tay uốn éo cử động, và hai bàn chân khi nhón lên khi hạ xuống nhịp nhàng uyển chuyển theo dòng nhạc Lào 9-tr-van-trach-2buồn buồn, xa vắng.

Rồi anh lại đưa khán giả vào xứ Chùa Tháp qua màn biểu diễn điệu múa Lâm thôn độc đáo Khmer cùng với nhưng câu hát Dù kê bòn ơi ! Bòn ơi !… tâu náaaa…

Những điều nầy tôi viết theo ký ức của tôi không hề qua tư liệu hay bài viết của ai vì tôi nhỏ hơn anh 2 tuổi, học chung trường với anh nhưng sau anh 2 lớp. Tôi đến dự lễ phát thưởng để xem anh trình diễn văn nghệ không phải với tư cách lãnh thưởng, càng không thể là khách mời chỉ là thằng nhỏ… đi coi hát cọp.

Sau buổi văn nghệ nầy một cô đầm, con của một người Pháp làm việc tại Mỹ Tho, nói với cha : “Ba gả con cho anh học trò đó, nếu không con cũng theo không ảnh.”. Và cô thiếu nữ người Pháp nầy, người bị anh chàng học trò tài ba nầy hớp hồn ngay trong đêm văn nghệ nầy, sau nầy là Trần Văn Trạch phu nhân.

9-tr-van-trach-4Chuyện nhân vật “Mỹ Tho Trần Văn Trạch” đến đây chấm dứt cũng đũ rồi nhưng tác giả xin phép viết thêm đôi dòng. Nói về Trần Văn Trạch phải nói đủ : Trần Văn Trạch nhạc sĩ, Trần Văn Trạch ca sĩ, Trần Văn Trạch kịch tác gia, Trần Văn Trạch kịch sĩ, Trần Văn Trạch soạn giả, Trần Văn Trạch người dẫn chương trình, Trần Văn Trạch người lập chương trình… Bất cứ trong lĩnh vực nào mà Trần Văn Trạch tham gia, ai ai cũng thấy cái “dấu ấn đặc thù Trần Văn Trạch” nổi lên.

Một chuyện nhỏ. Ông Trần Văn Trạch có rất nhiều biệt tài. Như trong chương trình văn nghệ phát thưởng ở Trường Nguyễn Đình Chiểu nói trên, ông đã đưa khán giả từ đoạn đầu vui cười hả hê qua chất hài có duyên của ông, rồi lập tức chuyển qua chất bi thương xúc cảm một cách tài tình. 9-tr-van-trach-5Nhạc phẩm “Chuyến xe lửa mùng năm” cũng vậy. Đoạn đầu với cái giọng của một thằng bé ngoài Trung vì chiến tranh lìa mẹ vào Sài Gòn bán báo kiếm sống. Tết đến em có dư một số tiền nhỏ về quê cho mẹ.

Ngồi trên xe lửa về quê thằng bé ca hát nghêu ngao vui vẻ nghĩ rằng sẽ gặp mẹ, ôm mẹ vào lòng, nhưng khi về quê thì mới biết chiến tranh đã thiêu rụi ngôi nhà và mẹ cũng đã chết từ lâu. Đoạn nầy dòng nhạc, lời ca chuyển thành thống thiết… thính giả chỉ còn biết lấy khăn lau nước mắt.

Một chuyên nhỏ. Nhanh trí. Trong một vở kịch, nghệ sĩ Trần Văn Trạch đóng vai một anh hùng trừ gian diệt bạo. Theo vở kịch là khi bắt được tên cướp… đưa cây súng sáu chĩa vào đầu tên ăn cướp, bóp cò, súng nổ, tên cướp ngã ra chết, đền mạng… Nhưng trớ trêu, đạn giả bị lép, súng không nổ trái với kịch bản…

Trần Văn Trạch bình tĩnh không để cho vở kịch bị sượng nên lớn tiếng nói với giọng kẻ cả, bảo tên cướp : “Ha… ha… lần nầy ta tha cho ngươi, lần sau còn tái phạm ta không tha đâu… ha… ha…”. Tên cướp lẽ ra khi súng nổ ngã lăn ra chết nhưng súng không nổ cũng lỡ bộ nhưng nghe Trần Văn Trạch cương một câu mừng quá cũng cương 9-tr-van-trach-6theo và xin… lạy Trần Văn Trạch cám ơn cứu tử. Màn hạ. Ông bầu… chịu quá. Khán giả không biết gì, cũng vỗ tay…

Một chuyện nhỏ. Bản nhạc “Xổ số Kiến thiết”, một bản nhạc “quảng cáo” thôi, tầm thường như vậy, thế mà vào tay của Trần Văn Trạch đã trở thành một ca khúc hay mãi đến bây giờ cũng không ai có thể hát được như vậy.

Một chuyện không nhỏ. Ngay khi còn nhỏ tập tành ca hát là Trần Văn Trạch, với giọng thiên phú nên bắt chước ca sĩ Pháp là Tino Rossi hát giọng ténor. Ca sĩ ténor Tino Rossi biết được điều nầy nên khi Trần Văn Trạch đến Pháp, Vo taychính Tino Rossi, không tị hiềm, lại tìm Trần Văn Trạch để lời khen ngợi và còn lăng-xê cho Trần Văn Trạch hát trên Radio, trên Télé của Pháp.

Người đời ban tặng ông danh hiệu “quái kiệt” không ngoa và quái kiệt Trần Văn Trạch bị ung thư gan từ Mỹ trở về Paris chữa bệnh và đã mất vào ngày 12 tháng 4 năm 1994 ở tuổi 70. Và ông đã yên nghĩ tại nghĩa trang Valenton, Paris

Phan Tất Đại chuyển tiếp

Cau nguyenVIẾNG MỘ

“QUÁI KIỆT”

TRẦN VĂN TRẠCH

Nhân dịp sang Pháp tham dự Lễ tưởng niệm 100 ngày mất của GS-TS Trần Văn Khê, tôi được tháp tùng cùng GS-TS Trần Quang Hải và vợ ông là danh ca Bạch Yến thăm mộ cố nghệ sĩ Trần Văn Trạch, cũng là chú ruột của ông Hải, tại nghĩa trang Cimetière Intercommunal de Valenton, ngoại ô Paris – Pháp.

“Quái kiệt” Trần Văn Trạch (sinh năm 1924 – mất năm 1994) là chú ruột GS-TS Trần Quang Hải. Theo phong tục ở Pháp, tới ngày lễ Thánh, người thân thường mang hoa cúc đến mộ người đã khuất viếng thăm. Vì bận việc rời Paris một thời gian, không thể đến đúng ngày nên GS-TS Trần Quang Hải và vợ mang hoa đến trước một tuần. Tôi may mắn được tháp tùng theo họ.

Mộ “quái kiệt” Trần Văn Trạch tọa lạc trong khu nghĩa trang yên tĩnh, thoáng đãng. Chậu hoa cúc vàng rực được đặt lên mộ phần người đã khuất.

9-vieng-mo-1“Chú tôi là một nghệ sĩ tài hoa. Trong số nhiều con của ông, có Hà Trần hiện là giáo viên dạy piano tại một trường đại học lớn của Pháp, rất quan tâm đến đời sống văn hóa dân tộc. Nay viếng mộ chú, thắp nén hương lòng, tôi cảm nhận chú tôi đang tươi cười với con cháu, ông không còn lạnh lẻo trên xứ người. Thế hệ con cháu của ông vẫn tiếp nối truyền thống gia đình, giữ gìn và phát huy những di sản văn hóa nghệ thuật dù ở bất kỳ quốc gia nào” – GS-TS Trần Quang Hải tâm sự.

“Vua vọng cổ” Viễn Châu kể rằng “quái kiệt” Trần Văn Trạch là người khai sinh ra trào lưu độc diễn hài hước. Chỉ với một cái loa cầm tay, ông có thể điều khiển tâm trạng khán giả khóc cười, vui giận, hờn dỗi theo câu chuyện. Ông còn có tài giả giọng đủ thứ âm thanh, nhạc cụ, tiếng động vật, tiếng xa lửa chạy bằng miệng và hơi thở.

Về sáng tác, “quái kiệt” Trần Văn Trạch có nhiều bài hát thập niên 1950 – 1960 của thế kỷ trước, mang tính cổ động tuyên truyền, thu hút khán thính giả nhờ giai điệu và ca từ rất dễ nhớ. Điển hình là bài “Cái đồng hồ tay”, do ông sáng tác và thể hiện mà đến hôm nay, nhiều khán giả thời trước vẫn còn nhớ.

9-vieng-mo-2

“Thưa quý ngài, mỗi người đều có mang một cái đồng hồ. Mà đồng hồ người ta có hai cây kim: một cái chỉ giờ, một cái chỉ phút. Còn đồng hồ của tôi có tới năm mười cây kim ở trong đó: cái chỉ giờ, cái chỉ phút, cái chỉ tháng, cái chỉ ngày, mặt trăng, mặt trời, hướng nam, hướng bắc, nước lớn, nước ròng. Cho nên xem vô, nếu mà sai cây kim thì cũng phải điên đầu với nó.Tr Cau nguyen 3

Tích tắc tích/ Sướng thay tôi về, từ brocanteur mới về đây/ Tích tắc tích/ Rất biết ăn xài, mang trong tay cái đồng hồ tay/ Có kim chỉ giờ này/ Có kim chỉ ngày này/ Thêm vô cung trăng nó quay khi khuyết khi đầy/ Tích tắc tích/ Trong lòng tôi cũng khuây này/ Mỗi hôm trong tuần, muốn xem hôm gì/ Đặc biệt lắm là cái đồng hồ này, mình muốn biết bữa nay thứ mấy, nó cũng có cây kim chỉ ở trong nữa/ Lundi, jeudi, chúa nhật, ngày ta hay đi/ Muốn biết bắc nam đi trên đàng/ Cũng có cái kim như địa bàn/ Và waterproof, automatic, thêm extra plaque anti-magnetic, anti lang bang, anti khoai lang, anti lung tung nhìn vào mà phát rung!!!/ Ôi! cái đồng hồ/ Ôi! cái đồng hồ”.

Lan Hương chuyển tiếp

Chủ đề : Tiếng hát “quái kiệt Trần Văn Trạch

– MC Việt Thảo- Quái Kiệt Trần Văn Trạch

Tại vũ trường Ritz (của NS Ngọc Chánh) – 1993

https://youtu.be/5uXar7gBJbQ

9-tr-van-trach– Xe Lửa Mùng 5

https://youtu.be/V4X6TH7Etr0

– Trần Văn Trạch & Việt Hùng

https://youtu.be/_ItPZdtsNbU

– Sầm Giang Tái Ngộ 03 – Trần Văn Trạch

Đêm Sầm Giang Tái Ngộ tại Montréal – 1994-05-22

https://youtu.be/HD5zURWzb8s?list=RDV4X6TH7Etr0

– Chiều Mưa Biên Giới

https://youtu.be/WQGGGMEOcu8

– Mùa Thu Chết

Mời nghe nhạc phẫm Mùa Thu Chết của Phạm Duy qua tiếng hát của quái kiệt Trần Văn Trạch. Đặc biệt ở đây Trần Văn Trạch trình bày nhạc phẫm này bằng cả hai thứ tiếng : Việt và Pháp.

https://youtu.be/iAop3usHNAk

– Xuân Đất Khách

https://youtu.be/-5Nmhe_IZa8

Quế Phượng chuyển tiếp

Logo Van nghe

Hoa phuong 2ĐÀN CHIM HỘI TỤ

– Như Phương

Còn hơn mười tháng mới đến ngày Kỷ Niệm Một Trăm Năm ngày thành lập trường Đồng Khánh. Hồi đêm, Thường đã nói chuyện với tôi về tiết mục Văn Nghệ góp vui cho ngày Phượng Vỹ 2017.

Thường là nữ sinh Đồng Khánh, đồng thời là nhân viên của trường nên Thường chú ý với các việc liên quan tới Cô Thầy của trường xưa… Promo của chúng tôi ở Bắc Mỹ cũng khá đông. Mỗi lần gặp nhau ở Họp Mặt Phượng Vỹ thì… tha hồ ồn ào.

Nhớ mùa Họp Mặt 2013, kỷ niệm 25 năm Sinh Hoạt của Phượng Vỹ Houston. Trước đó hai ngày, chúng tôi đã có gặp nhau: một nhóm ở nhà Mẫu Đơn, một nhóm ở nhà Diệu Cầm, một nhóm ở nhà Phan Tâm… thay đổi từng năm; có khi ở nhà chị Thu Hồng; nhà Như Hoa… Không nói được nỗi vui của những U70 này. Nhưng hai ngày sau tiếp tục gặp nhau; chúng tôi không ngồi yên trong chỗ ngồi của mình, còn ” lăn xăn” khắp các bàn; hết chuyện này đến chuyện kia. Tay bắt, mặt  mừng, tía lia…

9-dong-khanh-2Năm đó, Buổi Sơ Ngộ tại nhà Mẫu Đơn, nhộn hết sức. Tiền Hội Ngộ ở Maxim’s ồn ào. Không ai ăn nhiều. Tối đến về nhà đói bụng làm sao! Rồi Lê chở Tôn Kính, Bồng Lai và tôi đi chơi, ghé thăm Hạnh…

Cứ mỗi lần họp mặt; các cựu nam sinh có uống chút chút. Còn các cô lấy nụ cười cho no bụng… Cũng vui. Vui hơn đi dự những tiệc Đám Cưới.

oOo

9-dong-khanh-1Kế hoạch của nhóm chúng tôi sẽ trình diễn nhạc cảnh CGNSĐK trên sân khấu Phượng Vỹ Houston vào tháng Chín 2017. Nhân sự có lẽ nhiều; Nhạc cảnh thì dễ hơn Vũ Khúc. Tôi muốn nhóm chúng tôi có một mục múa cho chương trình hấp dẫn nhưng các bạn ờ xa nhau, không làm sao tập dượt nhiều lần trước Đại Hội. Chỉ có nhóm Houston là tập múa được thôi. Tôi nghĩ là nhiều bạn còn ” mềm mại” nhờ tập ZUMBA hằng ngày. Bồng Lai, Kim Tri, Tôn Kính, Diệu Minh, Thường, Hiếu Tâm, Xuân Hoàng, Tâm Anh, Ngọc Lãnh, Mỹ Châu, Đông Lan… là những bạn còn sức khỏe và bước đi còn mềm mại lắm đó.

Ở nhà thì được gọi bằng ” bà” nhưng lên sân khấu thì … các bà là các nữ sinh ĐK cũ chứ phải chơi. Cho đến nay, các bạn U70 vẫn còn múa trong các chương trình Văn Nghệ của các Hội Ái Hữu … Đó là điều vui… cho Tuổi Vàng ở xứ này…

Chương trình Văn Nghệ sắp tới của Phượng Vỹ chắc là hay lắm. Thường chờ coi bạn nào trong nhóm chúng tôi ghi danh tham dự Đại Hội Kỷ Niệm sắp tới thì mới chuẩn bị y phục và nhân số cho màn Nhạc Cảnh.

Tôi chưa có ý định tham dự Đại Hội đó vì còn lấn cấn với họp mặt ở Dallas vào June 2017. TX cũng là xứ nổi tiếng về phong cảnh nhưng mùa Hè nóng quá. Nếu đến TX hai lần trong mùa Hè thì…hơi ngán.

Mùa Hè vừa qua, khi tôi rời Dallas, nhiệt độ ở đó là 103F. Ớn quá. Với cái áo màu trắng phong phanh mà chịu không nổi khi bước ra khỏi xe để vô phòng check- in. Mỗi lần máy bay đáp phi trường LAX sau mùa Vacation, tôi thấy nhẹ nhõm cả người với cơn gió biển từ Pacific Ocean thổi vào. Phi trường LAX cũng như Phi trường John Wayne …  gió mát dịu về mùa Hè… Vì vậy, nhiều bạn ngại ngùng đi TX vào đầu tháng Chín.

