TÌM HIỂU VỀ MẠI DÂM SÀI GÒN

LUẬN ÁN TIẾN SĨ

VỀ MẠI DÂM 

Kimberly Hoàng, tốt nghiệp tiến sĩ Xã hội học tại UC Berkeley năm 2011, đã được Hội Xã hội học Mỹ trao giải “luận án hay nhất” cho luận án tiến sĩ về mại dâm tại Việt Nam.

Luận án tựa đề Tính kinh tế của tình dục và chăn gối tại Việt Nam, là công trình 15 tháng nghiên cứu về dân tộc học tại TP Saigon; tại đây TS Kimberly Hoàng đã làm việc như một chiêu đãi viên tại bốn quán bar phục vụ cho các nhóm khách hàng khác nhau. Theo giáo sư xã hội học Berkeley Raka Ray, chủ tịch ủy ban luận án, nghiên cứu của Kimberly Hoàng “không những chỉ làm nổi bật là cấu trúc và cách hành nghề mại dâm ở Việt Nam mà còn giải thích mại dâm giữ vai trò quan trọng như tiền mặt trong nền kinh tế chính trị của Việt Nam.”

Trong lá thư đề cử, GS. Ray gọi luận án “Tính kinh tế của tình dục và chăn gối tại Việt Nam” là “một tác phẩm tuyệt vời” của “một nhà tư tưởng can đảm và sáng tạo” và ông nói thêm rằng TS. Hoàng “nghiên cứu điền dã ít người dám thực hiện”.

Kimberly Hoàng là con gái trong một gia đình di cư, chủ tiệm bi-da trong khu phố cũ, tốt nghiệp danh dự tại đại học UC Santa Barbara năm 2005 rồi lấy Thạc sĩ tại đại học Stanford trước khi đến học ở Berkeley. Hiện nay TS. Kimberly Hoàng là một nghiên cứu sinh sau tiến sĩ tại Trung tâm Nghiên cứu Giới tính, Phụ nữ và Tình dục tại Đại học Rice; TS. Hoàng sẽ giảng dạy tại Khoa Xã hội học tại Boston College vào năm 2013.

Giải thưởng của Kimbery Hoàng sẽ được trao vào tháng Tám tại cuộc họp thường niên của Hội Xã hội học Hoa Kỳ (The American Sociological Association, ASA).

TIỀN, SEX VÀ TÌNH YÊU

Nạn buôn người và sự liên hệ giữa HIV và mại dâm tại Việt Nam đã được nói đến nhiều. Mới tháng Sáu năm nay, Bộ Ngoại giao Mỹ ra báo cáo, đưa Việt Nam vào danh sách loại 2 (cần được theo dõi). Trên thế giới, cả người theo quan điểm bảo thủ lẫn tự do đều cố gắng quyên tiền, xây dựng các tổ chức phi chính phủ (NGO) để cứu những phụ nữ bị buôn bán qua biên giới hoặc bị bắt bán dâm.

Tuy vậy, sự tập trung quá mức vào vấn nạn buôn người ở Việt Nam khiến chúng ta có thể bỏ qua cuộc sống của những cô gái không bị ép làm nghề bán dâm. Bài viết của tôi muốn hé lộ cuộc sống của những phụ nữ tự nguyện làm nghề bán dâm ở Việt Nam, và quan sát những người đàn ông – địa phương và nước ngoài – hưởng thụ sex.

Khách hàng thay đổi

Trong thập niên đầu tiên kể từ sau Đổi mới 1986, nền kinh tế Việt Nam chứng kiến tiền kiều hối của Việt kiều tăng vọt. Ví dụ, thống kê năm 2005 của Ngân hàng Thế giới cho biết Việt Nam nhận gần 4 tỉ đôla kiều hối, chiếm 8% GDP đất nước. Luồng vốn và nhân lực nước ngoài đổ vào đất nước cũng gia tăng. Báo chí cũng tường thuật rằng đến năm 2009, nguồn vốn chủ yếu đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam đã chuyển từ Mỹ, châu Âu sang các nước châu Á như Đài Loan, Nam Hàn, Malaysia, Nhật Bản, Singapore.

Những thay đổi kinh tế vĩ mô này đã biến đổi cấu trúc nền kinh tế Việt Nam, và cũng ảnh hưởng cả ngành công nghiệp tình dục. Các khu vực mới trong ngành công nghiệp sex xuất hiện khi mà khách hàng nam giới cũng có những đổi thay về giai cấp và chủng tộc.

Ví dụ, giai đoạn 2006-07, tôi phát hiện rằng khách hàng trả tiền cao nhất chủ yếu là Việt kiều hưởng thụ trong khi về Việt Nam chơi hay thăm gia đình. Điều này không ngạc nhiên vì khi đó, tiền kiều hối còn cao hơn FDI.

Nhưng đến năm 2009, khu vực cao giá nhất trong ngành công nghiệp sex lại quay sang phục vụ các doanh nhân người Việt trong nước và châu Á. Trung bình một tháng họ bỏ ra 15000- 20000 đôla ở các quán bar cao cấp. Những quán bar này chỉ có hệ thống karaoke bình thường, nhưng điều duy nhất đưa chúng lên thành cao cấp là loại rượu whisky, Johnny Walker, Blue Label. Các cô phục vụ cũng bán dâm cho nhiều khách hàng, và có thu nhập trung bình 2000 đôla một tháng nhờ tiền boa, và khoảng 150 – 200 đôla cho mỗi lần qua đêm với khách.

Trao đổi với các cô gái, tôi nhanh chóng nhận ra là rất ít cô ở Sài Gòn xem mình là bị bắt đi bán dâm. Thực tế, nhiều cô gái nói rõ là họ xem công việc này còn ít bị bóc lột hơn là nghề bồi bàn, giúp việc hay làm trong xưởng may.

Những cô gái ở quê sợ sệt hay chậm chạp mới phải đi làm nhà máy, kiếm 700.000 đồng một tháng.

Vân, một cô gái bar

Vân, một cô gái 24 tuổi, nói : “Những cô gái ở quê sợ sệt hay chậm chạp mới phải đi làm nhà máy, kiếm 700.000 đồng một tháng. Họ sẽ luôn nghèo vì không đủ dũng cảm hay thông minh để đổi đời”. “Những người thông minh bỏ nhà máy, đi làm ở bar vì số lương kia họ kiếm được chỉ sau một giờ, và khách hàng đối xử còn đàng hoàng hơn ông chủ nhà máy.”

Các quán bar cao cấp là không gian nơi đàn ông trong nước chứng tỏ cho đối tác Á châu thấy rằng mặc dù Việt Nam là đất nước nhỏ, nước này cũng là dân chơi máu mặt trong nền kinh tế toàn cầu. Sau khi nốc sáu chai whisky, Thắng, một doanh nhân 56 tuổi, giải thích : “Thời kỳ Việt kiều đã qua rồi. Dân trong nước nay đi xe Bentley giá nửa triệu đôla. Khi dân Việt Nam đã chơi, thì còn dữ hơn dân Á châu hay Việt kiều.”

Cho dù doanh nhân trong nước và Á châu chiếm lĩnh khu vực cao giá nhất của ngành công nghiệp sex, đàn ông Việt kiều cũng không kém mấy. Khách hàng Việt kiều thường đến các club mở cho công chúng. Bên trong là bàn ghế để ngồi, uống rượu, có khi xem nhạc sống và mời các cô PG (promotion girl) đến bàn. Đêm đến, khách hàng có thể chèo kéo một cô gái nào đó qua đêm với giá chừng 100 đôla.

Công việc ‘thực sự’

Một buổi tối ở quán bar vắng khách, tôi nói chuyện với các cô về nghề của họ. Tôi hỏi họ có muốn tìm nghề khác không. Yến, 23 tuổi, nói : “Em xem đây là công việc thực sự. Nếu phục vụ trong nhà hàng hay quán cà phê, chỉ được khoảng 4 triệu đồng một tháng. Số tiền đó hai đêm ở đây là được, mà lại còn vui hơn. Em được gặp bao nhiêu người từ khắp thế giới.”

Thoại, 24 tuổi, nói them : “Người ta nghĩ em hẳn phải ngu lắm, em làm nghề này vì không tìm được việc. Nhưng ở đây em kiếm nhiều tiền hơn, thế ai ngu hơn ? Khi em mới tới Sài Gòn, em làm ở xưởng có lương 1 triệu đồng một tháng. Ở Sài Gòn, lương vậy sao mà sống ?”

Cũng có những quán bar phục vụ người Tây phương làm việc ở Việt Nam và du lịch ba lô. Chúng khác với các quán cho dân trong nước và Việt kiều ở chỗ đàn ông ở đây có thể mua bia rẻ tiền chỉ có 2 đôla. Năm 2007, tôi gặp Linh, 22 tuổi, làm ở khu dành cho các nhóm du lịch ba lô. Khi ấy, cô có quan hệ với 3 người khác nhau. Họ gửi tiền cho cô hàng tháng, rồi lại cả một khoản lớn để mở cửa hàng, giúp cô nuôi người cha đau yếu. Khi được hỏi cô có yêu người nào không, cô nói: “Khi mới vào nghề, em còn trẻ, không khôn ngoan lắm. Tôi yêu dễ dàng và rồi đau khổ. Nay em muốn thay đổi đời mình trước tiên, yêu là chuyện đi sau.”

Tình yêu

Vài tháng sau, Linh giới thiệu cho tôi gặp James, một người đàn ông 60 tuổi về hưu từ Úc. Tôi ngạc nhiên khi biết ông ta không chỉ tìm kiếm sex. Ông muốn yêu một cô gái mà ông mô tả là “trung thực, chăm làm, nhưng mắc kẹt ở đất nước thế giới thứ ba không có nhiều cơ hội.” James không đề cập chuyện lấy tiền đổi sex, mà ông xem quan hệ với Linh dựa trên tình yêu thật. Ông cũng tin rằng cô ấy yêu ông. Ông bày tỏ niềm tin rằng ông sẽ là người “cứu” cô ra khỏi cuộc đời làm gái bar.

Hai năm sau, 2009, Linh và James kết hôn và cô được cấp visa di cư sang Úc. Ở buổi tiệc chia tay, tôi hỏi : “Em có yêu anh ta không ?”.

Cô trả lời : “Tụi em vất vả lắm để có visa, và ảnh rất cố gắng. Nay em yêu ảnh. Trong đời này hên sui thôi, em cảm thấy rất may mắn.”

Quan hệ của Linh và James minh họa cho cách mà các cô gái bán dâm đã có ý thức vượt qua lằn ranh giữa chuyện “ăn bánh trả tiền” và góc cạnh thân mật hơn. Những phụ nữ có vẻ yếu ớt lại có thể lợi dụng hệ thống áp bức họ, có lợi nhờ mối liên hệ đa quốc gia. Công việc bán dâm đôi khi chuyển hóa thành quan hệ thân mật, và nếu họ “may mắn”, họ còn có thể có những tình yêu chân thật.

Về tác giả : Kimberly Hoang là nghiên cứu sinh Khoa Xã hội học, Đại học California tại Berkeley. Cô viết riêng bài này cho BBC Việt ngữ, dựa trên bài nghiên cứu học thuật dài hơn đã đăng trên tạp chí Sexualities tháng Tư 2010.

KHI BỨC MÀN NHUNG

ĐÃ KHÉP

– Soạn giả Nguyễn Phương

Nhân đây, Nguyễn Phương xin phép được giới thiệu những thành tích tốt có tẩm vóc quốc tế của giới nghệ sĩ cải lương : Đó là việc Hội nghệ sĩ ái hữu tương tế lập ngôi chùa nghệ sĩ, nghĩa trang nghệ sĩ và viện dưỡng lão nghệ sĩ cải lương ở Việt Nam.

Tôi dùng mấy chữ Tầm Vóc Quốc tế không phải để nói là ba công trình kiến trúc đó lớn rộng hay nguy nga, ngang tầm với những kiến trúc nổi tiếng trên thế giới, tôi chỉ muốn nhấn mạnh ở điểm là những công việc như xây chùa nghệ sĩ, lập nghĩa trang nghệ sĩ và viện dưỡng lão nghệ sĩ cải lương thì trên thế giới chưa có nghệ sĩ nước nào làm, chưa có một giới nào thuộc về ngành nghề khác làm được.

Nghệ sĩ cải lương chịu ảnh hưởng sâu đậm tính chất chơn chất của người dân miền đồng bằng sông Cửu Long, trong những thập niên 30, 40, 50, sống tập trung thành một đoàn hát, lưu diễn tha phương cầu thực, thu nhập bất định, cuộc sống khó khăn và thường bị ức hiếp, do tính chất sinh hoạt nghề nghiệp và sinh sống giống như người nông dân khi xưa đi khai hoang lập ấp nên nghệ sĩ cải lương mang tâm trạng khí khái của người xưa, thích làm việc nghĩa theo kiểu “kiến nghĩa bất vi vô dõng giả, lâm nguy bất cứu mạc anh hùng” người nghệ sĩ thiết thực trong việc tương thân tương ái với nhau nên khi có điều kiện lập nên Hội Nghệ Sĩ Ái Hữu Tương Tế, thì theo sau hoạt động của Hội Ái Hữu là việc nghệ sĩ giúp đở nhau khi sống, lúc đang còn hành nghề cũng như khi không còn hành nghề được vì già yếu neo đơn hay bịnh tật.

Ngay khi nghệ sĩ từ trần, việc giúp cho có chổ được yên mồ yên mã cũng là hành động biểu hiện một tinh thần tôn sư trọng đạo, một tình cảm thắm thiết giữa đồng nghiệp với nhau. Người nghệ sĩ thờ phụng Tổ Nghiệp. Tổ nghiệp sân khấu cũng là một dạng với đạo phật, vậy nên khi sống thì Tổ nghiệp độ cho nghệ sĩ hành nghề, khi chết thì Phật độ cho nghệ sĩ siêu thoát, vậy nên nhà thờ Tổ nghiệp và chùa nghệ sĩ là hai nơi linh thiêng cần thiết cho tâm hồn và linh hồn của người nghệ sĩ cải lương.

Còn nhớ ngày 19/4/1948, Bộ Nội Vụ Việt Nam Cộng Hòa cấp giấy phép cho thành lập Hội Nghệ Sĩ Ái Hữu thì Hội bầu nên Ban Trị Sự, tổ chức hát Hội để có một ngân quỹ xây dựng một Hội quán khang trang làm cơ sở chánh thức để hoạt động, gây quỹ cứu trợ nghệ sĩ bị bịnh tật hay tai nạn và và tổ chức cúng giỗ Tổ hàng năm để nghệ sĩ đoàn kết gắn bó với nhau.

Chùa Nhật Quang Tự

Cuối thập niên 60, bà Hội Trưởng Phùng Há vận động Hội Đua Ngựa Trường Đua Phú Thọ giúp tiền để mua một lô đất 6,080 thước vuông, tọa lạc tại xã Hạnh Thông Tây, Gò Vấp để xây chùa nghệ sĩ và lập nghĩa trang nghệ sĩ.

Các nghệ sĩ các đoàn hát tình nguyện hát không nhận thù lao trong các buổi hát Hội để lấy tiền xây chùa và lập nghĩa trang. Các nhà Mạnh Thường Quân và người ái mộ nghệ sĩ cũng hưởng ứng lời kêu gọi của bà Phùng Há và Hội Nghệ Sĩ nên đóng góp cho quỹ của Hội được khá dồi dào.

Năm 1972, Chùa được xây cất xong với tên là Nhật Quang Tự, ngoải cổng vào nghĩa trang có hai câu liểng :

Nhựt Nguyệt Định Hành Đồng Nhứt Lý,

Quang Minh Kỳ Diệu Chuyễn Luân Hồi.

Lấy hai chữ đầu trong câu liểng nầy làm tên chùa Nhật Quang Tự. Sư trụ trì đầu tiên là Thích Quảng An tức ông quản lý gánh hát Lê Minh Công, đi tu với pháp danh là Thích Quảng An. Chùa có một Ban Trị Sư do ông Bầu Thới bầu gánh hát Thái Bình được bầu vào Trưởng Ban Trị Sư để giúp sư Thích Quảng An trong việc quản trị chùa và nghĩa trang.

Vị sư kế tiếp sư Thích Quảng An là hòa thượng Thích Quảng Minh tức là nghệ sĩ Thanh Tao đi tu với pháp danh Thích Quảng Minh. Nhưng vì hòa thượng Thích Quảng Minh đọc kinh kệ, tiếng rất trong, rất hay như ca vọng cổ nên đồng bào phật tử đến cúng chùa và viếng cảnh chủa ngày một đông đão.

Đồng bào phật tử của Nhật Quang Tự thích gọi hòa thượng Thích Quảng Minh là Thích Thanh Tao. Nhà sư cũng hỉ xã chấp nhận tục danh của các bổn đạo của chùa ban cho, khi thì ông là hòa thượng Thích Quảng Minh, khi được gọi là hòa thượng Thích Thanh Tao, ông cũng mô phật rồi cười.

Nghĩa trang nghệ sĩ từ 1972 đến nay đã là nơi an táng mộ phần của hơn 440 cố nghệ sĩ cải lương của ba, bốn thế hệ nghệ sĩ. Ngoài các ngôi mộ kể trên, trong ngôi tháp đựng cốt, tôi đếm được 380 hủ hài cốt nghệ sĩ được hỏa táng, trong số đó có hủ cốt của các nghệ sĩ mất nơi nước ngoài như Tư Út (ở Nam Vang) Hữu Phước (ở Pháp), Hùng Cường (ở Mỹ)…

Tôi quay phim toàn cảnh chùa nghệ sĩ và nghĩa trang nghệ sĩ, tôi chụp ảnh từng ngôi mộ nghệ sĩ trong nghĩa trang : Vì tôi viết về nghệ sĩ và nghệ thuật sân khấu nên tôi cần biết rõ ràng và chắc chắn ngày tháng và năm sanh cũng như ngày tháng và năm tử của nghệ sĩ.

Những nhà nghiên cứu lịch sử nghệ thuật cải lương miền Nam có thể đến Chùa và nghĩa trang nghệ sĩ ở Gò Vấp để viếng cảnh và tìm tài liệu. Trên một vách chùa có khuôn hình rộng lớn để hình ảnh, tên tuổi, ngày tháng năm sinh và ngày tháng năm mất, quê quán của hơn bốn trăm nghệ sĩ được mai táng nơi đây. Ngoài ra có một tấm bản đồ ghi rõ những hàng mộ để giúp khách viếng chùa và thăm mộ dễ dàng tìm đến ngôi mộ mà mình muốn đến thắp nhang.

Tôi thấy trong số các ngôi mộ nghệ sĩ tiền phong có mộ của các anh Ba Vân, Tám Danh, Tám Cũi, Năm Đồ, Thanh Tao, Bảy Cao, Năm Kim Thoa, Hề Lập, Năm Châu, bà Bảy Phùng Há.. mộ các soạn giả Hà Triều, Hoa Phượng, Hoàng Việt, Ba Giáo, Duy Lân, Duy Chức, ca sĩ Thành Công, Chín Sớm, hề Phúc Lai, Hề Minh, nghệ sĩ Túy Định,…Còn nhiều lắm, …

Nhà dưỡng lão nghệ sĩ

Nhà dưỡng lão nghệ sĩ nằm khuất sâu trong hẻm nhỏ đường Âu Dương Lân Q8, có vòng rào, bên ngoài có bảng lớn đề : Nhà dưỡng lão nghệ sĩ. Căn nhà hai tầng lầu, khang trang, chia làm nhiều phòng nhỏ, mỗi phòng cho một nghệ sĩ, đủ để một cái giường một chổ nằm,một tủ nhỏ để đựng đồ đạt, áo quần.

Nhà dưỡng lão có một phòng khách rộng, dùng làm nôi hội hợp, đón khách tới viếng thăm, có bàn ghế để nghệ sĩ dưỡnbg lão ngồi đọc sách, viết thư hoặc để tiếp bạn hữu. Sân chung quanh ngà dưỡng lão khá rộng, trồng nhiều cây kiểng, có nhiều hàng ghế, băng bằng đá mài do những nhà hảo tâm tặng.

Trên các tặng vật : cây kiểng hay bàn ghế bằng đá mài đều có bảng ghi tên nhà hảo tâm đã tặng. Bên ngoài có một bụt cây dùng làm sân khấu cho những đêm ca tài tử Đêm Rầm Cổ Nhạc do các nghệ sĩ lão thành trong viện đờn ca, vừa giúp vui dân chúng trong xóm, vừa để đở nhớ nghề. Tiền boa tặng cho ca sĩ trong đêm hát được tập trung lại dùng trong việc sữa chửa nhà dưỡng lão khi cần thiết. Trên bảng đen sát vách sau bụt diễn, ai đó đã ghi bằng phấn trắng bốn câu thơ :

Buông bức màn rồi danh vọng hết,

Người về lòng rũ sạch sầu thương

Người vào cởi áo lau son phấn

Trả cả vinh hoa lẫn đoạn trường.

Người về là nói về khán giả, người vào là nói về nghệ sĩ, người về và người vào là những khách trong cõi vô thường, có có không không, như hành vân lưu thủy, mây bay nước chảy, thoáng thấy đó bỗng nhiên mất đó.

Nghệ sĩ trong viện dưỡng lão hiện nay có các cô Đoàn Thiên Kim, Kiều Thu, nghệ sĩ Thanh An, Thành Phát, Tám Lang, cô nhạc sĩ piano Ngọc Bê, Lệ Thẩm, bà Bạch Yến, hoạ sĩ Hoài Nam, hề Trường Sơn, quản lý Trường Sinh, ông Tám Hậu Đài, hề Nam Thanh, Tuyết Nga, bà Tô, bà Tám y trang, Minh Viễn…… Các cố lão nghệ sĩ từng ở Viện dưỡng lão và mất ở viện như bà Ba Vân, nghệ sĩ Mai Lan Phương Ngọc Chiếu, Bà Ba Sanh, Văn Sa, Sáu Ngọc Sương,…

Những lão nghệ sĩ nầy đã có một thời đêm đêm đem lời ca tiếng hát mua vui cho khán giả bốn phương, cuộc đời vô định nổi trôi đây đó nhưng niềm vui dưới ánh đèn sân khấu đã an ủi họ và mặc nhiên cho họ tự nhận kiếp tầm phải trả nợ dâu.

Giờ đây tuổi già sức yếu, giọng hát đã khan, nhan sắc đã tàn, cuộc đời về chiều trong cảnh cô đơn đói nghèo, họ gặp lại nhau trong tâm cảnh đồng hội đồng thuyền. Tiếng hát của họ trong các Đêm Rằm Cổ Nhạc tổ chức tại Viện Dưỡng Lão nghệ sĩ còn được tiếng vổ tay cổ võ của số khán giả hiếm hoi trong xóm nhỏ đủ gợi lại cho họ những hình ảnh rực rở của một thời hoàng kim sân khấu đã qua rồi.

Màn nhung sân khấu đã khép lâu rồi, nghệ sĩ dưỡng lão chờ màn nhung cuộc đời của họ sẽ khép trong một tâm thần cam chịu số phận hẩm hiu. (theo Nguyễn Phương)

TÌNH NGƯỜI NƠI

NHÀ DƯỠNG LÃO NGHỆ SĨ Q.8

Nằm trong một con hẻm nhỏ cuối đường Âu Dương Lân, quận 8, là một ngôi nhà tuềnh toàng trên mảnh đất rộng khoảng 600m2, xung quanh rợp bóng cây. Ngôi nhà đơn sơ nhưng là nơi trú ngụ của khoảng 30 con người đã từng một thời vang bóng trên sân khấu và nghệ thuật các bộ môn khác. Họ là những nghệ sĩ tài danh, một thời được rất nhiều người ngưỡng mộ, khi cuối đời phải sống nhờ vào mái ấm này và vui cùng bạn diễn cũ …

Hào quang… một thời ! 

