NHỮNG CHUYỆN KHÔI HÀI

MÕT NGÀY DÀI NHƯ THẾ KỶ

– Truyện phiếm : Uyên Sồ

Một ngày bắt đầu bằng một buổi sáng.

Buổi sáng bắt đầu từ thời điểm nào thì còn tùy thuộc vào hoàn cảnh địa lý, hoàn cảnh kinh tế, hoàn cảnh sức khỏe và tuổi tác… Ở thôn quê, buổi sáng bắt đầu bằng tiếng gà gáy. Đó là tiếng chuông đồng hồ báo thức chưa hề sai chạy và đã có từ hàng nghìn năm.

Khi gà cất tiếng gáy thì lần lượt ánh đèn từng nhà được thắp sáng. Trong thứ ánh sáng lù mù đó, sinh hoạt của ngày mới bắt đầu. Không tiếng kêu ca, không lời phiền trách. Người ta chấp nhận như một lẽ tất nhiên là phải thế; như một định luật tuần hoàn không thể đảo ngược.

Ở chốn kẻ chợ thì buổi sáng bắt đầu không bằng một dấu chỉ cố định như nơi thôn dã. Nó đa dạng như vốn dĩ bản chất đa tạp của nó. Đó có thể là tiếng rao hàng của một chị bán hàng rong luồn lỏi trong từng ngõ ngách của các khu chúng cư. Đó có thể là tiếng xe ba gác máy nổ sình sịch của một người đàn ông chuyên chở mối cho mấy bà bán rau, bán cá. Đó cũng có thể là tiếng lịch kịch mở cửa của một quán cà- phê đầu một con hẻm trong xóm lao động… Thôi thì hằng hà sa số tiếng động báo hiệu một ngày mới bắt đầu.

Còn đối với những người “thất thập cổ lai hy” thì ngày mới đã bắt đầu từ sớm lắm. Sớm hơn hết mọi người. Sau một đêm dài, mở mắt ra, nhìn thấy mọi người mọi vật chung quanh thì lúc ấy mới biết là mình hãy còn sống. Buổi tối, sau khi đã nằm trên giường cũng mới biết mình đã an toàn thoát khỏi mọi biến loạn của kiếp nhơn sanh.

Cho dù là đôi mươi phơi phới hay lụ khụ vật vờ thì ngày mới đến vẫn đem lại một niềm hy vọng. Hy vọng là viên thuốc dưỡng sinh tối cần thiết cho con người. Thiếu nó, người ta sẽ héo hon như cây thiếu nước.

Hôm nay, theo đúng quy luật tuần hoàn của tạo hóa, một ngày mới lại bắt đầu. Mặt trời lên đem theo hy vọng ngút ngàn trong mọi con tim. Và thế là người ta hăm hở lên đường. Thế nhưng, những bước chân hăm hở kia bỗng chốc chựng lại. Những cặp mắt đầy ắp niềm tin yêu thoáng chốc tối sầm. Nụ cười tắt ngấm. Hình như đang có một sự bất thường xảy ra.

Không phải là hình như mà là sự thật. Một sự bất thường đã thực sự xảy ra. Nỗi hãi sợ bao phủ lên muôn người muôn vật. Càng lúc nỗi hãi sợ càng tăng… tăng… tăng… để trở thành sự kinh hoàng. Không ai tin vào mắt mình nữa. Tất cả đều đảo lộn. Mọi thứ đã thay đổi. Một sự đổi thay đến chóng mặt. Một sự thay đổi không ngờ. Người ta có cảm giác như đang đứng trước một thửa đất vừa được cày xới. Cày xới vội vã. Cày xới cẩu thả. Những nhát cày tàn nhẫn phá nát mảnh đất màu mỡ và hứa hẹn.

Trời không mưa, không bão mà con người lạnh cóng run rẩy. Những ánh mắt hoảng loạn đẩy xô những bước chân vô hồn. Đi về đâu ? Đi đến đâu ? Chẳng ai hình dung được. Vô trật tự hoàn toàn. Tất cả như đang bị chụp vào trong một cái lưới.

Những cái bảng tên đường thường ngày không còn nữa. Thay vào đó là những tấm bảng lạ hoắc lạ hươ. Không ai hiểu được những dòng chữ viết trên đó. Có phải là chữ không ? Chữ nước nào ?

– Faq Dìn’ Fùq – Fan C’u C’in’- Quye64q Wi Min’ Xai- Qô Wi N’iệm….

Tên các cơ quan nhà nước cũng vậy.

– Ủy Baq N’aq Zâq  Wan’ Fo- Bện’ Việq N’i Dồq 2- Sâq Bay Tâq Sơq N’ất- C’ườq  C’uq Họk  Ko Sở Fam Văq C’iêu….

Những tiếng “Trời  ơi!” thống thiết kèm theo nước mắt giàn giụa. Thế nhưng, Trời ở xa quá nên con người chỉ còn biết trút giận lên những đồ vật vô tri tội nghiệp.

Tại trường học, trong tiết Sử, học sinh thấy trên bảng ghi hàng “ chữ” :

– Kuok xáq c’iến c’ốq quân Quyêq sâm lượk

Và trong tiết văn học, các em cũng thấy trên bảng ghi :

– Qam Kuok Sơq  Hà:

Qam kuok sơq hà Qam Dế Ku

Tiệt qiên dịn’ fận tại wien wu

N’ư hà qịk  lỗ lai sâm fam

N’ữ dản’ hành xan wu bại hư

Học sinh nhốn nháo. Các em hỏi thầy cô giáo :

– Chữ gì vậy, thưa thầy cô ?

– Chữ nước nào thế, thưa thầy cô ?

Thầy cô lúng túng mãi mới lắp bắp trả lời :

– Chữ nước ta đó, các em ạ.

Tức thời học sinh la ó :

–  Không phải. Không phải. Không phải chữ Việt Nam.

– Không phải bất cứ một thứ chũ nào trên thế giới này.

Thầy cô đỏ mặt và lại càng lúng túng hơn :

– Chữ nước mình thật mà, nhưng là tiếng Việt cải cách.

Tiếng Việt cải cách ! Tiếng Việt cải cách ! Tiếng Việt cải cách ! Hahahahaha… Những cái cặp sách được tung lên… Và học sinh ùn ùn kéo nhau ra khỏi lớp, rồi ra khỏi trường. Vừa đi vừa la hét : “Tiếng Việt cải cách ! Tiếng Việt cải cách! Tiếng Việt cải cách ! Hahahahahaha…”.  Và thế là các trường đều phải đóng cửa.

Tại các bệnh viện thì tình hình lại gay go và tồi tệ hơn. Các bênh nhân và người nhà bệnh nhân vây kín các bác sĩ, các y tá và các văn phòng để hỏi về bệnh tình của họ : “Tôi bị bệnh gì thế ? Tôi bị bệnh gì thế ? Người nhà tôi bị bệnh gì vậy ? Thuốc này uống như thế nào ? …”

Cảnh tượng chẳng khác nào cái chợ trời khổng lồ. Bác sĩ, y tá và nhân viên bệnh viện phải chui vào các phòng và đóng chặt cửa lại. Thế là la hét. Thế là đập phá. Cuối cùng bệnh viện phải đóng cửa. Tất cả những giao dịch xã hội khác cũng chịu chung số phận..

Đường phố lúc này càng lúc càng kẹt cứng. Người và xe cộ chen chúc. Ngược xuôi lẫn lộn vì chẳng ai biết đường mà đi mà về. Tiếng la, tiếng thét, tiếng khóc… kết thành một mớ bòng bong khổng lồ. Âm thanh của chúng làm nên sức mạnh của một quả bom tấn, mạnh hơn tiếng sấm tiếng sét.

Bỗng chốc xuất hiện những tấm biểu ngữ với hàng chữ : “Tiếng ta còn, nước ta còn”. Đủ mọi kích cỡ. Đủ mọi màu sắc. Có tấm được viết bằng hàng chữ in đậm ngay ngắn. Có tấm chữ viết nguệch ngoạc, chứng tỏ nó được hoàn tất một cách vội vã và chủ nhân có thể còn rất nhỏ tuổi..

Tiếng la thét, khóc lóc không còn nữa. Thay vào đó là là tiếng vỗ tay đồng loạt cùng với tiếng hô long trời lở đất : “Tiếng ta còn, nước ta còn”.

Mặt trời bắt đầu đi vào giấc ngủ mà đường phố vẫn người đông như kiến. Đường  cũ lối xưa  tìm hoài chẳng thấy. Nhà cửa  quê quán nơi mô lần mãi không ra. Bất ưng thành chim mất tổ thành kẻ lưu dân. Oái oăm kể sao cho xiết. “ Vì ai gây dựng cho nên nỗi này ?”.

Những tấm biểu ngữ càng lúc càng tăng thêm. Và hầu như trên tay mỗi người đều có một tấm. Biểu ngữ được giương cao nhất như có thể. Và tiếng hô vẫn dõng dạc, vẫn mạnh mẽ, vẫn cứng cỏi : “Tiếng ta còn, nước ta còn”.

Rồi mặt trời đi ngủ thật sự.

Đám lưu dân vẫn bập bềnh như loài lục bình trên dòng sông vô định. Rồi mặt trời thức giấc. Có lẽ đêm qua mặt trời không thể yên giấc vì tiếng thét gào của gần một trăm triệu con tim : “Tiếng ta còn, nước ta còn”. Gần một trăm triệu cánh tay không ngừng mạnh mẽ và dứt khoát vung lên. Trong bầu khí ngùn ngụt lửa ấy thì hỏi ai có thể làm ngơ ? Và vì thế mặt trời đành phải trở mình thức dậy.

Một ngày mới lại bắt đầu. Hy vọng gì chăng ? Một chút như hạt cát cũng chẳng ma nào dám mơ.

Thế nhưng, khi mặt trời đủng đỉnh lên cao thì người ta bỗng la lớn : ”Nhìn kìa ! Nhìn kìa !” Sự gì đã xảy ra thế nhỉ ? Lạ lùng làm sao ! Gần một trăm triệu con mắt đều sửng sốt. Mơ chăng ? Người nọ đánh vào người kia để thử xem có phải là đang chìm đắm trong mộng không. Những cái véo, cái tát mạnh đã xác định rằng đó chính là sự thật một trăm phần trăm. Và thế là, cứ như thể đang trong tiết tập đọc của lớp Một, gần một trăm triệu cái miệng đồng thanh :

– Phan Chu Trinh Nguyễn Công Trứ Chu Mạnh Trinh Trân Nhật Duật… Lạng Sơn Hòa Bình Lai Châu Quảng Bình Quảng Trị Phan Thiết Biên Hòa Bình Dương Châu Đốc Long Xuyên Cà Mau…

Khi tiếng thước gõ nhịp trên bảng của cô giáo vừa ngưng thì một cơn địa chấn mạnh hàng trăm độ Richter nổi lên : “Nhà tôi kìa !” “Phố tôi kìa !” “Làng tôi kìa !”… Và thế là rùng rùng chim bay về tổ. Đàn chim miệt mài sải cánh mà bên tai vẫn nghe rõ mồn một tiếng vó ngựa dồn vang của đạo quân Lý Thường Kiệt :

Nam quốc sơn hà Nam Đế cư,

Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,

Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư

Nương theo tiếng vó ngựa kiêu hùng đó, trên bầu trời xanh lơ lững thững những áng mây trắng, hằng hà sa số con diều đang ra sức đua tài khoe sắc. Tiếng sáo diều vi vu quấn quyện với tiếng hát vượt thời gian của nữ danh ca Thái Thanh

Tôi yêu tiếng ngang trời

Những câu hò giận hờn không nguôi

Nhớ nhung hoài mảnh tình xa xôi

Vững tin vào mộng đẹp ngày mai…”

Trong tổ ấm vừa giành lại được, đàn chim nghe lòng bồi hồi  xao xuyến. Từng chữ, từng câu, từng nốt nhạc là ngọn lửa ấm áp tình người, là ánh sáng soi đường cho những bước chân đi tới. Tự nhiên, những giọt lệ nóng hổi lăm dài  trên má…

Uyên Sồ Sài Gòn trong cơn bão số 16

NHỮNG CHUYỆN KHÔI HÀI

VỚI CHIẾC ĐIỆN THOẠI

Một hãng sản xuất đồ chơi đã thiết kế chiếc quần chip thời trang cho smartphone trong khi đó một tên trộm lại hì hụi chép tay hơn 1000 số điện thoại để trả khổ chủ.

1/. Quần chip cho smartphone : Bạn có thể dễ dàng mua các miếng dán bảo vệ màn hình hay ốp lưng chống xước cho điện thoại ở bất kỳ cửa hàng nào. Thế nhưng loại quần chip bảo vệ nút “home” của smartphone thì không phải ở đâu cũng bán.

Món phụ kiện táo bạo này là sản phẩm của hãng sản xuất đồ chơi Bandai, Nhật Bản. Thực tế, khi đeo nó, chiếc điện thoại của bạn còn khó sử dụng hơn nhưng nhờ vào thiết kế bắt mắt món đồ này vẫn thu hút rất nhiều bạn trẻ. Giá cho một chiếc quần chip đặc biệt này là 200 yên (khoảng 42.000 đồng)

H1-2: Chiếc quần chip này làm bằng silicon và có nhiều màu sắc với thiết kế dễ thương

H3-4: Nhờ vậy, rất nhiều người đã mua chiếc quần chip này cho điện thoại của mình 

2/. Cô gái đổi trinh tiết lấy điện thoại Iphone Theo thông tin từ trang mạng Biznews China, một thiếu nữ có tên Jiu Ling Hou, thuộc thế hệ 9x đã đăng tải lên trang mạng xã hội Weibo thông điệp cho biết cô mơ ước được sở hữu một chiếc iPhone 4 nhưng cha không cho phép nên đã quyết định sẽ “ngủ với ai có thể tặng mình một chiếc iPhone 4”.

Để chứng tỏ là mình không đùa, cô gái còn đăng một bức ảnh kèm những thông tin cá nhân cơ bản và số điện thoại liên lạc.

Hành động của cô gái này đã vấp phải sự phản đối của rất nhiều cư dân mạng, mọi người cho rằng một chiếc điện thoại không đáng để đánh đổi trinh tiết của người con gái. Có người thì cho rằng có thể cô gái đã bị ăn cắp mật khẩu trang mạng xã hội và là nạn nhân của một trò đùa độc ác.

H5: Cô gái sẵn sàng đổi trinh tiết để lấy một chiếc Iphone 4 

3/. Tên trộm chép tay danh bạ gửi trả khổ chủ sau khi ăn cắp điện thoại : Mới đây, anh Zou Bin ở Hồ Nam, Trung Quốc bị mất cắp chiếc điện thoại Iphone trong một lần đi chung taxi với một người đàn ông lạ để tiết kiệm chi phí.

Ngay sau đó, anh Zou đã liên tục nhắn tin vào chiếc Iphone bị mất với nội dung anh biết kẻ trộm là người đàn ông ngồi cạnh trên xe taxi và anh chắc chắn sẽ tìm thấy anh ta. Zou Bin còn nhắn địa chỉ của mình để tên trộm gửi trả chiếc điện thoại.

Những tưởng mọi nỗ lực của anh là vô vọng khi tên trộm không một lời hồi đáp thì vài ngày sau, anh Zou nhận được một bức thư, bên trong là 11 trang giấy ghi chép đầy đủ hơn 1.000 số điện thoại liên lạc của anh. Tuy nhiên, tên trộm vẫn kiên quyết không gửi trả chiếc Iphone bị đánh cắp. (theo Datviet)

H6: Tên trộm kỳ quặc đã chép tay 11 trang danh bạ để gửi trả chủ nhân chiếc điện thoại mà mình ăn cắp.

Quế Phượng chuyển tiếp

Ô SIN VÀ NHỮNG CHUYỆN

KHÔI HÀI KHÓ ĐỠ

Chuyện về “ô sin” (người giúp việc) cũng lắm… khôi hài ! Nhiều khi chính vì “ô sin”, một nhân vật chẳng dây mơ rễ má gì trong gia đình, mà lại khiến cho không ít gia đình lục đục, thiệt hại cả về vật chất lẫn tình cảm !

Chín bỏ làm mười

Cô bạn tôi “một chồng hai con nhỏ”, công việc kinh doanh túi bụi bất kể giờ giấc, ông bà thì ở xa, rước một cô “ô sin” đang tuổi ăn tuổi nhớn ở quê ra đảm đương việc nấu nướng, dọn dẹp và bế trẻ con.

Có “ô sin” cũng thấy ổn ổn, hằng ngày đi làm về nhìn nhà cửa không lung bung, bừa bãi như trước kia khi anh xã làm “quản gia”. Chiều ở công ty về muộn cũng không phải sấp sấp ngửa ngửa ghé tạt vào chợ rau rau dưa dưa, về đến nhà lại tay năm, tay mười chuẩn bị cơm nước cho ba bố con. Hai đứa bé đi học tiểu học và gửi nhà trẻ cũng có người đón thay những hôm vợ chồng cô bận việc về muộn.

Ổn nhất là vợ chồng cô bạn tôi đỡ hẳn việc vừa hát, vừa múa, vừa dỗ dành, vừa nghiêm mặt, vừa bón cháo cho thằng bé con mới hai tuổi. Lạ cái là con bé “ô sin” này tài ghê. Nó chỉ nhong nhong bế thằng bé ra vườn hoa cạnh nhà, nhoáng cái 15 – 20 phút là cả chị cả em mặt mũi hớn hở vào nhà, giơ cao cái bát sạch bách.

Sau mấy tháng hí hửng với những “lợi ích” do “ô sin” mang lại, cô bạn bất ngờ “tá hỏa” khi chứng kiến một tình huống không biết nên cười hay nên… mếu. Một trưa ngày nghỉ nọ, anh xã đang thiu thiu ngủ cạnh thằng bé còn đang ngó ngoáy, ngọ ngoạy như “sâu trong kén”, hai mắt mở thao láo, miệng thì ê a…

Cô vợ đang mải chúi vào máy tính, sai “ô sin” vào ru em ngủ. “Ô sin” vừa vào, chợt nhớ ra có việc, cô bạn cũng đi theo vào, ớ người ra khi thấy “con bé nửa trẻ con, nửa người lớn” đang lấy tay đẩy ông chú : “Chú nằm xích ra để chỗ cho cháu nằm ru em ngủ” !

Dở cười dở mếu, nhưng vì nó lại có họ hàng xa “bảy phát đại bác” ở quê nên cô “chín bỏ làm mười”, bởi thấy nó “dở dở ương ương”, trẻ con không ra trẻ con, người lớn không ra người lớn, vô ý vô tứ chứ không “âm mưu” gì, hơn nữa nó đỡ cho mình bao việc nhà, nó lại “chăm cơm chăm cháo” cho con mình tài thế. Ai dè, vụ này cô cũng bị… hố to.

Chăm con nhưng ô sin béo

Chẳng là cứ chắc mẩm được ăn uống bồi dưỡng, tẩm bổ, con mình cứ là “lớn nhanh như thổi”, hằng tháng cô lại kiểm tra cân nặng của con. Tháng đầu nó cũng tăng lên… mấy lạng thật. Cô bạn tôi hớn hở lắm, hy vọng cứ đà này thằng bé tăng cân từ từ tháng đầu rồi mấy tháng sau sẽ tăng vù vù cho mà xem.

Tháng thứ hai, mũi kim trên cân chẳng thấy nhúc nhích tẹo nào. Tháng thứ ba, hình như mũi kim còn đuối đuối xuống. Đến tháng thứ tư thì cô thấy cân nặng thằng bé tụt đi mất… 3 lạng ! Xót con, cô hỏi “ô sin”: “Dạo này em có chịu ăn không ?”. Nó dõng dạc : “Em ăn rào rào như tằm ăn rỗi ý chứ ! Ngày nào cháu chả bón hết bát cháo sạch sành sanh”.

Nửa tin nửa ngờ. Chiều hôm sau, chờ “ô sin” bưng bát cháo, bế thằng bé ra vườn hoa như mọi khi, cô cũng đi theo ra đứng nấp theo dõi. Vẫn i sì như trước kia, bón cho thằng bé 10 thìa cháo thì nó nhè ra đến 8 thìa rưỡi. Thế là coi như đã… nỗ lực hết mình, hết trách nhiệm, “ô sin”… đàng hoàng tự bón cháo cho… mình, loáng cái, cái thìa nhựa vét quèn quẹt, bát cháo sạch bách.

Trời ơi, thảo nào dạo này con bé cứ tròn quay như con cun cút. Hóa ra bao nhiêu đồ ăn bổ béo mình dốc tiền dốc sức ra bồi dưỡng cho con thì lại vào hết con bé “ô sin”. Thế này thì công mình là “công dã tràng” à ? Cô chạy ra “bắt quả tang” tại trận khiến con bé “ô sin”… chín vía còn có… tám.

Chưa kịp mắng câu nào, nó đã mếu máo, khóc lóc đổ tại rằng “bón, dỗ thế nào em cũng không ăn, chẳng nhẽ cháu đổ bát cháo đi? Còn nếu mang bát cháo về, cô không nuôi cháu nữa thì cháu lại phải về quê cày ruộng mất”.

Cô “giận thì giận, mà thương lại thương” nên đành “ngậm bồ hòn làm ngọt”, vẫn để nó tiếp tục ở lại. Gần tết, cô hì hụi lôi trong tủ bếp ra lọ trứng gà ngâm mật ong để bồi bổ cho chồng con. Mở nắp ra, thấy lọ vơi hết nửa. Hỏi chồng thì chồng nói có bao giờ biết ở nhà có cái lọ trứng ấy đâu, hỏi con bé lớn 6 tuổi thì nó ngơ ngác, chẳng nhẽ hỏi thằng bé con mới hai tuổi.

Đành hỏi đến “ô sin” thì cô nàng ấp úng mãi mới thú nhận “vì ăn thử một lần thấy ngon quá nên thỉnh thoảng lại… ăn thử một tí. Không ngờ mấy cái… một tí ấy mà vơi đi nửa lọ”.

Thế này thì làm sao mà chịu được nữa. Có “ô sin” tưởng có lợi, đằng này… hại chồng, thiệt con, khổ mình. “Ô sin” ơi là “ô sin” ! (theo Bùi Thúy Hạnh – Thanh niên)

NHỮNG CHUYỆN HÀI HƯỚC CHỈ CÓ Ở VIỆT NAM

Cùng tận hưởng với những chuyện hài hước, hiếm có khó tìm chỉ có ở nước ta !

