NGƯỜI NHẠC SĨ VỚI 34 NGƯỜI TÌNH…

NHẠC SĨ Y VŨ TỪNG ĐƯA

34 NGƯỜI TÌNH…. ĐI LẤY CHỒNG  

Sáng tác các bài “Tôi đưa em sang sông” – “Ngày cưới em”…

Nhạc sỹ của nhiều ca khúc nổi tiếng chia sẻ về các cuộc tình của ông. Ở độ tuổi 75, ông đã từng trải qua hàng chục mối tình. Ông là một nhạc sĩ đa tình và hiện người vợ của ông là người tình thứ 35 trong cuộc đời. Đối với những người yêu nhạc, nhạc sĩ Y Vũ không còn là một người quá xa lạ.  Y Vũ tên thật là Trần Gia Hội, sinh năm 1942 tại Hà Nội và là em trai ruột của nhạc sĩ Y Vân.

Ông cho ra đời rất nhiều ca khúc khiến biết bao con tim phải thổn thức vì những câu chuyện đời tư mà chính Y Vũ lồng ghép vào trong ấy : “Kim”, “Điên”, “Hận”, “Ngày không em”, “Ngày cưới em”…

Và đặc biệt nhất có lẽ chính là ca khúc “Tôi đưa em sang sông”, ca khúc vẫn sống mãi cùng với thời gian với những ca từ da diết : “Tôi đưa em sang sông, chiều xưa mưa rơi âm thầm / Để thấm ướt chiếc áo xanh, và đẫm ướt mái tóc em / Nếu xưa trời không mưa, đường vắng đâu cần tôi đưa / Chẳng lẻ chung một lối về mà nở quay mặt bước đi…”

Tại buổi quay hình “Ca sĩ bí ẩn” mới đây, nhạc sĩ Y Vũ tiết lộ người con gái trong ca khúc “Tôi đưa em sang sông” chính là người mà ông luôn nhức nhối và khó quên nhất. Dù Y Vũ đã trao trọn tình cảm, sự yêu thương cho người yêu nhưng cô gái vẫn quyết sang ngang với người đàn ông khác tốt hơn và có cuộc sống đầy đủ hơn. “Cô người yêu đi lấy một ông bác sĩ rất giàu”, ông nhớ lại. Vì quá đau lòng, ông đã viết ca khúc “Tôi đưa em sang sông”.

Nhạc sĩ Y Vũ chia sẻ thêm, sau đó 6 tháng, ông lại nhận được thiệp hồng mời đến dự đám cưới của người yêu cũ. Ông ngồi trong sảnh cưới chỉ có một mình với tâm trạng buồn, lẻ loi. Sau khi về, vì quá tủi thân, nhạc sĩ đã cho ra đời ca khúc “Ngày cưới em” để nói lên tâm trạng cô đơn lúc bấy giờ của mình.

“Khi người yêu đi lấy chồng, tôi được mời đến dự đám cưới. Ngồi với người khác mà cảm thấy như chỉ có một mình. Sau đó về, tôi tủi thân viết tiếp bài “Ngày cưới em” nói về tâm trạng cô đơn trong ngày cưới”, ông nói.

Nhạc sĩ Y Vũ thừa nhận, người nghệ sĩ thường đa tình và khó quên. “Người nghệ sĩ, nhạc sĩ rất đa tình, có thể mỗi bài viết cho một người yêu. Bài “Kim” là tôi viết cho một cô vũ nữ tên Kim, bài “Điên” là tâm trạng thất tình, giống như mộng du, đêm về đi lang thang phải có cậu em dẫn về nhà…”, ông nói.

Nhắc đến bài “Kim”, những người mê nhạc của ông còn nhớ vào năm 1969, Y Vũ làm việc ở Vũng Tàu, tối tối ông thường đi chơi ở vũ trường Blue Star, quen rồi yêu một vũ nữ tên là Kim. Cô gái có hoàn cảnh nghèo này bị bệnh tim. Ðể khích lệ tinh thần Kim, Y Vũ viết bài “Kim”.

Bài hát lập tức nổi tiếng và được ca sĩ Túy Phượng – nữ hoàng nhạc twist lúc đó hát trên cả đài phát thanh lẫn truyền hình. Khoảng một năm sau thì cô gái mất, Y Vũ đau buồn viết tiếp bài “Những tâm hồn hoang lạnh” riêng tặng cho kiếp vũ nữ…

Hiện giờ, ở cái tuổi thất thập, vị nhạc sĩ nhìn lại chặng đường đời ông đã từng đưa 34 người tình “sang sông”, cho đến tận người thứ 35 là người vợ lúc này của Y Vũ mới chính là chuyến đò cuối cùng và ở lại mãi với nhạc sĩ cho đến cuối đời.

35 lần yêu thì 34 lần dở dang, tuy nhiên theo thời gian, những kỷ niệm dù đau thương, không còn nguyên vẹn vẫn được lưu giữ trong gia tài là những ca khúc được ông nâng niu và được khán giả yêu thích cho đến tận bây giờ…

Tôi Đưa Em Sang Sông

https://youtu.be/vGfHJpWeql8

Tôi đưa em sang sông, chiều xưa mưa rơi âm thầm

Để thấm ướt chiếc áo xanh, và đẫm ướt mái tóc em

Nếu xưa trời không mưa, đường vắng đâu cần tôi đưa

Chẳng lẻ chung một lối về mà nỡ quay mặt bước đi

Tôi đưa em sang sông, bàn tay nâng niu ân cần

Sợ bến đất lấm gót chân, sợ bến gió buốt trái tim

Nếu tôi đừng đưa em, thì chắc đôi mình không quen

Đừng bước chung một lối mòn, có đâu chiều nay tôi buồn

Rồi thời gian lặng lẽ trôi,

Đời tôi là cánh chim đi khắp phương trời

Mà đời em là ước mơ,

Đẹp muôn ngàn ý thơ, như ngóng trông chờ

Hôm nao em sang ngang, bằng xe hoa thay con thuyền?

Giờ phút cuối đến tiễn em, nhìn xác pháo vướng gót chân

Gót chân ngày xa xưa sợ lấm trong bùn khi mưa..

Nàng đã thay một lối về, quên cả người trong gió mưa….

Yên Huỳnh chuyển tiếp

– Những Tình Khúc buồn của NS Y Vũ trước 75 (1:05’)

https://youtu.be/f239we0zEd8

1/- TÔI ĐƯA EM SANG SÔNG – Vũ Khanh 6:07 2/- HẬN – Thanh Lan
11: 25 3/- TÌNH MÌNH NGANG TRÁI – Khánh Ly 16:20 4/- CHUYỆN TÌNH ĐẦU – Mỹ Huyền 21:05. 5/- DẤU CHÂN QUA – Khánh Ly 24:14 6/- NGƯỜI XA TÔI – Giao Linh 28:20 7/- ĐIÊN – Nguyễn Hưng 33:20 8/- NGÀY MAI KHÔNG CÓ ANH – Giao Linh 38:40 9/- NHỮNG TÂM HỒN HOANG LẠNH – Thanh Thúy 44:08 10/- TIẾNG HÁT VỀ ĐÊM – Trúc Mai 49:20 11/- CHIỀU RU MẶT TRỜI – Lệ Thu 52:25 12/- NGÀY CƯỚI EM – Đan Nguyên 57:00 13/- TÔI TIỄN NGƯỜI TÔI YÊU – Anh Khoa 1:01:57

Quế Phượng chuyển tiếp

THƠ PHỔ NHẠC : “THÔI”

Nguyễn Long & Y Vân

Chào các bạn,

Hôm nay mình giới thiệu đến các bạn thi khúc “Thôi” của Thi sĩ/Tài tử điện ảnh Nguyễn Long và Nhạc sĩ Y Vân. Nhạc sĩ Y Vân là một nhạc sĩ tiêu biểu của nền Tân Nhạc Việt Nam từ cuối thập niên 1950 đến 1990. Nhiều sáng tác của ông đã trở thành bất hủ và vẫn được trình diễn bởi những ca sĩ hiện thời.

Nhạc sĩ Y Vân tên thật là Trần Tấn Hậu, sinh năm 1933 tại Hà Nội (quê gốc ở Thanh Hóa). Thuở niên thiếu, ông từng theo học nhạc với GS NS Tạ Phước và cũng đã sáng tác từ rất sớm. Mồ côi cha, nhà nghèo, gia đình ông phải dắt díu nhau nương náu trong một túp lều ở ngõ chợ Khâm Thiên. Chính vì thế, ông rất thương mẹ và các em, ông phải đi dạy đàn để lo cho gia đình.

Năm 1952 ông vào Nam, tiếp tục sáng tác, chơi nhạc, hòa âm và dạy nhạc, ngoài ra ông còn viết sách dạy nhạc và đàn guitar. Ông là người đi tiên phong cho dòng Nhạc Trẻ với những bài hát có giai điệu Chachacha, Disco, Twist như: “Sài Gòn”, “Ảo Ảnh”, “60 Năm Cuộc Đời”, “Thôi”.

Thời gian sau năm 1975, ông tham gia Đoàn Ca Nhạc Hương Miền Nam, rồi nhận viết nhạc cho nhiều nguồn: viết nhạc phim, nhạc nền cho sân khấu… Nhạc sĩ Y Vân có 2 đời vợ và 8 người con. Ông mất vào ngày 28 tháng 11 năm 1992 (tức ngày 05 tháng 11 năm Nhâm Thân – âm lịch). Hưởng thọ 60 tuổi (đúng như dự đoán của ông trong bài “60 Năm Cuộc Đời”)

Y Vân có nghĩa là “Yêu Vân”, tên của tiểu thư Tường Vân – người yêu đầu tiên của ông. Ông chọn tên này từ khi chuyện tình giữa ông và tiểu thư Tường Vân tan vỡ. Một số ca khúc của ông đã được viết với tâm sự mất mát này như: “Đò Nghèo”, “Ảo Ảnh”, “Nhạt Nắng”…

Sự nghiệp sáng tác của ông có khoảng trên dưới 200 tác phẩm. Tác phẩm “Lòng Mẹ” của ông rất nổi tiếng và được xem như một trong những ca khúc kinh điển tiêu biểu, sâu sắc và thiêng liêng nhất về tình mẹ. Tác phẩm “Lòng Mẹ” được ông sáng tác vào năm 1952. Từ đó đến nay, bài hát đã được nhiều ca sĩ thể hiện, vì thế nó là một bài hát rất quen thuộc với người Việt Nam từ ngày nó ra đời cho đến ngày nay.

Ngoài “Lòng Mẹ”, các ca khúc còn lại của ông trong phạm vi bài này cũng nổi tiếng không kém và thường được các ca sĩ nhiều thế hệ tiếp tục trình diễn cho đến giờ.

Đồng thời ông còn cùng Lan Đài đồng sáng tác hai quyển sách Tự Học Tây Ban Cầm cũng rất phổ biến:

– Tự học Tây Ban Cầm (nhạc thời trang – nhạc Jazz)

– Tự học Tây Ban Cầm (phương pháp Flamenco)

Thi khúc “Thôi” (Thi sĩ/TTĐA Nguyễn Long và Nhạc sĩ Y Vân)

Thôi em đừng khóc nữa làm gì

Kỷ niệm sầu ân tình cũ xa xưa

Thôi em đừng khóc,

Em đừng khóc, đừng khóc nữa giọt lệ sầu

Làm sao xóa hết tâm tư

Thôi em đừng tới nữa làm gì

Đừng để lòng se lại khúc yêu đương

Thôi em đừng tiếc

Em đừng tiếc, đừng tiếc nữa

Đừng để lòng anh trở lại kiếp u buồn

Ôi, cuộc đời đầy phong ba giữa lòng người

Lệ sầu chia ly buồn tê táI

Ly rượu này đầy thương đau tấm hình hài

Thu man mác buồn mùa thu ơi

Thôi em đừng nhắc nữa làm gì

Từng nẻo đường in hình bóng chung đô

Thôi em đừng nhớ

Em đừng nhớ nữa chuyện của mình

Kiếp nay đành lỡ duyên rồi

Thôi đôi bờ vai đừng rung động

Đã hết rồi còn khóc nữa chi em …

Đã hết rồi còn khóc nữa chi em…

https://www.youtube.com/watch?v=QiUcuGlLApQ
https://www.youtube.com/watch?v=cE8TG_yTF-o
https://www.youtube.com/watch?v=WuNl0yXszv8
https://www.youtube.com/watch?v=hgTNgITGWGA
https://www.youtube.com/watch?v=St9IVl0qHAk
https://www.youtube.com/watch?v=4uPxqT12P6o

Thi sĩ / Đạo diễn điện ảnh Nguyễn Long.

Vĩnh biệt anh Long… “Đất” của tụi em

Lại một người bạn thân nữa của tôi vừa mới ra đi, đó là anh Nguyễn Long, một nam tài tử điện ảnh và kịch nghệ lão thành của sàn quay và sân khấu Việt Nam . Không thể ngờ được là chỉ trong năm 2009 mà cả ba người tuổi tác rất chênh lệnh nhưng lại cùng rủ nhau đi một lượt. Sau Trường Kỳ, Tùng Giang giờ đến Nguyễn Long, dù trong một quẻ tự bói, anh Long cho biết sẽ mãn phần vào năm 2010. Như vậy anh chỉ đoán sai có đúng 2 tháng mà thôi.

Nguyễn Long lớn hơn tôi 10 tuổi, nhưng lúc nào cũng xem tôi như bạn và vẫn thường đòi làm “con nuôi” của Bố Mẹ tôi. Anh được tất cả các anh chị em trong gia đình tôi yêu quý và đôi khi cũng có những cuộc “đụng độ” nhau như “anh em trong nhà” khiến Bố tôi phải la rầy cả bọn. Lúc đó thấy anh Long thật dễ thương, khi vừa cúi đầu vừa nói “con xin lỗi Bố”!

Anh ra đi hôm nay để lại niềm thương tiếc cho gia đình, cho chị Nga và các cháu cũng như anh chị em chúng tôi. Nhưng tôi tin rằng Bố Mẹ tôi sẽ rất vui khi gặp lại anh nơi chín suối, nhất là Trường Kỳ, Tùng Giang và dĩ nhiên sư phụ của anh là “quái kiệt” Trần Văn Trạch cùng nhiều nghệ sĩ khác.

Vĩnh biệt anh Long… “Đất” của tụi em. (Nam Lộc – Mùa Thu California, 2009)

Sau đây là đôi dòng tiểu sử của tài tử Nguyễn Long

Nguyễn Long tên thật là Nguyễn Ngọc Long, sinh ngày 2 tháng 3 năm 1934 tại thành phố Hải Phòng. Năm 1945 học sinh của trường Hoàng Diệu. Năm 1946 gia nhập Ban Văn Nghệ Thiếu Niên Hà Nội. 1947 Ban Thiếu Niên Tuyên Truyền Chiến Khu 3.

Vào Sài Gòn năm 1949 và chính thức bước lên sân khấu kịch nghệ và điện ảnh miền Nam Việt Nam năm 1955 và xuất hiện trong một số phim do VN, Hoa Kỳ và Phi Luật Tân hỗn hợp thực hiện. Khởi sự viết kịch và chuyện phim từ năm 1957 và đã đóng vai chính trong gần 70 vở kịch ngắn, dài trên sân khấu và truyền hình VN.

Năm 1961 tự sản xuất, đạo diễn và đóng vai chính trong các bộ phim nổi tiếng như Mưa Lạnh Hoàng Hôn, Nước Mắt Đêm Xuân, Thuý Đã Đi Rồi, Anh Yêu Em, Hè 72 và OK, OK…! Tổng cộng 14 cuốn phim.

Vượt biên sang định cư tại Mỹ năm 1981, tiếp tục sản xuất, đạo diễn các tác phẩm điện ảnh khác như Mây Xám Chiều Hoang, Như Là Khởi Đầu, Biển Khổ v..v… Đến năm 1984 xoay ra làm báo và phát hành tuần báo Kịch Ảnh. Năm 1992 khởi sự viết sách, bắt đầu bằng tập tài liệu nghiên cứu có tên là “Chủ Nghĩa Tư Hữu”, rồi đến bộ sách “Việt Nam 94” ghi lại ký ức 60 năm lịch sử VN từ 1934 đến 1994. “Việt Nam 95” ghi lại cuộc hành trình của tác giả từ Lạng Sơn đến Cà Mâu. “Việt Nam 1996”, vòng quanh nước Mỹ và sau cùng là “Việt Nam 66 Năm Nhạc, Kịch và Điện Ảnh: 1937 – 2002”, ghi chép lại tiểu sử của hàng trăm nghệ sĩ, đạo diễn, tài tử VN. Đặc biệt trong phần ghi chú tác giả viết rất rõ như sau:

“Những cuốn sách do Nguyễn Long viết (11 cuốn) đều là Bản Quyền Việt Nam . Bất luận người Việt Nam nào cũng có quyền tự do sử dụng một cách miễn phí (free). Được phép trích từng đoạn hay cả bộ sách, kể cả việc in lại mà không cần phải hỏi sự đồng ý của tác giả”. (Nguyễn Long, 2001).

Theo cô Ngọc Hân, con gái út và cũng là người gần gũi nhất với “Bố Nguyễn Long” cho biết thì kể từ muà Hè 2003, nam tài tử Nguyễn Long đã về sống “ẩn dật” gần Vợ Con, đồng thời cũng để dưỡng bệnh tại thành phố Seattle, tiểu bang Washington. Ông không còn liên lạc với bất cứ ai, ngoại trừ Nam Khang, một người em kết nghĩa và nhạc sĩ Trúc Hồ, người vẫn thỉnh thoảng viết thư thăm hỏi cũng như gởi tác quyền các bài thơ được phổ nhạc của ông mà trung tâm Asia thường sử dụng. (theo Nam Lộc)

– Các bài hát chọn lọc hay nhất của NS Y Vân thu âm trước 1975 (3:57’)

https://youtu.be/GXIqPr0AyaQ

Lan Hương chuyển tiếp

Tiếu Lâm Chi Bảo

Bốn người khách vốn thuộc hạng văn thi sĩ… vào một quán nhậu. Trong khi chọn món ăn,cô hầu bàn đến cười duyên:

– “Em rót bia cho mấy anh nhé ?”

Anh A liền tán :

– “Xin lỗi, em mỹ danh là gì, ở đâu ?”

Cô cười dịu dàng:

– “Hỏi quê… rằng biển xanh dâu,

Hỏi tên… rằng mộng ban đầu đã xa”.

Anh B vỗ đùi :

– “Úi chà ! Giỏi thơ thiệt ! Tuyệt vời. Rót bia đi”.

– “Dạ . Cảm ơn quí anh”.

Anh C đon đả :

– “Lấy thêm ly. mời Em cùng ngồi uống cho vui”. – “Dạ”.

Thế là bàn có một bông hồng giữa đám sỏi đá. Anh D mời tất cả cụng ly :

– “Coi bộ em giỏi thơ văn nhỉ !”.

Cô cười rất duyên :

– “Em cũng học mót chút ít để góp chuyện cho vui mà. Quí anh không thấy phiền chứ ? Chắc quí anh giỏi văn thơ lắm thì phải ?”

Anh A xoa bụng, ưỡn ngực :

– “Cũng đủ xài. Ai hỏi gì nói nấy. Nhất là lãnh vực văn học. Không bao giờ bị kẹt”.

– “Thế là quá giỏi rồi. Vậy, em đố các anh về lĩnh vực văn học nhé ?”

Cả bàn nhốn nháo hẳn lên, vui như cá gặp nước. Họ là nhà giáo, nhà thơ nhà văn cả… hớn hở cụng ly chờ đợi cuộc  vui. Cô gái cười, cất giọng oanh vàng :

– “Nếu có một ông khỏa thân” (trần truồng) cõng một  ông cũng khỏa thân… Câu tục ngữ nào tả được cảnh này ?”.

Bốn vị khách không tìm ra câu tục ngữ nói về trường hợp hy hữu này… Anh C thẳng thắn :

– “Chúng tôi thua. Cô giảng đi.

Cô bình tĩnh giải thích :

– Này, một ông khỏa thân, cõng trên lưng một ông cũng khỏa thân… Lúc ấy sẽ có tình trạng mà tục ngữ nói “Gậy ông đập lưng ông”.

– “Úi trời ! Ðúng quá”

Cả bàn cười rộ. Vừa rót thêm bia, cô vừa đố tiếp :

– “Cũng cá iông khỏa thân ấy, ông ta nhảy tõm xuống ao, tục ngữ nói sao nào ?”

Bốn vị khách lại bí … Họ lại yêu cầu cô giải đáp. Cô cười tủm tỉm :

– “Ông khỏa thân mà nhảy xuống ao sẽ gây nên cảnh : “Chim sa cá lặn”.

Cả bàn cười vang như pháo tế t.

– “Úi trời ! Ðúng quá đi. Cá trông thấy chim hãi  quá phải lặn là cái chắc !”

Thừa thắng xông lên, cô ta đố tiếp :

– “Thưa quí anh, cũng cái ông khỏa thân ấy, ông ta ngồi lên hòn đá, tục ngữ bảo sao ?”

Bốn khuôn mặt thông minh kia lại đờ đẫn. Cô gái thong thả giải thích :

– “Ông khỏa thân ngồi lên hòn đá, lúc ấy tục ngữ phán rằng: “Trứng chọi đá !”

Cả bàn cười vang. Ông D  hăm hở :

– “Ðúng quá đi chớ. Trứng này không bể được ! Còn nữ akhông?

Cô gái tiếp :

– Cũng cái ông khỏa thân đó nữa, nay lại ngồi bệt xuống đất không chịu đứng dậy thì theo «tục ngữ» các ông nói sao ?

Bốn khuôn mặt sáng láng trông thật thảm thương, bí rị. Cô gái tiếp :

– Cái ông khỏa thân ngồi bệt xuống đất diễn ra cảnh mà «tục ngữ» gọi là «Ðất lành chim đậu». Ðúng chưa ?

Cả bọn cười vang… (Sưu tầm)

Yên Nhàn chuyển tiếp

Advertisements

NÓI VỀ BÀI THƠ “MỘNG DƯỚI HOA” ?!

CUỘC ĐỜI CHÌM NỔI

CỦA “MỸ NHÂN” SÀI GÒN XƯA

Được xếp vào danh sách “Tứ đại mỹ nhân”, cuộc đời của những “biểu tượng nhan sắc” một thời ở Sài Gòn những năm thập niên 60 – 70 cũng đổi thay theo năm tháng

1/- Thẩm Thúy Hằng : Nổi lên từ vai diễn Tam Nương trong phim “Người đẹp Bình Dương”, Thẩm Thúy Hằng mang luôn biệt danh này nhờ sự ái mộ của công chúng. Bà cũng được coi là biểu tượng nhan sắc phụ nữ một thời ở Sài Gòn nói riêng và miền Nam nói chung.

Thẩm Thúy Hằng tên thật là Nguyễn Kim Phụng. Bà sinh năm 1941 tại Hải Phòng, lớn lên tại An Giang, sau đó khởi nghiệp với vai diễn đầu tiên năm 1958 với hãng phim Mỹ Vân. Ngay sau đó, vai diễn đã giúp bà vụt sáng trở thành minh tinh châu Á suốt những thập kỷ 60 – 70.