Một trong những người vào nhà dưỡng lão này từ những ngày đầu tiên chính là nữ nghệ sĩ Nguyễn Thị Thẩm, nghệ danh Lệ Thẩm. Bà sinh năm 1937 tại Bạc Liêu. Ngay từ lúc được 4-5 tuổi, Lệ Thẩm đã đi hát và 17 tuổi đã là đào chánh trong các đoàn hát lớn và năm 17 tuổi là bà bầu của đoàn cải lương Nhị Hương – Tuấn Sĩ. Từ thời đi diễn, nghệ sĩ Lệ Thẩm đã từng thành danh qua các vở “Ánh nắng chiều xưa”,”Cô gái áo vàng”, “Lương Sơn Bá – Chúc Anh Đài”…

Vóc dáng đẹp và giọng ca khoẻ, Lệ Thẩm luôn là thần tượng của bao nhiêu người, thế nhưng về cuối đời bà lại không nơi nương tựa. Giọng bà đượm buồn : “Ngày xưa có được mọi thứ nhưng không giữ được. Bây giờ vào đây, nhờ sự giúp đỡ của các vị mạnh thường quân mới có được cơm ngày 2 bữa… Đơn giản nhưng quá vui rồi…!”.

Chúng tôi còn gặp được một nghệ sĩ tài hoa và là một nhân chứng lịch sử đặc biệt còn sót lại của sự kiện khi đoàn Kim Thoa đang hát vở “Lấp Sông Gianh” tại rạp Nguyễn Văn Hảo (nay là rạp Công Nhân ở Q1) vào tối 19/12/1955 đã bị lính Diệm ném lựu đạn, vì vở diễn nói lên sự yêu nước. Nhân vật đặc biệt ấy chính là nữ nghệ sĩ Thiên Kim, tên thật Đoàn Thiên Kim, sinh năm 1934 tại Sài Gòn.

Thiên Kim đã theo gia đình đi hát và lần lượt là đào thương cho các đoàn: Kim Thoa, Năm Châu, Nam Hồng, Lam Sơn, Sóng Mới, Tiếng Chuông, Bích Thuận… và tên tuổi nổi danh từ đó.

Hơn 50 năm trôi qua, nhưng người nghệ sĩ nay đã 72 tuổi này vẫn nhớ như in kỷ niệm đau buồn ngày nào, đó là vào đêm 19-12-1955 đang hát bị ném lựu đạn. Mảnh đạn đã khiến 3 người chết, đó là nghệ sĩ Ba Hương, nhà báo Nguyễn Mai và anh Phiên, vệ sĩ của đoàn. Còn nghệ sĩ khác thì bị đạn cắt đứt 1 chân, Thiên Kim cũng bị mảnh đạn găm trên người, vết tích vẫn còn đến nay…

Người vào nhà dưỡng lão nghệ sĩ… mới nhất là nam nghệ sĩ Thanh An, quê ở Bến Tre, năm nay ông đã 73 tuổi. Tuy đã bước sang tuổi “cổ lai hy” nhưng nghệ sĩ Thanh An vẫn còn giọng ca dài và khoẻ. Ông khoe vừa đi hát từ thiện về. Ông cho biết, đã theo nghề từ năm 17 tuổi. Ông có 9 năm kháng chiến chống Pháp và sau 1954 thì đi hát cho các đoàn lớn như : Út Bạch Lan – Thành Được, Hương Mùa Thu, Thanh Minh – Thanh Nga, Dạ Lý Hương… Nghệ sĩ Thanh An cũng nổi tiếng trong các vở “Khi rừng mới sang thu”, “Con cò trắng”, “Vàng sáu, bạc mười” và “Lan huệ sầu ai ?”… Sau 1975, nghệ sĩ Thanh An đã theo đoàn cải lương Tiếng ca đất Mũi phục vụ các tỉnh Minh Hải, Cà Mau, Bạc Liêu và từ năm 2000 thì ông trở về thành phố…

… sau khi rời sân khấu 

Khi chúng tôi đến thăm nhà dưỡng lão thì các nghệ sĩ đang quét sơn lại ngôi nhà của mình. Hăng hái nhất chính là kép độc Hoàng Nô, người đã từng là “vua, chúa” trên sân khấu. Ông mải mê công việc như một thợ sơn chuyên nghiệp, đôi lúc lại quay sang chọc các bạn diễn cũ sơn chậm. Hỏi ông có học ngày nào không mà sơn tường giỏi vậy thì ông cho biết : “Sơn nhà cũng giống như vẽ mặt trước khi lên sân khấu ngày trước ấy mà”. Ông cho biết ban quản lý tính bỏ ra mấy triệu đồng để thuê người quét sơn nhưng các nghệ sĩ đã tự nguyện làm công việc này và đây cũng là dịp họ không muốn mọi người quên lãng… vì mình đã già rồi !

Trong câu chuyện, chúng tôi được biết vì không muốn bị mọi người… lãng quên mà các nghệ sĩ như Thiên Kim, Lệ Thẩm, Thanh An dù đã qua tuổi 70 nhưng đều chọn giải pháp… đi đóng phim để được trở lại là chính mình và có thêm nguồn thu nhập.

Nổi tiếng đóng phim nhiều vai từ bà ngoại, bà nội cho đến bà vú, quản gia… là nữ nghệ sĩ Thiên Kim. Bà đã tham gia rất nhiều phim như : Võ sĩ bất đắc dĩ, Những đứa con thành phố, Mảnh vỡ, Người bất hạnh, Cạm bẫy… Gần như năm nào bà cũng được xuất… trại đi đóng phim.

Khi tiếp chúng tôi bà còn khoe : “Đạo diễn Lê Cung Bắc vừa gọi điện bảo chuẩn bị đi quay tiếp một phim rồi về ăn tết. Và cũng đang chuẩn bị đây”. Riêng nghệ sĩ Thanh An có lẽ hợp với các vai ông già nên đã được đạo diễn Nguyễn Mạnh Tuấn ưu ái mời vào vai ông già trong 3 bộ phim khác nhau : Địa đạo Củ Chi, Ấp ba nhà và Làng Cát – Bình Thuận…

Qua trò chuyện với các nghệ sĩ, có một điều khá bất ngờ là khi hỏi họ có ước muốn gì không, tất cả đều cười và cho biết “chẳng còn thích gì nữa đâu, Ở đây cơm ngày 2 bữa là đủ quá rồi…”. Nghệ sĩ Bạch Yến, người nữ nghệ sĩ cao tuổi nhất ở đây, sinh năm 1922 ở Hà Nội, năm 16 tuổi đã là kép chính của các đoàn Đại Quốc Hoa và Kim Phụng… tâm sự: “Bây giờ nhờ nghiệp tổ có được miếng cơm hàng ngày là quá đủ rồi. Nhưng lại cảm thương cho nhiều nghệ sĩ khác, có người đang không có nơi nương tựa”.

Lúc đầu, các nghệ sĩ ở đây được nhà nước chu cấp cho mỗi người 4.000đ/ngày (ăn ngày 2 buổi). Ban Ái hữu nghệ sĩ và Hội Sân khấu đã vận động các mạnh thường quân ủng hộ thêm 4.000đ nữa cho mỗi người, nên hiện nay tiêu chuẩn của mọi người ở nhà dưỡng lão là 8.000đ/ngày (nghe nói bây giờ bữa ăn hang ngày đã tăng theo vật giá). Các nghệ sĩ ở đây sẽ được nuôi dưỡng với chế độ này cho đến khi qua đời.

Từ ngày thành lập đến nay nhà dưỡng lão này đã là mái ấm cho đến cuối đời của các nghệ sĩ như : Soạn giả Thành Phát, NS Tư Sa, NS Kiều Thu, NS Thiên Kim, NS Lệ Thẩm, NS Thanh An, NS Trường Sơn, kép độc Hoàng Nô, NS Lam Sơn, hoạ sĩ Hoài Nam, danh hề Cảnh Tượng, Tư Em…

“Và cũng đã có 14 người đã mãi mãi ra đi từ mái nhà này – nghệ sĩ Trường Sơn buồn buồn – thế nhưng đây vẫn là mái ấm chân tình nhất mà nhiều nghệ sĩ không nơi nương tựa luôn mong được nương thân !”.

Lan Hương tổng hợp chuyển tiếp

Advertisements

TIẾNG SÁO TRƯƠNG CHI

TUỒNG ‘LAN VÀ ĐIỆP’

VÀ DĨA HÁT

‘HOA RƠI CỬA PHẬT’

– Ngành Mai

Đầu thập niên 1940, kể từ ngày vở hát “Lan và Điệp” của soạn giả Trần Hữu Trang, tức Tư Trang được trình diễn trên sân khấu Năm Phỉ thì phần lớn khán giả cải lương sành điệu, đã biết qua tình tiết lớp lang câu chuyện diễn tiến từ đầu tới cuối.

Buổi trình diễn khi vở hát mới ra đời ấy, do cô đào Năm Phỉ đóng vai Lan, kép Tư Út đóng vai Điệp, đôi nghệ sĩ tiền phong thượng thặng này đã mở đầu cho hai nhân vật chính Lan-Điệp trở thành bất tử với thời gian (nữ nghệ sĩ tài danh Năm Phỉ từng được huy chương của chính phủ Pháp, của Vua Miên, Quốc Vương Lào, và Hoàng Đế Bảo Đại).

Trong lịch sử nghệ thuật sân khấu chưa có vở hát nào được giới mộ điệu ưa thích, đến đỗi càng về sau câu chuyện càng mở rộng xâm lấn sang các lãnh vực văn nghệ khác.

Trước tiên, “Lan và Điệp” được hãng dĩa hát Asia thâu thanh với tên tựa “Hoa Rơi Cửa Phật” phát hành cùng khắp từ Nam chí Bắc.

Dĩa hát cũng được bán qua Miên, và theo theo như nhà phát hành lúc ấy cho biết, thì kiều bào xứ Chùa Tháp tiêu thụ dĩa hát này nhiều gấp 3, 4 lần đại lý dĩa hát ở Cần Thơ. Do ở đất Miên dễ làm ăn, người ta dám mua sắm, vả lại số người sang đây lập nghiệp đại đa số là người Nam Kỳ Lục Tỉnh, mà cổ nhạc cải lương đã gắn liền với đời sống tinh thần của họ.

Dĩa “Hoa Rơi Cửa Phật” cũng được đưa sang Lào và cả ở bên trời Tây, do vậy mà kiều ở Pháp vẫn còn những người lưu giữ các dĩa hát xưa ấy. Song song đó cuốn bài ca “Hoa Rơi Cửa Phật” cũng được ra đời bán ở các chợ miền quê, chợ nhỏ, lớn nào cũng có người bán.

Rồi cũng từ đó các gánh hát bầu tèo (gánh hát nhỏ) ở thôn quê đã sao chép lời ca, lời đối thoại, rồi thêm thắt vào dựng lên tuồng cải lương “Lan và Điệp” phục vụ bà con ở thôn quê và cũng được hoan nghinh.

Sau đó khi Tư Út rời gánh Năm Phỉ thì kép Thanh Tao nhảy vào đóng vai Điệp, cho đến khi cô Năm Phỉ qua đời thì kỳ nữ Kim Cương mới thay dì mình mà đóng vai Lan cùng với kép Sơn Minh thủ vai Điệp. Vợ chồng nghệ sĩ Văn Chung, Thanh Hương cũng đã có lần hát. Thành Được và Thanh Nga hát hai vai chánh này được mấy lần trong các buổi tổng hợp tài danh.

Riêng bộ dĩa “Hoa Rơi Cửa Phật” phát hành năm 1947, và cuốn bài ca cũng đến tay người mộ điệu cùng thời điểm này.

Dưới đây là đoạn đầu bộ dĩa hát “Hoa Rơi Cửa Phật,” lúc Lan giả trai lấy tên Điệp vào chùa tu, được hòa thượng trụ trì đặt tên là Huệ Minh.

Huệ Minh nói : Than ôi, cánh hoa rụng tả tơi vì gió dập, xác bướm khô ôm ấp bởi tình yêu. Như tôi đây nhìn hoa lan mà ruột quặn thắt trăm chiều, trông hồ điệp lệ sầu tuông mấy lượt. Kìa những kẻ không cầu sao lại được, tủi phận mình mong mỏi vậy mà sai, kể từ đây chốn am mây chôn lấp mạch cảm hoài, nghe kinh kệ phôi pha cơn khổ não.

Ca Nam Ai :

Hoa lan xác bướm mảnh tơ lòng,

Đành vùi chôn,

Kiếp bướm hoa lỡ làng rồi,

Nhưng còn một vật đổi trao nhau,

Càng thấy càng thêm nỗi khổ đau,

Phải chăng con dao này,

Nó đã dứt tình cùng ta,

Bấy lâu đeo giữ mãi bên mình,

Nay đành chôn giữa mả bướm hoa,

Ngăn đôi gian hà,

Cho nhẹ nhàng lòng ta.

Có lẽ khi trời xui phải chịu vậy,

Trần ai còn chi đâu mơ màng,

Trót đã ăn mặc nâu sòng,

Vui kinh kệ là xong.

Huệ Thông nói : Đó thấy không, huynh Huệ Minh phạm giới sát sanh, để tôi vào bạch tôn sư, cho huynh coi nghé.

Huệ Minh nói: Không, không phải đâu huynh Huệ Thông, vừa rồi tôi thấy con bướm nó chết khô cho nên tôi tội nghiệp bỏ vào hộp đem chôn vậy mà huynh.

Huệ Thông nói: Huynh nói dối, hôm trước tôi thấy con bướm ấy nó đậu trên chậu hoa lan đẹp lắm, huynh rình bắt rồi ép khô ở trong cuốn kinh, bây giờ huynh đem chôn, tại huynh bắt nó mới chết, tôi phải vào bạch lại với thầy.

Huệ Minh nói: Huynh, huynh Huệ Thông.

Huệ Thông nói: Thế nào tôi cũng vô tôi bạch.

Huệ Thường nói: Ôi, tu là cội phúc, tình là dây oan, nhưng tình chưa trọn thì tu làm sao cho thành. Đã đem thân nương chốn thiền môn, trót ba mươi năm có lẻ, một khoảng thời gian đăng đẳng, tấm lòng ta tưởng đâu đã nguội lạnh như mớ tro tàn, sự đời gác bỏ ngoài tai, trần ai không hệ lụy. Bất ngờ vừa rồi nghe mấy lời của tiểu Huệ Minh than thở, mà xúc động mối từ tâm, trông cử chỉ hành vi khiến cho ta phải bàng hoàng ngơ ngẩn. Đây, đây là nơi chôn chặt nỗi niềm tâm sự, nhưng vết thương lòng e khó nổi phôi pha. như ta ba mươi năm mà hận cũ vẫn chưa nguôi, thì tiểu Điệp ngày nay dẫu không tròn luật pháp nhà tu, ta cũng rộng lượng thứ tha mà tìm phương an ủi. (theo Ngành Mai)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

TIẾNG SÁO TRƯƠNG CHI

“Đêm nay thu sang cùng heo may. Đêm nay sương lam mờ chân mây. Thuyền ai lờ lững trôi theo dòng. Như nhớ thương ai chùng tơ lòng”…

Thưa nhạc sỹ tài hoa nhưng yểu mệnh Đặng Thế Phong, con thuyền đang “lờ lững trôi theo dòng” kia là của một chàng ngư dân. Tên chàng là Trương Chi.

Đó là một “con thuyền không bến”. Gọi như thế là vì chàng ngư dân này lúc thì ở đây, lúc thì lại đến một nơi khác, thoắt hiện, thoắt biến. Chàng cứ ngày tháng ung  dung tự tại giữa trời nước mênh mông. Chẳng có chi trói buộc mái chèo của chàng cả.

Người đời vốn dĩ thích sự trói buộc nên mới đặt định ra bến bãi. Họ đâu biết rằng những bến bãi kia là mầm mống phát sinh đau khổ.

– Trăm năm đành lỗi hẹn hò,

Cây đa bến cũ con đò khác đưa.

– Thuyền về có nhớ bến chăng ?

Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền.

Những đợi những mong rồi những khắc khoải trách hờn. Cái vòng luẩn quẩn ấy chẳng khác chi mũi kim nhọn xuyên thấu trái tim con người  khiến cho những dòng lệ phải tuôn ra. Ấy thế mà con người nào đâu đã tỉnh, cho nên bến bãi cứ mãi mãi tồn lưu.

Còn chàng ngư dân Trương Chi thì thênh thang sông nước ngược ngược xuôi xuôi. Nơi chàng  không có bến bãi nào hết. Chân trời góc bể bón phương luôn luôn là tiếng mời gọi chan chứa mặn nồng và thủy chung  miên viễn.

Lênh đênh sóng nước, nhưng chàng chẳng hề cô đơn vì bên chàng lúc nào cũng có một người bạn tri kỷ : cây sáo trúc. Tiếng sáo của chàng thanh thoát. Nó lãng đãng như mây trời ngày tháng phiêu du. Nó ngọt ngào như mật ong rừng nguyên thủy. Nó là bàn tay mềm mại dìu hồn người vào cõi mộng có hoa muôn sắc, có bướm muôn màu, có giàn hợp xướng  diệu kỳ của muông chim.

Tiếng sáo phù thủy của chàng khiến những cánh cửa sổ lầu son khuê các không thể then cài  kiêu mị. Người ta thấy những đôi mắt  ươn ướt xa xăm bên cửa sổ.

Tiếng sáo mang vị thơm ngọt của lúa trổ đòng đòng trên những cánh đồng bát ngát dưới ánh trăng làm thổn thức bao trái tim thôn nữ..

Chàng ngư – dân – nghệ – sỹ  nào hay  nào biết. Chàng vẫn thản nhiên đặt sáo trúc lên môi mỗi hoàng hôn. Giữa bầu trời đêm thanh tĩnh, chàng đắm hồn trong cung bậc bổng trầm của thanh âm. Mái chèo buông lơi. “Lướt theo chiều gió, một con thuyền theo trăng trong…”. Con thuyền đi… Đi mãi…

Rồi, không hiểu do nguyên cớ nào mà bóng dáng chàng – ngư-dân – nghệ-sỹ  Trương Chi bỗng biệt tăm. Những cánh cửa sổ lầu son khuê các nghẹn ngào khép lại. Những vạt áo nâu non ngẩn ngơ  ngơ ngẩn

Có những tiếng sầm sì nổi lên. Người thì nói Trương Chi đã lạc vào một động tiên như Từ Thức ngày nào. Có kẻ lại bảo : tiếng tiêu của chàng đã khiến một cô con gái của một vị quan đại thần sinh bệnh vì tương tư. Vị quan đã cho mời bao nhiêu là lương y tài giỏi đến chữa bệnh cho cô con gái yêu, nhưng thảy đều bó tay. Cuối cùng, có một vị lương y kia tìm ra được bệnh của cô, nên đã bảo với gia chủ nên gọi chàng ngư dân- nghệ-sỹ đến cho cô gặp mặt thì cô mới hết bệnh. Quả nhiên, khi gặp mặt người trong mộng thì cô gái khỏi bệnh. Cô khỏi bệnh và vỡ mộng. Bởi chàng có dung mạo xấu xí quá..

Từ lúc gặp mặt mỹ nhân thì tiếng sáo của chàng không còn hồn nhiên thanh thoát nữa. Nó trở nên day dứt, nặng nề ngàn cân vì” ai oán thương ai tàn mơ màng”. Từ đó, thế gian mới bảo nhau rằng chàng đã nằm sâu dưới đáy nước mang theo dung nhan diễm tuyệt của giai nhân.

Đấy là miệng lưỡi thế gian – thứ lưỡi không xương nhiều đường lắt léo. Có thể nào tin được chăng ?  Tin hay không tin thì tiếng sáo vi vu huyễn hoặc kia cũng đã  mai một với thời gian. Và ngày hôm nay không còn ai biết đến sự hiện hữu của một thiên tài đã một thời đi vào lòng người  bằng tiếng sáo trúc huyền thoại.

Các làng chài ven biển miền Trung đang trong thời kỳ tang chế. Ngày cũng như đêm khắp nơi nơi vang lên tiếng khóc nỉ non, ai oán.  Y tang trắng toát cà một vùng rộng lớn. Già, trẻ, lớn, bé… con mắt trũng sâu. Những tấm thân cằn cỗi trông chẳng khác nào những thân cây héo quắt héo quơ giữa trời nắng hạn. Tiếng khóc kéo dài từ nhà ra tới bờ biển, rồi lại từ bờ biển đi vào trong nhà. Những thân cây khô liêu xiêu, vật vờ như những cô hồn không chốn đầu thai.

Trên bãi biển, những chiếc tàu đánh cá nằm chỏng chơ, mặc cho nắng mưa tha hồ làm mưa làm gió trên tấm thân tàn phế của chúng. Chúng bỗng dưng trở nên những ngôi mộ hoang. Chủ nhân của chúng hoặc đã bỏ thân ngoài khơi xa, hoặc bị bắt đem đi đến một nơi nào đó. Thủ phạm của những chết chóc kinh hoàng đó không ai ngoài các “tàu lạ” và “người lạ”. Không gì phi lý hơn việc giữa khi anh đang miệt mài kiếm sống trên mảnh đất của mình mà bị những kẻ “lạ mặt” hùng hổ xông vào bắn giết một cách tàn bạo và dã man.

Ấy vậy  mà chẳng tiếng nói phản kháng nào hết. Ngay cả gọi đích danh kẻ thù cũng không. “Tàu lạ”,  “người lạ”. Một cách miễn cưỡng và chiếu lệ cho qua chuyện. Thế thôi. Và thế là “Tàu lạ” và “Người lạ” cứ mặc sức tung hoành trên mặt biển quê hương như chỗ không người. Mà không người thật. Ôi ! Thảm thương thay !  Ở đầu thập niên của thế kỷ 21 này mà mảnh đất mang tên Việt Nam từ bao nhiêu thiên niên kỷ  lại trở thành mảnh đất hoang vu đến như vậy. Và thế là xác ngư dân Việt lènh bềnh ngoài khơi như những xác vô thừa nhận. Và thế là máu ngư dân Việt ngầu đỏ cả biển Đông..

Trên mảnh đất hoang vu này, người dân vạn chài chỉ còn biết than khóc cho thân phận cái kiến con sâu của họ chứ biết làm gì bây giờ ? Khi nào “Tàu lạ” và “Người lạ” còn nghênh ngang ngất ngưởng ngoài kia thì tiếng khóc của họ vẫn còn âm ỉ. Chừng nào “Tàu lạ” và “Người lạ” còn làm mưa làm gió trên biển quê ta thì chết chóc vẫn còn bao phủ những làng chài Việt Nam.

Trong bầu không khí u sầu ngạt thở đó, vào một buổi hoàng hôn, bỗng nhiên người ta nghe có tiếng sáo trúc vang lên. Người người ngó nhau ngơ ngác. Những dấu hỏi liên tiếp hiện ra. Không có câu trả lời.

Tiếng sáo nghe não nuột đến đứt ruột vỡ gan. Nó làm cho cả những ghè đá cũng phải ứa lệ. Sóng biển thôi rì rào. Trong oán than tiếng sáo, người ta thấy vất va vất vưởng oan hồn các ngư dân.

Dân vạn chài cản thấy được ủi an phần nào vì đã có người đến chia sẻ nỗi đau mất mát. Họ hướng mắt ra khơi xa để tìm chủ nhân tiếng sáo. Nhưng chẳng trông thấy gì cả. Chắc đây là một vị thần linh. Họ thì thào với nhau. Dù người phàm hay thần thánh, họ vẫn thầm cám ơn tiếng sáo. Nó vỗ về. Nó băng bó những vết thương lòng.

Tiếng sáo là đề tài duy nhất trong các bữa ăn, trong  những lần gặp mặt. Sầu muộn đã vơi đi phần nào trong ánh mắt. Thay vào đó là nỗi niềm đợi mong mỗi khi hoàng hôn xuống. Những cặp mắt lung linh hướng ra biển đợi chờ thứ âm thanh huyền nhiệm và huyền diệu.

Những ánh mắt của các vị trưởng lão thì có vẻ đăm chiêu hơn. Hình như các cụ có một thứ linh cảm nào đó. Thứ linh cảm này thoạt tiên chỉ là một thứ cảm giác mơ mơ hồ hồ, nghi nghi hoặc hoặc. Rồi, với thời gian, nó trở nên rõ nét dần lên. Những câu chuyện thần tiên cổ tích mà các cụ được nghe thời ấu thơ bắt đầu trở về trong trí nhớ. Mặc dù  không còn minh mẫn như hồi thanh xuân, nhưng các cụ vẫn hết sức cố gắng đi tìm cho bằng được câu giải đáp cho sự việc lạ kỳ đang xảy ra nơi các làng chài này. Thế rồi, vào một buổi nọ, các cụ đồng loạt vỗ trán và đồng thành kêu lên : “Đúng rồi ! Đúng rồi ! Đúng rồi !”. Mắt các cụ sáng lên rỡ ràng. Bờ môi  dúm dó của các cụ bỗng chốc trở thành những nụ hồng rực rỡ.