Bước chân ra đường, bạn có thể gặp vô số chuyện hài hước, những tấm ảnh dưới đây sẽ giúp bạn nhớ lại những tình huống “cười vỡ bụng” ấy:

H1: Món mới đó nha ! H2: Không còn phân biệt “nông thôn” và “thành thị” nữa. H3: Trên này mới có song ? H4: Mũ bảo hiểm siêu độc làm từ vỏ bưởi

H5: Ai bảo phụ nữ mới được quyền sexy. H6: Cực kỳ ấn tượng. H7: 1, 2, 3… chụp ! H8: Dạy chồng ngay lúc “bơ vơ” mới về

Lan caysu chuyển tiếp

Advertisements

VĂN HÓA VĂN NGHỆ

THỜI NAY VÀ TUỎI THƠ CỦA TÔI

– Minh Ngọc

Tối Thứ Năm, 31 Tháng Tám, đọc thấy tin từ nhà văn Song Thao cho biết ông Nguyễn Văn Thái vừa từ trần tại Sài Gòn, sau đó có hình ảnh từ nhà văn Thiếu Khanh về lễ viếng ông Thái, tôi bồi hồi cảm xúc, những tháng ngày thơ ấu như tập sách cũ lâu năm đóng bụi thời gian bỗng mở ra, tươi mới rõ ràng như mới hôm qua.

Những cái tên này có thể không có ý nghĩa với nhiều người nhưng đã đồng hành với tôi suốt bao năm tháng từ hồi mới biết giở sách đọc chữ. (Ngồi đây viết lại theo trí nhớ vì trong tay hiện không có cuốn Thời Nay nào, thể nào cũng có sai sót, mong các chú Song Thao và Thiếu Khanh lượng thứ, quả tình cháu không dám múa rìu qua mắt thợ).

Má tôi nói tôi biết đọc từ lúc bốn tuổi vì má tôi chở theo vào lớp học, để ngồi bàn cuối. Đó là thời điểm khủng hoảng không chỉ với gia đình tôi mà cho đại đa số gia đình miền Nam. Ba tôi trình diện tập trung cải tạo, bà Tư hàng xóm vẫn coi giữ chị em tôi hàng ngày cho má tôi đi dạy nay phải về quê phụ con dâu có chồng đi cải tạo, má tôi chỉ gởi được em tôi mới một tuổi cho người quen, còn thì đưa tôi và chị tôi theo vào trường.

Lớn lên vào thời điểm chiến dịch kiểm kê văn hóa, tôi đáng lẽ cũng chịu chung cảnh bưng bít kiến thức như nhiều trẻ em Việt Nam hồi ấy nhưng may mắn được ở vùng Tân Quy có làng thương phế binh và cư xá cho công chức, sĩ quan, đa số người dân cùng chung hoàn cảnh nên đùm bọc thương yêu nhau, cán bộ phường xã cũng dĩ hoà vi quý.

Đội kiểm kê gồm nhiều học trò cũ của má tôi nên tuy biết nhà tôi nổi tiếng có tủ sách lớn nhất vùng đã làm ngơ vì tiếc, chỉ kê vài cuốn giáo khoa cũ mà không tịch thu. Hàng xóm và các thầy cô giáo thấy vậy chở thêm sách lại cho tị nạn nhà tôi. Má tôi cẩn tắc vô ưu nên dù được bảo đảm vẫn đóng khóa sách cẩn thận. Nhà tôi có một tủ sắt loại locker cho cầu thủ trong sân vận động, cao tới nóc nhà.

Má tôi tống hết sách báo vào đó, từ tạp chí Văn, Bách Khoa, sách Trung Hoa xưa, tiền chiến, Tự Lực Văn Đoàn, cho đến các tác giả bị liệt vào hạng phản động… Một cô giáo còn chở lại cả tủ Quỳnh Dao. Má tôi khóa tủ sắt, dặn chị em tôi không được lấy sách ra đọc rồi bỏ lung tung lỡ có ai thấy, ai hỏi thì nói khóa tủ hư lâu rồi không mở được.

Dĩ nhiên chị em tôi tránh sao khỏi tò mò, má tôi đi dạy là mở tủ lôi sách ra đọc ngấu nghiến, canh giờ má tôi sắp về thì gom sách cất khóa lại. Cũng từ lúc này tôi mới biết ở Huế có cây sầu đâu !

 Riêng bán nguyệt san Thời Nay, do số lượng quá nhiều (mỗi tháng hai số trong 15 năm) và cũng là tờ tạp chí yêu thích nhất, má tôi dành riêng một chỗ rất đặc biệt và an toàn. Dân miền Nam xưa chắc ai cũng biết cái garde-manger, người Bắc gọi là chạn thức ăn, phần trên có hai ngăn, hai cánh cửa tủ, giữa là ngăn trống để chai hũ, phần dưới không có ngăn nên rất rộng, chắc dành cho những bao hũ khổ lớn, có cửa đóng lại, là chỗ trú ẩn của bộ Thời Nay gia đình tôi.

Đội kiểm kê có vào chắc cũng chẳng nghĩ tới xét lục ngăn thường đựng nước mắm, dưa cải, v.v… này. Chị em tôi say mê đọc Thời Nay từng số tới lui đến thuộc lòng mà không chán, mỗi lần lấy ra mấy cuốn một lúc, đọc xong nhét giấu dưới gối nệm, tránh sao khỏi quăn góc, rớt bìa. Hễ má tôi thấy là la, vậy mà không chừa. Ngày đầu kỳ nghỉ Hè, má tôi quậy một nồi hồ, chị em tôi mở tủ Thời Nay lôi cả bộ ra, tìm những trang bìa rời dán lại, sắp theo thứ tự ngày tháng. Ít lâu lại tiếp tục rớt bìa, lại dán, lại sắp. Tụi tôi thuộc lòng tới nỗi nhìn tờ bìa là nhớ vanh vách trong cuốn đó có bài nào, ai viết.

Thời Nay được ông Nguyễn Văn Thái khai sinh và gầy dựng, tới lúc ra số chót Tháng Tư, 1975 là hơn 15 năm, một quãng thời gian quá ngắn ngủi so với đời người, nhưng đủ để lại dấu ấn đặc biệt trong lòng độc giả miền Nam, với đứa hậu sinh như tôi thì đó là tờ tạp chí tiếng Việt hay nhất trên đời.

Mô hình tương tự Reader’s Digest, nhưng nếu Reader’s Digest như một chương trình tạp kỹ với một vài bài về y tế sức khỏe, chính trị, giải trí, xã hội, tâm lý v.v… gom tứ tung vào một số, Thời Nay chọn lựa và sắp xếp bài vở công phu, thường có chủ đề cho mỗi số, ngoài số Xuân, kỷ niệm chu niên.

Hình bìa trình bày mỹ thuật, thường là tranh, ảnh nghệ thuật hay địa danh nổi tiếng, không bao giờ có hình chính trị gia, tài tử hay ngôi sao thể thao. Hình bìa thường theo nội dung chủ đề của số đó. Phần quảng cáo cũng hạn chế để đảm bảo tính nghệ thuật, trang đầu là nước ngọt Con Cọp “Nước ngọt Con Cọp ở đâu, Đấy là khỏe mạnh sống lâu yêu đời”, trang chót là dầu gội đầu Lan Sơn “Tóc mai sợi vắn sợi dài, Lan Sơn em gội thương hoài ngàn năm.”

Thời gian đầu, Thời Nay có khổ nhỏ, vuông vuông, chữ in nhỏ rí, bìa tối màu, những năm về sau khổ dài hơn, rõ ra hình chữ nhật, chữ in lớn và thưa hơn, bìa nhiều màu sáng hơn. Lối in tựa Thời Nay bằng chữ thường “thời nay” giản dị trên bìa đã từng bị các độc giả khó tính phê bình là sai luật văn phạm/chính tả (trong mục thư độc giả) nhưng Thời Nay trung thành với lối trình bày rất đặc biệt đó tới số chót.

Sau trang Con Cọp là mục lục bài vở. Những trang đầu dành cho “Thời Nay Khắp Nơi” và “Thế Giới Dưới Mắt Người Việt” điểm tin trong và ngoài nước với lối viết cô đọng, sắc sảo và trào phúng của Trọng Thăng làm tôi rất mê đọc dù lúc tôi đọc những chuyển biến thời cuộc đó đã quá cũ, mục này giúp tôi hiểu rõ những sự kiện mà sau này tôi được dạy khác hẳn.

Những bài viết theo chủ đề của số được sắp gần nhau rất dễ đọc, gồm phóng sự của Đông Quân, phiếm luận hài hước cười đau bụng của Thiên Ân, Thẩm Dương, Thẩm Diên An (có phải một người ?), bình luận thể thao của Lân Lũy Thân, những bài có tính cách khảo cứu giáo dục tâm lý của Xuân Tước, Thượng Nhân, ký sự của Song Thao…

Sau có Minh Trí là một bác sĩ y khoa viết nhiều bài về y học. Các học giả nổi tiếng Sơn Nam, Nguyễn Hiến Lê, Vương Hồng Sển cũng góp mặt thường xuyên. Xen lẫn đây đó là truyện ngắn của Thiếu Khanh, Lê Tất Điều, Tạ Sương Phụng… Thỉnh thoảng có truyện ngắn dịch từ các tác giả ngoại quốc O. Henry, Guy de Maupassant, Andre Gide, Leo Tolstoy…

Thơ không nhiều, nhưng bài nào được chọn đăng cũng thật hay, thường hai ba bài thơ sắp cùng một trang, tựa bài thơ và các chữ đầu câu bao giờ cũng in bằng chữ thường, không hề có chữ in hoa. Nhiều tác giả gửi thơ lúc đó là học sinh sinh viên, sau thành những nhà thơ tên tuổi những năm 80-90. Trang trí bên cạnh tựa bài là những ký họa đơn sơ, hình như của Khánh Giang ? Cuối các bài viết có một chuyện vui ngắn in bằng chữ nhỏ nghiêng, nhờ đó tôi thu thập cả kho chuyện cười kể cho bạn bè nghe. Sau mục truyện dài là những trang cuối dành cho độc giả với mục câu đối, câu đố và hộp thư bạn đọc.

Trang bìa sau đề tên giám đốc Nguyễn văn Thái, thư ký tòa soạn Khánh Giang, địa chỉ 217 Phạm Ngũ Lão, Văn Thái Ấn Quán. Thời Nay có khuynh hướng chính trị phóng khoáng với thành phần cộng tác viên trẻ nên có bài bị đục đen lỗ chỗ trong những giai đoạn kiểm duyệt khắt khe, bây giờ trong nước gọi là “nhạy cảm!”

Mỗi kỳ sự kiện quan trọng như Đại Hội Đồng Liên Hợp quốc, Hòa Đàm Paris, cho đến World Cup (hồi đó gọi là giải túc cầu thế giới), Thế Vận Hội, Thời Nay có cộng tác viên tường thuật tại chỗ với bài vở, hình ảnh phong phú, khi tôi đọc là cũng cả chục năm rồi mà vẫn thấy hấp dẫn.

Nữ sĩ Minh Đức Hoài Trinh cộng tác rất đắc lực cho Thời Nay. Cô có những thiên phóng sự nhiều kỳ rất đặc sắc về những chủ đề trong xã hội như “con không cha,” ký tên “cô Minh Đức”. Cô có lối viết giản dị mà sắc bén, lôi cuốn, những chủ đề vui cô cũng rất hóm hỉnh trào lộng. Có dạo cô viết phóng sự vui nhiều kỳ “Ôi đàn ông,” sau đó lại xuất hiện “Ôi đàn bà” mà cô giải thích là vì bị độc giả nam giới khiếu nại quá nhiều nên cô phải viết để đảm bảo lẽ công bằng !

Những trang cuối Thời Nay thường dành cho truyện dài nhiều kỳ của cô như Phi lễ, Thiên Nga, Bên ni bên tê. Khi viết truyện dài, giọng văn cô tuy gai góc bướng bỉnh nhưng vẫn mềm mại nữ tính. Dù sao đọc văn cô tôi vẫn tưởng tượng cô là một phụ nữ mạnh mẽ, độc lập kiểu nữ quyền (feminist). Mãi tới khi ra hải ngoại thấy hình cô, một phụ nữ mảnh mai xinh đẹp, thanh lịch, tôi mới tin đó là tác giả những dòng thơ yêu đương mãnh liệt mà nhạc sĩ Phạm Duy đã làm cho bất tử với hai bản nhạc “Đừng bỏ em một mình” và “Kiếp nào có yêu nhau.” Cô vừa mất cách đây không lâu.

Một cộng sự nhiệt tình khác của Thời Nay là Song Thao. Ông đi đây đi đó nhiều theo nhu cầu công việc, đi đến đâu ông không quên gửi một ký sự cho độc giả cùng thưởng thức. Từ Manila, Hồng Kông, Seoul, Tokyo, đến New York, Washington, DC, Los Angeles… độc giả đi du lịch theo ngòi bút sống động đầy hình tượng của ông với những chuyện vui chuyện buồn. Hồi đó còn nhỏ xíu tôi rất mê đọc ký sự Song Thao, đọc đi đọc lại, mơ ước một ngày đặt chân đến những nơi ấy.

Bây giờ đi du lịch đã nhiều, những ấn tượng đầu tiên vẫn còn nguyên vẹn khi đọc lại những ký sự này in trong tập “Dấu chân lang bạt” ông xuất bản năm ngoái. Song Thao còn giữ mục “100 cuốn tiểu thuyết hay nhất thế giới,” mỗi kỳ tóm tắt một tác phẩm cổ điển rất cô đọng mà diễn cảm. Lúc ấy tôi đọc ông viết về Jane Eyre (Charlotte Bronte), Đỉnh gió hú (Emily Bronte), Phù hoa giả dối (William Thackeray), David Copperfield (Charles Dickens)… Lên cấp hai, đủ trình độ đọc các tác phẩm này trọn vẹn, bài giới thiệu của Song Thao vẫn là cảm hứng ban đầu giúp tôi say mê những nhân vật trong sách.

Sau này, khi cộng tác với tạp chí Văn của nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng, thấy tên Song Thao dưới một truyện ngắn, tôi hỏi có phải đó là Song Thao của Thời Nay không, ông Hoàng bảo “đúng rồi” mà ngạc nhiên không hiểu sao tôi biết Thời Nay ! Hay tin ông đã ở Canada, vẫn viết rất mạnh, thiên về truyện ngắn, tôi mừng vì biết thân phận những người cầm bút còn ở lại rất lao khổ.

Máu viết phiếm luận và ký sự vẫn còn tươi trong Song Thao nên ông viết đều đặn, đã xuất bản tới cuốn “Phiếm” số 19. Ông cho biết những truyện ngắn ký tên Tạ Sương Phụng, Phượng Uyển trên Thời Nay cũng là của ông.

Khi nhớ lại giai đoạn “đổi đời” của người dân Sài Gòn, tôi cứ nghĩ về ông Thái. Gầy dựng, nuôi nấng tờ tạp chí và nhà in với tất cả tâm huyết qua mười lăm năm nhiều biến động chính trị đến khi chứng kiến nó bị khai tử, hủy diệt, chắc ông phải đau lòng lắm ? Phạm Ngũ Lão bây giờ là khu Tây ba-lô xô bồ xô bộn với đủ loại dịch vụ to nhỏ mọc lên như nấm, không còn dấu vết gì của khu báo chí ngày xưa.

Tôi thử tìm trên Google địa chỉ 217 thì thấy một khách sạn mini, không còn giống gì hình tòa soạn Thời Nay mà nhà văn Song Thao gởi cho tôi xem. Không biết số nhà có thay đổi không, thật đúng là nơi tòa soạn cũ chắc tôi chẳng bao giờ muốn đi ngang nếu là ông Thái.

Tạ thế ở tuổi 90, ông đã chứng kiến lẽ đời thăng trầm bể dâu, có thể cuối đời ông cũng chẳng còn tiếc nuối gì. Thời Nay bị khai tử nhưng nó không chết trong lòng độc giả ái mộ và thế hệ hậu sinh như tôi. Xin vĩnh biệt ông, thần tượng tuổi thơ của tôi, một thời ôm Thời Nay đọc giấu dưới gối ! (theo Minh Ngọc)

Nguyễn Văn Danh chuyển tiếp

Nói thêm : Ông Nguyễn Văn Thái có nhà riêng tại đường Nguyễn Văn Lạc, P19, Q, Bình Thạnh (tức khu Thị Nghè, con đường nằm sau nhà thờ Thị Nghè), Trước 1975, tờ Thời Nay chủ nhiệm là ông Thái, còn Tổng thư ký là Khánh Giang (còn là con rể ông Thái) sau chết vì bệnh tiểu đường (phải phẫu thuật tay chân, nỗi ngày vết thương không lành sinh biến chứng). còn người bạn của tôi là Phạm Đức giữ chức Thư ký tòa soạn.

Thời tôi còn làm tờ Hòa Bình (trước khi nhóm của ký giả Anh Quân đến thuê manchette của linh mục Trần Du), tôi vẫn thường ghé vào tờ Thời Nay thăm bạn, Vì tờ Thời nay hay tờ Hòa Bình đều nằm trên “con đường báo chí” trước 1975, mà giới văn nghệ sĩ thường mệnh danh cho nó. (Nguyễn Việt)

TẢN MẠN VỀ CHIẾC ÁO

– Nhã My

Ai cũng biết cái áo là vật để che thân. Không biết nó xuất hiện từ lúc  nào, nhưng kể từ khi con người biết tìm cái gì đó để che thân thì nó ra đời. Đầu tiên nó ”nghèo” lắm, chỉ tạm bợ ít oi để che phần nhạy cảm cuả phụ nữ, (đàn ông thì không cần thiết lắm), rồi từ từ theo thời gian văn minh tiến hóa, vật chất đầy đủ hơn nó cũng biến thể thành nhiều kiểu cách thời trang khéo léo, hấp dẫn ,sang trọng như bây giờ.

Mà thật ra để che thân thì phải xài luôn cả cái quần cho đủ bộ, vậy mà cái áo lại được nói đến nhiều hơn ở trong văn chương, âm nhạc , hội họa mới là kỳ và thú vị.
Hình ảnh cái áo lưu lại trong văn chương Việt Nam ta thì nhiều lắm, đầu tiên xin điểm qua chiếc áo đã đi vào ca dao, rồi đựoc cải biên thành điệụ hát. Cái áo huê tình thật dễ thương nó như thế này :

”Thương (yêu) nhau cởi áo cho nhau

Về nhà dối mẹ (mẹ hỏi) qua cầu gió bay”

Thử ”tán” rộng ra một chút cho vui nhé : cái áo ở đây chắc  là áo của người nam (chàng trai) tặng cho người nữ (cô gái) và nó xuất thân từ ngày xa xưa lắm,lúc xã hội còn nghèo, chưa có vải màu, vải hoa và may nhiều kiểu cách, đơn giản nó là một cái áo ”bà ba” màu gì đó (trắng, đen, chàm, nâu chẳng hạn) mà cả nam và nữ đều có thể mặc được, chỉ là kiểu may, kích thước hơi sai xích một ít thôi.

Người con trai không có ”của làm tin” nên đã cởi chiếc áo đang mặc tặng cho người mình thương yêu, chàng bèn để mình trần về nhà và nói dối với mẹ là ”qua cầu, gió bay”. Đương nhiên là chàng nói dối khó ai tin, bởi áo mặc phải cài khuy nút, gió làm sao mà bay được !.

Ta cũng có thể tưởng tượng thêm vài hình ảnh thơ mộng khác là họ đứng ở bờ sông (hay con rạch), sau phút tâm tình, chàng can đảm và chắc nịch với mối tình muốn bày tỏ cùng nàng nên dù chỉ có chiếc áo tùy thân đang mặc cũng cởi phắt ra trao tuốt cho nàng. Chàng qua cầu về nhà, nàng cũng trở về (không biết có cùng qua cầu chung một đoạn đường nữa hay không), chàng thì đã có sẵn cách nói dối (khó tin !), còn nàng ?

Thương quá đi, phận nữ nhi thời đó làm sao dám công khai mặc áo cuả chàng hoặc đi khoe áo, chắc là chiếc áo đó sẽ được đem cất kỹ (và len lén ngửi mùi chàng !). Rồi họ có thành đôi không , dù chưa chắc chắn nhưng mối tình ”trao áo” thì thật là đẹp, đơn giản, thực tế, chân tình .!

Còn thêm chàng trai quê khác, có chiếc áo (giả vờ hay cố ý) bỏ quên để ướm thử cô nàng.

“Hôm qua tát nước đầu đình

Bỏ quên chiếc áo trên cành hoa sen”

(ôi ! cành sen nó mỏng manh mềm mại thế kia , làm sao mà chàng máng áo lên được, chẳng qua là mượn cớ để hỏi chuyện thôi mà)

“Em được thì cho anh xin” (nếu em đã có người rồi)

“Hay là em để làm tin trong nhà” (ướm hỏi trao tình )

”Áo anh sứt chỉ đường tà (ồ, thì ra chỉ là một chiếc áo rách !)

Vợ anh chưa có, mẹ già chưa khâu (vì hoàn cảnh ….)

Áo anh sứt chỉ đã lâu

Nay mượn cô ấy về khâu cho cùng (cô ấy = đằng ấy tiếng gọi thân mật)

Khâu rồi anh sẽ trả công

Ít nữa lấy chồng anh sẽ giúp cho

Giúp cho một thúng xôi vò, (kể một lô lễ vật mà ai cũng hiểu là để rước nàng về dinh)

Một con lợn béo, một vò rượu tăm.

Giúp em đôi chiếu em nằm,

Đôi chăn em đắp, đôi chằm em đeo.

Giúp em quan tám tiền cheo,

Quan năm tiền cưới, lại đèo buồng cau”

Mối tình ”ướm áo” này cũng đẹp lắm, đơn giản, không kiểu cách màu mè tán tỉnh lơ mơ mà đi ngay vào thực tế, chân chất hiền hòa như tình cảm đôi bên (nếu áo có thật và nàng trả áo thì thôi có gì để nói, nhưng chắc là đoán biết nàng không  có áo để trả nên chàng mới can đảm tỏ (rõ) tình mình như thế ! Chân quê, khôn khéo quá ! Tình tứ quá !

Đó là hai chiếc áo cuả người bình dân mộc mạc trong văn chương truyền khẩu, còn thi sĩ ”tình yêu” Nguyên Sa thì:

”Nắng Sai Gon anh đi mà chợt mát

Bởi vì em mặc áo luạ Hà Đông”

Một chiếc áo lụa tình cờ của ai đó đang mặc trên hè phố đã làm chàng thi sĩ đọng lòng khi nhớ về tà áo thời quá khứ của quê hương xa cách để rồi :

”Anh vẫn yêu tà áo ấy vô cùng (cuả người yêu cũ)

Thơ anh vẫn còn nguyên lụa trắng” (đẹp lưu luyến đến thẫn thờ !)

Tà áo cũng được chàng thi sĩ nhuộm thêm màu sắc rất đẹp và so sánh với hoa, với lá :

”Áo nàng vàng anh về yêu hoa cúc

Áo nàng xanh anh mến lá sân trường” (nàng ở đây hẳn là cô giáo hay sinh viên trường đại học mới mặc áo (dài) màu chứ không phải tà áo trắng nữ sinh , tà áo màu rất đẹp  của thơ tình lảng mạn đầy thi vị)…

À quên, tôi cũng phải nói thêm tà áo trong ca từ đẹp lãng mạn đã làm say đắm nhiều người cuả  nhạc sĩ Trịnh Công Sơn nữa chứ :

”Gọi nắng

Trên vai em gầy đường xa áo bay…”

…. ”Áo xưa dù nhàu cũng xin bạc đầu gọi mãi tên nhau.”