Với nhan sắc mặn mà cùng lối diễn xuất tài hoa, Thẩm Thúy Hằng liên tiếp nhận được giải thưởng tại các liên hoan phim lớn tại nước ngoài như LHP Đài Bắc, Ảnh hậu Á Châu trong LHP Á Châu tổ chức tại Hong Kong và Đài Loan năm 1972 – 1974, Nữ diễn viên khả ái nhất tại LHP Mátxcơva và Tasken tại Liên Xô năm 1982…

Thẩm Thúy Hằng không chỉ đóng phim mà còn đóng kịch (Giám đốc đoàn kịch nói Bông Hồng) và cũng khá nổi tiếng trên sân khấu kể cả trước và sau giải phóng. Là một mỹ nhân, lại là người nổi tiếng suốt mấy thập niên, nhưng

Thẩm Thúy Hằng ở tuổi xế chiều có cuộc sống hoàn toàn khép kín. Bà tu tại gia, nghiên cứu Thiền học, làm từ thiện, hầu như ít tiếp xúc bên ngoài. Cuộc đời của một “minh tinh màn bạc”, một phụ nữ “sắc nước hương trời”, sự nghiệp nghệ thuật lẫy lừng đã kết thúc với số phận nghiệt ngã.

Những năm tháng cuối cùng này đối với “Nữ hoàng nhan sắc” quả thật là tột cùng của sự đau khổ. Bà đã trải qua nhiều cuộc giải phẫu lớn nhỏ và sử dụng phương pháp tiêm botox thường xuyên để chống chọi với sự tàn phá của hóa chất trong cơ thể. Nhưng dù cố gắng hết sức, bằng mọi phương pháp kéo dài thời gian nhưng rồi “Người đẹp Bình Dương” lộng lẫy một thời cũng phải chấp nhận sự thật: tất cả những gì đẹp đẽ, lộng lẫy trước đây đã bị đào thải, gương mặt bà biến dạng từng ngày.

Phu quân là tiến sĩ Nguyễn Xuân Oánh,trước 1975 là Thống Đốc ngân hàng say 1975 là tư vấn khối tài chánh cho cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt xưa. Nay ông đã qua đời !

2/- Kiều Chinh : Minh tinh Kiều Chinh là một trong những diễn viên đầu tiên của điện ảnh miền Nam Việt Nam, là diễn viên Việt đầu tiên thành công ở Hollywood. Gắn bó với nghề diễn xuất trong hơn 50 năm qua, bà có một sự nghiệp huy hoàng mà cho tới nay cũng có ít diễn viên người Việt nào có được.

Kiều Chinh tên thật là Nguyễn Thị Kiều Chinh. Bà sinh ngày 3/9/1937 trong một gia đình khá giả tại Hà Nội. Do mẹ mất sớm nên Kiều Chinh được bố rất mực cưng chiều. Năm 1954, bố con Kiều Chinh bị thất lạc nhau. 17 tuổi, bà một mình vào Nam. Năm 20 tuổi, bà bén duyên điện ảnh với vai ni cô trong bộ phim “Hồi chuông Thiên Mụ”. Trước đó, bà đã được các nhà làm phim Mỹ mời tham gia đóng vai Phượng trong bộ phim “Người Mỹ trầm lặng”. Tuy nhiên, do người thân không đồng ý nên bà buộc lòng phải từ chối.

Sau “Hồi chuông Thiên Mụ”, Kiều Chinh tham gia hàng loạt các bộ phim của các đạo diễn Việt Nam cũng như đạo diễn các nước Châu Á như: Ấn Độ, Thái Lan, Đài Loan, Singapore. Bà cũng vinh dự trở thành một trong những diễn viên Việt đầu tiên được các nhà làm phim Hoa Kỳ chú ý. Bà tham gia các phim như Operation CIA, A Yank in Vietnam, Devil Within, Destination Vietnam. Đặc biệt, trong phim Devil Within, Kiều Chinh được vượt qua hàng loạt những gương mặt xinh đẹp và nổi tiếng khác để vào vai Công chúa Ấn Độ.

Sau năm 1975, Kiều Chinh cùng gia đình chuyển sang sinh sống tại Canada. Năm 38 tuổi, Kiều Chinh được bảo lãnh qua Mỹ và bà quyết định quay trở lại với điện ảnh dù phải bắt đầu từ con số 0 và Hollywood vốn là mảnh đất cực kỳ khắc nghiệt đối với những diễn viên, đặc biệt là những diễn viên gốc Á.

Tính tới thời điểm hiện tại, bà đã có mặt trong 100 bộ phim và chương trình truyền hình của Mỹ. Trong đó có những bộ phim nổi tiếng như “The Letter” (1986), “Welcome Home (1989), “Vietnam-Texas” (1989), “What Cooking” (2000), “Face” (2001), “Journey from The Fall” (2004). Với vai diễn trong phim “Joy Luck Club”, Kiều Chinh lọt vào danh sách 50 diễn viên làm khán giả khóc nhiều nhất trong lịch sử điện ảnh.

Hiện, Kiều Chinh đang định cư ở Mỹ nhưng thỉnh thoảng bà vẫn về thăm quê hương. Không chỉ là một phụ nữ hướng về cội nguồn mà bà còn là người đóng góp rất lớn cho một tổ chức từ thiện gồm một số người bạn nước ngoài của bà để xây dựng gần 50 trường học ở Việt Nam.

Gặp gỡ nữ tài tử Kiều Chinh : https://youtu.be/pcdqum6WPCo

Phu quân là Nguyễn Năng Tế, trung tá phụ trách Phòng không kh6ng quân, thời Chủ tịch Ủy  Ban Hành Pháp Trung Ương : Nguyễn Cao Kỳ

3/- Kim Cương : Kim Cương (sinh năm 1937), con gái thứ 3 của NS Bảy Nam, là bầu gánh Đại Phước Cương. Kim Cương được mệnh danh là “kỳ nữ” do tài năng diễn xuất sân khấu, đoạt rất nhiều giải thưởng sân khấu và điện ảnh; tác giả của 70 kịch bản, đạt kỷ lục người viết kịch nói nhiều nhất Việt Nam.

Kim Cương vốn là người bạn thân thiết lâu năm với Thẩm Thúy Hằng. Mặc dù tỏa sáng trên con đường nghệ thuật gần như cùng thời điểm nhưng có thể nói, con đường mà Kim Cương trải qua cũng gặp không ít gian truân. Xuất thân từ gia đình có truyền thống nghệ thuật lâu đời, có mẹ là cố NS Bảy Nam nên Kim Cương cũng chịu sự ảnh hưởng rất nhiều. Ngay từ khi còn nhỏ, bà đã theo gia đình để mưu sinh bằng nghề diễn.

Khác với người bạn thân Thẩm Thúy Hằng, tên tuổi Kim Cương lại gắn liền với sân khấu kịch nói hơn là điện ảnh, mặc dù bà cũng tham gia đóng phim không ít. Rất nhiều vai diễn để đời của bà là những nhân vật đã từng lấy nước mắt của đông đảo khán giả nhiều thế hệ. Trong số đó, có phần lớn các tác phẩm do chính Kim Cương viết kịch bản.

Hơn 10 năm qua, trở thành phó chủ tịch Hội Bảo trợ người khuyết tật và trẻ em mồ côi, bà dốc hết sức mình đôn đáo chạy lo kinh phí hằng tháng cho trường dạy nghề dành cho người khuyết tật và kinh phí ăn học cho bao nhiêu trẻ mồ côi.

Phu quân là Trần Trọng Thức cựu biên tập viên báo Tuổi Trẻ. Theo tin thì bà đã ly dị chồng.

Lan Hương chuyển tiếp

NGUỒN GỐC CA KHÚC MỘNG DƯỚI HOA

– Phạm Anh Dũng

“Chưa gặp em, tôi vẫn nghĩ rằng

Có nàng thiếu nữ đẹp như trăng…”

Bài hát nổi tiếng “Mộng Dưới Hoa” được biết, theo các bài nhạc và tập nhạc in trong quá khứ, là nhạc Phạm Đình Chương phổ thơ Đinh Hùng. Sự thật không đúng hoàn toàn như vây.

Có vài tên riêng như “Mộng Dưới Hoa”, “Dưới Hoa Thiên Lý”, “Tự Tình Dưới Hoa” và “Xuôi Dòng Mộng Ảo” có liên hệ đến bài nhạc .

1/. Mộng Dưới Hoa : “Mộng Dưới Hoa” là nhạc Phạm Đình Chương phổ vào bài thơ Mộng Dưới Hoa của Đinh Hùng hay không ? Không đúng vậy vì không có bài thơ nào của Đinh Hùng tên là “Mộng Dưới Hoa” cả.

2/. Dưới Hoa Thiên Lý : Trong tuyển tập nhạc “Mộng Dưới Hoa”, 20 Bài Thơ Phổ Nhạc của Phạm Đình Chương, ngay dưới nhạc phẩm “Mộng Dưới Hoa”, tác giả Phạm Đình Chương có viết: “…Viết Mộng Dưới Hoa năm 1957, nguyên bài thơ mang tựa đề “Dưới Hoa Thiên Lý…”.

Thật ra, không thấy bài thơ nào của Đinh Hùng có tên là “Dưới Hoa Thiên Lý”.
Không biết vì sao nhạc sĩ Phạm Đình Chương lại quên và viết như vậy ?

3/.Tình Tự Dưới Hoa : Có phải “Mộng Dưới Hoa” là bài nhạc phổ vào bài thơ “Tình Tự Dưới Hoa” của Đinh Hùng ? Không đúng hòa toàn

“Tình Tự Dưới Hoa” một bài thơ 7 chữ có trong tập thơ “Đường Vào Tình Sử” của Đinh Hùng và chính từ bài này có bản nhạc “Mộng Dưới Hoa”. Tuy là ý bài hát dựa nhiều vài bài thơ nhưng thật ra chỉ có hai trong sáu đoạn của bài thơ đã phổ thành nhạc. Đó là đoạn thứ nhất của bài thơ:

“Chưa gặp em, tôi vẫn nghĩ rằng

Có nàng thiếu nữ đẹp như trăng

Mắt xanh lả bóng dừa hoang dại

Thăm thẳm nhìn tôi không nói năng”

và đoạn thứ ba của bài thơ:

“Em đến như mây, chẳng đợi kỳ

Hương ngàn gió núi động hàng mi

Tâm tư khép mở đôi tà áo

Hò hẹn lâu rồi – Em nói đi”

4/. Xuôi Dòng Mộng Ảo : Một đoạn trong bài thơ 6 chữ này của Đinh Hùng được phổ nhạc và cho vào bài “Mộng Dưới Hoa”. “Xuôi Dòng Mộng Ảo” là một bài thơ, cũng ở trong thi tập “Đường Vào Tình Sử ” của Đinh Hùng. “Xuôi Dòng Mộng Ảo” có tám đoạn và chỉ có đoạn thứ năm có trong bài hát “Mộng Dưới Hoa” làm thành điệp khúc của bài hát:

“Nếu bước chân ngà có mỏi

Xin em dựa xát lòng anh

Ta đi vào tận rừng xanh

Vớt cánh rong vàng bên suối”

Nếu xem kỹ bài hát “Mộng Dưới Hoa” ở cuối bài viết này, sẽ thấy đa số lời của bài “Mộng Dưới Hoa”, nghĩa là đoạn kết (đoạn thứ tư) và toàn bộ Lời 2, không có trong bài thơ nào cả của thi sĩ Đinh Hùng.

Tóm lại, “Mộng Dưới Hoa” là bài nhạc có lời với một phần gồm hai đoạn thơ từ bài thơ 7 chữ “Tự Tình Dưới Hoa”, một phần gồm một đoạn thơ từ bài thơ 6 chữ “Xuôi Dòng Mộng Ảo” và phần lớn không có xuất xứ rõ ràng.

Hầu như chắc chắn Đinh Hùng đã viết cái “phần lớn” đó sau khi Phạm Đình Chương đã viết nhạc vào thơ cho ba đoạn đầu của bài hát.

Ở cuối quyển “Mộng Dưới Hoa”, 20 Bài Thơ Phổ Nhạc của Phạm Đình Chương, có trích lời nhạc sĩ Vũ Thành : “Mộng Dưới Hoa” còn đáng được coi là một kỳ công vì phổ nhạc vào thơ Việt Nam là một việc cực khó… Làm theo thể mẫu hết sức cân đối mà vẫn giữ bằng trắc của từng chữ, ta phải ngả nón trước Phạm Đình Chương.”

Hãy xem thử một câu “Tâm tư khép mở đôi tà áo” đổi thành “Áo bay mở khép nghìn tâm sự”, thì sẽ thấy ngay là bài hát đâu có còn “vẫn giữ bằng trắc của từng chữ” nữa. Công bằng mà nói những chữ của thơ dùng vào bài nhạc đại đa số cũng vẫn giữ đúng vần bằng trắc của thơ thật nhưng không thể nói là “…từng chữ…”

Và có thể cố nhạc sĩ Vũ Thành, vì một lý do nào đó, tưởng lầm bài nhạc phẩm Mộng Dưới Hoa chỉ là nhạc phổ vào nguyên thủy của một bài thơ ?  Tuy nhiên, phải công nhận là Phạm Đình Chương viết nhạc rất khéo léo và lời viết của Đinh Hùng dù là thơ hay không thơ cũng rất… thơ.

Với tên tuổi lẫy lừng của thi và nhạc sĩ Đinh Hùng – Phạm Đình Chương, bài nhạc hay mà lại dễ hát đã thành trở thành một trong những bài nhạc có thể nói phổ thông nhất của Tình Ca Việt Nam.

MỘNG DƯỚI HOA

(nhạc Phạm Đình Chương – thơ/lời Đinh Hùng)

Chưa gặp em, tôi vẫn nghĩ rằng

Có nàng thiếu nữ đẹp như trăng

Mắt xanh lả bóng dừa hoang dại

Âu yếm nhìn tôi không nói năng

Ta gặp nhau yêu chẳng hạn kỳ

Mây ngàn gió núi đọng trên mi

Áo bay mở khép nghìn tâm sự

Hò hẹn lâu rồi em nói đi

Nếu bước chân ngàn có mỏi

Xin em dựa sát lòng anh

Ta đi vào tận rừng xanh

Vớt cánh rong vàng bên suối

Ôi hoa kề vai, hương ngát mái đầu

Đêm nào nghe bước mộng trôi mau

Gió ơi gởi gió lời tâm niệm.

Và nguyện muôn chiều ta có nhau

Lời 2:

Tôi cùng em, mơ những chốn nào

Ước nguyện chung giấc mộng trăng sao

Sánh vai một mái lầu phong nguyệt

Hoa bướm vì em nghiêng cánh chao

Hy vọng thơm như má chớm đào

Anh chờ em tới hẹn chiêm bao

Dưới hoa tưởng thấy ngàn sao rụng

Hoa lệ ân tình môi khát khao

Bước khẽ cho lòng nói nhỏ

Bao nhiêu mộng ước phù du

Ta say thành mộng nghìn thu

Núi biếc sông dài ghi nhớ

Ôi chưa gặp nhau như đã ước thề

Mây hồng giăng tám ngã sơn khê

Bóng hoa ngả xuống bàn tay mộng

Và mộng em cười như giấc mê

TỰ TÌNH DƯỚI HOA

(Thơ Đinh Hùng)

Chưa gặp em, tôi vẫn nghĩ rằng:

Có nàng thiếu nữ đẹp như trăng,

Mắt xanh lả bóng dừa hoang dại,

Thăm thẳm nhìn tôi, không nói năng

Bài thơ hạnh ngộ đã trao tay,

Ôi mộng nào hơn giấc mộng này

Mùi phấn em thơm mùi hạ cũ,

Nửa như hoài vọng, nửa như say

Em đến như mây, chẳng đợi kỳ

Thương hàng gió núi động hàng mi

Tâm tư khép mở đôi tà áo,

Hò hẹn lâu rồi — Em nói đi

Em muốn đôi ta mộng chốn nào

Ước nguyền đã có gác trăng sao

Chuyện tâm tình: dưới hoa thiên lý,

Còn lối bâng khuâng: ngõ trúc đào

Em chẳng tìm đâu cũng sẵn thơ,

Nắng trong hoa, với gió ven hồ

Dành riêng em đấỵ Khi tình tự,

Ta sẽ đi về những cảnh xưa

Rồi buổi u sầu, em với tôi

Nhìn nhau cũng đủ lãng quên đời

Vai kề một mái thơ phong nguyệt,

Hạnh phúc xa xa mỉm miệng cười

XUÔI DÒNG MộNG ẢO

Chim hồng về khu rừng cũ,

Xuân ấy hai lòng mới yêu .

Cùng hoa, bướm trắng sang nhiều,

Nắng thơm những chiều tình tự .

Xin em ngồi trên nhung cỏ,

Nghe suối ca vui nhịp nhàng.

Anh ru cho hồn em ngủ,

Bằng điệu ca sang dịu dàng.

Chim xanh về khu rừng cũ,

Hè tới, hai lòng còn yêu .

Cỏ thơm mọc đã cao nhiều,

Cành mộng bao nhiêu hoa đỏ!

Nếu bước chân ngà có mỏi,

xin em dựa sát lòng anh.

Ta đi vào tận rừng xanh,

Vớt cánh rong vàng bên suối.

Lá đỏ rơi trong rừng cũ,

Thu về, hai lòng còn yêu.

Đường tình trải một làn rêu,

Ngơ ngẩn hồn chiều tư lự.

Em có lên sườn núi biếc,

Nhặt cánh hoa mơ gài đầu.

Này đôi nai vàng xa nhau,

Có tiếng gọi sầu thảm thiết.

Chim buồn xa khu rừng cũ,

Đồi núi trập trùng cỏ rêu.

Hai lòng nay đã thôi yêu,

Có tiếng suối chiều nức nở.

Em không nghe mùa thu hết ?

Em không xem nắng thu tàn ?

Trời ơi! Giọt lệ này tan,

Là lúc linh hồn anh chết !

– Tiếng hát : Vũ Khanh :   https://youtu.be/j_V0OyLWtqk

– Tuần Ngọc : https://www.youtube.com/watch?v=S5e5mwDYvaU

Sang Huỳnh chuyển tiếp

CÀ PHÊ VĂN NGHỆ SÀI GÒN

CÀ PHÊ VĂN NGHỆ SÀI GÒN

Người Sài Gòn có thể uống cà phê bất cứ lúc nào trong ngày.

– Từ Kế Tường

Uống cà phê buổi sáng sớm theo thói quen ở quán cóc lề đường, bàn chuyện tào lao thế sự với bạn bè hay ngồi một mình ngắm phố phường trong sương sớm để thư giãn, chiêm nghiệm thế thái nhân tình hay hoài niệm những khảnh khắc vui buồn xảy ra trong đời mình.

Uống cà phê buổi trưa kết hợp với bữa ăn trưa để bàn công việc, sơ thảo nội dung một bản hợp đồng làm ăn, thậm chí tìm một góc tịnh tâm, trốn nắng, trú mưa trước khi trở về công ty, cơ quan làm việc buổi chiều.

Nhưng “cà phê văn nghệ” có mục đích hẳn hoi và dứt khoát chỉ vào buổi tối khi thành phố lên đèn. Đó là cơ cơ hội hẹn hò của thanh niên nam nữ yêu nhau tìm một nơi chốn lãng mạn, êm đềm để tâm sự, chia sẻ trong một không gian “văn nghệ” mà âm nhạc là đường dẫn tới sự thăng hoa của đôi tâm hồn. Không chỉ có không gian, mà thời cũng luôn song hành cho những phút giây lãng mạn ấy, đó là cảm giác chỉ riêng hai người giữa một đám đông đồng điệu. Chính vì nhu cầu ấy mà những quán cà phê văn nghệ ra đời.

Trước năm 1975 có một số quán cà phê văn nghệ “đình đám” ở Sài Gòn thu hút thanh niêm nam nữ, văn nghệ sĩ tới ngồi bên ly cà phê, thưởng thức văn nghệ với sân khấu nhỏ rất đơn sơ, chỉ là một bục gỗ cao cho ca sĩ đứng hát và người đệm đàn thùng, một chân cắm micro có dây, dàn âm ly và loa khuyếch đại âm thanh.

Những dụng cụ này đặt trong một ngôi quán bên đường khu trung tâm Q1, Q3…với vài chục cái bàn thấp, ghế ngồi chẳng cần trang trí, bày trí hoa hòe hoa sói gì nhiều, đã là một tụ điểm thu hút dân sành điệu tới một không gian cà phê văn nghệ rất lãng mạn, xôm tụ tạo một sinh hoạt rất riêng của Sài Gòn về đêm bên cạnh những nơi giải trí ồn ào khác như vũ trường, quán bar, nhà hàng ăn nhậu mọc ra như nấm ở Sài Gòn thủa ấy.

Quán cà phê “Thằng Bờm”, nằm ở góc đường Nguyễn Thái Học- Phạm Ngũ Lão Q1 của nhóm sinh viên Luật khoa, được coi là quán cà phê văn nghệ dành cho giới sinh viên học sinh, có lẽ là tiền thân của sân khấu “hát với nhau” sau năm 1975. Bởi ngoài các ca sĩ được tăng cường và hai buổi tối cuối tuần thứ bảy – chủ nhật thì ngày thường người tới uống cà phê cao hứng có thể lên hát, chỉ cần viết một mảnh giấy đăng ký bài hát và họ tên đưa cho chủ quán rồi ngồi chờ tới lượt mình được giới thiệu lên “sân khấu”, không hát thì đọc thơ, tự đêm đàn hay nhờ “nhạc sĩ” của quán đệm đàn. Quán “Thằng Bờm” rất nổi tiếng, tồn tại một thời gian khá dài.

Quán cà phê “Hầm gió” nằm trên đường Võ Tánh (Nguyễn Trãi bây giờ) cũng thuộc Q1. Quán này của nhóm nhạc trẻ Nam Lộc – Trường Kỳ, bề thế, đẹp hơn quán “Thằng Bờm” rất nhiều. Gọi là “Hầm Gió” vì quán là một cái hầm, không gian khá rộng, chứa được gần 100 người.

Do ở đây văn nghệ mang tính chuyên nghiệp hơn, thường xuyên có các ca sĩ, nhạc sĩ nổi tiếng tới trình diễn, sân khấu cũng “hoành tráng” nên “Hầm Gió”  dịp cuối tuần rất đông khách.

Những cặp đôi ca sĩ-nhạc sĩ của Sài Gòn thời đó bắt đầu nổi lên cũng từ quán cà phê “Hầm Gió”, lúc đó ca sĩ Thanh Lan còn rất trẻ, vừa đi học trường Tây vừa đi hát, cùng với nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng thành một cặp đôi rất được giới trẻ hâm mộ, thường xuyên xuất hiện ở “Hầm Gió”. Thanh Lan lên sân khấu với bộ áo dài lụa màu trắng hay màu vàng nhạt, vẫn còn nhí nhảnh và hồn nhiên bên cạnh Trầm Tử Thiêng rất “bụi”.

Quán “Cây Tre” của ca sĩ Khánh Ly nằm trên đường Đinh Tiên Hoàng, bên trong con hẻm nhỏ, kế bên sân vận động Hoa Lư cũng thuộc Q1, một thời cũng rất nổi tiếng. Ngoài ca sĩ Khánh Ly, Ngọc Minh (em gái của Khánh Ly), còn xuất hiện nhiều cặp đôi đình đám bấy giờ như Lê Uyên – Phương, Từ Dung – Từ Công Phụng.

Nhưng đặc biệt, một quán cà phê ghi đậm dấu ấn một thời cà phê văn nghệ Sài Gòn có lẽ là “Hội quán Văn”, gọi tắt là cà phê Văn, của nhóm sinh viên đại học Văn Khoa, nằm phía sau trường, trên khoảng đất trống khá rộng ở góc đường Công Lý (Nam Kỳ Khởi Nghĩa bây giờ) – Lê Thánh Tôn Q1. Quán thì rất sơ sài, chỉ là một gian nhà trống, mái tôn, vách cót ép,  bàn thấp, ghế thấp. Nhưng mỗi đêm có hàng trăm thanh niên sinh viên học sinh, văn nghệ sĩ tới uống cà phê, thưởng thức văn nghệ “ngoài trời”.