Sau đó, các con cháu làng chài biết được tên chủ nhân của tiếng sáo trúc kia. Trương Chi. Sự buồn đau tạm thời lùi đi dành chỗ cho sự thích thú về chàng ngư dân nghệ sĩ thuở xa xưa. Không hiểu tại sao mà trong lòng mỗi người vạn chài đều nảy sinh một niềm hy vọng, nhất là các cụ trưởng thượng.

Đêm nay là đêm rằm. Mặt trăng tròn trĩnh nằm vắt vẻo trên bầu trời. Ánh trăng  quấn quyện những giải khăn sô và ôm ấp những tiếng khóc than u uất. Màu trắng của y tang được bàn tay điệu nghệ của nữ họa sỹ Hằng Nga dệt thành một bức tranh có một không hai của nhân loại. Khách thưởng ngoạn cảm nhận một luồng khí lạnh chạy dài suốt cột sống lưng và lan tỏa khắp châu thân. Giữa đêm trường mà mồ hôi tuôn đổ như giữa trưa hè nắng hạn.

Trong màn đêm tang tóc ấy, tiếng sáo trúc lại cất lên. Nó ấm ức. Nó tức tưởi. Nó cào xé trái tim con người.

Bỗng im bặt tiếng sáo. Những cặp mắt đỏ hoe nhìn nhau và đồng hướng về phía khơi xa. Vắng ngắt. Lặng tanh. Một bầu không khí vô cùng nặng nề bao phủ làng chài. Những vành khăn sô chấp chới chấp chới… Thời gian như ngưng đọng. Đêm đã váo khuya.

Đột nhiên tiếng sáo lại vang lên. Vang lên đúng lúc để ngăn chặn tiếng thở dài thất vọng của dân làng. Lần này, nó không tức tưởi, không u uất nữa. Người ta cảm nhận được một trận cuồng phong đang ào ạt đổ xuống. Cái khối u sầu và căm phẫn ngàn cân bấy lâu đè nặng cõi lòng dân vạn chài được trận cuồng phong kia  cuốn trôi khiến những bờ môi he hé nụ cười.

Lần này tiếng sáo trúc không bay là là trên mặt biển, không vuốt ve từng đụn cát,  không ôm ấp từng mái nhà. Nó vút bay lên tận chín tầng mây rồi đổ ập xuống như những đợt sóng thần. Rồi dân vạn chài thấy ở ngoài khơi xa những đám lửa ngùn ngụt bốc lên từ thân những con “ tàu  lạ” cùng những tiếng nổ long trời lở đất.

Dân vạn chài ôm nhau nhảy múa khi từng… chiếc từng chiếc… chìm sâu đáy đại dương. Những giải khăn sô được tung lên không trung. Chúng quấn quyện vào nhau và lả lướt lượn bay như những áng mây trời.

Khi những đốm lửa cuối cùng tan biến trên mặt biển thì dân vạn chài dập dìu nhau khiêu vũ theo tiếng sáo trúc dặt dìu, êm ả. Tiếng sáo trúc nhỏ dần… nhỏ dần… nhỏ dần…rồi mất hút cuối chân mây. Phía non đoài,  mảnh trăng rằm chênh chếch.

Đêm đó, các làng chài im ắng. Nhà nhà chìm sâu trong giấc điệp. Một giấc ngủ thật an bình. Những ác mộng từ đây sẽ chỉ còn là quá khứ…

Uyên Sồ

TÁC GIẢ TÁC PHẨM

“SÀI GÒN ĐẸP LẮM”

NHẠC SĨ Y VÂN

– NGUYỄN VIỆT

Nhạc sĩ Y Vân tên thật là Trần Tấn Hậu, sinh năm 1933 tại Hà Nội nhưng quê gốc ở Thanh Hóa. Thuở thiếu niên ông từng theo học nhạc với giáo sư – nhạc sĩ Tạ Phước, và đã tập tành sáng tác từ rất sớm nhưng không mấy thành công. Mồ côi cha, nhà nghèo, mấy mẹ con dắt díu nhau nương náu trong một túp lều xiêu vẹo ở ngõ chợ Khâm Thiên. Chính vì thế, Trần Tấn Hậu rất thương mẹ và các em.

Lúc đó chàng nhạc sĩ nghèo chưa lấy nghệ danh Y Vân, ông phải đi dạy đàn để nuôi gia đình. Có một người bạn thân giới thiệu anh đến dạy đàn cho một tiểu thư khuê các – nàng tên là Tường Vân. Rồi giữa họ hé nở một mối tình đằm thắm. Nhưng… tình đầu tan vỡ cũng là lẽ thường, huống chi chàng chỉ là anh “Trương Chi” si tình khốn khổ, còn nàng lại là một “Mỵ Nương” danh gia vọng tộc. Không thành duyên nhưng… thành danh, một loạt các ca khúc của Y Vân (có nghĩa là Yêu Vân) ra đời từ đó như : Đò nghèo, Ảo ảnh, Nhạt nắng… với phong cách tha thiết, trữ tình rất được công chúng yêu thích.

Không chỉ có vậy, sáng tác của Y Vân còn rất đa dạng : vui tươi, sôi động với Sài Gòn đẹp lắm, lung linh, sang trọng với Tiếng trống cao nguyên, Những bước chân âm thầm (thơ Kim Tuấn) và nhất là ca khúc Lòng mẹ êm ái đầy xúc cảm…

Tác giả biết rất nhiều về anh em nhạc sĩ Y Vân và Y Vũ, nhưng có bài viết của Nguyễn Linh Giang mang thật nhiều ý nghĩa về người nhạc sĩ sáng tác ca khúc “Người em sầu mộng” phổ thơ của Lưu Trọng Lư. Bài viết mở đầu có nội dung :

Y VÂN VÀ MẸ

– Ai là người Việt Nam mà không biết bài “Lòng Mẹ” cua Y Vân, thậm chí còn có thể ngân nga ít nhất là hai câu đầu của bài hát : “Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào / Tình mẹ tha thiết như dòng suối hiền ngọt ngào…”. Bài hát tha thiết, êm ái và chân thành quá khien ai cũng có thể… vơ vào để tưởng tượng người mẹ trong bài hát là mẹ của mình, để rồi hát lên và… chảy nước mắt.

Y Vân tên thật là Trần Tấn Hậu, sinh năm 1933 và mất năm 1992, đúng 60 tuổi, y như bài nhạc twist “60 năm cuộc đời” mà ông đã viết thuở nào. Y Vân lúc nhỏ nhà nghèo lắm, sống xa bố, chỉ có mẹ hiền và bên ngoại đùm bọc. Có lẽ ông đã thừa hưởng dòng máu nghệ sĩ từ bên ngoại vì ông ngoại giỏi thơ văn và mẹ cũng rất giỏi thơ văn.

Năm 1954, ông cùng 2 em và mẹ di cư vào Nam với hai bàn tay trắng, lúc vừa 21 tuổi. Mẹ hiền buôn bán nuôi 3 con. Còn Y Vân thì đã thích nhạc từ nhỏ, học đàn, sáng tác, hòa âm từ trước năm 54 nên vào Nam đã có thể đi trình diễn giúp vui cho đồng bào di cư.

Giai thoại ca khúc Lòng Mẹ :

Sau một buổi trình diễn với Phủ Tổng Ủy Di Cư về, Y Vân bị mưa ướt như chuột lột, quần áo dơ hết. Mới di cư còn nghèo, chỉ có một bo đồ coi được nhất để trình diễn, Y Vân rất lo lắng vì ngay sáng hôm sau lại phải đi đàn nữa. Khuya hôm đó, mẹ ông đã đem bộ quần áo ra máy nước công cộng đầu hẻm giặt sạch rồi về nhà đốt than lên hơ cho chóng khô. Sáng hôm sau, Y Vân đã nghiễm nhiên có được bộ quần áo sạch  mặc đi diễn. Ông cảm động lắm và cảm hứng viết ca khúc đầu tay “Lòng Mẹ”, một bài hát đã đi vào lòng hằng triệu người dân nước Việt.

Và đó là khởi đầu cho sự nghiệp âm nhạc của một trong những nhạc sĩ tài hoa nhất của Việt Nam.

Người mẹ đã đóng một vai trò quan trọng trong suốt cuộc đời Y Vân. Mẹ là người nuôi nấng nên người từ khi còn nhỏ và săn sóc con khi đã lớn. Mẹ cũng chính là người dựng vợ cho con.

Một cô gái quen với Y Vân do bạn thân làm mối năm mới 16 tuổi. Cô không mê nhạc mà chỉ thích thơ. Y Vân về nói chuyện với mẹ. Bà cụ thân hành qua nhà cô để xem mặt. Để tìm hiểu về cô dâu tương lai, bà xin phép xuống nhà dưới đi vệ sinh nhưng mục đích chính là xem thử bếp nước như thế nào. Bà về nói với cô em gái :

– Được lắm! Bếp nước gọn gàng sạch sẽ.

Thế là Y Vân được vợ. Từ lúc quen đến lúc cưới chỉ vỏn vẹn 5 tháng. Ngày đám cưới, Y Vân đã viết bài “Người Vợ Hiền” tặng vợ.

Y Vân là một trong số ít những nhạc sĩ Việt Nam sống hoàn toàn bằng âm nhạc. Ngoài việc sáng tác và làm việc cho các đài phat thanh và truyền hình, ông còn đánh đàn contrebass và guitar tại các phòng trà ca nhạc ở Sài Gòn và các Club Mỹ. Là một nghệ sĩ, ông ít có đầu óc thương mại, thường bán đứt bản quyền các bài hát  ăn khách. Trong một thời gian ông và vợ có thực hiện một số băng nhạc lấy tên Trung Tâm Mây Hồng nhưng cũng không kéo dài lâu

Sau 1975, Y Vân trở nên nghèo túng như tất cả những người Sài Gòn lúc gạo châu củi quế. Và nhiều bài hát của các nhạc sĩ chưa được cho phép trình diễn, nên ông không hành nghề được phải sống bằng tiền dành dụm. Đến những năm 80, hoạt động âm nhạc mới trở lại, nhưng lúc này ông ít sáng tác mà chỉ làm nhạc phim và viết hòa âm cho các ca sĩ.

Nhạc sĩ Y Vân mất ngày 28/11/1992, sau một cơn mệt tim nặng. Bà Minh Lâm, vợ cố nhạc sĩ Y Vân tâm sự :

– “Nhiều người thêu dệt Y Vân thành một con người đa tình, trăng hoa. Là vợ chồng, mấy mươi năm đầu gối tay ấp nên tôi rất hiểu nhà tôi. Anh ấy là một người đàng hoàng, có gì cũng thật thà kể với vợ (kể cả những việc sâu kín như trường hợp lấy nghệ danh Y Vân). Anh ấy rất có hiếu với mẹ và thương yêu vợ con.

“Thời gian sau năm 1975, Y Vân tham gia Đoàn ca nhạc Hương Miền Nam, rồi nhận viết nhạc cho nhiều nguồn : phối nhạc cho Saigon Audio, viết nhạc phim, nhạc nền cho sân khấu… Anh làm việc cật lực bất kể ngày đêm. Ban trưa, nhìn anh xoay trần viết nhạc dưới mái tôn thấp nóng hầm hập, thấy thương vô cùng. Trời thương, nên giai đoạn đó anh được “đặt hàng” dồn dập, có thể nói là “ăn nên, làm ra”, nhờ đó mà gia đình chúng tôi xây lại được căn nhà tạm gọi là ngăn nắp, nhưng anh làm ra cho mẹ con chúng tôi hưởng, bởi chỉ một năm sau thì anh mất.

“Dạo ấy, đứng trước quan tài của anh đang được quàn tại Hội Âm nhạc TP.HCM, mẹ chồng tôi không hề khóc một tiếng. Có lẽ tất cả nước mắt để khóc thương con, bà cụ đã âm thầm nuốt ngược vào trong. Chúng tôi nghe bà cụ nói : “Người đời thường bảo: Con “đi” trước mẹ là bất hiếu, nhưng mẹ chẳng trách con đâu bởi con đã làm tròn chữ hiếu ngay từ lúc viết xong bài Lòng mẹ”… Con đi trước mẹ nhưng không nợ mẹ, vì mẹ nuôi con 20 năm nhưng con đã nuôi mẹ đến 40 năm.

10 tháng sau, mẹ ông mất. (trích bài Nguyễn Việt)

Lan Hương chuyển tiếp

NÓI VỀ GIẢI THANH TÂM

HCV GIẢI THANH TÂM :

NHỮNG NGÔI SAO CẢI LƯƠNG

NGÀY ẤY GIỜ RA SAO ?

– Soạn giả Nguyễn Phương

Xem trên internet, một ông bạn nào đó khi viết về cuộc đời của một nữ nghệ sĩ cải lương ngày xưa đã có nói tới giải thưởng Thanh Tâm và ông bạn đó kể là ông cựu Bộ trưởng Thông Tin Trần Chánh Thành đã đứng ra phát huy chương vàng cho cô Thanh Nga, nữ nghệ sĩ đầu tiên đoạt được giải Thanh Tâm. Ông bạn đó còn mô tả là Đài truyền thanh, Đài truyền hình Saigon loan tin, chiếu hình ảnh và phát sóng trực tiếp buổi lễ phát giải thưởng đó.

Ông bạn thật là giàu trí tưởng tượng. Giải Thanh Tâm đầu tiên được phát là vào năm 1958, khi đó thì Sàigòn chưa có đài truyền hình, làm sao mà phát hình phát song ? Vả lại giải thưởng Thanh Tâm là một giải Văn nghệ do tư nhân tổ chức nên không có việc một ông bộ trưởng Thông Tin đứng ra trao giải thưởng.

Nhắc đến giải thưởng Thanh Tâm, huy chương vàng cho diễn viên triển vọng cải lương là nhắc đến một thời vàng son của ngành nghệ thuật sân khấu cải lương. Đó là nhắc lại cái thời mà người dân miền Nam được hưởng nhiều quyền tự do sinh sống, trong đó có quyền tự do báo chí, tự do hoạt động văn nghệ, tự do hội hè đình đám…

Còn nhớ, ngày 20 tháng 7 năm 1954, sau khi Hiệp định đình chiến Pháp – Việt được công bố, chánh quyền miền Nam bãi bỏ lịnh giới nghiêm từ mười hai giờ đêm tới sáng, ở Saigon, dân chúng được yên ổn làm ăn, dư ăn dư để nên có thừa tiền để thưởng thức văn nghệ, mua sách báo, phim ảnh. Nhiều gánh hát cải lương mới được thành lập, nhiều soạn giả và nghệ sĩ cải lương tài năng mới xuất hiện.

Ông Trần Tấn Quốc, chủ nhiệm kiêm chủ bút tờ nhật báo Tiếng Dội, một tờ báo hàng ngày có trang kịch trường đăng vào mỗi ngày thứ tư và thứ bảy, ông lại là bạn thân của hai nghệ sĩ Năm Châu và Phùng Há nên muốn góp sức xây dựng một thế hệ nghệ sĩ mới bằng cách tổ chức một giải thưởng Văn Nghệ, Giải Thanh Tâm để khuyến khích các nghệ sĩ trẻ trao dồi nghệ thuật ca và diễn.

Thanh Tâm là bút hiệu của ông Trần Tấn Quốc mà đó cũng là tên của người vợ sau của ông. Cô Thanh Tâm yểm trợ tài chánh cho giải thưởng văn nghệ nên dù cái tên Thanh Tâm không liên quan gì tới sân khấu và nghệ sĩ cải lương, danh xưng Giải Thanh Tâm vẫn được giới báo chí kịch trường và nghệ sĩ cùng đồng bào ái mộ cải lương công nhận.

Tưởng cũng nên nhắc qua tình hình báo chí Saigon trước năm 1954. lúc đó trên những tờ báo hàng ngày, ngoài những tin tức chiến sự, tin tức về cuộc đàm phán ở Hội Nghị Genèvre, phần lớn các báo đăng thông cáo của Toà Đô Chánh, đăng các tin liên quan tới giờ giới nghiêm và trật tự an ninh của Saigon và các quận. Về tiểu thuyết, các báo đăng tiểu thuyết tình cảm của bà Tùng Long, chuyện kinh dị: Con ma vú dài trong khám lớn Saigon, chuyện Cậu Tư Cẩu của Lê Xuyên, chuyện Bách Xi Ma Hoàng Ngọc Ẩn của nhà tiều thuyết trinh thám Phú Đức. Tin tức của các đoàn hát cải lương, hát bội hay phim ảnh thì chỉ đăng một vài cột báo ở trương sau. Bài phê bình của báo chí dành cho sân khấu và nghệ sĩ cải lương cũng rất hiếm có.

Như đã kể trên, những năm cuối thập niên 1950 đến những năm đầu thập niên 1960, cuộc sống được ổn định, dân chúng làm ăn phát đạt nên tiêu xài rộng rãi. Ban đêm đường phố Saigon, Chợ Lớn và Gia Định đông nghẹt xe cộ và người đi lại. Các hàng quán bán thức ăn, đồ dùng đều rất đông khách hàng. Các gánh hát bội, hát cải lương, các rạp chiếu bóng cũng nghẹt khán giả.

Báo chí hàng ngày đăng tải nhiều tin tức hơn và bắt đầu có nhiều bài viết giới thiệu cuộc đời của các nghệ sĩ và phê bình tuồng tích. Khi chủ trương Giải Thanh Tâm được loan ra, các nghệ sĩ trẻ rất hoan nghinh và khán giả ái mộ cải lương cũng rất ủng hộ. Có khán giả viết thơ gởi cho các trang báo kịch trường để giới thiệu các nghệ sĩ tham dự giải Thanh Tâm.

Ban tuyển chọn và chấm giải Thanh Tâm năm đầu tiên (1958) gồm 5 người: các ông Trần Tấn Quốc, Nguyễn Thành Châu (nghệ sĩ Năm Châu), Huỳnh Năng Nhiêu (nghệ sĩ Bảy Nhiêu), cô Phùng Há và một vị khán giả ái mộ cải lương Nguyễn Hoàng Minh.

Điều kiện quy định cho nghệ sĩ cải lương tham dự Giải Thanh Tâm được công bố như sau:

– Nữ nghệ sĩ tuổi từ 16 đến 21; nam nghệ sĩ tuổi từ 16 đến 24.

– Là nghệ sĩ đang hành nghề trong một đoàn hát, Ban chấm điểm sẽ căn cứ vào một tuồng hát cụ thể mà diễn viên đó có thủ diễn.

– Điểm về khả năng ca và diễn là 20.

– Điểm về sắc vóc là 20.

– Điểm về đạo đức tư cách nghệ sĩ và tư cách công dân là 10.

Riêng điểm đạo đức nghệ sĩ và tư cách công dân đã gây ra một cuộc tranh cãi sôi nổi trong các ký giả và nghệ sĩ. Nhiều người nói là tuyển chọn Nghệ Sĩ Triển Vọng là tuyển chọn về Thinh và Sắc, về nghệ thuật ca, diễn. Còn đạo đức nghệ sĩ và tư cách công dân thì đó là thuộc về đời tư của các nghệ sĩ.

Nhưng ông Trần Tấn Quốc, chủ giải và các nghệ sĩ tiền phong Năm Châu, Phùng Há đều muốn nhân dịp có Giải Thanh Tâm, một giải văn nghệ dành cho nghệ sĩ cải lương để mà đào tạo một thế hệ nghệ sĩ mới, chẳng những ca hay hát giỏi mà còn phải có tư cách đạo đức để xóa đi cái thành kiến “xướng ca vô loại” mà từ lâu người ta gán cho giới nghệ sĩ.

Còn về tư cách công dân thì có nghĩa là không sa vào tứ đổ tường (hút sách, cờ bạc, đàng điếm, trộm cắp) không phạm tội đối với luật pháp hiện hành thì mới xứng đáng được nhận giải thưởng Thanh Tâm

Nữ nghệ sĩ Thanh Nga, 16 tuổi (sinh năm 1942) hội đủ các tiêu chuẩn về ca hay hát giỏi qua vai Sơn nữ Phà Ca trong tuồng Người vợ không bao giờ cưới của soạn giả Kiên Giang, cộng với các điểm tuyệt đối cao về sắc vóc và tư cách đạo dức, Thanh Nga được chọn là Nghệ sĩ triển vọng Huy Chương vàng Giải Thanh Tâm, năm đầu tiên của giải thưởng nầy (1958).

Giải thưởng chẳng những đem danh dự về cho Thanh Nga và gia đình mà còn làm cho giới nghệ sĩ cải lương vui mừng phấn khích. Nên nhớ là từ trước tới nay, nghệ sĩ hát bội và cải lương bị miệt khinh là thằng kép với con đào, là xướng ca vô loại, lần đầu tiên được báo chí đem ra bình phẩm, tuyển chọn và trao cho huy chương vàng giải thưởng văn nghệ. Nghệ sĩ được huy chương vàng cũng được công chúng khán giả công nhận tài năng, nhan sắc và tư cách. Đây là vinh dự chung cho cả giới nghệ sĩ cải lương.

Tôi còn nhớ ngày 04 tháng 4 năm 1959, lễ trao huy chương vàng và văn bằng Giải thưởng Thanh Tâm cho nữ nghệ sĩ Thanh Nga được tổ chức tại nhà hàng khách sạn Bồng Lai, gần nhà hàng Thanh Thế, đối diện với khu thương xá Tam Đa sau nầy. Ông Trần Tấn Quốc và Ban chấm giải thưởng Thanh Tâm đúng 6 giờ chiều đã có mặt tại nơi tổ chức lễ phát giải để đón tiếp các quan khách.

Các ký giả kịch trường, các soạn giả của đoàn Thanh Minh, Hữu Phước, anh chị Hoàng Giang, Ngọc Chúng, Việt Hùng – Ngọc Nuôi, bé Hoàng Vân, Thu Ba, Minh Tấn, Văn Ngà cũng đã tới sớm tiếp chuyện với anh Út Trà Ôn chủ đoàn hát Kim Thanh, chị Bảy Kim Chưởng, Út Bạch Lan. Quan khách được mời tham dự tôi thấy có nhà học giả Vương Hồng Sển, ông trưởng tòa Phan Văn Thiết, ông trạng sư Dương Tấn Trương tức ký giả Tiểu Nguyên Tử, ông Bùi Văn Lượng (một công chức cao cấp, chồng của bà Phùng Há lúc đó) và một số sĩ quan cao cấp của quân đội mà tôi chỉ nhớ tên của ông đại tá Lam Sơn thôi.

Sáu giờ rưỡi, cô Thanh Nga, ông bầu Nghĩa, bà bầu Thơ, ký giả Kiên Giang và Ngọc Linh đến. Buổi lễ rất long trọng, ông Trần Tấn Quốc thay mặt Ban chấm giải, đọc quyết định thưởng huy chương vàng cho nghệ sĩ Thanh Nga, trao bằng khen và một huy hiệu biểu tượng của giải thưởng. Ông Dương Tấn Trương và ông Vương Hồng Sển phát biểu cảm tưởng, khen những người chủ trương giải thưởng Thanh Tâm, khen Thanh Nga và hy vọng sân khấu cải lương nhân cơ hội nầy mà phát triển mạnh.

Thanh Nga lên ngỏ lời cám ơn Ban tổ chức giải thưởng và quan khách. Bài phát biểu của Thanh Nga là do Kiên Giang viết, Thanh Nga xúc động thật sự khi đọc lời phát biểu nên đã chinh phục được cảm tình của mọi quan khách trong cuộc lễ đó. Hơn 8 giờ chấm dứt cuộc lễ, chúng tôi trở về rạp hát Nguyễn Văn Hảo thì cũng đúng giờ trình diễn. Đêm hát đó, Thanh Nga thủ vai Châu Long trong tuồng Lưu Bình Dương Lễ của soạn giả Kiên Giang.

Sau khi vãn hát, nghệ sĩ của đoàn Thanh Minh và một số khán giả Mạnh Thường Quân ở lại rạp Nguyễn Văn Hảo, dự lễ cúng tạ ơn Tổ nghiệp của Thanh Nga. Đêm đó chúng tôi ăn nhậu say sưa, ca hát mừng vui cho Thanh Nga và đoàn hát.

Tới gần sáng, tôi chạy xe vespa về nhà, vừa quẹo qua ngõ đường Nguyễn Cư Trinh thì bị cảnh sát công lộ thổi còi phạt. Cảnh sát nói tôi say rượu, chạy đảo lượn qua lượn lại. Tôi thấy anh hề Kim Quang cũng dựng xe vespa đứng gần đó. Anh ta bị phạt trước tôi.