…”Aó em bây giờ mờ xa nẻo mây

Gọi tên em mãi suốt cơn mê này”

Hay chiếc áo (đúng hơn là một bộ đồ) của cô giáo tên Lan, vợ bé  thầy giáo Hương, sau là ông cò quận 8 (thời đó đô thành SG mới có 7 quận) trong tuồng cải lương ”Tuyệt Tình Ca” đã từng lấy nước mắt nhiều người trước năm 75 ở miền Nam : bộ đồ mà bà giáo chung tình đã cất giữ suốt 18 năm dài  khi chồng bỏ đi về với vợ lớn, cho tới khi đôi mắt đã mờ không còn trông thấy được, chỉ để ngửi hơi hám của cố nhân !

Và chính mùi hơi thân thiết đó (cuả bộ áo) đã in sâu vào tâm khảm người vợ có thân phận đáng thương để rồi  trong lần gặp lại sau thời gian dài đằng đẵng cách xa, tuy không nhận ra giọng nói, mà đã nhận được hơi người !

Và còn , còn rất nhiều nữa ,ta cũng đã bắt gặp biết bao tà áo khác xinh đẹp rộn ràng , dịu dàng đầy sắc màu mộng mơ, yêu kiều, mến thương ở nhiều bài khác trong thơ và nhạc, nghĩa là Áo cũng là đề tài trong các đề tài thu hút sự sáng tác của thi , nhạc sĩ    …

Nhã My tui, làm thơ (dở ẹ ) chỉ để mua vui, thật không dám phạm thượng và khoe khoang những ”chiếc áo” trong nhiều bài thơ  của mình  bên cạnh tiền nhân lỗi lạc, nhưng cũng có ”tà áo trắng” của cô học trò ngây ngơ, đỏng đảnh :

“Ngày lại ngày trôi qu

Em khoe tà áo mỏng

Trắng cả trời ban trưa

Gió lùa trêu khóm lá

Anh nghe hồn đong đưa…”

Cái tà áo mỏng tí ti này (làm từ năm 19 tuổi) đã hân hạnh được thi sĩ tiền bối Nguyễn Khôi và  nhà văn Lê Ngọc Trác đã nhắc tới ! (ôi thật là cảm kích !)

Và có cái áo nữa của tui  (làm  năm 2011 lấy ý từ câu ca dao ”cởi áo cho nhau” thì nó không có gói bọc được  tình yêu trọn vẹn mà  ”ngậm ngùi” như thế này :

“Ngậm ngùi khúc vọng cổ xưa

Bên bờ lau lách gió đưa cung sầu

Tiếng thương tí tách giọt ngâu

Tiếng buồn chợt nhớ ” qua cầu gió bay”

Dối cha giấu mẹ bao ngày

Ngậm ngùi

Tiếc áo

Đã bay theo người !”

(Áo này là áo mua hoặc may để tặng và người ở đây là nam hay nữ gì cũng được hii bởi vì  là thơ  là sản phẩm cuả trí , tình trong tưởng tượng !)

Chúng ta đã điểm qua những chiếc áo trong tình cảm thơ văn (tưởng tượng), còn chiếc áo trong thực tế đời sống ? Tôi  dám chắc là không có ai trong chúng ta trong đời mà chưa có lần nào được nhận áo hay tặng áo.

Hồi nhỏ, lúc còn nghèo, trẻ con ắt đứa nào cũng mong tết đến để được bố mẹ may cho áo mới, áo đẹp để mặc đi chơi, đi khoe. Lên thời trung học, mấy cô bé nữ sinh đố đứa nào khỏi suýt xoa, vui mừng hoặc đôi chút ngỡ ngàng khi (lần đầu tiên soi gương) được mặc chiếc áo dài màu trắng tinh khôi mà mẹ , chị đã sắm cho.

Rồi thời ”bao cấp” chắc cũng có nhiều người rưng rưng cảm động khi nhận được chiếc áo cũ hay thầy,cô giáo (nghèo) cảm động khi nhận được xấp vải  (mà học trò nhiều đứa đã hùn tiền mua tặng để biết ơn thầy cô trong ngày lễ  Nhà Giáo ) để may chiếc áo mới mặc cho lịch sự , tươm tất hơn.

Tôi thật sự không muốn nói chuyện buồn khi thình lình người vợ  nhận chiếc áo tang của chồng  trong thời chiến tranh hay khi gia đình có người thân quá cố nhưng làm sao mà tránh được những chiếc áo tang thương đó .

Riêng cá nhân tôi, tuổi nhỏ và lớn lên trong đầy đủ ,vậy mà cũng vô cùng mừng vui , cảm động khi lưu lạc xứ người, nhận được những chiếc áo cũ phân phát từ trung tâm từ thiện. Những chiếc áo không đẹp lắm, không khít khao vừa vặn nhưng nó thật là quí ở thời điểm cần thiết, để tiết kiệm tiền mua sắm và hạnh phúc hơn khi nhận được tấm lòng từ những con người xa lạ.

Rồi qua thời gian làm việc, kiếm tiền và sinh sống trong xã hội thực dụng và đầy đủ vật chất, nói không ngoa, mỗi người phụ nữ ở đây ít nhứt cũng đã sắm từ vài chục tới vài trăm cái áo (không phải những thương hiệu với giá khủng tiền) Áo (quầ ) thì phải mặc theo thời tiết từng mùa, hè qua, đông đến, cứ lần lượt đem cất vì không mặc được.

Cứ bảo để sang năm đem ra mặc lại, rồi thì tới mùa năm khác lại ”sale off”, lại mua sắm cái mới ! Những chiếc áo cũ không xài tới, mang về quê nhà tặng thì sợ bị bắt lỗi là cho đồ cũ (mà hàng mới mua tặng cũng không đắc bao nhiêu), bán (ga-ra sale) cũng chỉ mua được vài món đồ ăn, thôi thì theo dòng đời luân chuyển, kẻ có, người không cứ mang tặng hết cho cơ sở từ thiện.

Những chiếc áo này (không mới tinh nhưng cũ thì không cũ lắm) sẽ được bay đi tận những nơi xa xôi, nghèo khó mà người cho và người nhận hoàn toàn xa lạ. Thương lắm thay những tấm lòng của những người làm thiện nguyện ,âm thầm nối kết , chia xẻ những tình người ! (theo Nhã My mùa đông 2017)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

CHUYỆN CỔ TÍCH Ở BẾN BÌNH ĐÔNG

CHUYỆN CỔ TÍCH

Ở BẾN BÌNH ĐÔNG

– Truyện ngắn : Nguyễn Minh Nữu

Năm nào khi về đến Saigon, tôi cũng dành một buổi chạy xe về bến Bình Đông. Lần đầu về vào năm 2000, tôi còn có dịp gặp bác Ba Thanh, khi đó cụ cũng đã gần sát tuổi chín mươi, và Triều là bạn học chung với tôi thời trung học ở trường Nguyễn Bá Tòng. Dần dà những chuyến sau về, cụ Ba Thanh đã mất, cụ bà cũng mất sau đó vài năm, và ngay cả Triều cũng lâm bệnh rồi từ trần năm 2016.

Căn nhà cổ kính nằm giữa vườn cây trái bây giờ còn lại gia đình Phiệt (con trai của Triều). Cái liên lạc thân tình của tôi với cả ba thế hệ của gia đình này là một câu chuyện khá dài.

Triều nằm trong nhóm ba đứa thân nhau học chung lớp từ hồi lớp đệ Nhị (bây giờ gọi là lớp 11) trong đó tôi thì nhà ở gần trường, còn Triều và Mai ở tuốt trong Chợ Lớn. Nhà Mai bên này rạch Lò Gốm gọi là khu Bình Tây, còn Triều nằm bên kia rạch Lò Gốm gọi là bến Bình Đông.

Lớp đệ Nhị mà Triều đã có xe Honda đi học thì là gia đình khá giả lắm. Bến Bình Đông và khu Bình Tây nằm song song với nhau phía cuối kênh Lò Gốm, Bình Tây thì có hãng rượu Bình Tây, sát với khu trung tâm thương mại người Hoa ở Chợ Lớn, có chợ Bình Tây, khu bến xe Chợ Lớn là trung tâm xe chở hành khách về các tỉnh miền tây.

Bến xe Chợ Lớn khác với xa cảng Miền Tây ở chỗ xa cảng Miền Tây là bến xe khách lớn, chở khách về các tỉnh lỵ như Cần Thơ, Mỹ Tho, Châu Đốc , Rạch Giá, còn bến xe Chợ Lớn đa số là xe nhỏ 16 hoặc 24 chỗ ngồi, nhưng lại chở khách về các địa danh huyện lỵ cũng là về miền tây, nhưng nếu Xa Cảng Miền Tây chở khách về Đồng Tháp là về bến xe tỉnh Đồng Tháp, thì bến xe Chợ Lớn chở khách về thị trấn Hồng Ngự là một huyện của Đồng Tháp chẳng hạn.

Bến Bình Đông nằm song song với bến Lê Quang Liêm của Bình Tây, nhưng nằm về phía bên kia kênh Lò Gốm. Bình Đông nằm giữa hai con kênh, bên này là kênh Lò Gốm và bên kia là Kênh Đôi. Cách gọi tên các dòng nước này tùy từng đoạn mà có tên riêng, người ngoài thành phố nghe rất khó hiểu.

Thực ra là như thế này : Từ Sông Saigon, có hai nhánh rẽ vào phía nam, nhánh trên gọi là Rạch Bến Nghé, nhánh dưới gọi là Kênh Tẻ, hai nhánh sông này gặp nhau và nhập thành một tại Cầu chữ Y, sau đó lại chia thành hai nhánh chạy tiếp về phía nam, một nhánh gọi là kênh Lò Gốm và một nhánh gọi là kênh Đôi.

Kênh Lò Gốm và Kênh Đôi nhập vào nhau tại Bình Đông, từ đây dòng kênh Đôi lớn hơn và chảy thẳng ra sông chợ Đệm. Đoạn đường hai bên kênh Lò Gốm khúc gần hợp lưu này toàn là các Chành, các Kho, Phía bên Bình Tây là các chành gạo, nông sản, phía bên kia sông là Bình Đông thì đa số các nhà kho lớn chứa phân bón , thuốc trừ sâu và nông cụ.

Bình Tây sầm uất vì sát với khu thị tứ và các chành xuất nhập gạo lúa nông sản thường xuyên mỗi ngày, còn Bình Đông thì vắng lặng hơn vì mặt tiền đường sát bờ sông dài hằng hai ba cây số đều là những nhà kho lớn, kín cổng cao tường, đàng sau dãy nhà kho đó là khu dân cư, nhưng cũng thưa thớt ít người.

Nhà của Triều là một trong vài chục căn nhà hiếm hoi nằm ở mặt tiền đường, ngôi nhà xây cất theo kiểu cố, nằm sâu vào trong, bao bọc quanh nhà là vườn cây khá rộng, nhà Triều trồng rất nhiều Mai, từ trước ra sau, bên phải bên trái đếm ra cả mấy trăm cây lớn nhỏ.

Đặc biệt ngay cửa chính vào nhà, giữa sân là một cội lão Mai khá lớn, thân cây có lẽ hơn 20 cm, không mọc thẳng lên cao, mà khoảng cao gần 1 mét bỗng gập gãy như hình chữ V ngược một đoạn mới lại vươn lên. Chỗ gập gẫy đó tạo như một mắt cây, xù xì cổ kính, cùng với các nhánh cành khác mọc ra đan chen nhau thành một hình dáng vừa kỳ dị vừa bắt mắt. Khi tôi tới chơi với Triều lần đầu, Cây Mai đã cao hơn tôi khá nhiều rồi, xum xuê những nhóm nụ xanh tươi khỏe mạnh vào dịp gần tết.

Triều gốc là dân Vĩnh Long, gia đình lập nghiệp ở Saigon từ mấy đời là do ba của Triều: Bác Ba Thanh làm công chức ở thành phố. Mẹ Triều buôn bán trái cây ở chợ xóm Củi , gần nhà. Triều là con một, sống với ba má. Triều là dân miền Nam truyền thống, gương mặt bầu bĩnh trắng trẻo và lúc nào nhìn cũng có vẻ như sắp cười, tính tình khoáng đạt rộng rãi, không thích bắt lỗi người khác mà chỉ chọc ghẹo gây cười rồi quên đi .

Những ngày cuối tuần, tôi đạp xe xuống nhà Mai, rồi kéo qua nhà Triều chơi giống như về quê. ở đó chúng tôi thả diều, qua kênh Đôi lặn hụp dưới sình bắt cá Lia Thia, bắt cua bắt ốc rồi về nhà Triều mở tiệc liên hoan…. không có rượu. Ba của Triều tôi gọi là bác Ba người tầm thước, khuôn mặt phúc hậu và rất thương con cùng lúc quý bạn của con, chúng tôi được sống như trong gia đình , rất đầm ấm và vui vẻ.

Sau Trung học, chúng tôi chia tay nhau, mỗi đứa đời xô đẩy đi một hướng khác nhau, Triều thì học Sư Phạm, ra trường đi dạy ở gần nhà, Mai thì làm việc ở Phú Giáo, Bình Dương.Tôi thì phiêu bạt lên tới cao nguyên Ban Mê Thuột, thế mà khi có dịp về lại Saigon là chạy đi tìm nhau. Lần nào về cũng có cảm giác như trở về nhà, Bác Ba gái từ sau nhà chạy ra vồn vã: Chèn ơi, bây về hồi nào ? thằng Mai biết bây về hôn ? ngồi đó đi tao ra trường kêu thằng Triều về.

Tôi đón vòng tay ôm của bác Ba mà ứa nước mắt vì xúc động. kệ lát nó về, kêu nó chi bác, con ở đây tới ngày mai mà.

– Dzậy hả, vậy bây ngồi chơi đó nghe, tao nấu nồi canh chua cho bây nhậu với Ba nó nghe, lóng rầy nó quậy lắm, biết uống bia uống rượu với ổng rồi.

Tiếng xe gắn máy chạy vào sân, rồi tiếng Triều la thất thanh, Trời phải mày không ? đi đâu mất biệt không thấy tăm hơi là sao…..

Hai đứa ôm chặt lấy nhau, lặng điếng không nói ra lời. Triều quay lại nói với má, con chở nó qua nhà thằng Mai coi có thằng Mai về không nghe má…….

Rồi sau 75, cuộc sống vượt khỏi suy nghĩ bình thường. Bác Ba Thanh đi học tập 3 năm mới về, thân thể mang đủ thứ bệnh mà chẳng biết bệnh gì, chỉ càng ngày càng ốm yếu , đau nhức khắp người. Mai thì lấy vợ ở Phú Giáo và ở lại quê vợ luôn. Tôi về làm công nhân ngay quận 6. Cuộc sống khó khăn từ miếng cơm manh áo nên thời giờ ghé lại thăm nhau cũng ít dần đi.

Triều vẫn đi day học nhưng vài ba tháng ghé lại một lần lại thấy thiếu mất một cái gì. Đầu tiên là cái xe gắn máy chuyển thành xe đạp, rồi thì bộ bàn ghế gõ phòng khách thay bằng cái bàn Mica và mấy cái ghế nhựa, rồi thì trên bàn thờ trang trọng xưa đã có vẻ trống trải vì thiếu bộ lư và đôi chân nến bằng đồng, hình như còn nhiều thứ nữa mà tôi không biết, nhưng thái độ niềm nở ân ần thì chẳng khác gì xưa.

Cho đến một lần khi tôi qua, cả nhà im ắng một cách kỳ lạ, tôi đi thẳng vào buồng sau, chỗ bác Ba nằm thì thấy bác Ba gái ngồi trên ghế cạnh giường ôm mặt khóc thút thít, bác Ba trai nằm nhưng cặp mắt vẫn mở, nhìn đăm đắm lên trần nhà. Triều kéo tay tôi bước ra ngoài… Chuyện gì vậy ?

Triều thở dài, chỉ vào cây Mai lớn giữa sân, có người tới muốn mua cây Mai này với giá 4 chỉ vàng, mà nhà bây giờ kẹt quá rồi, ba tao bịnh mấy năm nay, giờ má cũng bịnh nữa, nhà không có tiền mà ba tao nhứt định không cho bán, ổng nói chờ ổng chết rồi bán. Nhà còn có cái gì khác mà bán để lo bịnh dược đâu.Tao tính bán lấy tiền lo thang thuốc rồi mua chiếc xe xich lô tối về đạp thêm kiếm tiền….

Lúc đó tôi nhìn quanh vườn mới thấy vườn sơ xác trống trơn, cây cỏ mọc tùm lum, mấy trăm cây Mai trồng khắp vườn hình như đã được nhổ lên đem bán từ hồi nào… Tôi hỏi Bác có nói tại sao không cho bán không ? Triều lắc đầu, ông chỉ không là không. Không bán gì hết, chết thì chịu chứ không bán..

Khuôn mặt của Triều quắt queo, xanh lè, khi tay hai đứa nắm vào nhau, cả hai bàn tay đều lổn nhổn xương, xiết vào nhau đau buốt. Tôi cậy mình như là con cháu ruột thịt, nên đến bên giường cầm tay bác Ba góp ý, Bác ơi, một đời ta bằng ba đời nó, nay hoàn cảnh chung ai cũng chật vật, số tiền 4 chỉ lớn lắm,có thể lo cho bịnh tình hai bác mà còn có thể tạo ra việc làm cho Triều kiếm sống nuôi gia đình…..

Bác Ba nhìn tôi, nước mắt ứa ra, nói chầm chậm… tao biết bây nghĩ đúng chớ không sai, nhưng cây Mai này tuổi đã hơn trăm năm, là di sản từ thời ông nội thằng Triều, đem về đây trồng ngay bữa má thằng Triều sanh ra nó, hơn vậy, tuy trồng ở đó mà có phải của mình đâu, làm người phải coi trọng lời hứa…. đợi tao chết rồi bây làm gì đó thì làm….

Giọng bác Ba trầm, buồn nhưng dứt khoát, chỉ là chi tiết trồng ở đó mà đâu phải của mình thì tôi không hiểu tại sao mà không dám hỏi. hôm đó đi về mà lòng nát tan, đau xót thương yêu mà chẳng biết làm sao để chia sẻ với Triều.

Bến Bình Đông từ bao đời nay là nơi cặp bến của ghe thuyền miền Tây chở theo hoa kiểng và cây trái. Bên kia sông là bến Bình Tây chuyên về nông sản, lúa gạo. Các loại hoa kiểng chẳng những đổ về Bình Đông dồn dập vào dịp gần Tết , mà thường xuyên suốt năm vẫn có những chuyến ghe lớn chở trái cây đặc sản về cung cấp cho các chợ, cùng lúc hoa kiểng cho các vựa trong thành phố. Các chủ ghe lâu năm khi ghé lại, tạo ra một mối liên lạc thân tình với cư dân trong xóm và nhiều nhà dân trong xóm cũng trở thành nơi tạm chứa các thứ cây kiểng chưa tiêu thụ kịp.

Thời điểm 1980 ở thành phố nơi tôi sống như đang ngồi trên một cơn sóng dữ, cuộc đời mỗi người gánh mọi biến động lớn trên một con thuyền nhỏ, biết bao người đã vượt thoát đi, biết bao người đã chìm đắm xuống và biết bao người như tôi, cắn răng chịu đựng, sống mà chỉ biết sống hết một ngày hôm nay , ngày mai chưa biết. Miếng cơm , manh áo, giấc ngủ, và sự bình an chỉ biết chắc khi buổi sớm mai còn thức dậy được.

Mấy tháng sau, bất ngờ Triều ghé thăm tôi tại chỗ làm. Lần này nụ cười tươi rói, ngồi trên chiếc xe Xích Lô mới toanh, cười hi hí… Tôi chạy ra mừng rỡ, Bác Ba khỏe lại rồi hả ?

– Ba má tao khỏe rồi, tao tới báo với mày mấy tháng nữa tao lấy vợ.

Tôi la lên

– Úy trời, đứa nào ngu quá vậy ? Mày quen nó ở đâu ?

Triều kéo tôi vào quán cà phê lề đường và kể lại câu chuyện. Câu chuyện của Triều như thế này.

Ông nội của Triều là Chủ Sự trong tỉnh, là một hào phú ở huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long. Ông có nhiều con nhưng hợp tánh nhất là người con thứ, là ba của Triều, nên cuối đời, ông về sống với vợ chồng con ở tại bến Bình Đông.

Ông thích hoa kiểng và có lòng hào phóng thương người, hôm người con trai có đứa con đầu là Triều vào dịp sát tết Nguyên Đán, ông thảnh thơi đi dạo bến sông, ghe thuyền tấp nập cặp sát mé bờ, ngay trên bờ là các loại hoa kiểng chở lên bày đầy đặc. Ông bất ngờ dừng chân ở một khoảng bày toàn là Mai, cả mấy chục chậu Mai lớn nhỏ, mỗi cây được bọc một bao tải vải bó rễ và đất tưới ẩm.

Ông bất chợt nhìn thấy một cây lão Mai khá lớn, hoa kép, mỗi hoa chồng lớp mấy chục cánh vàng tươi rực rỡ tuyệt đẹp. Ông đứng ngắm nghía hồi lâu thì một người đàn ông bước ra chào hỏi. Đây là một cặp vợ chồng từ dưới quê Đồng Tháp chở cây từ vườn lên bán. Ông hỏi giá cây Mai nhưng mắc quá ông không mua. cây Mai bình thường cũng cao lớn như vậy thì giá chừng hai trăm ngàn , mà cây Mai này đòi giá tới ba triệu.

Ông hỏi tại sao, người đàn ông lễ phép thưa không phải con thấy bác hỏi ngay cây này mà con nói giá cao, thiệt ra đây là một loại mai đặc biệt mà không chỉ vườn nhà con, nói rộng khắp huyện Lấp Vò của con chỉ có một cây này. Nó là loại Mai Hương, bác chơi hoa nhiều thì bác biết , hoa Mai là loại hoa có sắc mà không có hương, riêng cây này thì bác cứ hửi thử đi, Bông hoa tỏa ra một mùi hương dìu dịu, không phải hương Lài không phải hương Lý mà phảng phất như có chút mùi trầm, càng về đêm mùi hương càng đậm cho tới sáng phai nhạt dần. Ba con dặn cái này cần người hữu duyên, phải giá thì bán không thì đem về nên giá nó mới cao như vậy.

Tưởng chỉ chuyện trò như vậy rồi thôi, ai dè vài bữa sau, trời đã về khuya, ông Chủ Sự đi ngang qua ghe thì nghe tiếng khóc của phụ nữ. Sẵn cảm tình từ lần trò chuyện trước ông ghé qua hỏi thăm, té ra cặp vợ chồng kia cơm ghe bầu bạn đem cây lên bán có dắt theo hai đứa con khoảng 5 tuổi và 7 tuổi, hồi chiều, do bận rộn bán hàng, hai đứa bé chạy giỡn với nhau xẩy chân lọt sông chết đuối cả hai.