Diệu Khanh, Lạc, Lê, Từ, Mẫu Đơn, Sửu, Tuyết Ngọc, Ngọc Cầm…. là những thành viên Văn Nghệ hầu như hằng năm của PV/ Houston.

Năm 2017 đánh dấu Lần Họp Mặt Quan Trọng: thời gian đã chín muồi của từng người nên một bạn nói là nên dự vì Cánh Chim Đầu Đàn năm tới đã 82 rồi.

Hoa phuongNgoảnh lại thấy tuổi đời không nhỏ

Tâm hồn còn dưới mái trường xưa

Vui đi nhé ngày mai nắng hay mưa

Tình Thầy, tình Bạn muôn đời khắn khít

Nửa đời tha hương, lòng tha thiết

Thuở áo trắng sân trường đáng yêu

9 Gai Hue 2Nhớ xưa, trong tay vui sáng chiều

Nay cứ rứa cho đời không nhạt

Giả như cơn gió đem ta hơi mát

Bỏ mặc một lúc cháu ở nh

Tìm lại tuổi hồng ngôi trường x

Ở đó là Phượng Vỹ tình trường cũ

Giả như chút “thiêng liêng” một thuở

Tr Hue 2Kỷ niệm như lễ giỗ nhớ nguồn

Vui thấy Cô Thầy được khỏe luôn

Mừng Bạn còn trao nhau chuyện tếu

Phượng Vỹ tên gọi ngày thơ ấu

Bay về đây hát khúc hoan ca

Có nơi đâu tự nhiên một nhà

Như Đồng Khánh trường xưa Họp Mặt.

“Không có mợ thì chợ cũng đông” đó là câu ngạn ngữ từ xưa. Phượng Vỹ là bức họa của cổng trường trên sân khấu của MARIOTT hoặc của MARK ADAMS… nhưng sao có cảm giác như đứng trước sông Hương nhìn vô Trường Đồng Khánh.

Vậy mới biết tình cũ sống động như “cái gì Thiêng Liêng”, là Ân Nghĩa, là Tình Cảm Sâu Đậm nhất của Thời Gian Đầu Đời. (theo Như Phương 11/11/2016)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

“SẦU NỮ” ÚT BẠCH LAN QUA ĐỜI

logo-chia-buon

Tr phan uu 4“SẦU NỮ” ÚT BẠCH LAN

QUA ĐỜI

Nữ nghệ sĩ Út Bạch Lan tên thật là Đặng Thị Hai, sinh năm 1935, tại ấp Lộc Hóa, xã Lộc Giang, Đức Hòa, Long An.

Bà được mệnh danh là giọng ca sầu nữ, sau thời gian điều trị căn bệnh ung thư gan, đã trút hơi thở cuối cùng lúc 22 giờ 55 phút ngày 4/11/2016 tại nhà riêng, thọ 82 tuổi. Chị Hạnh – người cháu ruột của NS Út Bạch Lan cho biết, gia đình phát hiện bà bị bệnh ung thư gan từ đầu năm 2016, đã đưa bà vào bệnh viện Chợ Rẫy hóa trị. Sau đó bà được đưa về nhà điều dưỡng, vẫn tiếp tục gắn bó với CLB Sân khấu Lạc Long Quân và CLB sân khấu Hoa Lan Trắng, biểu diễn các chương trình văn nghệ từ thiện.

10-ut-bach-lan-1“Không thể ngờ má tôi lại đi đột ngột, thật đau lòng. Tang lễ sẽ cử hành tại chùa Xá Lợi, gia đình sẽ thông tin chính xác sau” – chị Hạnh đã khóc và cho biết.

Ngày 24/10, là suất tập cuối cùng của NS Út Bạch Lan tại rạp Công Nhân, chuẩn bị diễn vở “Mẹ ngồi sàng gạo” (kịch bản : Bắc Sơn). Nhưng đến tối 27/10, gia đình đã báo tin bà không thể tham gia vì căn bệnh ung thư gan đã trở nặng, nghệ sĩ Cao Mỹ Châu (Nhà hát cải lương Trần Hữu Trang) đã lập tức thay thế bà, thể hiện vai người mẹ trong vở diễn này, nhằm mục đích trao học bổng cho con em nghệ sĩ nghèo và công nhân sân khấu gặp hoàn cảnh khó khăn.

Từ ngày 28/10, gia đình đã đưa bà đi điều trị thuốc nam nhưng do căn bệnh đã biến chứng, bà suy yếu dần và trút hơi thở tại nhà riêng trong sự thương xót của người thân, đồng nghiệp.

Nữ NS Út Bạch Lan sinh ra trong gia đình nghèo khó. Thủa đầu khởi nghiệp, bà cùng danh cầm Văn Vĩ đã tạo nên mối lương duyên để cả hai – người trở thành danh ca, người trở thành danh cầm. NS Năm Cần Thơ là người phát hiện ra giọng ca trầm ấm, trữ tình của bà đã tìm đến chợ Bàu Sen mời bà và danh cầm Văn Vĩ về đài phát thanh 10-ut-bach-lan-2Pháp Á để thu bài “Trọng Thủy – Mỵ Châu”, sau đó bà được ký hợp đồng làm việc cho đài với nghệ danh Bạch Lan. Nhưng để nhớ cái tên mà mẹ đã đặt, bà đã xin nhà đài gắn tên Út vào, từ đó bà chính thức bước vào nghề hát với nghệ danh Út Bạch Lan.

Vào những băm của thập niên 1950, cặp diễn viên Út Bạch Lan – Thành Được đã làm rạng rỡ sân khấu Kim Chưởng. Bà và NS Thành Được đã làm nên thương hiệu của đoàn Thanh Minh Thanh Nga. Bà kết hôn với nghệ sĩ Thành Được một thời gian thì cũng chia tay, bà lập đoàn hát Tân Hoa Lan và diễn với NS Thanh Tú.

Được xem là thế hệ kế tiếp của NS Phùng Há, bà vẫn đang tiếp tục sự nghiệp của mình. Những năm tháng còn lại của đời mình; bà đã chọn vào cửa Phật, không phải xuống tóc quy y mà đêm gỏ mõ tụng kinh, ngày chọn sân chùa làm sân khấu, hát trích đoạn những vở tuồng về Phật để lấy tiền trùng tu, sửa chữa chùa chiền.

Từ cô bé hát rong thuở nào nơi vỉa hè góc chợ, bà đứng trên sân khấu và tỏa sáng rực rỡ. Giữa thập niên 50 (thế kỷ XX), sầu nữ Út Bạch Lan bắt đầu được báo chí và khán giả chú ý qua vở cải lương “Đồ Bàn di hận” trên sân khấu Thanh Minh.

Bà là tấm gương không ngừng khổ luyện trong diễn xuất, trau chuốt kỹ thuật ca ngâm, để những vai diễn của bà luôn được mới mẻ, đầy sáng tạo. NS Út Bạch Lan đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng khán giả qua các vở diễn: “Dưới hàng phượng vĩ”, “Nước mắt kẻ sang Tần”, “Tình cô gái Huế”, “Thuyền ra cửa biển”, “Thần nữ dâng Ngũ Linh Kỳ”, “Nước chảy qua cầu”, “Biên Thùy nổi sóng”, “Tình tráng sĩ”, “Nhớ rừng”….

10-ut-bach-lan-3Thành công nối tiếp thành công, bà được các hãng đĩa tranh nhau mời thu thanh đĩa đơn, đĩa tuồng đa dạng từ xã hội, cổ tích, sử Việt Nam đến Trung Hoa, Tây, Nhật… với số lượng nhiều nhất so với những danh ca khác. Vai chị Hằng (Vở “Con gái chị Hằng” soạn giả Hà Triều – Hoa Phượng) là vai vàng giúp bà đạt tới đỉnh vinh quang.

Hơn 60 năm gắn bó với nghề, bà là nữ danh ca có nhiều vai diễn để đời, được báo giới và công chúng đặt cho nhiều biệt danh như: “Đệ nhất đào thương”, “Nữ hoàng vọng cổ”, “Vương nữ Sương chiều”, “Sầu nữ Út Bạch Lan”. (theo Thanh Hiệp)

10-ut-bach-lan-9Nghệ Sĩ Út Bạch Lan

Từ năm 1955 đến cuối thập niên 60, những danh ca vọng cổ đã chiếm lãnh vị trí hàng đầu, đẩy lùi những tài năng diễn xuất xuống hàng thứ yếu trong sinh hoạt của sân khấu cải lương. Đó là các nghệ sĩ Út Bạch Lan, Thành Được, Hữu Phước, Ngọc Giàu, Hùng Cường, Bạch Tuyết, Dũng Thanh Lâm, Thanh Nga, Lệ Thủy, Mỹ Châu, Minh Vương, Minh Cảnh, Minh Phụng, Tấn Tài, Thanh Kim Huệ, Phượng Liên. . .

Trong số nghệ sĩ được khán giả mộ điệu và giới báo chí kịch trường phong tặng những mỹ hiệu, Út Bạch Lan là người được tặng cho nhiều mỹ hiệu nhất: ở làng dĩa nhựa người ta gọi cô là Nữ Hoàng vọng cổ, ở sân khấu là Đệ nhứt đào thương, Nữ hồng sầu mộng, sầu nữ Út Bạch Lan, Sầu nữ Liêu Trai, Vương nữ Sương Chiều….

Hồi năm 1945, Mẹ cô cùng cảnh ngộ với mẹ của Văn Vĩ nên hai bà kết nghĩa chị em với nhau, sống chung và đi làm mướn độ nhựt ở Chợ Lớn Mới (chợ Bình Tây hiện giờ).

Lúc đó Văn Vĩ tên là Đinh Văn Dậm, vì đau ban trái không chữa được nên bị mù từ nhỏ, ông thầy thuốc đặt tên Văn Vĩ thay cho tên Dậm. Văn Vĩ học đàn guitare cổ nhạc và đàn rất giỏi. 10-ns-van-viBé Út 11 tuổi, Văn Vĩ: 15 tuổi, khi có dịp rãnh, Văn Vĩ dạy cho Bé Út ca. Bé Út nghe máy hát dĩa của hàng xóm, học thuộc nhiều bản vọng cổ khác. Bé Út thấy có người mù đi hát dạo trong chợ, được người ta cho tiền, bèn rủ Văn Vĩ lén mẹ đi hát dạo, hy vọng có tiền giúp đỡ cho hai bà mẹ. Hai anh em Văn Vĩ, Bé Út hát dạo từ Chợ Lớn Mới qua các phố phường Chợ Lớn Cũ, ra tới Chợ Bến Thành Saigon.

Nữ nghệ sĩ Út Bạch Lan tên thật là Đặng Thị Hai, sinh năm 1935, tại ấp Lộc Hóa, xã Lộc Giang, Đức Hóa, Long An. Thân phụ của cô là ông Nguyễn Văn Chưa, làm nghề nài ngựa đua, qua đời năm 1966. Mẹ của cô là bà Đặng Thị Tư, năm nay 88 tuổi, mẹ cô thường gọi cô là bé Út.

Lúc đó đang có chiến tranh Việt – Pháp, Văn Vĩ và Bé Út đàn ca, tụ tập người nghe rất đông tại Bùng Binh Sài Gòn, bọn Biện Chằ (tức cảnh sát Tây) sợ có biểu tình, giải tán số người tụ tập nghe ca và bắt Văn Vĩ và Bé Út, đánh cho mấy cây “ma trắc”, rồi đem về nhốt ở bốt quận Nhì.

Cơ duyên

Ông Xếp Tây lai, bạn của nhạc sĩ Jean Tịnh và ca sĩ Thành Công, đài Pháp Á thấy hai đứa trẻ biết đờn ca cổ nhạc nên tha cho về. 10-nam-can-thioĐây là một cơ duyên khiến cho ca sĩ Thành Công trở thành người đầu tiên dìu dắt Út Bạch Lan trên con đường sự nghiệp cầm ca.

Ở chợ Bàu Sen, một ông người Bắc tốt bụng cho hai bà mẹ với Văn Vĩ, Bé Út che mái lều cạnh bức tường nhà của ông để ở. Ông bày cho Văn Vĩ mở lớp dạy ca cổ nhạc, tự tay ông vẽ giùm bảng dạy ca cổ nhạc dựng trước nhà. Từ đó hai gia đình Văn Vĩ, Bé Út có nơi cư trú, hai bà mẹ đi mua gánh bán bưng ở chợ Bàu Sen. Văn Vĩ đàn, dạy ca cổ nhạc.

Thỉnh thoảng Bé Út và Văn Vĩ đi đàn ca ở các đám tiệc, đám cưới. Cô Năm Cần Thơ nghe tiếng đồn, tới nghe Bé Út ca, cô Năm Cần Thơ dẫn Bé Út đi ca nơi quán cổ nhạc Họa Mi của cô trong khu Đại Thế Giới Chợ Lớn. Văn Vĩ cũng được mướn đàn cho quán nhậu có ca cổ nhạc của cô Năm Cần Thơ. Ngoài ra, cô Năm Cần Thơ còn dẫn Bé Út đi ca ở Đài Phát Thanh Pháp Á.

Ca sĩ Thành Công, nhạc sĩ Jean Tịnh gặp lại Bé Út và rất mến mộ ngón đờn guitare sắc sảo của Văn Vĩ nên mời hai anh em gia nhập Ban Thành Công, nhóm cổ nhạc của Đài Phát Thanh Pháp Á với nhạc sĩ Hai Long, ca sĩ Sáu Thồng, Ba Tình, Văn Chung, Việt Hùng. Thành Công đặt tên cho Bé Út là Út Bạch Lan.

10-ut-bach-lan-4Năm 1952, Út Bạch Lan theo đoàn Kim Khánh của ông Bầu Cang lúc đó đang hát tuồng kiếm hiệp của Mộng Vân như : Trộm mắt phật, Cây Đèn thần, Cánh bườm đen. Các nữ diễn viên Kim Nên, Thu Ba, bé Hồng Vân, Ngọc An đều có vai trong tuồng; phải đợi có cô nào bịnh không hát được thì Út Bạch Lan mới có dịp hát thế tuồng.

Út Bạch Lan thấy không có tương lai nên đi đầu quân cho đoàn hát Tơ Huệ, cô vẫn bị bắt làm thế nữ, quân hầu. Cô bỏ về Sài Gòn, theo Thành Công, Sáu Thồng, Chín Sớm ca cổ nhạc ở Đài Phát Thanh Quốc Gia và Đài Pháp Á.

Năm 1955, cô gia nhập đoàn Kim Thanh của Út Trà Ôn, Thanh Tao, Kim Chưởng và Thúy Nga. Ở sân khấu Kim Thanh, Út Bạch Lan chỉ học múa và thỉnh thoảng đóng một vai đào phụ. Anh Viễn Châu, viết thêm Út Bạch Lan ca hai câu vọng cổ trong tuồng của anh là “Tình vương hoa thắm”. Khán giả rất khen ngợi.

Năm 1961, Út Bạch Lan lập đoàn hát lấy tên bảng hiệu: Út Bạch Lan – Thành Được. Đoàn có những tuồng như : Trảm mã trà, Đêm huyền diệu, Chân trời hạnh phúc, Khi rừng mới sang thu, Bốn mùa hoa nở, Bao giờ vườn sứ mưa hoa, Tìm suối tiên, 10-ut-bach-lan-6Cuối đường hoa mộng, Thuyền về bến Ngự, Em đi trên phím nhạc, Khi hoa anh đào nở, Trăng sương cầu trúc, Sầu qua mấy nhịp cầu duyên.