Khi cảnh sát hỏi giấy tờ xe và bằng lái, tôi đang loay hoay móc bóp thì anh Hai Ngọc, chồng của cô đào Hoàng Vân chạy tới. Anh biết là tụi tui bị phạt nên ghé lại nói với anh cảnh sát công lộ : “Thôi, anh cho mấy chả đi đi. Mấy cha nghệ sĩ khi cúng Tổ mà không nhậu cho say là ông Tổ phạt đó. Anh cũng có vợ đào hát cải lương, anh biết chuyện đó quá mà sao lại phạt mấy cha đồng nghiệp của vợ anh vậy ?”

Tới chừng đó tôi mới biết anh Hai Ngọc là sếp ở bót Võ Tánh và anh cảnh sát công lộ là anh Son, chồng của cô đào Thu Cúc, ngày xưa cùng đi chung với tôi trong gánh hát Tiếng Chuông của bầu Cang. Tụi tui say quá, lại bị thổi phạt nên không nhận ra anh Son. Anh ta trả giấy tờ của hề Kim Quang lại, nói là để tụi tôi sợ cho tỉnh rượu, nếu không thổi phạt, bắt dừng xe lại thì không chừng tụi tôi đã đụng xe khác rồi.

Được tha, khỏi phải ngủ bót vì say rượu nên lần nầy tôi đẩy xe đi một khoảng khá xa cho thật tỉnh rượu rồi tôi mới tà tà đạp máy xe cho nổ lên, chạy chầm chậm về nhà.

Trưa hôm đó, tôi đang còn ngái ngủ và cảm thấy nhức đầu vì cuộc tiệc rượu quá trớn hôm qua, thì anh tài xế của bà bầu Thơ vô nhà tôi, nói là bà bầu biểu tôi kêu anh hề Châu Hí lo dò tuồng để tối nay hát thế cho hề Kim Quang. Đêm rồi, Kim Quang được anh Son cảnh sát công lộ tha cho không phạt vì tội say rượu, anh ta lớn tiếng hét cho mọi người biết là anh không có say, rồi để chứng minh là anh ta rất tỉnh nên anh đã phóng xe vespa, chạy thật nhanh.

Tới góc đường Bùi Viện, hề Kim Quang phóng luôn vô lề đường, ủi vô vách tường, té bể đầu, ngã ra bất tỉnh. Cảnh sát chở anh vô nhà thương Bình Dân. Hai ngày sau anh mới ra khỏi nhà thương, cái đầu còn mang băng trắng. Hề Kim Quang cằn nhằn: Anh Hai Ngọc hại tui mà ! Phải chi bữa đó ảnh để cho cảnh sát công lộ bắt giữ cái xe của tui lại thì tui đâu có chạy đụng xe cho bể đầu.

Anh Hai Ngọc giận vì câu nói vô ơn của hề Kim Quang, thề không vô chơi trong gánh hát Thanh Minh nữa. Báo hại anh Hoàng Giang, Việt Hùng phải dẫn Kim Quang tới xin lỗi anh Hai Ngọc. Có một ông xếp công an thân thiện giúp đở thì nghệ sĩ trong gánh hát cũng đỡ phải bị phạt vạ lôi thôi, nhứt là bị phạt về cái khoản đậu xe ẩu, lái xe ẩu…

Kỷ niệm nhân ngày cô Thanh Nga lãnh huy chương vàng giải Thanh Tâm mà tôi nhớ hoài là cái kỷ niệm say rượu của hề Kim Quang, tôi tự hứa là mai sau dầu có cuộc tiệc vui cỡ nào đi nữa thì tôi nhứt định cũng sẽ không uống rượu say.

Các năm sau Huy chương vàng giải Thanh Tâm vẫn được tổ chức cho đến năm 1968 thì giải Thanh Tâm mới chấm dứt.

Năm 1959 trở về sau, thành phần Ban Tuyển chọn và Chấm giải có tăng cường thêm các ông Bạch Tùng Hương, Kiên Giang, Phong Vân, Hà Triều. Ban thơ ký đoàn có Thu An, Nguyễn Phương, Mộc Linh, Lê Khanh và Hoàng Khâm. Số diễn viên được chọn cũng tùy theo sự giới thiệu và bình chọn trong năm nên có năm chọn một nghệ sĩ huy chương vàng, có năm chọn được nhiều nghệ sĩ hơn.

Các lần phát giải thưởng Thanh Tâm sau được tổ chức ngay tại rạp hát lớn như rạp hát Nguyễn Văn Hảo, rạp hát Hào Huê, rạp hát Thủ Đô Chợ Lớn và khi rạp hát Hưng Đạo khánh thành thì thường thường lễ phát giải Thanh Tâm được tổ chức trong rạp Hưng Đạo vì rạp đó ở trung tâm thành phố.

Tôi còn nhớ:

Năm 1958, huy chương vàng của giải Thanh Tâm phát cho nữ nghệ sĩ Thanh Nga.

Năm 1959, huy chương vàng cho Lan Chi và Hùng Minh.

Năm 1960, huy chương vàng cho Bích Sơn và Ngọc Giàu.

Năm 1961: Thanh Thanh Hoa.

Năm 1962: Ánh Hồng và Ngọc Hương.

Năm 1963: Tấn Tài, N.S Diệp Lang, Thanh Tú, Bạch Tuyết, Kim Loan và Trương Ánh Loan.

Năm 1964: Thanh Sang và Lệ Thủy.

Năm 1965: Bo Bo Hoàng và Thanh Nguyệt

Năm 1966: Phương Quang và Phượng Liên.

Năm 1967: Bảo Quốc, Mỹ Châu, Phương Bình và Ngọc Bích.

Sau cái tết Mậu Thân 1968, mọi hoạt động của các đoàn hát cải lương đều bị ảnh hưởng vì chiến sự nên có nhiếu gánh hát rã, hoạt động không đều nên giải Thanh Tâm cũng ngưng việc tuyển chọn và phát thưởng cho nghệ sĩ.

Nghệ sĩ được huy chương vàng giải Thanh Tâm mang cái tâm trạng của một sĩ tử thi đậu trạng nguyên và tổ chức ăn khao như quan trạng về làng trong tuồng hát.

Người được huy chương vàng đầu tiên là nữ nghệ sĩ Thanh Nga thì cha mẹ của Thanh Nga tổ chức lễ cúng tạ ơn Tổ nghiệp thật long trọng tại rạp hát Nguyễn Văn Hảo, sau đó có tiệc rượu khoản đãi toàn thể nghệ sĩ và công nhân sân khấu của đoàn hát và các khán giả thân hữu.

Nghệ sĩ Ngọc Giàu khi được huy chương, nhận được tiền contrat gấp đôi nên về Thủ Thiêm cất nhà mới cho cha mẹ ở và tổ chức ăn tân gia, mời cả xóm tới chung vui ăn nhậu.

Nghệ sĩ Tấn Tài thì xin Bầu Long nghỉ hát đoàn Kim Chung một tuần lễ, về quê ở xã Vĩnh Trạch, huyện Núi Sập, làm một con bò và bốn con heo quay để cúng ông bà và mời cả làng tới ăn nhậu. Tiệc rượu có đàn ca tài tử ba ngày ba đêm mới xong. Theo anh Tấn Tài về quê ăn khao có ký giả kịch trường Hoài Ngọc và Huỳnh Công Minh nên khi Tấn Tài trở về Saigon hát cho đoàn Kim Chung thì báo Tiếng Dội kịch trường có viết bài và đăng ảnh các cuộc tiệc của Tấn Tài khoản đãi cả làng để mừng huy chương vàng giải Thanh Tâm.

Giải thưởng Thanh Tâm từ năm 1958 đến năm 1967 (mười năm) tuyển chọn được 24 nghệ sĩ huy chương vàng. Các nghệ sĩ đó xứng đáng được trao cho giải thưởng cao qúy của ngành sân khấu cải lương vì trải dài hơn bốn chục năm liên tục hành nghề, các nghệ sĩ huy chương vàng đó vẫn giữ được phong độ, tài năng ca diễn và tư cách đứng đắn của một nghệ sĩ được cả giới ái mộ.

Ngoại trừ Thanh Nga, Phương Bình, Trương Ánh Loan đã mất, Kim Loan (đổi tên là Mộng Tuyền) đi định cư bên Pháp. Mỹ Châu, Phượng Liên, Bích Sơn đi định cư bên Mỹ. Còn lại 17 nghệ sĩ huy chương vàng ở lại trong nước, tiếp tục góp phần xây dựng một thế hệ nghệ sĩ trẻ mới: các huy chương vàng triển vọng của giải Trần Hữu Trang sau nầy.

Trong trang sử kịch nghệ của sân khấu Việt Nam, ngoài sự truyền nghề trong gia đình của các dòng dõi nghệ sĩ Bầu Thắng, Minh Tơ, Thành Tôn, Năm Nghĩa… còn phải kể công lao không nhỏ của ông Trần Tấn Quốc và tất cả những thành viên trong Ban Tuyển chọn nghệ sĩ giải thưởng Thanh Tâm, các ký giả kịch trường đã góp công giúp cho việc đào tạo một thế hệ nghệ sĩ cải lương đầu đủ tài năng và phẩm cách như dã kể trên. (theo Soạn giả Nguyễn Phương)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

ĐƯỜNG ĐẾN GIẢI THANH TÂM

NĂM ĐẦU TIÊN

THANH NGA NHẬN HUY CHƯƠNG

Dư luận xôn xao về việc Thanh Nga đoạt giải Thanh Tâm : Huy chương vàng diễn viên nhiều triển vọng 58, bằng danh dự diễn viên xuất sắc liên tục 2 năm 59 và 60. Giải Thanh Tâm do nhà báo kỳ cựu Trần Tấn Quốc thành lập năm 1958, giành cho diễn viên nhiều triển vọng trên sân khấu cải lương và Thanh Nga đoạt giải đầu tiên qua vai Sơn nữ Phà Ca trong tuồng Người vợ không bao giờ cưới của soạn giả Kiên Giang (Hà Huy Hà) năm mới 16 tuổi.

Có một điều trùng hợp khá lạ kỳ, năm đầu tiên của giải Thanh Tâm cũng là vai diễn đào chánh đầu tiên của Thanh Nga trên sân khấu và người nữ nghệ sĩ trẻ này đã nhanh chóng nhận được giải thưởng với danh dự lớn lao. Do đó có nhiều dư luận xôn xao từ bên ngoài, nào là giải Thanh Tâm chuẩn bị cùng lúc với đoàn Thanh Minh bắt đầu “lăng xê” tên tuổi cho Thanh Nga, nào là bà bầu Thơ ngấm ngầm vận động Ban giám khảo chấm điểm cho Thanh Nga đoạt giải.

Cả trong giới nghệ sĩ cũng có nhiều tiếng xì xầm không hay, cho rằng Thanh Nga là đệ tử của nữ nghệ Kim Cúc, mà Kim Cúc lại là vợ của Chủ tịch Hội đồng giám khảo, tức nghệ sĩ lão thành Năm Châu, do đó giải Thanh Tâm nhất định phải về tay của Thanh Nga.

Nghệ sĩ kiêm soạn giả Năm Châu là người có uy tín rất lớn và được giới nghệ sĩ vô cùng kính trọng, vậy mà chỉ vì giải Thanh Tâm đã làm tổn thương ít nhiều đến danh dự của ông. Tuy nhiên, ông rất điềm đạm bình tĩnh trong việc ứng xử, tuyên bố ngắn gọn với giới báo chí về mục tiêu cơ bản của giải Thanh Tâm nhắm vào những diễn viên trẻ, có đầy đủ điều kiện và triển vọng trong tương lai đối với sân khấu cải lương.

Nếu những ai đề cử một diễn viên trẻ nào khác ở bất cứ sân khấu nào, có đủ điều kiện và tài năng hơn Thanh Nga, ông sẵn sàng đề nghị Hội đổng giám khảo đến tận nơi xem hát để chấm điểm và tuyển chọn thay thế Thanh Nga nhận giải Thanh Tâm.

Nhưng rồi sau đó, không nghe ai đề cử một diễn viên trẻ nào khác và dư luận cũng lắng chìm theo thời gian. Công bằng mà nhận xét, trước mỗi lần tuyển chọn diễn viên để phát giải Thanh Tâm đều có sự vận động ngấm ngầm của một số bầu ở các đoàn hát. Vì khi đoàn hát nào có diễn viên đoạt giải thì số thu ở đoàn hát đó sẽ tăng lên gấp bội, khán giả tò mò muốn xem diễn viên vừa đoạt giải tài năng như thế nào ?

Riêng về giải Thanh Tâm đầu tiên, Thanh Nga được Hội đồng giám khảo tuyển chọn, dù dư luận thế nào đi nữa thật sự rất xứng đáng và công bằng. Vì trong thời kỳ ấy không thể tìm được một diễn viên trẻ nào có đủ điều kiện về tài năng cũng như sắc vóc hơn Thanh Nga được.

Sau khi Thanh Nga đoạt giải Thanh Tâm, đoàn Thanh Minh thu hút khán giả càng lúc càng đông, sự ca diễn của cô đào trẻ Thanh Nga tiến bộ vượt bậc nhờ sự hướng dẫn tận tình của hai vị nghệ sĩ tiền bối Phùng Há và Kim Cúc. Nhưng niềm vui của đoàn Thanh Minh chưa trọn vẹn thì ông bầu Năm Nghĩa lâm trọng bệnh và qua đời tại nhà thương Grall năm 1959. Bao nhiêu trách nhiệm nặng nề trong việc điều hành đoàn Thanh Minh từ nay đều do bà bầu Thơ đảm nhận, với sự hỗ trợ của Ban cố vấn gồm các soạn giả : Kiên Giang, Nguyễn Phương, Lê Khanh.

Năm 1960 đoàn Thanh Minh sửa bảng hiệu lại thành đoàn Thanh Minh Thanh Nga. Cũng trong thời gian này giải Thanh Tâm mở rộng thêm, song song với huy chương vàng giải diễn viên trẻ nhiều triển vọng còn cấp thêm bằng danh dự cho diễn viên xuất sắc trong năm. Và Thanh Nga liên tục đoạt bằng danh dự diễn viên xuất sắc luôn 2 năm 59 và 60.

Nhìn ở một góc cạnh nào đó, một số người cho rằng Thanh Nga đoạt bằng diễn viên xuất sắc rất xứng đáng, nhưng cũng có một số người đánh giá là thiếu công bằng, quá thiên vị và bênh vực đoàn Thanh Minh, cũng như cá nhân Thanh Nga. Vì ở những đoàn hát khác, còn rất nhiều nghệ sĩ ca diễn xuất sắc, tên tuổi lẫy lừng nhưng không được quan tâm đúng mức.

Ai đúng ai sai, chỉ có nhận xét của khán giả là thật sự trong sáng và công bằng nhất.

Quế Phượng chuyển tiếp

CHUYỆN VỀ HAI SẮC HOA TIGÔN

Logo bay gio ke

9 Ti gon 1SUÝT NỮA

HAI SẮC HOA TIGÔN

ĐÃ CHÁY THÀNH TRO !

– Anh Chi

Cuối mùa thu năm 1937, tòa soạn báo Tiểu thuyết Thứ bảy nhận được bài thơ nhan đề Bài thơ thứ nhất, rồi sau đó ít ngày, nhận được một bài thơ nữa, nhan đề Hai sắc hoa ti gôn, đều của một tác giả ký tên T.T.Kh. Sau đó, tòa soạn không nhận được bài thơ nào nữa của T.T.Kh, cũng không biết tác giả này ở đâu.

Sau khi báo đăng hai bài thơ, làng văn xôn xao lắm, nhưng không hề thấy T.T.Kh liên hệ với tòa soạn. Có mấy người đã nhất quyết, T.T.Kh chính là người yêu của mình, nhưng chả có ai đưa ra được chứng cớ thuyết phục. Tác giả T.T.Kh vô hình vô ảnh trong cuộc đời, nhưng thơ của bà được giới phê bình luận bàn náo nhiệt (và không hiểu sao mọi người đã tin chắc ngay rằng T.T.Kh là nữ giới). Đương thời, có người không ngần ngại đánh giá đó là những áng thơ tuyệt tác, nhất là bài Hai sắc hoa ti gôn.

Về những ý kiến cho hai bài thơ đầu tiên đó của T.T.Kh là kiệt tác thì tác giả Thi nhân Việt Nam đã nói rõ quan điểm của mình : “Nói thế đã đành là quá lời, nhưng trong hai bài thơ ấy cũng có những câu thơ xứng đáng với vẻ lâm ly của câu chuyện. 9 Ti gon 3Cô bé T.T.Kh yêu…”. Có lẽ, với cách đánh giá như vậy nên Hoài Thanh và Hoài Chân đã không chọn in thơ T.T.Kh vào tập Thi nhân Việt Nam…

Tuy vậy, thực tế đời sống văn chương Việt Nam hơn 70 năm qua, T.T.Kh luôn được độc giả mến mộ, nhất là đối với bài Hai sắc hoa ti gôn. Dường như càng trải thêm thời gian, bài thơ này càng biểu lộ vẻ đẹp đặc biệt, càng có sức sống lạ lùng. Chúng tôi nghĩ, nếu có cuộc điều tra tỷ mỷ để tìm hiểu những bài thơ Việt Nam nào trong 70 năm qua được bạn đọc yêu mến nhiều nhất, thì chắc sẽ có cả Hai sắc hoa ti gôn.

Chúng tôi phải trình bày lại sự ra đời và giá trị của bài thơ Hai sắc hoa ti gôn trong đời sống văn chương nước ta như vậy để chúng ta ý thức rằng: nếu không có bài thơ Hai sắc hoa ti gôn, trong đời sống văn chương nước ta sẽ có sự thiệt thòi lắm ! Và trên thực tế, việc đó đã suýt nữa xảy ra. Mà mãi đến năm 1990 chúng tôi mới biết việc ấy…

Năm 1990, nhà văn Ngọc Giao lên thượng thọ, 80 tuổi. Ông nguyên là Thư ký tòa soạn của báo Tiểu thuyết Thứ bảy. Có một tâm sự ông giữ mãi trong lòng hơn nửa thế kỷ, khi vào tuổi 80 mới thổ lộ với bạn bè tâm giao. Rằng đó là một buổi trưa, cuối mùa thu năm 1937, ở tòa soạn báo Tiểu thuyết Thứ bảy. Những đồng nghiệp trong tòa soạn đã về nghỉ gần hết, chỉ còn lại Trúc Khê Ngô Văn Triện và Ngọc Giao.

Trúc Khê Ngô Văn Triện còn nán lại để dịch Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ ra quốc ngữ. Ngọc Giao thì đã tiến đến chỗ mắc áo để lấy mũ và ra về. Nhưng đúng lúc đó có tiếng kèn đám ma. Đám tang đang đi qua phố Hàng Bông. Ngọc Giao là người rất sợ nghe tiếng kèn đám ma, nên ông mới nán lại thêm cho xe tang đi qua đã. Đã khoác áo, đội mũ chỉnh chu, ông không muốn quay vào phòng trong mà kéo ghế ngồi9 Ti gon 2 tạm lại chỗ gần cửa, gần nơi để cái sọt đựng giấy loại.

Không biết điều gì xui khiến, ông đưa tay vào sọt giấy loại, nhặt lên mấy tờ bị vo tròn và quẳng vào đó chờ đi đổ xe rác. Tẩn mẩn, ông vuốt một tờ ra và đọc. Đó là một tờ giấy học trò khổ nhỏ. Một bài thơ. Chữ viết bằng bút chì nguệch ngoạc, nét run, nét mờ, như thể viết ra một lần là xong và gửi luôn cho tòa báo. Lệ của báo là bài lai cảo phải viết trên một mặt giấy sạch sẽ. Còn bài thơ nét chữ bút chì này lại viết trên cả hai mặt giấy.

Nhưng bài thơ đã khiến Ngọc Giao xúc động lạ thường, đó là Hai sắc hoa ti gôn của T.T.Kh. Và ông đã ngồi lặng đi trong mối rung cảm đặc biệt. Rồi ông bước vội đến đưa bài thơ cho Trúc Khê, yêu cầu đọc ngay. Trúc Khê Ngô Văn Triện thấy Ngọc Giao đang quá xúc động, cũng bỏ bút, cầm đọc bài thơ. Và ông cũng ngồi lặng đi, rồi đọc lại lần nữa. Ông già Trúc Khê vỗ tay xuống bàn, nói với Ngọc Giao: “Sao lại có bài thơ tuyệt đến thế này…!” Rồi ngay sau đó, Ngọc Giao gọi ông cai thợ sắp chữ nhà in lên, bảo sắp chữ ngay bài thơ ấy cho số báo sắp ra. Vậy là Hai sắc hoa ti gôn đi vào đời sống Tr Dan ongthơ ca Việt Nam…

Kể câu chuyện tâm sự mấy mươi năm xưa cũ, nhà văn Ngọc Giao còn cầm bút ghi vào cuốn sổ lưu niệm của một bạn văn cùng thời là nhà văn Phạm Văn Kỳ cũng từng làm thư ký tòa soạn tuần báo Tiểu thuyết Thứ năm. Những dòng lão nhà văn Ngọc Giao ghi vào sổ lưu bút của lão nhà văn Phạm Văn Kỳ có đoạn: “… Bài thơ ra đời trong hoàn cảnh bị bỏ rơi sọt rác như vậy đó. Nó càng được bạn đọc nhắc đến bao nhiêu, tôi càng ân hận về lỗi làm ăn cẩu thả, sơ xuất bấy nhiêu… Nếu không có cái đám ma qua phố thổi kèn rầu rĩ đó thì tôi đã đội mũ lên đầu, không cúi xuống sọt rác… thì đóa hải đường Hai sắc hoa ti gôn đành an phận nằm trong đó, rồi người ta mang đi theo thường lệ, người ta phóng lửa đốt cả… Trong đó, rất có thể cả những áng văn hay mà cái anh thư ký tòa soạn quan liêu, nhác lười, cẩu thả đã ném đi !…”.

Vậy đấy, câu chuyện pha chút hài hước “nếu không có cái đám ma qua phố…” lại là một tâm sự canh cánh trong lòng nhà văn Ngọc Giao suốt 53 năm trời. Vì tế nhị, nhà văn Trúc Khê Ngô Văn Triện cũng giữ kín suốt đời câu chuyện này. Nghĩ rằng, chuyện9 Vi Vi 1 có thể hữu ích với nghề báo chí văn chương hôm nay, chúng tôi đã xin phép nhà văn Phạm Văn Kỳ và mạn phép nhà văn quá cố Ngọc Giao viết ra trong bài này.

Chúng tôi cũng muốn được khép lại bài viết này bằng mấy dòng di bút cao thượng của lão nhà văn Ngọc Giao viết mùa thu năm 1990: “Tôi xin cúi đầu nhận lỗi đã có hành vi bất kính đối với một tài năng văn học. Tôi xin bà mãn xá cho tôi nếu bà đã qua đời, cũng miễn thứ cho tôi nếu bà còn ở cõi thế gian này với mái tóc cũng bạc trắng như tôi, như tất cả chúng ta cùng chung thế hệ đoạn trường văn bút”. (theo Anh Chi)VV

Vi Vi Hùng Võ từ Facebook

Tr moc tui

TRÙM MÓC TÚI

Toa hạng nhất chẳng có mấy hành khách. Pierre Joli chọn cho mình một cupe trống. Hắn hy vọng sẽ được ngồi một mình, không ai quấy rầy trong suốt cuộc hành trình.

Thế nhưng khi tàu bắt đầu chuyển bánh thì cửa cupe bật mở và một cô gái tóc vàng lịch sự, tay xách chiếc valise da, bước vào. Cô ta cố kiễng chân nâng chiếc valise  lên giá để hành lý, tuy nhiên việc đó rõ ràng là quá sức đối với cô,  Pierre đứng dậy nhiệt tình giúp cô gái.

– Rất cám ơn ! – Cô mỉm cười và trong một thoáng, mắt họ gặp nhau. Ánh mắt của cô gây cho hắn cảm giác rằng cô có ý ve vãn đôi chút. Nhưng nếu quả như vậy thật thì cô đã không gặp may.