Không có thân nhân ở gần, tiền bạc vốn liếng không còn, hai vợ chồng ôm nhau khóc ngất, bây giờ phải gấp rút về quê vừa đau khổ vừa khó khăn chưa biết tính sao. Ông Chủ Sự suy nghĩ rồi nói thôi để tui mua mão hết mớ cây vợ chồng bậu đem lên để bậu lấy tiền mua quan quách cho sáp nhỏ rồi về quê. Hai vợ chồng cúi đầu cảm tạ và nói giá bán mão hết số cây là hai triệu.

Ông Chủ sự nói vậy sao được, nguyên cây Mai Hương đã là giá ba triệu rồi, mà bán mão cả chục cây còn lại có hai triệu là sao, thôi tui đưa bậu năm triệu để lo việc nhà. Hai vợ chồng kéo nhau quỳ xuống cám ơn và thưa rằng cám ơn ông hào phóng giúp người, nhưng thôi như vầy, năm triệu ông đưa coi như con mượn, về quê rồi khi có được sẽ xin đem lên trả, còn nay tất cả mớ cây con giao hết cho ông, những cây khác thì coi như bỏ, riêng cây Mai Hương xin ông trồng lại chớ đừng bán, khi nào có tiền tụi con đem lên sẽ xin chuộc lại.

Ông Chủ sự gật đầu, bậu tính sao cũng được. Rồi ông chỉ tay về phía căn nhà : đó đó là nhà của tui, chừng nào lên dược thì lên.

Đó là lý do vì sao ông Ba Thanh nhất định không cho bán cây Mai trước nhà. Triều kể tiếp, khi gia đình đang túng bấn tới độ có bữa ăn rau muống luộc trừ cơm thì bất ngờ có một cô gái tới hỏi thăm phải đây là ông Chủ Sự không ? khi biết chắc đúng, cô gái mới kể tiếp cô tên Ơn, là con gái của ông bà Hai Đậu, quê ở Lấp Vò, Đồng Tháp. Hồi ba mươi năm trước, khi cô chưa ra đời, cha mẹ cô làm vườn và bán cây kiểng, có năm chở ghe bán lên bến Bình Đông vào mùa gần tết giống như vầy, bất ngờ gặp tai nạn làm chết hai người anh chị ở bến sông, có được ơn ông Chủ Sự ở nhà này giúp đỡ nên mới đem được xác về quê.

Mấy năm sau thì sanh ra cô, nhưng gia đình làm ăn cũng không khá giả, mới năm rồi người cha từ trần, kể lại cho cô nghe cái ơn khó trả ngày xưa, nay nhờ được mùa lại thêm bán được mấy công đất, nên mẹ cô đưa địa chỉ sai cô lên đây đền ơn đáp nghĩa ngày xưa.

Mẹ của Triều lúc đó lại nảy sanh căn bệnh đàn bà, đi đứng khó khăn thiếu người giúp đỡ, Cô Ơn tự nguyện ở lại ít ngày giúp bà tắm rửa thay đồ. Cô Ơn đưa gia đình số tiền còn nhiều hơn giá 4 chỉ vàng mà còn nhất định không chịu lấy cây Mai Hương về lại dưới quê. Cô nói cây này nó chỉ sống được nhờ người có phước. Nay nó ở đây an lành con lấy nó đi làm chi. Khi thấy má Triều chưa bớt bịnh, cô nhắn tin cho mẹ cô lên thăm, và ở lại sống trong nhà như người thân yêu.

Má Triều gần ba tháng sau nhờ có người chăm sóc, nhờ tinh thần thanh thản vui vẻ và nhờ thuốc men chạy chữa đã gần khỏe hẳn. Lâu ngày bên nhau nảy sinh lòng quyến luyến, có bữa, má Triều mân mê tay cô Ơn, bà nói, phải chi bây ưng thằng Triều thì đời tao có phước quá. Cô Ơn cười mắc cỡ, biết ảnh có ưng con không mà bác hỏi vậy ? Triều đang nằm chèo queo ngoài bộ ván ngoài sân, nghe thoáng qua chạy vô cầm tay cô Ơn thú thiệt tui ưng cô từ khi cô từ ghe bước lên bờ kìa. Cô Ơn cười e thẹn, hai má đỏ hồng.

Ơn tính tình thuần hậu mà lại giỏi giang chuyện mua bán, khi hai đứa lập gia đình với nhau, Ơn lấy lại cái sạp bán trái cây ở chợ và về quê tạo đầu mối đưa cây trái lên giao hàng bán sỉ cho các chợ trong vùng, Triều ngoài giờ dạy học, thì thành người giao hàng chuyên nghiệp cho vợ, chiếc xe xích lô chuyển thành xe ba bánh phục vụ cho chuyện kinh doanh.

Khi tôi rời Việt Nam vào năm 1995, thì gia đình Triều đã là một gia đình êm ấm, hai bác Ba khỏe mạnh lại, sống nhẹ nhàng thảnh thơi với đứa cháu nội đầu lòng của Triều và Ơn.

Lần này về bến Bình Đông, lại đúng gần mùa Tết, trên bến thì tràn ngập hoa tươi đủ loại, dưới bến thì chen khít với nhau ghe bầu, ghe Rổi, xuồng chèo, thuyền máy hàng hàng lớp lớp sát bên nhau như một hội hoa nửa bờ nửa nước. Tôi ghé vào nhà Triều, căn nhà vẫn là kiến trúc cũ, cổ kính và thanh lịch nhưng nay được sơn phết mới, trang trí thêm cửa kính, máy lạnh, sân vườn tráng xi măng đường đi sạch sẽ, giữa vườn vẫn là cây Mai Hương nay đã cao quá nóc nhà, rực rỡ hoa vàng, tỏa hương thơm ngát.

Vợ chồng Phiệt đang xúm xít trang trí bàn thờ quay ra thấy tôi reo lên mừng rỡ… Bác Bảy về rồi…. năm nay đám kỵ ba con có bác Bảy ba con chắc vui lắm…Trên bàn thờ, di ảnh hai bác Ba nhìn xuống cười hiền hòa, lung linh trong ánh nến thắp trên đôi chân đèn sáng loáng, chiếc đỉnh thờ rực rỡ mầu đồng, thấp bên dưới là khuôn mặt của Triều cười mím chi y hệt như thời chúng tôi còn trẻ trâu.
Tôi hỏi Phiệt, Má mày đâu ? Má con đi chợ mua đồ làm tiệc chiều nay đãi bạn bè con .

– Ủa có tiệc gì vậy ? tất niên hả ?

Phiệt mắc cở…. dạ…. dạ….. không…. mừng vợ con có bầu.

Đứng trước hiên nhà, nhìn lên cây Mai Hương cao lớn tỏa hương dìu dịu mênh mang, Phiệt nói sau Tết, má con dâng cúng cây Mai Hương này vô chùa. Má con nói cây lão mai này đã cho gia đình con hưởng phước đã ba đời rồi, “Phước bất khả hưởng tận”, nên muốn để tất cả những người có tâm thiện cùng được hưởng phước như gia đình con .

Tôi quay lại nhìn Phiệt, sửng sốt về câu thâm nho Phiệt nói, không biết nó học được từ đâu, tôi nghĩ chắc là từ ông Nội. Như vậy, khoảng cuối năm sau nếu tôi còn đủ sức khỏe về thăm nữa, thì tôi có quen biết với cả 4 đời gia đình Triều rồi đó. Tôi với tay lấy mấy cây nhang và kính cẩn thắp lên trên bàn thờ với lòng thương nhớ và kính yêu thật đầy. (theo Nguyễn Minh Nữu)

Nguyễn Văn Danh chuyển tiếp

SÀI GÒN NHỮNG NGÀY TẾT

CÓ GÌ KHÁC ?

Người Sài Gòn nổi tiếng với tính cách cởi mở, phóng khoáng, không có nhiều nguyên tắc khắt khe, vậy người Sài Gòn đón Tết Nguyên Đán có khác với các vùng miền khác ? Tết tại Sài Gòn rất riêng, đường phố, quán xá, chợ,… vẫn mua bán chỉ khác là không quá đông như những ngày bình thường

Trong bữa cơm ngày Tết của người Sài Gòn nói riêng và người Nam bộ nói chung luôn luôn không thể thiếu 3 món là : bánh tét – tượng trưng cho sự ấm no từ đời này qua đời khác. Món thứ 2 là món thịt kho tàu hay còn được gọi là thịt kho trứng, thịt kho ngước dừa, thịt kho hột vịt, và cuối cùng là món khổ qua nhồi thịt – tượng trưng cho quan điểm : ”Ăn canh khổ qua thể hiện mong ước cuộc sống sung túc, mọi khổ cực sẽ qua đi và bắt đầu một năm mới tươi sáng hơn”.

Theo dòng thời gian thì các món ăn ngày Tết của người Sài Gòn cũng biến đổi khá nhiều, và cuộc sống ngày Tết cũng khác xưa hơn. Dù trong mâm cơm ngày Tết luôn hiện hữu ba món ăn cơ bản không thể thiếu của người Nam Bộ nhưng các món ăn ấy cũng đa dạng hơn rất nhiều.

Bây giờ bánh tét có rất đa dạng về màu sắc và mùi vị chứ không đơn thuần một loại được làm từ đậu xanh, nếp, và thịt heo (thịt lơn) như xưa nữa. Bây giờ người ta đã phát triển thêm nhiều loại bánh tét nữa do nhu cầu đa dạng hơn như: bánh tét chay gồm: bánh tét dừa, bánh tét chuối, bánh tét lá cẩm, thay vì nhân đậu xanh thịt heo cổ truyền bạn có thể thưởng thức bánh tét trứng muối thập cẩm nếu bạn nếu đến Sài Gòn cho dù cho phải vào dịp Tết hay không.

Tới Sài Gòn dịp tết bạn vẫn có thể thưởng thức tất cả các món ăn thường ngày do người Sài Gòn quan niệm rằng cả năm uống cà phê tại sao Tết không uống, cả năm ăn hủ tiếu gõ buổi tối tại sao Tết lại không ăn,….

Hơn nữa giá cả tại Sài Gòn không có quá nhiều biến động vào tết nên không cần quá lo lắng về giá cả vào dịp tết. Sài Gòn tết đường không tắc đi lại rất thuận tiện, hàng quán vẫn hoạt động mà còn không phải đợi như ngày thường nữa.

Ngoài ra bạn vẫn có thể thưởng thức cơm tấm sườn bì, cà phê bạc sỉu hay nhiều loại cà phê khác vào buổi sáng, hủ tiếu gõ hay nhiều món hấp dẫn đặc trưng như chè, ốc các loại, bún riêu, bún bò, bánh canh cua, bánh xèo, hàng loạt món ăn vặt giá từ 10.000đ trở lên như bánh tráng trộn, bánh tráng nướng, bánh xèo, xiên que,….

Hay vui vẻ cùng nhau trên bàn nhậu với các món nướng hay món cánh gà, chim cút chiên nước mắm thơm ngon,… bên nồi lẩu nghi nghút khói với nhiều loại rau xanh, lẩu ở Sài Gòn có rất nhiều  loại nhưng trong mỗi nồi lâu luôn có 4 vị: chua, cay, mặn, ngọt rất rõ

Một người Sài Gòn từng nói: Có tiền ăn nhậu thì dân Sài Gòn ngày nào cũng vui như tết. Vậy nên Tết ở Sài Gòn không những vui mà còn không khác ngày thường hơn nữa dịp Tết đến Sài Gòn không lo tắc đường, ít khói bụi hơn. Hãy đi và trải nghiệm Tết Sài Gòn để thấy Sài Gòn cởi mở và phóng khoáng ra sao nhé. Tham khảo giá khách sạn tại:

Lan Hương chuyển tiếp

CHỢ TRỜI Ở SÀI GÒN NGÀY TRƯỚC

NHỮNG KHẨU PHÁO

THẦN CÔNG CỔ

BẬC NHẤT VIỆT NAM

Được sản xuất vào những năm đầu thế kỷ 19, Cửu vị Thần công được xem là những khẩu pháo sở hữu sức mạnh hỏa lực lớn nhất trong lịch sử Việt Nam.

H1: Cửu vị Thần công hay khẩu pháo thần công có thể coi là một trong những khẩu đại bác cổ nhất và lớn nhất Việt Nam từng chế tạo do các nghệ nhân của nước ta tự tay đúc. Chín khẩu thần công này được đúc từ năm 1803 tới 1804, dưới thời vua Gia Long.

H2: Sau khi đánh bại nhà Tây Sơn và lên ngôi, chính vua Gia Long đã ra lệnh cho các nghệ nhân thời đấy thu thập đồng từ các loại binh khí thừa thãi sau chiến tranh để đúc thành chín khẩu thần công làm vật chứng cho chiến thắng vẻ vang của mình. H3: Mỗi khẩu thần công này có chiều dài 510 cm và nặng tới 17 tấn chưa tính giá đỡ. Tổng cộng, 9 khẩu thần công đã tốn tới 153 tấn đồng nguyên chất, đây là một con số khổng lồ thời bấy giờ khi mà công nghệ luyện kim còn rất sơ khai.

H4: Quá trình đúc Cửu vị Thần công chỉ kéo dài trong chưa đầy một năm, từ năm 1803 tới năm 1804 là hoàn thành. Bên ngoài của các khẩu thần công cùng với bệ đỡ được trạm trổ cực kỳ tinh vi. H5: Thậm chí, trên phần thân súng còn được trạm trổ cả trọng lượng, vị thứ, danh hiệu và cả… cách dùng súng. Mặc dù là một công trình mang tính biểu tượng nhưng việc trạm cả cách dùng súng vào thân súng cho thấy những khẩu thần công này hoàn toàn có thể bắn được.

H6: Chín khẩu thần công này được đặt tên theo thứ tự tên bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông và theo ngũ hành: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. H7: Thời gian đầu khi vừa được đúc xong, Cửu vị Thần công được đặt dưới chân Hoàng Thành, trước cửa Ngọ Môn – kinh thành Huế. Tuy nhiên tới đời vua Khải Định, chúng đã được di dời vào trong kinh thành và chính thức trở thành công trình mang tính biểu tượng như các bảo vật trấn quốc.

H8: Trong quá khứ, Cửu vị Thần công chưa từng được mang ra sử dụng bất cứ một lần nào và chỉ là một loại vũ khí mang tính biểu tượng sức mạnh của nhà Nguyễn. Dưới triều Nguyễn, Cửu vị Thần công thường có quân canh gác và thường được tổ chức cúng lễ rất linh đình. H9: Tới khi Pháp xâm lược Việt Nam, việc cúng bái Cửu vị Thần công bị bãi bỏ chính thức. Tuy nhiên binh lính và người dân sống gần khu vực này vẫn tự mang đồ lên đây cúng tế Cửu vị Thần công vì đây vốn được xem là chính vị thần linh bảo vệ Kinh thành.

H10: Cửu vị Thần công được di dời vào vị trí mới, do phương tiện lạc hậu nên việc di chuyển những khẩu trọng pháo nặng tới 17 tấn này là cả một quá trình gian nan. H11: Ngày nay, Cửu vị Thần công được xem là một bảo vật vô giá của nước ta với tuổi đời đã hơn 200 năm. H12: Hiện tại, Cửu vị Thần công đang được trưng bày cho khách du lịch viếng thăm ngay trong Kinh thành Huế.

CHỢ TRỜI Ở SÀI GÒN

NGÀY TRƯỚC

Sau năm 1954, ngoài Khu Dân Sinh bán buôn đủ loại mặt hàng thượng vàng hạ cám ở gần Cầu Muối, người tuổi trung niên trở lên chắc hẳn còn nhớ khu Chợ Cũ quanh đường Tôn Thất Đạm, Huỳnh Thúc Kháng giữa trung tâm Sài Gòn xuất hiện kiểu chợ trời tự phát trên vỉa hè bày bán một số loại thực phẩm đóng hộp của Mỹ, rượu Tây, thuốc lá và quần áo cũ.

Khoảng thời gian này, người Sài Gòn bắt đầu tiếp cận “hàng hoá Mỹ” một cách rộng rãi hơn nhờ cả triệu người miền Bắc di cư vào Nam sinh sống.

Ông bạn lớn tuổi của tôi nhớ lại cảnh lều bạt tại một khu tiếp nhận người di cư miền Bắc trong trường đua Phú Thọ. Ngoài tiền bạc trợ giúp chi phí sinh hoạt, dân di cư còn được cấp quần áo, thực phẩm vài ba tháng đầu để ổn định cuộc sống mới. Rất nhiều người di cư, chưa quen cách ăn mặc và khẩu vị của đồ ăn đóng hộp đem bán cho mấy đầu nậu thu gom bán lại ra thị trường chợ trời.

Với công việc điều hành tiếp nhận, cấp phát hàng trợ giúp cho bà con di cư, ông bạn tôi thường nhận được nhiều hàng “hiến tặng” mà không cần phải bỏ tiền mua lại những thứ thực phẩm đóng mác “Donated by The People of The USA. Do Not Resale”. (Được sự đóng góp của Nhân dân Hoa Kỳ. Không bán lại”).

Ðồ Mỹ viện trợ phần nhiều là dầu ăn, phô mai, thịt đóng hộp và ba loại kẹo bánh. Nói chung là một ít mặt hàng thiết yếu dùng hằng ngày cho người lớn và trẻ con. Ông nhớ mãi chuyện của nhiều gia đình di cư mang phô mai đến nhà tặng. Thú thật, “ban đầu tôi không dám nhận vì nhiều quá, một vài miếng phô mai thì cứ xem như nghĩa tình, đằng này cả đống phô mai, lại là loại giá trị của Pháp nhưng đối với nhiều người không biết ăn, không sành ăn phô mai Pháp thì coi như món đậu hủ thúi của người Hồng Kông, ngửi mùi đủ phát ớn, làm sao nuốt trôi qua cổ họng”.

“Tôi không hiểu sao trong hàng viện trợ của Mỹ lại có thực phẩm của Pháp nữa. Món phô mai Vieux Boulogne gói giấy bạc vuông vức. Mùi phô mai này khó ngửi nhưng lại là một trong những loại phô mai ngon mà tôi thỉnh thoảng được mấy người bạn Pháp hồi còn làm ở Kho Bạc nhà nước tặng cho. Loại phô mai này làm thủ công bằng sữa bò nguyên chất, ngâm trong bia lên men nhiều ngày. Phô mai Vieux Boulogne nhâm nhi với rượu vang Bordeaux thì rất tuyệt. Tội cho người di cư chưa quen mấy món ăn Tây”.

Thật ra, người Sài Gòn bắt đầu “yêu thích” hàng thực phẩm Mỹ bán ở chợ trời là khoảng thời gian hơn mười năm sau đó. Thời gian này, lính Mỹ vào miền Nam cả nửa triệu quân, để phục vụ miếng ăn thức uống theo khẩu vị quê nhà, các nhà thầu Mỹ thiết lập các cửa hàng PX (Post Exchange) tức là hàng hoá tiêu dùng của Mỹ dành cho quân nhân và viên chức Hoa Kỳ đóng quân ở nhiều vùng, trong đó Sài Gòn có hai cửa hàng lớn.

Một là PX Sài Gòn nằm trên đường Tự Do góc bên hông khách sạn Majestic và cái khác là PX Chợ Lớn nằm trên đường Nguyễn Tri Phương gần góc Ngã Sáu. Hàng hoá bán ra chợ trời phần lớn từ nơi đây.

Chuyện này có lần tôi đã nhắc tới trong bài viết “Hàng PX và đô la đỏ”. Và xin trích lại một bài phóng sự điều tra của ký giả Lederer William J. đăng trên tạp chí Der Spiegel số 44 ngày 28/10/1968 rằng: “Hệ thống cửa hàng PX có trên 5,000 phụ nữ người Việt được nhận vào để bán hàng. Trong tháng 5 năm 1967, chỉ riêng một cửa hàng PX ở Sài Gòn đã mất 65,000 dollar vì ăn cắp vặt. Và đó chỉ là một cửa hàng nhỏ.

Có một thời gian, ban giám đốc cho khám xét những người Việt bán hàng lúc họ tan ca ra về, khiến nhân viên dọa sẽ đình công nếu như việc kiểm tra này không chấm dứt. Trong thời gian thực hiện bài điều tra ở Sài Gòn, tôi đã quan sát thấy bốn lần chiếc xe tải chở đầy thực phẩm từ cửa hàng PX vào kho tiếp liệu của khách sạn Continental như thế nào. Có một lần, một kiện thịt to, có in tên Tướng Westmoreland, được đưa cùng với nước ép cà chua vào cửa kho khách sạn Continental”.

Và đâu chỉ có nhân viên bán hàng, kể cả những người làm nhiệm vụ quản lý người Hàn Quốc hoặc Phi Luật Tân cũng thông báo cho thân nhân của mình những đợt hàng có giá trị mới về để mua bán kiếm lời. Thế là một lô hàng tủ lạnh mới đưa vào cửa hàng ngày hôm qua, vừa mới mở cửa bán sáng nay cho lính Mỹ thì đã bị gom sạch. Ðâu chỉ thế, kể cả một số lính Mỹ cũng tham gia mua hàng mỗi ngày rồi đem ra bán lại cho con buôn thông đồng từ trước.

Cũng trong thời gian này, vài ba công ty nhập cảng hàng điện tử tủ lạnh, tivi, radio, máy hát đĩa than, máy Akai, mở đại lý chuyên bán mặt hàng này trên đường Huỳnh Thúc Kháng. Bên cạnh đó, các gian hàng nhỏ chuyên bán phụ tùng đi kèm, bao da radio, anten truyền hình, loa nhạc, băng từ và các phụ tùng transistor để sửa chữa ra đời góp phần làm nên tên chợ trời điện tử Huỳnh Thúc Kháng bán buôn nhộn nhịp trước năm 1975.

Ðây là nơi lần đầu tiên tôi biết đến một dãy cửa tiệm bán đồ điện tử ở Sài Gòn đông người lui tới. Ba tôi đi dạo một vòng xem giá rồi cuối cùng mua cái tivi trắng đen Panasonic nhỏ nhất. Tivi có cái cửa lùa, bên dưới là bốn cái chân tròn thanh mảnh màu vàng đất trông rất dễ thương. Việc ba tôi mua cái tivi là do một lần đi làm về bắt gặp tôi đứng chen chân trước cửa sổ nhà hàng xóm coi bộ phim cao bồi hấp dẫn đang bắn súng ì xèo.

Ông đứng đằng sau lay vai tôi, lúc đó do say mê xem phim tôi cứ tưởng đứa hàng xóm nào chen lấn, miệng còn lên tiếng cự nự : “Coi thì cứ coi đi, làm gì mà chen với lấn”. Với tuổi học trò cuối cấp tiểu học, được ba dẫn đi chợ hàng điện tử mua cái tivi coi cho thỏa thích đương nhiên tôi rất khoái.