Chính ở quán cà phê Văn, ca sĩ Khánh Ly từ Đà Lạt xuống kết hợp với Trịnh Công Sơn thành một “cặp đôi hoàn hảo”, đình đảm, tạo thành những đêm nhạc tình ca, phản chiến khuấy động Sài Gòn và từ đó Khánh Ly nổi danh với danh hiệu “ca sĩ chân đất” bởi khi hát với Trịnh Công sơn trên bục gỗ sân khấu ngoài trời quán Văn, có lúc cao hứng Khánh Ly đã lột cả dép đi chân trần trên cỏ. Và ca khúc tạo dấu ấn lúc bấy giờ của Khánh Ly là “Ca khúc da vàng”, “Diễm xưa”, “Hạ trắng”…

Sau năm 1975, một thời gian khá dài, người Sài Gòn cũng trở lại với thói quen uống cà phê cóc mà mở đầu rất sớm là khu vực cà phê cóc hồ Con Rùa Q1. Khu vực này một thời sau năm 1975 có thể nói là khu vực cà phê cóc văn nghệ Sài Gòn vì một số văn nghệ sĩ ra đây mở quán cà phê vỉa hè, sáng mở, chiều tối dọn, chỉ một xe đẩy nhỏ dựng ly tách, bình thủy, vài cái bàn, chục cái ghế, cây đàn thùng…là thành một quán cà phê. Khách tới uống thoải mái, có khi ngồi đồng từ sáng trới trưa, từ trưa tới chiều, bày bàn nhậu tới khuya, đàn hát, ngâm thơ đập bồn, đập bát tới mệt xỉu mới tan hàng.

Sau đó, Sài Gòn nở rộ phong trào mở quán cà phê văn nghệ có sân khấu ca nhạc hằng đêm và tăng cường ca sĩ, tấu hài mỗi tối cuối tuần. Quán cà phê Champa nằm trên đường Nguyễn Thông Q3 là một điển hình, quán rất nổi tiếng và một loạt ca sĩ trẻ, nhóm tấu hài thành danh từ đây. Sau đó tới một loạt các phòng trà như Đồng Dao, Tiếng Tơ Đồng, Thế Kỷ và phòng trà trên lầu cà phê Broda, rồi Phiêu Linh  ở góc đường Lê Thánh Tôn – Nguyễn Huệ Q1 hoạt động hàng đêm rất nhộn nhịp.

Nhưng dấu ấn quán “cà phê văn nghệ Sài Gòn” mang hơi hướng của những “Văn, Thằng Bờm, hầm Gió” sau năm 1975 có lẽ cà phê Văn Nghệ nằm trên đường Lam Sơn quận Bình Thạnh. Ở đây cũng có những ca sĩ, nóm nhạc nổi lên như : Vinh Hiển, nhóm tam ca Áo Trắng, Ba thế hệ… Và có lẽ còn cái chất cà phê văn nghệ Sài Gòn nhất, dù đã được “nâng cấp” bằng tên gọi phòng trà là cà phê Ân Nam nằm trên đường Trương Định Q1 của ca sĩ Lan Ngọc  hiện vẫn còn hoạt động. Nó cũng là một cái hầm, giống như “Hầm Gió” của Nam Lộc – Trường Kỳ ngày xưa. Chương trình ca nhạc ở đây khá chọn lọc, thu hút giới trung niên muốn tìm lại dư âm của một thời “cà phê văn nghệ Sài Gòn” đã mất. (theo Từ Kế Tường)

Lan Hương chuyển tiếp

NHỚ ĐÔI NGHỄ SĨ TÀI DANH

VIỆT HÙNG – NGỌC NUÔI

– Soạn giả Nguyễn Phương

Trong những thập niên 50, 60, 70 của thế kỷ trước, đôi nghệ sĩ uyên ương Việt Hùng – Ngọc Nuôi lừng danh trong hàng ngũ những ngôi sao sân khấu cải lương. Theo dõi cuộc đời nghệ thuật của Việt Hùng – Ngọc Nuôi, chúng ta có thể phát hiện được những bước thăng trầm của sân khấu cải lương trong 3 thập niên từ 50 đến 70, và ta cũng biết những hoạt động nghệ thuật rất tích cực của giới nghệ sĩ cải lương trong thời điểm vàng son đó.

Anh Việt Hùng tên thật là Nguyễn Hữu Hùng, sanh năm 1923 tại Huế. Anh vào Sàigòn lập nghiệp, làm công chức ở Tòa Hành Chánh Gia Định năm 1946. Anh có giọng ca tốt, là ca sĩ tân nhạc hợp tác với nhạc sĩ Mạnh Phát và các nữ ca sĩ Minh Diệu, Minh Trang, Kim Tước trong Ban Tân nhạc Mạnh Phát trên Đài Phát Thanh Pháp Á.

Thời gian này anh làm quen với ca sĩ cổ nhạc Thành Công, trưởng Ban cổ nhạc, nên anh được ca sĩ Thành Công với các nhạc sĩ Bảy Quới, Hai Khuê, và Tư Hiệu dạy ca nhiều bài bản cổ nhạc. Trong hai năm 1947 – 1948, Việt Hùng nổi danh ca sĩ tân lẫn cổ nhạc, cùng thời với các danh ca làng dĩa nhựa và đài Phát Thanh như các ca sĩ Chín Sớm, Chiêu Anh, Thành Công, Sáu Thoàng, cô Ngọc Ánh, Cô Năm Cần Thơ.

Người vợ thứ nhứt của anh Việt Hùng là một nữ y tá trẻ đẹp của nhà thương Đồn Đất Sài gòn (nhà thương Grall) ở với anh có được một con trai. Người con trai đó hiện giờ định cư tại Nam Cali.

Bước ngoặc định mệnh: bỏ nhiệm sở, bỏ gia đình vì mê đào hát !

Năm 1948, gánh hát Thỉ Phát Huê về hát ở rạp Thành Xương (tức rạp chiếu bóng Diên Hồng xưa, ở góc Yersin – Phạm Ngũ Lão , Q1). Hai cô đào xuân sắc nhứt của gánh hát là cô Kim Nên (thân mẫu của ca sĩ tân nhạc Thái Châu) và cô Ngọc Nuôi, cả hai cô đều ca hay, đẹp sắc sảo, được nhiều khán giả ái mộ nên gánh hát Thỉ Phát Huê, đêm hát nào, khán giả cũng vào xem nghẹt rạp.

Kim Nên là em ruột của cô Năm Cần Thơ nên cô Năm Cần Thơ đưa các bạn ca sĩ cùng làm chung ở Đài Phát Thanh Pháp Á đến xem hát. Dịp này, ca sĩ Chiêu Anh si mê đào Kim Nên, ca sĩ Việt Hùng si mê đào Ngọc Nuôi. Khi gánh hát Thỉ Phát Huê hết hát ở rạp Thành Xương, dọn đi hát ở các tỉnh miền Tây thì Việt Hùng bỏ sở làm ở Tòa Hành Chánh Gia Định, Chiêu Anh nguyên là phát thanh viên của Đài Pháp Á, cũng bỏ sở làm.

Hai anh theo gánh Thỉ Phát Huê để học làm kép hát, hai anh bị “tiếng sét ái tình” làm cho mê man đầu óc, dám bỏ tất cả để bắt đầu làm một cuộc đời mới. Kết quả là Kim Nên sánh duyên cùng ca sĩ Chiêu Anh. Chiêu Anh không trở thành kép hát được mặc dù anh cao ráo, đẹp trai. Anh trở thành soạn giả, viết nhiều bài ca cổ nhạc cho Đài Phát Thanh Quốc Gia và Đài Phát Á. Anh cũng viết vọng cổ thu dĩa cho các hãng dĩa Pathé, Asia, Hoành Sơn…

Việt Hùng thành hôn với Ngọc Nuôi, anh trở thành kép chánh của đoàn hát Thỉ Phát Huê. Sau đó, Việt Hùng và Ngọc Nuôi về hát cho đoàn Tân Thiếu Niên. Việt Hùng và Ngọc Nuôi tuy là đào kép chánh của hai gánh Thỉ Phát Huê và Tân Thiếu Niên nhưng chưa thật sự nổi tiếng. Báo chí thời đó chưa có trang kịch trường để quảng cáo, lăng xê đào kép. Hai đoàn hát đó là trung ban, hát lưu diễn ở các tỉnh nhỏ nhiều hơn là hát ở Sàigòn, vì vậy khán giả ít biết đến tên tuổi của diễn viên.

Sáng chói trên sân khấu Hoa Sen

Nghệ sĩ Bảy Cao thành lập đoàn hát Hoa Sen năm 1952 với thành phần diễn viên, bên nam, có Bảy Cao, Việt Hùng, Bửu Tài, Ba Khuê, Ba Túy… dàn đào có các cô Kim Luông, Ngọc Nuôi, Ái Hữu, Cẩm Vân, Lệ Út. . . Đoàn Hoa Sen ăn khách nhờ mấy tuồng chiến tranh : Đoàn Chim Sắt, Nợ Núi Sông, Mộng Hòa Bình, Vàng Rơi Sông Lệ, Chiếc Áo Mùa Đông…

Việt Hùng cao lớn, lực lưỡng nên khi thủ vai sĩ quan trên chiến trường máu lửa thì trông rất oai phong. Tiếng hát của anh, khi nói lối hay đối thoại thì hơi nhừa nhựa, nhưng lại phù hợp với những vai sĩ quan tình báo, nói năng có vẻ bí mật, hăm dọa đối phương. Anh ca vọng cổ, tiếng rất khỏe, tiếng ngân ơ. . .ơ. . . cuối câu, được anh ngân đổ hột, khán giả thích thú khi khám phá ra một lối “ca nói”, khác hẳn các lối ca với giọng ngọt mùi của Bảy Cao, Năm Nghĩa.

Ngọc Nuôi ca rất lớn tiếng, nghe ngọt lịm. Cô vô xàng xê nghe hấp dẫn không thua gì vua xàng xê Minh Chí.

Ngọc Nuôi ca bài bản nào cũng hay, sắc vóc Ngọc Nuôi rất đẹp khi cô mặc bộ quân phục trong tuồng chiến tranh. Khi mặc y phục thường, bộ bà ba, chiếc áo dài hay bộ đồ đầm, Ngọc Nuôi thể hiện một thiếu nữ kiều diễm, duyên dáng. Sắc đẹp, giọng ca ngâm, lối diễn xuất tế nhị, là những tài sản trời cho, Ngọc Nuôi sáng chói trên sân khấu Hoa Sen, dù những giọng ca vàng của các cô đào Kim Luông, Lệ Út, Ái Hữu, vẫn không làm sao làm lu mờ hào quang rực rỡ của Ngọc Nuôi.

Năm 1954, vừa dứt chiến tranh Việt Pháp, dân chúng làm ăn phát đạt, nên có nhiều gánh hát mới được thành lập để đáp lại nhu cầu giải trí của dân Sài gòn và lục tỉnh. Vì nhiều đoàn hát mới thành lập nên có tình trạng “mua đào, bán kép”. Bầu Sinh, môn đệ của soạn giả Mộng Vân (đồng môn với Bảy Cao và Năm Nghĩa), lập gánh hát Hương Hoa, mời Việt Hùng – Ngọc Nuôi về hát với số tiền contrat bạc triệu, lương lớn gấp đôi số lương cũ ở đoàn Hoa Sen.

Về hát cho gánh Hương Hoa, Việt Hùng – Ngọc Nuôi cũng hát những tuồng chiến tranh : Khúc Nhạc Ly Hương, Việt Kiều Trên Đất Khách. Cả hai đóng vai chánh, Việt Hùng hào hoa phong nhã trong bộ quân phục sĩ quan, Ngọc Nuôi rất sang, rất đẹp trong vai cô nữ tình báo của địch quân. Tuy tuồng cũ, nhân vật không có gì mới, nhưng khán giả dễ dãi, xem hát mua vui nên các gánh hát lúc nào cũng bán hết vé.

Bắt đầu một thời hoàng kim, các nghệ sĩ đua nhau sắm xe hơi. Việt Hùng – Ngọc Nuôi cũng không ngoại lệ, mua nhà mới, sắm xe hơi mới. Vậy là chấm dứt cái thời đào kép hát phải “ăn quán, ngủ đình”!

Bà Ba Khan, người chủ nợ của Bầu Sinh và là chị ruột của hai diễn viên trẻ: Hương Sắc và Hương Huyền muốn tạo cơ hội cho hai em của mình thăng tiến trên con đường nghệ thuật nên xuất vốn lập ra gánh hát lấy bảng hiệu là gánh Việt Hùng – Minh Chí. Tất nhiên là Việt Hùng – Ngọc Nuôi ký hợp đồng mới, với số tiền lớn hơn, lương cao hơn, nhiều điều kiện phụ hấp dẩn hơn để rồi bỏ Bầu Sinh của gánh Hương Hoa, về làm chủ (trên danh nghĩa thôi) gánh Việt Hùng – Minh Chí.

Gánh hát Việt Hùng – Minh Chí bỏ tuồng chiến tranh, hát những vở tuồng của các soạn giả thế hệ thứ hai trong làng soạn kịch là Mộc Linh, Lê Khanh. Tuồng khai trương của gánh Việt Hùng – Minh Chí là vở tình sử Việt Nam “Đường lên xứ Thái” của soạn giả Mộc Linh. Lời văn chải chuốt, cốt truyện trữ tình, một thể loại sân khấu thi, ca, vũ, nhạc, mới lạ nên sức thu hút khán giả rất mãnh liệt.

Việt Hùng trong vai người chiến sĩ Việt Nam, bị thương, đi lạc trong khu rừng già của xứ Thái, được một sơn nữ (do Ngọc Nuôi thủ diễn) cứu, trị thương. Mối tình giữa người Kinh và người sơn nữ thơ mộng, đẹp tình, đẹp ý, gợi lại những cuộc tình dang dở trong chiến tranh, đã làm rơi lệ biết bao khán giả. Việt Hùng và Ngọc Nuôi sáng chói nhờ tài ca, diễn thật hay, lột tả được tính cách nhân vật một cách sâu sắc. Ngọc Nuôi còn có cơ hội thi triển làn hơi phong phú, ngọt ngào của cô qua các lối ngâm thơ mới, các bài Sương Chiều, Tú Anh, là những bài mà người có hơi trong, ngọt, mặc tình uốn lượn, luyến láy để dẫn dắt cảm quan của người nghe. Vở thứ hai ghi đậm sự thành công của Việt Hùng – Ngọc Nuôi về diễn các thể loại dã sử, cổ tích Việt Nam là vở “Người Đẹp Bán Tơ “của thi sĩ Kiên Giang Hà Huy Hà.

Nhiều đoạn thơ hay của Kiên Giang được giọng ngâm thơ mượt mà, êm như nhung, như gấm của Ngọc Nuôi, làm tăng thêm giá trị vở tuồng và tăng thêm sức thu hút khán giả, đồng thời làm tăng thêm hào quang đã sẵn sáng chói của Ngọc Nuôi. Đáng lẽ ra gánh hát Việt Hùng – Minh Chí có thể vững vàng và phát triển thêm ở cái cương vị một Đại Ban, vì khán giả rất đông, tuồng tích hay, đào kép đẹp, ca, ngâm, diễn xuất rất hấp dẫn, nhưng chỉ hai năm sau từ ngày thành lập, gánh Việt Hùng – Minh Chí phải tan rã! Nghệ sĩ Minh Chí tách riêng ra lập gánh hát Minh Chí. Việt Hùng Ngọc Nuôi gia nhập đoàn hát Thanh Minh của bầu Năm Nghĩa.

Vai tuồng để đời của Việt Hùng – Ngọc Nuôi

Tôi (Nguyễn Phương) có cộng tác chung với anh Việt Hùng và Ngọc Nuôi trong Đoàn Thanh Minh, rồi Thanh Minh Thanh Nga trong nhiều năm, tôi biết anh Việt Hùng có nhiều vai hát rất hay, được khán giả và báo chí ngợi khen, nhưng chỉ có vai hát Cậu Ấm Thân trong tuồng Đoạn Tuyệt của Duy Lân là anh được coi như đó là vai hát để đời của anh.

Trong thập niên 1955 đến năm 1965, Đoàn Thanh Minh Thanh Nga được kể là một đoàn hát mạnh nhứt vì đoàn tập trung được những diễn viên thượng thặng của sân khấu cải lương, đoàn cũng có nhiều soạn giả thường trực nên có nhiều tuồng hay tích lạ.

Về diễn viên tài ba, bên kép có Út Trà Ôn, Hữu Phước, Thành Được,Việt Hùng, Hoàng Giang, Văn Ngà, Ba Xây, Minh Tấn, Minh Điển, Vinh Sang, Hề Châu Hí, Hề Kim Quang, Hề Núi, và có anh Năm Châu, chị Kim Cúc, Ba Vân, Phùng Há, Năm Sadec về cộng tác với Đoàn trong vài năm. Về phía đào, có Út Bạch Lan, Ngọc Nuôi, Thu Ba, Ngọc Giàu, Kim Giác, Thanh Nga, Hoàng Vân, Thanh Hiền, Thanh Lệ, Ngọc Chúng…

Giữa những diễn viên mà tên tuổi lẫy lừng như kể trên, Việt Hùng – Ngọc Nuôi phải có tài nghệ khác thường mới đứng vững nổi trong Đoàn. Anh Việt Hùng nhờ sắc vóc cao lớn, vẻ hào hoa phong nhã nên thành công dể dàng qua các vai dũng sĩ tuồng dã sử như Biên Thùy Nổi Sóng, Tình Tráng Sĩ, Người Về Từ Cửa Biển, Nẻo Tắt Hoành Sơn, Áo gấm khôi Nguyên… Ngọc Nuôi sáng, đẹp, đua tài khoe sắc với các nữ diễn viên như nữ hoàng sân khấu Thanh Nga, sầu nữ Út Bạch Lan, Thu Ba hay giọng ca vàng Ngọc Giàu.

Đoàn Thanh Minh Thanh Nga diễn những vở ca kịch xã hội thì Việt Hùng xuất sắc qua vai chú ba Tài Xế, chồng của chị hai Bếp (Ngọc Nuôi) mẹ của Thanh (Thanh Nga) trong tuồng Con Gái Chị Hằng, Ngọc Nuôi thành công qua các vai mẹ trong các tuồng Tấm Lòng của Biển, Bóng Chim Tăm Cá, Bọt Biển, Con Gái Chị Hằng, Chén trà của quỷ, Bên Cầu đệt lụa…

Nhưng vai hát để đời của Việt Hùng – Ngọc Nuôi lại hoàn toàn trái với hình tượng mà lâu nay khán giả nghĩ về hai tài danh sân khấu này, đó là vai Thân và vai Bích trong tuồng Đoạn Tuyệt.

Việt Hùng thường đóng vai tráng sĩ, dũng tướng, kép đẹp trai thì nay vào vai Thân, một cậu ấm ngốc nghếch, ngu si, sợ vợ. Vai Thân diễn xuất đi đứng chậm chạm, nói năng nhừa nhựa, không dám nhìn thẳng vào mặt Loan, dù Loan rất dịu hiền. Thật là lối diễn hoàn toàn khác với cung cách xưa nay của Việt Hùng, không ngờ cách ca diễn như vậy lại đạt được sự thành công quá sức tưởng tượng. Nhờ cách diễn đó mà tăng thêm phần quái ác của bà mẹ chồng, bà Phán Lợi (do bà Năm Sadec diễn) và cô em chồng đanh đá Bích (do Ngọc Nuôi diễn). Trong dàn bao của ba tài danh Việt Hùng (Thân), Ngọc Nuôi (Bích) Bà Năm Sadec (Mẹ chồng) Thanh Nga (trong vai Loan) diễn xuất thương cảm nhất, sáng chói nhất trong loại hình sân khấu xã hội Việt Nam trong những thập niên 1960, 1970.

Ngọc Nuôi trong những thập niên này, nổi danh qua các vai Mẹ Hiền (Con Gái Chị Hằng, Tấm Lòng Của Biển , Bọt Biển,… ) vụt sáng chói qua vai Bích, đứa em chồng đanh đá. Điều đó khẳng định là tuổi tác của diễn viên không mấy ảnh hưởng tới vai diễn. Tới tuổi gần năm mươi, Ngọc Nuôi vẫn thành công dễ dàng trong một vai tuồng của cô gái 18 tuổi.

Khi sân khấu đổi màu

Khi biến cố 1975 xảy ra, Việt Hùng cùng ba con : Ngọc Quý, Tài và Xinh trong Ban nhạc Crazy Dogs biểu diễn trong một Club Mỹ trong sân bay Tân Sơn Nhứt, được phi cơ Mỹ bốc đi di tản ngay. Anh không thể về đón Ngọc Nuôi và ba con còn ở lại là nữ ca sĩ tài danh Ngọc Bích, Năng và một người con trai nữa, tôi bỗng quên tên.

Đến Hoa Kỳ, Việt Hùng nghĩ ngay tới việc hoạt động trở lại của ngành sân khấu cải lương ở hải ngoại. Anh cùng nhạc sĩ Tám Trí chủ trương chương trình Thanh âm trìu mến trên đài Little Saigon, đào tạo các thế hệ diễn viên trẻ: Thu Hồng, Vương Kiệt, Thanh Huyền.

Khi các diễn viên cải lương Kim Tuyến, Ngọc Đan Thanh, Linh Tuấn. Hương Huyền, Thành Được, Dũng Thanh Lâm vượt biên sang tới Mỹ thì chính anh Việt Hùng và các nhạc sĩ Chí Tâm, Văn Hoàng, Tám Trí làm chất keo, gắn những người yêu nghề, cùng số phận, dưới ánh đèn sân khấu cải lương hải ngoại. Anh Việt Hùng đã thực hiện được những băng vidéo cải lương Tiếng Hạc Trong Trăng, Nửa Đời Hương Phấn, Lan và Điệp.

Anh cũng có mặt trong các cuộc hội họp có đông người Việt định cư ở Hải ngoại để ca vọng cổ, hát cải lương. Anh đã cùng Trần Văn Trạch đến hát giúp vui cho đồng bào trong trại tỵ nạn tại Palavan.

Ngày 27 tháng 7 năm 2001, lễ kỷ niệm Việt Hùng 80 tuổi đời, 60 năm tuổi nghề, tôi từ Montréal qua dự, tôi có quay đoạn phim Việt Hùng phát biểu và ca hai câu vọng cổ. Tiếng vẫn còn sang sảng, làn hơi vọng cổ vẫn còn âm hưởng của những ngày trong tuổi thanh xuân. Vậy mà đến ngày 31 tháng 12 năm 2001, Việt Hùng từ giã cõi đời đau khổ này để về Thiên Trúc với pháp danh là Minh Chánh.

Ngọc Nuôi sau 1975, hát trên sân khấu Thanh Nga, cũng các vai cũ trong Tấm Lòng Của Biển, Bên Cầu Dệt Lụa và vào vai nữ tướng Lê Chân trong tuồng Tiếng Trống Mê Linh rồi từ giã ánh đèn sân khấu, chờ Việt Hùng và các con làm giấy bảo lãnh đi sum họp gia đình theo diện ODP. Thời gian này nhờ danh ca Ngọc Bích (con gái đầu lòng) nổi danh trong nhiều chương trình ca nhạc nên Ngọc Nuôi và gia đình còn ở lại Việt Nam sống cũng khá sung túc.