Sau một ngày khá nặng nề, hắn đã mệt rã rời và chỉ mong ước một điều duy nhất: Chợp mắt vài tiếng để trước khi tàu đến Lyon có thể lấy lại sức lực và chỉnh đốn tư thế. Hắn hy vọng Virginia sẽ ra tận gare đón. Đã 5 năm trời họ không gặp nhau và trong suốt thời gian đằng đẵng đó, hắn đã buồn nhớ cô biết bao.

Cô gái tóc vàng ngồi xuống, châm thuốc hút và rút từ túi ra một cuốn sách. Hắn thầm nhận xét rằng cô ta có đôi chân thật đẹp và rõ ràng cô ta cũng biết được điều đó. Lát sau, hắn cố thu xếp chỗ ngủ sao cho thật thoải mái, đoạn tắt đèn nhỏ đầu giường Tr Bac ky 2mình và thiếp đi.

Khi hắn tỉnh dậy, cô gái tóc vàng vẫn ngồi và đang tuyệt vọng lục lọi, tìm kiếm chiếc túi xách của mình.

– Ôi thật kinh khủng, – cô thốt lên, – tôi bị mất ví rồi ! Biết làm sao đây ? Bây giờ tôi không còn một xu nào hết, mà tôi cần phải có 200 francs để mua vé máy bay.

Cô gái nhìn vào mắt hắn :

– Anh có thể cho tôi vay 200 francs được không ?

Cô hỏi thẳng thừng, ráo hoảnh cứ như đang hỏi xin vài que diêm vậy. Dù thế nào thì tiền nong trong người Pierre giờ đây cũng chẳng có nhiều nhặn gì. Và tất cả những gì hiện có trong ví hắn, hắn đã phải khó nhọc ký cóp trong suốt 5 năm trời.

– Không, đáng tiếc là không có, – vì thế hắn trả lời.

Cô gái nở một nụ cười quyến rũ :

– Đưa tôi 200 francs, anh sẽ dễ dàng thoát thân.

Hắn nhìn cô không hiểu :

– Tôi sẽ dễ dàng thoát thân ? Cô ngụ ý gì vậy ?

– À, giản dị  là tôi muốn nói rằng tôi cần phải kiếm được 200 francs trước khi tàu chúng ta tới Dijon. Nhưng, có lẽ anh không có đủ 200 francs.

– Ô không, cô nói gì vậy, – Pierre gật đầu – tất nhiên là tôi có. Nhưng tôi hoàn toàn không biết cô là ai ! Thậm chí cô cũng chưa tự giới thiệu. Mà đây là cả một việc…

9 Moc tuiThoáng vài giây cô gái ngồi im, không nói lời nào. Sau đó cô hơi cúi người về phía trước, cố nắm bắt ánh mắt của hắn.

– Anh hãy thử tưởng tượng điều gì sẽ xảy ra, nếu như bây giờ tôi bắt đầu gào lên, giật cần hãm “đề phòng sự cố” và kể với trưởng toa rằng anh định cưỡng hiếp tôi. Bởi vì trước đây đã từng có những trường hợp các hành khách đàn ông đi đêm một mình trong cùng cupe với phụ nữ trẻ đã giở những trò như thế. Tất cả những chuyện đó sẽ đưa lại cho anh nhiều điều khó chịu đấy. Nào là cảnh sát đường sắt ư, nào là hỏi cung ư, rồi lại còn các nhà báo đang khao khát những tin giật gân nữa chứ ! Để thoát khỏi một vụ bê bối kiểu như thế, tôi nghĩ, anh sẽ không tiếc 200 francs đâu.

– Tôi nghĩ rằng, với tôi, vở diễn đấy của cô sẽ không thành đâu, cô bạn quý mến ạ, – hắn thờ ơ nói và rít thuốc.

– Anh hãy nghe đây này, – cô gái mỉm cười tự tin, – tôi có cảm tưởng anh chưa tính được rằng tôi hoàn toàn không có ý định đùa đâu nhé. Nếu tôi làm bù đầu tóc lên, xé toạc áo ra, rồi chạy ra hành lang gào ầm lên, thì anh sẽ rất khó thuyết phục những người khác rằng anh không dính dáng gì đến chuyện này cả. Mà như tôi được biết, ở đất nước này, người ta trừng phạt rất nghiêm khắc những ai có những hành vi vô lại đối với phụ nữ !

– Cô quả là đê tiện hết sức…

Cô gái cắt ngang lời hắn :

– Chẳng lẽ không đáng trả 200 francs để thoát khỏi tất cả những điều khó chịu đó sao ! Tôi nhìn thấy anh đeo nhẫn cưới. Vợ anh sẽ nói gì khi cô ấy đọc trên báo rằng chồng cô ấy đã…

– Cô thật là ghê tởm.

Cô gái mỉm cười :

– Ồ không hẳn vậy đâu ! Tôi rất hiền lành với anh đấy. Bởi tôi chỉ đòi anh vẻn vẹn có 200 francs thôi, phải vậy không? Có những trường hợp tôi còn moi được nhiều hơn gấp bội . Chẳng hạn 500, 1.000, đôi khi thậm chí còn xoay được vài ngàn  chứ ! Các chính trị gia với tiếng tăm không mấy trong sạch thường vui lòng “ứng” cho tôi những khoản tiền không nhỏ để phòng ngừa những vụ xì-căng- đan. Tôi thường bao giờ Tr Thanh nien 4cũng nhắm trước cho mình con mồi. Tôi đánh giá anh khoảng 200 – 300, thậm chí có thể tới 500 francs, nhưng tôi chỉ xin anh có 200 thôi.

– Cô thôi đi được rồi đấy ! – Pierre đứng dậy chụp lấy valise của mình và muốn nhanh chóng thoát khỏi cupe.

– Hãy ngồi xuống đấy ! – Cô gái ra lệnh và ngay tức khắc quay ra ngáng đường hắn, – hay là để tôi kêu lên bây giờ! Trong chuyện này thì tôi lão luyện lắm. Anh hãy tin rằng tôi rất lành nghề trong công việc của mình!

Pierre quẳng valise xuống ghế và ngồi phịch xuống. Hắn tin rằng cô ta rất dám thực thi những lời đe dọa đó nếu như hắn mưu toan chống lại cô tạ Liếc nhìn sang, hắn thấy trên cườm tay cô ta những đồ trang sức đắt tiền. Đó là một bằng chứng hùng hồn cho thấy cô ta rất lão luyện trong nghề.

Cô gái ngó nhìn đồng hồ đeo tay bằng vàng của mình.

– Còn năm phút nữa chúng ta sẽ tới Dijon, mà tôi thì phải xuống bến đó, – cô nói bằng một giọng hết sức lạnh lùng sự vụ, – tôi cho anh đúng một phút nữa để quyết định. Phanh hãm phòng bất trắc nằm ngay dưới cửa cupe đây. Tôi chỉ cần vài giây là đủ để xé áo, vò tóc mình, cào mặt anh và kêu cứu. Tôi có thể gào chói tai đến mức…

– Còn tôi thì sẽ lập tức kể với mọi người sự việc trên thực tế ra sao và cô là kẻ lừa bịp thế nào. Cô đừng tưởng rằng…

Cô gái phì cười khinh bỉ :

– Những kẻ hiếp dâm bao giờ chẳng bày ra những điều thanh minh ngu xuẩn, nhưng ai mà tin chúng được. Nhất là trong những trường hợp quan trọng như thế này !

Pierre nhổm dậy, dụi đầu thuốc lá vào chiếc gạt tàn và sau vài giây lưỡng lự tiến đến trước mặt cô gái.Gai bao 2 Cô ta vẫn đứng chắn ngang cửa, một tay nắm lấy cổ chiếc áo sơ mi trắng của mình để sẵn sàng xé toạc nó trong chớp mắt. Những móng tay nhọn hoắt sơn đỏ của cô ta, rõ ràng chỉ cần vài giây là đủ để làm biến dạng khuôn mặt hắn – để “tự vệ” mà.

– Thôi được, – hắn nói, đồng thời nhún vai khuất phục, rút từ ví ra mấy tờ giấy bạc, nhưng để bù lại khoản này tôi đề nghị phải trả lại tôi lãi suất bằng hiện vật.

– Bằng hiện vật ? Thế nghĩa là thế nào ?

– Tôi đề nghị cho phép tôi hôn cô, để sau này còn có thể vỗ ngực khoe khoang rằng đã được hôn một nữ quái tống tiền trâng tráo nhất thế giới ! Cô sẽ nhận 200 francs, còn tôi thì được cái hôn. Như vậy theo tôi, có lẽ công bằng hơn. Cô thấy thế nào, hay là cô có ý kiến khác ?

Cô gái tóc vàng thoáng chút lưỡng lự. Sau đó cô chụp lấy mấy tờ giấy bạc, còn hắn thì kéo cô về phía mình, ôm hôn say đắm. Đó là một chiếc hôn rất dài.

– Thôi đủ rồi, – cô gái thốt lên rồi quẫy ra. Đúng lúc đó đoàn tàu dừng lại. Cô gái lôi valise của mình khỏi giá và bước ra. Pierre đứng ở cửa cupe dõi theo bước chân cô dọc hành lang cho đến khi cô bước ra khỏi toa tàu. Đoạn, hắn trở lại, ngồi xuống chỗ của mình, châm một điếu thuốc mới và rút ra một tờ báo. Đã vài phút trôi qua, đoàn tàu lại chuyển mình đi về hướng Lyon.

– Cô nhóc thật ranh ma, quỷ quyệt, – hắn lẩm bẩm không giấu vẻ khâm phục, – nhưng thật không may cho cô ta là đã gặp phải mình.

Nói đoạn hắn đút chiếc đồng hồ và chiếc vòng vàng của cô ta vào túi áo. Lật qua mấy trang báo, hắn cẩn thận cắt ra một mẩu tin, trong đó có nói rằng ngày hôm nay, sau khi hết hạn 5 năm tù, trùm móc túi Pierre Joli vừa được phóng thích.

Lan Hương chuyển tiếp

TIN  Y HOC & ĐỜI SỐNG

LỢI ÍCH CỦA ÔM

Nên ôm nhau 4 cái mỗi ngày

Thê’ thì ta nên ôm luôn luôn, ôm liên tục, ôm không ngừng nghỉ.  tức là ôm xà nẹo thì nhất dương chỉ luôn ….

Ôm giúp tăng cường hệ miễn dịch, chữa trầm cảm, giảm căng thẳng, mang đến giấc ngủ ngon. Ngoài ra, ôm còn tiếp thêm sinh lực, trẻ hóa và không có tác dụng phụ.

Việc “tiêu thụ” những cái ôm rất tốt cho sức khỏe bởi nó không chứa thuốc trừ sâu, không chất bảo quản, không có thành phần nhân tạo và 100 hoàn toàn lành tính. Hơn nữa, ôm ít tốn năng lượng, không phải tính thuế, không gây ô nhiễm và tất nhiên hoàn toàn không cần trả lại.

Có một câu nói nổi tiếng của nhà tâm lý học người Mỹ, Virginia Satir rằng : “Chúng ta cần 4 cái ôm mỗi ngày để tồn tại. Cần 8 cái ôm mỗi ngày để duy trì. Và cần 12 cái ôm mỗi ngày để phát triển”. Và theo Dailyhealthpost, có rất nhiều bằng chứng khoa học chứng minh được tầm quan trọng của những cái ôm đối với sức khỏe con người.

– Kích thích oxytocin. Oxytocin là chất dẫn truyền thần kinh có tác dụng trên hệ thống limbic, trung tâm cảm xúc của não, thúc đẩy cảm giác mãn nguyện, làm giảm sự lo lắng và căng thẳng. Những cái ôm khiến cơ thể sản sinh hoóc-môn oxytocin, thường được gọi là hoóc-môn tình yêu, có thể giúp chúng ta gạt bỏ căng thẳng, sự cô đơn và cả sự tức giận, đồng thời giúp chúng ta có cảm giác an toàn, cảm nhận được sự tin cậy và trung thực trong mỗi con người.

Nghiên cứu mới từ Đại học California (Mỹ) còn cho biết ôm là cử chỉ thể hiện sự văn minh, khiến con người sống tình cảm, dễ dàng tạo dựng các mối quan hệ và liên kết xã hội, cũng như tăng cường nhu cầu ham muốn tình dục và hoạt động tình dục.

– Tăng sự kiên nhẫn. Kết nối được thúc đẩy khi con người dành thời gian để đánh giá và công nhận lẫn nhau.Bia om Ôm là một trong những cách dễ nhất để thể hiện sự đánh giá và ghi nhận của người khác. Cuộc sống xô bồ, công việc tất bật khiến con người hối hả lao vào như một cỗ máy để cố gắng hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình. Bằng cách sống chậm lại và dành chút thời gian để cảm nhận sự chân thành của những cái ôm sẽ giúp nuôi dưỡng lòng kiên nhẫn bên trong mỗi chúng ta.

– Ngừa bệnh tật. Những cái ôm ngọt ngào có liên hệ trực tiếp đến việc giảm căng thẳng, giúp ngăn chặn nhiều bệnh. Viện Nghiên cứu cảm ứng tại ĐH Miami School of Medicine (Mỹ) cho biết họ đã thực hiện hơn 100 nghiên cứu về mối liên hệ giữa việc ôm ấp với khả năng ngăn ngừa bệnh tật và tìm thấy có một sự tác động đáng kể (bao gồm quá trình tăng trưởng nhanh hơn ở trẻ sinh non, giảm đau, giảm các triệu chứng bệnh tự miễn, giảm lượng đường ở trẻ có bệnh tiểu đường, và cải thiện hệ thống miễn dịch ở những người bị bệnh ung thư) giữa những cái ôm với sức khỏe con người.

– Kích thích tuyến ứcÔm giúp tăng cường hệ thống miễn dịch. Áp lực nhẹ nhàng lên xương ức có khả năng kích thích, kiểm soát và cân bằng việc sản xuất bạch cầu của cơ thể giúp tăng cường sức đề kháng của cơ thể. Ngoài ra, những cái ôm còn giúp chúng ta có được cảm giác được trân trọng và yêu thương.

– Ý nghĩa hơn cả lời nói. Gần 70% giao tiếp là phi ngôn ngữ. Việc giải thích ngôn ngữ cơ thể có thể dựa trên một cử chỉ hoặc một cái ôm là phương pháp tuyệt vời thể hiện tình cảm của mình với đối phương. Không chỉ cảm nhận được tình yêu, sự chân thành từ vòng tay của bạn, đối phương có thể tiếp thu và đáp trả bằng cách ôm lại, từ đó tạo ra sự gắn kết bền vững.

bia-om-2– Tăng lòng tự trọng. Ôm tăng lòng tự trọng, đặc biệt là ở trẻ em. Xúc giác là cơ quan quan trọng nhất ở trẻ sơ sinh. Một em bé sẽ cảm nhận được tình cảm từ cha mẹ thông qua những cái ôm trìu mến. Xúc giác những năm đầu đời ấy có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình phát triển nhân cách của trẻ sau này. Trẻ sẽ cảm nhận sự thương yêu và từ đó có ý thức nâng cao giá trị bản thân.

– Kích thích dopamine. Mức dopamine thấp dễ dẫn đến nguy cơ mắc bệnh thoái hóa thần kinh, rối loạn tâm trạng như trầm cảm, Parkinson. Ôm ấp, vuốt ve kích thích não sản xuất dopamine – hoóc-môn hạnh phúc.

– Kích thích serotonin. Ôm chặt có thể làm tăng nồng độ serotonin (một loại hoóc-môn có chức năng điều chỉnh tâm trạng, đem lại cảm giác hạnh phúc) vào các mạch máu; đồng thời làm giảm các triệu chứng bệnh tim, giúp giảm cân và kéo dài tuổi thọ.

– Cân đối giao cảm. Những cái ôm âu yếm có thể giúp cân bằng hệ thần kinh. Da có một mạng lưới nhỏ, có thể nhận được những cảm ứng và sau đó tiếp xúc với não thông qua các dây thần kinh. Các phản xạ trên da của một người nào đó khi tiếp nhận một cái ôm cho thấy có sự thay đổi rõ rệt. Hiệu ứng điện diễn ra ở da cho thấy được trạng thái cân bằng hơn trong hệ thống thần kinh khi được ôm.

Lan caysu chuyển tiếp

A- KÍNH BÁO CÙNG BẠN ĐỌC

NS PHẠM ĐÌNH CHƯƠNG

PHẠM ĐÌNH CHƯƠNG

Nhạc sĩ phổ thơ mang tính thiên tài

– Nguyễn Việt

Nói đến nhạc sĩ Phạm Đình Chương là nói đến những nhạc phẩm tình ca lãng mạn được sáng tác từ thời tiền chiến cho đến bây giờ. Đa số nhạc phẩm do ông sáng tác được phổ từ thơ.

Nhạc sĩ Phạm Đình Chương là một tên tuổi lớn của nền âm nhạc Việt Nam. Nếu phải so sánh giữa Phạm Đình Chương với Phạm Duy, có lẽ cả hai đều  “kẻ tám lạng người nửa cân”, chỉ có điều Phạm Đình Chương không sáng tác nhạc đủ thể loại và theo kiểu “thị trường” như “Sức Mấy Mà Buồn”, “Bỏ Qua Đi Tám” hay nhạc Việt hóa v.v… mà Phạm Duy có sở trường. Phạm Đình Chương chỉ có một con đường để đi, là chọn con đường vì văn học nghệ thuật.

Chúng ta thử điểm qua những sáng tác tiêu biểu của Phạm Đình Chương từ trước đến nay :

– Hội trùng dương, Ly rượu mừng, Tiếng dân chài, Anh đi chiến dịch, Bên trời phiêu lãng, Đất lành, Đêm cuối cùng, Đến trường, Định mệnh buồn, Đón xuân, Ra đi khi trời vừa sáng (viết với Phạm Duy), Đợi chờ (viết với Nhật Bằng), Được mùa, Hò leo núi, Khi cuộc tình đã chết, Khúc giao duyên, Kiếp Cuội già, Lá thư mùa xuân, Lá thư người chiến sĩ, Mỗi độ xuân về, Mười thương, Nhớ bạn tri âm, Sáng rừng, Ta ở trời tây, Thằng Cuội, Thuở ban đầu, Trăng mường Luông, Trăng rừng, Xóm đêm, Xuân tha hương…

Nhạc phổ thơ có những ca khúc như : Buồn đêm mưa (thơ Huy Cận), Cho một thành phố mất tên (thơ Hoàng Ngọc Ẩn), Nửa hồn thương đau, Bài ngợi ca tình yêu, Dạ tâm khúc , Đêm màu hồng (thơ Thanh Tâm Tuyền), Đêm nhớ trăng Sài Gòn, Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển, Quê hương là người đó (thơ Du Tử Lê), Đôi mắt người Sơn Tây (thơ Quang Dũng), Hạt bụi nào bay qua (thơ Thái Tú Hạp), Heo may tình cũ (thơ Cao Tiêu), Mắt buồn (thơ Lưu Trọng Lư, tặng Lệ Thu), Màu kỷ niệm (thơ Nguyên Sa), Mộng dưới hoa (thơ Đinh Hùng), Mưa Sài Gòn, mưa Hà Nội (thơ Hoàng Anh Tuấn), Người đi qua đời tôi (thơ Trần Dạ Từ)… và còn rất nhiều nhạc phẩm khác v.v…

Một chút tiểu sử :

Nhạc sĩ Phạm Đình Chương sinh năm 1929 và qua đời vào năm 1991. Khi soạn nhạc ông ký bút hiệu Phạm Đình Chương, còn đi hát, chỉ trong ban hợp ca Thăng Long, ông có tên gọi ca sĩ Hoài Bắc.

Nhạc sĩ Phạm Đình Chương sinh 14/11/1929 tại Bạch Mai, Hà Nội. Quê nội ở Hà Nội còn quê ngoại ở Sơn Tây. Ông xuất thân trong một gia đình mang truyền thống âm nhạc, thân phụ là Phạm Đình Phụng. Người vợ đầu của cha ông, sinh được 2 người con trai tên Phạm Đình Sỹ và Phạm Đình Viêm. Phạm Đình Sỹ lập gia đình với nữ kịch sĩ Kiều Hạnh và có con gái là ca sĩ Mai Hương. Còn Phạm Đình Viêm tức ca sĩ Hoài Trung, trong ban hợp ca Thăng Long như đã nói. Người vợ sau tức mẹ ruột Phạm Đình Chương sinh 3 người gồm trưởng nữ là Phạm Thị Quang Thái, tức ca sĩ Thái Hằng vợ nhạc sĩ Phạm Duy. Con trai thứ là nhạc sĩ Phạm Đình Chương, và cô con gái út là Phạm Thị Băng Thanh, tức nữ ca sĩ Thái Thanh.

Từ nhỏ Phạm Đình Chương được nhiều người chỉ dẫn về nhạc lý, nhưng phần lớn ông vẫn tự học là chính. Trong những năm đầu kháng chiến, Phạm Đình Chương tức ca sĩ Hoài Bắc cùng các anh chị em ruột hai dòng như Hoài Trung, Thái Hằng, Thái Thanh gia nhập ban văn nghệ Quân đội ở Liên Khu IV, để từ đó thành tên Ban hợp ca Thăng Long.

Nhạc sĩ Phạm Đình Chương bắt đầu sáng tác âm nhạc vào năm 1947, lúc mới 18 tuổi, nhưng phần nhiều nhạc phẩm của ông thường được xếp vào dòng tiền chiến bởi mang phong cách trữ tình lãng mạn. Các nhạc phẩm đầu tiên như Ra Đi Khi Trời Vừa Sáng, Hò Leo Núi… có không khí hùng tráng tươi trẻ.

Năm 1954, nhạc sĩ Phạm Đình Chương cùng gia đình chuyển vào miền Nam sinh sống, rồi tái lập lại Ban hợp ca Thăng Long để hoạt động. Thời kỳ này các sáng tác của ông thường mang âm hưởng miền Bắc như nói lên tâm trạng hoài hương của mình như các nhạc phẩm : Khúc giao duyên, Thằng Cuội, Được mùa, Tiếng dân chài… Thời gian sau, ông viết nhiều bản nhạc nổi tiếng và vui tươi hơn : Xóm đêm, Đợi chờ, Ly rượu mừng, Đón xuân…

Sau khi cuộc hôn nhân với nữ ca sĩ Khánh Ngọc tan vỡ, ông bắt đầu sáng tác tình ca. Ông đem tâm trạng đau thương vào những bài nhạc tình da diết, đau nhức, buốt giá : Đêm cuối cùng, Thuở ban đầu, Người đi qua đời tôi, Nửa hồn thương đau…

Có thể nói Phạm Đình Chương là một trong những nhạc sĩ phổ thơ hay nhất. Nhiều bản nhạc phổ thơ của ông đã trở thành những bài hát bất hủ, có một sức sống riêng như Đôi mắt người Sơn Tây (thơ Quang Dũng), Mộng dưới hoa (thơ Đinh Hùng), Nửa hồn thương đau (thơ Thanh Tâm Tuyền), Đêm nhớ trăng Sài Gòn (thơ Du Tử Lê)… ông cũng đóng góp cho nền tân nhạc Việt với một bản trường ca bất hủ mang tựa “Hội trùng dương” viết về ba con sông nước Việt là sông Hồng, sông Hương và sông Cửu Long.

Sau 1975 nhạc sĩ Phạm Đình Chương định cư tại California, Hoa Kỳ, và mất vào ngày 22/8/1991.

“NỬA HỒN THƯƠNG ĐAU”

VỚI TÂM SỰ RIÊNG TƯ

Vào những năm 1960 thế kỷ trước, báo chí Sài Gòn đã hao tốn rất nhiều giấy mực vì phải đăng nhiều kỳ vụ nhạc sĩ Phạm Đình Chương ly dị vợ là nữ ca sĩ Khánh Ngọc. Tòa án xét xử nhiều lần chưa xong, vì thế vụ việc càng làm cả hai trở nên nổi tiếng, vừa theo nghĩa bóng lẫn nghĩa đen.

Bởi lúc đó, ban hợp ca Thăng Long đang nổi đình đám nhất trong sinh hoạt ca vũ nhạc kịch thời bấy giờ, lúc ấy “nhóm Thăng Long” bao gồm nhiều nghệ sĩ nổi danh như Hoài Trung, vợ chồng ca sĩ Thái Hằng – Phạm Duy, ca sĩ Thái Thanh, vợ chồng ca nhạc sĩ Phạm Đình Chương (Hoài Bắc) – Khánh Ngọc. Nếu không kể đến người chị dâu Kiều Hạnh cũng là một nữ kịch sĩ đang được ái mộ trên các sân khấu thoại kịch.