Tôi cũng khoái đứng xem người ta lựa quần áo đổ đống trên vỉa hè đường Tôn Thất Ðạm. Ba tôi bảo đó là chợ trời quần áo cũ của những nước giàu viện trợ cho những nước nghèo. Nhìn những đống quần áo đủ màu đủ kiểu, nhất là những chiếc áo thun còn mới tôi rất thích với ánh mắt thèm muốn có được vài bộ đồ đẹp với chúng bạn. Nhưng ba tôi bảo thà mua vải về may mặc vừa vặn, đẹp hơn. Là đồ của mình, mình mặc chứ không phải mặc đồ của người ta.

Nói đến chợ trời đồ ăn thức uống của Mỹ không phải một số sạp hàng quanh khu Chợ Cũ mà phải nhắc đến chợ trời trên đường Nguyễn Thông. Từ khi học đệ thất, tôi mới biết đến những thứ hàng hoá đa dạng đầy hấp dẫn này. Mỗi chiều tan học tôi đều lội bộ trên con đường tắt ngang đây để xem người ta buôn bán đủ thứ kẹo chewing gum, chocolate, kẹo trái cây và từng đống đồ hộp thịt hay cá chất cao theo hình kim tự tháp.

Từ ngã ba Kỳ Ðồng kéo dài đến cuối đường gần vách tường chắn khu vực ga xe lửa Hoà Hưng, hai bên đông đúc người mua kẻ bán. Có cả đồ ăn của lính Mỹ, bột sy-rô, cacao thậm chí hàng quân tiếp vụ từ mì gói đến xà bông, đường sữa gì cũng có.

Tôi thích nhất là kẹo đậu phộng Hàn quốc, mỗi gói 6 viên, bọc trong giấy dầu, bên trong là giấy bóng, không cần phải lột vì khi bỏ vào miệng nó tan biến đâu mất. Viên kẹo giòn tan thơm đậu phộng rang xay nhuyễn, không cứng như cục kẹo gừng, kẹo kéo, kẹo ú mà mấy năm trước còn hấp dẫn đám trẻ chúng tôi.

Nguồn hàng đồ hộp của Mỹ bày bán trên đường Nguyễn Thông, ngoài hàng PX, còn có khẩu phần đồ ăn cá nhân của lính Mỹ đi trận ở mấy kho tiếp liệu. Tên vắn tắt gọi là hàng MCI (Meal Combat Individual), mỗi thùng có 12 hộp giấy nhỏ, trên mỗi hộp có ghi ký hiệu B-1, B-2 hay B-3 dùng cho bữa ăn sáng trưa chiều tối.

Sau này, tôi mới biết những ký hiệu ghi trên vỏ hộp. Hồi đó, tôi chỉ biết hộp này có ba miếng thịt heo chiên lên ăn khá ngon, thịt bò thì nghe mùi trầu không ngon bằng loại cá khô vuông vắn bằng ba ngón tay ngâm nước lạnh cho mềm chiên lên không khác gì miếng cá phi lê tươi rói.

Khi nghe chuyện đồ ăn của lính Mỹ, mấy người bạn lớn tuổi của tôi gần như rất vui, nhớ lại từng mùi vị của mỗi loại khẩu phần đóng gói. Có ông còn ganh tị, cùng là phận lính chiến, người thì ăn cơm sấy ngâm nước lạnh, hút Bastos xanh; thằng thì ăn bánh mì đồ hộp đủ loại thịt cá, hút Salem phì phèo, nhai kẹo cao su, uống thì cà phê hoà tan, cacao sữa, thậm chí còn có khăn giấy lau miệng, giấy vệ sinh đi cầu.

Chẳng lính nào trên thế giới sang hơn lính Mỹ viễn chinh xứ mình. Ðồ ăn của lính Mỹ đi trận không được bán ra ngoài. Thế nhưng muốn kiếm vài chục thùng đồ ăn MCI cứ đến chợ trời Nguyễn Thông thể nào cũng có. Nguồn hàng này từ đâu? Từ kho tiếp liệu tuồn ra !

SÀI GÒN XƯA :

CÀ PHÊ VỢT PHA BẰNG SIÊU ĐẤT,

HƠN 50 NĂM NÍU GIỮ CHÂN NGƯỜI

Sài Gòn nổi tiếng bởi những quán hàng cà phê trải dài khắp các con phố với đủ thứ đủ loại: Cà phê phin, cà phê sữa, cà phê nội ngoại,… Nhưng trong tất cả những thức đồ ấy, tồn tại một món cà phê xưa cũ từng là kí ức quen thuộc, là hoài niệm thân thương của bao người dân xứ Gia Định, đặc biệt là người Hoa sống tại nơi đây, đó chính là Cà phê vợt.

Từ đầu thế kỷ 20, cà phê được người Sài Gòn đón nhận khá nồng nhiệt. Vào khoảng những năm 1930, khắp địa phương Sài Gòn – Chợ Lớn (Région de Saigon – Cholon) hầu như sáng nào cũng có các quán cà phê đông khách. Theo thời gian, hương cà phê len lỏi và ngấm dần vào thói quen và kí ức của người dân khu phố thị bậc nhất xứ Nam Kỳ này.

Trước khi uống cà phê kiểu Pháp, người Sài Gòn pha cà phê vợt theo kiểu Trung Hoa. Cà phê vợt hay còn được gọi với những cái tên khác như cà phê bít tất hay cà phê kho là một trong những nét văn hóa xưa của cộng đồng người Hoa còn sót lại tại Sài Gòn. Cà phê xay nhuyễn được lọc qua vợt bằng vải the dài như bít tất, ủ trong siêu thuốc bắc để ra hết vị. Thứ nước đầu này được tiếp tục đem kho liu riu trên bếp than.

Đến nay, Sài Gòn có lẽ chỉ còn sót lại 2 quán cà phê vợt kho bằng siêu đất tồn tại đã trên nửa thế kỷ, một ở quận 3 và một ở quận 11. Hương cà phê vợt “kho” trong siêu đất có sự hấp dẫn riêng mà có lẽ không vị cà phê tân thời nào có thể sánh được.

“Chỉ cần ngửi mùi thơm là người ta tự đến”

Quán cà phê vợt tồn tại đã nửa thế kỷ của ông Lưu Nhân Thanh nằm trong hẻm 313 Tân Phước, P. 6, Q.11. Không gian quán nhỏ xinh đậm chất người Hoa nằm trong một con hẻm nhỏ, nhìn vào đây đã thấy một thời xưa cũ và phong cách uống cà phê mộc mạc, bình dân vô cùng..

Người Việt Nam biết cách thưởng thức cà phê một cách đích thực và đúng nghĩa chắc cũng không có nhiều. Trải bao thăng trầm cùng thời gian, sự biến đổi cách uống, cách phục vụ cà phê, ông Thanh vẫn bảo tồn vẹn nguyên phong cách pha cà phê truyền thống.

Ông Thanh pha bằng siêu đất, loại siêu mà người ta chuyên dùng để nấu thuốc bắc. Ông chia sẻ : “Chỉ có giữ nóng bằng cái siêu đất, hương thơm cà phê vợt mới ngon hơn hẳn cà phê đựng trong cái phin bằng kim loại”. Bí quyết của ông là không bao giờ giặt vợt bằng xà phòng vì sẽ làm mất mùi cà phê, chỉ cần rửa bằng nước sạch là đủ. Vợt càng dùng lâu năm, càng đen thì pha cà phê lại càng ngon.

Cà phê pha xong bằng siêu đất mới được ông đổ ra ấm nhôm để bán cho khách. Nước cà phê đầu tiên gọi là nước cốt, đây cũng là lượt cà phê chất lượng nhất của một lần pha. Ấm cà phê cốt được bắc lên một bếp than trước khi rót cho khách.

Khi dùng bạn có thể cho thêm chút đường, khuấy đều rồi bưng tách cà phê lên để nếm thử hương vị cà phê tinh khiết lúc còn nóng. Nhấp một chút rất ít cà phê rồi dùng lưỡi trải mỏng nước cà phê khắp miệng và nuốt nhẹ nhàng.  Sau đó, thở ra từ từ để hương thơm cà phê xông lên từ hốc mũi, vòm mũi và bạn cảm nhận mùi hương cà phê dường như lan tỏa lên đến đỉnh đầu.

Điều đặc biệt cà phê vợt ở đây giá chỉ 5.000 đồng, thêm sữa thì giá 1 ca sẽ là 6.000 đồng. Những khách hàng của ông Thanh hầu hết là những người trung tuổi và cao tuổi. Họ uống như một thói quen hay nói đúng hơn là thỏa cơn ghiền cà phê vợt, nhất là khi kiểu pha chế này đã gần như đang bị mất hút tại Sài Gòn.

Nhiều năm qua quán của ông Thanh cũng chứng kiến nhiều câu chuyện, nhiều cảnh đời trái ngược ngang qua. Nhưng ông vẫn luôn tận tâm phục vụ mọi người bằng một lòng nhiệt huyết và đam mê pha cà phê truyền thống.

Cà phê nguyên chất có hương thơm và hậu vị tinh tế, đậm đà theo cách tao nhã, thanh thoát hoàn toàn khác với mùi thơm nồng của hương liệu, vị đậm và đắng nặng nề, màu nước đen thui và sánh kẹo của các loại hạt ngũ cốc như bắp, đậu rang cháy được tẩm hương liệu nồng độ cao trong quy trình sản phẩm cà phê pha tạp.

Rất nhiều người dân Sài Gòn cũng không thể nào nhớ rằng cà phê vợt có từ thời nào, nhưng ai cũng hiểu rằng quán như của ông Thanh đang góp phần níu giữ “hồn” cà phê vợt và nét văn hoá một thời của người Sài Gòn một thời.

Cheo Leo – Quán cà phê lâu đời nhất Sài Gòn

Ngang qua mấy con hẻm trên đường Bàn Cờ tới Nguyễn Thiện Thuật, quận 3. Thật không khó để tìm được quán cà phê vợt Cheo Leo dù có bị lọt thỏm giữa những ngôi nhà cao tầng san sát, bởi mùi cà phê thơm sực nức cùng tiếng nhạc xưa  đã tự dẫn người tìm đường tìm đến đúng nơi cần tìm.

Cà phê Cheo Leo của cụ cố Vĩnh Ngô được mở bán từ cuối những năm thập niên 30 của thế kỷ trước. “Những ngày đầu nhà tui về đây xung quanh đồng không trống trải, nhà cửa thưa thớt với vài ngọn đèn leo lét, nên cha tui đặt tên quán là Cheo Leo”, cô Hoa người con thứ 6 của cụ cố Vĩnh Ngô kể lại.

Thời đó, Cheo Leo là một trong những quán cà phê nhạc nổi tiếng Sài Gòn, là nơi hẹn hò của những cô cậu học trò trường Chu Văn An, Petrus Ký và đây cũng là nơi thường xuyên lui tới của một vài nghệ sĩ vang bóng một thời Sài Gòn.

Trong suốt 79 năm, hương vị cà phê cùng với cách pha độc đáo vẫn được từ chiếc vợt vẫn được mọi thành viên trong gia đình giữ nguyên.

Cô Hoa chia sẻ : “Lửa rất quan trọng khi luộc cà phê. Nếu để lửa lớn quá cà phê sẽ bị kho ra vị chua, còn nhỏ, cà phê sẽ bị nguội, uống vô không còn mùi vị”.

Lò nung cha chị làm từ cái thùng phuy chèn thêm lớp gạch pha với đường cát vàng hạt lớn. Giữa lò nung có than lửa làm nước sôi, nước sôi già mới đổ vào cái siêu mà người ta thường đun thuốc Bắc. Trong siêu có tấm vải lược, tức cái vợt, bỏ cà phê xay nhuyễn vào đó. Ủ một lúc thì chắt nước cà phê qua cái siêu khác, đặt bên rìa lò nung giữ nóng lâu, hoặc chắt liền vào ly phục vụ khách vừa tới quán.

Một khách ruột của quán tâm sự : “Sanh thời ông Cheo Leo điệu nghệ lắm. Ổng luôn vận quần soọc, cỡi xe Vespa đi chợ Bến Thành mua cà phê chánh hiệu Meilleur Gout, Jean Martin mang dzìa pha vợt. Tới khi Sài Gòn đã hiếm quán cà phê pha vợt, ổng cũng không chịu pha phin, biểu pha bằng cái phin thì cà phê cũng chẳng ngon hơn chút nào, mà nỡ bỏ đi cái cách cà phê pha vợt đã quá thân thương với người Sài Gòn. Tụi tui mến ổng là vậy”.

Khi muốn cảm thụ hương vị của tách cà phê đích thực, sự thư thái trong tâm hồn cùng với những cốc nhựa cà phê ở đây, nhiều người khám phá ra cà phê vợt đem đến cho bạn trải nghiệm thú vị và bổ ích.

oOo

Giữa nhịp sống hiện đại và náo nhiệt, hình ảnh những người già ngồi bên tách cà phê cạnh lò đun nghi ngút khói trở thành một nét duyên thầm trong thế giới ẩm thực và đời sống văn hóa vốn đã lắm phong phú của Sài Gòn.

Ngày nay, cà phê vợt không chỉ là thức uống được người lao động bình dân ưa chuộng, đó đã là niềm khao khát, là thói quen chung của nhiều người thích tĩnh lặng, nhớ hoài cổ và nét trầm mặc của thời gian.

Dù chúng ta có đi rất xa, chúng ta vẫn luôn mong muốn có một điều nào đó để nhớ về. Nhất là về với những kỉ niệm, những nét văn hóa truyền thống rất riêng còn lưu giữ lại, mọi thứ đều góp phần tạo nên một bức tranh muôn màu khiến Sài Gòn trở nên đẹp hơn.

Yên Huỳnh tổng hợp chuyển tiếp

NỬA HỒN THƯƠNG ĐAU

Logo vannghe A

9 Khanh Ngoc 1BÓNG HỒNG TRONG :

NỬA HỒN THƯƠNG ĐAU

Những tình khúc Nửa hồn thương đau, Người đi qua đời tôi… của nhạc sĩ Phạm Đình Chương đã quá quen thuộc với công chúng từ hơn nửa thế kỷ qua. Tuy nhiên, hoàn cảnh ra đời các ca khúc tuyệt vời này lại thấm đẫm một nỗi buồn…

Nhạc sĩ Phạm Đình Chương sinh năm 1929 tại Hà Nội trong một gia đình giàu truyền thống âm nhạc. Cha ông là một nghệ sĩ đàn tranh, còn mẹ ông là nghệ sĩ đàn bầu. Cả hai chơi đàn rất tuyệt.

Phạm Đình Chương bắt đầu sáng tác vào năm 1947 khi vừa 18 tuổi. Hầu hết những sáng tác của ông trong giai đoạn này có phong cách tươi trẻ, hùng tráng như Hò leo núi, Sáng rừng, Trăng rừng, Trăng Mường Luông, Ra đi khi trời vừa sáng(viết chung với Phạm Duy)…

9 Pham D Chuong 1Năm 1951, Phạm Đình Chương chuyển vào Nam, và ban hợp ca Thăng Long được thành lập với những thành viên là anh chị em ruột trong gia đình gồm : Hoài Trung (Phạm Đình Viêm), Thái Hằng (Phạm Thị Quang Thái), Hoài Bắc (Phạm Đình Chương), Thái Thanh (Phạm Thị Băng Thanh), đôi khi còn có sự góp mặt của ca sĩ Khánh Ngọc. Ban hợp ca này mau chóng trở nên nổi tiếng. Trong khoảng gần 10 năm tiếp theo, Phạm Đình Chương đã sáng tác được nhiều ca khúc tuyệt vời như Tiếng dân chài, Được mùa, Đợi chờ, Xóm đêm, Ly rượu mừng, Đón xuân… đặc biệt là trường ca Hội Trùng dương (Tiếng sông Hồng, Tiếng sông Hương và Tiếng sông Cửu Long).

Trước đây, nhiều người từng cho rằng Phạm Đình Chương thật đáng tự hào khi là “sở hữu chủ” của một giai nhân kiều diễm và có một thân hình bốc lửa như nữ ca sĩ Khánh Ngọc (biệt danh “ngọn núi lửa”). Danh tiếng của Khánh Ngọc nổi như cồn trong khoảng 5 năm (từ 1955-1960), không chỉ trong lĩnh vực ca nhạc mà cả trong điện ảnh, cô nổi tiếng trước cả Kiều Chinh, Thẩm Thúy Hằng, Kim Cương… (qua các phim Chúng tôi muốn sống, Đất lành…) Sau biến cố được cho là do vợ ngoại tình (với nhạc sĩ Phạm Duy – anh rể trong nhà, 9 Ban Thang Long 2chồng của Thái Hằng), Phạm Đình Chương ly dị vợ, và ông được quyền nuôi đứa con trai (lúc đó khoảng 4-5 tuổi).

Thời gian này, Phạm Đình Chương không còn tâm trí để cùng biểu diễn với ban hợp ca Thăng Long được nữa. Ông sống khép kín, ít giao thiệp với bên ngoài. Cũng từ đây, những bản tình ca ai oán của Phạm Đình Chương đã ra đời trong nước mắt. Những nốt nhạc là kết tinh của những cơn đau thương, của những hoài niệm xót xa, với những ca từ bi thiết, đó là những ca khúc: Đêm cuối cùng, Thuở ban đầu…

Riêng với 2 ca khúc Người đi qua đời tôi Nửa hồn thương đau thì trong tâm trạng đau đớn tột cùng bởi gia đình tan nát, chia lìa, Phạm Đình Chương đã tìm thấy sự đồng cảm từ bài thơ của Trần Dạ Từ :

Tr Da Tu“Người đi qua đời tôi trong những chiều đông sầu.

Mưa mù lên mấy vai, gió mù lên mấy trời.

Người đi qua đời tôi, hồn lưng miền rét mướt.

Vàng xưa đầy dấu chân, đen tối vùng lãng quên.

Bàn tay mềm khói sương, tiếng hát nào hơ nóng.

Và ai qua đời tôi, chiều âm vang ngàn sóng, trên lối về nghĩa trang…

Người đi qua đời tôi, không nhớ gì sao người…

Em đi qua đời anh, không nhớ gì sao em” (Người đi qua đời tôi).

Đặc biệt, từ bài thơ Lệ đá xanh của Thanh Tâm Tuyền, ông đã viết thêm ý rồi đổi tựa để thành ca khúc Nửa hồn thương đau bất hủ : “Nhắm mắt cho tôi tìm một thoáng hương xưa, cho tôi về đường cũ nên thơ, cho tôi gặp người xưa ước mơ. Hay chỉ là giấc mơ thôi, nghe tình đang chết trong tôi, cho lòng tiếc nuối, xót thương suốt đời. Nhắm mắt ôi sao nửa hồn bỗng thương đau. Ôi sao ngàn trùng mãi xa nhau, hay ta còn hẹn nhau kiếp nào. Anh ở đâu ? Em ở đâu ? Có chăng mưa sầu buồn đen mắt sâu. 9 Khanh Ngoc 3Nhắm mắt chỉ thấy một chân trời tím ngắt, chỉ thấy lòng nhớ nhung chất ngất, và tiếng hát, và nước mắt… Đôi khi em muốn tin… Ôi những người… Khóc lẻ loi một mình”.

Ca khúc Nửa hồn thương đau được người em ruột của ông là ca sĩ Thái Thanh trình bày khiến những ai đã nghe qua khó thể quên được. Nhưng nếu trong một cơn say nào đó được chính tác giả hát lên thì người nghe mới thật sự xúc động. Giọng ca của Hoài Bắc vốn trầm và dội, sau cú sốc tình cảm quá lớn lại như có ướp thêm men rượu. Nếu như ai đã từng quen ngồi phòng trà Đêm màu hồng – tên một bản nhạc của Phạm Đình Chương phổ thơ Thanh Tâm Tuyền tại Sài Gòn vào những năm trước 1975, chắc chắn từng bắt gặp Phạm Đình Chương tay cầm ly rượu và điếu thuốc cháy dở, hát đơn ca bằng một chất giọng nhừa nhựa rất phiêu.

Thực ra đây là ca khúc ông viết cho phim Chân trời tím. Đến lúc bộ phim sắp hoàn tất, bị nhắc nhở vì trễ hẹn và trong men say chếnh choáng Phạm Đình Chương đã trút hết nỗi đau của mình vào Nửa hồn thương đau.

Khánh Ngọc sang Mỹ từ năm 1961 để học thêm về điện ảnh và đã có gia đình mới, nhạc sĩ Phạm Đình Chương từ trần tại California (Mỹ) năm 1991.

9 Khanh Ngoc 2Khánh Ngọc bây giờ ra sao ?

Khánh Ngọc cho biết hiện cô đang ở Los Angeles,  rất bằng lòng với đời sống hiện tại, lâu lâu đi hát cho các hội từ thiện và  bạn bè ở các tiểu bang, rất vui gặp lại bạn bè mới và cũ. Cô nói cô có nhiều kỷ niệm trong đời nghệ sĩ, mỗi lần gặp lại bạn bè, nhắc những kỷ niệm cũ cô cảm thấy rất vui, Cô cố giữ những kỷ niệm vui này trong tâm trí và  mong một ngày nào đó  trở về VN cùng với bạn bè  sống cho hết quảng đời còn lại.

Được hỏi, sau khi tốt nghiệp điện ảnh rồi sao cô không trở về VN, Ca sĩ Khánh Ngọc cho biết  trong thời gian lưu diễn các tiểu bang cô có gặp một sinh viên VN, hai người đã kết hôn  và có ba con nên rất bận rộn và gia đình cũng ngăn cản con đuờng nghệ thuật của cô. Tuy nhiên cô không buồn vì rất hạnh phúc với gia đình.  Khánh Ngọc cho biết nay cô đã về hưu, niềm  vui hiện tại của cô là với gia đình và các cháu. Cô rất thích nấu nướng và làm bánh… Mỗi lần đi các tiểu bang, gặp lại khán giả đã biết cô  và vẫn giữ lòng quý mến cô, cô cảm thấy rất là hạnh phúc(theo Hà Đình Nguyên)

9 Khanh Ngoc 4Nhạc phẩm : “Nửa hồn thương đau” của Phạm Đình Chương

Nhắm mắt cho tôi tìm một thoáng hương xưa

Cho tôi về đường cũ nên thơ

Cho tôi gặp người xưa ước mơ

Hay chỉ là giấc mơ thôi

Nghe tình đang chết trong tôi

Cho lòng tiếc nuối xót thương suốt đời.

Nhắm mắt ôi sao nửa hồn bỗng thương đau

Ôi sao ngàn trùng mãi xa nhau

Hay ta còn hẹn nhau kiếp nào

Em ở đâu? Anh ở đâu ?

9 Pham D Chuong 2Có chăng mưa sầu buồn đen mắt sâu.

Nhắm mắt chỉ thấy một chân trời tím ngắt

Chỉ thấy lòng nhớ nhung chất ngất

Và tiếng hát và nước mắt.