Nổi tiếng

Sau đó Viễn Châu viết thêm hai câu vọng cổ trong tuồng “Đời cô Nga” của anh để Út Bạch Lan ca. Thành công vượt sức tưởng tượng của mọi người: khán giả vỗ tay nhiệt liệt không thua gì khi anh Út Trà Ơn ca. Vãn hát, khán giả đứng nghẹt cửa hậu trường để xem mặt Út Bạch Lan.

Trang kịch trường đăng hình của Út Bạch Lan với câu đề rất kêu của ký giả Nguyễn Ang Ca : “Một ngôi sao lạ vụt ngời sáng trên vòm trời nghệ thuật sân khấu cải lương”. Ông Trần Tấn Quốc viết : “Út Bạch Lan, một giọng ca vọng cổ thảm sầu, bứt ruột bứt gan người nghe”. Ký giả Kiên Giang Hà Huy Hà viết : “Sầu nữ Út Bạch Lan, chất giọng đồng pha thổ nghe thương cảm chơi vơi, đêm đêm khơi nguồn lệ của hàng ngàn khán giả mộ điệu cải lương”..

Nhiều đại diện của hãng dĩa Hồng Sơn, Hồng Hoa, Tứ Hải đến mời Út Bạch Lan ca thu dĩa vọng cổ.10-ut-bach-lan-5

Năm 1955, Út Bạch Lan rời đoàn Kim Thanh, cùng với anh Hồng Giang về đầu quân cho đoàn Thanh Minh, hát thường trực tại rạp Thành Xương. Út Bạch Lan đã thành công lớn qua các tuồng : Biên Thùy nổi sóng, Cánh Bườm lửa, Tình tráng sĩ, Đồ Bàn di hận, Nhớ rừng, Tình người nữ cứu thương, Cung đàn trên sông lạnh, Núi Liễu sông Bằng, Hồi trống Vân Lâu, Áo gấm khôi nguyên, Cầu gỗ Hồng Mai Thôn, Người đẹp Bạch Hoa Thôn, Sơn nữ Phà Ca, Người thợ rừng, Thiên Thần trên thiết mã, Hoa Mộc Lan, Chén cơm đô thành, Đất Việt của người Việt; của các soạn giả Thiếu Linh, Nguyễn Phương, Mộc Linh, Lê Khanh.

Diễn viên cùng diễn chung với Út Bạch Lan trên sân khấu Thanh Minh thời gian 1955 đến 1958 có: Út Trà Ôn, Năm Nghĩa, Hồng Giang, Minh Tấn, Quang Phục, Sáu Nhỏ, Vinh Sang, hề Kim Quang, hề Châu Hí, Hề Núi, Văn Ngà, Chí Hiếu, các cô Thu Ba, Hồng Vân, Ba Kim Anh, Thanh Nga, Mai Búp, Ngọc Chúng.

10-ut-bach-lan-7Năm 1958, Út Bạch Lan ký hợp đồng về hát cho đoàn Kim Chưởng với nghệ sĩ Thành Được. Khán giả khó quên cô qua những vở tuồng : Chưa tắt lửa lòng, Bên đồi trăng cũ, Thuyền ra cửa biển, Áo trắng nàng Mộng Trinh, Nửa bản tình ca, Người đẹp thành Bát Đa .

Trên sân khấu Kim Chưởng, Út Bạch Lan và Thành Được thành hôn có hôn thơ giá thú đàng hoàng, cô Phùng Há làm chủ hôn.

Năm 1961, Út Bạch Lan lập đoàn hát lấy tên bảng hiệu : Út Bạch Lan – Thành Được. Đoàn có những tuồng như : Trảm mã trà, Đêm huyền diệu, Chân trời hạnh phúc, Khi rừng mới sang thu, Bốn mùa hoa nở, Bao giờ vườn sứ mưa hoa, Tìm suối tiên, Cuối đường hoa mộng, Thuyền về bến Ngự, Em đi trên phím nhạc, Khi hoa anh đào nở, Trăng sương cầu trúc, Sầu qua mấy nhịp cầu duyên.

Cuối năm 1961, đoàn Lan – Được rã, Út Bạch Lan và Thành Được trở về hát cho đoàn Thanh Minh – Thanh Nga. Út Bạch Lan với giọng đồng pha thổ, như rót mật ngọt vào lòng người nghe. Soạn giả Viễn Châu sáng tác bài vọng cổ Hoa Lan Trắng, kể chuyện đời của Út Bạch Lan.

Giúp người

Sau 1975, Út Bạch Lan hát cho đoàn cải lương Sài Gòn 1, rồi về quê nhà hát cho đoàn cải lương Long An.

Sau 1990, cô về hát cho Câu Lạc Bộ sân khấu cải lương và hát giúp gây quỹ cứu trợ nạn nhân bão lụt, giúp người nghèo cô đơn ở thành phố và giúp bệnh nhân nghèo được điều trị miễn phí ở bệnh viện An Bình. Hơn 10-ut-bach-lan-8bảy mươi tuổi đời, hơn 50 năm sân khấu, Út Bạch Lan, một giọng ca để đời, hiếm có trong nền nghệ thuật cải lương suốt nửa thế kỹ qua. Người đời đã gọi cô là Sầu nữ:

Lắng đọng gồm thâu những cuộc đời,

Vào hồn “sầu nữ ” Thấm tình người ,

Cho nên nghệ thuật thanh xuân mãi ,

Tiếng hát ngàn xa vượt tuổi trời.

Nguyễn Văn Danh chuyển tiếp

Logo Van nghe

10-tu-cong-phung-1TỪ DUNG VÀ TỪ CÔNG PHỤNG

“TRÊN NGỌN TÌNH SẦU”

Cùng thời với Lê Uyên và Phương còn đôi song ca nổi tiếng khác là Từ Dung – Từ Công Phụng. (xem thêm tại đây: Lê Uyên Phương – Một thời vang bóng)

Từ Công Phụng sinh năm 1942 tại Ninh Thuận, là nhạc sĩ sáng tác nổi tiếng giai đoạn 1950 – 1975 tại miền Nam. Ông có thể hình to lớn, nhưng phong thái lại rất nghệ sĩ, ăn nói nhẹ nhàng, lịch sự, dễ gây thiện cảm với mọi người.

Là người dân tộc Chăm, được chính quyền Sài Gòn ưu đãi theo chính sách đối với các dân tộc thiểu số. Vì thế, chưa tốt nghiệp tú tài, Từ Công Phụng đã được ưu tiên vào học trường đại học Quốc Gia Hành chính. Tuy nhiên, chỉ học được hơn một năm thì ông bỏ học, đi làm biên tập viên cho một đài phát thanh. Không như nhiều bài báo trong và ngoài nước cho rằng Từ Công Phụng đã tốt nghiệp cử nhân Luật tại Sài Gòn.

Không qua một trường lớp âm nhạc nào, nhưng với năng khiếu bẩm sinh và tâm hồn nhạy cảm, Từ Công Phụng tự học để trở thành một tên tuổi lớn trong lĩnh vực sáng tác. Năm 1960, ông ra mắt ca khúc đầu tay Bây giờ tháng mấy khi vừa tròn 18 tuổi và ngay lập tức trở nên nổi tiếng. Có thời gian Từ Công Phụng sống tại Đà Lạt và cùng Lê Uyên Phương thành lập nhóm nhạc Ngàn Thông, 10-tu-cong-phung-2biểu diễn hàng tuần trên đài phát thanh Đà Lạt.

Không dữ dội như Lê Uyên Phương, nhạc của Từ Công Phụng đầy chất trữ tình, êm ái với ca từ trau chuốt, sang trọng. Ông còn có khả năng phổ nhạc cho thơ, đặc biệt là thơ của Du Tử Lê. Tiêu biểu như những bài Trên Ngọn tình sầu, Ơn em…

Năm 1968, Từ Công Phụng gặp Từ Dung – cô gái có làn da trắng, đẹp lộng lẫy, từng đoạt danh hiệu Á hậu trong một cuộc thi sắc đẹp tại miền Nam. Đôi trai tài gái sắc này sau đó nên duyên chồng vợ.

Sinh năm 1945, Từ Dung là con gái của nhà văn Hoàng Đạo (Nguyễn Tường Long) trong nhóm Tự Lực Văn Đoàn, là cháu ruột của hai nhà văn Nhất Linh (Nguyễn Tường Tam) và Thạch Lam (Nguyễn Tường Lân). Năm 1965, Từ Dung tốt nghiệp Tú tài toàn phần và đến năm 1969 lấy bằng cử nhân văn chương.

Từ Dung rất say mê ca hát và cũng được trời ban cho một chất giọng khá hay. Lúc bấy giờ, cô đang theo học thanh nhạc với ca sĩ Châu Hà, vợ của nhạc sĩ Văn Phụng. Chính môi trường này đã đưa đẩy Từ Dung gặp gỡ rồi quen biết với Từ Công Phụng. Tu Cong PhungLần đầu họ xuất hiện bên nhau trên sân khấu quán Văn ở đại học văn khoa với ca khúc Bây giờ tháng mấy.

Vào thời điểm này, có 3 cặp đôi nổi đình nổi đám là thần tượng của thanh niên, sinh viên, học sinh : Khánh Ly – Trịnh Công Sơn, Lê Uyên – Phương, Từ Dung – Từ Công Phụng. Mỗi cặp một đặc điểm riêng nhưng giống nhau ở chỗ giọng nam kiêm luôn sáng tác. Trong 3 cặp này thì Từ Dung – Từ Công Phụng ít nổi tiếng hơn nhưng cũng là một hiện tượng trong đời sống âm nhạc dạo đó.

Sống với nhau có một con gái thì Từ Dung – Từ Công Phụng chia tay, một cuộc chia tay khá buồn ! Chẳng ai biết được nguyên nhân dẫn đến sự đổ vỡ này. Nhưng theo một người quen thân của cặp đôi, vào một chiều 30 Tết, 10-tu-cong-phung-4người này tình cờ gặp Từ Công Phụng trên đường và họ rủ nhau đi bộ về nhà. Dọc đường, Từ Công Phụng tâm sự hết nỗi niềm của mình với những lời trách móc Từ Dung. Nhưng đó cũng chỉ là những lời từ phía của Từ Công Phụng, còn Từ Dung thì chẳng nghe nói một lời nào.

Năm 1980, Từ Công Phụng sang Mỹ, định cư tại Portland, tiểu bang Oregan và lập gia đình mới với một người phụ nữ tên là Kim Ái. Thời gian này, Từ Dung còn ở lại Việt Nam, bà mướn một căn phòng trong cư xá Ngân hàng, quận 3 và có biểu hiện tâm thần. Bà ít khi mở miệng nói với ai một lời nào. Đêm đêm, bà thường khỏa thân ngồi lặng lẽ trong bóng tối trước hiên thềm như một pho tượng. Một thời gian sau, Từ Dung qua cơn trầm cảm và cũng sang định cư tại Mỹ và sinh sống tại tiểu bang Hawaii. Từ Dung cũng đã lập gia đình 10-tu-cong-phung-5khác với một người đàn ông Mỹ.

Ở Mỹ, Từ Công Phụng vẫn tiếp tục cuộc đời sáng tác và ca hát, ông đã nhiều lần về thăm quê nhà và ít nhất đã có hai lần biểu diễn tại một phòng trà nổi tiếng ở Sài Gòn. Cuối năm 2012, ông có đêm nhạc riêng tại Nhà hát Thành phố. Còn Từ Dung thì im hơi lặng tiếng, chẳng còn nghe ai nhắc đến tên bà nữa. Ngay cả Từ Công Phụng trong các bài phỏng vấn cũng chỉ nói đến Kim Ái và các con sau này – như Từ Dung chưa bao giờ xuất hiện trong sự nghiệp và cuộc đời của ông. Mọi chuyện dường như đã chìm hẳn vào quên lãng. Âu đó cũng là nỗi đau “hồng nhan bạc phận” của Từ Dung. (theo nguồn: Duyên Dáng Việt Nam)10-tu-cong-phung-3

Những tình khúc bất hủ của Nhạc Sĩ Từ Công Phụng (1:23’)

https://youtu.be/FaFEnElHYro

Từ Dung hát Đêm Độc Thoại của Từ Công Phụng

https://youtu.be/f2sKsahaVZs

Vùng Trời Kỷ Niệm – Từ Dung & Từ Công Phụng :  https://youtu.be/naYh5Ll2OrA

Lời Cuối – Từ Dung & Từ Công Phụng : https://youtu.be/tEiDIGPlLXg

Lan Hương chuyển tiếp

TỪ CHỢ BẾN THÀNH ĐẾN VƯỜN BỜ RÔ

Logo bay gio ke

Tranh Ben ThanhCHUYỆN ÍT NGƯỜI BIẾT

VỀ CHỢ BẾN THÀNH

Chợ Bến Thành có lẽ không ai không biết dù có thể chưa có dịp ghé thăm. Nhưng ngôi chợ này vẫn có nhiều điều có lẽ ít người biết đến như từng có cầu vượt đầu tiên, từng mang tên chợ Quách Thị Trang…

Từ những thập niên đầu thế kỷ 18, trên vùng đất Sài Gòn, phủ Gia Định xưa đã hình thành các khu chợ buôn bán như: chợ Điều Khiển, chợ Tân Kiểng, chợ Nguyễn Thực… Đặc biệt khu chợ Lớn của người Hoa được hình thành trong khoảng năm 1679 đến năm 1731 là một khu vực buôn bán sầm uất thời bấy giờ. Kế đến là chợ Bến Thành nằm trên vàm Bến Nghé – sông Sài Gòn, gần thành Gia Định. Tên gọi chợ Bến Thành bắt nguồn từ vị trí này của chợ.

9-ben-thanh-1Năm 1913, chợ Bến Thành bị giải tỏa, nhà lồng chợ nhường lại cho Tổng nha Ngân khố, nay là Kho bạc Nhà nước nằm trên đường Nguyễn Huệ, quận 1. Khu vực chợ mang tên chợ Cũ nằm ở góc đường Tôn Thất Đạm – Hàm Nghi hiện nay vốn là chợ Bến Thành trước đây.

Tòa Bitexco Financial Tower xây dựng từ năm 2004 đến năm 2014, cao 262m, gồm 68 tầng, là tòa nhà cao nhất ở Sài Gòn hiện nay, tọa lạc ngay vị trí trung tâm chợ Bến Thành cũ (gồm Kho bạc nhà nước phía trước, sau là tòa nhà  Bitexco Financial Tower).

Chợ Bến Thành mới

Chợ Bến Thành mới được xây dựng ở một vị trí rộng rãi hơn, gọi là chợ Bến Thành mới hay chợ mới Sài Gòn. Trước mặt chợ Bến Thành là công trường Quách Thị Trang – trước kia là cái ao sình lầy gọi là Bồ-Rệt (Marais Boresse) do viên xã Tây lúc ấy (tức thị trưởng) tên Eugène Cuniac cho lấp năm 1912 và xây chợ Mới Sài Gòn.

Lúc đầu gọi là bùng binh Cu-nhắc (Rond – point Cuniac) rồi lần lượt đổi tên là công trường Diên Hồng và nay là công trường Quách Thị Trang.

9-ben-thanh-3Cửa chính của chợ Bến Thành là cửa Nam, rất phù hợp với tiêu chí mở cửa chính trong kiến trúc Việt: Lấy vợ hiền hòa, làm nhà hướng Nam. Mặt Bắc chợ mới là đường D’Espagne (nay là đường Lê Thánh Tôn). Mặt Tây chợ mới là đường Schroeder (nay là đường Phan Chu Trinh). Mặt Đông chợ mới là đường Viennot (nay là đường Phan Bội Châu).

Theo văn bản chính thức, tin đăng trên báo Le Nouvellistecochinchinois ngày 31/3/1914 thì dự án xây cất chợ trong quá trình từ năm 1894, nhưng mãi đến năm 1913 mới thực hiện.