Phải nói trong thời gian sau 1954, các ca kịch sĩ miền Bắc xuất hiện rất đông đảo trên các sân khấu lẫn đài phát thanh như Vũ Huân, Vũ Huyến, Lê Văn Vũ Bắc Tiến, Kiều Hạnh, Duy Trác, Anh Ngọc, Châu Hà, Hà Thanh v.v… Một phần, do ca sĩ trong Nam lúc đó chưa xuất hiện nhiều tên tuổi lớn, chỉ có một số ca sĩ đầy triển vọng từ phòng trà Đức Quỳnh giới thiệu như Bạch Yến, Cao Thái, sau có Minh Hiếu, Thanh Thúy, Túy Phượng… nhỏ hơn thì có Quốc Thắng, Kim Chi trong ban nhi đồng của nhạc sĩ Nguyễn Đức.

Khánh Ngọc đang là vợ của nhạc sĩ Phạm Đình Chương, là một ca sĩ được nhiều người biết với tên gọi “ngọn núi lửa”, bởi cô có bộ ngực hấp dẫn và thường quyến rũ khán giả say đắm mỗi khi cô lên hát. Đồng thời Khánh Ngọc còn đóng mấy phim với nam tài tử Lê Quỳnh một loạt phim nói về những ngày di cư từ Bắc vào Nam do Mỹ thực hiện.

Trước khi đưa đơn ra tòa, nhạc sĩ Phạm Đình Chương đã nghe phong phanh Khánh Ngọc ngoại tình. Nhưng vì tình yêu nên ông vẫn tin tưởng vợ và bỏ ngoài tai tất cả những nguồn tin “lá cải” ấy. Chỉ đến khi một số người bạn hẹn ông đi bắt ghen tại Nhà Bè thì sự việc mới đổ bể. Lúc đó báo chí Sài Gòn biết rất nhanh, và vụ “ăn chè Nhà Bè” được các báo khai thác triệt để, do vợ chồng Phạm Đình Chương và “thủ phạm” đều là những người nổi tiếng, mọi người mới biết kẻ trong cuộc gây ra chuyện này không ai xa lạ, chính là người anh rể của ông.

Người đau lòng nhất chính là Phạm Đình Chương chồng Khánh Ngọc, vì ông rất yêu vợ, nhưng bấy giờ dư luận xã hội đều đã rõ tường tận nên đành phải gửi đơn xin ly dị.

Đây là quãng thời gian đau khổ, Phạm Đình Chương không còn tâm trí biểu diễn cùng các anh chị trong Ban hợp ca Thăng Long, ông lui về trong bóng tối thầm lặng viết những bài tình ca buồn, như để tâm sự với chính mình. Một loạt ca khúc mang tâm trạng như thế ra đời như “Đêm cuối cùng”, “Người đi qua đời tôi”, “Khi cuộc tình đã chết”, “Thuở ban đầu”, “Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển”…

Sau khi ly dị, nhạc sĩ Phạm Đình Chương được quyền nuôi con, khi ấy mới khoảng 4 – 5 tuổi, ông bắt đầu đi hát trở lại. Một lần tình cờ gặp Khánh Ngọc trên một sân khấu đại nhạc hội, ông có ý muốn đưa cô vợ đã ly dị về nhà vì trời đang mưa, nhưng bị từ chối. Bởi vậy khi lặng lẽ trở về căn nhà kỷ niệm với một thời sống cùng Khánh Ngọc, nhìn qua màn mưa nhớ về những ngày hạnh phúc, giờ đang trôi theo dòng nước.… có người nói Phạm Đình Chương định tự tử lúc bấy giờ, nhưng nghe tiếng khóc của con, ông mới từ bỏ ý định !?

Hình ảnh của đêm khốn cùng ấy đã đi vào từng lời bài hát “ Nửa hồn thương đau” được Phạm Đình Chương viết trong đêm rã rời đó. Nếu ai đã nghe một lần bài hát này và cũng đồng cảm với cuộc đời của ông sẽ hiểu được tâm hồn con người chỉ có thể chịu đựng một giới hạn nhất định.

NGƯỜI PHỔ THƠ MANG TÍNH THIÊN TÀI

Thật ra nhạc phẩm “Nửa hồn thương đau” của Phạm Đình Chương là được ông phổ từ thơ của Thanh Tâm Tuyền qua bài thơ “Lệ đá xanh”, nhưng ông đã đổi tựa và thêm ý tứ cho phù hợp với tâm trạng của ông lúc bấy giờ.

Có người nhận xét, lối phổ thơ thành nhạc của nhạc sĩ Phạm Đình Chương mang đặc tính thiên tài, từ những vần thơ của các thi sĩ trở thành những nhạc phẩm luôn lưu lại nhiều kỷ niệm sâu đậm trong lòng người ái mộ như các ca khúc Đôi mắt người Sơn Tây (thơ Quang Dũng), Nửa hồn thương đau, Đêm màu hồng, Dạ tâm khúc (thơ Thanh Tâm Tuyền), Màu kỷ niệm (thơ Nguyên Sa), Mưa Sài Gòn mưa Hà Nội (thơ Hoàng Anh Tuấn), Người đi qua đời tôi (thơ Trần Dạ Từ), Đêm nhớ trăng Sài Gòn (thơ Du Tử Lê) v.v… cho nên nếu so sánh cung cách phổ thơ của Phạm Duy, có thể nói Phạm Đình Chương xuất sắc không kém, do ông lấy văn học đưa vào nhạc, còn Phạm Duy đôi khi đưa thơ vào nhạc mang tính thị hiếu nhiều hơn.

Có người nói sự nghiệp của nhạc sĩ Phạm Đình Chương còn rộng tỏa trên bình diện của thể nhạc trữ tình lãng mạn, với những sáng tác phong phú đủ chủ đề về tuổi trẻ, tình yêu, hiện thực, hoặc chia sẻ nhịp rung cảm cùng mọi người như các tác phẩm : Bài ca tuổi trẻ, Thuở ban đầu, Mười thương, Mộng dưới hoa, Bài ca ngợi tình yêu, Đêm cuối cùng, Heo may tình cũ, Xóm đêm v.v…

Xuyên qua các nhạc phẩm trên, người ta lại càng nhận thức đầy đủ hơn nơi ý nhạc lời ca của Phạm Đinh Chương có một tâm hồn tươi trẻ, nồng nhiệt và cũng không kém phần thương đau, xót xa trong tan vỡ của yêu đương luyến nhớ, hay những khối chân tình qua từng bước chân phiêu bạt mà ông đã đi qua.

“Có lẽ sự rung động dễ thương của những con tim khi chớm nở loài hoa tình yêu mới là cảm xúc tuyệt diệu nhất được Phạm Đình Chương diễn tả bằng chính nội tâm hiện thực của ông qua ca khúc “Mộng dưới hoa” phổ thơ Đinh Hùng :

Chưa gặp em anh vẫn nghĩ rằng

Có nàng thiếu nữ đẹp như trăng

Mắt xanh là bóng dừa hoang dại

Âu yếm nhìn anh không nói năng ….

“Cuối cùng không thể không đề cập đến “Trường khúc Tam Giang” tức “Hội Trùng Dương” với những nỗi niềm diễn tả tâm tư mang lời tự thuật thật sống động, đặc sắc của 3 con sông lớn đại biểu cho mạch sống của ba miền và được xem như là một đại tác phẩm trường tấu để đời của nhạc sĩ Phạm Đình Chương. Trường ca này được liên kết thật chặt chẽ bằng những tiết tấu phối hợp sự biến âm đặc biệt biểu hiện tình cảm khi nhẹ nhàng, lúc khoan thai, khi hùng tráng, lúc trầm lắng, khi ngọt ngào, lúc thiết tha, quyện lẫn trong các câu hò mang sắc thái âm điệu thổ ngữ Bắc, Trung, Nam rất duyên dáng chân thành và trong sáng tình yêu quê hương vốn được hun đúc từ ngàn đời, tựa như 3 dòng sông tuôn chảy miệt mài ra biển Đông.

CUỘC ĐỜI ĐINH HÙNG

NGƯỜI THI SĨ YỂU MỆNH

Thi sĩ Đinh Hùng sinh ngày 3/7/1920, thuộc người làng Phượng Dực tỉnh Hà Đông nay thuộc huyện Phú Xuyên, tỉnh Hà Tây. Ông là con của cụ Hàn Phụng, một gia đình trung lưu, từ lâu đã ra lập nghiệp ở Hà Nội. Khi còn sống thi sĩ Đinh Hùng cho biết, ông được hoài thai vào năm 1919 trên đất xứ người là Phi Luật Tân (Philippines) nhưng lại ra đời ở Việt Nam ngay trại Trung Phụng gần toà Khâm Thiên Giám cũ, Hà Nội.

Đinh Hùng là con út gồm sáu anh chị em : anh cả là Đinh Lân, các chị là Loan, Yến, Hồng, Oanh. Chị Đinh Thục Oanh lớn hơn Đinh Hùng một tuổi sau lấy thi sĩ Vũ Hoàng Chương. Thuở nhỏ thi sĩ Đinh Hùng theo bậc tiểu học tại trường Sinh Từ, rồi bậc trung học tại trường trường Bưởi, Hà Nội. Và sau khi đậu bằng Cao đẳng Tiểu học hạng bình thứ ông được học bổng theo ban chuyên khoa để thi Tú tài bản xứ thì “thần Ái tình đã hiện đến cùng một lúc với sự thành công đầy hứa hẹn” (theo lời kể của ông anh rể Vũ Hoàng Chương), khiến ông bỏ ngang để đi viết văn, làm thơ.

Và hình như gia đình thi sĩ Đinh Hùng đa số mọi người đều yểu mệnh, chưa ai bước qua khỏi tuổi 60. Năm 1931, người chị thứ ba của thi sĩ tên Tuyết Hồng tự tử tại hồ Trúc Bạch vì một mối tình duyên trắc trở. Mấy tháng sau cha ông cũng qua đời khi chưa đến tuổi 50. Ba năm sau, người chị lớn nhất của ông cũng qua đời. Còn nếu tính đến ông khi mất vào ngày 24/8/1967, thì cũng chỉ mới hưởng dương có 48 tuổi !

Nói về thân thế sự nghiệp của thi sĩ Đinh Hùng. Năm 1943, ông theo sống với chị là bà Thục Oanh và thi sĩ Vũ Hoàng Chương tức anh rể của ông. Cũng năm này, ông cho xuất bản tập văn xuôi Đám ma tôi (NXB Tân Việt) và thơ đăng trên Hà Nội tân văn của Vũ Ngọc Phan, Giai phẩm Đời Nay của nhóm Tự Lực văn đoàn… Nhưng thật sự bắt đầu nổi tiếng với bài thơ “Kỳ Nữ” mà Thế Lữ in trong truyện Trại Bồ Tùng Linh.

Năm 1944, sau khi thi sĩ Vũ Hoàng Chương cưới bà Thục Oanh đưa về Nam Định sinh sống, Đinh Hùng ở lại Hà Nội và cho ra đời giai phẩm Dạ Đài, với sự cộng tác của một số bạn như Trần Dần, Trần Mai Châu, Vũ Hoàng Địch, Mai Châu… Cùng năm này, ông cùng vợ là bà Nguyễn Thị Thanh về Thái Bình dạy học. Khi ấy, Vũ Hoàng Chương và vợ đang ở đó.

Năm 1949, ông lại cùng gia đình trở lại Hà Nội. Tại đây ông cho ấn hành giai phẩm Kinh Đô văn nghệ (1952) và Mê Hồn ca (1954).

Tháng 8 năm 1954, thi sĩ Đinh Hùng và gia đình di cư vào Nam, cộng tác với tờ nhật báo Tự Do của Phạm Việt Tuyền, có sự cộng tác của Tam Lang, Mặc Đỗ, Mặc Thu, Như Phong… Năm 1955, nhật báo Tự Do đình bản, ông về cộng tác với Đài phát thanh Sài Gòn, phụ trách ban thi ca Tao Đàn, chuyên về thơ ca, cho đến hết đời. (Ban thi ca tao đàn từng đưa những tên tuổi ca sĩ như Hồng Vân, Hoàng Oanh thành những người đọc và ngâm thơ hay nhất lúc bấy giờ).

Ngoài việc làm thơ ký bút hiệu Đinh Hùng, ông còn dùng bút hiệu Thần Đăng khi làm thơ châm biếm và Hoài Điệp Thứ Lang lúc viết tiểu thuyết. Ông viết tiểu thuyết dã sử Cô gái gò Ôn khâu, Người đao phủ thành Đại La và làm thơ trào phúng đăng trên báo Tự Do, báo Ngôn Luận.

Năm 1961, Đinh Hùng cho in tập Đường vào tình sử (đoạt giải Văn chương về thi ca năm 1962). Năm 1967, cho ra tuần báo Tao Đàn thi nhân, nhưng mới phát hành được 2 số thì ông mất lúc 5 giờ sáng ngày 24 tháng 8 năm 1967 tại bệnh viện Bình Dân, Sài Gòn, vì bệnh ung thư gan.

Sau khi ông mất, nhà xuất bản Giao điểm cho phát hành tác phẩm Ngày đó có em vào ngày 16 tháng 10 năm 1967. Ngoài những tác phẩm kể trên, thi sĩ Đinh Hùng còn có 8 tác phẩm chưa xuất bản: Tiếng ca bộ lạc (thơ), Tiếng ca đầu súng (hồi ký), Dạ lan hương (văn xuôi), Sử giả (tùy bút), Vần điệu giao tình (cảo luận) và 3 kịch thơ: Lạc lối trần gian, Phan Thanh Giản, Cánh tay hào kiệt.
Mặc dù Đinh Hùng có viết văn, viết kịch, nhưng ông nổi tiếng là nhờ thơ. Các thi phẩm như Mê Hồn ca, Đường vào tình sử là hai thi phẩm nổi trội.

Trong Từ điển Văn học có nhận xét về ông như sau :

“Đinh Hùng là người tài hoa, có khả năng hội họa, biết chơi vĩ cầm, thích thú với môn thư pháp bằng chữ quốc ngữ… và sống phóng túng, có khi như một lãng tử.

“Ở phần đầu Mê hồn ca, thơ ông bộc lộ một cảm giác cô độc đặc biệt đến bi thiết: Bài ca man rợ, Những hướng sao rơi, Người con gái thiên nhiên…Ở phần hai với tiêu đề Thần tượng, chứa đựng những vần thơ tôn giáo hóa tình yêu: Kỳ nữ, Hoa sử, Hương trinh bạch…. Một khía cạnh khác của thơ Đinh Hùng là sự ám ảnh của thế giới bên kia: Gửi người dưới mộ, Cầu hôn, Tìm bóng tử thần…

Hiện tượng này hẳn liên quan đến nhiều chuyện tang tóc bất bình thường, trong thời gian ngắn, liên tục đổ ập xuống đời sống của tác giả thưở thanh thiếu niên.

“Thơ Đinh Hùng hàm súc, lối thao tác “tụ” và “tán” nhanh chóng, những “từ” và “tứ” đột xuất, khiến thơ ông có khả năng gây được cộng cảm, dễ lưu vào tâm trí người đọc”.(bộ mới, NXB Thế giới, 2004)

Tình thơ trong thi phẩm Đinh Hùng

Nhà thơ, nhà văn thường có tính tình lãng mạn, trữ tình, như ở thuở thanh niên thi sĩ Đinh Hùng đang được cấp học bổng để theo học ban chuyên khoa. Nhưng vào một ngày đẹp trời thì “tiếng sét ái tình” bỗng nhiên đánh trúng tim ông :

Có chàng mang lòng thương

Đi dạo muôn con đường.

Một hôm dừng trước mộng,

Yêu nàng tên Tần Hương.

(Tần Hương – Đường vào tình sử)

Người đẹp ấy tên là Kiều Hương, nhưng ông sợ gây rắc rối cho nàng khi đi lấy chồng nên sửa tên là Tần Hương. Mối tình ấy của Đinh Hùng tuy là mối tình đầu nhưng không sâu sắc, vì chỉ là tình yêu đơn phương. Nên khi nàng Kiều Hương đi lấy chồng, ông không buồn như nhà thơ Kiên Giang Hà Huy Hà từng thất tình khi nghe người yêu đi lấy chồng để có một thi phẩm bất hủ “Hoa trắng thôi cài trên áo tím”. Còn ông chỉ có 2 bài thơ mang tên “Tần Hương” và “Bài hát mùa thu” đăng trong tập thơ Đường vào tình sử.

Mối tình thứ hai mới thực sự mãnh liệt và ghi dấu suốt đời trong tâm khảm của nhà thơ. Nàng là một cô bé họ xa, tên Bích Liên, thỉnh thoảng đến chơi nơi trại Trung Phụng của ba ông, nên thi sĩ Đinh Hùng có dịp quen thân. Thuở ấy nàng còn bé nhưng xinh đẹp tuyệt vời, và vì tên nàng là Liên nên Đinh Hùng viết :

Người đẹp ngày xưa tên giống hoa,

Mùa xuân cây cỏ biếc quanh nhà.

Thùy hương phảng phất sen đầu hạ,

Lén bước trang đài tới gặp ta.

(Liên tưởng – ĐVTS)

Hai người mỗi ngày một lớn, tình yêu cũng cùng với tháng năm mà lớn dần theo, cô bé Liên càng ngày càng đẹp. Hai người yêu nhau nhưng trong mối tình hoàn toàn trong trắng. Không may nàng Liên bị bệnh phổi nặng, sắc đẹp ngày càng kỳ ảo và huyền hoặc khiến ông cứ ngất ngây, trong khi đó sức khỏe của nàng cứ hao mòn rồi từ giã cõi đời vào khoảng năm 1940. Đó là cái chết thứ tư của người thân yêu mà Đinh Hùng chứng kiến trong khoảng thời gian chưa tới mười năm.

Mất Liên, thi sĩ Đinh Hùng đau đớn như điên dại :

Qua xứ ma sầu, ta mất trí,

Thiêu đi tập sách vẽ hoa nguyền.

Trời ơi ! Trời ơi ! Làn tử khí,

Lạc lõng hương thầm đóa Bạch Liên.

(Cầu hồn – Mê Hồn Ca)

Từ đó Đinh Hùng thường làm những bài thơ “Chiêu niệm”, tên Liên được thay thế bằng những tên khác, nào Diệu Hương, Diệu Thư, nào Ý Liên, Bạch Liên, Diệu Liên, nào Em Buồn, Em Đau Thương, Sầu Hoài Thương Nữ, nào Thần Nữ, Kỳ Nữ v.v… nhưng thực ra cũng chỉ có một nàng Bích Liên thôi. Khi nàng chết, Đinh Hùng bỏ trường đi sống lang bạt kỳ hồ, khi dạy học ở Hà Đông, lúc gia nhập một ban nhạc tài tử đi trình diễn ở vùng Bắc Cạn. Đi đâu Đinh Hùng cũng mang theo tấm di ảnh của nàng Bích Liên.

Nhà văn Mai Thảo thuật :

“Tôi được biết là sau ngày người con gái mang tên Liên từ trần, Đinh Hùng bỏ đi đến Hải Dương… Vượt Hồng Hà, bỏ Hà Nội, chàng tuổi trẻ khóc ngất, không mang theo gì hết ngoài nỗi đau đớn và một tấm hình. Đó là di vật cuối cùng của Liên…”

Nhà thơ có cá tính Ai đã gặp thi sĩ Đinh Hùng một lần thì khó lòng quên được. Thân hình mảnh mai, nước da xanh như tàu lá, đôi chân ngắn, bàn tay đẹp như bàn tay con gái mềm mại thon thon, và rất đẹp khi “vân vê” điếu thuốc lào hay khi lướt nhẹ trên chiếc vĩ cầm. Đôi mắt mơ hồ và huyền hoặc dường như luôn luôn in bóng một trời thơ diệu kỳ và mộng ảo. Giọng nói Đinh Hùng rất đặc biệt, nó “vang vang mà nhừa nhựa, nửa như thoát lên cao cùng mây, nửa như la đà cùng khói” (Hoàng Hương Trang).

Ngay lúc nằm trên giường bệnh, giọng nói ấy cũng vẫn còn nồng nàn nỗi yêu đời và niềm lưu luyến tình người. Còn vẻ bề ngoài, ông bao giờ cũng chải chuốt, tứ thời bát tiết lúc nào cũng diện complet thắt cravate cho dù là mùa hè đỏ lửa, đầu chải láng, miệng ngậm pipe, đôi vai nghiêng bởi chiếc cặp dày và nặng trĩu. Gặp bạn thơ thì mừng rỡ, chèo kéo bắt uống cho bằng được một vài ly để rồi say sưa nói về chuyện văn thơ không dứt.

Tạ Tỵ gợi lại một vài kỷ niệm :“Có những đêm đông Hà Nội tôi đến thăm Hùng tại căn nhà cổ nằm sâu trong ngõ hẹp ở cửa ô Cầu Rền, chẳng cách xa phường Dạ Lạc là bao. Ở tuổi hoa niên, tôi quen nhiều bạn biết uống rượu, nhưng tôi chưa thấy ai uống hào bằng Đinh Hùng và Văn Cao. Riêng Hùng có thể uống hai lít đế không cần đồ nhắm, vì thế Hùng mới có gan đối ẩm với Tản Đà hàng nửa ngày trời”. Và cũng vì thế mà bạn bè không ai cảm thấy bất ngờ khi hay tin Hùng bị ung thư gan ở tuổi 48.

Những tác phẩm thi ca của Đinh Hùng Thi sĩ Đinh Hùng có hai thi phẩm lớn là Mê Hồn ca và Đường vào tình sử là nổi bật hơn hết. Cho nên các nhà thơ tên tuổi vào những năm 60, 70 thế kỷ trước từng tranh cãi về giá trị của hai tập thơ này. Theo nhà thơ Sa Giang Trần Tuấn Kiệt chọn Đường Vào Tình Sử, thì nhà văn Trần Phong Giao lại chọn Mê Hồn Ca. Trần Tuấn Kiệt nói :“Mê Hồn Ca tuy đặc biệt nhưng thua xa tiếng thơ của tập Đường Vào Tình Sử”. Còn Trần Phong Giao nói :“Ai cũng bảo Mê Hồn Ca là tuyệt tác, chỉ có ́mình cậu là khác”. Rồi Trần Phong Giao khẳng định : “Trong tất cả những tác phẩm của Đinh Hùng, gặp trường hợp chỉ được quyền cất giữ một cuốn thì tôi sẽ không ngần ngại gì trong việc chọn lựa Mê Hồn Ca. Vì đó là tất cả vũ trụ thơ anh. Vì đó là tất cả anh”.

Nhận định về thi phẩm Mê Hồn Ca, nhà nghiên cứu Phạm Việt Tuyền cho rằng “thi phẩm này thuộc loại thơ nói ít hiểu nhiều, cái hay cốt ở chỗ sử dụng nghệ thuật ném hỏa mù mơ mộng lên những mảnh thực tại tản mác, điều mà Đinh Hùng chắc đã chịu ảnh hưởng ít nhiều nơi các nhà thơ tượng trưng của Pháp như Baudelaire, Rimbaud. Thế giới Mê Hồn Ca là thế giới của đắm đuối say mê, của hoang sơ man dại, của chết chóc lạnh lùng, của nhiệm mầu huyền bí. Tình yêu trong Mê Hồn Ca thiết tha, mănh liệt và kinh khủng. Có nhà thơ nào đã xây dựng được cả một khu nghĩa trang huyền ảo như những bài Tìm bóng tử thần, Màu sương linh giác, Cầu hồn, Thoát duyên trần cấu, Gửi người dưới mộ… như Đinh Hùng?”

Còn nhà thơ nhà giáo Bàng Bá Lân cũng thích Mê Hồn Ca hơn Đường Vào Tình Sử, thích nhất Bài Ca Man Rợ vì bài thơ này rất giàu vần điệu và gợi hình, nhạc thơ toàn bài hùng mạnh một cách man rợ hợp với nhan đề..

Những ngày cuối cùng của Đinh Hùng

Vào trưa ngày 23/8/1967 – trước ngày Đinh Hùng mất – các bạn thơ và văn nghệ sĩ họp mặt trong một quán nhỏ, nhà văn Thanh Nam bộc bạch đọc bốn câu thơ mà ông rất thích :

Khi tôi ngồi xuống ở bên em,

Giở tập thư xưa đọc trước đèn.