Đôi khi anh muốn tin

Đôi khi anh muốn tin

Ôi những người, ôi những người

Khóc lẻ loi một mình.

Nghe : tiếng hát THÁI THANH

http://youtu.be/1PyP4z3xO2k

Xem thêm Nói về nhạc phẩm NỬA HỒN THƯƠNG ĐAU

9 Le Thu 1NỮ CA SĨ LỆ THU

KHỜ KHẠO NÊN PHẢI

TRẢI QUA 3 ĐỜI CHỒNG

Bài hát đưa nữ danh ca lên đỉnh cao nghiệp diễn có tên “Dang dở”, như một điềm báo cho hạnh phúc không trọn vẹn với ba cuộc hôn nhân và mối tình đẹp, mà câu trả lời cuối cùng vẫn là không ai cùng đi trọn một con đường.

Tình duyên là thế, nhưng cuộc đời đã bù lại cho chị một sự nghiệp không phải ai cũng có được. Để rồi gần 50 năm qua, giọng ca Lệ Thu cất lên một niềm đồng cảm với những cuộc tình không trọn vẹn. Chị như người kể chuyện tình, đắm say qua nhiều thế hệ.

Lệ Thu chia sẻ, chị là người biết làm chủ cảm xúc và diễn tả nó một cách tỉnh táo, trong các ca khúc, chứ không bị chi phối bởi những đổ vỡ đớn đau của cuộc đời. Có thể tiếng hát Lệ Thu có trước những mất mát riêng tư của chị. Nhưng người nghe lại thấy trong giọng hát Lệ Thu có điều gì như uẩn ức, như muốn nói lời bí mật nào đó đã làm người hát đẩy nỗi đau lên đến tột cùng trong từng nốt nhạc.

Cô bé đi hia vạn dặm

– Chị là người nổi tiếng nhút nhát và khờ khạo, lại sinh ra trong một gia đình phong kiến. Tại sao một cô gái như thế lại chọn nghiệp ca sĩ ?

Tôi cho rằng đó là cái nghiệp. Gia đình tôi, chú bác, cậu đến người anh đều hát hay. Tôi hát chẳng là gì so với họ, nhưng chắc không ai có cái nghiệp như tôi. Tôi được học piano từ nhỏ, âm nhạc đã ngấm vào máu. Rồi mẹ đưa tôi từ Hải Phòng vào Sài Gòn sống. Gần nhà có người thầy dạy guitar, tôi theo học và thỉnh thoảng có hát. Hàng xóm khuyến khích đi thì, tôi chối đây đẩy: 9 Le Thu 2“Thôi thôi, hát tài tử thì được chứ đi thi thì không”. Lý do là trước khi đi thi, phải nhìn vào gương để tập hát, tôi nhìn thấy chính mình nên rất sợ.

Cho đến dịp sinh nhật người bạn vào năm 1960, đang ăn uống vui vẻ ở phòng trà Bồng Lai, một đứa bảo bạn : “Ê, Oanh, mày hát cho tụi tao nghe một bài”. Tôi từ chối, nhưng bạn bè đẩy quá nên hát bài Tà áo xanh (có tên khác là Dang dở) của nhạc sĩ Đoàn Chuẩn. Đến giờ tôi cũng không hiểu tại sao có thể bài hát đó để mở đầu cho sự nghiệp ca hát của mình.

Ông chủ phòng trà Bồng Lai khen : “Em hát được lắm, em có muốn đi hát không ?”. Tôi trả lời : “Dạ thưa không, mẹ cháu không muốn cho cháu đi hát”. Ông ấy thuyết phục: “Em đi hát nhưng vẫn có thể đi học được. Em không phải thức khuya, vì đến đây hát lúc 9 giờ, 10 giờ đã về rồi. Một tiếng đó, em có thể nói với mẹ là đến nhà đứa bạn học bài”. Rồi ông đưa ra mức thù lao, tôi thực sự choáng vì ngoài sức tưởng tượng. Tôi không nhớ là bao nhiêu, nhưng đối với nữ sinh lúc đó là cả một vấn đề. Nghĩ tới nghĩ lui, bạn bè cũng nói vào nên tôi quyết định đi hát.

– Như chị nói, con đường ca hát của chị được trải thảm đỏ ngay từ đầu. Nhưng để một tên tuổi nổi lên đâu phải dễ, nhất là đang có những cái bóng quá lớn như Thái Thanh, Mộc Lan, Kim Tước, Bạch Yến…?

Đúng là thập niên đó, các bậc đàn anh đàn chị đình đám lắm. Nhưng hầu hết đều hát giọng mũi, còn tôi là giọng nữ trung, đầy, rõ nên xuất hiện như một nhân tố lạ. Tôi trở thành cô bé đi hia vạn dặm, nhưng cuộc sống vẫn không có nhiều thay đổi.

Tôi nhớ những ngày đầu trốn mẹ đi hát ở Bồng Lai, vừa hát vừa sợ. Rồi mẹ tôi cũng biết do một anh hàng xóm mách lại. Anh ấy vốn rất mê tôi nhưng không được đáp lại tình cảm nên tố cáo chuyện tôi đi hát với mẹ. Bà nỏi giận đùng đùng, nhưng vẫn gọi tôi đến hỏi : “Oanh, tại sao con lại làm thế ? Dòng họ nhà mình có ai thế đâu. Con không biết xướng ca là vô loài ?”. Tôi chỉ biết im lặng. Và mẹ cấm cửa, không cho tôi ra khỏi nhà vào ban đêm.

Bốn ngày sau, ông chủ phòng trà Bồng Lai tìm đến thuyết phục mẹ tôi : “Bác ạ, nghề ca hát không phải xướng ca vô loài như hồi xưa. Nếu không tin, bác cứ đi với em đây đến phòng trà của con. Nếu bác thấy không được thì con thôi không làm phiền nữa. Em đứng trên bục hát hay, người ta vỗ tay và hát xong em về. Không ai đụng được đến em đâu”.

9 Le Thu 3Mẹ tôi nghe hay nên cũng đi cho biết. Thấy con gái hát ca khúc Sayonara được vỗ tay nhiều quá và chẳng “vô loài” gì cả, bà dần đổi ý. Rồi mẹ hỏi : “Thế đi hát thế, là… hát chơi à”. Ông chủ bảo có thù lao, rồi nói mức lương, bà ngạc nhiên đến mức té ngửa.

– Nhân chị nói về mẹ, xin được hỏi khi vào Sài Gòn, sao lại chỉ là hai mẹ con?

Đó là một câu chuyện dài. Mẹ tôi là vợ lẽ, sống dưới quyền người vợ cả, phải chịu đựng đủ điều. Một sân thóc rộng mênh mông, giữa trưa nắng đổ lửa, mẹ phải phơi, trở thóc, rồi thu dọn, quét sân từ trưa đến khi xế bóng. Không chỉ thế, còn đủ thứ việc trong nhà, chẳng bao giờ bà được nghỉ tay. Mẹ sinh 8 người con, cứ đến 3 tuổi là mất, chỉ có tôi là sống.

Năm 1953, khi mẹ con tôi vào đây, bố không đi vì tiếc gia tài. Một năm sau, ngày nọ tôi đi học về, mẹ chỉ ngắn gọn : “Thầy con mất rồi”. Từ đó mẹ sống lặng lẽ, không đi bước nữa. Và cũng từ đó tôi không biết tin tức gì ngoài đó nữa.

– Cuộc sống những ngày đó của mẹ con chị ở vùng đất mới như thế nào ?

Không đến nỗi nào, tuy chẳng khá giả nhưng không cơ cực. Tôi nhớ nhiều chuyện vui lắm. Năm 14 tuổi, đã có ngực mà tôi hồn nhiên đi tắm mưa không mặc áo, cũng không mặc áo ngực. Hàng xóm hàng phố đổ ra coi. Tôi không biết họ coi cái gì. Mãi sau mới biết họ nhìn mình, không biết là mình đang “triển lãm” trước mặt người ta.

– Từ chuyện đó nên anh hàng xóm mới thích chị ?

Tôi cũng không biết, nhưng hồi đó tôi xinh lắm. Anh hàng xóm nhà giàu, mỗi lần ăn xong, có tráng miệng lúc trái na, lúc trái cam, anh không ăn mà để dành cho tôi. Mỗi lần thấy tôi đi qua, không dám đưa tận tay, anh quẳng cho tôi và tôi cũng hồn nhiên nhận. Anh ấy và tôi học khác trường. Bốn năm trời anh cứ đạp xe đứng ngóng tôi trong những giờ ra chơi. Mặc dù chưa một lần nắm tay, chưa một lần đi cùng, cũng chưa bao giờ nói thương tôi nhưng đến bây giờ khi gặp lại, anh bảo vẫn còn nhớ tôi. 9 Le Thu 4Nghe nói, cuộc sống riêng của anh ấy cũng không hạnh phúc lắm.

Khờ khạo nên mất chồng

– Từ một cô bé hồn nhiên tắm mưa để rồi thành ca sĩ nổi tiếng, cuộc đời của chị hẳn thay đổi nhiều lắm?

Mẹ tôi bảo có con gái trong nhà như trái bom nổ chậm, lại theo ca hát nên sợ tôi ế và đặc biệt là lo sa ngã. Đi hát, gặp một anh chàng không quân thích tôi, gia đình họ đến đặt vấn đề. Tôi lấy chồng khi chưa một lần nắm tay người khác giới, chưa bao giờ hôn nên trong cuộc sống gối chăn, tôi cứ như… khúc gỗ. Người chồng thất vọng não nề về sự ngây thơ, thậm chí đần độn của vợ. Chỉ được hai tháng, anh ấy không thể chịu đựng nữa nên quyết định bỏ.

Gia đình chồng người Huế, anh ấy là con cưng. Còn tôi lại không biết nấu ăn, không biết làm dâu, nên họ không hài lòng. Kết thúc hôn nhân không có con cái, tôi về với mẹ. Bà cũng chẳng buồn vì mỗi lần lên thăm con đều cảm nhận được cảnh cơm nguội canh nhạt.

Lạ lùng bị chồng bỏ, tôi không thấy đau khổ. Có lẽ vì không yêu. Bởi nếu có một tình yêu đúng nghĩa, bằng mọi cách tôi sẽ giữ lấy tình yêu của mình. Chia tay khoảng 5 -7 năm, tôi gặp lại anh ấy một cách tình cờ. Khi ấy tên tuổi của tôi đã nổi lắm rồi. Anh ấy cũng hát hay và đi hát như một niềm đam mê.

– Cuộc hôn nhân đầu tiên không thành do chưa có kinh nghiệm với đàn ông, chưa biết thế nào là yêu. Vậy với cuộc hôn nhân thứ hai thì sao ?

Tôi gặp một Việt kiều về nước chơi. Anh ấy ở Pháp từ nhỏ, đã có vợ con bên đó nhưng về đây thấy tôi thì mê và bỏ luôn gia đình bên đó. Năm 1963, tôi đi bước nữa. Sau này tôi mới biết chuyện này chứ nếu biết anh ấy có vợ con rồi, chẳng bao giờ tôi tiến đến hôn nhân. Gọi là rung cảm thực sự cũng chưa hẳn, nhưng tôi nghĩ nên có một gia đình để yên thân yên phận. Rồi hỏi, rồi cưới, rồi dang dở. Có thể người nghệ sĩ được ông trời ban cho thanh sắc, thì hạnh phúc gia đình bị lấy đi chăng?

– Giữ được hay đánh mất hạnh phúc, một phần cũng do người đấy chứ ?

9 Le Thu 6Tôi từng tính bỏ hát để yên phận. Nhưng anh ấy không phải là người đàn ông của gia đình, đúng hơn là không phải là người chung thủy. Anh ấy hào hoa có sẵn, lăng nhăng có thừa, lại ảnh hưởng lối sống Tây hóa, tôi không chịu nổi nên cuối cùng phải bỏ, dù không cãi vã to tiếng. Bảy năm cho cuộc hôn nhân đó, chúng tôi có hai đứa con gái. Nếu đủ bản lĩnh, tôi đã giữ được chồng vì tôi có tiền, có danh, nhưng tôi không biết cách và cũng chẳng muốn giữ.

Anh ấy nhảy giỏi, đẹp trai, con nhà giàu, nhiều phụ nữ thích cũng là bình thường. Nhưng thấy họ mê mình, anh ấy cũng mê lại. Ca sĩ L. cùng thời với tôi và rất nổi tiếng, theo đuổi chồng tôi. Tôi ít biết ghen, nhưng đã không thể chịu đựng những gì diễn ra trước mắt, tôi gần như phát điên. Đang đêm tôi tung mền, xé quần áo lao ra đường. Hai người giúp việc phải chạy theo trùm mền đưa về nhà. Đó là một cuộc hôn nhân bi thảm.

Ngỡ đã ngọt ngào

– Sau những cay đắng, hạnh phúc mỉm cười với chị khi nên duyên với một nhà báo. Nhiều người nói chính chị đã bỏ hạnh phúc này để đi Mỹ ?

Không phải thế. Năm 1969, chúng tôi gặp nhau, đến năm 1974 mới tổ chức đám cưới. Cuộc hôn nhân kéo dài 10 năm, có với nhau một đứa con gái, anh ấy rất yêu thương, lo lắng cho tôi. Hạnh phúc được thử thách qua tháng ngày gian khổ, thế nên tôi hoàn toàn yên tâm đó là những gì ngọt ngào có được sau bao nhiêu cay đắng. Nhưng khốn khổ cho tôi. Tôi vừa đi Mỹ, lập tức đã có người phụ nữ khác đến nhà sống với anh ấy. Và một lần nữa, tôi vẫn là người khờ khạo.

– Đổ vỡ trong hôn nhân cũng là điều bình thường trong cuộc sống. Nhưng xin lỗi chị, đổ vỡ nhiều mà vẫn khờ khạo, liệu có bình thường không?

Người ta đồn tôi rất đoan chính, không ai đụng đến được nhưng không phải vậy. Thật ra tôi là kẻ khờ khạo, không dám lăng nhăng. Chẳng phải vì tôi nổi tiếng nên sợ lăng nhăng, người ta bêu rếu mình đâu. Đến giờ, tôi vẫn chưa giải thích được sự khờ khạo đó.

9 Le Thu 5Tôi từng có một cuộc tình rất thắm thiết. Năm 1988, gặp người đó, tôi mới biết rung động thật sự là gì, tình yêu đúng nghĩa là gì, nhưng tôi vẫn khờ khạo không giữ được tình yêu của mình. Và từ đó, tôi chẳng yêu ai được nữa. Tính tôi vốn nhát, không bao giờ đi tán tỉnh hay giành giật đàn ông dù có thích hoặc ước gì họ là người yêu của mình.

– Sau này chị gặp lại người những đàn ông đó, có thành bạn bè như người chồng đầu tiên? Họ bây giờ ra sao ?

Cả ba người đàn ông đó giờ đều còn sống, kể cả anh hàng xóm si tình năm ấy, có người qua Mỹ, có người còn ở Việt Nam. Chúng tôi vẫn là bạn và thăm hỏi nhau nếu có dịp. Riêng người chồng thứ hai ở Việt Nam thỉnh thoảng tôi có ghé thăm anh ấy. Và tôi đã hóa giải hết mọi chuyện trong quá khứ rồi. Những người làm tôi đau, thậm chí kẻ thù, tôi bỏ qua hết để làm bạn. Tính của tôi vốn vậy, vì hận thù chỉ làm khổ mình thôi. Những người đã đi qua đời mình hay những gì mình trải qua đều là duyên, đều là ngộ, đều là nợ nhau cả và mình phải trả. Trả hết thì thôi. (theo Mốt & Cuộc Sống)

Lan Hương tổng hợp chuyển tiếp

– Tình ca mùa Thu (2:01’)

https://youtu.be/tFvp11ZlMC0

01- Mùa Thu Cho Em – Lâm Thúy Vân 02. Thu Quyến Rũ – Tuấn Ngọc 03. Nước Mắt Mùa Thu – Khánh Ly 04. Mùa Thu Trong Mưa – Hợp Ca 05. Chuyện Hoa Tigon – Diệp Thanh Thanh 06. Giọt Mưa Thu – Khánh Hà 07. Autumn Night – Shayla 08. Tím Cả Chiều Hoang – Bảo Tuấn 09. Thu Vắng – Thanh Lan 10. Dấu Vết – Gia Huy

11/- Liên Khúc Mùa Thu – Thúy Hà Tú 12. Lá Đổ Muôn Chiều – Vũ Khanh 13. Autumn Leaves – Trish Thùy Trang 14. Chuyện Tình Mùa Thu – Duy Linh 15. Về Ðâu Hỡi Em ? – Lâm Nhật Tiến 16. Thu Sầu – Yến Phương 17. Nếu Có Em – Lê Tâm 18. Những Mùa Thu Qua Trên Cuộc Tình Tôi – Ninh Cát Loan Châu 19. Hoai Thu – Mạnh Đình 20. Xa Nhau Mua Thu – Thanh Trúc 21. Thu Hát Cho Người – Việt Dzũng.

– Những tình khúc bất hủ của nhạc sĩ Dương Thiệu Tước (1:20’)

https://youtu.be/RrM6X-yvcss

Những Tình Khúc Bất Hủ Của Nhạc Sĩ Dương Thiệu Tước : Mai Hương,Khánh ly, Hương Lan, Thái Thanh

Danh Sách Bìa Hát : 1/. Bóng Chiều – Mai Hương 2/. Chiều – Mai Hương 3/. Tiếng Xưa – Mai Hương 4/. Bóng Chiều Xưa – Khánh Ly 5/. Đêm Tàn Bến Ngự – Mai Hương 6/. Khúc Nhạc Dưới Trăng – Mai Hương 7/. Kiếp Hoa – Mai Hương 8/. Ngọc Lan – Mai Hương 9/. Thuyền Mơ – Mai Hương 10/. Áng Mây Chiều – Mai Hương 11/. Cánh Buồm Lướt Gió 12/. Đêm Ngắn Tình Dài – Thái Thanh 13/. Bến Xuân Xanh – Mai Hương 14/. Ơn Nghỉa Sinh Thành – Hương Lan 15/. Vườn Xuân Thắm Tươi – Mai Hương

Quế Phượng chuyển tiếp

SỰ RA ĐỜI CỦA MỘT TÌNH KHÚC

SỰ RA ĐỜI NGẪU NHIÊN

CỦA MỘT TÌNH KHÚC 

Theo lời nhà thơ Hà Huyền Chi kể lại về những lờì nhạc của mình

Lệ Đá, trước hết, không phải là một bài thơ phổ nhạc. Phải nói là tôi đã đặt lời cho bản nhạc (vốn không tên) của Trần Trịnh mới đúng.

Do một cơ duyên đặc biệt, Nguyễn Văn Đông, chơi Clarinet (xin nói không phải NS Nguyễn Văn Đông, tác giả Chiều mưa biên giới, Mấy dặm sơn khê…), giới thiệu Trần Trịnh với tôi :

– Nhạc Trần Trịnh khá lắm, nhưng rất ít người biết đến. Xin anh giúp thằng bạn em một lần, đặt lời ca giùm cho nó.

Tôi rất cảm mến Đông, nhưng liền lắc đầu :

– Em biết là anh vốn mù nhạc mà.

Đông tha thiết :

– Em biết chứ, nhưng em thành thực nghĩ rằng chỉ có anh mới giúp được nó.

Trần Trịnh cười hiền :

– Xin anh giúp cho, Tôi nghĩ là sẽ có cách…

Tôi thẳng thắn đặt điều kiện :

– Nể thằng em, coi như tôi thuận trên nguyên tắc. Tuy nhiên, tôi cần nghe anh đàn bản nhạc này vài lần để có khái niệm về nhạc tính. Và tôi cũng cần ý kiến thẩm định về nhạc thuật của bài này cùng Dzương Ngọc Hoán (chồng ca sĩ Quỳnh Giao).

Chúng tôi kéo nhau lên đài phát thanh Quân Đội. Trần Trịnh ngồi vào Piano và điều ngạc nhiên là tôi ưa ngay cái âm hưởng buồn ngất ngây dịu nhẹ, rất Pianissimo ấy, Melody thật tha thiết, ngọt ngào, bắt nhĩ. Khi ấy Đông đã kéo Dzương Ngọc Hoán qua và Hoán khen bản nhạc này không tiếc lời, khiến tôi có ngay quyết định giúp Trần Trịnh.

Sau phần thảo luận, chúng tôi tự chế ra một quy ước riêng. Trần Trịnh ghi dưới các nốt nhạc chữ “o” cho những từ không dấu (bình thanh) / Dấu huyền cho các từ mang dấu huyền, hỏi, nặng/ sắc cho các từ mang dấu sắc, ngã.

Tiếc là khi ấy loại máy cassette còn chưa được phổ biến. Tôi nghe Trịnh đàn thêm vài lần nữa và cố gắng nhập tâm cái âm hưởng của bản nhạc. Và tôi bắt đầu chơi ô chữ.

Hôm sau, tôi đem đến Trần Trịnh lời ca thứ nhất của Lệ Đá. Kết quả ngoài sức tượng tượng tôi, là không biết bằng cảm hứng nào đó, tôi đã hoà được cái rung cảm đích thực của thơ tôi cho nhạc Trịnh. Trần Trịnh mừng rỡ tới sững hồn. Anh và Hoán cùng hân hoan hát Lệ Đá khiến tôi cũng choáng ngợp niềm vui:

“Hỏi đá xanh rêu bao nhiều tuổi đời

Hỏi gió phiêu du qua bao đỉnh trời”…

Tôi cứ vừa viết vừa khóc thế đó, như khi ngồi chép lại những dòng này. Tôi bỏ dở bữa ăn, lên đài Quân Đội. Gặp Nhật Trường trước phòng vi âm. Tôi đưa Lệ Đá ra khoe, Nhật Trường hát ngay với nỗi hân hoan bốc lửa. Hắn túm ngay lấy Trần Trịnh đòi soạn cấp kỳ hoà âm cho ban nhạc và 2 bè khác cho Mai Hương, Như Thuỷ. Khoảng nửa giờ sau Lệ Đá được thâu cấp kỳ. Nhật Trường, Mai Hương, Như Thuỷ, mỗi nguời trên tay một bản Lệ Đá “mì ăn liền” say mê hoà ca với nỗi xúc động đồng thiếp. Take one Good take! Hát và thâu hoàn chỉnh ngay lần thứ nhất.

Nhật Trường như bay ra khỏi phòng vi âm ôm lấy tôi và Trần Trịnh :

– Ông đặt lời thần sầu. Bản này sẽ là Top Hit.

Tôi nhún nhường:

– Top Hit được là nhờ nhạc Trần Trịnh bay bổng như diều đấy chứ.