Chi phí xây cất chợ Bến Thành mới tổng cộng là 975.000 quan Pháp. Nhà thầu xây dựng chính chợ mới là Công ty hỗn hợp Brossard và Mausin (về sau giải thể, thành Công ty gạch bông Thanh Danh ở đường Cống Quỳnh). Chợ Bến Thành mới xây xong làm lễ khai thị vào lúc 17g ngày 28-3-1914 và diễn ra trong ba ngày 28, 29 và 30/3/1914.

Lễ khai thị chợ Bến Thành mới được các giới hưởng ứng, đặc biệt là người Hoa đang nắm nhiều sạp trong chợ. Lễ khai thị được báo chí thời đó gọi là Tân Vương Hội. Ngày khai thị có khoảng 100.000 người tham dự, có cả dân từ các tỉnh đổ về. Lễ khai thị được tổ chức linh đình, có xe hoa diễu hành và nhiều hoạt động vui chơi, giải trí, mua sắm… Trong đó có cuộc gia đấu quyết tử giữa người và hổ 9-ben-thanh-2mà ai ai cũng phải thán phục !

Chợ Bến Thành có 16 cửa

Chợ Bến Thành có 4 cửa chính và 12 cửa phụ. Từ cửa Nam đến cửa Bắc của chợ dài 136m. Từ cửa Đông đến cửa Tây của chợ dài 96m. Đường chữ thập của chợ rộng 5m. Từ cửa Nam xuống Bắc của chợ có 22 hẻm. Từ cửa Đông xuống cửa Tây có 9 hẻm.

Cửa Nam là mặt tiền (cửa số 1) của chợ Bến Thành hướng ra công trường Quách Thị Trang. Phía Nam chợ Bến Thành ngoài cửa Nam còn có cửa số 2, cửa số 16.

Điểm nổi bật nhất của cửa Nam đó chính là tháp đồng hồ. Tháp đồng hồ có ba mặt. Tháp được xây dựng theo kiến trúc kiểu Pháp. 9-ben-thanh-4Phía dưới tháp đồng hồ, ở mặt tiền, có ba chữ “CHỢ BẾN THÀNH”.

Phần trên của tháp, bên trong trước đây là phòng phát thanh của Đài truyền thanh quận 1 mà tôi là một trong những thành viên từng trực tại đây để đọc những bài phát thanh hằng ngày, cung cấp tin tức và các thông báo cần thiết cho tiểu thương và khách đi chợ sau năm 1975.

Từ những năm 2000, nơi đây trở thành văn phòng ban quản lý chợ, có thiết lập thêm một trang thờ Thần chợ đáp ứng nhu cầu tâm linh của giới tiểu thương ở chợ. Bên dưới tháp là cửa chính vào chợ, gọi là cửa Nam.9-ben-thanh-5 Cửa Bắc (cửa số 9) của chợ Bến Thành nằm trên đường Lê Thánh Tôn.

Cửa Tây (cửa số 5) của chợ Bến Thành nằm trên đường Phan Chu Trinh. Phía Tây chợ Bến Thành ngoài cửa Tây còn có cửa số 3, cửa số 4, cửa số 6, cửa số 7, cửa số 8.

Cửa Đông (cửa số 13) của chợ Bến Thành nằm trên đường Phan Bội Châu. Phía Đông chợ Bến Thành ngoài cửa Đông còn có cửa số 10, cửa số 11, cửa số 12, cửa số 14, cửa số 15. (theo Hng)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

Tr cau hoi 2TỪ VƯỜN ÔNG THƯỢNG

VƯỜN BỜ RÔ ĐẾN…

CÔNG VIÊN TAO ĐÀN

Trải qua nhiều thăng trầm lịch sử, vườn Tao Đàn được người dân Sài Gòn đặt cho những tên gọi thân thương khác nhau vườn Ông Thượng, vườn Bờ Rô…

Năm 1862, sau khi chiếm Sài Gòn – Gia Định, người Pháp tổ chức quy hoạch lại Sài Gòn. Và vùng rừng cây nằm ven Sài Gòn và cánh đồng Mồ Mả hay đồng Mả Ngụy được quy hoạch làm khu vườn cây xanh.

Ranh giới của khu vườn nầy là góc đường Thiên Lý phía Tây (đường Cách Mạng Tháng Tám) và đường Thiên Lý Bắc Nam (đường Nguyễn Thị Minh Khai).

Đến năm 1868, khi bắt đầu xây dựng dinh Độc Lập (hồi ấy gọi là Dinh Norodom hay Dinh Toàn quyền) 9-tao-dan-1thì khu vườn trở thành vườn cây của dinh. Và có lẽ cũng từ khi ấy, người Sài Gòn quen miệng gọi vườn cây của Dinh Norodom là vườn Ông Thượng.

Có nhà nghiên cứu cho rằng sở dĩ có tên Vườn Ông Thượng vì nơi đây từng là nơi Tả Quân Lê Văn Duyệt mở trường đá gà, sân khấu hát bội.

Tuy nhiên, cần nhớ rằng thời Quận công Lê Văn Duyệt làm Tổng trấn đất Gia Định thì dinh thự của ông nằm trong thành Gia Định, ước khoảng khu đất nay là Sở Ngoại vụ TPHCM. Và đất của Vườn Tao Đàn ngày nay nằm ở ngoài thành, ven theo đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa.

Là người lãnh đạo cao nhứt Gia Định – khi đó Gia Định là vùng đất kéo dài từ Bình Thuận đến Cà Mau, ông Lê Văn Duyệt đâu rảnh mà ra ngoại thành “vui chơi” hoài. Nếu có thì cũng tổ chức đâu đó trong thành, chớ mỗi lần ông lớn đi là bầu đoàn thê tử đông đảo rất mất công và tốn kém.

Phần nữa là từ khi ông mất cho đến khi Vườn Tao Đàn hình thành thời gian quá lâu, từ 1832 đến 1868, hơn 30 năm thì hai chữ “ông Thượng” có lẽ không dành cho ngài Tả quân.

Cái tên “Vườn Ông Thượng” có từ cuối thế kỷ 19. Rất có thể tên nầy xuất phát từ khi dinh Độc Lập xây cất xon9-tao-dan-2g trở thành dinh Thống đốc Nam Kỳ và vườn trở thành khu “vườn sau dinh”.

Xưa, dân gian quen gọi nơi cư ngụ hoặc làm việc của các quan lớn là “ông thượng”, “quan thượng”. Ví dụ, Nha nội vụ (Le Directeur de l’interiéur) được gọi một cách bình thường là “dinh quan Thượng lại” hoặc “Lại bộ thượng thơ”.

Xưa Gia Định Báo, tờ báo bằng chữ quốc ngữ đầu tiên của nước ta, được thực hiện và phát hành tại Nha nội vụ và chính tờ báo nầy viết “Ai muốn mua thì tới dinh quan Thượng lại tại Sài Gòn cho người ta biên tên, mua trót năm thì giá 20 francs, mua 6 tháng thì 10 francs, mà mua 3 tháng thì 5 francs”.

Như vậy, ba chữ “Vườn Ông Thượng” có lẽ không hề chỉ một ông quan tây hay ta cụ thể nào mà chỉ là cách “nói trỏng”, nói “xách mé” của dân gian về khu vườn 9-tao-dan-3của thành phố mà coi như là “của riêng” của các quan !

Đây cũng chỉ là ước đoán của chúng tôi rất mong những bực thức giả góp ý thêm.

Năm 1869, người Pháp mở con đường Miss Clavell (nay là đường Huyền Trân Công Chúa) tách khu vườn ra khỏi dinh Độc Lập.

Từ đó, Vườn hoa thành phố hay Vườn ông Thượng nằm gọn giữa bốn con đường Verdun (Lê Văn Duyệt nay là Cách mạng Tháng Tám) – Tabert (Nguyễn Du) – Chasseloup Laubat (Nguyễn Thị Minh Khai) và Miss Clavell chính thức có tên là “jardin de la ville” vườn hoa thành phố.

Trong vườn có một khoảng ở trung tâm được lót gạch, có lẽ vì vậy mà dân chúng lại gọi là Vườn Bờ Rô (préau tiếng Pháp nghĩa là “sân lót gạch”). Tuy nhiên cũng có có nguồn giải thích từ Bờ rô xuất phát từ từ chữ jardin des beaux jeux mà ra.

Đến năm 1955, sau khi người Pháp rút khỏi Việt Nam, vườn được chính quyền Sài Gòn đổi tên thành Vườn Tào Đàn và nay là Công viên Tao Đàn.

Vườn Tao Đàn rộng khoảng hơn 90.000m2 (trước khi xây dựng các cơ sở chung 9-tao-dan-4quanh thì vườn rộng 10 mẩu tây) với nhiều loại cây quí hiếm, lạ. Ví dụ như cây sa la ít được trồng ở các công viên trong thành phố.

Xưa Sài Gòn có đường Amiral Roze, tên một thống đốc Nam Kỳ, từ Lê Lai đến Nguyễn Du lúc đầu tên là Calmette, năm 1920 thì đổi tên thành Amiral Roze. Từ đường Nguyễn Thị Minh Khai đến Kỳ Đồng có con đường đầu tiên mang tên “jardins” (vườn hoa). Giữa hai đường Roze và Jardin có một con đường nối xuyên qua vườn Ông Thượng.

Năm 1955, cả hai đường đều đổi tên, Roze thành Trương công Định, còn Jardin (từ năm 1897 mang tên là Larégnère) thành Đoàn Thị Điểm.

Từ ngày 18/4/1975 cả hai đường trở thành Trương Định nhưng đoạn đi qua vườn Tao Đàn vẫn còn ngăn cách. Đến năm 2003, hai Tr thieu nu 3con đường mới thông nhau thành một.

Sau năm 1975, Vườn Tao Đàn trở thành Công viên Văn Hoá và nơi đây ghi dấu kỷ niệm của biết bao người. Sáng sáng chiều chiều người già người trẻ ra đây để đi dạo, tập thể dục, hẹn hò, ngắm cảnh, hóng mát…

Từ năm 1985, Công viên Văn Hoá Tao Đàn là nơi đầu tiên “mở sân khấu ca nhạc ngoài trời” để biểu diễn phục vụ cho người dân yêu âm nhạc thành phố và người phụ trách sân khấu này là ông Lê Hoàng, nguyên Tổng biên tập báo Tuổi Trẻ.

Ngày nay, Công viên là một địa điểm xanh quen thuộc của người dân thành phố đến đây ngắm cảnh, đi dạo, chơi thể thao, tham gia các hoạt động mỹ thuật, giải trí, hội hoa xuân…(theo Trần Nhật Vy)

Quế Phượng chuyển tiếp

Logo phiem

Tr cuoi 5SÀI GÒN XƯA :

TỪ NHỮNG MẪU NGƯỜI ĐẸP

ĐẾN CÁCH LÀM ĐẸP

Tại Sài Gòn, năm 1963, nhà văn Chu Tử cho ra đời Yêu, một tác phẩm được người đọc tiếp nhận nồng nhiệt [1]. Sự thành công của Yêu một phần không nhỏ là do công của các bài phê bình trên nhật báo và tạp chí Sài Gòn thời đó.

Chu Tử bộc bạch : “Yêu là một truyện mà không có cốt truyện, không có nhân vật, “tung hê” tất cả những qui luật cổ điển về lề lối xây dựng một tiểu thuyết, để cho truyện thoát khỏi mọi gò bó, giả tạo…”.

Dưới đây là chân dung của 4 người đẹp – Uyển, Diễm, Huyền, Tuyết – qua cái nhìn của Chu Tử :

Bốn cô đều đẹp, mỗi đứa đẹp một vẻ riêng biệt, cũng như tính nết họ, chẳng đứa nào giống đứa nào… Uyển hai mươi hai tuổi, đẹp dữ dội, lồ lộ, khêu gợi… Diễm hai mươi tuổi, đẹp kín đáo, mơ màng, đầy sức quyến rũ ngấm ngầm. 10-chu-tuHuyền mười tám tuổi, đẹp kỳ lạ, vì đôi mắt nàng hơi lác (lé).

Phải nhìn kỹ, mới nhận ra đôi mắt nàng lác, nhưng đã nhìn kỹ thì không tránh khỏi bị đôi mắt của Huyền thôi miên. Lạ nhất là gương mặt Huyền không giống cha, không giống mẹ, không giống các chị em, và đôi mắt Huyền ngay từ lúc mới đẻ đã mang một bí mật mà chính Huyền không biết, cho nên Huyền không những ít nói, mà còn hay buồn, thích đi tu… trái hẳn với cô gái út là Tuyết mười sáu tuổi, đẹp một cách Tây Phương, ngổ ngáo, ranh mãnh”.

Tôi nhìn thấy 4 kiều nữ trong Yêu chính là điển hình của những mẫu người đẹp Sài Gòn thập niên 1960. Cả nhân vật đứng tuổi như bà Hằng, người đã “ủng hộ” anh dân quân du kích khi anh vô tình thổ lộ “thèm quá, ủng hộ một tí…”.

Ngày đó, cô Hằng nhắm mắt ‘chiều’ anh bộ đội với một suy nghĩ đơn giản là mình đã ‘…giúp một tay cho kháng chiến thành công…’ cũng là một logic trong cái ‘vô lý’ của Yêu ! Đó cũng là điển hình chân dung người phụ nữ vốn có những lúc phức tạp đến độ khó hiểu nhưng có khi lại ngây thơ, đơn giản đến độ vô lý như bà Hằng của thời kháng chiến !

Đọc Kỹ nghệ lấy Tây (1934) của ‘ông vua phóng sự’ Vũ Trọng Phụng [2] 10-vu-trong-phungngười ta lại khám phá cả một xã hội của những người phụ nữ Việt Nam được mệnh danh là ‘Me Tây’ vào thời kỳ 1930-1940 tại làng Cổ Mễ, Thị Cầu gần Hà Nội. Phần đông họ là những phụ nữ chân quê và vì một lý do nào đó ‘lạc bước’ vào giới Me Tây để trở thành những nhân vật như Bà Cai Bu-Dích, Bà Cẩm, Bà Kiểm Lâm…

Ngôn ngữ Me Tây thật phong phú : “Toa ba mỏ nhá cút xê ăng co xê moi ! Toa kích tê moa săng bảy dề, a lò phi nì phăm, phi nì ma ghi ! A lò, kích !” (Mày không có quyền về ngủ nhà này nữa. Mày bỏ tao đi mà không trả tiền, thế là hết vợ, hết chồng. Thế thì… đi, đi !).

Sang đến Sài Gòn cuối thập niên 1960, khi quân đội Cờ Hoa có mặt tại Việt Nam, lại xuất hiện Me Mỹ. Họ có thể là những cô gái quê nhưng cũng có thể là gái thành thị, và vì hoàn cảnh gia đình nên đã chọn con đường phục vụ trong các quán bar để mưu sinh. Thời đó họ được gọi là Saigon Tea Girl như trong bài Wabash Cannonball 9-nguoi-dep-1do Jerry Campbell và Ed “Pappy” Hufft đã đổi lời thành Saigon Tea

Xem video clip bài hát Wabash Cannonball  do Johnny Cash trình bày :

https://www.youtube.com/watch?v=aZiQ89_s67Q

https://youtu.be/lOagNqCliMU

Những cô gái Saigon Tea cũng là một phần chứng nhân lịch sử của Sài Gòn thời chiến cho dù “background” của họ rất khiêm tốn giữa bối cảnh đất nước nhiễu nhương. Vốn liếng tiếng Anh của họ chỉ vỏn vẹn những câu “broken English” như number one, number ten, OK salem, no star where, papa san, mama san… nhưng đó cũng là những dấu tích của một giai đoạn lịch sử mà Sài Gòn đã trải qua.

oOo

Phương Tây có quan niệm rất thực dụng về nhan sắc của phụ nữ. Họ cho rằng sắc đẹp là tặng phẩm đầu tiên của tạo hóa dành cho phụ nữ nhưng đó cũng là món quà đầu tiên tạo hóa lấy đi theo thời gian.