Vẫn ngọn đèn mờ, trang giấy lạnh,

Tiếng mùa thu động, tiếng mưa đêm.

Nhà thơ Kiên Giang Hà Huy Hà ở đó, tấm tắt khen thơ hay quá, nhưng khi hỏi xuất xứ thì nhà văn Thanh Nam không nhớ, chỉ biết đó là thơ Đinh Hùng trong cuốn Đường Vào Tình Sử. Về đến nhà nhà thơ Kiên Giang vội tìm cuốn Đường Vào Tình Sử để đọc bài thơ có bốn câu ấy. Đó là bài Gặp nhau lần cuối.
Tháng 7 năm 1967 khi bệnh tình của thi sĩ Đinh Hùng bỗng trở nặng, các thân hữu liền đưa ông vào bệnh viện Bình Dân để cứu chữa, nhưng bệnh ung thư chỉ có thầy tiên thuốc thánh mới cứu nổi.

Khi nhà thơ Tô Kiều Ngân vào thăm thì “trước mắt tôi không phải là chàng thơ phong vận từng bơi qua Hồ Tây, từng đánh đàn mandoline trong các phòng trà, nói chuyện có duyên, làm thơ tình ái rất hay. Người nằm đó chỉ là một bệnh nhân, mắt rất buồn, hơi thở mệt nhọc, đang chờ mổ mà tin tưởng thì rất mong manh… Người thơ của chúng ta trầm mình trong nỗi cô đơn giữa bốn bức tường bệnh viện lạnh lùng, đôi vai gầy, gầy thêm, khuôn mặt nhỏ, nhỏ thêm. Cuộc sống ở đây hoàn toàn bị lùi xa, bị tách rời”.

Có những người “vô danh” tình nguyện cho ông máu để đủ sức chịu đựng khi giải phẫu, nhưng đến nơi thì ông đã đuối quá ra đi rồi.

Tô Kiều Ngân viết tiếp : “Trước giờ liệm Hùng, tôi giở tấm vải trắng nhìn anh lần chót. Mớ tóc xõa ra, đôi mắt nhắm nghiền, da mặt trắng xanh. Buồn quá, không ngờ Hùng chết nhanh như vậy. 48 năm, thôi thế cũng được, 48 năm miệt mài với thơ, với nhạc, với Bộ lạc, Hải tần, Kỳ nữ, với “mây trắng bay đầy gối”, với “hiu hắt tiếng dương cầm”, đời anh toàn gắn liền với thơ, với rượu, kể ra đã thừa chất đẹp”

Hôm đưa tang Đinh Hùng vào chủ nhật 27-8-1967 tức 22 tháng 7 năm Đinh Mùi – là một ngày trong tiết thu sơ, bầu trời ảm đạm. Bạn bè đi đưa tuy không đông lắm nhưng ai nấy đều chan chứa trong lòng niềm tiếc thương vô hạn một nhà thơ tài hoa mà yểu mệnh.

“Bên chiếc huyệt đào sẵn, Vũ Hoàng Chương gọi lớn : “Đinh Hùng ! Đinh Hùng !” nhưng người thơ phong vận không bao giờ lên tiếng nữa. Bậc đàn anh Vi Huyền Đắc ngậm ngùi bên bờ huyệt, Vũ Khắc Khoan lặng lẽ ném một hòn đất xuống quan tài. Thanh Nam bỏ ra ngoài lặng lẽ đưa khăn lau mắt, Hoàng Anh Tuấn khóc lăn bên nấm mộ… Khi ra về, đi bên cạnh Tuấn, tôi mới hỏi “Toa hôm nay xúc động quá nhỉ !”Tuấn nói “Đâu mình có khóc Đinh Hùng, khóc cho mình đấy chứ !” (Ký giả Lô-Răng).

Và như lời tiên tri, thi sĩ Đinh Hùng từng có bài thơ “Cung đàn tưởng niệm” để khi ông chết như một di chúc để lại cho mọi người, đọc khi đến viếng mộ ông, một thi sĩ tài danh yểu mệnh :(theo Nguyễn Việt)

Lan Hương chuyển tiếp

BÍ MẬT CỦA NÀNG MONA LISA

BÍ MẬT THÂN PHẬN THẬT

CỦA NÀNG MONA LISA

Mona Lisa là một bức chân dung thế kỷ 16 được vẽ bằng sơn dầu trên một tấm gỗ dương tại Florence bởi Leonardo da Vinci trong thời kì Phục Hưng Italia.

Trước khi những bí mật về nàng Mona Lisa được hé mở, đã có nhiều giả thiết về thân phận thật của nàng,thậm chí có người cho rằng nàng là người tình bí mật của danh họa Leonardo da Vinci. Nụ cười của nàng đã khiến hàng triệu người trên thế giới bị mê hoặc nhưng không ai hiểu được bí mật đằng sau nụ cười đó như thế nào.

Nàng là ai, nàng từng sống như thế nào vẫn là một câu hỏi lớn. Tuy nhiên từ sau năm 2005 tới nay, với sự hỗ trợ những công nghệ kỹ thuật cao, bí mật về thân phận của nàng Mona Lisa dần dần được hé mở.

Liên quan tới thân phận thật của nàng Mona Lisa, vài trăm năm trước đã có nhiều cách giải thích khác nhau, có người nói rằng nàng là mẹ của danh họa Leonardo da Vinci, có người lại nói nàng là người tình bí mật của ông, hay Mona Lisa là gái làng chơi ở thành Florence tuy nhiên giả thiết Mona Lisa là bức chân dung tự họa của Leonardo da Vinci được nhiều người đồng tình nhất.

Vào thế kỷ 16, nhà sử học nghệ thuật nổi tiếng – Vasari nói rằng nàng Mona Lisa là vợ của một thương gia giàu có ở Florence nhưng quan điểm của ông không được nhiều người quan tâm. Tới năm 2005, chuyên gia nghiên cứu bản thảo trường đại học Heidelberg (Đức) cho biết đã tìm thấy chứng cứ quan trọng trong đống sách cổ ở thư viện, một cuốn sách cổ năm 1503. Chủ sở hữu cuốn sách này là một người bạn tốt của Leonardo da Vinci-Vespucci.

Trên cuốn sách có dòng chữ mà Vespucci viết vội : “Leonardo da Vinci đã sáng tạo ra ba bức họa nổi tiếng, trong đó có một bức họa là chân dung Gherardini”. Điều này trùng với tuyên bố của Vasari thế kỷ 16. Ông từng nói “vợ của Francesco del Giocondo” là Gherardini, tên đầy đủ là Lisa Gherardini del Giocondo, trong đó del Giocondo là họ chồng bà.

Sau hai năm, thư viện Đại học Heidelberg cho rằng phát hiện của tiến sỹ Giuseppe Pallanti đã khiến những giả thiết về thân phận của nàng Mona Lisa bị loại bỏ cũng như mở ra những bí ẩn về nàng trong suốt mấy trăm năm.

Mona Lisa sinh ngày 15 tháng 6 năm 1479 trong một gia đình từng định cư lâu đời ở thành phố Florence, là con cả trong số 7 anh chị em. Khi đó, cả châu Âu đang bước vào giai đoạn đầu của thời kỳ Phục Hưng, là một trong những thành phố lớn nhất, Florence được coi là biểu tượng của thành công và giàu có. Tuy nhiên, cuộc sống của những người dân ở đây lại không đẹp như những gì mà thơ ca ca ngợi vì sự phân biệt giàu nghèo quá lớn. Lisa xuất thân trong một gia đình quý tộc nhưng theo thời gian, gia đình nàng cũng mất dần sức ảnh hưởng của mình.

Ngày 5 tháng 3 năm 1495, Lisa đi lấy chồng khi nàng tròn 16 tuổi. Chồng nàng là một thương gia tơ lụa có tiếng trong thành và Lisa là vợ thứ 3 của ông. Của hồi môn của Lisa là 170 đồng vàng Florin và một nông trang ở vùng ngoại ô. Cuộc hôn nhân này đã khiến địa vị xã hội của Lisa được nâng cao vì chồng nàng là một người cực kỳ giàu có, không những thế Francesco del Giocondo cũng được lợi từ vợ của mình vì Gherardini là một dòng họ cao quý. Họ đã có với nhau 5 người con.

Ngày 5 tháng 3 năm 1503, Lisa và chồng chuyển tới một căn hộ ở gần Via della Stufa, nơi ông cụ thân sinh của Leonardo – ông Piero da Vinci đang sinh sống. Ông Piero da Vinci và vợ chồng Lisa nhanh chóng trở thành hàng xóm thân thiết của nhau.

Cũng giống như nhiều gia đình giàu có ở Florence, mỗi khi gia đình có sự kiện trọng đại, vợ chồng Lisa và các con lại mời các họa sỹ tới vẽ chân dung kỷ niệm. Năm 1503 là một năm quan trọng đối với gia đình del Giocondo khi họ chuyển tới ngôi nhà mới của mình, hơn nữa Lisa lại mới mang thai đứa con thứ ba. Ông del Giocondo đã mời 4 nghệ sỹ tới nhà để trang trí cho ngôi nhà mới, Leonardo da Vinci, con trai của người hàng xóm mới cũng được mời tới để vẽ chân dung Lisa.

Những năm 1503, Leonardo da Vinci rơi vào tình cảnh khốn đốn, ông không có nguồn thu nhập nào và lời mời tới vẽ chân dung cho một quý bà khiến ông cảm thấy rất phấn khởi và có lẽ đó là động lực để có được một tác phẩm tuyệt vời. Tay phải của Lisa đặt lên tay trái để toát lên vẻ hiền thục và thủy chung của nàng. Bộ đồ mà Lisa mặc rất thời trang, có người cho rằng thần thái của Lisa trên bức tranh còn thật hơn ở ngoài đời.

Leonardo da Vinci đã mất 10 năm để hoàn thành bức chân dung nàng Mona Lisa. Nhưng cuối cùng ông đã không giao lại bức họa này cho Lisa. Một số học giả ban đầu nhận định có lẽ vì không được trả tiền thù lao nên Leonardo mới làm thế. Nhưng sau khi nghiên cứu kỹ lưỡng người ta mới phát hiện rằng nguyên nhân không đơn giản như vậy.

Trên thực tế, trong thời gian ở Florence, Leonardo đã có quan hệ khá mật thiết với gia đình quý tộc Giuliano de Medici. Đây là một trong những dòng họ danh tiếng nhất ở Italy vào thế kỷ 15-16. Gia đình Giuliano de Medici rất đam mê nghệ thuật nên họ đã không ngần ngại bỏ tiền ra để tài trợ cho các nghệ sỹ trong đó có cả Leonardo da Vinci, tuy nhiên khoản tiền này lại là tiền cướp từ mồ hôi, xương máu của người dân thường.

Vì thế, các gia đình quý tộc khác ở thành Florence tỏ ra không hài lòng về chuyện này, gia đình Gherardini cũng vậy. Năm 1503, trong lúc Leonardo da Vinci vẽ chân dung nàng Lisa, gia tộc Giuliano de Medici và gia tộc Gherardini đã xảy ra mâu thuẫn lớn. Leonardo da Vinci là người ở giữa nên đành phải cắt đứt quan hệ với gia đình Lisa. Năm 1511, Florence bị quân Giáo hoàng tấn công, gia tộc Gherardini phải sống lưu vong. Trong những năm 1517, Leonardo da Vinci đã phải mang theo bức họa nàng Mona Lisa rời khỏi Florence sang Pháp. Từ đó cũng không ai biết tin gì về nàng Lisa nữa.

Mãi cho tới năm 2007, nhà sử học nghiệp dư Giuseppe Pallanti mới tìm thấy một tờ giấy khai tử đã ố vàng của Lisa Gherardini. Trong tờ giấy khai tử có viết: chồng bà Lisa mất năm 1538, thọ 79 tuổi còn Lisa mất 4 năm sau đó khi 64 tuổi và được chôn cất tại tu viện trung tâm Tuscan.

Lan caysu chuyển tiếp

BÀ BẦU KIM CHƯỞNG

ĐỆ NHẤT ANH HÙNG LƯU DIỄN

– Soạn giả Nguyễn Phương

Cuộc đời của nữ nghệ sĩ Kim Chưởng là tấm gương của người đam mê nghệ thuật sân khấu, học hỏi không ngừng. Sự thành tựu của nghệ sĩ Kim Chưởng gắn liền với sự phát triển của nghệ thuật sân khấu trong các thập niên 50, 60, 70.

Cô Kim Chưởng tên thật là Cao Thị Chưởng, sinh năm 1929, tại Cồn Ông, xã Trường Long Hòa, huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh, là con áp út trong gia đình có 7 anh chị em.

Khi cô Chưởng lên tám tuổi, ba của cô là ông Cả ở Cồn Ông, Ba Động qua đời. Vì cha cô bịnh lâu mới mất, gia sản tiêu tan lần hồi theo tiền thuốc thang chữa trị nên khi ba của cô mất, chôn cất xong là má cô rời bỏ làng quê, dẫn cô về thị xã Trà Vinh, sống bằng nghề mua gánh bán bưng.

Cô Kim Chưởng phải thức khuya dậy sớm giúp mẹ gói bánh tét, bánh ú đem ra chợ bán, gia đình bữa đói bữa no. Trong lúc đi bán bánh ở chợ, cô nghe máy hát hát những bài ca vọng cổ, cô học theo để ca nghêu ngao những khi buồn. Anh Hai của cô nghe cô ca, bèn nói với mẹ là giọng ca của con Chưởng nghe ngọt lắm, xin mẹ cho cô đi theo gánh hát, học hát. Mẹ cô Chưởng không muốn xa con, do dự mãi, đến khi thấy là bà không đủ sức nuôi dưỡng và giúp cho con có một nghề để sinh sống nên bà mới bằng lòng cho cô Chưởng theo đoàn hát.

Anh của cô Chưởng quen anh Tư Sum nên nhờ Tư Sum giới thiệu cho cô Chưởng theo gánh hát để học hát. Anh Tư Sum là anh chị bự, một võ sĩ có hạng được bầu gánh hát mướn gát cửa để ngăn ngừa bọn du đảng quấy phá. Vì địa vị của Tư Sum trong gánh hát thấp kém nên cô Chưởng được Tư Sum giới thiệu vào thì cũng chỉ được làm người ở đợ không lương, giúp việc vặt cho ông bà bầu và đào kép chánh.

Công việc của cô Chưởng làm trong gánh hát là buổi sáng phụ bếp nấu cơm hội cho nghệ sĩ, giặt đồ của ông bà bầu và buổi tối bán nước sâm của bà tẩm khậu nấu, mỗi tối được bà tẩm khậu cho vài đồng bạc tiêu xài. Cô Chưởng còn giặt đồ, đấm bóp cho cô Mỹ Giàu, đào chánh để được Mỹ Giàu dạy cho ca các bản cổ nhạc nhỏ.

Hằng đêm, khi đoàn đang hát thì cô Chưởng ngồi một góc rạp xem và học nhẩm theo cách ca của cô đào chánh Mỹ Giàu. Khi màn bỏ xuống thì cô bưng nước sâm đi bán. Mỗi đêm học hát như vậy, cô Chưởng thuộc nhiều vai tuồng của cô Mỹ Giàu, thần tượng của cô.

Cô Chưởng theo các cô vũ nữ trong đoàn học múa, siêng năng học kỏi nhưng chưa được lên sân khấu lần nào. Nhưng rồi có dịp may, một cô vũ nữ bịnh bất ngờ, cô Chưởng được ông bầu cho lên múa thế. Cô Chưởng được người giúp đánh phấn thoa son, mặc y phục vũ nữ, cô múa rất đẹp và rất đúng như cô đã được ông thầy dạy vũ dạy trức tiếp. Đêm đó là đêm hạnh phúc nhứt của cô, vừa được múa hát trên sân khấu, vừa được hưởng lương của một người vũ nữ.

Năm sau, anh rể của cô gởi cho cô theo đoàn hát Tân Thiếu Niên của ông bầu Ba Đô. Cô làm em nuôi của đào chánh Ba Quyên và làm tỳ nữ trong các tuồng của thầy Ba Đô. Làm em nuôi giống như ở đợ, phải giặt quần áo, dọn dẹp tủ làm tuồng trước và sau khi hát cho chị nuôi, có nhiều đêm phải đấm bóp cho chị nuôi để được chị nuôi dạy cho hát vài ba câu hát. Cô Chưởng còn âm thầm tự học, ca nhái theo mỗi khi cô núp bên cánh gà xem cô Quyên hát.

Nhiều tháng trôi qua, cô Chưởng thuộc nhiều vai tuồng hát của cô Ba Quyên, cô Chưởng được ông thầy đờn đờn cho cô ca thử, ông bầu Ba Đô nghe qua thích lắm.

Cô Chưởng tự học thêm bằng cách núp bên cánh gà xem các nghệ sĩ hát, cô chú ý các vai đào mùi, đào độc, cả vai mụ, cách hát ra sao, bộ đi, cách đứng, đưa tay múa như thế nào. Ban ngày cô ra sau rạp hát hay lựa chỗ vắng người, hát lại cho thuộc, tập múa lại cho quen các động tác đã học lóm được của các diễn viên trong đoàn.

Sáu tháng sau, trong dịp Tết cô đào chánh Ba Quyên bỏ đoàn bất ngờ, đi hát cho gánh khác. Đêm đó bán vé hát complet mà gần đến giờ mở màn ông bầu Ba Đô mới biết là cô đào chánh Ba Quyên đã chở rương tráp đi mất. Không thể nghỉ hát hoàn tiền cho khán giả vì ông đã dùng tiền bán vé hát đó để phát trước cho nghệ sĩ trong dịp Tết, ông phải kiếm người thế tuồng cô đào chánh.

Các cô đào kia không người nào thuộc tuồng và không ai dám thế vai cô Ba Quyên. Khi ông hỏi đến cô Chưởng thì cô nói cô thuộc tuồng nhưng không biết hát thế cô Quyên được không ? Ông Ba Đô nói : Mầy thuộc là được rồi, cứ ra hát giống như nó. Tao ở trong cánh gà, nhắc lớp hát cho mầy. Cứ bình tĩnh, tao làm mặt cho mày…(tức là đánh phấn tô son hóa trang cho nhân vật)

Đêm đó cô Chưởng thế tuồng cho cô đào chánh Ba Quyên, cô hát như một cô đào chánh chánh hiệu. Cả gánh hát đều mừng vì đêm đó mùng 1 Tết, đoàn khỏi phải trả vé và cô Chưởng hát thế vai mà được khán giả nhiệt liệt ngợi khen. Từ hôm đó cô Chưởng trở thành đào chánh, cô hát thế tất cả những vai của cô Quyên, hát hay hơn, ca hay hơn cô đào chánh cũ.

Năm đó cô Chưởng mới được 13 tuổi, là đào chánh trẻ nhứt, đẹp nhứt, ca hay nhứt. ông thầy Ba Đô đặt nghệ danh cho cô là Kim Chưởng. Ông Ba Đô nói: Theo chữ nho Chưởng là trồng, Kim là vàng, Kim Chưởng là trồng vàng. Ông Ba Đô dạy thêm cho cô Kim Chưởng về nghệ thuật diễn xuất và ca cổ nhạc: ba Nam sáu Bắc. Nghề nghiệp Kim Chưởng ngày càng vững vàng, cho đến năm 1943, ông Ba Đô giải tán gánh hát Tân Thiếu Niên, Kim Chưởng được đoàn Văn Hí Ban mời cộng tác.

Cô Kim Chưởng còn cộng tác với đoàn hát Tân Xuân của bầu Tư Hélène (bà ngoại của nghệ sĩ Thanh Hằng, Thanh Ngân), đoàn hát Tân Tiến của cô Giáo Lựu, đoàn Tương Lai của Bầu Sinh và đoàn Bầu Bòn (năm 1948).

Cô Kim Chưởng được ông Bầu Bòn chỉ dạy thêm về diễn xuất. Năm 1949, cô Kim Chưởng kết hôn với anh Hai Thâu (tên thật là Nguyễn văn Sen) con trai của ông Bầu Bòn. Vợ chồng cô Kim Chưởng chung sống 50 năm, có được 3 trai, hai gái. Ba con trai của cô hiện định cư tại Đức và Mỹ, hai cô con gái là giáo sư Đại Học Anh Văn tại Saigon. Chồng của cô Kim Chưởng mất năm 1999 tại Saigon.

Thời gian hát cho gánh Bầu Bòn, ngoài việc được học thêm về diễn xuất, cô Kim Chưởng giúp cho cha chồng trong việc chăm sóc sân khấu (mà sau này người ta gọi với danh từ Đài Trưởng). Cô cũng học cách quản lý gánh hát từ việc tổ chức phòng bán vé hát đến việc quảng cáo, chọn bãi bến mới cho đoàn diễn, cô biết những việc làm của người quản lý của gánh hát. Điều này giúp cho cô rất nhiều khi cô là bầu gánh hát liên tục trong 20 năm (từ năm 1955 đến năm 1975).

Cô Kim Chưởng cộng tác với đoàn hát Phụng Hảo năm 1951 và năm 1953 cô hát cho đoàn Thanh Minh Bầu Nghĩa, cùng đứng chung sân khấu với danh ca Út Trà Ôn, Năm Nghĩa, Phước Trọng, các nữ danh ca Kim Anh, Thúy Nga.

Năm 1955, cô Kim Chưởng cùng với các nghệ sĩ Út Trà Ôn, Thanh Tao, Thúy Nga, Phước Trọng rời đoàn Thanh Minh, họ chung vốn thành lập đoàn Kim Thanh – Út Trà Ôn.

Đoàn hát Kim Thanh – Út Trà Ôn chỉ trong vòng 6 tháng là thu đủ vốn, trả hết nợ nầng, hai năm sau (1957) dứt hợp đồng, bốn nghệ sĩ chủ bầu gánh Kim Thanh – Út Trà Ôn tách ra lập thành bốn đoàn hát. Út Trà Ôn hợp tác với kép độc Hoàng Giang lập thành gánh hát Thống Nhứt – Út Trà Ôn. Kim Chưởng kết hợp với danh ca Thanh Hương lập gánh hát Kim Chưởng – Thanh Hương. Thúy Nga – Phước Trọng lập gánh hát Thúy Nga và Thanh Tao lập gánh hát Thanh Tao.

Nghệ sĩ Kim Chưởng có giọng ca trong trẻo, khoẻ khoắn, có lối diễn xuất sống động, nóng sân khấu do ảnh hưởng của lối hát bội pha cải lương mà cô được cha chồng là ông Bầu Bòn truyền dạy. Nữ nghệ sĩ Kim Chưởng đem áp dụng kinh nghiệm bản thân ngay khi mới được làm bầu gánh hát.

Cô nói: Khán giả đi xem hát là muốn giải trí. Họ thích nghe ca cổ nhạc, thích xem nghệ sĩ múa, hát, mặc trang phục đẹp, cốt chuyện tuồng thì đủ hỉ, nộ, ái, ố… trung thắng nịnh, ở hiền gặp lành, làm ác gặp dữ, tình yêu của nhân vật chánh thì lúc đầu gặp trắc trở nhưng kết cuộc thì đoàn tụ, hạnh phúc. Nếu dang dở thì nhân vật nữ đi tu, nhân vật nam thất tình thì say rượu liên miên…Có nhiều vở tuồng văn chương, thơ nhạc rất hay, rất trữ tình.

Thế nhưng tác giả dường như mê mải làm văn mà quên mất là mình đang viết tuồng cải lương. Tuồng cải lương đâu có giống như tiểu thuyết và khác xa với thoại kịch…Nếu không chú trọng đến phần diễn xuất cá nhân của từng nhân vật (tức là từng diễn viên) cũng như những mảng miếng mà sân khấu cải lương cần phải có thì không thể nào lôi cuốn được khán giả suốt hai tiếng đồng hồ của một đêm hát cải lương.

Nghệ sĩ Kim Chưởng còn cho là khán giả luôn thích xem tuồng mới, họ là lớp người bình dân, ở các thành phố nhỏ xa Saigon thì họ thích cải lương hơn người dân ở tại thành phố lớn. Do đó đoàn Kim Chưởng thường lưu diễn ở các tỉnh Hậu Giang, Tiền Giang, ở miền Trung và có nhiều khi vô hát ở các huyện xa xôi. Báo chí kịch trường tặng cho đoàn Kim Chưởng mỹ hiệu là Anh Hùng Lưu Diễn.