Lệ Đá – Ca khúc thơ phổ nhạc

Trong âm nhạc, các ca khúc “Nhạc phổ thơ” rất phổ biến và đóng một vai trò quan trọng trong nền âm nhạc Việt Nam. Thông thường các nhạc sĩ đồng cảm với những vần thơ, từ đó phổ nhạc viết ra những ca khúc “Nhạc phổ thơ”, ở chiều ngược lại “thơ phổ nhạc” hay là đặt lời cho một bản nhạc ít xuất hiện hơn, bởi có lẽ sẽ khó để cảm nhận được những gì tác giả gửi gắm qua một bản nhạc không lời, chính vì vậy không có nhiều bài “thơ phổ nhạc”, Lệ đá là một trong số ít các ca khúc đó.

Lệ đá vốn là một bản nhạc không tên được nhạc sĩ Trần Trịnh sáng tác vào giữa thập niên 60 của thế kỷ trước, khi đó Trần Trịnh còn là một nhạc sĩ mới, chưa có nhiều tiếng tăm trong làn tân nhạc thời bấy giờ.

Cơ duyên đã đưa nhạc sĩ Trần Trịnh đến với nhà thơ Hà Huyền Chi, để rồi “Lệ đá” ra đời khi nhà thơ Hà Huyền Chi đã hòa được cảm xúc thơ của mình vào giai điệu thiết tha, dịu nhẹ của nhạc sĩ Trần Trịnh.

Một điều thú vị là, nhà thơ Hà Huyền Chi không chỉ đặt một lời cho nhạc phẩm mà viết tận 5 lời. Lời nào cũng rất thơ và đầy cảm xúc, nhưng có lẽ nổi tiếng hơn cả là chính là lời đầu tiên mà bây giờ chúng ta thường nghe.

Trình bày Lệ Đá với Vũ Khanh :

https://youtu.be/CL6i8zrlqb4

Cái ma kiếp của một bài ca được yêu chuộng thường yểu tử, và xuống cấp. Nhưng Lệ Đá thì không. Nó may mắn thoát khỏi định số ước lệ ấý. Vào những năm 67, 68 nhạc phẩm “Lệ Đá” được cất tiếng thường xuyên hầu như ở khắp mọi sinh hoạt văn nghệ mà thời kỳ này nhạc Trịnh Công Sơn đang được mọi người hâm mộ.

Lệ Đá góp mặt hàng đêm ở các phòng trà, tiệm nhảy. Lệ Đá vào khuê phòng, ra máy nước. Rồi quán cà phê cũng Lệ Đá, phim ảnh cũng Lệ Đá với tiếng hát Khánh Ly, phim do Thanh Nga, Đoàn Châu Mậu diễn xuất, và Bùi Sơn Duân đạo diễn.

May sao, Lệ Đá vẫn chưa trở thành nhạc sến, nhạc đứng đường. May sao, tôi vẫn được yên thân, bởi vẫn giữ kín cơ duyên “nhảy dù” vào nghề viết lời nhạc. Để mọi người đều hiểu lầm rằng Trần Trịnh phổ thơ tôi.

Khi ấy tôi viết thêm lời 3 cho Lệ Đá khi đi công tác ở Sóc Trăng, Cà Mau. Nơi Rừng Mắm của Bình Nguyên Lộc với muỗi mòng dễ nể. Nhà văn Bình Nguyên Lộc dọa, chỉ cần quơ tay một cái là đã túm được cả chục con muỗí. Bạn bè hăm, trâu bò còn phải ngủ trong mùng. Khách sạn tỉnh lẻ không khá gì hơn mấy quán trọ trong phim Anh Hùng Xạ Điêu, Cô Gái Đồ Long. Thực khách vừa nhâm nhi, vừa quơ chưởng, đuổi muỗí. Mới chập tối, tôi đã chui vô chiếc mùng thố. Và buồn tình tôi viết lời Lệ Đá 3.

CA KHÚC ‘AI LÊN XỨ HOA ĐÀO’

VÀ MỐI TÌNH NGANG TRÁI

CỦA NGƯỜI NHẠC SĨ TÀI HOA…

– Hà Thanh : Ai lên xứ hoa đào

https://youtu.be/6Lg1AomuNrw

– 24 ca khúc hay nhất của Hoàng Trọng & Hoàng Nguyên (2:24’)

https://youtu.be/94M2eJpvhbE

Đà Lạt bồng bềnh phiêu lãng, Đà Lạt mờ hơi sương, Đà Lạt của màu hoa đào, của rừng thông, của Hồ Than Thở, của thung lũng Tình Yêu. Mọi thứ ở Đà Lạt đều tràn ngập màu sắc lãng mạn. Nhưng nói đến ca khúc nào viết về Đà Lạt nào hay nhất, đẹp nhất, ấn tượng nhất, thì ai cũng nói rằng, đó là Ai Lên Xứ Hoa Đào của người nhạc sĩ tài hoa bạc mệnh Hoàng Nguyên….

Đà Lạt, một trong những địa danh được ưu ái nhất của những nhạc sĩ tài hoa…  Đà Lạt, thành phố của ngàn hoa, từ lâu đã đi vào lòng bao khách lãng du bằng vẻ đẹp sương – gió – mây – trời – cỏ cây. Hai tiếng “Đà Lạt” đã đủ khiến người ta mơ mộng.

Trong những năm tháng dạy học tại Đà Lạt vào thập niên 1950, niềm cảm hứng đã tới để nhạc sỹ tài hoa Hoàng Nguyên (1932-1973), người thầy của nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9, cho ra đời tác phẩm bất hủ này.

Lãng mạn, mộng mơ và tuyệt đẹp… ta có thể tìm thấy tất cả cảm giác bồng bềnh đó ở Đà Lạt, ở Ai Lên Xứ Hoa Đào.

Từ đồi Vọng Cảnh, Thung lũng Tình Yêu hiện ra trong tầm mắt đẹp tựa bức tranh; triền thông vi vu gió như “thôi miên” ta vào cõi hư vô; những ngôi nhà gỗ xinh xắn thấp thoáng trên những ngọn đồi đầy hoa cho cảm giác yên bình đến lạ lùng; những con đường đất đỏ vòng vèo đưa khách phiêu lưu cùng đỉnh Langbian thấp thoáng trong mây…

Những ca khúc tuyệt vời của Hoàng Nguyên viết về Đà Lạt đã được sinh ra chính trong thời gian nhạc sỹ sống và dạy học ở thành phố mù sương, trong tuổi hoa niên tươi đẹp, lãng mạn của chàng thanh niên hai mươi tuổi Hoàng Nguyên.

Có lẽ, trái tim đôi mươi dâng tràn nhựa sống, cảm hứng thi ca trong chàng trai trẻ mang tâm hồn nhạc sỹ đã không thể không bật thành lời trước một Đà Lạt quá đỗi nồng nàn. Ngay từ những lời đầu tiên, những nốt nhạc đầu tiên được cất lên, một Đà Lạt mơ huyền, lãng mạn, một Đà Lạt mang đậm “chất Đà Lạt” đã hiện ra trong lòng người nghe:

Ai lên xứ hoa đào dừng chân bên hồ nghe chiều rơi

Nghe hơi giá len vào hồn người, chiều xuân mây êm trôi

Thông reo bên suối vắng lời dìu dặt như tiếng tơ

Ca từ tuyệt đẹp, giai điệu nhẹ nhàng, ngọt ngào đã mang lại cho “Ai lên xứ hoa đào” một vị trí đặc biệt trong lòng người Đà Lạt, người yêu Đà Lạt và làng âm nhạc Việt. Và dù bài hát đã ra đời quá nửa thế kỷ, mỗi khi nhắc tới Đà Lạt, không ai có thể không nhớ tới ca khúc tuyệt vời ấy.

Đà Lạt của Hoàng Nguyên in dấu mộng “Đào Nguyên” của nhạc sĩ Văn Cao

Là người hâm mộ Thiên Thai của nhạc sĩ Văn Cao, chắc hẳn những hình ảnh về một cõi thiên thai “Đào Nguyên” nơi hai chàng Lưu Nguyễn lạc bước đã in dấu trong lòng người nhạc sĩ:

“Đào Nguyên xưa, Lưu Nguyễn quên đường về, tìm Đào Nguyên, Đào Nguyên nơi nao..” (Thiên Thai- Văn Cao)

Nên trong bài Ai Lên Xứ Hoa Đào, người ta thấy rất nhiều bóng dáng tiên cảnh :

“Xuân đi trong mắt biếc lòng dạt dào nên ý thơ.

Nghe tâm tư mơ ước Mộng Đào Nguyên đẹp như chuyện ngày xưa.”

Hay như:

“Đường trần nhìn hoa bướm rồi lòng trần mơ bướm hoa.

Lâng lâng trong sương khói rồi bàng hoàng theo khói sương.

Lạc dần vào quên lãng rồi đường hoa lặng bước trong lãng quên.”

Một cảm giác rất sâu tìm thấy ở Ai Lên Xứ Hoa Đào, một cảm giác rất khó lý giải..

Đà Lạt trong ca khúc Hoàng Nguyên hiện lên những gì điển hình nhất của phố núi, là sương, là hoa, là thông, là tà áo dài thấp thoáng trong sương. Nhưng sự lãng mạn của ca khúc này đến từ một cái gì đó rất đặc biệt, rất sâu mà người ta khó lý giải được.

Ca từ lãng mạn, âm nhạc của ông nhẹ nhàng, ngọt ngào, tha thiết như một lời tự sự lạ kỳ.

Ngoài “bộ ba”: Bài thơ hoa đào, Ai lên xứ hoa đào và Hoa đào ngày xưa đều được viết với giọng trưởng (major), thì về sau Hoàng Nguyên còn viết bản Đà Lạt mưa bay – một Đà Lạt với giọng thứ (minor), nhịp chậm, mang tâm trạng người trẻ trong thời ly loạn.

Năm 1973, nhạc sĩ tài hoa bạc mệnh từ giã cõi đời vì tai nạn giao thông ở Vũng Tàu, nhưng đã kịp để lại cho đời một khối lượng tác phẩm đồ sộ xuất sắc, với Bài Tango cho riêng em, Cho người tình lỡ, Đà Lạt mưa bay, Tà áo tím, Thuở ấy yêu nhau…vv.

Cuộc đời éo le và mối tình ngang trái của người nhạc sĩ tài hoa

Nhạc sĩ Hoàng Nguyên tên thật là Cao Cự Phúc, sinh 3 tháng 1 1932 tại Quảng Trị. Lúc nhỏ theo học trường Quốc học Huế. Đầu thập niên 1950, Hoàng Nguyên lên ở Đà Lạt, Hoàng Nguyên dạy học tại trường tư thục Tuệ Quang, thuộc chùa Linh Quang, khu số 4 Đà Lạt.

Hoàng Nguyên khi đó dạy Việt văn lớp đệ lục. Lúc đó, ông là thầy giáo dạy nhạc cho Nguyễn Ánh 9, người sau này trở thành một nhạc sĩ nổi tiếng đồng thời là nhạc công chơi đàn dương cầm.

Năm 1956, trong một đợt lùng bắt ở Đà Lạt, do trong nhà có các bản nhạc của nhạc sĩ Văn Cao, người mà Hoàng Nguyên rất ái mộ, Hoàng Nguyên bị bắt và đày ra Côn Đảo khoảng năm 1957. Ở Côn Sơn, thiên tình sử của người nghệ sĩ Hoàng Nguyên mở đầu với cảnh tình éo le và tan tác.

Là một tài hoa đa dạng, người tù Hoàng Nguyên được vị Chỉ Huy Trưởng đảo Côn Sơn mến chuộng nên đã đưa chàng ta về tư thất dạy Nhạc và Việt văn cho con gái ông, năm đó khoảng 19 tuổi… Mối tình hai người nảy nở, trăng ngàn sóng biển đã là môi trường cho tình yêu ngang trái. Ông chúa đảo phải lặng lẽ vận động để chàng nhạc sĩ tài hoa sớm được tự do.

Sau khi Hoàng Nguyên được trả tự do, trở về Sài Gòn, tiếp tục sáng tác và dạy học. Trước khi kết hôn, Hoàng Nguyên có ý định quay lại với cô gái ở Côn Sơn, nhưng cô đã đi lấy chồng. Ca khúc Thuở ấy yêu nhau ra đời trong khoảng thời gian đó.

VÌ SAO CÁC ĐẠI HIỆP

TRONG TRUYỆN KIM DUNG

THƯỜNG MỒ CÔI CHA ?

Mười mấy bộ tiểu thuyết của Kim Dung có một điểm chung khá kỳ lạ, đó là nhân vật chính đều hoặc mồ côi cha, hoặc đi tìm cha. Dương Quá, Tiêu Phong, Đoàn Dự, Hư Trúc, Thạch Phá Thiên… đều như vậy. Ẩn ý đằng sau là gì ?

Người say mê Kim Dung đều dễ dàng nhận ra rằng, hầu như tất cả các đại hiệp trong truyện của ông đều mồ côi cha.

Đó mặc nhiên trở thành một nguyên tắc bất di bất dịch, muốn làm đại hiệp thì phải… mồ côi cha hoặc thất lạc cha.

Có người sinh ra không biết mặt thân phụ như Lệnh Hồ Xung (Tiếu ngạo giang hồ), Vi Tiểu Bảo (Lộc đỉnh ký). Có người thuở nhỏ mồ côi, cha là đại hiệp anh dũng phi phàm như: Quách Tĩnh (Anh hùng xạ điêu), Viên Thừa Chí (Bích huyết kiếm), Trương Vô Kỵ (Ỷ thiên đồ long ký)…

Lại cũng có người thất lạc cha từ bé, người nuôi nấng mình trưởng thành hóa ra lại chẳng phải cha đẻ như : Tiêu Phong (Thiên long bát bộ – con nuôi một lão nông nhưng cha đẻ là Tiêu Viễn Sơn), Đoàn Dự (Thiên long bát bộ – Đoàn Chính Thuần nuôi lớn nhưng cha ruột lại là Đoàn Diên Khánh) hay Thạch Phá Thiên (Hiệp khách hành – bị bắt cóc từ nhỏ), Hư Trúc (Thiên long bát bộ)…

Câu hỏi đặt ra là vì sao các nam chính trong tiểu thuyết Kim Dung đều mang trong mình một nỗi ám ảnh về người cha ruột lớn đến thế ? Có vài nguyên nhân giải thích điều này.

1/. Thủ pháp nghệ thuật  : Trong tiểu thuyết Kim Dung, các đại hiệp, anh hùng muốn dựng thành tên tuổi đều phải kinh qua hết thảy khổ nạn trong đời ngay từ tấm bé. Kim Dung rất thích đặt nhân vật chính của mình trong một hành trình trưởng thành, một chuyến phiêu lưu. Qua năm tháng dài đằng đẵng ấy, người đọc được chứng kiến từng bước đi của người anh hùng, từng thay đổi, từng bước ngoặt trong đời và từng cảm xúc hỉ nộ ái ố.

Việc để cho các thiếu niên anh hùng mồ côi, thất lạc cha từ nhỏ chính là xếp đặt ra cho họ một bi kịch, đặt họ vào lò lửa luyện đan ngay từ những bước chân đầu tiên. Đó là một thủ pháp nghệ thuật rất tinh tế. Những đại hiệp mồ côi cha thường mang trong lòng nhiều tâm sự, nhiều nỗi niềm, lại thường rất cứng cỏi, nghị lực (vì phải tự lập sớm) nên dễ chiếm được thiện cảm của độc giả.

Thêm một lý do nữa, việc có một mối quan hệ không suôn sẻ với người cha của mình cũng thúc đẩy các mâu thuẫn, đặt ra cho nhân vật chính nhiều nghịch cảnh, buộc họ phải lựa chọn. Có người sùng kính, ngưỡng mộ chỉ mong nối chí cha, có người lại oán hận, căm thù người cha ruột như cừu địch. Điều đó giúp Kim Dung thả sức sáng tạo cốt truyện và tạo ra những điểm cao trào, kịch tính.

Như vậy, đại hiệp mồ côi, trước hết chính là một thủ pháp nghệ thuật.

2/. Bi kịch cá nhân : Ngoài việc là một thủ pháp văn chương, bi kịch mồ côi cha của các đại hiệp trong truyện Kim Dung cũng có nguyên nhân từ chính cuộc đời tác giả.

Cha của Kim Dung là Tra Thụ Huân, trong các bản ghi chép khác còn có tên là Tra Mậu Trung. Gia tộc của Kim Dung là một danh môn vọng tộc ở Chiết Giang. Trong từ đường họ Tra còn treo ngự bút của Khang Hy hoàng đế. Họ Tra là một trong những gia tộc lớn nhất ở Giang Nam, có lịch sử nghìn năm từ những triều đại Đường, Tống…

Đến lúc Kim Dung ra đời, gia tộc ông dù đã suy yếu nhiều nhưng vẫn còn nắm trong tay 3600 mẫu đất, hơn 100 nông dân, các tiền trang. Trong nhà có 5 đại viện và hơn 90 căn phòng, ngoài ra còn có hoa viên lớn. Cha của Kim Dung không chỉ là một địa chủ thông thường. Ông tốt nghiệp các trường đại học nổi tiếng như Đại học Giáo hội, đại học Chấn Đán ở Thượng Hải.

Ở quê nhà, Tra Thụ Huân thường ra tay cứu tế, làm nhiều điều nghĩa hiệp. Những năm cuối đời ông đã dành rất nhiều sức lực, của cải để xây dựng nghĩa trang, miếu thờ tổ tiên và cả trường học. Ông còn đem 1000 mẫu đất của gia đình để dựng “Nghĩa điền” chia ruộng cho các hộ dân làm đất cấy cày.

Những “Nghĩa điền” này đều là ruộng tốt, dù hạn hán hay lũ lụt thì sau khi khấu trừ tổn thất mỗi năm vẫn có thể thu được 300 thạch (một thạch là 120 cân). Tra Thụ Huân bán số lương thực này lấy tiền mỗi tháng cứu tế dân nghèo. Mỗi vụ thu hoạch, ông đều tính toán tỉ mỉ rồi giảm hoặc miễn thuế cho điền nông.

Tra Thụ Huân rất nhiệt tâm xây dựng trường học, trích tiền dựng trường tiểu học Long Đầu Các, miễn phí nhập học cho trẻ nhỏ. Điều khiến người ta cảm khái nhất chính là sau này ông lại bị hành hình trên chính sân cỏ ở ngôi trường này trong nỗi oan khốc hại.

Vào những năm 50 của thế kỷ 20, phong trào “Trấn phản” và “Cải cách ruộng đất” ở Trung Quốc lên thành cao trào. Gia đình Kim Dung bị quy là thành phần địa chủ. Người của tổ chức “Trấn phản” muốn vạch tội Tra Thụ Huân nhưng dân làng không ai đứng ra đấu tố vì ông có ân với rất nhiều người.

Cuối cùng, người ta gán cho ông bốn tội danh : Kháng lương (không chịu nộp lương thảo), chứa chấp thổ phỉ, âm mưu sát hại cán bộ, bịa đặt phá hoại, tạo tin đồn thất thiệt. Tra Thụ Huân bị kết tội là địa chủ bất hợp pháp, phải chịu xử bắn.

Ngày bị xử bắn, ông không được thay quần áo, không được uống rượu, ăn cơm, bị trói cổ đưa đến sân vui chơi của trường tiểu học Long Đầu Các. Thụ Huân bị bốn người đồng thời dùng súng bắn đến khi ngã gục xuống. Sau khi ông chết, mộ phần cũng không dám để lại tên tuổi.

Khi cha mình bị hại, Kim Dung đang làm việc cho tờ “Đại Công Báo” ở Hồng Kông. Rất nhiều năm về sau, trong tự truyện “Nguyệt Vân”, ông viết :

Một đội quân đánh vào quê nhà của Nghi Quan, từ Sơn Đông đến. Cha của Nghi Quan bị phán là địa chủ lừa dối, đàn áp nông dân, phải nhận tử hình. Nghi Quan ở Hồng Kông khóc ba ngày ba đêm, đau lòng hơn nửa năm. Nhưng ông tuyệt không thống hận đội quân đã giết chết cha mình, bởi vì có đến hàng ngàn hàng vạn địa chủ bị phán tử hình. Đây là một biến hóa nghiêng trời lệch đất”. Nghi Quan chính là tên khác của Kim Dung. Cho đến năm 1981, Tra Thụ Huân mới được minh oan. Lúc này vợ của Tra Thụ Huân, Cố Tú Anh đã 73 tuổi.

Nỗi đau mất thân phụ ấy trở thành ám ảnh lớn trong tâm Kim Dung, sau này lại trở thành cảm hứng chắp bút cho ông. Những nhân vật chính của Kim Dung đều có chung một cuộc hành trình tìm cha đầy gian khó. Dương Quá tìm cha, Tiêu Phong tìm cha, Đoàn Dự tìm cha, Hư Trúc tìm cha, Thạch Phá Thiên tìm cha, Trương Vô Kỵ tìm nghĩa phụ… Tất cả đều đang tìm cha.  (theo Thanh Bình – Văn Nhược)

Yên Huỳnh tổng hợp chuyển tiếp

NHÀ VĂN BÌNH NGUYÊN LỘC

NHỚ LẦN THĂM NHÀ VĂN

BÌNH NGUYÊN LỘC

– Phan Văn Giưỡng chuyển ngữ

“Bình Nguyên Lộc là nhà văn miền Nam. Ông ấy có thể cho anh chị biết quan điểm của người miền Nam”, nhà văn Nguyễn Mộng Giác nói với chúng tôi như thế khi vợ chồng chúng tôi đến Los Angeles nhân dịp lễ Giáng sinh để phỏng vấn các học giả và nhà văn (trong đó có Nguyễn Mộng Giác) cho một dự án nghiên cứu về bước đầu của tiểu thuyết Việt Nam được Hội đồng Nghiên cứu Khoa học Xã hội tài trợ.

Từ ngày chúng tôi tin là những cuốn tiểu thuyết đầu tiên đã được viết ra ở miền Nam, chúng tôi rất mong được gặp Bình Nguyên Lộc, một người miền Nam, một cây bút viết truyện ngắn và tiểu thuyết nổi tiếng, đồng thời cũng là một học giả chuyên về ngôn ngữ học lịch sử và so sánh.

Nhà văn Nguyễn Mộng Giác cho biết tiếp : “Bình Nguyên Lộc qua Mỹ chỉ khoảng một năm nay thôi. Ông ấy đang sống ở vùng Rancho Cordova, gần Sacramento”. Từ Los Angeles, chúng tôi gọi điện thoại cho Bình Nguyên Lộc và ông niềm nở nhận lời tiếp chuyện với chúng tôi nếu chúng tôi có thể ghé lại nhà ông trên đường trở về Arcata ở phía bắc California.