Việt Hùng khi qua Mỹ, ngày trở về quê hương xa lắc xa lơ, ngày sum họp vợ con ở Việt Nam cũng mù mờ không biết đến bao giờ mới được, nên bước thêm một bước nữa với bà Gia Mỹ, người vợ chót của anh.

Ngọc Nuôi được bảo lãnh qua Mỹ thì Việt Hùng đã sang thuyền khác, Ngọc Nuôi bơ vơ. Đôi uyên ương sân khấu đã lẻ bạn vì thời cuộc, tan vỡ vì nghịch cảnh. Đau lòng cho người trong cuộc mà cũng đau lòng cho những bạn bè đã yêu thương họ..

Ngọc Nuôi mất ngày 23 tháng 9 năm 2002, gần một năm sau khi Việt Hùng ra đi vĩnh viễn. Không biết Ngọc Nuôi có rượt đuổi theo kịp Việt Hùng để gặp lại nhau, nối tiếp cuộc tình dang dở bên kia thế giới hay vẫn chịu cảnh trễ đò, trễ xe như ở kiếp này trên chốn dương trần.

Là người bạn lâu năm của anh Việt Hùng và Ngọc Nuôi trên sân khấu Thanh Minh Thanh Nga, tôi van vái Phật Trời cho hai anh chị gặp lại nhau, yêu nhau và làm thành một đôi vợ chồng hạnh phúc trên chốn Thiên Đình. Tôi tin Việt Hùng, Ngọc Nuôi, Út Trà Ôn, Kim Quang sẽ gặp lại Thanh Nga và Năm Nghĩa, Bà Bầu Thơ họp lại nhau, lập gánh hát Thanh Nga trên chốn Thiên Đình, hát cải lương cho Ngọc Hoàng Thượng Đế và chư tiên xem. Thương nhớ Việt Hùng và Ngọc Nuôi.  (Soạn giả Nguyễn Phương)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

SỐ PHẬN CÁC CON LÝ TIỂU LONG

SỐ PHẬN CÁC CON

CỦA LÝ TIỂU LONG

Cái chết uất ức và cuộc đời sóng gió của Lý Quốc Hào

Báo chí Hoa ngữ từng tốn không biết bao nhiêu giấy mực khi viết về cuộc đời, sự nghiệp của ngôi sao tài năng, bạc mệnh Lý Tiểu Long. Câu chuyện cuộc đời vợ con anh cũng không nằm ngoài sự chú ý này. Trang Daily Hồng Kông từng thu hút sự chú ý từ dư luận khi đăng tải nhiều thông tin đáng quan tâm quanh chủ đề này, trong đó giới thiệu :

“Tiểu Long quen biết Linda Lee Cadwell khi cô còn đang là nữ sinh trung học, còn ngôi sao họ Lý là thầy giáo dạy võ thuật. Mối quan hệ thầy trò nhanh chóng nảy nở thành tình yêu, và năm 1963, hai người chính thức hẹn hò”. 

Năm 1964, Lý Tiểu Long và Linda kết hôn.Thời điểm bước vào cuộc sống hôn nhân, cô gái người Anh mới chỉ tròn 19 tuổi. Cặp đôi sống tại Washington và có hai con : Brandon Lee (Lý Quốc Hào )và Shannon Lee (Lý Hương Ngưng). Suốt gần 10 năm sau đó, Linda trở thành người phụ nữ của gia đình, từng bước chăm chút hậu phương cho chồng, trong khi Tiểu Long thành danh trên con đường sự nghiệp.

Vợ đẹp, con ngoan, bản thân lại là người nổi tiếng, giàu có và được khán giả khắp thế giới hâm mộ, cuộc đời Lý Tiểu Long những tưởng đã hoàn mỹ.Thế nhưng, có lẽ ông trời đúng là không cho ai có tất cả. Sau khi siêu sao võ thuật qua đời vào năm 1973, hưởng dương 32 tuổi cũng là lúc sóng gió bất ngờ ập đến với gia đình, vợ con anh.

Con trai Lý Quốc Hào : Ám ảnh về cái chết của cha suốt thời niên thiếu rồi qua đời uất ức bởi một tai nạn hi hữu.  

Lý Quốc Hào sinh năm 1965, là con trai cả của Lý Tiểu Long. Có người cha cực kì nổi tiếng và giỏi võ, không lạ lùng gì khi chỉ mới chập chững tập đi, Lý Quốc Hào đã bắt chước những động tác đánh đấm của cha. Năm 2 tuổi, cậu bé đã bắt đầu được học các chiêu thức võ thuật đơn giản và nhanh chóng bộc lộ năng khiếu thiên bẩm được kì vọng sẽ chẳng thua kém người cha tài năng. Lý Quốc Hào từng tâm sự : “Cha dạy võ từ năm tôi 2 tuổi. Trong mắt tôi, cha là một anh hùng”.

Cha là siêu sao võ thuật với nhiều mối quan hệ với những tên tuổi lớn nên từ thời còn “tay bồng tay bế”, cậu bé đã được tiếp xúc với nhiều huyền thoại khác, trong đó có võ sư Diệp Vấn.

Phát huy tài năng võ thuật, cậu bé họ Lý tiếp tục “hô mưa gọi gió” ở trường học bởi bản tính hiếu thắng, ngông cuồng của mình. Bà Linda – mẹ cậu không biết phải bao nhiêu lần lên tận trường xin lỗi thầy cô và cha mẹ các bé khác nếu chẳng may bị cậu con tung quyền cước đánh đập, bắt nạt.

Lên tiểu học, người ta cũng thấy tên Lý Quốc Hào là đã chạy xa bởi trước đó, danh tiếng chuyển trường tận 3 lần chỉ bởi những lời phê “ngỗ ngược, quậy phá, vô lễ” của cậu đã lừng danh khắp nơi.

Việc Lý Tiểu Long dạy võ cho Lý Quốc Hào quá sớm cũng là một trong những nguyên nhân góp phần khiến cậu bé trở nên nghịch ngợm và hiếu chiến. Không chỉ vợ mà ngay cả Lý Tiểu Long cũng chẳng biết bao nhiêu lần phải xấu hổ vì cậu con trai cưng. Vì lẽ đó mà anh quyết định sẽ không tiếp tục dạy võ cho cậu nữa mà chỉ tập cho cậu một số chiêu cơ bản để tự vệ.

Mặc dù vậy, Lý Quốc Hào vẫn chẳng hề có ý sửa đổi, thích phản kháng và không vâng lời. Nhiều người nói rằng đó chính là gen di truyền từ Lý Tiểu Long bởi trước đó ông cũng khiến cha Lý Hải Tuyền bao phen vất vả.

Đến năm lên 5 tuổi, Quốc Hào đã được cha mẹ đưa về Hồng Kông. Từ đây, sau những lần xuất hiện trên phim trường, cậu có cơ hội cùng cha tham gia một số bộ phim võ thuật và khiến công chúng ngạc nhiên vì khả năng tung quyền xuất chúng. Từ đó, cả hai cha con đều nổi đình nổi đám và thu hút được nhiều người hâm mộ yêu mến.

Cuộc sống yên bình được vây bởi ánh hào quang của Lý Quốc Hào chỉ tồn tại rất ngắn ngủi. Cái chết bất ngờ của Lý Tiểu Long vào năm 1973 đã khiến cậu con trai vấp phải một cú sốc lớn, dẫn đến tổn thương tâm lí, luôn ám ảnh cậu mãi về sau. Vì sợ cậu con trai duy nhất đi vào vết xe đổ của cha nên bà Linda kiên quyết ngăn cản chuyện học võ.

Thế nhưng bỏ ngoài tai lời khuyên của mẹ, Quốc Hào vẫn tích cực luyện tập và nhanh chóng sở hữu võ công đáng nể. Cậu dù bị ám ảnh bởi cái chết của bố, sốc trầm trọng một thời gian nhưng lại không thể thoát khỏi sự ngưỡng mộ về bố, một con người vĩ đại nhường ấy nên kiên quyết học võ đến cùng.

Người ta nhìn từng động tác, các pha hành động trong phim hay cả bên ngoài đều có chung ý tưởng liên hệ đến Lý Tiểu Long, nhất là thần thái, cách ra đòn và cước bộ điềm tĩnh, vững vàng. Sau này, Lý Quốc Hào cũng tham gia đóng phim và được kì vọng sẽ trở thành một ngôi sao lớn của dòng phim võ thuật như bố. Những tác phẩm điện ảnh đánh dấu tên tuổi và sự nghiệp của Quốc Hào có thể kể đến như Kungfu the Movie, Logacy of Range (1986), Show Down in Lettle Tokyo (1991), Rapid Fire (1992).

Năm 1993, Lý Quốc Hào tham gia bộ phim The Crow, khởi quay tại Wilmington, Bắc California và bị một viên đạn thật bắn trúng người. 12 tiếng sau, các bác sĩ tuyên bố anh tử vong ở tuổi 28. Tai nạn được cho là cực kì hi hữu khi nó được gây ra bởi một khẩu súng đạo cụ. Chẳng biết vì nguyên do gì mà trong nòng súng lại bị lắp đạn thật, khiến Lý Quốc Hào qua đời đầy uất ức trên phim trường.

Con gái Lý Hương Ngưng: Thần đồng âm nhạc quyết tâm từ bỏ đàn ca để nối tiếp sự nghiệp võ thuật dang dở của cha và anh trai.

Khi Lý Tiểu Long đột ngột qua đời tại Hồng Kông vào ngày 20/7/1973, Lý Hương Ngưng (Shannon Lee) mới 4 tuổi nên chưa cảm nhận được sự mất mát nhưng bắt đầu hiểu cuộc sống của mình đã thay đổi. Trong khi anh trai Lý Quốc Hào mải mê với những thế võ thì cô bé Lý Hương Ngưng dành trọn niềm đam mê của mình cho ca hát.

Năm 1976, bà Linda – vợ Lý Tiểu Long tái hôn với nhà văn nổi tiếng Tom Bleecker. Đi bước nữa sau khi Lý Tiểu Long mất chưa đầy 3 năm là quyết định mang tính hi sinh của bà Linda vì muốn 2 đứa con bé bỏng có một gia đình hoàn chỉnh.

Thế nhưng, mong ước của người mẹ đau khổ không được như ý, 2 năm sau, hôn nhân đổ vỡ, 3 mẹ con dắt nhau rời khỏi ngôi nhà cha dượng. Chính biến cố ấy đã khiến Lý Hương Ngưng trở nên mạnh mẽ và trưởng thành hơn lứa tuổi của mình.

Hai năm sau khi anh trai nổi lên từ bộ phim Kungfu The Movie, Lý Hương Ngưng đậu vào trường Đại học Tulane (New Orleans, Mỹ) chuyên ngành Âm nhạc. Cho đến năm 1993, khi cô em gái còn chưa kịp trở về gặp và khen anh trai vì những biểu hiện xuất sắc của anh trên màn ảnh Hollywood, Lý Quốc Hào qua đời trên phim trường vì tai nạn súng.

Cái chết của Lý Quốc Hào khiến bà Linda và Lý Hương Ngưng đau đớn tột cùng. Mặc dù cảnh sát công bố kết quả điều tra cho rằng Lý Quốc Hào đã gặp “tai nạn nghề nghiệp”, bị bắn chết bằng một viên đạn thật trong khẩu súng đạo cụ nhưng Lý Hương Ngưng không tin điều đó. Cô lao vào tìm kiếm chứng cứ để chứng tỏ anh trai bị ám sát chứ không phải bị ngộ sát. Nhiều tháng ròng, Lý Hương Ngưng bỏ công việc, bỏ show diễn chỉ với mong muốn tìm ra hung thủ. Mãi cho đến khi được mẹ hết lời khuyên bảo, cô mới chịu kết thúc việc truy tìm nguyên nhân thật quanh cái chết của Lý Quốc Hào.

Suốt một thời gian sau đó, Lý Hương Ngưng nhốt mình trong phòng riêng, xem đi xem lại nhiều lần những bộ phim của cha và anh trai. Cô phát hiện, Lý Quốc Hào đã thừa hưởng nhiều tố chất của Lý Tiểu Long, đó là ý chí kiên cường và thái độ làm việc chuyên nghiệp cùng tình yêu dành cho võ thuật. Điều này cô đưa ra quyết định mang tính bước ngoặt trong đời khi từ bỏ tất cả những thứ mình đang có, bắt đầu tập võ với mục tiêu trở thành một diễn viên võ thuật giống như cha và anh trai, tiếp nối những gì họ còn đang dang dở.

Quyết định của Lý Hương Ngưng bị bà Linda phản đối kịch liệt.Tuy nhiên cô vẫn kiên định với ước mong nối nghiệp võ thuật để giữ lại phần nào hình ảnh cha và anh trong lòng công chúng. Từng có một thời gian, Hương Ngưng bị dè bỉu, mỉa mai vì động tác ẻo lả, đánh võ như múa, thế nhưng cô chưa bao giờ từ bỏ sự nghiệp nối nghiệp cha anh của mình.

Tháng 8/1994, Lý Hương Ngưng kết hôn với họa sĩ Anthony Ian Keasler.Từ khi có gia đình ổn định, cô dành hết thời gian để thực hiện mong muốn của mình. Năm 1997, Hương Ngưng giành được vai nữ chính trong bộ phim High Voltage của đạo diễn Isaac Florentine.

Một năm sau, cô đi theo bước chân cha, trở về Hồng Kông cộng tác với Hãng phim Gia Hòa, tham gia bộ phim Enter The Eagles do đạo diễn Nguyên Khuê thực hiện, đóng chung với Viên Vịnh Nghi, Trần Tiểu Xuân, Vương Mẫn Đức.Lý Hương Ngưng tạo ấn tượng tốt khi đích thân thể hiện những pha nguy hiểm như nhảy tàu, nhảy lầu, cưỡi mô tô, bắn súng… Nỗ lực không ngừng nghỉ khiến Lý Hương Ngưng dần được công chúng đón nhận.

Sự nghiệp điện ảnh đang khởi sắc, tên tuổi vừa nổi lên nhưng Lý Hương Ngưng nhận thấy dù có cố gắng cách mấy cũng không thể trở thành một ngôi sao phim hành động, vì màn ảnh không dành chỗ cho những nữ anh hùng.

Vì vậy, năm 2002, sau khi hoàn thành tác phẩm She, Me and Her, cô chia tay phim trường, an phận với vai trò làm vợ, làm mẹ. Suốt từ đó đến nay, Lý Hương Ngưng quản lí Quỹ giáo dục Lý Tiểu Long và Hiệp hội phát triển Tiệt quyền đạo, bắt đầu một cuộc sống ổn định sau bao thăng trầm từ thuở ấu thơ đến khi trưởng thành.

Sau cái chết của bố, hôn nhân đổ vỡ của mẹ, sự ra đi của anh trai và nhiều năm “lăn lộn” với phim trường, mãi đến những năm tháng tuổi trung niên, Lý Hương Ngưng dường như mới thực sự có một cuộc sống bình lặng, yên ả. (Thu Ngân theo The thao van hoa)

Phan Tất Đại chuyển tiếp

DIVA THÁI THANH

VÀ CHUYỆN TÌNH

3 NGƯỜI KINH ĐIỂN

Có lần, trong một cuộc phỏng vấn của giới truyền thông hải ngoại, một nhà báo đã hỏi Thái Thanh có hay không mối tình giữa bà và nhà văn Mai Thảo, Thái Thanh đã trả lời :

“Có liên hệ tình cảm khi tôi còn ở với chồng và dù bỏ chồng rồi thì anh Mai Thảo vẫn quý tôi đến cái độ tôi muốn thế nào anh ấy chiều như thế. Nhưng mà tôi cổ lỗ sĩ lắm các ông ạ. Hễ không có cưới là không có ăn ở với nhau”.

Theo cách nói của Thái Thanh thì chuyện họ có một thời yêu nhau là sự thật. Và Thái Thanh sẵn sàng sống phần đời còn lại với Mai Thảo sau một đám cưới, nhưng hình như Mai Thảo đã tránh né. Ông ta chỉ muốn sống như đã từng sống với vài người phụ nữ khác.

Cả ba người – Thái Thanh, Lê Quỳnh và Mai Thảo đều là những nhân vật nổi tiếng thuộc loại hàng đầu trong lãnh vực văn học – nghệ thuật tại miền Nam trước năm 1975. Thái Thanh được mệnh danh là “tiếng hát vượt thời gian”. Giọng hát sang trọng và điêu luyện của bà được xếp trên cả Lệ Thu, Khánh Ly một bậc.

Chồng chính thức của Thái Thanh là diễn viên điện ảnh kỳ cựu Lê Quỳnh. Ông còn là một thiếu ta phi công của quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Do cá tính của mỗi người, cuộc sống hôn nhân của họ không được hạnh phúc, dù đã có với nhau 5 người con. Nhưng kẻ phá bĩnh cuối cùng, như giọt nước làm tràn ly, khiến Thái Thanh – Lê Quỳnh phải chia tay là nhà văn Mai Thảo, trong vai một kẻ trộm tình. Kết thúc “chuyện ba người” này là trận đánh ghen của Lê Quỳnh giành cho Mai Thảo từng gây xôn xao một thời trong giới văn nghệ Sài Gòn.

Cho đến hôm nay, trong lòng những người yêu dòng nhạc tiền chiến và âm hưởng tiền chiến thuộc nhiều thế hệ, vẫn chưa có tiếng hát nào thay thế được Thái Thanh ở sự ngọt ngào, truyền cảm, đầy chất kỹ thuật. Được thiên phú một chất giọng opera trong vắt, nhưng Thái  Thanh lại ảnh hưởng làn điệu dân ca chầu văn, quan họ, chèo… từ thủa nhỏ ở quê nhà, đã tạo nên phong cách đặc biệt của riêng bà.

Gần một thế kỷ, âm nhạc Việt Nam đã cho ra đời nhiều tác phẩm bất tử, gắn liền với những giọng ca sống mãi với thời gian, như trường hợp Giọt mưa thu, Con thuyền không bến của Đặng Thế Phong, Buồn  tàn thu, Đàn chim Việt, Thiên thai của Văn Cao, Nương chiều, Bà mẹ Gio Linh, Kỷ niệm của Phạm Duy… Hầu hết những ca khúc kinh điển này đếu gắn liền với tên tuổi Thái Thanh.

oOo

Thái Thanh tên thật là Phạm Thị Băng Thanh, sinh năm 1934 tại Hà Nội, trong một gia đình gắn bó với âm nhạc. Thái Thanh là em ruột của ca sĩ Thái Hằng (vợ của nhạc sĩ Phạm Duy) và là em gái kế của nhạc sĩ nổi tiếng Phạm Đình Chương (ca sĩ Hoài Bắc). Bà còn có một người anh cùng cha khác mẹ khác là Phạm Đình Viêm (ca sĩ Hoài Trung). Họ đã cùng nhau dựng lên ban hợp ca Thăng Long vang danh một thời.

Không thông qua một trường lớp đào tạo nào cả nhưng Thái Thanh, ngoài năng khiếu bẩm sinh ra, còn được các anh chị rèn luyện từ nhỏ, giọng bà có âm vực rộng, nên thể loại âm nhạc của bà rất phong phú, đa dạng.

Thời kỳ đầu bà theo chị là ca sĩ Thái Hằng tham gia kháng chiến, chuyên biểu diễn phục vụ ở các chiến khu. Nghệ danh Thái Thanh bắt đầu từ đó. Năm 1951, bà theo gia đình chị ruột là Thái Hằng – Phạm Duy vào Sài Gòn lập nghiệp, và tiếp tục ca hát. Thái Thanh trở nên nổi tiếng với những ca khúc tiền chiến được đông đảo quần chúng yêu thích, đặc biệt là giới trí thức. Tiếng hát của bà thống trị phần lớn các chương trình phát thanh, truyền hình và phòng trà ở Sài Gòn suốt hơn hai thập niên, dường như không có đối thủ cạnh tranh.

Người chồng tài tử xi nê

Năm 1956, Thái Thanh kết hôn với Lê Quỳnh, một trong số nam diễn viên nổi tiếng thuộc lớp đầu tiên của điện ảnh miền Nam. Ông sinh năm 1934 tại Hà Nội (bằng tuổi Thái Thanh).

Năm 1952, Lê Quỳnh tốt nghiệp tú tài ban văn chương và gia nhập không quân của quân đội Pháp. Về sau chuyển thành không lực của quân đội Việt Nam Cộng Hòa với cấp bậc sau cùng là thiếu tá. Năm 1954, Lê Quỳnh theo gia đình vào Nam lập nghiệp. Ông không mấy thành công trên con đường binh nghiệp, nhưng cuộc đời diễn viên của ông lại là một chuỗi thành công rực rỡ, kể từ sau 1956 trở đi với hàng loạt vai chính trong các bộ phim tình cảm: Đất lành, Hồi chuông Thiên Mụ, Thiếu phụ Nam Xương, Vụ án tình, Ngàn năm mây bay, Đôi mắt người xưa, 11 giờ 30, Chờ sáng, Mùa thu cuối cùng, Bẩy ngầm…

Ngoài ra, Lê Quỳnh cũng xuất hiện trong vai thứ của một số phim quốc tế như: The Quiet American, A Night Of The Dragon, Transit A Saigon. Năm 1969, Lê Quỳnh bắt tay làm bộ phim Giã từ bóng tối trong vai trò đạo diễn, nhưng không được công chúng đón nhận và đó cũng là phim duy nhất mà ông làm đạo diễn. Cũng có thời Lê Quỳnh mon men bước vào con đường hoạt động chính trường khi ra ứng cử dân biểu quốc hội vào năm 1967 nhưng thất cử.

Lê Quỳnh chung sống với Thái Thanh được 9 năm (1956 – 1965) thì gãy gánh, sau khi đã có với nhau 5 mặt con, mà người con đầu là Lê Thị Ý Lan, sinh năm 1957, hiện là ca sĩ nổi tiếng ở hải ngoại, thường về biểu diễn tại Việt Nam (ca sĩ Ý Lan). Là một diễn viên có nét đẹp rất đàn ông, Lê Quỳnh được mô tả như một gã đa tình, nhưng tính tình lại rất ghen tuông.

Chính vì thế cuộc sống vợ chồng của họ luôn là những tháng ngày đầy sóng gió. Có lần, Thái Thanh đi hát cùng với hai người anh của mình là Hoài Trung, Hoài Bắc. Dù có xe đưa đón, nhưng Lê Quỳnh vẫn âm thầm bám sát để theo dõi, và ông đã ghen với cả người lái xe vì anh ta đã lịch sự mở cửa cho Thái Thanh. Tuy nhiên, việc Lê Quỳnh tặng cho nhà văn Mai Thảo một trận đòn ghen ở phòng trà Bồng Lai năm 1965 thì không phải là chuyện ghen bóng ghen gió.

Mai ThảoKẻ trộm tình”

Thật sự, chuyện Mai Thảo dan díu tình cảm với Thái Thanh là có thật. Sau này, chính Mai Thảo đã gần như dàn trải phần lớn tâm sự thầm kín của mình trong tiểu thuyết Mười đêm ngà ngọc. Cho dù ông không xác nhận, cũng không phủ nhận khi được phỏng vấn, có phải đã viết tác phẩm này cho Thái Thanh hay không, tuy nhiên, hầu hết bạn bè thân thiết của Mai Thảo và người đọc đều biết và thấy rõ bóng dáng của Thái Thanh trong đó.

Vào thời điểm này, vợ chồng Thái Thanh – Lê Quỳnh đang sống cuộc sống gia đình như địa ngục, với những xung đột tiếp diễn hàng ngày, và việc phải chia tay nhau chỉ còn là vấn đề thời gian. Tuy nhiên Mai Thảo vẫn là giọt nước cuối cùng làm tràn ly. Ông ta là nguyên nhân cũng là cái cớ cho màn ly dị với diện mạo của một kẻ trộm tình.