Nói như vậy có nghĩa nhan sắc sẽ tàn theo tuổi tác. Không một phụ nữ nào có thể níu kéo nhan sắc ở lại với mình cho đến ngày tóc bạc, da mồi. Thế nhưng, cũng có ý kiến cho rằng “không có phụ nữ xấu xí, chỉ có những phụ nữ không biết cách làm cho mình đẹp”.

9-nguoi-dep-2Bằng chứng là ngày xưa những người đẹp Sài Gòn cũng tìm được một lối thoát để kéo dài và giữ gìn nhan sắc: họ nhờ đến giải phẫu thẩm mỹ. Bác sĩ giải phẫu thẩm mỹ đã có mặt tại Sài Gòn từ rất sớm vì nghề “Cosmetic Surgery” hái ra tiền.

Họ dùng đủ mọi thủ thuật để làm đẹp và duy trì nét đẹp cho phụ nữ. Từ những tiểu phẫu như căng da mặt, xâm lông mày, chẻ môi, sửa mũi đến đại phẫu như nâng ngực, bơm mông, lấy bớt chất mỡ trên bụng, thậm chí còn ‘nong ra’ hoặc ‘thu nhỏ’ nơi vốn kín đáo nhất của các bà các cô.

Nghe nói các ông chồng trong cộng đồng người Việt ở nước ngoài ngày nay cũng là nạn nhân của việc làm đẹp. Các bà, các cô đua đòi đi thẩm mỹ viện, thậm chí khi về Việt Nam cũng nhân tiện ‘quá giang’ làm đẹp vì giá cả ở đây rẻ hơn nhiều nếu so với xứ cờ hoa hay xứ kangaroo.

Chỉ có cánh đàn ông là thiệt thòi. Họ làm lụng vất vả để kiếm tiền cho vợ đi sửa sắc đẹp. Khi đến thẩm mỹ viện, các bà thường mang mục đích cao cả là làm đẹp cho chồng nhưng có đến 90% đàn ông có vợ đi sửa sắc đẹp, trong tận cùng đáy lòng, đều không ủng hộ quyết định này.

Họ để vợ đến thẩm mỹ viện chỉ vì ‘cả nể’… Cũng vì đức tính này, Honoré de Balzac mới nói: “Người đàn ông nào có thể điều khiển được phụ nữ thì cũng có thể điều khiển được một quốc gia”. Thế nhưng, vấn đề là mỗi nước chỉ có một người đứng đầu còn lại bao nhiêu đều là… phó thường dân!

Tr Con gai 7Người ta thường chống hàng ‘gian’, hàng ‘giả’. Tuy nhiên, vẫn có ngoại lệ đối với các mặt hàng được gọi là ‘tiêu cực’ này. Đó là những hàng giả mà người sử dụng không bao giờ chống mà lại còn ủng hộ hết mình: chân tay giả được những người cụt tay, cụt chân hoan nghênh, răng giả dùng cho những người ‘hăng-rết’ (hết răng)… Khi tuổi đã xế bóng, các ông các bà có khi phải dùng hàm răng giả, tối tối đánh răng mà miệng vẫn huýt sáo một cách yêu đời.

Riêng đối với phụ nữ, các bà các cô ủng hộ hết mình những ‘mặt hàng’ như lông mi giả, tóc giả. Ngoài ra, nếu ‘vòng số 1’ hơi khiêm tốn thì có áo nịt ngực bên trong độn mousse cho thêm phần khiêu gợi, ‘vòng số 3’ nhỏ quá thì có mông giả tăng cường để ‘bằng chị, bằng em’ khi ra đường.

Người ta nói, muốn kiểm chứng ‘mông thật, mông giả’ rất dễ: cứ cầm cây kim lén chích vào mông một kiều nữ. Hồi xưa người ta đồn mông của Người đẹp Bình Dương Thẩm Thúy Hằng là giả (!!!???).

Cho đến giờ phút này chưa có một tài liệu nào chứng minh Thẩm Thúy Hằng có xài đồ 10-tham-thuy-hanggiả hay không. Tôi còn nhớ, hồi xưa có lần một cây bút nào đó ví cái đầu của ký giả Tô Văn giống như… mông của Thẩm Thúy Hằng (?).

Vĩnh viễn chuyện cặp mông của cô diễn viên này sẽ là một bí mật, chỉ có Thẩm Thúy Hằng và chồng cô, Tiến sĩ Harvard, Tony Nguyễn Xuân Oánh, mới biết đích xác. Mà ông Oánh thì nay đã là người thiên cổ…

Kiểm chứng mông thật hay giả bằng kim chích như nói ở trên sẽ có hai trường hợp xảy ra : hoặc bạn ăn một cái tát nên thân hoặc người đẹp vẫn cười thật tươi với bạn !

Nói đùa vậy thôi chứ đừng ai dại dột làm chuyện này. Giả hay thật là chuyện của phụ nữ, cánh đàn ông chỉ biết chiêm ngưỡng người đẹp. Đơn giản thế thôi !

[1]: Xem thêm về Yêu của Chu Tử tại:

http://vnthuquan.net/truyen/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237ntnnn4ntn31n343tq83a3q3m3237nvn

http://hoanghaithuy.wordpress.com/2009/11/30/chu-tu-chet-va-song/

[2]: Xem thêm về Vũ Trọng Phụng tại:

http://vi.wikipedia.org/wiki/V%C5%A9_Tr%E1%BB%8Dng_Ph%E1%BB%A5ng

Yên Huỳnh chuyển tiếp

CUỘC ĐỜI NS TÒNG SƠN – LÊ UYÊN PHƯƠNG

Logo Van nghe

9 Tong Son 1NHỮNG NĂM CUỐI ĐỜI CỦA

NGHỆ SĨ TÒNG SƠN

và nỗi niềm khi lá đơn xin vào trại dưỡng lão nghệ sĩ bị từ chối

Tuổi già bệnh tật và không còn nơi nương thân, nghệ sĩ Tòng Sơn viết đơn xin vào ở trong Khu dưỡng lão nghệ sĩ ở Q8 trên đường Âu dương Lân, nhưng đơn của ông bị từ chối…

Vào năm 2000, Tổng thống Mỹ Bill Clinton có chuyến thăm Việt Nam. Dịp này, Tổng thống Bill Clinton cùng đoàn tùy tùng ghé thăm cảng Container quốc tế Việt Nam ở Sài Gòn. Nghệ sĩ khẩu cầm Tòng Sơn được vinh dự mời đến biểu diễn. Giữa hàng trăm quan khách cấp cao cấp của hai nước, nghệ sĩ Tòng Sơn tự tin thể hiện tài năng của mình qua cây kèn harmonica, những âm điệu trầm bổng du dương vang lên đã làm say đắm cả phái đoàn ngoại giao nước Mỹ. Khi bản nhạc vừa chấm dứt, những tràng pháo tay vang lên không dứt tán thưởng cho tài nghệ của ông…

Nhắc lại câu chuyện xa xưa cách đây 16 năm để thấy rằng nghệ sĩ Tòng Sơn đã từng có một thời “oanh liệt” trong làng giải trí Việt Nam. Ông là một trong những người được khán giả mến mộ đặt cho biệt danh là “quái kiệt”. Buồn thay ngày tháng rất đẹp ấy đã xa rồi. Hoàn cảnh của ông giờ bi đát lắm. Bước qua tuổi 86 với bệnh tật, cô đơn, nghèo túng, ông phải sống trong ngôi nhà trọ diện tích chưa tới 12m2 ở khu Bàn Cờ, 9 Tong Son 2BSài Gòn và một mình chống chọi với bệnh tim ngày càng thêm trầm trọng. Có lần những người cùng xóm thấy cả buổi ông không mở cửa phòng, họ đập cửa nhà thấy ông đang nằm thoi thóp đau đớn. Mọi người vội đưa ông vào viện cấp cứu.

Để giữ hình ảnh của mình mãi đẹp trong lòng khán thính giả, ông sợ những người yêu mến ông phải thấy cảnh một ông lão Tòng Sơn tàn tạ nơi đầu đường xó chợ, vì thế ông quyết định viết một lá đơn xin được vào ở tại Khu dưỡng lão nghệ sĩ. Đơn của ông bị từ chối với lý do ông không phải là hội viên của Hội âm nhạc thành phố. Tuyệt vọng, lão nghệ sĩ Tòng Sơn chỉ còn biết kêu… trời !

Nói đến Tòng Sơn, những người mộ điệu nghĩ ngay đến người nghệ sĩ được mệnh danh là “quái kiệt” bởi cách sử dụng nhạc cụ của ông rất quái lạ và độc đáo. Tòng Sơn có thể cùng một lúc thổi hai cây kèn một ở lỗ mũi và một ở miệng. Độc đáo hơn ông vừa thổi vừa ăn chuối và vừa uống bia. Tài nghệ như thế nên từ những thập niên 50 của thế kỷ trước, tên tuổi của Tòng Sơn nổi tiếng khắp miền Nam. Ông được mời lưu diễn khắp nơi trong và ngoài nước, từ châu Á đến châu Mỹ, châu Âu…

Đến thăm ông vào một buổi sáng Sài Gòn có vài cơn mưa nhỏ, căn phòng trọ chật hẹp trong khu Bàn Cờ nơi ông ở không đủ sức chứa đến năm sáu người. Phòng ở trống trơn, chỉ có chiếc giường là vật có nhiều diện tích nhất. Góc bàn nhỏ bày la liệt những vỉ thuốc chữa bệnh, thuốc trợ tim. Có lẽ thứ làm ông tự hào nhất là tấm bằng xác lập kỷ lục “Người có phong cách biểu diễn khẩu cầm độc đáo nhất Việt Nam” 9 Tong Son 3của Trung tâm Sách Kỷ lục Việt Nam xác nhận. Trên tường còn treo một vài tấm ảnh của ông thời trai trẻ, một chàng trai phong độ, đẹp trai và tài hoa.

“Tôi là một người suốt đời chưa từng có tên ghi trong sở nhà đất”, nghệ sĩ Tòng Sơn nói vui khi nhắc đến gia cảnh của mình. Đằng sau câu đùa đó là nụ cười với nỗi niềm chua xót. Ông cho biết, hơn 60 năm tuổi nghề, ông chưa từng có cho mình một ngôi nhà riêng, lang thang hết trọ chỗ này chuyển đến trọ chỗ khác. Từng có một gia đình và có đến 10 đứa con nhưng rốt cuộc “từng người tình bỏ ta đi như những dòng sông nhỏ”. Người tình của ông, tri kỷ của ông giờ chỉ còn là tiếng kèn với những giai điệu buồn đến nao lòng.

Tòng Sơn không phải là tên thật của ông. Ông tên là Dương Ngô Tòng, nghệ danh Tòng Sơn là để tri ân công lao dưỡng dục của thân phụ ông. “Sơn là tên cha tôi, Tòng Sơn có nghĩa là theo cha”, đó là giải thích của lão nghệ sĩ về nghệ danh của mình.

Nghệ sĩ Tòng Sơn sinh ra và lớn lên ở miền Tây Nam Bộ. Tuổi thơ của ông là những ngày chinh chiến chạy giặc Tây. Chưa bao giờ ông nghĩ sau này mình sẽ trở thành một danh cầm, một “quái kiệt” như bây giờ. Số phận run rủi, trong một lần tình cờ ông nhặt được cây kèn harmonica của một người lính Pháp đánh rơi trên đường đi bố ráp. Chiếc kèn Tây là lạ và đẹp ngày ấy đã gắn liền với số phận của ông.

Năm 16 tuổi, bằng chiếc kèn nhặt được, những giai điệu vỡ lòng bắt đầu được phát ra từng chính miệng của Tòng Sơn. Đi đâu Tòng Sơn cũng mang theo cây kèn harmonica ấy. 9 Tong Son 5Năm 1950, Tòng Sơn lên Sài Gòn làm thợ sắp chữ cho một nhà máy in. Những buổi tối buồn và nhớ nhà, Tòng Sơn lại mang kèn ra thổi, lúc đó Tòng Sơn mới phát hiện ra mình có năng khiếu về nhạc cụ này.

Tòng Sơn chính thức bước vào con đường nghệ thuật vào khoảng năm 1956 sau khi ông trúng tuyển trong cuộc thi “Tuyển lựa tài tử” do Đài phát thanh Pháp Á tổ chức. Từ đó tiếng kèn của ông vang xa và ngày càng điêu luyện hơn với các ngón nghề có một không hai. Thế giới nghệ thuật đầy hào hoa, cám dỗ đã quyến rũ Tòng Sơn bước vào. Nơi đó ông nhận được những vinh quang và cả những bạc bẽo đắng cay.

Tuổi già, bệnh liên miên không đi biểu diễn được, lão nghệ sĩ Tòng Sơn phải đối diện với một thực tế phũ phàng, tiền ăn cho mình, tiền thuốc, tiền trọ và nhiều thứ nữa. “Bạn bè, người thân và các nghệ sĩ đồng nghiệp chỉ giúp đỡ một phần nào thôi chứ làm sao lo hết được. Tôi đứng trên sân khấu Trống Đồng biểu diễn cho khán giả đến 25 năm, nhưng đến nay họ cũng cắt mất show này. Tôi sợ một ngày phải cô đơn nằm chết ở một góc phố nào đó”, nghe nghệ sĩ Tòng Sơn tâm sự mà chúng tôi cay mắt.

9 Tong Son 4Câu chuyện của nghệ sĩ Tòng Sơn kể cho chúng tôi nghe thỉnh thoảng phải dừng lại bởi cơn đau đột ngột. Mặt ông nhăn lại nhưng sau đó lại nở một nụ cười rất hiền. Nghệ sĩ Tòng Sơn nói rằng ông từng có một thời “oanh liệt” nhưng điều đó không quan trọng, bởi sứ mệnh của người nghệ sĩ là cống hiến, là con tằm rút ruột nhả tơ. Quy luật muôn đời là vậy, than trách để làm gì. Trong câu chuyện của Tòng Sơn, ông cố tránh né nhắc đến những cuộc tình, những người đàn bà đã từng được ông gọi là vợ. Có lẽ đó là nỗi niềm, là những điều thầm kín mà ông cần được tôn trọng.

Tất cả đã trôi qua, thực tại của ông bây giờ là căn bệnh tim ngày càng trầm trọng. Ông muốn có một chốn bình yên để nương náu khi tuổi đã về già. Tuy nhiên, cái mơ ước tưởng chừng như nhỏ bé ấy lại là quá xa vời với một người nghệ sĩ cả đời cống hiến như ông.

Mở chiếc valy chứa đầy các loại kèn harmonica lớn nhỏ mà ông cả đời sưu tập được, chọn một chiếc, nghệ sĩ Tòng Sơn thổi cho chúng tôi nghe bài Hạnh phúc lang thang.

“Nhưng năm tháng vô tình mà lòng người cũng vô tình / Rồi màu úa thay màu xanh / Người yêu xa bến mộng đò xưa đã sang sông dòng đời trôi mênh mông / Dáng xưa nay xa rồi đường khuya 9 Tong Son 6mưa rơi rơi/ Phố xưa quên một người bàn chân gieo đơn côi / Gió mang theo cơn lạnh về rót lệ trên môi…”.

Căn phòng trọ của ông bỗng trở nên chật hẹp, giai điệu bài hát buồn đến não nùng vượt xa khỏi không gian bé nhỏ ấy rồi lên tận đến trời xanh. Sài Gòn lại mưa, đôi mắt của nghệ sĩ Tòng Sơn ươn ướt.

Lá đơn xin vào Khu dưỡng lão nghệ sĩ của ông bị trả lại vẫn còn nằm im dưới chiếc gối ngủ mỗi đêm, thi thoảng ông đem ra đọc lại rồi ngậm ngùi tự hỏi : “Tôi có phải là một người nghệ sĩ không ?”.