Chúng tôi đã trò chuyện với Bình Nguyên Lộc về văn học Việt Nam suốt mấy tiếng đồng hồ liền vào ngày 5 tháng Giêng năm 1987. Hôm qua, mở tạp chí Văn Học số tháng Tư, tôi biết tin là Bình Nguyên Lộc đã từ trần vào ngày 5/3/1987, thọ 72 tuổi.

oOo

Ngày 5 tháng Giêng là một ngày đẹp trời. Từ Sacramento, nơi chúng tôi nghỉ lại đêm, chúng tôi lái xe đến Rancho Cordova. Hai đứa con trai của chúng tôi, một đứa 6 và một đứa 12 tuổi, cùng đi với chúng tôi. Loay hoay một lúc, chúng tôi mới tìm ra nhà Bình Nguyên Lộc, một căn phố nhỏ với giá rẻ trên đường Sierre Madre.

Đón chúng tôi ở cửa, ông mặc chiếc áo khoác mùa đông màu nâu và choàng một chiếc khăn lông ở cổ. Ông cho biết thời tiết ở Rancho Cordova quá lạnh. Ông mời chúng tôi vào căn phòng bài trí đơn giản : một cái bàn nhỏ đầy sách báo được đặt ngay giữa phòng khách. Ông đã là một nhà văn và một học giả từ năm 1948 và trong sự cảm nhận của tôi, ông vẫn còn là một nhà văn và là một học giả.

Chúng tôi ngồi xuống chiếc trường kỷ trong lúc hai đứa con của chúng tôi chơi ở ngoài. Trông ông có vẻ yếu đuối khi cầm bình thuỷ rót trà cho chúng tôi. Vợ ông thì đang bị bệnh, nằm liệt giường trong một căn phòng khác. Chúng tôi biết là ông đến Mỹ trong ‘Chương trình Ra đi có Trật tự’ (O.D.P) chủ yếu là nhằm tìm cách chữa bệnh cho bà vợ.

Chúng tôi bắt đầu hỏi ông về những cuốn tiểu thuyết đầu tiên mà ông đã đọc được lúc còn là một đứa bé lớn lên ở vùng châu thổ sống Cửu Long giữa hai trận thế chiến.

Ông nói : “Cuốn tiểu thuyết Việt Nam đầu tiên tôi đọc là một cuốn sách mà thoạt đầu cha tôi cấm không cho đọc vì cho là dâm thư, đó là cuốn Hà Hương phong nguyệt truyện của Lê Hoằng Mưu. Cuốn này được xuất bản vào khoảng năm 1917, và tôi tin đó cũng là cuốn tiểu thuyết được xuất bản đầu tiên của Việt Nam. Đó là một câu chuyện tình xảy ra ở miền Nam, chẳng có gì là dâm ô cả.

Cuốn tiểu thuyết kế tiếp tôi đọc được là cuốn Chăng Cà Mum [1] của Nguyễn Chánh Sắt. Đây là câu chuyện về một cô gái Việt Nam sống gần biên giới Miên, bị bắt cóc đưa sang Miên một thời gian khá lâu trước khi được quay trở về Việt Nam, Cuốn tiểu thuyết này chưa được xuất bản nhưng đã được quảng bá rộng rãi trên tờ quảng cáo của một tiệm thuốc Bắc.

Tiểu thuyết gia kế tiếp mà tôi đọc là Hồ Biểu Chánh. Có thể tôi cũng đã đọc một số tác giả khác ngoài Lê Hoằng Mưu và Nguyễn Chánh Sắt nhưng họ không nổi tiếng mấy và tôi cũng không nhớ được.[2] Nếu tôi biết trước những gì ông bà định hỏi hôm nay thì tôi sẽ ghi lại những chi tiết này đầy đủ hơn.”

Nếu vào thập niên 20, khi còn là một đứa bé mới chín, mười tuổi lớn lên ở miền Nam Việt Nam, Bình Nguyên Lộc biết là vào năm 1987 ông sẽ ngồi ở một căn phố thuộc vùng Rancho Cordova, tiểu bang California, nói chuyện với một người Mỹ về Hà Hương phong nguyệt truyện và Chăng Cà Mum…, những lời phát biểu của ông sẽ mang tính chất châm biếm hơn là dự định.

Sau đó, khi đến thăm thư viện đại học Cornell, chúng tôi đã tìm ra Hà Hương phong nguyệt truyện – không phải in thành sách mà nằm rải rác trong các số báo Nông cổ min đàm,[3] một tờ báo ở miền Nam. Những gì Bình Nguyên Lộc kể với chúng tôi đều được kiểm chứng từ những nguồn tài liệu khác. Trí nhớ của ông về con người, tên sách và sự kiện đều rõ ràng và chính xác.

Những cuốn sách giáo khoa và lịch sử văn học – như của Dương Quảng Hàm và của Vũ Ngọc Phan – đều do những người ở miền Bắc viết. Những cuốn sách này cho rằng những tiểu thuyết đầu tiên ra đời ở miền Bắc, đó là cuốn Tố tâm của Hoàng Ngọc Phách (1925) và Quả dưa đỏ của Nguyễn Trọng Thuật (1925).

Mặc dù còn tuỳ thuộc vào cách hiểu thế nào là ‘tiểu thuyết’, công việc nghiên cứu của chúng tôi, ngược lại, đã chứng minh là những cuốn tiểu thuyết đầu tiên đã được viết ở miền Nam, và có lẽ Hồ Biểu Chánh, Lê Hoằng Mưu, Nguyễn Chánh Sắt hay Trần Chánh Chiếu xứng đáng hơn Hoàng Ngọc Phách hay Nguyễn Trọng Thuật trong danh hiệu cây bút viết tiểu thuyết đầu tiên ở Việt Nam.

Tôi e rằng thành kiến địa phương đã dự phần vào việc thẩm định nên tôi muốn Bình Nguyên Lộc xác nhận sự nghi ngờ của tôi. Sau đó tôi nhận ra là tôi đã quá bồng bột khi chấp nhận một cách giải thích phiến diện cho một hoàn cảnh phức tạp.

Bình Nguyên Lộc cho biết mặc dù một số người miền Bắc có thái độ tương tự như người Trung Hoa, những kẻ tin rằng họ sống ở ‘Trung Quốc’ (Middle Kingdom) và chỉ có bọn man di mới sống ở phía Nam, có một số lý do khác cắt nghĩa tại sao các nhà phê bình miền Bắc không đề cập đến tác phẩm của các cây bút phía Nam.

Ông nói : “Các học giả miền Bắc như Dương Quảng Hàm đã không nhắc nhở đến các nhà tiểu thuyết miền Nam vì họ không đọc được tác phẩm của những người này chứ không phải vì họ không thích người miền Nam. Tác phẩm của người miền Nam không được bày bán ở Hà Nội cho nên họ không biết chút gì về những tác phẩm đầu tiên đã được sáng tác ở miền Nam.”

Khi cuộc phỏng vấn chấm dứt và máy ghi âm đã tắt, hai đứa con của tôi nhào vào phòng. Bình Nguyên Lộc cúi xuống Văn, đứa con trai lên sáu của chúng tôi, hỏi nó bằng một giọng tiếng Anh rõ ràng nhưng không hoàn chỉnh : “Cháu có thấy ông già Noel chưa ?” Ngay lúc ấy, tôi cảm thấy là ở vào lứa tuổi 70, ông không nên đến đây, không nên học tiếng Anh, không nên khởi sự cuộc đời trở lại.

Ông nên ở lại quê hương đầy nắng ấm của ông. Tôi hình dung cảnh ông lê bước dọc quầy hàng trong một khu siêu thị sáng choang ở Rancho Cordova, khom lưng trên chiếc xe đẩy mua hàng, run rẩy trong chiếc áo khoác, cố gắng nói một vài câu tiếng Anh mới học được với một thâu ngân viên lơ đễnh và thiếu kiên nhẫn.

Tôi không biết những người hàng xóm của Bình Nguyên Lộc tại Rancho Cordova nghĩ gì về ông. Có thể họ nghĩ ông cũng giống như bao nhiêu thuyền nhân khác, bao nhiêu người tị nạn khác. Có thể họ nghĩ ông – tác giả của trên 100 cuốn sách, trong đó có những công trình nghiên cứu uyên bác về nguồn gốc tiếng Việt – là một người mù chữ. Tôi nghĩ là ở Việt Nam, ông sẽ được quí trọng hơn. Nhưng tôi sực nhớ đến bàn viết đầy giấy tờ của ông. Tôi biết rằng từ ngày sang Mỹ, ông đã bắt đầu viết trở lại và xuất bản nhiều truyện ngắn và cảo luận trên các tạp chí văn học bằng Việt ngữ ở Hoa Kỳ và Canada.

Ngoài ra, các ấn bản mới của tác phẩm của ông đã được in ở Los Angeles. Rõ ràng là nước Mỹ đã cho ông được một cái gì đó trong suốt một năm ông sống ở đây. Nó cho ông tự do để cầm bút trở lại. Đối với một nhà văn như Bình Nguyên Lôc, món quà ấy chắc chắn không phải nhỏ.

(GS Phan Văn Giưỡng chuyển ngữ từ bài “Remembering a visit with Bình Nguyên Lộc” của John C. Schafer, đăng trên The Vietnam Forum số 13/1990)

Chú thích :

[1] Theo Nguyễn Khuê, trong cuốn Chân dung Hồ Biểu Chánh do Lửa Thiêng xuất bản tại Sài Gòn năm 1974, tr. 285, Nguyễn Chánh Sắt viết Chăng Cà Mum vào khoảng 1915 hay 1916. Tựa đề của nó thực ra là Nghĩa hiệp kỳ duyên nhưng nó lại được biết nhiều dưới tên Chăng Cà Mum là tên của nhân vật nữ người Miên trong truyện.

[2] Sau đó Bình Nguyên Lộc nhớ đến một tác giả khác và ông viết cho chúng tôi một lá thư đề ngày 6 tháng Giêng về tác giả ấy. Đó là Tân Dân Tử, theo Bình Nguyên Lộc, chuyên viết tiểu thuyết lịch sử, trong đó có cuốn Gia Long phục quốc.

[3] Thư viện đại học Cornell không có đủ bộ Nông cổ mín đàm. Có thể phần đầu của Hà Hương phong nguyệt truyện được đăng tải trên số tháng Giêng 1915. Số báo đầu tiên chúng tôi có được trong đó có đăng truyện này là số ra ngày 2 tháng Ba 1915.

Mời đọc thêm : trên “Một thời Sài Gòn” ngày 22/11/2010 : “Chút tâm tình với nhà văn  Bình Nguyên Lộc”

Nhà văn BÌNH NGUYÊN LỘC (1/3)

Nhà văn BÌNH NGUYÊN LỘC (2/3)

Nhà văn BÌNH NGUYÊN LỘC (3/3)

TRUYỆN NGẮN MÀ THÚ VỊ…

HOA HUỆ TRẮNG

Nguyễn Minh Phúc

Buổi trưa, tôi thường ra coi tiệm cho vợ về ăn cơm. Vợ chồng tôi có một tiệm nhỏ bán hoa tươi ở chợ. Gọi là tiệm cho sang, thật ra đó chỉ là một cái sạp nhỏ mấy mét vuông nằm lọt thỏm giữa khu chợ suốt ngày đông đúc và lắm tiếng ồn.

Được cái, sạp nằm ngay ngã tư con lộ chính nên khá đông khách. Và, với một thằng viết văn làng nhàng như tôi, nhờ vậy cũng sống tạm qua ngày cùng người vợ giỏi giắng và sạp bán hoa tươi đắt khách quanh năm.

Quả chính cái sạp nầy nuôi cả nhà tôi nhưng điều tôi thích hơn vẫn là hàng ngày, cứ mỗi buổi trưa ra sạp lại được nhìn ngắm thỏa thích những đóa hoa tươi thắm, đủ màu sắc khoe rực rỡ trên bước chân người qua lại. Một gian nhà đầy hoa, có loại tôi biết tên, loại không biết tên cứ như làm lòng tôi dịu hẳn lại trong cơn kiếm sống tất bật hàng ngày, trong những trang viết đầy gai góc.

Không gì làm lòng ta thanh thoát, dịu êm và lắng đọng hơn bằng hoa, hình như R. Tagore bảo vậy. Tôi tin ông thi hào Ấn Độ nầy khi nói về hoa như là một thứ tôn giáo trong đời sống. Nó cũng làm người ta mê mải, đam mê, đắm đuối tôn thờ.. Chẳng phải các loài hoa đều được đặt những nơi cao quý nhất đó sao? Chẳng phải những tình yêu thuần khiết nhất đều bắt đầu từ biểu tượng một loài hoa. Và các đôi trai gái yêu nhau. Có lời tỏ tình nào êm dịu, tuyệt vời hơn khi tặng nhau một đóa hồng hay hoa “ Xin đừng quên tôi” chớm nở.

… Nhưng thôi, tôi chỉ mơ mộng tí chút khi ngồi chễm chệ trên chiếc ghế thật cao, đảo mắt nhìn quanh xem có ai đi ngang qua mà mời mọc : “Hoa tươi đây, hoa Đà Lạt mới đem về đây… Mời anh chị ghé mua… Bảo đảm giá cả và chất lượng…” Vợ tôi bảo tôi mời khách như vậy, giọng nói phải nhẹ nhàng, từ tốn người ta mới chịu vào. Cái thằng tôi đôi khi cũng được việc. Thần sắc tôi trông tội nghiệp thế nào không biết nhưng cứ hễ ai ghé vào sạp, nghe tôi chào mời, nỉ non một hồi, không ít thì nhiều, thế nào họ cũng mua hoa giúp tôi.

Khách hàng quen thuộc nhất của tôi lại là một thằng bé. Vâng, một thằng bé đâu chừng mười bốn, mười lăm tuổi dáng lêu khêu, gương mặt hiền lành, dễ thương, hầu như trưa nào cũng đến chỗ tôi mua hoa. Nó mua không nhiều, mỗi lần một bó nhỏ giá chỉ có vài ngàn nhưng lại lựa rất kỹ, mà chỉ đặc biệt mua hoa huệ trắng. Lúc đầu, tôi cũng ngạc nhiên. Hỏi nó mua hoa làm gì, nó chỉ lắc lắc đầu không nói không rằng một câu.

Riết rồi tôi thây kệ ! Mắc gì đến tôi. Nó có tiền nó mua, tôi có hoa tôi bán. Cứ ba ngàn một bó sáu chiếc mà đếm tới. Ngữ nầy chắc mang tặng bồ, tặng bịch gì đây. Ôi, cái thằng con nít ranh hỉ mũi còn chưa sạch, mới chừng ấy tuổi chưa nứt mắt đã tí tởn làm người lớn, tôi nhủ thầm trong bụng như vậy.

Trả tiền tôi lúc nào cũng là những tờ giấy bạc nhàu nát như bộ đồ thằng bé đang mặc. Nó đến và đi lặng lẽ, đôi mắt đen mở to lấp lánh niềm vui và bước đi như chạy lẫn vào trong khu phố đông người. Tôi cứ băn khoăn tự hỏi không biết nó làm gì, mua hoa tặng ai… Thi thoảng, có vài cánh hoa đẹp còn dôi ra trong chậu, tôi nhã ý tặng nhưng nó nhất định không lấy. Buổi trưa, dù trời nắng hay mưa, cứ như đến giờ hẹn, nó lại đến tôi mua hoa huệ trắng với những đồng tiền nhàu nát rồi bươn bả bước đi không nói một lời nào…

oOo

… Bẳng đi một thời gian khá lâu, tôi không gặp thằng bé. Vợ tôi lúc nầy bán hoa luôn vào buổi trưa nên tôi không phải trông chừng sạp. Tôi có hỏi về thằng bé mua hoa huệ trắng thì cô ấy lắc đầu quầy quậy:

– Thằng bé nào thế, sao em không biết ? Mà trăm người bán vạn người mua, hơi đâu để ý. Nó mua hoa làm gì ? Hay là nó lại gạ ông rồi ăn cắp hoa đấy! Trẻ con bây giờ táo tợn lắm…

Tôi không biết nói gì thêm và quên bẵng chuyện mua hoa huệ trắng. Mãi cho đến một hôm, tôi nhớ là chiều thứ bảy, sẵn mới lãnh tiền nhuận bút, tôi hào phóng dẫn vợ con đi ăn tiệm. Quán đông nghịt người. Tôi đang cắm cúi ăn thì một giọng trẻ con rụt rè phát ra từ sau lưng :

– Cháu… Cháu mời chú đánh giày…

– Không ! Tôi lạnh lùng đáp.

– Chú làm ơn ! Từ sáng giờ cháu chưa đánh được đôi giày nào ! Tiếng thằng bé khẩn khoản.

– Đã bảo là không mà, Tôi gắt.

Tôi bực mình ngoái nhìn lại và chợt nhận ra thằng bé. Cặp mắt lóng lánh thơ ngây và gương mặt dễ thương kia thì không lẫn vào đâu được nhưng nụ cười hạnh phúc mỗi lần mua hoa của tôi thì biến đâu mất. Nhường lại là gương mặt buồn thiu như chực khóc…

– Cháu có phải là thằng bé vẫn thường mua hoa của chú ! Tôi hấp tấp hỏi mà lòng xốn xang.

– Dạ.. Là cháu. Thằng bé lí nhí.

– Thì ra… cháu làm nghề đánh giày ! Mà sao lâu lắm chú không thấy cháu đến mua hoa ! Tôi hỏi.

– Dạ…Thằng bé ngập ngừng hồi lâu mới trả lời. Dạo nầy cháu đánh giày ế quá chú ạ ! Có khi cơm còn không đủ ăn !

Miếng đồ ăn trên miệng tôi bỗng đắng ngắt. Tôi nghẹn như không nuốt nổi, thương cảm nhìn thằng bé gầy rộp đi so với lần đầu tôi gặp. Tôi nhìn kỹ nó. Vẫn bộ đồ cũ nát, nhiều chỗ rách hơn và nước da nhợt nhạt chắc vì thiếu ăn thiếu ngủ. Nhìn các con tôi đang nô đùa, vui vẻ tíu tít trò chuyện quanh bàn ăn thừa mứa, bất giác tôi thấy chạnh lòng.

– Thế ba mẹ cháu đâu ? Tôi hỏi.

Như chạm vào nỗi đau nào đó,thằng bé không trả lời, cặp môi mím chặt lại. Mắt nó ngân ngấn nước. và chẳng nói thêm một câu nào, thằng bé lửng thửng ôm thùng đánh giày bước đi trước khi tôi kịp kêu nó lại. Buổi ăn tiệm của tôi xem như đã hỏng. Trên đường về, tôi cứ ân hận là không kịp hỏi chỗ ở của nó để may ra, tôi còn gặp lại nó, ít ra cũng giúp được nó tí gì. Nhưng tôi chắc rằng, điều ấy thằng bé cũng chẳng nói ra đâu…

oOo

Lúc nầy, cửa hàng bán hoa của vợ tôi ế ẩm. Tôi bỏ ngang công việc viết lách buổi trưa ra trông chừng cửa hàng. Với lại, tôi cũng có ý đợi thằng bé với nỗi cồn cào khôn tả. Bao nhiêu câu hỏi trong đầu của tôi về thằng bé chưa giải đáp được. Nó con nhà ai, ở đâu ? Sao nó lại cứ để dành mua hoa với đồng tiền đánh giày ít ỏi ? Tôi chỉ biết chắc một điều tiền nó dành dụm mua hoa là những đồng bạc lẻ nhàu nát.

Ở đâu ra nếu không phải là tiền của nó chắt chiu từ những lần đánh giày hiếm hoi trong ngày? Và câu hỏi lởn vởn nhiều nhất trong đầu tôi là nó mua hoa để làm gì trong khi nó phải nhịn ăn, nhịn mặc… Nó xuất hiện trước tôi như những điều bí ẩn mà cho dù có cố cách nào, tôi cũng không giải đáp nổi…

Ơn trời, trưa nay tôi lại gặp nó. Cũng cái dáng lêu khêu, nước da đen sạm và đôi mắt long lanh và trên người là bộ đồ rách rưới. Trên tay cầm chiếc hộp đánh giày, nó xăm xăm tiến về cửa hàng, moi ra những đồng tiền cũ nát và chìa ra cho tôi:

– Chú bán cho cháu bó hoa huệ trắng như mọi lần. Nó nói, mắt ngời hạnh phúc.

Lần nầy thì tôi không hỏi nó nữa. Tôi đã có cách của mình để khám phá bí mật của thằng bé. Lựa hoa cho nó xong, tôi lặng lẽ kín đáo nhìn nó. Đôi mắt nó như nở bừng lên với niềm vui vô hạn. Sau tiếng cám ơn ngắn ngủi, thằng bé tung tăng bước lẫn vào giữa đám đông với bó hoa trên tay đung đưa trước mặt.

Tôi nhanh nhẹn rảo bước theo thằng bé. Chút nữa thì tôi mất hút nó trong đám đông khu chợ. Nó bước đi như chạy mà không hề hay rằng tôi đang hấp tấp theo sau. Một ngã quặt, rồi một ngã tư, tiếp đến là đường ra ngoại ô. Nó ra đây làm gì nhỉ ? Trời đang chuyển cơn mưa lớn… Mặc ! Tôi cứ đi theo nó mà trong lòng ngổn ngang bao nhiêu là câu hỏi…

Cái nghĩa trang thành phố hiện ra trước mắt tôi. Thằng bé vẫn xăm xăm tiến bước như đã quá quen các đường ngang ngõ tắt quanh các ngôi mộ. Mưa đã bắt đầu rơi. Sau một hồi quanh quất, nó đứng trước một ngôi mộ thấp lè tè cỏ mới lên xanh. Tôi đứng nấp sau chiếc mộ lớn, tò mò xem nó sẽ làm gì.

Nó đứng đấy, trước ngôi mộ không bia kia, nghiêm trang, thành kính, mắt ngời hạnh phúc, miệng mấp máy như khấn nguyện điều gì.. Mưa rơi mỗi lúc một nặng hạt. Nó cứ đứng như thế, co ro trong chiếc áo cũ mỏng manh, rách nát với bó hoa huệ trắng, run rẩy cầm trên bàn tay gầy guộc đặt bó hoa tươi trước ngôi mộ thấp bé, cỏ đã ướt đẫm nước mưa.

Không thể chờ lâu hơn, tôi bước gần đến nó. Thằng bé như không hề biết đến sự hiện diện của tôi, hai chân quỳ trước mộ và tôi nghe nó nói tiếng được, tiếng mất giữa màn mưa :

– Con lại đến thăm mẹ đây, mẹ ơi ! Con mang cho mẹ những đóa huệ trắng mà mẹ rất thích khi còn sống ! Xin mẹ phù hộ cho con trong cuộc đời nầy… Con nhớ mẹ lắm…. Mẹ ơi…

Tôi lặng người nhìn thằng bé. Nó vụt lớn lên trong tôi, cao sang, thanh khiết như những bông huệ trắng khẽ rung lên, tuyệt đẹp, tinh tuyền. Mưa xối xả rơi trong nghĩa trang mà lòng tôi cứ ấm áp đến lạ kỳ. Những đóa huệ trắng như sáng rực lên giữa màn mưa đen kịt . (theo Nguyễn Minh Phúc)

Yên Huỳnh tổng hợp chuyển tiếp

A- KÍNH BÁO CÙNG BẠN ĐỌC