Mai Thảo có tên thật là Nguyễn Đăng Quý, gốc gác ở làng Thổ Khối, huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh, nhưng được sinh ra tại chợ Cồn, xã Quần Phương Hạ, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Cha ông là một nhà buôn giàu có. Thơ ấu, ông theo học trường làng, nhưng khi lên trung học thì chuyển về học trường Chu Văn An, Hà Nội.

Năm 1945, ông rời gia đình vào Thanh Hóa để đi theo kháng chiến. Mai Thảo làm công tác viết báo và tham gia các đoàn văn công đi lưu diễn khắp Liên khu 3, Liên khu Tư và Liên khu Việt Bắc. Đến năm 1951 thì ông bỏ về thành đi buôn theo nghiệp cha.

Năm 1954, ông định cư hẳn ở Sài Gòn, và trở thành một trong những nhà văn nổi tiếng. Suốt đời Mai Thảo chưa một lần có vợ, nhưng già nhân ngãi non vợ chồng thì không kể hết. Ông được những bằng hữu thân thiết mô tả như một tay chơi có hạng, từng một thời không đêm nào là không có mặt tại vũ trường, sống trong trùng vây của rượu và gái.

Điều này, cũng được chính Mai Thảo viết rõ trong truyện Một đêm thứ bảy. Nhưng tiền ở đâu ra để Mai Thảo có thể ăn xài như một thiếu gia công tử ? Hãy nghe lời nhà thơ Thái Thủy, một người bạn thân của Mai Thảo nói về trường hợp này: “Văn nghệ sĩ Bắc Hà vào Nam được các cơ quan IRC, Asia Foundation và USIS của Hoa Kỳ giúp đỡ lập ra tờ Sáng Tạo và anh Mai Thảo làm chủ nhiệm. Thời bấy giờ Mai Thảo có khả năng tài chánh, viết nhiều feulletons ăn khách, và tờ Sáng Tạo được tài trợ vững. Anh có xe hơi Fiat hiệu Austin, có nơi ăn chốn ở, có danh vọng trong giới văn học và nổi tiếng ăn chơi hào phóng”.

Một trong những người phụ nữ đã chung sống với Mai Thảo nhiều năm là một cô vũ nữ xinh đẹp tên Cúc, hoa khôi của vũ trường Tự Do. Ngoài Cúc ra, vũ trường này còn có Mỹ (Mỹ “Khùng”) là một cặp bài trùng, thuộc hàng đào nhất ở đây. Có tiền, Mai Thảo vừa ăn ở với cô Cúc, nhưng lại lén lút trăng hoa với Mỹ “khùng”.

Nhưng theo nhà văn Văn Quang, thì nàng Cúc không biết gì về văn học nghệ thuật, không hiểu giá trị văn chương và có thể chẳng hề đọc Mai Thảo. Ông viết về mối tình này của bạn mình chỉ là tình yêu ma quái vũ trường chập chờn dưới ánh đèn màu lung linh và sóng nhạc dập dềnh. Cuộc tình chẳng mặn mà, chỉ là một kết hợp theo nhu cầu.

Tờ Sáng Tạo hết tài trợ thì nàng ra đi, được tài trợ thì nàng trở về, nhưng cũng chẳng kéo dài được ba năm. Và rồi, Mai Thảo tìm đến Thái Thanh, để biến thành một cuộc tình tay ba, giữa ba con người nổi tiếng, từng gây xôn xao dư luận một thời. Mai Thảo và một số bạn bè của ông ngụy trang cho tình yêu ngoài luồng này bằng cụm từ “tình yêu nghệ thuật”, “tình yêu ngà ngọc”.

Nhưng theo nhà thơ Thái Thủy thì: “Cuộc tình giữa Mai Thảo và danh ca Thái Thanh không phải là ngà ngọc mà chỉ là lãng mạn”. Điều này có thể đúng với tính chất của Thái Thanh vào thời điểm hạnh phúc gia đình đang bên bờ vực thẳm, đang rất cần một chỗ dựa tinh thần. Nhưng không thể đúng với một gã đàn ông như Mai Thảo.

Đánh ghen bằng nhẫn sắt

Cuối cùng, chuyện vụng trộm của Mai Thảo – Thái Thanh bị Lê Quỳnh phát hiện, ông đã kết thúc mọi việc bằng một trận đòn ghen vào một buổi tối thứ bảy năm 1965, tại phòng trà Bồng Lai. Lúc bấy giờ, Mai Thảo đang ngồi uống rượu với một vài bạn hữu thì Lê Quỳnh xuất hiện. Ông đã giáng một cú đấm như trời giáng vào mặt Mai Thảo nhưng trượt xuống vai.

Tiếp đến là bàn tay được Lê Quỳnh võ trang bằng chiếc nhẫn sắt để tặng cho Mai Thảo một vết sẹo trên má, rồi rút êm. Nếu không có quyền lực của ông  Nguyễn Cao Kỳ can thiệp, vì quý mến Thái Thanh, muốn giữ danh dự cho bà thì báo chí lúc bấy giờ đã làm rùm beng chuyện này lên rồi.

Sau sự cố này, Lê Quỳnh đã tỏ ra hối hận và tìm cách chuộc lỗi với Thái Thanh để tiếp tục chung sống. Nhưng Thái Thanh đã cương quyết từ chối. Sau khi hai người ly dị, ai cũng tưởng Thái Thanh sẽ đến với Mai Thảo, nhưng tất cả đã không diễn ra như thế. Có lẽ trong thời gian yêu nhau, Thái Thanh đã hiểu rõ hơn con người Mai Thảo, dù là một nhà văn nổi tiếng, nhưng ông ta chỉ là một người tình lang chạ và tất nhiên sẽ không bao giờ là một người chồng tốt. Sau đó, Thái Thanh thành hôn với dân biểu Trần Quý Phong, chủ khách sạn Catinat.

Thái Thanh ngày nay

Bây giờ thì cả Lê Quỳnh, Mai Thảo đều đã thành người thiên cổ, và tiếng hát vượt thời gian Thái Thanh cũng qua ngưỡng cửa 80. Tất cả đã chìm vào quá khứ theo thời gian. Và những thăng trầm cuộc sống đã làm cho người ta lãng quên cho dù đó là chuyện tình giữa ba con người nổi tiếng.

Yên Huỳnh chuyển tiếp

NHỮNG CA KHÚC THÁI THANH TRÌNH BÀY :

1) CHUYỆN TÌNH BUỒN 2) ĐẠO CA 8 – GIỌT CHUÔNG CAM LỘ

3) ĐẠO CA 9 – CHẮP TAY HOA 4) NGÀY XƯA HOÀNG THỊ

5) RU TA NGẬM NGÙI 6) TẠ ƠN ĐỜI 7) TIẾNG HÁT TO 8) TÌNH SẦU DU TỬ LÊ

9) TÌNH HOÀI HƯƠNG 10) CỎ HỒNG 11) NGÀY XƯA HOÀNG THỊ

12) DÒNG SÔNG XANH 13) TÌNH CA 14) HOÀI CẢM

GIA ĐÌNH TỔNG ĐỐC PHƯƠNG

BẬT MÍ GIA SẢN TỶ PHÚ

GIÀU THỨ 2 SÀI GÒN MỘT THỜI

Tổng đốc Phương tên thật Đỗ Hữu Phương, từng được xem là tỷ phú giàu thứ hai tại Sài Gòn trong tứ đại phú “Nhất Sỹ, nhì Phương, tam Xường, tứ Trạch”.

Ở quận 3, phía sau BV Mắt Saint Paul có một ngôi từ đường cổ hơn 100 tuổi. Người ta gọi là Đỗ Hữu Từ đường, là nơi thờ tự dòng họ Đỗ Hữu, còn gọi là đền Tổng đốc Phương nhưng người dân từ xưa quen gọi là đền Bà Lớn, vì cũng là nơi thờ người vợ của Tổng đốc Phương, do bà vốn có nhiều công đức với dân chúng quanh vùng.

Không tạo ân oán

Biết tiếng Hán và tiếng Pháp nhưng Đỗ Hữu Phương lại rất chuộng văn hóa Pháp nên tìm cách ra làm việc với Pháp. Sau khi chiếm được thành Chí Hòa năm 1861, Pháp mở cửa thương mại và mở rộng mối quan hệ với người Hoa trong vùng để phát triển buôn bán. Ông Phương nhờ người quen giới thiệu với tham biện hạt Chợ Lớn lúc này là Đại úy Francis Garnier và được Garnier tuyển dụng. Đến năm 25 tuổi được phong làm hộ trưởng ở Chợ Lớn.

Dù làm việc cho Pháp nhưng chủ trương của ông Phương là không gây thù chuốc oán, cho nên ngay cả trong trường hợp không dụ hàng được mà phải đưa quân đánh dẹp, sau đó Đỗ Hữu Phương lại đứng ra che chở và xin chính phủ Pháp ân xá cho những người Việt tham gia khởi nghĩa.

Trong tài liệu của Pháp mang ký hiệu SL. 312 ở Cục Lưu trữ Nhà nước II, có đoạn khen ngợi Đỗ Hữu Phương: “Ông ta cố gắng tránh đổ máu trong lúc dập tắt nhiều cuộc nổi loạn gần đây. Ông ta đã xin chính phủ Pháp ân xá cho một số đông những đồng bào của ông đã cầm vũ khí chống lại chúng ta…”.

Nhờ cách hành xử như vậy cho nên dù bị ghét vì theo Pháp nhưng nhiều người vẫn cho rằng Đỗ Hữu Phương là người hiền.

Câu chuyện lạ lùng về tình bạn

Nguyễn Hữu Huân đỗ đầu thi hương năm Nhâm Tý nên được gọi là Thủ Khoa Huân. Ông vốn là bạn thân với Đỗ Hữu Phương từ nhỏ. Sau này lớn lên hai người hai ngả đường. Năm 1864, Nguyễn Hữu Huân bị bắt ở An Giang, Pháp xử án 10 năm tù, đày sang Guyan rồi Cayenne – là thuộc địa của Pháp ở Nam Mỹ.

Sau khi ông thọ án năm năm, Đỗ Hữu Phương đứng ra bảo lãnh để xin chính phủ Pháp ân xá cho Thủ Khoa Huân. Ngoài ra ông Phương xin đưa Thủ Khoa Huân về an trí ngay ở nhà của mình và phục chức giáo thụ là chức cũ trước đây để dạy học cho sinh đồ ở vùng Chợ Lớn.

Lợi dụng việc cho dạy học, Thủ Khoa Huân bí mật liên lạc với nhiều sĩ phu yêu nước và hội kín của Hoa kiều để mua vũ khí chuẩn bị khởi nghĩa. Thủ Khoa Huân bỏ trốn khỏi nhà Đỗ Hữu Phương rút về Mỹ Tho cùng với Âu Dương Lân để hội quân khởi nghĩa. Cuộc khởi nghĩa lần thứ ba này được rất nhiều nông dân và địa chủ ủng hộ nên thanh thế rất mạnh.

Phải hai năm sau, Pháp đưa quân bất ngờ tấn công thẳng vào căn cứ Bình Cách mới đánh dẹp được. Thủ Khoa Huân chạy thoát nhưng sang năm khi đi huy động quân binh khởi nghĩa thì bị Pháp phục kích bắt. Sau khi bị giam ở Mỹ Tho và được Tỉnh trưởng Gailland chiêu dụ hàng nhưng Thủ Khoa Huân vẫn từ chối, Pháp quyết định xử tử ông.

Vươn lên ngôi thứ hai của tứ đại phú

Trong quá trình làm việc, Đỗ Hữu Phương được thăng làm đốc phủ sứ Vĩnh Long, tổng đốc danh dự, rồi làm phụ tá Xã Tây Chợ Lớn, dân gian quen gọi là Tổng đốc Phương. Đây là chức vụ không quá lớn nhưng thiên hạ đồn rằng chức vụ này giúp ông Phương trở thành trung gian cho các thương gia Hoa kiều hối lộ viên chức Pháp, nhờ vậy thu rất nhiều tiền của trong các phi vụ làm ăn này.

Tuy nhiên, nguồn tin khác cho rằng nhờ giao thiệp rộng, lại nhanh nhạy với việc làm ăn buôn bán nên ông Phương đã gầy dựng, mở mang các mối làm ăn thông qua các chuỗi cửa hiệu trong vùng Chợ Lớn.

Ông Phương có người vợ họ Trần (không rõ tên) là con của một viên tri phủ miền Trung. Bà là người rất giỏi giang trong việc quán xuyến nhà cửa và buôn bán. Nhà có hơn 2.000 mẫu ruộng do Toàn quyền Doumer cho khẩn trưng ruộng đất, bà vợ không chỉ lo việc cai quản, thu hoa lợi từ ruộng đất mà còn điều hành hệ thống buôn bán, phân phối hàng hóa cả ngàn cửa hiệu trong vùng. Hai vợ chồng “song kiếm hợp bích”, chồng ngoại giao mở mang, vợ tề gia, tiền đẻ ra tiền, đến mức thiên hạ đồn gia đình có gia nhân chuyên cho việc đếm tiền vì tiền thu vào nhiều quá, bà vợ không thể đếm xuể.

Nhớ đến nguồn gốc Minh Hương của mình, Đỗ Hữu Phương đã xây dựng nên Nghĩa Nhuận hội quán trên đường Gò Công. Ông Phương cũng đã bỏ tiền xây dựng Trường Collège de Jeunes Filles Indigènes tức Trường nữ Trung học Sài Gòn, sau này gọi là Trường Áo Tím, Gia Long, nay là Trường THPT Nguyễn Thị Minh Khai.

Ngoài ra ông ta cũng bỏ nhiều tiền tu bổ rất nhiều chùa chiền miếu mạo quanh vùng nên được dân chúng ghi công. Dọc theo kinh Chợ Lớn có một cây cầu gọi là cầu Ông Lớn. Ông Lớn đây chính là Đỗ Hữu Phương, theo lý giải của nhà nghiên cứu Vương Hồng Sển. Hồi đó người dân không gọi bằng tên thật. Cũng như sau này ngôi từ đường thờ người vợ rồi trở thành từ đường của dòng họ, được gọi là đền Bà Lớn.

Phong lưu cuối đời

Danh vọng và tiền bạc đều có đủ, Đỗ Hữu Phương sống phong lưu, thụ hưởng. Ông nhiều lần sang Pháp du ngoạn, đi thăm thú thủ đô nhiều nước châu Âu và đi vòng quanh thế giới. Trong danh sách các hành khách đi tàu Anadyr từ Sài Gòn đến Marseille ngày 29-4-1889 có tên ông cùng với hai người con. Điều này chứng tỏ ông tham dự Hội chợ kỷ niệm 100 năm cách mạng Pháp và sau này góp phần tổ chức khu triển lãm Đông Dương ở Hội chợ quốc tế Paris năm 1900.

Đỗ Hữu Phương sống trong một tòa nhà được xem là to nhất nhì Sài Gòn, nằm trên bờ kênh Xếp (sau này lấp thành đường gọi là đường Tổng đốc Phương, nay là Châu Văn Liêm). Bề ngoài nhà kiểu Tây nhưng bên trong nội thất theo kiểu Việt và Trung Hoa.

Bá tước Pierre Barthélemy kể lại khi được viếng thăm : “Nhà ông là một sự pha trộn lạ kỳ giữa Âu và Á. Sân trong thiết kế theo kiểu Trung Hoa, chung quanh sân là các phòng kiểu An Nam mà một phòng salon ở tận trong rất đáng chú ý. Đối diện với salon này là một biệt thự kiểu Âu. Bàn thờ trong phòng salon An Nam này là một công trình tuyệt diệu nổi tiếng, bàn thờ được cẩn xà cừ. Những cột nhà làm bằng gỗ teck rất quý, trụ mái nhà của phòng salon này trông rất thanh tao và trên một bàn làm bằng gỗ quý là những chai rượu absinthe, amer Picon và những sản phẩm của Pháp khác. Ông Phủ thích đãi khách các đồ ăn đặc biệt và ông ta cũng biết thưởng thức các loại rượu của chúng ta. Nếu phải diễn tả hết tất cả sự giàu sang của nội thất An Nam này thì phải viết rất nhiều trang giấy…”.

Bá tước Pierre Barthélemy cũng kể về bữa ăn đặc biệt với những món ăn Tây, Việt và Trung Hoa, trong đó ông được đãi món đuông dừa vô cùng ấn tượng.

Đỗ Hữu Phương còn được biết đến như một người giao thiệp rộng, hiếu khách, hào phóng và sành điệu mà chính Toàn quyền Paul Doumer cũng phải kể lại trong hồi ký về Đông Dương : “Ông Phủ ở Chợ Lớn tiếp khách người Âu trong nhà ông, mời uống rượu Champagne và bánh petits beurres de Nantes, cho khách xem một vài sản phẩm đặc thù lạ kỳ của người An Nam và tổ chức theo sự đòi hỏi, ước muốn của khách, xem một tuồng hát của người bản xứ (hát bội)…”.

Trong nhà mình, ông Phương có xây cả một rạp hát bội nhỏ để chiêu đãi khách khứa. Ông thường đến nhà hàng, khách sạn Continental ở Sài Gòn và Café de la Paix, nơi gặp gỡ của các bạn bè Pháp-Việt thượng lưu trí thức để giao lưu. (theo Dân Việt)

ĐỖ HỮU VỊ

NGƯỜI PHI CÔNG VIỆT NAM

ĐẦU TIỂN

“Ngay từ những thập niên đầu thế kỷ 20 Việt Nam đã có phi công được lịch sử hàng không ghi nhận, đó là Đỗ Hữu Vị” “Ông là một người Việt gốc Sài Gòn, đi lính ở nước Pháp và trở thành sĩ quan không quân trong Thế chiến thứ nhất” – nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu nói…

Người con trai đặc biệt của Tổng Đốc Phương

Điều thú vị là trong dịp kỷ niệm 100 năm Thế chiến thứ nhất, truyền hình Pháp đã công bố các hình ảnh, tư liệu quý hiếm về binh lính Việt tham gia chiến trường này. Hình ảnh Đỗ Hữu Vị với bộ ria mép đầy chất lính xuất hiện nhiều lần, từ các tấm ảnh ông chụp chung với các sĩ quan Pháp ở trường đào tạo không quân đến cảnh ông ngồi lái máy bay, cưỡi ngựa. Các bưu ảnh cũng in hình ảnh, tên tuổi ông trang trọng…

Đỗ Hữu Vị là con trai thứ năm trong 11 người con của ông Đỗ Hữu Phương, vị tổng đốc khét tiếng giàu có nhất nhì miền Nam hồi cuối thế kỷ thứ 19, đầu thế kỷ 20. Sinh năm 1883 theo giấy tờ khai tại Pháp (có tài liệu cho rằng năm sinh thật của ông là 1881), ông Vị cùng các anh em trai của mình được người cha chịu ảnh hưởng sâu nặng văn hóa Pháp cho theo học trường Tây tại Sài Gòn.

Sau đó, anh em ông tiếp tục sang Pháp học Trường Janson de Sailly, Paris. Giống cha mình, họ nhanh chóng trở thành “người Pháp” hơn cả dân Pháp.

Rời ngôi trường cổ kính này, ngày 1/10/1904, ông Vị đăng ký nhập học Trường võ bị Saint-Cyr. Đây là trường đào tạo sĩ quan cực kỳ danh giá của nước Pháp, lò tôi luyện của rất nhiều tướng lãnh Pháp, trong đó có đại tướng Leclerc, tổng tư lệnh quân đội viễn chinh Pháp quốc tại Đông Dương.

Trải qua hai năm ở Saint-Cyr, năm 1906 Đỗ Hữu Vị ra trường với quân hàm thiếu úy (sous – lieutenant) trong quân đoàn lê dương số 1, tham chiến tại các chiến địa Oujda Maroc, Casablanca, Algérie… Sau một thời gian dài chinh chiến, đến cuối năm 1910 ông Vị tiếp tục đăng ký vào Trường Quân sự lái máy bay (l’école militaire de pilotage).

Đây là thời điểm nền hàng không thế giới mới ở buổi bình minh phát triển, đặc biệt là không quân, nên sự chọn lựa của ông được rất nhiều người ngưỡng mộ.

Tháng 11/1911, ông tốt nghiệp khóa học được cấp bằng lái máy bay của Aéroclub de France và thăng một cấp lên trung úy. Nam Phong Tạp Chí số tháng 2-1920 đã có bài viết rằng Đỗ Hữu Vị là phi công Việt Nam đầu tiên bay vòng quanh nước Pháp.

Trong hồ sơ quản bạ quân đội, Đỗ Hữu Vị tham gia quân đội Pháp ở Maroc. Nhưng đến năm 1914 ông trở lại Việt Nam để trở thành một trong những người Việt đầu tiên học vận hành loại thuyền lướt trên sông chạy bằng động cơ cánh quạt máy bay do Charles de Lambert chế tạo.

Đây chính là khoảng thời gian nền khoa học hàng không thế giới mới xuất hiện ở nước Việt. Đỗ Hữu Vị trở thành phi công Việt Nam bay biểu diễn cùng các phi công nước ngoài ở Sài Gòn và Hà Nội. Ông cũng tham gia câu lạc bộ hàng không đầu tiên do người Pháp thành lập ở Đông Dương.

Tuy nhiên, Đỗ Hữu Vị không thể nán lại quê hương được lâu. Năm 1914, cuộc đại chiến thế giới bùng phát khốc liệt, ông lại cấp tốc sang Pháp cùng người anh Đỗ Hữu Chấn để tái nhập đơn vị không quân chiến đấu ngay tại chiến trường chính quốc này. Ông đã tình nguyện tham gia nhiều trận chiến nguy hiểm và được giao trách nhiệm phi đội phó một phi đội máy bay ném bom.

Tham chiến

Năm 1915, thời điểm Thế chiến thứ nhất diễn ra vô cùng ác liệt, quân Pháp chịu nhiều thiệt hại nặng trước đối thủ Đức. Cũng trong năm chiến sự nóng bỏng này, Đỗ Hữu Vị rơi máy bay sau một trận đánh vì trúng một trận bão lớn. Chiếc chiến đấu cơ hư hỏng hoàn toàn, ông bị thương nặng, bất tỉnh gần chục ngày với cánh tay gãy, vỡ xương hàm mặt nhưng một lần nữa lại thoát chết…

Sự can đảm của Đỗ Hữu Vị tiếp tục làm cho người Pháp kính nể khi ông không chịu giải ngũ theo tiêu chuẩn thương binh được hưởng, mà vẫn tình nguyện ở lại đơn vị dù không thể lái máy bay được nữa. Được thăng quân hàm đại úy, ông đảm nhiệm công việc mặt đất hỗ trợ không chiến. Sau đó ông gia nhập quân đoàn kỵ binh lê dương số 1 và được giao nhiệm vụ chỉ huy đại đội số 7 cùng khoảng 300 quân ở mặt trận Somme, miền Bắc nước Pháp.

Trong một đợt chỉ huy xung phong, ông bị trúng nhiều phát đạn súng trường của quân Đức và lần này thì ông tử thương ngay tại chiến địa. Các chiến hữu Pháp đã chôn cất người lính Việt dũng cảm Đỗ Hữu Vị ở cánh đồng làng Dompierre bên bờ sông Somme.

Bốn năm sau, người anh Đỗ Hữu Chấn cũng là một sĩ quan quân đội Pháp đã đưa hài cốt em mình về nước trên chuyến tàu vượt đại dương. Tổng đốc Phương lúc này đã mất nhưng anh em trong gia đình đã tổ chức lại cho Đỗ Hữu Vị một đám tang trang trọng nhất Sài Gòn vào thời điểm ấy.