Chương trình Một đời âm nhạc 

Chương trình Một đời âm nhạc – tôn vinh và gây quỹ giúp nghệ sĩ Tòng Sơn diễn ra vào 20 giờ tối thứ bảy 27/8/2016, tại nhà hát The V Show (sân khấu Nam Quang cũ).

Tham gia chương trình có các nghệ sĩ Vân Sơn, Tấn Beo, Chí Tài, Cát Phượng, ca sĩ hải ngoại Ngọc Ánh, Quang Hà, Nguyễn Phi Hùng, Khánh Bình, Khánh Ngọc, Minh Luân, Vỹ Khang, Vi Thảo, Ngọc Hân, Tiến Vinh, Thu Hồng, Lâm Ngọc Huỳnh, Mai Yến Chi, doanh nhân Kim Ánh Ngọc, nhóm Nhật Nguyệt, nhóm V Music New, 9 Tong Son 2Anhóm Ayor, quái kiệt Mai Đình Tới, quái kiệt Nguyễn Thế Vinh, “Người nhiều mặt” Phi Long… (theo Tiểu Vũ) 

– Nghệ sĩ khẩu cầm Tòng Sơn

https://youtu.be/G214tXPAnJ4

– Nghệ sĩ khẩu cầm cuối cùng ở Sài Gòn

https://youtu.be/03FREOqP0G4

– Harmonica huyền thoại – (0:19’)

https://youtu.be/K5l7SoGOqhI

Nghệ sĩ Tòng Sơn : Yêu thương cuộc sống (0:22’)

https://youtu.be/CFgeFFO7Dms

9 Le Uyen Phuong 1CẶP ĐÔI LÊ UYÊN PHƯƠNG 

MỘT THỜI VANG BÓNG

Những năm đầu của thập kỷ 70, Việt Nam bước vào giai đoạn khốc liệt nhất của cuộc chiến tranh. Trong đạn bom và máu lửa, phong trào phản chiến của học sinh, sinh viên diễn ra ngày càng rầm rộ.

Còn nhớ những đêm văn nghệ xuống đường tại Sài Gòn, bên cạnh những ca khúc Da Vàng của Trịnh Công Sơn, sự xuất hiện cặp song ca Lê Uyên – Phương như một hiện tượng, họ đã thổi một luồng gió mới vào nền tân nhạc thời bấy giờ.

Với giai điệu nồng nàn, khắc khoải đôi khi bàng bạc và triết lý, Lê Uyên – Phương đã được giới trẻ đón nhận nồng nhiệt trong những ca khúc nổi tiếng :

Bài ca hạnh ngộ, Còn nắng trên đồi, Dạ khúc cho tình nhân, Lời gọi chân mây, Vũng lầy của chúng ta…

Tuổi thơ

Lê Uyên Phương sinh năm 1941 tại Đà Lạt, là một trong những nhạc sĩ lớn của âm nhạc miền Nam Việt Nam trước 1975. Ông tên thật là Lê Minh Lập. Do giấy tờ bị thất lạc trong chiến tranh, tên của ông bị khai nhầm thành Lê Minh Lộc rồi Lê Văn Lộc. Ông giữ tên Lê Văn Lộc từ đó đến giờ.

Cha của Lê Uyên Phương vốn họ Phan nhưng vì cuộc cách mạng của Phan Bội Châu nên phải đổi thành họ Lê. Mẹ của Lê Uyên Phương là Công Tôn Nữ Phương Nhi, ông lấy chữ Phương trong tên của mẹ làm9 Le Uyen Phuong 2 tên cho mình. Cùng với chữ Uyên, tên người bạn gái đầu tiên, ông ghép thành Lê Uyên Phương.

Bản nhạc đầu tiên “Buồn đến bao giờ” được Lê Uyên Phương viết tại Pleiku vào năm 1960. Tám năm sau đó (1968), Lê Uyên Phương gặp Lâm Phúc Anh ở Đà Lạt, hai người thành hôn.

Họ trở thành đôi tình nhân song ca nổi tiếng. Lâm Phúc Anh không muốn dùng tên thật nên lấy tên là Lê Uyên. Hai người thường xuất hiện song ca trước công chúng nên được gọi Lê Uyên và Phương.

Thật ra, Lê Uyên là người Trung Hoa thuần chủng, sinh 1952 tại phố Hàng Bồ, Hà Nội. Cha chị người gốc Hải Nam, mẹ người Triều Châụ. Năm 1954, Lê Uyên cùng với bố mẹ và người em gái là Lâm Phi Yến từ Hà Nội di cư vào Nam, cư ngụ trong một ngôi nhà rất khang trang ở Chợ Lớn. Đây cũng là nơi đặt văn phòng của một Công ty vận tải chạy đường Qui Nhơn, Huế và Đà Nẵng do thân phụ chị khai thác.

Năm 1969, họ dắt nhau xuống Sài Gòn. Trong những năm đầu cùng nhau đi hát, Lê Uyên và Phương chỉ giới hạn phạm vi hoạt động của mình trong khuôn viên đại học với phong trào Du ca Việt Nam. Với giọng ca thiết tha và trầm ấm, 9 Le Uyen Phuong 3Lê Uyên và Phương đã đem một luồng gió mới đến với khán giả giả Sài Gòn những năm sau đó…

Yêu nhau trong lo âu…

Lê Uyên Phương là một người đa tài. Tuy nhiên, đến 27 tuổi, anh vẫn chưa có “mảnh tình vắt vai”. Lúc bấy giờ, trên thân thể chàng xuất hiện nhiều khối u lạ. Mặc dù bác sĩ chưa định ra chính xác là bệnh gì, nhưng ai cũng nghĩ chàng mắc bệnh ung thư xương, không biết sẽ ra đi vào lúc nào. Chính vì thế, anh không nghĩ đến hôn nhân  để khỏi gây khổ luỵ cho người khác.

Ngày ấy, 16 tuổi, nàng là nữ sinh trung học xinh đẹp và ngây thơ, được cha (một thương gia giàu có) đưa lên Đà Lạt  học tại Virgo Maria, một trường nữ trung học có tiếng thời bấy giờ. Vừa xinh đẹp, vừa giàu có, Lê Uyên được nhiều chàng trai tán tỉnh, ngày đêm thương nhớ.

Như một định mệnh, nàng lại gặp và yêu đắm say Phương, chàng nhạc sĩ mang trong mình căn bệnh hiểm nghèo không biết sẽ ra đi lúc nào. Nàng như con nai hiền, anh như một khu rừng già luôn xòe bóng mát chở che. Lê Uyên Phương hơn Lê Uyên 11 tuổi. Năm ấy, anh đã là một ông thầy giáo dạy Triết và  Nhạc tại một vài trường ở Đà Lạt. Chàng được học violon từ bé và bắt đầu sáng tác nhạc từ năm 20 tuổi, nhưng không ký tên thật là Lê Minh Lộc mà dùng bút danh Lê Uyên Phương.

Lê Uyên đã tâm sự : “Tôi yêu bởi cái tài và con người hiền lành, đạo đức, rộng lượng của anh. Nhưng yêu tha thiết hơn chính là vì căn bệnh hiểm nghèo của anh. 9 Le Uyen Phuong 4Cuộc tình chúng tôi lãng mạn, đau đớn cũng bởi không biết một ngày nào đó cả hai sẽ chia lìa nhau. Chúng tôi yêu nhau nồng nàn và như thành một khối từng ngày, từng giờ cũng bởi cái chết luôn ám ảnh”.

Một nghiệt ngã khác trong cuộc tình định mệnh này là gia đình Lê Uyên không chấp nhận cho con gái đến với một người nay sống, mai chết như Phương. Cha, mẹ Lê Uyên cấm không cho họ gặp mặt nhau mỗi ngày. Trong thời gian về lại Sài Gòn, để được gặp mặt, họ phải ngồi suốt ngày trong nhà ga Sài Gòn. Có khi bụng đói rã rời, chỉ có mẩu bánh mì nhỏ trong bụng, ấy vậy mà họ vẫn không lìa nhau. Họ sống như thế một tháng trời. Những lúc nhớ thương người yêu da diết, anh dành hết cho âm nhạc. Những ca khúc trong tập “Khi loài thú xa nhau” đã ra đời trong hoàn cảnh chia lìa như thế.

Sau này, nhà văn Song Thao có viết về cuộc đời và hoàn cảnh những tác phẩm của Lê Uyên Phương:

“Hồi đó… Nàng quen em gái anh và thỉnh thoảng vẫn lui tới nhà. Lúc đầu nói chuyện thường thường rồi sau anh trở thành “cố vấn” của nàng. Nàng hỏi ý kiến anh đủ thứ chuyện kể cả chuyện yêu đương nhăng nhít”. Họ yêu nhau lúc nào không biết. Tôi hỏi anh ngỏ tình yêu ở đâu. Trên đồi ! Đà Lạt có những ngọn đồi mộng mơ cho những kẻ yêu nhau quấn quít..

Tiếng Lê Uyên và Phương từ chiếc máy cassette quấn lấy nhau vọng ra :

9 Le Uyen Phuong 9“ …Lệ ngập ngừng bờ mi.

Giọt nước mắt lăn nỗi buồn.

Giọt nước mắt xa cách vời vợi trông.

Giờ này còn nhìn nhau.

Nhìn đắm đuối như suối bền.

Nhìn suốt kiếp như chết mòn.

Nhìn hấp hối thương đau.

Ngày mai ta không còn thấy nhau”

(Cho Lần Cuối).

Anh khẽ bảo tôi chính vì bài này mà người ta đồn là anh sắp chết. Bệnh tật của anh đã trở thành huyền thoại. Người ta bảo là anh chỉ còn sống được một năm nữa. Người ta đồn là vào năm 1972 anh sẽ chết. Anh đưa bàn tay trái cho tôi coi. Trên lưng ngón tay trỏ nổi lên một cục bằng trái cà chua nhỏ đỏ au và mòng mọng. Những đường gân máu chạy nổi thấy rõ. “Bác sĩ cũng chưa thể định là bệnh gì.

Bây giờ nó đã nổi thêm trên mấy ngón khác và một vài chỗ trong người. Muốn chữa bây giờ chỉ có thể cắt ngón tay này nhưng tôi chưa muốn cắt”. Anh xác nhận là những bài ca viết về sự chia phôi không phải là do bị ám ảnh bởi cái chết nhìn thấy trước mà do sự rắc rối và xa cách của mối tình đẹp nhất đời anh và khi được hạnh phúc anh luôn luôn sợ ngày nó sẽ hết. Người nghệ sĩ không những sống cho mình mà còn thông cảm được với cuộc sống của những người khác. Anh đã nhìn thấy cái chết và 9 Le Uyen Phuong 5đã nghĩ nhiều về cái chết…”

“Chuyện tình của họ đòi đoạn đớn đau. Gia đình nàng không chấp nhận. Họ mê say trong trốn chạy. Năm 1968, hai người sống ở Sài Gòn. Họ không có một chỗ gặp gỡ nhau. Suốt ngày hai người ngồi trong sân nhà ga Sài Gòn. Thỉnh thoảng họ phải làm bộ ngoắc tay những hành khách ngồi trên xe ca của hãng Hàng không Việt Nam cho ra vẻ ngồi chờ người nhà. Mỗi ngày chỉ có một mẩu bánh mì nhỏ trong bụng.

Họ sống như vậy một tháng trời. Tình yêu của họ được kết hợp bằng những ngày không có nhau. Chính những ngày xa cách nhớ thương là thời gian anh sáng tác nhạc. Những bản nhạc đang dần dần quen thuộc với mọi người được kết tinh trong sự nhớ thương đó nên nặng mang sự chia phôi. Mười hai bài trong tập “Khi Loài Thú Xa Nhau” được viết trong thời kỳ này. Nó không còn mang tình yêu thơ mộng, tình yêu trong trí tưởng, thật xa và thật huyền diệu như mười bài trong tập “Yêu Nhau Khi Còn Thơ” được sáng tác trong thời kỳ trước đó khi chưa gặp Lê Uyên”.

…Đà Lạt hoang sơ quyến rũ đã đưa anh trở về những rung cảm nguyên thủy của buổi hồng hoang. Không có Đà Lạt chắc khó có một thứ nhạc độc đáo Lê Uyên Phương. Mỗi ngày anh thức dậy từ sớm đi lang thang khắp núi đồi Đà Lạt tới khoảng nắng lên thì trở về nhà nghỉ. Khi mặt trời đi ngủ anh lại đi cho tới tối trở về ngồi vào viết tới sáng”.

9 Le Uyen Phuong 6

Ngày mai, ta không còn thấy nhau.

Năm 1979, Lê Uyên và Phương rời khỏi Việt Nam và định cư tại Nam California, Hoa Kỳ. Họ có hai con gái là Lê Uyên Uyên và Lê Uyên My. Sau 15 năm chung sống, khoảng năm 1984 hôn nhân của hai người tan vỡ.

Sau đó, Lê Uyên Phương lâm bệnh nặng. Sau một thời gian điều trị ở bệnh viện UCI (University Of California in Irvine) Lê Uyên Phương đã về nhà người con gái lớn của anh là Lê Uyên Uyên để sống. Đó là những ngày tháng bi thảm với một tình trạng sức khỏe sa sút do căn bệnh ung thư phổi tàn phá.

Cuối cùng, anh lại được đưa lại bệnh viện này để trút hơi thở cuối cùng vào chiều thứ Ba 29/06/1999, hưởng dương 59 tuổi. Ông ra đi trong niềm luyến tiếc của mọi người yêu âm nhạc.9 Le Uyen Phuong 7

Ngày anh ra đi,  Lê Uyên suy sụp và gần như không gượng lại nỗi. Lê Uyên nhớ lại : “Lúc anh mất, tôi đã chuẩn bị thuốc ngủ để theo anh. Tôi khóc từ sáng đến đêm khuya, ngày nào cũng khóc và ngay khi tôi định tìm đến cái chết bởi quá tuyệt vọng thì tôi cảm nhận được có điều gì đó từ anh không muốn tôi như vậy.

Có thể anh đã xui khiến một người bạn gọi đến cho tôi. Tôi còn nhớ rất rõ đó là ngày thứ 50 anh mất. Tôi không ngờ người bạn ấy có thể nói được những lời mà trước đây anh từng nói với tôi : “Nếu như nhạc của anh không có mình (anh không gọi tôi bằng em mà gọi là mình) thì không biết phải làm sao. Mình không thể khóc hoài như vậy, mình phải sống và có bổn phận gìn giữ, đưa âm nhạc của anh thăng hoa”.

Hơn 16 năm trôi qua… Giờ đây, Lê Uyên Phương không còn nữa nhưng tình khúc của ông đã trở thành những viên ngọc quý. Với giai điệu đam mê, đầy luyến tiếc, người ta còn thấy ở Lê Uyên Phương một tấm lòng bao dung và sự chắt chiu cho âm nhạc. 9 Le Uyen Phuong 9Một ngày nào đó, trong góc khuất của đời sống, ngồi nghe lại “Dạ khúc cho tình nhân”:

“…Ngày em thắp sao trời

Chờ trăng gió lên khơi

Mà mưa bão tơi bời

Một ngày mưa bão không rơi

Trên đôi vai thanh xuân

Ướp hôn nồng bên gối đắm sayÁnh sao trời theo gió rụng rơi đầy…”

chúng ta mới thấy hết sự da diết, nồng cháy và ngọt ngào của một tình yêu đã đi xa. (theo Trương Văn Khoa)

– Những ca khúc hay nhất của Lê Uyên Phương (1:49’)

https://youtu.be/V0IKZkMJCow

– Những tình khúc bất tử của Lê Uyên Phương (1:10’)

https://youtu.be/Lh2O97JwE_4

– Tuyển tập những bài hát hay nhất của Lê Uyên Phương (2:10’)

https://youtu.be/7AqSMVj6Ggk

– Tiếng hát Lê Uyên (nhạc Trịnh Công Sơn) (0:27’)

https://youtu.be/7G9UAenAWKM

Lê Uyên là một nữ ca sĩ đã thành danh từ khi còn ở trong nước, với tiếng hát đã gắn liền với những ca khúc của Lê Uyên Phương kể từ cuối thập niên 60. Ra đến hải ngoại tên tuổi của Lê Uyên vẫn giữ được một chỗ đứng cao với một giọng hát mạnh cùng một sự diễn đạt đầy tình cảm. Sau trên 30 năm góp mặt trong làng ca nhạc, 9 Le Uyen Phuong 8tuy rằng hiện nay những hoạt động của chị cũng như những ca sĩ cùng thời khác không còn được mạnh mẽ như xưa, nhưng đối với mọi người thì Lê Uyên vẫn là một khuôn mặt lớn.