Các quan chức phủ toàn quyền và quân đội Pháp đã thay nhau túc trực tang lễ, tri ân người sĩ quan không quân Việt đầu tiên đã dũng cảm chiến đấu và hi sinh cho nước Pháp. Thái độ trân trọng của chính quyền Pháp sau đó còn được thể hiện qua các bưu thiếp Đông Dương in ảnh ông.

Đặc biệt ở thành phố Casablanca, Maroc và làng Lafaux, Picardie, Pháp đều có đường mang tên Đỗ Hữu Vị. Tại Việt Nam thời Pháp thuộc, nhiều con đường, trường học tại các thành phố lớn như Sài Gòn, Hà Nội, Đà Nẵng cũng được đặt tên ông.

HOÀI NIỆM THẦY VĂN GIÃNG

AI VỀ SÔNG TƯƠNG

Thầy Ngô Văn Giảng qua đời ngày 9/5/2013 tại Melbourne – Úc, hưởng thọ 89 tuổi. Tin buồn loan ra, tôi bâng khuâng nhớ về 54 năm trước, năm 1959, thầy là giáo sư âm nhạc của chúng tôi tại trường Hàm Nghi, Huế. Thuở ấy, thầy mới ngoài 30, dáng điệu phương cường, đi chiếc xe gắn máy hiệu Zunndapp của Đức nổ bịch bịch nổi bật cả sân trường.

Tôi còn nhớ ngày đầu tiên khi Thầy bước vào lớp đệ Thất B1 của chúng tôi, trò Trương Phước Ni bắt tay làm loa đứng dậy chào thầy bằng câu : “Đường trường xa muôn vó câu bay dập dồn…” Thầy cười rất tươi cho cả lớp, nhưng cũng lập nghiêm nhìn chú học trò rắn mắt ở dãy bàn cuối lớp. Đây là câu mở đầu của hùng ca Lục Quân Việt Nam, một trong những bài ca mang tiết điệu hành khúc, hùng tráng nổi tiếng nhất của Thầy – nhạc sĩ Văn Giảng – như Thúc Quân, Đêm Mê Linh, Qua Đèo, Nhảy Lửa

Thầy đã là một nhạc sĩ thành danh, nổi tiếng trong cả nước, trước khi trở thành giáo sư âm nhạc của trường Hàm Nghi. Nhưng nhiều người chỉ biết Văn Giảng qua những bản hùng ca. Bởi thế, vào mấy năm đầu thập niên 1950, khi bản nhạc để đời của Thầy, Ai Về Sông Tương, trở thành một bản tình ca thời danh với tên tác giả là Thông Đạt có lẽ ít ai để ý rằng, trong góc khuất của những tâm hồn nghệ sĩ thì bên cạnh nhịp đời hào hùng vươn tới vẫn có tiếng thở dài chan chứa điệu buồn.

Hai niên khóa học với nhạc sĩ Văn Giảng, tôi thích học nhạc thì ít mà mê Thầy kể chuyện thì nhiều. Cứ mỗi cuối giờ, Thầy có một câu chuyện kể về các giai thoại âm nhạc. Thích nhất là những chuyện thâm cung bí sử của những nghệ sĩ âm nhạc tài hoa. Chẳng hạn như bản nhạc Ngày Về của Hoàng Giác, Thầy xướng âm lên và phân tích cho chúng tôi nghe rằng, tiết điệu của bài ca đó có những trường canh trãi dài xa vắng và âm hưởng thương nhớ quặn lòng “rất Tây Phương” vì đây là bản nhạc do một người lính Đức trong đội quân viễn chinh của Pháp viết lên giai điệu. Nhạc sĩ Hoàng Giác chỉ soạn ca từ…

Hoặc như bản nhạc Trầm Hương Đốt của Bửu Bác, xuất xứ là bài Hải Triều Âm. Đây là một trong những bản nhạc nghi lễ đầu tiên dùng trong sinh hoạt chùa viện đã bứt phá từ giai điệu ngũ âm “Đăng Đàn Cung” để tiến lên bát cung của phương Tây. Bởi vậy mà ảnh hưởng âm điệu “thánh ca nhà thờ” như âm vang trầm trầm không cao không thấp quá tầm uyển thanh của organ thể hiện rất rõ trong giai điệu của bản nhạc.

Nhưng thú vị hơn cả là lịch sử bản nhạc Ai Về Sông Tương. Thầy kể rằng, thời trai trẻ, Thầy ở Thành Nội và yêu một cô gái ở Kim Long – Kim Long có gái mỹ miều; trẫm thương, trẫm nhớ, trẫm liều trẫm đi… mà – nhưng duyên không thành vì gia đình nho phong của cô bé không có cái nhìn thiện cảm với đời nghệ sĩ, nhất là nghệ sĩ trong ngành âm nhạc, xướng ca… Thế là chia tay và cô bé đi lấy chồng !

Rồi một hôm, Thầy vào rạp Xi-nê Tân Tân, gần cầu Trường Tiền bên bờ Bắc sông Hương để coi phim “Bé Nhà Trời” (Les enfants du paradis). Ngay trước mắt Thầy, ở hàng ghế trước có một cô Bé tóc dài. Tuy nhìn không rõ mặt nhưng từ dáng dấp đến hương tóc thoang thoảng mùi hoa Ngâu của người thiếu nữ đã làm sống lại hình ảnh người tình Kim Long “ngày xưa Hoàng Thị” ấy.

Thầy bị xúc động đến nỗi không thể còn ngồi lại lâu hơn trong rạp chiếu bóng để xem phim, nên vội vàng ra khỏi rạp. Thầy cỡi chiếc xe đạp Dura Mercier của Thầy và đạp xe dọc theo bờ sông Hương để vô cửa Thượng Tứ vào nhà ở Thành Nội. Thoáng chốc dòng sông Hương hiện ra như là dòng sông Tương chia biệt trong truyện tình cổ thư Trung Quốc. Thầy vừa đến nhà là dựng ngay chiếc xe đạp ngoài hiên, đi nhanh vào nhà và vội vã sáng tác bản nhạc bằng tất cả sự hoài niệm và háo hức nghệ thuật với sự chấn động dị thường như phép lạ hóa thân. Bản nhạc Ai Về Sông Tương được viết ra trong vòng mười lăm phút !

Sau đó, Thầy bí mật ký tên là Thông Đạt và chép một bản gởi ra đài phát thanh toàn quốc là đài Pháp Á ở Hà Nội. Mấy hôm sau, Mạnh Phát vừa là nhạc sĩ vừa là ca sĩ đã hát bản Ai Về Sông Tương lần đầu trên đài Pháp Á Hà Nội. Bản nhạc sáng tác năm 1949 đã nhanh chóng nổi tiếng trong toàn cả nước.

Đã trải qua hơn 60 năm, những mối tình đã cũ, những hẹn hò thuở răng trắng tóc xanh đã thành “răng long đầu bạc”. Nhưng Ai Về Sông Tương vẫn mới như thời gian là nước chảy qua cầu, vẫn còn là tiếng lòng tình tự của những đôi tình nhân ước hẹn không thành. Bản nhạc với một giai điệu thướt tha lãng mạn, lời lẽ đậm nét hoài niệm trữ tình làm dậy lên nguồn tình cảm sướt mướt, mượt mà mà rất “sang” ấy như một dòng suối tươi tắn, mát dịu trong một hoàn cảnh tạm hồi sinh sau cuộc chiến:

Ai có về bên bến sông Tương

Nhắn người duyên dáng tôi thương

Bao ngày ôm mối tơ vương

Tháng với ngày mơ nhuốm đau thương

Tâm hồn mơ bóng em luôn

Mong vài lời em ngập hương…

Nghe ca khúc “Ai về sông Tương” do Tuấn Ngọc trình bày :

https://youtu.be/wQby8Mf5rcU

Cũng theo lời Thầy vui vui kể chuyện rằng, Mạnh Phát, là bạn thân của Văn Giảng, đã nhờ Văn Giảng đến nhà ấn hành tân nhạc gần như độc nhất thời bấy giờ là nhà xuất bản Tinh Hoa ở Huế do ông Tăng Duyệt làm giám Đốc để hỏi cho ra Thông Đạt là ai ngay sau khi bản nhạc phát trên đài Pháp Á. Thầy tảng lờ như không hay biết. Nhưng mãi đến ba tháng sau thì tông tích của Thông Đạt mới được tiết lộ. “Mạnh Phát vô Huế chơi khi biết tui là Thông Đạt, hắn đấm lưng tui thùi thụi như rứa thì thôi ! ”Thầy Văn Giảng cười vui kể lại.

Một lần trong giờ học nhạc, trò Nguyễn Xuân Huế là tay đọc tiểu thuyết đệ nhất trong lớp hỏi Thầy : “Thưa Thầy, tại sao mình có sông Hương, mình cũng có Hương giang đầu, Hương giang vỹ mà Thầy lại phải vay mượn sông Tương của Tàu như rứa ạ ?”. Thầy trả lời, đại khái là tại sông Hương chưa có chuyện tình nào nổi tiếng trong tình sử như sông Tương. Tương Giang là một con sông ở Trung Hoa, bắt nguồn từ núi Duyên Hải, chảy qua Hồ Nam dài hơn hai ngàn dặm. Còn ý “ai về sông Tương” của Thầy trong bản nhạc là bắt nguồn từ cảm hứng của bốn câu thơ tình sử trích từ khúc Trường Tương Tư của nàng Lương Ý, đời Hậu Chu. Nàng và Lý Sinh yêu nhau say đắm nhưng phải chia tay. Nàng làm thơ mong gửi gấm nguồn tâm sự đau khổ khi phải xa cách người yêu:

Quân tại Tương Giang đầu

Thiếp tại Tương Giang vĩ

Tương tư bất tương kiến

Đồng ẩm Tương Giang thủy

(Chàng ở đầu sông Tương / Thiếp ở cuối sông Tương / Nhớ nhau không thấy mặt / Cùng uống nước sông Tương)

Sau đó không lâu, tôi lại được “gặp” Thầy qua một tác phẩm mang tính chất đạo ca của khách hành hương mà tôi đã gặp trên chuyến đò Thừa Phủ : Nhạc phẩm Từ Đàm Quê Hương Tôi. Lần nầy Thầy để tên tác giả là Nguyên Thông. Bản nhạc tuy được liệt vào thể loại nhạc tôn giáo nhưng cả giai điệu lẫn ca từ đã vượt ra ngoài khuôn khổ giới hạn của văn hóa chùa viện.

Cảm quan nghệ thuật sáng tạo của người nhạc sĩ tài hoa đã dung hóa được tính chất tráng liệt của hùng ca như Thúc Quân, Lục Quân Việt Nam, làn điệu mượt mà lãng mạn của tình ca như Ai Về Sông Tương, Ai Đưa Con Sáo Sang Sông và biểu tượng thiêng liêng, siêu thoát của đạo ca như Mừng Đản Sanh, Ca Tỳ La Vệ, Từ Đàm Quê Hương Tôi.

Những nhạc sĩ tài hoa của nền tân cổ nhạc Việt Nam thuộc thế hệ Chiến Tranh Việt Nam lần lượt ra đi. Nghệ thuật và người nghệ sĩ đến với đời và ra đi không bằng tấm vé một chiều. Tác phẩm để lại cho thế hệ kế thừa sẽ làm cho con đường sáng tạo nghệ thuật rộn ràng và phong quang hơn. Với hơn 50 tác phẩm âm nhạc phong phú giá trị nghệ thuật để lại cho đời, nhạc sĩ Văn Giảng đã cống hiến phần tinh hoa lớn nhất của đời mình vì lợi lạc của tha nhân mà các nhà tu Phật giáo thường gọi là “công hạnh viên thành”. Thế hệ đàn em, học trò như chúng tôi có điểm tựa tinh thần đáng tự hào cùng tấm lòng trân trọng trong giờ phút tưởng niệm và bái biệt Thầy. (theo Trần Kiêm Đoàn)

Phan Tất Đại tổng hợp chuyển tiếp

CUỘC TÌNH CỦA NS HỌ TRỊNH

NÀNG BÍCH DIỄM

CỦA TRỊNH CÔNG SƠN

XUẤT HIỆN Ở HUẾ

(vào tháng 3 2017)

“..ta mang cho em một chút tình…”

“Diễm xưa” của Trịnh Công Sơn lần đầu tiên xuất hiện : Được cho là người tình đầu tiên của cố nhạc sĩ tài hoa Trịnh Công Sơn, nhân vật “bí ẩn” đã đi vào huyền thoại trong sáng tác “Diễm xưa” của chàng họ Trịnh, lần đầu tiên xuất hiện trước công chúng.

Xuất phát cho ý tưởng độc đáo này là giáo sư Thái Kim Lan, hiện đang công tác tại CHLB Đức. Qua lời mời của cô Lan, Ngô Thị Bích Diễm (Diễm) đã đồng ý về Huế gặp gỡ một buổi duy nhất với công chúng. Tuy nhiên khách được mời hạn chế qua điện thoại, chỉ những người thân quen, một thời gắn bó với Trịnh.

Cuộc gặp gỡ quá đặc biệt không được thông báo trước đã diễn ra tại trung tâm văn hóa Liễu Quán, TP Huế, tối 12/3/2017 vừa qua.

“Sau khi Trịnh Công Sơn mất, Diễm đã trở thành một huyền thoại. Từ đó đến giờ, rất ít ai biết hình bóng cô Diễm trong tuyệt phẩm Diễm xưa là ai. Hôm nay, sự im lặng đó được phá vỡ”, Thái Kim Lan tâm sự.

Bà Diễm tâm sự những điều chưa nói đã quá lâu. Kể từ khi Trịnh Công Sơn mất, bà hoàn toàn im lặng với quá khứ.

Nhà văn hóa Huế, giáo sư Bửu Ý, đã kể lại một câu chuyện tình về Sơn và Diễm. “Ngày xưa, cây cầu Phủ Cam tuy ngắn nhưng đầy duyên nợ. Trịnh Công Sơn ở căn gác tầng 2, số nhà 11/03 đường Nguyễn Trường Tộ. Hàng ngày, chàng cứ đứng lấp ló sau cây cột, lén nhìn một người đẹp. Nàng đi bộ từ bên kia sông, qua cầu Phủ Cam, dạo gót hồng dưới hàng long não, ngang qua chỗ Sơn ở là chàng cứ sướng ran cả người. Một tình yêu “hương hoa” kéo dài cho đến cuối đời chàng. Sau này, mỗi một mối tình tiếp theo của Sơn đều có hình ảnh cô gái đó. Tên cô là Diễm, người đã tạo cảm xúc cho Sơn sáng tác vô số bản tình ca bất hủ”, lời kể của giáo sư Bửu Ý.

Tao ngộ Huế sau bao nhiêu năm “ẩn giấu”, bà vẫn mặc một áo dài Huế xưa, chân đi hài. Nét mặt hiền, nhân ái và hay cười nhẹ. Độ tuổi 60 vẫn không làm mất đi nhan sắc thuở nào của “Diễm”. Sự có mặt của Diễm đã làm thỏa lòng toàn bộ mọi người có mặt trong khán phòng.

Một chất giọng Bắc xưa nhè nhẹ cất lên, Bích Diễm đã thổ lộ cùng khán giả “Huế đối với tôi thật bình yên. Trong Huế có một tình yêu. Từ lâu tôi đã giữ im lặng. Quá nhiều kỷ niệm từ thời thơ ấu tại Huế. Dù đi xa đã lâu nhưng tôi vẫn yêu nơi đây như ngày ban đầu. Trong con người quý nhất là tình cảm. Anh Sơn đã lồng hết những cung bậc đó vào nhạc. Xin cảm ơn anh Sơn, cảm ơn Huế vì sự đón tiếp nồng hậu”.

Những câu nói bị ngắt ý giữa chừng vì xúc động của bà đã làm không ít người đồng điệu rơi nước mắt. Trên nền guitar và piano sâu lắng, nhiều người bạn đã hát tặng “Diễm xưa” những ca khúc tên tuổi của cố nhạc sĩ tài hoa Trịnh Công Sơn, mà trong đó không thể thiếu ca khúc Diễm xưa.

Gặp “Diễm xưa” của Trịnh Công Sơn : Lần đầu tiên sau hơn 50 năm, người yêu, đồng thời là nhân vật trong bài hát “Diễm xưa” nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã “lộ diện” và công khai chuyện tình cảm của mình với cố nhạc sĩ tài hoa. 

Tối 12-3, tại Trung tâm Văn hoá Liễu Quán, thành phố Huế, TS Triết học Thái Kim Lan, Việt kiều Đức cùng một nhóm bạn “Huế xưa” đã bất ngờ tổ chức một đêm nhạc Trịnh Công Sơn theo kiểu ngẫu hứng. Điều bất ngờ gây háo hức và tò mò nhất của đêm nhạc này là sự xuất hiện của nhân vật “Diễm”, người yêu, đồng thời là nhân vật trong bài hát “Diễm xưa” của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.

Không chỉ là những người trẻ yêu nhạc trịnh của thế hệ 7X, 8X, 9X…, mà ngay cả với rất nhiều người cùng thời, thậm chí là có quen biết, giao du qua lại với cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, người con gái trong “Diễm xưa” vẫn đã, đang là một huyền thoại sương khói.

Bởi vậy, sự xuất hiện và công khai chuyện tình cảm của mình với cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn lần đầu tiên sau hơn 50 năm im lặng của một “Diễm xưa” bằng xương bằng thịt, đã mang đến những cảm xúc rất đặc biệt đối với gần 100 người, phần lớn là trí thức Huế có mặt trong đêm nhạc.

Sinh thời, hơn một lần cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn tự bạch về “Diễm xưa” như thế này : “ Thuở ấy có một người con gái rất mong manh, đi qua những hàng cây long não lá li ti xanh mướt để đến Trường Đại học Văn khoa ở Huế…. Nhà cô ấy ở bên kia sông, mỗi ngày phải băng qua một cây cầu rồi mới gặp hàng long não để đến trường. Từ ban công nhà tôi nhìn xuống, cái bóng dáng ấy đi đi về về mỗi ngày bốn bận. … .

Người con gái đi qua những hàng cây long não bây giờ đã ở một nơi xa, đã có một đời sống khác. Tất cả chỉ còn là kỷ niệm. Kỷ niệm nào cũng đáng nhớ nhưng cứ phải quên. Người con gái ấy là ”Diễm của những ngày xưa”.

“Diễm xưa” tên thật là Ngô Thị Bích Diễm, con gái của ông Ngô Đốc Kh , người Hà Nội, dạy Pháp văn tại trường Đồng Khánh và trường Quốc Học Huế. “Tôi sinh ra ở Hà Nội, nhưng lớn lên ở Huế, trưởng thành ở Sài Gòn, sau đó đi du học nước ngoài và bây giờ cùng chồng và các con sống, định cư ở Mỹ”, bà Diễm cho biết.

Theo hồi ức của nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân và nhiều người cùng thời với bà có mặt tại đêm nhạc thì bà Bích Diễm, thời là người yêu của Trịnh Công Sơn rất giống bố, người gầy và dong dỏ ng cao, nét mặt thanh tú, bước đi thong thả nhẹ nhàng…. Qua thời gian, “Diễm xưa” bây giờ đã là một mệnh phụ, tuy nhiên khuôn mặt, dáng người, phong thái…vẫn còn lưu dấu những nét đẹp kiêu sa, đài các một thời.

Tại buổi nhạc, vì là lần đầu tiên xuất hiện trước công chúng, bà Diễm đã rất xúc động và lúng túng. Bà kể điều được điều mất đại ý: Bà quen biết nhạc sĩ Trịnh Công Sơn qua hoạ sĩ Đinh Cường, thời ấy (khoảng những năm 1960) là một học trò Pháp văn của cha bà. Nhà bà ở 46 đường Phan Chu Trinh, bên kia sông An Cựu, đối diện với nhà cũ của Trịnh Công Sơn ở đường Nguyễn Trường Tộ, thành phố Huế.

Trong thời gian hai người quen biết nhau, có lần bà tặng cho nhạc sĩ Trịnh Công Sơn một nhánh Hoàng lan đầy hoa rất lớn bẻ từ nhà bà, và điều này đã trở thành một “cú sốc” tình cảm lớn đối với nhạc sĩ, theo như lời kể lại của em gái nhạc sĩ với bà sau này….

Nhà văn, GS Bửu Ý, một người bạn thân của nhạc sĩ phát biểu tại đêm nhạc: “Sinh thời, Trịnh Công Sơn có đến hơn…23 người tình. Tuy nhiên, do mối tình đầu với bà Bích Diễm quá sâu nặng cho nên những mối tình sau này, thật ra Trịnh Công Sơn chỉ là đi tìm hình bóng của bà Diễm trước đó mà thôi”.

“Diễm xưa” hoài niệm : Trở về Huế để làm từ thiện, thăm lại bạn bè và được sống trong hoài niệm, cô nữ sinh Trường Đồng Khánh – người con gái tạo cảm hứng cho nhạc sĩ họ Trịnh sáng tác ca khúc Diễm xưa – Ngô Bích Diễm đã hồi tưởng về ngày xưa

Phóng viên : Chị và nhạc sĩ Trịnh Công Sơn quen nhau trong hoàn cảnh nào ?

Bà Bích Diễm : Sơn quen tôi qua hoạ sĩ Đinh Cường. Hai người là bạn thân của nhau. Ngày đó, anh Cường thuê nhà trọ ngay trong con hẻm nhà tôi. Có vài lần qua nhà tôi chơi, anh Sơn rủ Đinh Cường đi cùng. Nhà anh Sơn ở không xa nhà tôi. Anh Sơn ở số 11/3, đường Nguyễn Trường Tộ, tôi ở nhà 46 (cũ) đường Phan Chu Trinh. Từ nhà anh Sơn đi qua cầu Phủ Cam, rẽ tay phải đi bộ vài phút là đến nhà tôi. Sơn hay đến nhà tôi chơi. Lúc ấy, nhà tôi có cây dạ lan hương, hoa nở rất thơm.

Anh Sơn rất thích mùi hoa này. Lúc nào đến chơi cũng nhận xét về mùi thơm của hoa. Có lần tôi đã tặng anh một nhành hoa. Sau đó, tôi nghe các em gái của anh nói lại là cành hoa tôi tặng đã làm chấn động tình cảm của anh.

Phóng viên : Vậy có phải Diễm xưa là tình yêu say mê của Trịnh Công Sơn dành cho chị ?

Bà Bích Diễm : Tình cảm của Sơn dành cho tôi quá đẹp nên lúc nào tôi cũng trong trạng thái mơ hồ. Tôi không dám nhận mình là người con gái trong nhạc phẩm Diễm xưa. Nhưng đó là một mối tình rất đẹp của chúng tôi ngày ấy.

Phóng viên : Chị nghĩ về Trịnh Công Sơn thế nào ?

Bà Bích Diễm :  Anh Sơn như một dòng sông…

Phóng viên : Nghe nói do gia đình chị, cụ thể là ông cụ thân sinh đang là giáo viên Trường Quốc học Huế, không muốn chị thành thân với một nghệ sĩ ?

Bà Bích Diễm : Tôi sinh ra ở Hà Nội. Năm 1952, gia đình tôi vào Huế nên tôi lớn lên ở Huế trưởng thành ở Sài Gòn. Nhưng đi bất cứ đâu, thậm chí sau này khi tôi đã định cư ở Mỹ, vẫn có nhiều người gặp tôi lần đầu đều hỏi tôi có phải là người Huế không ? Vì phong cách, dáng dấp của tôi rất giống người Huế. Có lẽ đó là một trong những điều làm Sơn quý mến tôi. Với tôi, Huế luôn khép kín, bí ẩn, dù đi bất cứ đâu, suốt cả cuộc đời, Huế vẫn luôn ở trong tim tôi.

Phóng viên : Một mối tình thật đẹp, nhưng vì sao hai người không cùng nhau đi hết cuộc đời?

Bà Bích Diễm : Năm 1963, lúc 20 tuổi, tôi vào Sài Gòn học đại học, còn Sơn sau đó cũng vào học Trường Sư phạm Quy Nhơn. Sau đó tôi du học ở Mỹ nên không có điều kiện gặp lại anh.

Phóng viên : Dịch giả Bửu Ý, bạn thân của Trịnh Công Sơn nói rằng ông mới đếm sơ sơ thì Sơn đã có 23 người đẹp đi qua đời ông. Tất cả đều nói giọng Bắc như chị. Người nào Sơn cũng yêu say mê nhưng vẫn tìm hình bóng của Diễm qua từng người một, Diễm vẫn là niềm cảm hứng để Sơn dâng tặng cho đời những tình ca bất hủ. Chị nghĩ sao về điều này?

Bà Bích Diễm : (Nói trong cảm xúc dâng tràn, bà Diễm cười nhưng đôi hàng mi hoen ướt). Hình bóng anh Sơn đã bao trùm lên suốt cuộc đời tôi. Thế là quá đủ rồi !

Còn đó chất Huế : Đêm 12-3, trong khán phòng của Trung tâm Liễu quán, Huế, chật ních khán giả, những người bạn thân thiết của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đến để cùng hát nhạc Trịnh, nhớ về người nhạc sĩ tài hoa đã cống hiến hết mình cho âm nhạc Việt Nam.

Và có lẽ còn một nguyên nhân không kém phần quan trọng nữa là để gặp lại “Diễm xưa”, người phụ nữ đã tạo nên nguồn cảm hứng bất tận cho nhiều tình ca bất tử của Trịnh Công Sơn, trong đó có bài Diễm xưa. Bà Diễm từ Mỹ trở lại Huế để làm từ thiện, thăm lại bạn bè và được sống trong hoài niệm.

Bước sang tuổi 67, Diễm vẫn mang vẻ đẹp dịu dàng, đài các của cô gái Huế gần 50 năm về trước. Bà ngồi đó, bên cạnh những người bạn thân của Trịnh Công Sơn như dịch giả Bửu Ý, nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân… từng chứng kiến mối tình đẹp của chàng nghệ sĩ lãng tử họ Trịnh và người đẹp nữ sinh Đồng Khánh năm xưa. (theo Phan Nguyên Luân… thực hiện)

LỜI BÀN CỦA HIỆP SĨ MÙ : Nói về giai đoạn Trịnh Công Sơn gập được Bích Diễm. Thật ra TCS lúc này vẫn còn là con số không to tướng trong làng tân nhạc miền Nam bấy giờ. Mặc dù ca khúc “Diễm Xưa” được Trịnh Công Sơn sáng tác đã lâu từ Huế, nhưng đến năm 1960, người ta mới biết đến bài “Diễm Xưa” của nhạc sĩ họ Trịnh đang do Khánh Ly trình bày trên sân cỏ quán cà phê Văn, sau Đại học Văn Khoa Sài Gòn.

Nên bài viết trên chắc rằng cô Bích Diễm ngày xưa chỉ quen với Trịnh Công Sơn mà không có chút tơ tưởng chút tình nào (nếu có thì sau 1960, cô Diễm đã ra mắt mọi người). Chỉ sau khi cô Diễm đi du học, bấy giờ Trịnh Công Sơn mới bộc bạch trường hợp sang tác ca khúc “Diễm xưa” khi được báo chí phỏng vấn.

Nhưng không chỉ có Bích Diễm, còn Dao Ánh, Nga Mi – người đẹp trong gia đình bốn chị em tên Mi, Lưu Thị Kim Đính v.v… đều là “người tình trong mộng” của Trịnh Công Sơn. Nhưng Khánh Ly lại là người phụ nữ có một vị trí đặc biệt trong sự nghiệp âm nhạc của Trịnh Công Sơn. Tuy nhiên… tất cả vỡ mộng chỉ vì chàng nhậc sĩ “hào hoa” ấy không thể lấy ai.

AI LÊN XỨ HOA ĐÀO…

– Nguyễn Ngọc Chinh

Khoảng thập niên 60, không ít người miền Nam trong một phút ngẫu hứng nào đó đã thả hồn theo lời ca tiếng nhạc của một bài hát rất thịnh hành :

Ai lên xứ hoa đào dừng chân bên hồ nghe chiều rơi.

Nghe hơi giá len vào hồn người chiều xuân mây êm trôi

Ai lên xứ hoa đào đừng quên bước lần theo đường hoa

Hoa bay đến muôn người, ngại ngần rồi hoa theo chân ai…

Xứ hoa đào là một trong những tên gọi Đà Lạt mà nhạc sĩ Hoàng Nguyên đã thi vị hóa Paris Nhỏ hay Thành phố Hoa… Tuy nhiên, hoa đào trên Đà Lạt không phải là loại anh đào trắng (sakura) của Nhật, cũng không phải là cây đào có quả mà ta gọi là đào lông. Người Đà Lạt gọi đó là cây mai nhưng lại không phải là mai vàng thường thấy ở miền Nam.

Mai Đà Lạt nở rộ vào dịp Giáng sinh và Tết. Mai Đà Lạt không rực ánh vàng như những cây mai mừng xuân thường thấy được trang trí ở Sài Gòn. Mai Đà Lạt có nhụy phơn phớt hồng pha lẫn cánh hoa màu hồng phấn, cũng chẳng giống hoa đào Nhật Tân Hà Nội vốn thuộc loại đào lông.

Đà Lạt ngày xưa, suốt con dốc từ cầu Ông Đạo lên khu Hòa Bình, cứ vào cuối tháng 12 cây mai nở rộ hai bên đường để báo hiệu mùa xuân đã về. Quanh hồ Xuân Hương những gốc mai già trụi lá cũng bắt đầu trổ bông khiến Đà Lạt nhuộm một mầu hồng nhạt hơn màu xác pháo như nhắc mọi người ngày Tết sắp đến.

Sau thời gian hoa mai nở rộ, cây bắt đầu đâm chồi xanh và trên cành xuất hiện những chùm trái tím đỏ. Trái mai rụng đầy dưới gốc và nằm yên ở đó cho đến khi hòa vào lòng đất. Trái mai đắng ngắt nên cả đến bọn trẻ cũng chê vì ăn chẳng được và thế là mai trở nên ‘bất khả xâm phạm’ cho đến khi hóa thân, hòa quyện với đất.

Điều đáng buồn là những cội mai già theo thời gian đã từ từ biến mất khỏi Đà Lạt khiến những người ‘yêu’ Đà Lạt cảm thấy như mất đi cái gì đó mỗi khi trở lại chốn xưa. Đà Lạt cũng kém vui khi thiếu những cánh mai hồng của ngày nào. Biết vậy… nhưng chẳng biết làm sao.

Đà Lạt không hổ danh với tên gọi Thành phố Hoa. Thôi thì đủ loại hoa với đủ các giống, trăm hồng nghìn tía. Có một loài hoa dại mà có lẽ chỉ người gốc Đà Lạt mới để ý: hoa Cúc quỳ, còn gọi là hoa hướng dương dại hay nên thơ hơn là hoa Dã quỳ.

Dã quỳ thường nở vàng bờ dậu hoặc ven đường. Thật ra loài hoa này chẳng ai trồng chứ nói chi đến việc bỏ công chăm sóc. Vò lá Dã quỳ trong tay và đưa lên mũi ngửi ta thấy mùi hăng hắc, khó chịu… nhưng ngắm hoa dại nở rộ một màu vàng tươi lại khiến lòng vui một niềm khó tả.

Cũng có màu vàng như Dã quỳ nhưng nhạt hơn và nhỏ hơn là những cành Mimosa mà có người bảo đây là loài hoa tượng trưng cho những mối tình chớm nở. Lại có ý kiến cho rằng Mimosa nói lên một tình yêu thầm kín hay tượng trưng cho một vẻ đẹp khiêm tốn.

Có thể ai đó nghĩ rằng những nụ hoa Minosa có hình cầu giống hoa trinh nữ nên mới thi vị hóa Mimosa là Trinh nữ Hoa vàng. Các cô gái Đà Lạt đang yêu thường ép Minosa vào trang sách cũng tựa như ép lá thuộc bài để mong mọi chuyện sẽ thuận lợi cả trong tình yêu lẫn chuyện học hành (?). Hoa Mimosa rất thơm nhưng lại có rất nhiều phấn nên những ai bị dị ứng với phấn hoa chắc chắn sẽ tránh xa loài hoa này.

Đà Lạt còn rất nhiều loài hoa với những cái tên thật đặc biệt. Forget-me-not, thuộc họ myosotis, còn được gọi là hoa lưu ly, với thông điệp đừng quên tôi nhé. Hoa tigôn qua bài thơ nổi tiếng của TTKH được thi vị hóa qua hình ảnh… hoa dáng như tim vỡ. Cái tên hoa hồng Brigitte Bardot lấy hình tượng của cô đào BB với cặp môi lúc nào cũng như mời gọi nụ hôn…

Lại có những loài hoa mang những cái tên thật dân giã. Đà Lạt có một loại dây leo người ta thường gọi là bìm bịp, đây là loại cây mọc hoang nhưng lại có hoa rất đẹp, màu tím nhạt tựa như loa kèn. Tôi còn nhớ ngày còn nhỏ thường cắt dây leo bìm bịp thành những đoạn ngắn để làm ‘đạn’ bắn ná thung. Đạn bằng dây bìm bịp bẻ cong hình chữ U khi bắn trúng người cũng đau thấm thía…

Có một loại giây leo mang tên mát mát hay mác mác cho hoa màu tím nhạt và trái non màu xanh, khi chín biến sang màu tím than. Bên trong ruột của trái mát mát là những hột nhỏ màu cam có vị chua chua. Trái mát mát ở Đà Lạt ngày nay được còn được gọi là chanh dây (passion fruit) hoặc chanh leo rất phổ biến trong công nghiệp nước giải khát.

Sẽ là một thiếu sót lớn khi nói đến hoa Đà Lạt mà không đả động gì đến hoa lan. Từ xưa đến nay, lan vẫn được biết đến như một loài hoa quý phái, hoa của các bậc vua chúa vương giả. Bố tôi thưở còn sinh thời cũng là một người mê lan đến độ mẹ tôi nhiều lúc phải… bực mình vì thú vui tao nhã của ông.

Vào thập niên 60 nhà tôi có hẳn một vườn lan ở Đà Lạt. Bố tôi dành hết thì giờ cho lan, chỉ để chiêm ngưỡng chứ không hề bán. Ngược lại, ông mua rất nhiều lan của người Thượng để bộ sưu tập của mỗi ngày một phong phú. Ông còn tổ chức các buổi vào rừng để tự săn tìm lan cùng với người Thượng.

Dụng cụ đi rừng của ông chỉ có búa để đóng những cái đinh dài từ 15 đến 20 phân lên thân cây làm bực thang trèo lên lấy lan. Sau đó dùng dây thòng cây lan xuống chứ không ném vì sợ cây và hoa bị dập! Đi săn thú trong rừng là chạy theo một mục tiêu di động trong khi đi lùng phong lan lại phải quan sát một mục tiêu cố định mằn ở trên cao.

Bố tôi bảo tìm được lan trong rừng là cái duyên may của từng người, có người đứng ngay dưới cây lan mà vẫn không ‘thấy’! Hôm nào kém ‘duyên’ ông tìm những khúc cây mục đem về để trồng lan!

Nhìn ông trau chuốt, lau từng chiếc lá của cây lan bằng bông gòn tẩm nước mới thấy một niềm đam mê đặc biệt. Chính sự đam mê này đã khiến những người thích phong lan gần gũi với nhau hơn, bất kể ranh giới xã hội, bất phân giàu nghèo.

Tướng ‘Big’ Minh cũng là người mê chơi lan, dinh của ông ở Sài Gòn còn được gọi là Dinh Hoa Lan. Mỗi khi lên Đà Lạt ông thường ở tại nhà số 7 Lê Thái Tổ (Câu lạc bộ của Ngự Lâm Quân), số 9 ở ngay bên cạnh là Trung tâm Thực nghiệm Lâm sản có một vườn lan và xuôi dốc khoảng 50m là vườn lan của bố tôi ở số 9/1 Lê Thái Tổ.

Hễ có mặt ở Đà Lạt, Tướng Minh thế nào cũng ghé vườn lan 9/1, chỉ để ngắm hoa. Tôi biết mặt Đại úy Nhung, sĩ quan tùy viên của Tướng Minh mỗi khi ông ghé thăm vườn từ những năm 60s… Sau này, ông Nhung là người được coi như có liên quan đến việc ám sát Tổng thống Ngô Đình Diệm trong thiết vận xa M113 năm 1963.

Hoa lan ở Đà Lạt có trên 200 loài, trong đó có 5 loài được phát hiện lần đầu tiên trên thế giới được mang tên Đà Lạt hay Langbiang. Lan Đà Lạt được xếp thành 3 loại chính: thổ lan (lan mọc dưới đất), thạch lan (lan mọc trên đá) và phong lan (lan cộng sinh mọc trên thân của những cây khác).

Ở Việt Nam, theo các tài liệu lưu hành, hoa lan được biết đến và trồng dưới thời vua Trần Anh Tông (1258-1293). Hầu hết các đề tài nghiên cứu về hoa lan Việt Nam đều do các nhà khoa học người nước ngoài thực hiện. Mới đây, qua bộ sách Cây cỏ miền Nam Việt Nam của GS. Phạm Hoàng Hộ đã liệt kê và bổ sung thêm các loài phong lan nâng tổng số lan có ở Việt Nam lên 755 loài.

Lan được đặt tên theo hình dáng và màu sắc của hoa. Có những cái tên nghe rất văn vẻ như bạch hạc, nhất điểm hồng, thủy tiên, tiên hài, hàm lân, kim điệp, long tu, hoàng lan, hạc đính, giáng hương… cũng có những tên rất dân giã như bò cạp, gấm đất…

Có nhà nghiên cứu nào đó đã ghép tên 24 loại hoa lan thành một bài thơ mang âm hưởng thơ Đường luật, thất ngôn bát cú :

Ngọc điểm, Long tu, Nhất điểm hồng

Mặc lan, Ý thảo, Tục đoạn lông

Huyết nhung, Phượng vĩ, Hàm lân cứng

Hạc đính, Hoàng long, Thanh đạm trung

Trân châu, Gấm đất, Chu đinh tím

Bạch diệp, Luân trần, Mao Tuyết nhung

Dã hạc, Giáng hương, Hồng câu thảo

Thủy tiên, Hạc vĩ, Bạch huệ đồng”. (theo Nguyễn Ngọc Chính)

Yên Huỳnh tổng hợp chuyển tiếp

GIẢI THANH TÂM VÀ KIM KHÁNH

GIẢI KIM KHÁNH NGHỆ THUẬT

– Bài Nguyễn Việt

Vào thời Đệ nhất Cộng Hòa ở miền Nam (khoảng đầu thập kỷ 60 thế kỷ trước), ký giả Trần Tấn Quốc chủ nhiệm báo Tiếng Dội (sau tái bản có tên báo Đuốc Nhà Nam, thời kỳ này không còn Giải Thanh Tâm nữa) cho ra đời Giải Thanh Tâm, chỉ trao giải thưởng cho những nghệ sĩ bên sân khấu cải lương, do vào thời gian đó sân khấu cải lương đang hưng thịnh hơn cả ngành điện ảnh và sân khấu ca nhạc kịch. Giải Thanh Tâm là một giải thưởng nghệ thuật đánh giá đúng đắn về tài năng nghệ sĩ với mục đích phát huy nền văn hóa nghệ thuật nói chung sân khấu cải lương nói riêng.

Đến thời Đệ Nhị Công Hòa, từ cuối năm 1972 tờ nhật báo Trắng Đen đi theo con đường Đuốc Nhà Nam qua Giải Thanh Tâm, cho ra đời Giải Kim Khánh Nghệ Thuật, nhưng hình thức tổ chức lại khác biệt.

Tờ Trắng Đen có chủ trương, mời đọc giả tham dự cuộc thi bằng hình thức điền tên nghệ sĩ mà mình hâm mộ yêu thích vào phiếu tham dự để đề cử, rồi gửi về tòa báo chờ kiểm phiếu. Nghệ sĩ nào có số phiếu cao nhất sẽ được trao tặng từ Huy chương vàng đến huy chương bạc và đồng. Riêng đọc giả dự đoán trúng hoặc gần trúng với tổng số phiếu tham dự, được nhận giải thưởng bằng hiện kim.

Giải Kim Khánh có danh hiệu dành cho các nghệ sĩ đoạt giải mang những tên gọi như, về Điện ảnh là Ảnh Hậu, Ảnh Đế theo danh từ điện ảnh Hong Kong thường bầu chọn. Tân nhạc có Giọng ca vàng hay bên cải lương được mệnh danh là Cải lương chi bảo v.v… ngoài ra có những giải trao cho Quái kiệt sân khấu, nhạc phẩm đang thịnh hành, phim VN hay nhất, đạo diễn xuất sắc nhất, và các tài năng mới được ưa chuộng nhất v.v…

Chính vì hình thức đọc giả tham gia bỏ phiếu, có một số tên tuổi đang lu mờ phải cần đến Giải Kim Khánh, họ cắt phiếu điền tên để được hàng ngày có tên trên mặt báo qua những bài tường thuật sau những buổi kiểm phiếu nhằm giúp đọc giả đánh giá và tham khảo.

Lúc đó người viết là thư ký thường trực của Giải Kim Khánh Nghệ Thuật, trong một Hội đồng Giám Sát nhưng không có chức năng Giám khảo, nói đúng hơn chỉ làm nhiệm vụ quan sát và tiện liên hệ với các nghệ sĩ theo ngành nghề của mình. Chủ khảo tức chủ nhiệm báo, còn các vị khác gồm các ký giả như Thiên Hà, Quỳnh Như, Ngọc Hoài Phương và các người viết phụ trách bộ môn Điện ảnh – Tân nhạc; ký giả Trọng Viễn, Huy Trường, soạn giả Trần Hà, thi sĩ Cẩm Thi Lý Dũng Tâm coi về bộ môn Cải lương; ký giả Phong Vân, Hoài Ngọc làm phụ tá cho chủ khảo, cùng với soạn giả Duy Lân và ông Tam Mộc nguyên chủ nhiệm báo Buổi Sáng làm cố vấn.

Người viết được ông chủ khảo phân công dự kiến các nghệ sĩ sẽ đoạt giải như vòng sơ tuyển, sau đó Ban Giám Sát sẽ bình chọn như vòng chung kết. Cuối cùng danh sách cũng đã có, nhìn chung có giá trị về chất lượng khi công bố giải thưởng cho các nghệ sĩ trúng giải.

Dự kiến sơ lược gồm :

Các giải về điện ảnh :

– Ảnh hậu : Thẩm Thúy Hằng, Kim Cương, Thanh Nga

– Ảnh đế : Trần Quang, Huỳnh Thanh Trà, Hùng Cường, Thành Được (Thành Được đóng một hai phim như Chiếc Bóng Bên Đường của Kim Cương).

– Nữ tài tử nhiều triển vọng : Lệ Hoa, Như Loan

– Đạo diễn : Lê Dân, Bùi Sơn Duân, Lê Mộng Hoàng. Lê Hoàng Hoa

– Phim được yêu chuộng nhất : Như giọt sương khuya, Loan Mắt Nhung, Vết thù trên lưng ngựa hoang, Anh Yêu em.

Các giải về tân nhạc :

– Nữ ca sĩ : Thanh Thúy, Khánh Ly, Lệ Thu, Mai Lệ Huyền

– Nam ca sĩ : Elvis Phương, Nhật Trường, Thái Châu

– Nhạc phẩm được yêu thích nhất : Hàn Mặc Tử của Trần Thiện Thanh, Bao giờ biết tương tư của Ngọc Chánh, Mai của Quốc Dũng, Rước tình về với quê hương của Hoàng Thi Thơ.

– Ban nhạc được ưa thích nhất : Shotguns, Phạm Mạnh Cương, Phượng Hoàng, Mây Trắng.

Các giải về thoại kịch :

– Nam kịch sĩ : La Thoại Tân, Vân Hùng, Ngọc Phu

– Nữ kịch sĩ : Kim Cương, Thẩm Thúy Hằng, Túy Hồng

Các giải sân khấu cải lương & hồ quảng :

– Nữ nghệ sĩ cải lương : Bạch Tuyết, Thanh Kim Huệ, Thanh Nga, Phượng Liên.

– Nam nghệ sĩ cải lương : Hùng Cường, Thành Được, Thanh Tú, Dũng Thanh Lâm

– Nữ nghệ sĩ Hồ Quảng : Bạch Lê, Thanh Thế, Bạch Mai

– Nam nghệ sĩ Hồ Quảng : Thanh Bạch, Bửu truyện, Đức Lợi

– Quái kiệt sân khấu : Thanh Việt, Phi thoàn, Tùng Lâm, Văn Chung, Bảo Quốc

– Nữ quái kiệt sân khấu : Kim Ngọc, Kiều Mai Lý, Mỹ Chi, Diễm Kiều

HĐGK Giải Kim Khánh Nghệ thuật sẽ qua danh sách dự kiến trên đều không muốn ai bị loại, bởi những nghệ sĩ đều “kẻ tám lạng người nửa cân”. Nhưng vì giải thưởng cho mỗi đề mục có giới hạn về huy chương vàng, bạc, đồng nên chỉ có từ một đến ba người đoạt giải cho mỗi bộ môn.

Kết thúc cuộc thi các giải thưởng được trao tặng :

Về Điện ảnh :

– Ảnh hậu : Thẩm Thúy Hằng, Ảnh đế :Trần Quang

– Tài tử nhiều triển vọng : Lệ Hoa

– Phim được ái mộ nhất : “Như giọt sương khuya” của hãng Việt Ảnh do Bùi Sơn Duân giám đốc sản xuất kiêm đạo diễn; với tài tử Bạch Tuyết, Trần Quang)

– Đạo diễn xuất sắc : Bùi Sơn Duân

Về Tân Nhạc :

– Nữ ca sĩ : Thanh Thúy – Nam ca sĩ : Elvis Phương

– Ban nhạc được mến chuộng : Ban Shotguns do Ngọc Chánh làm trưởng ban, cùng Cao Phi Long, Hoàng Liêm, Đan Thọ, Tuấn trống

– Nhạc phẩm được ưa thích nhất : Mai của Quốc Dũng

Về Thoại kịch :

– Nữ nghệ sĩ : Kim Cương – Nam nghệ sĩ : La Thoại Tân

Về Quái kiệt :

– Bên thoại kịch : Thanh Việt – Mỹ Chi

– Bên Cải lương : Văn Chung – Kim Ngọc

Về Cải Lương :

– Nam nữ “Cải lương chi bảo” : Hùng Cường – Bạch Tuyết

– Nam nữ nghệ sĩ Hồ Quảng : Thanh Bạch – Bạch Lê

Một danh sách phù hợp với sự bỏ phiếu, được trao cho những nghệ sĩ hiện đang thành đạt nhất lúc đó, chỉ có một vài giải có hơi chệch choạc, như nhạc phẩm Mai của Quốc Dũng so với những nhạc phẩm của Trần Thiện Thanh, Lam Phương, Mạnh Phát, Hoàng Thi Thơ lúc bấy giờ thật không thể sánh là được ưa thích nhất.