List : 1/. Tôi sẽ đi thăm- 2/. Huế Sài Gòn Hà Nội – 3/. Hát trên những xác người – 4/. Ngày dài trên quê hương – 5/. Ca dao mẹ – 6/. Người con gái Việt Nam – 7/. Gia tài của mẹ – 8/. Bài ca dành cho những xác người – 9/. Người về bỗng nhớ – 10/. Hãy nhìn lại

Lan Hương tổng hợp chuyển tiếp

TRỞ LẠI NGHI ÁN “KỶ VẬT CHO EM”

Logo Van nghe

quan-toaNGHI ÁN “KỶ VẬT CHO EM”

Mới đây trang “Một thời Sài Gòn” có nhận được bài chuyển tiếp từ Facebook, với người viết là Nguyễn Hải Bằng.

Thực ra trang “Một thời Sài Gòn”, và trang Hồ Ngọc Cẩn vào năm 2011 đã từng lên tiếng về nghi án này, do bạn Trần Truy Phong (T.T.Phong) một đồng môn của chúng tôi, cũng là một đồng đội từng biết về Chuẩn Nghị. Đồng thời sau khi nhạc phẩm “Kỷ vật cho em” được cho là phổ thơ của tác giả Linh Phương, đến nay đã nửa Thế Kỷ mà tác giả Linh Phương không có bài thơ nào được phổ nhạc thêm dù ở trong hay ngoài nước, điều này càng cho thấy nghi án “Kỷ vật Cho em” là đúng đắn.

Mời các bạn đọc lại bài : Nghi án “kỷ vật cho em” được đăng tải vào ngày 08/10/2011 trên trang “Một thời Sài Gòn” (xin bấm vào đường dẫn trên), Và mời các bạn tiếp tục đọc bài của người viết Nguyễn Hải Bằng mới post trên trang xã hội Facebook mới đây.(ngày 5/9/2016)

Cao Bồi Già

ng-hai-bangKỶ VẬT CHO EM…

THƠ CỦA AI ?

Tôi có nhiều người bạn lính thời VNCH. Thuở đó,chiến tranh khốc liệt, đa phần những người trẻ đều khoác áo lính trừ những trường hợp hoãn dịch vì gia cảnh hay học vấn. Biên giới giữa sống và chết mong manh, nên những bài nhạc về lính thường mang màu sắc buồn và bi qua

Nhạc sĩ Phạm Duy đã phổ nhạc bài “Kỷ vật cho em” (Được cho là của Linh Phượng) và bài nhạc trở nên nổi tiếng vì nói về tương lai người lính ảm đạm
Hôm nay, tình cờ người bạn gửi mail, nói bài thơ không phải của Linh Phượng mà là của Chuẩn Nghi, nên post bài này để các bạn tham khảo

Thơ của ai ?

Bài thơ liên-quan bản nhạc Kỷ Vật Cho Em của Phạm Duy. Hơn 40 năm dài, từ năm 1969. Tình cờ qua trang của lính,Tr Chien si 1 tôi đọc được một bài viết của anh Tr/Tá Bùi Đức Lạc PB ND liên quan đến người bạn ND quá cố của tôi xin chia-xẻ cùng anh em.

Bài nhạc nổi danh của nhạc sỹ Phạm-Duy đã được nhiều ca sỹ hát đi hát lại, nói lên nổi lòng của anh em trẻ đi vào cuộc chiến thuở bấy giờ thật xúc-động và ngậm-ngùi !

Sự thật tác giả không phải của Linh Phương mà của Chuẩn Nghị ! Chuẩn Nghị tên thật là Nguyễn Đức Nghị người Phan-Rang. Đi khóa 26 Thủ Đức, anh ta viết nhiều thơ đăng trên báo Văn Nghệ Tiền Phong trong trang thơ của Lý Thụy Ý phụ trách.

Năm 1969, tôi bị thương mới hồi-phục, Nghị đóng quân ở Bình-Điền khi lại thăm Nghị và các anh em trong đơn-vị cũ trong đó có Nguyễn Trọng Nhi, Trần Chí Mỹ, và các anh em khác.

Khi tâm-sự riêng với nhau, Nghị rất bực-tức về bài thơ mà anh làm gởi đăng báo Tiền Phong lại được Phạm Duy phổ nhạc với tên tác giả khác ! Người sĩ quan trẻ trong đơn vị Nghị nhờ đưa bài thơ này cho Lý Thụy Ý lại giao cho nhạc sỹ Phạm Duy, thấy hay nên ông này làm bài nhạc luôn !

Trong bài thơ của Nghị là lời nhắn lại cho Nga người tình mà khi hữu sự Nghị biên thư cho tôi trao cho cô ấy. Hoàn cảnh đang bị bế tắc 9 Pham Duy 1vì mẹ cô Nga không thích Nghị người miền Bắc ! Sau đó khi đi hành-quân ở Tây Ninh Nghị tử trận.

Chuyện khiếu nại với Phạm Duy kể như im luôn và bài nhạc được phổ biến với lời thơ của Linh Phương mãi cho đến nay chỉ có một bài viết của anh cựu Tr/Tá Nhảy Dù Bùi Đức Lạc đưa ra trở lại.

Bài thơ này Nghị viết bằng mực đỏ, cho tôi xem, nhưng vì lời thơ quá chán đời, tôi không chịu lấy, chỉ đọc qua thôi ! Trước khi tôi bị thương ở Vên Vên Đá Hàn, Nghị có tặng cho tôi bốn câu thơ cũng giọng thơ chán đời chết chóc, Nghị viết trong một miếng giấy khổ lớn cũng bằng mực đỏ và trao cho tôi trong phòng ngủ của đơn-vị, tôi cho là điềm xấu xé đi sau khi đọc nó.

Nghị nói : “Tao cho mày bốn câu thơ này làm kỷ niệm ! Nếu tao có chết mày lấy ra đọc Tr thap nhang 1để nhớ tao !“ Tôi còn nhớ nó như sau :

“Ngày mai gục chết đau thương,

Thây ma vất vưõng nơi phương trời nào .

Người yêu ai có nguyện cầu ?

Cỏ hoang xanh mọc lên màu lãng quên !“

(Chuẩn-Nghị)

Khi Nghi mất, đem xác về nghĩa-trang Quân Đội Biên Hoà, tôi và Nga có lên tiễn linh cửu lần cuối cùng để đưa về chôn ở Phan Rang. (TT Phong)

Nguyên tác bài thơ “Kỷ Vật Cho Em” (Chuẩn Uý Nguyễn Đức Nghị, TĐ8, Nhẩy Dù)

Em hỏi anh bao giờ trở lại ?

Anh trả lời mai mốt anh về

Anh trở về không bằng áo hoa mũ đỏ

Tr Chien si 4Anh trở về không bằng huy chương chiến thắng

Anh trở về trong chiều hoang chiều nắng

Trong hòm gỗ hay trên chiếc băng ca

Anh trở về nằm giữa những vòng hoa

Những vòng hoa chan hoà nước mắt

Anh gửi về cho em một vài kỷ vật

Đây chiếc nón sắt xuyên mấy lỗ đạn thù

Nó đã từng che nắng che mưa

Đã từng hứng cho anh giọt nước

Chiều dừng quân nơi địa đầu lạnh buốt

Nấu vội vàng trong đó nắm cơm khô

Tr Chien si 9Anh gửi cho Em một tấm poncho

Đã rách nát theo hình hài năm tháng

Lều dã chiến trong chiều hoang cháy nắng

Che cơn mưa gió lạnh buổi giao mùa

Làm chiếc võng nằm nhìn đời lính đong đưa

Và khi chết cũng poncho tẩm liệm

Nay anh gửi cho Em làm kỷ niệm

Nhận không Em tình lính chút này đây

Tình lính đơn sơ vì chinh chiến kéo dài

Nhưng tình lính chỉ lạt phai

Khi hình hài và con tim biến thể

Nguyễn Hải Bằng

Mời nghe ca khúc : Kỷ vật cho em – Khánh Ly / Anh Ngọc (thu âm trước 1975)

https://youtu.be/yOoqH2BXKlE

Ng Viet 1CHUYỆN BÀI THƠ

ĐEM PHỔ NHẠC

– Bài Nguyễn Việt

Vào năm 1971 khi nhạc phẩm “Kỷ vật Cho em” được các ca sĩ Lệ Thu rồi Elvis Phương diễn tả trong những chủ đề băng nhạc mang tên Shotguns, đã làm rung động tâm hồn mọi người vì một lý do, tác phẩm nói đến một tâm tình một anh lính đã trở thành phế binh sau một trận chiến, qua những lời ca khúc :

Em hỏi anh bao giờ trở lại / Xin trả lời mai mốt anh về / Không bằng chiến thắng trận Pleime / Hay Đức Cơ- Đồng Xoài – Bình Giả…/ Mai anh về trên đôi nạng gỗ / Bại tướng về làm gã cụt chân…

Lúc đó ai cũng nghĩ nhạc và lời của Phạm Duy, vì trên poster được in ấn để bán ra cholinh-phuong-1 người hâm mộ chỉ có mỗi mình tên của Phạm Duy.

Nhưng đùng một cái bài “Kỷ vật cho em” trở thành scandal sau đó không lâu, không phải bị tịch thu, bị cấm hát vì mang tinh thần phản chiến trong thời gian đó. Nên nhớ người viết từng có bài viết “Ca nhạc sĩ Sàigòn trước năm 1975”, khi nói đến chính quyền thời bấy giờ luôn động viên các văn nghệ sĩ trong các sáng tác phẩm mang tính chiến đấu.

Nhạc phẩm “Kỷ vật cho em” không nằm trong diện này, mà vì có một người làm thơ mang tên Linh Phương lên tiếng cho rằng bài thơ “Kỷ vật cho em” đã được anh gửi đăng trên nhật báo Độc Lập, lúc còn bận hành quân trên lãnh thổ Campuchia, có lẽ tình cờ nhạc sĩ Phạm Duy được đọc bài thơ trên nên đã phổ thành nhạc. rồi Linh Phương phát biểu tiếp “Phạm Duy đã “cầm nhầm “bài thơ “Kỷ vật cho em” của tôi để phổ nhạc mà không cần biết tới tôi là ai…”

Tuy phát biểu như thế nhưng Linh Phương vẫn hoàn toàn giữ thái độ im lặng, không tìm đến Phạm Duy để đòi tiền bản quyền khi chưa xin phép anh phổ nhạc bài thơ này. Nhưng sau khi báo chí đăng tải nguồn tin trên, trên thị trường đã có những poster “Kỷ vật cho em” được tái bản, và hình như nhạc sĩ Phạm Duy đã cẩn thận in rõ ràng trên đó là “thơ Linh Phương – nhạc Phạm Duy”. Điều này ít ra cũng đã xoa dịu phần Tiec thuongnào tự ái của nhà thơ vốn mang tính… ngông trong đời lính.

Nhưng một thời gian sau, nhà thơ Linh Phương đã khám phá được trò “ma giáo” (theo trang web của Linh Phương) của Phạm Duy. “Đàn anh văn nghệ” vẫn cố tình không để tên đàn em trong tập nhạc mang chủ đề “Kỷ vật cho chúng ta “, trong đó đăng bài nhạc “Kỷ vật cho em”. Làm nhà thơ Linh Phương nổi giận.

Ký giả Phan Linh lúc đó cộng tác trên tờ “Sân Khấu Truyền Hình số 1 – bộ mới năm 1971” viết :

– “Thú thật, chúng tôi rất lấy làm ngạc nhiên khi nghe anh Linh Phương phàn nàn, khi nghĩ về thái độ không được đẹp của nhạc sĩ tài danh Phạm Duy, người mà gần đây được giới trẻ gán cho danh từ “Bố già Hippy “.

Anh Linh Phương khẳng định, sở dĩ anh chưa thực sự lên tiếng trên báo chí về trường hợp “Kỷ vật cho em” là vì anh muốn chờ ở Phạm Duy có một cư xử văn nghệ. Vả lại, anh không muốn hạ một kẻ đã ngã ngựa như Phạm Duy, một nhạc sĩ tài hoa với “Bà mẹ Gio Linh“ (?!), với những bài dân ca ngày xưa, nay đã bán linh hồn cho quỷ dữ sa tăng, dâm ô đồi trụy …” (sic)

Ky vat 2Bài báo tiếp tục viết : Bởi thế nhà thơ Linh Phương dự định tổ chức một đêm thơ nhạc “Kỷ Vật Cho Em – Từ Vùng Đất Chết“ tại một quán văn nghệ ở Sài Gòn, sẽ mời Phạm Duy cùng một số anh em ký giả, văn nghệ sĩ đến chứng kiến cuộc nói chuyện công khai cùng nhạc sĩ Phạm Duy về bài nhạc “Kỷ vật cho em”.

Sau khi bài báo trên ra mắt, nhạc sĩ Ngọc Chánh ông bầu băng nhạc Shotguns đã cùng Phạm Duy tức tốc đi tìm nhà thơ Linh Phương để giải quyết bản quyền bài thơ “Kỷ vật cho em” dứt điểm, bởi Ngọc Chánh đâu ngờ ông mua độc quyền nhạc phẩm “Kỷ vật cho em” của Phạm Duy để khai thác trong các băng nhạc Nguồn Sống, lại đụng đến bản quyền của một người khác tức nhà thơ Linh Phương.

Mặc dù Phạm Duy phải chịu trách nhiệm, nhưng nhạc sĩ Ngọc Chánh là người làm ăn nếu để mang tai tiếng khi cơ sở của ông đang khai thác độc quyền bài “Kỷ vật cho em”, nên một lần nữa ông “bỏ tiền ra” trả bản quyền dùm cho Phạm Duy. Nghe đâu tiền tác quyền bài thơ khoảng 150.000đ tương đương giá trị của 5 lượng vàng lúc đó. (ngưng tr1ch)

Tr cao boi gGia 5LỜI BÀN CỦA “CAO BỒI GIÀ” : theo lời bạn TT Phong xác nhận, nhạc phẩm “Kỷ vật cho em” do NS Phạm Duy phổ nhạc là từ bài thơ “Kỷ vật” của Chuẩn-Nghị. Nhưng từ nhiều năm nay trên diễn đàn văn nghệ, mọi người đều cho rằng Phạm Duy phổ từ bài thơ “Để trả lời một câu hỏi” của Linh Phương..

Còn về tờ Nhật báo Độc Lập, theo Linh Phương bài “Để trả lời một câu hỏi” đã được đặng trên trang văn nghệ của báo, nên theo Cao Bồi Già lúc đó cũng đang cộng tác với báo này qua mục điện ảnh tân nhạc (ông Đinh Văn Phát làm chủ nhiệm, anh Hoàng Châu làm Chủ bút, soạn giả Mộc Linh làm Tổng thư ký, còn trang văn nghệ do ký giả Thiện Mộc Lan (TML) phụ trách. Khi nghi án xảy ra tôi có hỏi TML, có biết bài thơ “Để trả lời một câu hỏi” này không ? Thì chính TML chỉ nói rằng không nhớ, vì “văn nghệ trẻ” gửi bài về nhiều quá !

Cao Bồi Già tổng hợp chuyển tiếp

Logo nhan vat 1

tr-thanh-thuyTHANH LAN TIẾNG HÁT CỦA

KHUNG TRỜI ĐẠI HỌC

–  Trịnh Thanh Thủy

Nhắc đến Thanh Lan, hầu như người dân miền Nam Việt Nam trước năm 1975, ai cũng biết. Hình dáng một cô ca sĩ áo trắng với đôi mắt to, nụ cười duyên dáng có tiếng hát trong trẻo, thanh tao đã làm mê đắm biết bao người.

Nhất là các chàng sinh viên, học sinh còn cắp sách đến trường ở các khuôn viên đại học, ai không từng mơ ước được hân hạnh gặp cô dù một lần. Cô từng là một ca sĩ hát nhạc trẻ, nhạc Pháp được hâm mộ và đã tham dự những buổi đại hội nhạc trẻ được tổ chức trước năm 1975. Ngoài việc rất ăn ảnh, Thanh Lan là một tài năng hiếm có và đa dạng. Cô không những thành công trong lãnh vực âm nhạc mà còn trên sân khấu kịch nghệ và điện ảnh.

Cô bắt đầu sự nghiệp nhiều mặt của mình khi 12 tuổi đi hát cho đài phát thanh trong ban Việt Nhi. Năm 18 tuổi diễn vở kịch thứ nhất trên đài truyền hình và năm 20 tuổi bắt đầu đóng cuốn phim đầu tiên. Cô học trung học ở trường Pháp Marie Curie, và tốt nghiệp đại học ở Văn Khoa. Cô đã từng lưu diễn nhiều nơi trong và ngoài nước. 9-thanh-lan-1Hiện nay cô định cư ở Hoa Kỳ và vẫn tiếp tục sự nghiệp nghệ thuật của mình.

Tôi được gặp gỡ cô nhiều lần, dáng vẻ và giọng hát của cô không mấy thay đổi. Nét đẹp và dáng vóc thanh xuân vẫn còn lưu giữ, nụ cười vẫn tươi tắn và cung cách đối xử vẫn nhẹ nhàng, dễ thương và “chết người” như bao giờ (may tôi là phái nữ).

Trịnh Thanh Thủy (TTT) : Chào chị Thanh Lan. Với T và người Việt hải ngoại, có lẽ hình ảnh người ca sĩ áo trắng tuổi học trò thật dễ thương của chị vẫn còn ghi đậm trong ký ức họ. Hôm nay T xin phép được hỏi chị về những câu chuyện xảy ra trong thời gian trước 1975 như một trở về quá khứ nhé chị.

T được biết chị đi hát từ năm 12 tuổi. Xin chị kể lại kỷ niệm lần đầu chị lên sân khấu như thế nào ở cái tuổi 12, nếu chị còn nhớ. Ban Việt Nhi do ai sáng lập và bài hát đầu đời trên sân khấu của chị là gì?

Thanh Lan (TL) : Những ngày mới bước chân vào lớp sixième (đệ thất) trường Marie Curie, Thanh Lan có thói quen nghe những chương trình tân nhạc Việt Nam trên đài phát thanh Saigon. Lúc ấy mới 12 tuổi nhưng đã mê âm nhạc lắm và đã học qua 3 năm piano với ma sơ trường Saint Paul, bà Thẩm Oánh và ông Nghiêm Phú Phi.

9-thanh-lan-2Một buổi trưa Chủ Nhật, Thanh Lan vô tình nghe được chương trình phát thanh của ban Việt Nhi do nhạc sĩ Nguyễn Ðức điều khiển. Thích lắm, nên tâm sự với Mẹ. Mẹ bèn kể cho thầy Nghiêm Phú Phi, nên thầy đã viết thư giới thiệu để ngày Chủ Nhật sau Thanh Lan được Mẹ (tức bà Thái Chi Lan em của ông Thái Thúc Nha chủ  hãng phim Alpha, cha là nhà  chính trị  Phạm Thái, nên Thanh Lan có  tên Pham Thái Thanh Lan – Ng Việt) dẫn đến đài phát thanh Saigon gặp nhạc sĩ Nguyễn Ðức.

Rồi tuần sau nữa, Thanh Lan được cậu Liêm đưa đến nhà của nhạc sĩ Nguyễn Ðức để thử giọng, rồi Chủ Nhật tuần sau đó nữa Thanh Lan được đơn ca lần đầu tiên trong đời bài hát do chính Thanh Lan chọn (mà cậu Liêm đã đàn guitar tập cho Thanh Lan ở nhà). Ðó là nhạc phẩm “Vui đời nghệ sỹ ” của nhạc sĩ Văn Phụng. Thanh Lan thâu đài phát thanh Saigon mỗi Chủ Nhật, chừng hơn một năm thì ngưng vì chương trình học của trường quá nặng. Sau này nhạc sĩ Nguyễn Ðức cũng có sắp xếp cho các học trò hát tại các sân khấu.

TTT : Là một sinh viên Văn Khoa ngày ấy, vừa đi học vừa xây dựng sự nghiệp ca hát, đóng kịch, điện ảnh, làm sao chị có thể hoàn tất mọi việc và lấy được chứng chỉ tốt nghiệp hay thế ? Kiến thức đại học có giúp ích gì cho sự trau dồi nghệ thuật không ?

TL : Thanh Lan nhớ nhất là ngày quay phim Yêu của đạo diễn Ðỗ Tiến Ðức. Ngày đó Thanh Lan cũng phải vào đài truyền hình để quay hình một bài hát rất buồn, phải tập trung tư tưởng dữ lắm. Ðến giờ đi quay phim, đoàn phim đến đón mà bài hát chưa quay xong.9-thanh-lan-3 Thanh Lan đang nước mắt lã chã rơi, đứng hát trước máy quay hình mà đã nhìn thấy bà chủ hãng phim lấp ló bồn chồn.

Cố gắng lắm, mới diễn cho xong bài hát để chạy đến căn biệt thự mà đoàn phim đang chờ. Nhưng lâu lâu mới gặp hôm bận bịu như vậy chứ thật ra thì mười bữa, nửa tháng mới thâu TV một lần. Thanh Lan cũng không hát phòng trà ban đêm, chỉ hát ở Ritz với anh Jo Marcel có vài tháng vì ba của Thanh Lan lỡ nhận lời khi Thanh Lan còn đang đi hát tại Âu Châu vắng nhà. Thanh Lan thật sự hát độc quyền tại phòng trà Tự Do năm 1974.

Thanh Lan học về văn chương, chủ yếu là đọc sách nhiều, nhớ đến những ngày gần như thuộc lòng hai cuốn Moby Dick và The scarlet letter, rồi Hamlet… Dĩ nhiên đọc sách nhiều cũng giúp cho nội tâm mình phong phú hơn. Và những vở kịch mình đã học qua cũng giúp ích cho mình khi phân tích những nhân vật hoặc bài hát mình sắp trình diễn.

TTT : Ngoài tài năng ca hát, chị cũng rất xuất sắc trong lãnh vực thoại kịch. Từ thời thơ ấu, trước 1975, T đã từng thấy chị trong khung hình TV đen trắng của đài Truyền Hình VN số 9 trong ban kịch Vũ Ðức Duy với vở Những người không chịu chết của kịch tác gia Vũ Khắc Khoan (giám đốc Kịch nghệ tại trường Quốc Gia Âm Nhạc ở Sài-gòn). Kịch của ông thường có nét kịch Tây phương và tính triết lý cao. T nhớ một phân cảnh trong một cửa tiệm của thương xá có bày những pho tượng ma-ni-canh (mannequin) vào ban đêm.

Chị thủ vai một cô gái bị bệnh tâm thần đứng thủ thỉ nói chuyện với các pho ma-ni-canh. Lời thoại đôi khi khó hiểu. 9-thanh-lan-4Xin chị cho biết, chị có gặp khó khăn hay trở ngại trong việc diễn xuất, khi được giao đóng một vai chính khó như vậy không? Từ sân khấu âm nhạc qua kịch nghệ chị học hỏi từ đâu và có phải qua một trường lớp nào trong việc huấn luyện không ?

TL : Như khi nãy TL vừa thổ lộ, từ thuở trung học Marie Curie TL đã học phân tích nhiều vở kịch của Molière, Corneille, Racine. Rồi khi lên đại học thì có diễn vở “A streetcar named desire” do ông Duane Hauch giáo sư người Mỹ đạo diễn và diễn tại Hội Việt Mỹ Saigon (TL diễn vai Stella). Bản tiếng Việt do anh Lê Tuấn dịch. Ngoài ra, từ mấy năm trước TL đã thủ vai chính cho nhiều vở bi kịch trên màn ảnh nhỏ trong các ban kịch Linh Sơn, Vũ Ðức Duy, Mặc Can.

Năm 1971, Ban kịch Thanh Lan được thành lập và ra mắt khán thính giả lần đầu trong vở “Những người không chịu chết” của giáo sư Vũ Khắc Khoan trên đài truyền hình Saigon. (Trước khi quay hình có đến tận nhà giáo sư xin phép đàng hoàng. Giáo sư tin tưởng nên mới cho phép). Mục đích của ban kịch là gửi đến khán giả những tác phẩm văn học Việt Nam và các nước. Các thành phần diễn viên đều có trình độ đại học, gồm có:

Thanh Lan, Nguyễn Lập Chí trong hai vai nữ và nam chính, Special guests: Vũ Ðức Duy, Lê Cung Bắc , Hoàng  Oanh, Phạm Thái Dũng, và một số kịch sĩ sinh viên. Ðặc biệt nhạc nền Thanh Lan đã nhờ nhạc sĩ Lê Uyên Phương viết. Và thêm phần soprano vocal với các giọng nữ Mai Hương, Quỳnh Giao và Thanh Lan. Vở kịch này cũng đã được diễn tại rạp Norodom Saigon và trường đại học Dalat.

Thanh Lan dự định năm 74 sẽ trình làng vở “Ngộ nhận” (Le malentendu của Albert Camus). Nhưng bận bịu quá, rồi qua 75 thì coi như hết làm gì được rồi

9-thanh-lan-5TTT: Là một nghệ sĩ đa tài, chị bước vào điện ảnh và thành công liên tiếp. Trong các phim chị đóng qua trước 75, chị thích vai trò của mình trong cuốn phim nào nhất ? Tại sao ?

TL : Cũng nhờ diễn kịch trên TV nên TL đã được sự tin tưởng của các đạo diễn từ những ngày mới đến với điện ảnh. Trước 75, vai chính đầu tiên là “Tiếng hát học trò”, đạo diễn Thái Thúc Nha, TL cùng diễn với Huy Cường, Thu Hương. Vai chính cuối cùng trước 1975,  là “Number ten  blues”. Phim này do hãng Amino ở Tokyo sản xuất, TL cùng diễn với các tài tử Nhật Yusuke Kawazu, Kenji Isomura và tài tử Việt Nam Ðoàn Châu Mậu.

Khi ra mắt tại các đại hội điện ảnh quốc tế năm 2013 (Canada, Pháp, Mỹ, Hoà Lan, Nhật) thì đạo diễn Norio Osada đã thêm vào tên phim “Good bye Saigon”. Lý do vì sao 38 năm sau mới ra mắt thì đạo diễn nói đây là một phép lạ vì tưởng cuốn phim thất lạc rồi.

Ðây cũng là vai trò TL thích nhất vì có nhiều challenge cho một tài tử Việt Nam vào thời đó. Trước hết phải diễn bằng tiếng Anh, phải chạy suốt chiều dài thành nội ở Huế, phải lội dưới sông, lăn lộn giữa bùn cùng hai tài tử Nhật, và phải biết… hát. Hihi.

TTT : Năm 1971 chị được trao giải “Nữ diễn viên nhiều triển vọng nhất” của Giải thưởng Văn Học Nghệ Thuật thuộc phủ Tổng Thống, qua bộ phim “Tiếng hát học trò”. Chị có kỷ niệm nào đáng nhớ khi đóng bộ phim đã làm nổi danh chị trong giải thưởng này không?

TL : Theo quan niệm riêng của Thanh Lan thì sau khi đã diễn những vở kịch dài hằng mấy tiếng đồng hồ trên TV mà không được ngưng lại để nghỉ (trừ khi hết màn phải vào thay áo qua màn sau), thì đóng phim quá… khỏe, vì chỉ cần thuộc có một câu hoặc một đoạn rồi ngừng lại để … đặt đèn lại và đổi góc máy. Nhưng diễn như vậy cũng không thoải mái vì đang khóc ngon lành đạo diễn lại bảo “cắt”.

Rồi nửa tiếng sau, khi các chuyên viên đã làm xong công việc của họ rồi thì mình lại vào ngồi… khóc tiếp. Nói tóm lại việc nào cũng có cái khó của nó. Với cuốn phim đầu tiên mà Thanh Lan đã được mời vào Dinh Ðộc Lập 9-thanh-lan-6cùng bao nhiêu là các vị có tên tuổi của Saigon Hòn Ngọc Viễn Ðông trong buổi trao giải thưởng Văn Học Nghệ Thuật, có thể nói là danh vọng đến quá dễ dàng. Tuy nhiên, danh vọng không phải là điều mình tìm kiếm. Chỉ vì ở trường học kịch thơ nhiều quá nên mê kịch, mà từ thuở bé đã mê xem phim lắm. Tết có được bao nhiêu tiền lì xì đều bỏ ra xem phim hết.

Trong phim Tiếng hát học trò TL nhớ nhất là anh Huy Cường. Anh nói giọng Bắc thật trầm ấm, diễn dễ dàng như không diễn. Ngoài đời thì luôn ăn nói lịch sự. Anh thủ vai bồ của mẹ TL do nữ ca sĩ Thu Hương đóng. Và có cảnh anh đàn guitar cho TL hát bài Tiếng hát học trò. Sau này anh qua đời vì tai nạn xe cộ, nghĩ đến anh TL buồn mãi.

TTT: Chị qua Hoa Kỳ định cư rất trễ, hẳn nhiên trong nước còn rất nhiều fan ái mộ chị. Nếu vì một lý do nào đó như có lời mời trở về VN để hoạt động trong các lãnh vực ca hát kịch nghệ, hay điện ảnh, chị có trở về không ? Nếu có bị dư luận phê phán, cảm nghĩ của chị thế nào ?

TL : Lần đầu tiên Thanh Lan nhận được lời mời về Saigon hát tại rạp Hoà Bình trong một chương trình hoàn toàn nhạc Pháp vào năm 2005, lần đó Thanh Lan từ chối. Mười năm nay Thanh Lan vẫn nhận được những lời mời về trình diễn tại quê nhà nhưng Thanh Lan vẫn tiếp tục….. làm ngơ.

Nghĩ đến mấy chục triệu khán giả từ 50 năm qua, Thanh Lan thổn thức muốn về để gặp lại, Tr ca si 2để bùi ngùi nhìn lại nhau giờ ai cũng đã hai màu tóc. Nhân đây xin được gửi đến tất cả khán giả của Thanh Lan tại quê nhà lời chào thân ái, quý vị đã biết Thanh Lan từ khi còn là cô bé con học trung học, đến nay mấy mươi năm qua quý vị vẫn thương Thanh Lan như xưa, theo dõi từng niềm vui nỗi buồn. Muốn bằng xương bằng thịt đứng trên sân khấu hát say sưa cho quý vị thấy và nghe như những ngày xưa ấy. Nhưng biết sao bây giờ. Từ ngày rời quê hương chưa một lần bước chân về, quý vị xem Thanh Lan qua vidéo vậy nhé.

TTT: Xin cám ơn chị Thanh Lan rất nhiều, chúc cho chị ngày càng thành công rực rỡ. (theo Trịnh Thanh Thủy)

Kiều Văn chuyển tiếp