Hay phim Như giọt sương khuya của Bùi Sơn Duân đã chiếu cách đó vài năm so với phim Xóm Tôi của đạo diễn Lê Dân mới xứng đáng, do các phim của Lê Dân hiện đang ăn khách. Nhưng Ban Giám Sát phải tôn trọng ý kiến đọc giả đã bình chọn.

Giải Kim Khánh Nghệ Thuật tổ chức được hai lần. Năm 1973 là lần đầu tiên trao giải thưởng tại rạp Quốc Thanh trên sân khấu của đoàn cải lương Hùng Cường – Bạch Tuyết (năm đó Phượng Liên cũng ở trong đoàn, đoạt Huy Chương Bạc nhưng không ra nhận giải vì cho rằng mình nổi tiếng mà chỉ về nhì); năm thứ hai 1974 được tổ chức làm hai buổi, đêm đầu ở nhà hàng Champions góc đường Trần Hưng Đạo – Nguyễn Khắc Nhu bây giờ. Đêm sau trao giải Huy chương vàng tại nhà hàng Maxim’s nằm trên đường Tự Do.

Tượng vàng và các loại huy chương do họa sĩ Nguyễn Tăng của đoàn Dạ Lý Hương thiết kế tạo mẫu, được mạ vàng 24K rất giá trị. Nói chung Giải Kim Khánh Nghệ Thuật có tiếng vang từ các giới nghệ sĩ từ điện ảnh, tân nhạc, thoại kịch và cải lương cho đến người hâm mộ bộ môn nghệ thuật bấy giờ.

Những năm đó báo Trắng Đen còn tổ chức những giải thưởng khác như Giải Kim Khánh Khiêu Vũ, như tại các nhà hàng khiêu vũ trường Nam Đô của ông Võ Văn Ứng (một mạnh thường quân trong làng thể thao) đang do Phương Hồng Quế khai thác, đến Tự Do của ông Nguyễn Văn Cường, Maxim’s của ông Diệp Bảo Tân, International của Ngọc Chánh – Thanh Thúy, QueenBee của ông Tuất v.v…

Giải thưởng khiêu vũ này rất được mọi người đăng ký tham dự cũng như khán giả đến thưởng ngoạn đông đảo để nhìn từng cặp lã lướt trên sàn nhảy qua những điệu nhạc từ slow đến samba đầy sôi động, hoặc nhìn những cặp biểu diễn khiêu vũ tung ném (acrobatic) qua các điệu tango, chachacha, bebop… từ một đến hai ba đào. Hai đứa con của vũ sư Nguyễn Trọng là Nguyễn Hưng – Ánh Mai cũng biểu diễn không kém những đàn anh đàn chị, hay những “nam nữ đệ tử” trong lò dạy nhảy của bà Jackie khiến mọi người luôn phải khen ngợi…

Băng nhạc Phát Thưởng Giải Kim Khánh

Sau khi phát giải Kim Khánh năm 1974, ban tổ chức có cho sản xuất một musictape lấy tên “Đại hội Phát Thưởng Giải Kim Khánh” qua hai loại băng lớn và nhỏ.

Cuốn băng nhạc này do cơ sở Nguồn Sống của nhạc sĩ Ngọc Chánh ban Shotguns thực hiện, tại phòng thu âm của Pat Lâm trên đường Á Nam Trần Tuấn Khải Q5 gần chợ Hòa Bình. Sản xuất mỗi loại 1.000 băng, do kiosque Khai sáng nằm ở 91 ter Công Lý (dưới nhà hàng vũ trường International Quốc Tế) độc quyền phát hành, mà chủ nhân là bà Phúc vợ nhạc sĩ Ngọc Chánh phụ trách.

Trên những trang web chỉ đề cập khoảng 10 nhạc phẩm như

– Tôi Muốn của Nguyễn Trung Cang : Elvis Phương, – Tình Vỗ Cánh Bay của Anh Sơn : Thanh Thúy, – Mai do chính Quốc Dũng tác giả trình bày,

– Cucurrucucu :- Cao Thái, – Tiếc Thương (Donna, Donna lời Việt của Tuấn Dũng) : Thanh Châu (em Thanh Thúy);

Hay cặp Hùng Cường – Mai Lệ Huyền với một ca khúc kích động v.v… phần hòa âm của Lê văn Thiện, phần nhạc đệm do ban Shotguns đãm trách; cùng nhiều bài tân cổ giao duyên do Thanh Sang – Bạch Tuyết, Cải lương Hồ Quảng với cặp Thanh Bạch – Bạch Lê trình bày do dàn nhạc của Đức Phú, Văn Vĩ, Bảy Bá…

Theo dư luận bấy giờ cuốn băng được nhiệt liệt tán thưởng. Trước ngày 30/4/1975 đang được yêu cầu tái bản loại băng cassette thì miền Nam đã đổi chủ, mọi sinh hoạt đều ngưng hoạt động, vì thế không thể tái bản.

NHỮNG GIẢI THƯỞNG KHÁC

Năm 1974 nhóm Thân Hữu Ký Giả Điện Ảnh Tân Nhạc cũng tổ chức giải thưởng điện ảnh lấy tên cố tài tử lão thành Lý Quốc Mậu, hình thức tổ chức như Giải Thanh Tâm, tức thành lập một hội đồng duyệt xét các giải thưởng nhằm trao cho các nam nữ tài tử đang hoạt động, gồm các ký giả chuyên mục điện ảnh kịch trường trên các báo như Huy Vân, Văn Lương, Thiên Hà, Quỳnh Như, Đặng Tường Vi, Trần Quân, Phạm Hồng Vân, Nguyễn Toàn, Tương Giang, Huy Trường, Phi Sơn, Ngọc Hoài Phương, Trọng Minh… cho hai bộ môn điện ảnh và tân nhạc

Giải thưởng Lý Quốc Mậu đặt dưới sự bảo trợ của Nghiệp đoàn khai thác điện ảnh VN (lúc đó NĐ này có nhiệm vụ chia quota xuất nhập phim ảnh cho các hãng phim có môn bài 13 – thời chính quyền cũ ngành xuất nhập cảng được chia thành 18 ngành, nơi nào được cấp loại môn bài nào thì được chia quota theo tỉ lệ loại đó qua vốn đã đăng ký, để không dẫm chân hay tranh thương lẫn nhau). Ngoài ra còn có sự bảo trợ của hãng phim Mỹ Vân của ông Lưu Trạch Hưng, hãng phim Lido của Quách Thoại Huấn v.v.. việc bảo trợ của các nơi trên được thỏa thuận mang tính không vụ lợi.

Tiếc rằng giải thưởng đã hình thành được cái sườn, chỉ chờ dịp lễ lớn trong năm 1975 thì công bố, nhưng 30/4/75 miền Nam đã phải đình đốn lại tất cả.

Nguyễn Việt

ĐƯỜNG ĐẾN GIẢI THANH TÂM

NĂM ĐẦU TIÊN

THANH NGA NHẬN HUY CHƯƠNG

Dư luận xôn xao về việc Thanh Nga đoạt giải Thanh Tâm : Huy chương vàng diễn viên nhiều triển vọng 58, bằng danh dự diễn viên xuất sắc liên tục 2 năm 59 và 60. Giải Thanh Tâm do nhà báo kỳ cựu Trần Tấn Quốc thành lập năm 1958, giành cho diễn viên nhiều triển vọng trên sân khấu cải lương và Thanh Nga đoạt giải đầu tiên qua vai Sơn nữ Phà Ca trong tuồng Người vợ không bao giờ cưới của soạn giả Kiên Giang (Hà Huy Hà) năm mới 16 tuổi.

Có một điều trùng hợp khá lạ kỳ, năm đầu tiên của giải Thanh Tâm cũng là vai diễn đào chánh đầu tiên của Thanh Nga trên sân khấu và người nữ nghệ sĩ trẻ này đã nhanh chóng nhận được giải thưởng với danh dự lớn lao. Do đó có nhiều dư luận xôn xao từ bên ngoài, nào là giải Thanh Tâm chuẩn bị cùng lúc với đoàn Thanh Minh bắt đầu “lăng xê” tên tuổi cho Thanh Nga, nào là bà bầu Thơ ngấm ngầm vận động Ban giám khảo chấm điểm cho Thanh Nga đoạt giải.

Cả trong giới nghệ sĩ cũng có nhiều tiếng xì xầm không hay, cho rằng Thanh Nga là đệ tử của nữ nghệ Kim Cúc, mà Kim Cúc lại là vợ của Chủ tịch Hội đồng giám khảo, tức nghệ sĩ lão thành Năm Châu, do đó giải Thanh Tâm nhất định phải về tay của Thanh Nga.

Nghệ sĩ kiêm soạn giả Năm Châu là người có uy tín rất lớn và được giới nghệ sĩ vô cùng kính trọng, vậy mà chỉ vì giải Thanh Tâm đã làm tổn thương ít nhiều đến danh dự của ông. Tuy nhiên, ông rất điềm đạm bình tĩnh trong việc ứng xử, tuyên bố ngắn gọn với giới báo chí về mục tiêu cơ bản của giải Thanh Tâm nhắm vào những diễn viên trẻ, có đầy đủ điều kiện và triển vọng trong tương lai đối với sân khấu cải lương.

Nếu những ai đề cử một diễn viên trẻ nào khác ở bất cứ sân khấu nào, có đủ điều kiện và tài năng hơn Thanh Nga, ông sẵn sàng đề nghị Hội đổng giám khảo đến tận nơi xem hát để chấm điểm và tuyển chọn thay thế Thanh Nga nhận giải Thanh Tâm.

Nhưng rồi sau đó, không nghe ai đề cử một diễn viên trẻ nào khác và dư luận cũng lắng chìm theo thời gian. Công bằng mà nhận xét, trước mỗi lần tuyển chọn diễn viên để phát giải Thanh Tâm đều có sự vận động ngấm ngầm của một số bầu ở các đoàn hát. Vì khi đoàn hát nào có diễn viên đoạt giải thì số thu ở đoàn hát đó sẽ tăng lên gấp bội, khán giả tò mò muốn xem diễn viên vừa đoạt giải tài năng như thế nào ?

Riêng về giải Thanh Tâm đầu tiên, Thanh Nga được Hội đồng giám khảo tuyển chọn, dù dư luận thế nào đi nữa thật sự rất xứng đáng và công bằng. Vì trong thời kỳ ấy không thể tìm được một diễn viên trẻ nào có đủ điều kiện về tài năng cũng như sắc vóc hơn Thanh Nga được.

Sau khi Thanh Nga đoạt giải Thanh Tâm, đoàn Thanh Minh thu hút khán giả càng lúc càng đông, sự ca diễn của cô đào trẻ Thanh Nga tiến bộ vượt bậc nhờ sự hướng dẫn tận tình của hai vị nghệ sĩ tiền bối Phùng Há và Kim Cúc. Nhưng niềm vui của đoàn Thanh Minh chưa trọn vẹn thì ông bầu Năm Nghĩa lâm trọng bệnh và qua đời tại nhà thương Grall năm 1959. Bao nhiêu trách nhiệm nặng nề trong việc điều hành đoàn Thanh Minh từ nay đều do bà bầu Thơ đảm nhận, với sự hỗ trợ của Ban cố vấn gồm các soạn giả : Kiên Giang, Nguyễn Phương, Lê Khanh.

Năm 1960 đoàn Thanh Minh sửa bảng hiệu lại thành đoàn Thanh Minh Thanh Nga. Cũng trong thời gian này giải Thanh Tâm mở rộng thêm, song song với huy chương vàng giải diễn viên trẻ nhiều triển vọng còn cấp thêm bằng danh dự cho diễn viên xuất sắc trong năm. Và Thanh Nga liên tục đoạt bằng danh dự diễn viên xuất sắc luôn 2 năm 59 và 60.

Nhìn ở một góc cạnh nào đó, một số người cho rằng Thanh Nga đoạt bằng diễn viên xuất sắc rất xứng đáng, nhưng cũng có một số người đánh giá là thiếu công bằng, quá thiên vị và bênh vực đoàn Thanh Minh, cũng như cá nhân Thanh Nga. Vì ở những đoàn hát khác, còn rất nhiều nghệ sĩ ca diễn xuất sắc, tên tuổi lẫy lừng nhưng không được quan tâm đúng mức.

Ai đúng ai sai, chỉ có nhận xét của khán giả là thật sự trong sáng và công bằng nhất.

Chuyện đời

Từ lúc 10 tuổi, Thanh Nga bắt đầu ca vọng cổ phụ họa và rất thành công trên sân khấu đoàn Thanh Minh, do nghệ sĩ Năm Nghĩa – dưỡng phụ của Thanh Nga làm bầu gánh (vì Thanh Nga là con riêng của bà bầu Thơ, là em cùng cha khác mẹ với bà Lợi chủ hãng phim Cosunam thời trước 1975).

Nhờ nhạc trưởng Út Trong của đoàn Thanh Minh rèn luyện cho nhiều bài bản cổ nhạc, Thanh Nga được khán giả hoan nghênh nhiệt liệt khi mới 8 tuổi, bắt đầu chính thức diễn trên sân khấu qua vai đào con trong các vở tuồng như Phạm Công – Cúc Hoa, Đồ Bàn di hận, Lửa hờn… Biệt hiệu “Thần đồng Thanh Nga” có từ giai đoạn này. Rèn luyện được chín muồi, cô đào “nhí” này bước vào vai chính đầu tiên lúc 16 tuổi là vai sơn nữ Phà Ca trong tuồng Người vợ không bao giờ cưới của soạn giả Kiên Giang Hà Huy Hà

Những nghệ sĩ bậc thầy như Năm Châu, Phùng Há, Kim Cúc, cô Ba Thanh Loan đã nỗ lực dìu dắt Thanh Nga. Với sắc đẹp dịu dàng, quyến rũ cùng lối ca diễn truyền cảm đặc biệt, người nữ nghệ sĩ này đã gây ấn tượng sâu đậm trong tâm hồn giới mộ điệu qua những vai kế tiếp như Xuân Tự trong tuồng Áo cưới trước cổng chùa, Giáng Hương trong Sân khấu về khuya, Diệp Thúy trong Đôi mắt người xưa, Uyên trong Ngã rẽ tâm tình, Trinh trong Con gái chị Hằng, Mía trong Bọt biển…

Từ vai diễn đầu tiên – Nghi Xuân trong vở Phạm Công Cúc Hoa, 8 năm sau  bắt đầu được biết tới với vai Phà Ca trong Người vợ không bao giờ cưới, Thanh Nga đã làm cho khán thính giả xúc động theo mối tình ngang trái của nàng Phà Ca và chàng Kiểu Mộng Long – con của sứ quân Kiểu Thuận ở đất Sơn Tây. Chính lối ca chân phương, cách diễn thật thà, chân chất đã đưa Thanh Nga bước thẳng đến đài vinh quang, trở thành nghệ sĩ đoạt huy chương Vàng đầu tiên của giải Thanh Tâm, khi tuổi mới 16 tuổi. Có lẽ khó ai ca diễn hay hơn nữ nghệ sĩ tài danh và hồng nhan nhưng bạc mệnh này khi vào những vai phụ nữ có cảnh đời ngang trái.

Rồi Thanh Nga trở thành một trong những diễn viên xuất sắc ở miền Nam và là “diễn viên xuất sắc nhất” tại Đại hội Điện ảnh Á châu tổ chức năm 1973 tại Đài Bắc, là đại diện gương mặt nữ duy nhất trong đoàn tham dự Đại hội Điện ảnh Ấn độ năm 1969, được cố Thủ tướng Gandhi đón tiếp.

Với tài nghệ, vẻ đẹp đài các và thanh tú, Thanh Nga in đậm trong trí nhớ khán giả qua phim Loan mắt nhung của đạo diễn Lê Dân, dựa theo tiểu thuyết của nhà văn Nguyễn Thụy Long.

Thanh Nga lúc nhỏ có tên là Juilette Nga. Nếu giải Thanh Tâm đưa Phà Ca sáng lên như ngôi sao mới mọc (1958), thì cũng đưa vào đời một Thanh Nga bắt đầu biết mộng mơ, biết làm thơ. Và những lời đồn đại, cả giấy mực viết ra là có thật về chuyện Thanh Nga có người yêu đi vào chiến khu, tâm đầu ý hợp với anh chàng bạn diễn Út Hậu, hay mối tình của Thanh Nga và soạn giả Hà Triều năm lên 18…, mối tình thầm kín của Hữu Phước dành cho Thanh Nga, đến ngày trở thành đôi tình nhân đẹp trên sân khấu với nghệ sĩ Thành Được, cuộc hôn nhân tan vỡ đầu tiên với người đàn ông tên Mẫn (một đại úy bên ngành Quân Cảnh Tư Pháp)…

Hồng nhan bạc phận,

Thanh Nga phải sống những ngày đoạn trường và đối mặt với dư luận cay nghiệt của một đời nghệ sĩ. Những rắc rối không đâu cứ ùa đến, có cả việc vu oan, tố cáo. Từ chỗ tưởng như ngã quỵ, Thanh Nga chỉ còn tình yêu sân khấu, thành công nối tiếp thành công đã giúp cô đứng lên với một người bạn bên cạnh, cả hai tay trong tay đến giờ phút cuối cùng trong cuộc đời, đó là Phạm Duy Lân (nguyên Đổng lý văn phòng Bộ Thông Tin trước 1975, nên có biệt hiệu Đổng Lân). Thanh Nga và chồng từng có những ngày rất hạnh phúc. Đổng Lân thương và rất thông cảm nghề nghiệp của vợ, ân cần động viên và góp ý cũng như hỗ trợ tinh thần cho Thanh Nga an tâm hoạt động nghề và thăng hoa với những vai diễn.

Đêm 26-11-1978, diễn xong vở cải lương “Thái hậu Dương Vân Nga” ở rạp hát Cao Đồng Hưng, nữ nghệ sĩ Thanh Nga bước lên chiếc xe hiệu Volkswagen sơn màu xám nhạt. Chiếc xe này đưa bà ra đi vĩnh viễn vào lúc 23 giờ khuya hôm ấy tại trước nhà trên đường Trần Hưng Đạo; sau phát súng quái ác của một kẻ lạ mặt nhắm vào bà. Viên đạn bắn trúng ngực trái, chưa xuyên ra sau lưng, nhưng đủ kết liễu sinh mệnh của bà năm 36 tuổi và Phạm Duy Lân chồng Thanh Nga cũng bị bắn chết trong xe ngay sau đó. Hàng vạn khán giả Sài Gòn, giới nghệ sĩ cải lương rơi nhiều nước mắt nhất, để khóc một tài hoa từng làm rạng rỡ vọng cổ nói chung.

Đồng nghiệp tiếc thương

Đưa tang Thanh Nga, nữ nghệ sĩ lão thành Phùng Há khóc : “Tôi khóc Thanh Nga còn vì một kỷ niệm sâu nặng. Một hôm, Thanh Nga tới nhà tôi, ôm lấy tôi mà nói : Má Bảy ơi, con đã xin phép má chồng con rồi, khi nào má Bảy qua đời con xin được để tang đủ lễ, theo nghĩa một đứa con ruột của má đẻ ra. Tôi không kìm được nước mắt trước tấm lòng Nga”.

Ngày Thanh Nga mất, rất nhiều người Sài Gòn đưa tang. Vậy mà người mẹ của Thanh Nga, bà bầu Thơ vẫn không để rơi một giọt nước mắt trước mặt mọi người. Bà bình tĩnh sắp xếp đám tang đâu vào đó, vẫn là trụ cột của căn nhà 4 tầng lầu nuôi cả đại gia đình ba thế hệ. Và xong đám, bà lãnh đạo đoàn lao vào tập tuồng ngay vì đoàn không thể đóng cửa, để ảnh hưởng đến đời sống anh em, và phụ lòng tin yêu của khán giả. Tập đúng tuồng Dương Vân Nga mà Thanh Nga đã thủ diễn, bấy giờ Kim Hương lên thay. Trái tim người mẹ ấy hẳn đã tan nát thế nào. Nhưng không ai thấy bà khóc, chỉ vài tháng sau, mái tóc từ màu đen bỗng chuyển sang bạc trắng.

Bạch Tuyết tâm sự : “Giấc mơ về chị vẫn luôn có trong tôi, từ ngày còn là một khán giả nhỏ. Năm 14 tuổi, tôi vẫn còn là cô học trò rất ngây thơ ở trường Đức Trí đã len lỏi trước bao khán giả để xin một tấm hình có chữ ký Thanh Nga. Đó là lần đầu tiên tôi được tiếp xúc với người nghệ sĩ mà mình yêu mến. Thật tuyệt vời, cả đêm tôi mất ngủ, cứ mơ màng nhìn thấy chị. Thời điểm đó, chị nổi tiếng lừng lẫy với các vở Người vợ không bao giờ cưới, Hoàng hậu mã nhi nương bửu…

Năm 1963, tôi đoạt HCV giải Thanh Tâm cùng nghệ sĩ Ngọc Giàu, Trương Ánh Loan, Diệp Lang, Thanh Tú, Tấn Tài. Thật bất ngờ, trên sân khấu Thanh Minh – Thanh Nga đã quyết định dàn dựng vở “Khói sóng Tiêu Tương” của tác giả Hà Triều Hoa Phượng, tập hợp toàn các nghệ sĩ vừa đoạt giải nhập vai.  Chị Thanh Nga vào vai tiểu thư Bàng Lộng Ngọc còn tôi đóng vai ca kỹ Thúy Mai.

Ngày tập tuồng, tôi chủ động gặp chị và nhắc lại lời khuyên của chị ngày nào, đồng thời đưa ra tấm hình mà tôi gìn giữ như một báu vật. Chị ngạc nhiên và cảm động lắm rồi vuốt tóc tôi bảo : “Phải ráng lên em, phải yêu nghề, sống chết với nghề thì mới thành công, phải luôn ơn nhớ tổ nghiệp”.

Còn nghệ sĩ Thanh Kim Huệ nói : “Ngày nhận được tin chị bị sát hại, tôi tức tốc chạy đến bệnh viện. Chị nằm đó như đang ngủ, tóc xoã dài, mặc nguyên bộ quần áo đỏ rất đẹp. Chị Nga mất, tôi hụt hẫng một thời gian dài, đêm nào cũng nằm mơ thấy chị. Sau năm 1975, tôi rời đoàn nên chị em ít có dịp gặp nhau, lúc đó tôi đã lập gia đình và tạo được tên tuổi cho mình. Có lần tôi diễn, chị còn mang một đống mũ đội đầu của nhân vật vào cho tôi chọn khiến tôi vô cùng cảm động.

Lần tôi sang Mỹ du lịch, gặp lại chồng cũ của Thanh Nga, tôi hỏi anh : “Đã sống đến 70 tuổi rồi, ngồi ngẫm nghĩ lại, anh thấy thương ai nhất ?”, anh đã trả lời : “Đến bây giờ, tôi thương Thanh Nga nhất, cô ấy là một nghệ sĩ có tâm tính hiền lành, trong sáng”.

Trời sinh Thanh Nga ra để làm nghệ sĩ, trong từng vai diễn của chị luôn toát ra sự đài các, sang trọng, rất tự nhiên chứ không cần phải diễn nhiều. Tôi học hỏi và ảnh hưởng ở chị trên sân khấu và ở ngoài đời là tấm gương về sự yêu thương và vị tha. Cho đến bây giờ, tôi vẫn luôn cố gắng không để lại tì vết nào như lời chị từng dạy: “Nghệ sĩ cần có một cái tâm trong sáng”.

Quế Phượng chuyển tiếp