Soạn giả cộng tác thường trực của đoàn hát Kim Chưởn có Thu An, Hoài Linh, Phong Anh, Thanh Cao, Quy Sắc.

Nghệ sĩ đoàn Kim Chưởng có : Út Bạch Lan, Thành Được, Ngọc Hương, Ngọc Lan, Phương Quang, Ngọc Giàu, Trường Xuân, Diệp Lang, Trương Ánh Loan, Ánh Hồng, Phượng Liên, Thanh Nguyệt, Đức Lợi, Dũng Thanh Lâm, Thanh Hải, Quang Nhiều,… Trong số nghệ sĩ này có 6 nghệ sĩ được sự đào luyện của nữ nghệ sĩ Kim Chưởng mà nhận được huy chương vàng diễn viên xuất sắc giải Thanh Tâm: Ngọc Giàu, Diệp Lang, Thanh Nguyệt, Trương Ánh Loan, Ánh Hồng, Phượng Liên.

Tuồng hát trên sân khấu Kim Chưởng: Người Anh Khác Mẹ, Chưa Tắt Lửa Lòng, Lá Đào Rơi, Con Gái Nữ Thần, Oan Hồn Trên Tháp Đá, Tiếng Hát Đề Bá Lạc, Trăng Nửa Đêm, Hai Chiều Ly Biệt, Áo Trắng Nàng Mộng Trinh, Lá Huyết Thư, Người Gọi Đò Bên Sông, Quỷ Bão, Thần Điêu Đại Hiệp Song Long Thần Chưởng, Nước Mắt Kẻ Sang Tần, Kiếm Mộng Phù Tang, Nhặt Cánh Mai Vàng, Thuyền Ra Cửa Biển, Nửa Bản Tình Ca, Mùa Trăng Nhiều Nước Mắt, Tỉnh Mộng, Trăng Nước Lam Giang, Người Đi Chẳng Hẹn Về, Mặt Trời Đêm, Người Đẹp Kinh Bắc, Bên Đồi Trăng Cũ, Theo Chân Người Đao Phủ Thủ, Ảo Ảnh Châu Bích Lệ, Cô Gái Sông Đà…

Khi hỏi sau năm 1975 tại sao cô không lập gánh hát mặc dù tài chánh cô không thiếu, không cần đi vay mượn ai ? Cô Kim Chưởng cho biết là năm 1976, cô lập gánh hát Hoa Lan Kim Chưởng nhưng khi gánh hát hoạt động được đều đặn, hát có doanh thu thì cô được lịnh “Tập Thể Hóa” đoàn hát. Cô giao gánh hát cho Sở Văn Hóa tỉnh Cần Thơ, họ đổi thành đoàn cải lương Cần Thơ, quyền làm chủ là Sở VH mà đại diện là cán bộ của Sở đưa xuống với các nghệ sĩ được bầu vô Ban Quản Trị. Bà lui về sống với các con.

Nhiều nghệ sĩ lão thành từng góp công xây dựng nền nghệ thuật sân khấu cải lương lần lượt qua đời sau tháng tư năm 1975. Trong số đó có các nam nghệ sĩ Năm Châu, Ba Vân, Năm Nở, Sáu Thoàng, Ba Thâu, Hai Tiền, Thanh Tao, Bảy Cao, Mai Lan Phương Ngọc Chiếu, các nữ nghệ sĩ Năm Đồ, Hai Nữ, Kim Thoa, Kim Cúc, Kim Lan, Sáu Ngọc Sương, Sáu Nết, Bảy Nam, Phùng Há…

Mỗi lần làm lễ an táng, khi đọc điếu văn, nhà cầm quyền và các cán bộ có chức có quyền trong lãnh vực nghệ thuật sân khấu đều nói là họ rất tiếc không có thu hình hoặc ghi chép lại được kinh nghiệm sáng tác hay ca diễn của các nghệ sĩ tài danh đó để truyền dạy lại cho các nghệ sĩ kế thừa…

Nói là nói vậy để cho các nghệ sĩ và mọi người tưởng là họ quý trọng tài năng sân khấu của dân tộc nhưng thật ra là từng bước họ xóa dần những thành quả nghệ thuật của các tài năng đó.

Khi nghệ sĩ Năm Châu còn sống, các tác phẩm của ông không được sử dụng, ông phải chuyển thể các kịch bản miền Bắc, hát trên sân khấu đoàn cải lương Saigòn 1 để có thu nhập sống qua ngày như các vở tuồng Nghêu Sò Óc Hến, Bình Tây Đại Nguyên Soái… Sáng tác mới của ông không được Hội đồng kiểm duyệt cho phép và người ta cũng không dùng ông làm giáo sư kịch nghệ như thời trước năm 1975.

Nghệ sĩ Bảy Cao mất, người ta đọc điếu văn, nói là tiếc chưa khai thác được kinh nghiệm của Bảy Cao trong việc phối hợp nghệ thuật sân khấu và điện ảnh, chưa tổng kết được kinh nghiệm và xảo thuật của đoàn hát Hoa Sen khi đoàn này diễn tuồng xã hội chiến tranh. Nói là vậy nhưng họ không thu dụng nghệ sĩ Bảy Cao ở các đoàn hát thành phố mà để cho ông trôi dạt kiếm sống theo các đoàn hát nhỏ ở tỉnh.

Nữ nghệ sĩ Kim Luông, vợ của nghệ sĩ Bảy Cao thì cho theo đoàn cải lương Tiếng Ca Sông Cữu để làm bà Từ, đốt nhang và trông coi bàn thờ Tổ. Khi đoàn hát ở rạp nào đó thì nữ nghệ sĩ Kim Luông ngồi gác cửa sau. Nữ nghệ sĩ Kim Lan, một thời là đào chánh đoàn hát Việt Kịch Năm Châu, sau năm 1975, nghệ sĩ Kim Lan cũng làm bà Từ và gác cửa sau của đoàn cải lương Saigon 3…

Nếu kể ra thêm thì còn nhiều nghệ sĩ tiền phong đã mất mà những tài năng và kinh nghiệm của họ không lưu lại được gì cho các nghệ sĩ các thế hệ sau. Người ta vẫn nói là rất tiếc nhưng ngay khi các nghệ sĩ tài danh đó còn sống, còn sức khỏe và còn hoạt động nghệ thuật được thì người ta không làm gì hoặc là nghĩ đến việc ghi lại hình ảnh, âm thanh và kinh nghiệm của những nghệ sĩ tài danh đó.

Buồn cho con nhện giăng tơ !

Cải Lương ngày cũ, bây giờ ra tro !

Yên Huỳnh chuyển tiếp 

A- KÍNH BÁO CÙNG BẠN ĐỌC

BÍ ẨN TRONG CA KHÚC “NỬA HỒN THƯƠNG ĐAU”

9 Khanh Ngoc 1BÓNG HỒNG TRONG :

NỬA HỒN THƯƠNG ĐAU

Những tình khúc Nửa hồn thương đau, Người đi qua đời tôi… của nhạc sĩ Phạm Đình Chương đã quá quen thuộc với công chúng từ hơn nửa thế kỷ qua. Tuy nhiên, hoàn cảnh ra đời các ca khúc tuyệt vời này lại thấm đẫm một nỗi buồn…

Nhạc sĩ Phạm Đình Chương sinh năm 1929 tại Hà Nội trong một gia đình giàu truyền thống âm nhạc. Cha ông là một nghệ sĩ đàn tranh, còn mẹ ông là nghệ sĩ đàn bầu. Cả hai chơi đàn rất tuyệt.

Phạm Đình Chương bắt đầu sáng tác vào năm 1947 khi vừa 18 tuổi. Hầu hết những sáng tác của ông trong giai đoạn này có phong cách tươi trẻ, hùng tráng như Hò leo núi, Sáng rừng, Trăng rừng, Trăng Mường Luông, Ra đi khi trời vừa sáng(viết chung với Phạm Duy)…

9 Pham D Chuong 1Năm 1951, Phạm Đình Chương chuyển vào Nam, và ban hợp ca Thăng Long được thành lập với những thành viên là anh chị em ruột trong gia đình gồm : Hoài Trung (Phạm Đình Viêm), Thái Hằng (Phạm Thị Quang Thái), Hoài Bắc (Phạm Đình Chương), Thái Thanh (Phạm Thị Băng Thanh), đôi khi còn có sự góp mặt của ca sĩ Khánh Ngọc. Ban hợp ca này mau chóng trở nên nổi tiếng. Trong khoảng gần 10 năm tiếp theo, Phạm Đình Chương đã sáng tác được nhiều ca khúc tuyệt vời như Tiếng dân chài, Được mùa, Đợi chờ, Xóm đêm, Ly rượu mừng, Đón xuân… đặc biệt là trường ca Hội Trùng dương (Tiếng sông Hồng, Tiếng sông Hương và Tiếng sông Cửu Long).

Trước đây, nhiều người từng cho rằng Phạm Đình Chương thật đáng tự hào khi là “sở hữu chủ” của một giai nhân kiều diễm và có một thân hình bốc lửa như nữ ca sĩ Khánh Ngọc (biệt danh “ngọn núi lửa”). Danh tiếng của Khánh Ngọc nổi như cồn trong khoảng 5 năm (từ 1955-1960), không chỉ trong lĩnh vực ca nhạc mà cả trong điện ảnh, cô nổi tiếng trước cả Kiều Chinh, Thẩm Thúy Hằng, Kim Cương… (qua các phim Chúng tôi muốn sống, Đất lành…) Sau biến cố được cho là do vợ ngoại tình (với nhạc sĩ Phạm Duy – anh rể trong nhà, 9 Ban Thang Long 2chồng của Thái Hằng), Phạm Đình Chương ly dị vợ, và ông được quyền nuôi đứa con trai (lúc đó khoảng 4-5 tuổi).

Thời gian này, Phạm Đình Chương không còn tâm trí để cùng biểu diễn với ban hợp ca Thăng Long được nữa. Ông sống khép kín, ít giao thiệp với bên ngoài. Cũng từ đây, những bản tình ca ai oán của Phạm Đình Chương đã ra đời trong nước mắt. Những nốt nhạc là kết tinh của những cơn đau thương, của những hoài niệm xót xa, với những ca từ bi thiết, đó là những ca khúc: Đêm cuối cùng, Thuở ban đầu…

Riêng với 2 ca khúc Người đi qua đời tôi Nửa hồn thương đau thì trong tâm trạng đau đớn tột cùng bởi gia đình tan nát, chia lìa, Phạm Đình Chương đã tìm thấy sự đồng cảm từ bài thơ của Trần Dạ Từ :

Tr Da Tu“Người đi qua đời tôi trong những chiều đông sầu.

Mưa mù lên mấy vai, gió mù lên mấy trời.

Người đi qua đời tôi, hồn lưng miền rét mướt.

Vàng xưa đầy dấu chân, đen tối vùng lãng quên.

Bàn tay mềm khói sương, tiếng hát nào hơ nóng.

Và ai qua đời tôi, chiều âm vang ngàn sóng, trên lối về nghĩa trang…

Người đi qua đời tôi, không nhớ gì sao người…

Em đi qua đời anh, không nhớ gì sao em” (Người đi qua đời tôi).

Đặc biệt, từ bài thơ Lệ đá xanh của Thanh Tâm Tuyền, ông đã viết thêm ý rồi đổi tựa để thành ca khúc Nửa hồn thương đau bất hủ : “Nhắm mắt cho tôi tìm một thoáng hương xưa, cho tôi về đường cũ nên thơ, cho tôi gặp người xưa ước mơ. Hay chỉ là giấc mơ thôi, nghe tình đang chết trong tôi, cho lòng tiếc nuối, xót thương suốt đời. Nhắm mắt ôi sao nửa hồn bỗng thương đau. Ôi sao ngàn trùng mãi xa nhau, hay ta còn hẹn nhau kiếp nào. Anh ở đâu ? Em ở đâu ? Có chăng mưa sầu buồn đen mắt sâu. 9 Khanh Ngoc 3Nhắm mắt chỉ thấy một chân trời tím ngắt, chỉ thấy lòng nhớ nhung chất ngất, và tiếng hát, và nước mắt… Đôi khi em muốn tin… Ôi những người… Khóc lẻ loi một mình”.

Ca khúc Nửa hồn thương đau được người em ruột của ông là ca sĩ Thái Thanh trình bày khiến những ai đã nghe qua khó thể quên được. Nhưng nếu trong một cơn say nào đó được chính tác giả hát lên thì người nghe mới thật sự xúc động. Giọng ca của Hoài Bắc vốn trầm và dội, sau cú sốc tình cảm quá lớn lại như có ướp thêm men rượu. Nếu như ai đã từng quen ngồi phòng trà Đêm màu hồng – tên một bản nhạc của Phạm Đình Chương phổ thơ Thanh Tâm Tuyền tại Sài Gòn vào những năm trước 1975, chắc chắn từng bắt gặp Phạm Đình Chương tay cầm ly rượu và điếu thuốc cháy dở, hát đơn ca bằng một chất giọng nhừa nhựa rất phiêu.

Thực ra đây là ca khúc ông viết cho phim Chân trời tím. Đến lúc bộ phim sắp hoàn tất, bị nhắc nhở vì trễ hẹn và trong men say chếnh choáng Phạm Đình Chương đã trút hết nỗi đau của mình vào Nửa hồn thương đau.

Khánh Ngọc sang Mỹ từ năm 1961 để học thêm về điện ảnh và đã có gia đình mới, nhạc sĩ Phạm Đình Chương từ trần tại California (Mỹ) năm 1991.

9 Khanh Ngoc 2Khánh Ngọc bây giờ ra sao ?

Khánh Ngọc cho biết hiện cô đang ở Los Angeles,  rất bằng lòng với đời sống hiện tại, lâu lâu đi hát cho các hội từ thiện và  bạn bè ở các tiểu bang, rất vui gặp lại bạn bè mới và cũ. Cô nói cô có nhiều kỷ niệm trong đời nghệ sĩ, mỗi lần gặp lại bạn bè, nhắc những kỷ niệm cũ cô cảm thấy rất vui, Cô cố giữ những kỷ niệm vui này trong tâm trí và  mong một ngày nào đó  trở về VN cùng với bạn bè  sống cho hết quảng đời còn lại.

Được hỏi, sau khi tốt nghiệp điện ảnh rồi sao cô không trở về VN, Ca sĩ Khánh Ngọc cho biết  trong thời gian lưu diễn các tiểu bang cô có gặp một sinh viên VN, hai người đã kết hôn  và có ba con nên rất bận rộn và gia đình cũng ngăn cản con đuờng nghệ thuật của cô. Tuy nhiên cô không buồn vì rất hạnh phúc với gia đình.  Khánh Ngọc cho biết nay cô đã về hưu, niềm  vui hiện tại của cô là với gia đình và các cháu. Cô rất thích nấu nướng và làm bánh… Mỗi lần đi các tiểu bang, gặp lại khán giả đã biết cô  và vẫn giữ lòng quý mến cô, cô cảm thấy rất là hạnh phúc. (theo Hà Đình Nguyên)

9 Khanh Ngoc 4Nhạc phẩm : “Nửa hồn thương đau” của Phạm Đình Chương

Nhắm mắt cho tôi tìm một thoáng hương xưa

Cho tôi về đường cũ nên thơ

Cho tôi gặp người xưa ước mơ

Hay chỉ là giấc mơ thôi

Nghe tình đang chết trong tôi

Cho lòng tiếc nuối xót thương suốt đời.

Nhắm mắt ôi sao nửa hồn bỗng thương đau

Ôi sao ngàn trùng mãi xa nhau

Hay ta còn hẹn nhau kiếp nào

Em ở đâu? Anh ở đâu ?

Có chăng mưa sầu buồn đen mắt sâu.

Nhắm mắt chỉ thấy một chân trời tím ngắt

9 Pham D Chuong 2Chỉ thấy lòng nhớ nhung chất ngất

Và tiếng hát và nước mắt.

Đôi khi anh muốn tin

Đôi khi anh muốn tin

Ôi những người, ôi những người

Khóc lẻ loi một mình.

Nghe : tiếng hát THÁI THANH

http://youtu.be/1PyP4z3xO2k

Xem thêm Nói về nhạc phẩm NỬA HỒN THƯƠNG ĐAU

Lan Hương chuyển tiếp

CUỘC SỐNG MUÔN MÀU

Tr chien siThuở yêu đời chim thường ăn kiến

Lúc hết thời kiến lại ăn chim

Ôi, cuộc sống như trò ảo thuật

Ranh giới nào phân biệt trắng đen !

Đâu phải hơn người là trên tất cả

Khi thời gian còn quyền lực hơn ta

Ai chiến thắng mà không lần thua trận

Ca nhacLúc soi gương mới thấy lại mình già !

Phàm con người chỉ có hai con mắt

Nhìn trước để đi, nào phải phía sau

Có đôi tai nghe điều hay lẽ thiệt

Thế giới bao la cuộc sống muôn màu !

Miệng và lưỡi chúng ta có một

Nói ít thôi luôn phải lắng nghe 

Với bộ não mang tầm trí thức

Hướng nhân gian có lối đi về !

Trái tim máu đỏ trong lồng ngực

Nhịp yêu thương từ giây phút thiêng liêng

Ta có quyền không tin lời thuyết giảng

Không thể không tin nhân quả nhãn tiền !

Em có biết lòng dân là sức mạnh

Dựng quê hương bảo vệ nước non nầy

Những que diêm thoát thay từ khúc gỗ

Nhưng que diêm làm cháy cả rừng cây !

Trúc Thanh Tâm (Châu Đốc, tháng 4/2014)

HÉ LỘ TÁC GIẢ BÀI THƠ

‘KHÔNG ĐI KHÔNG BIẾT ĐỒ SƠN’

Nhiều người tưởng bài thơ trên là thơ… dân gian, khuyết danh. Kỳ thực, tác giả của bài thơ nổi tiếng này là nhạc sĩ, nhà giáo Hà Giang. Bài thơ “Không đi không biết Đồ Sơn” chỉ có bốn câu lục bát :

“Không đi, không biết Đồ Sơn,

Đi thì mới thấy không hơn… đồ nhà!

Đồ nhà tuy có hơi già,

Suy đi tính lại, đồ nhà vẫn hơn”.

Bài thơ nôm na mà ý nhị ấy ra đời đến nay đã hai mươi mấy năm. Đây là bài thơ hay, được rất nhiều người ưa thích. Hay, vì nó độc đáo, dí dỏm, lại nồng ấm nghĩa tình ?

Hà Giang tên thật là Phạm Tiến Giang, quê thôn Đẩu Sơn, xã Bắc Hà thị xã Kiến An tỉnh Kiến An (cũ); hiện nay gia đình ở phường Phù Liễn, quận Kiến An, TP. Hải Phòng.

Anh là hội viên Hội Nhạc sĩ Việt Nam, hội viên Hội Văn học – nghệ thuật Hải Phòng từ những năm 70 của thế kỷ trước, là giáo viên âm nhạc Trường Sư phạm 10 + 3 Hải Phòng, tiền thân của Trường Đại học Hải Phòng (công lập) ngày nay – nơi tôi giảng dạy suốt 32 năm.

Khoá Sư phạm 1972 – 1975, tôi là giáo viên chủ nhiệm lớp C. Văn – Sử, Ban Giám hiệu nhà trường phân công anh Hà Giang làm phó chủ nhiệm lớp của tôi. Anh hơn tôi đến chục tuổi. Anh dạy nhạc rất hay, lúc nào cũng nồng nhiệt, cuốn hút, ca hát rất say sưa, lại sáng tác được nhiều bài hát cho quê hương và cho nhà trường, được mọi người yêu thích.

Trong khi anh bị nhiều căn bệnh hiểm nghèo như áp xe gan, áp xe thành bụng, phải đại phẫu tới 7- 8 lần mà vẫn sống lạc quan; và trong điều kiện gia cảnh anh rất nghèo, vợ làm nông nghiệp, anh chị lại đông con.

Tôi không nhớ rõ lắm, nhưng vào khoảng cuối thập niên 80 của thế kỷ trước, khi anh đã “về hưu non” vì lý do sức khỏe, một lần Hà Giang gặp tôi, anh cười giòn tan và bảo : “Tớ mới làm bài thơ như thế này, cậu nghe có được không nhé”. Rồi anh vừa cười như nắc nẻ, vừa đọc rất hồn nhiên : “Không đi, không biết Đồ Sơn,/ Đi thì mới thấy không hơn đồ nhà/ Đồ nhà tuy có hơi già/ Suy đi tính lại, đồ nhà vẫn hơn” ! Nghe anh đọc xong, tôi cũng cười rũ rượi và ôm chầm lấy anh: “Hay lắm ! Tuyệt vời !”.

Nhưng anh nói thêm : “Tớ hơi lưỡng lự câu cuối : Suy đi tính lại, đồ nhà vẫn hơn, hay là thay bằng : “Nhưng là đồ thật, không là đồ sơn”. Cậu thấy thế nào”. Tôi nói : “Mỗi câu đều có ý hay riêng. Tùy anh”.

Anh lại cười, bảo : “Thôi cứ để câu cuối “Suy đi tính lại, đồ nhà vẫn hơn”, xem ra nó thật hơn và có vẻ đấu tranh tư tưởng đấy chứ nhỉ”. Từ đấy, trong những câu chuyện vui với bạn bè, Hà Giang lại đọc cho họ nghe bài thơ ấy.

Tôi cũng thuộc loại “tội đồ” truyền miệng bài thơ của anh. Thế rồi bài thơ cứ được truyền từ người này sang người kia và vượt qua lãnh địa Hải Phòng, lan ra các tỉnh và thành phố từ Bắc đến Nam. “Không đi, không biết Đồ Sơn”. Nói thêm, nhà anh Hà Giang chỉ cách Đồ Sơn khoảng 18 km đường nhựa to rộng.

Đồ Sơn là bãi biển của Hải Phòng, phong cảnh sơn thuỷ hữu tình, đẹp nổi tiếng cả nước; có nhiều rừng thông, bãi tắm cuốn hút du khách thập phương; có những biệt thự, khách sạn to đẹp và nhan nhản các nhà hàng, nhà nghỉ, các quán ăn uống, quán cà phê, nhà vườn… Đặc biệt, Đồ Sơn là một khu “ăn chơi” lừng danh, vì có rất nhiều món hải sản quý, mà tôi từng viết : “Ăn một lại muốn ăn hai/ Ăn ba ăn bốn lại đòi ăn năm”.

Nói rộng ra, Đồ Sơn là núi non thơ mộng, là các nhà nghỉ, khách sạn, quán ăn và không thể thiếu các tiếp viên trẻ trung, xinh đẹp, đầy sức quyến rũ, như đã nói ở trên. Còn “đồ nhà”, là cách nói vui chỉ các bà vợ.

Hà Giang đã khuất núi sau một vài năm anh đọc cho tôi nghe bài thơ độc đáo của mình (anh mất năm 1989, khi mới 53 tuổi dương !); nhưng bài thơ thì vẫn còn đó, vẫn tươi mới, hấp dẫn. Anh để lại cho đời một tiếng cười vui sảng khoái và hồn hậu, dí dỏm mà sâu sắc nghĩa tình. (theo Đào Ngọc Đệ)

Dung Dung chuyển tiếp

QUÁN GÀ ÁC TIỀM THUỐC BẮC

GỐC TÀU BA ĐỜI Ở SÀI GÒN

Quán ăn có truyền thống cha truyền con nối gần 40 năm nổi tiếng với món gà ác hầm thuốc bắc, giá 50.000 đồng một phần.

H1: Nép mình trên một con đường không mấy sầm uất Phan Xích Long, quận 11, quán ăn gốc Hoa này do ông bà nội của anh Dương Thông Thành mở cách đây mấy chục năm. Anh Thành (38 tuổi), chủ quán hiện tại cho biết, những năm 89 – 90 là lúc ông bà của anh dời quán về vị trí hiện tại. “Còn trước đó ông bà tôi chỉ buôn bán bằng gánh ở vỉa hè. Một sự trùng hợp là ông và chú tôi, hai đời chủ trước đều tên Thành”, anh nói.

H2: Quán nổi tiếng với món gà ác hầm thuốc bắc. Anh Thành cho hay, gà được chọn là những con non, lớn hơn nắm tay một chút, tiềm cùng các vị thuốc bắc trong khoảng 1,5 đến 2 tiếng trong nồi to rồi mang ra xếp trong thố đợi phục vụ cho khách.

Các công đoạn được thực hiện từ khuya. Gà phải làm sạch bằng rượu gừng rồi tẩm ướp các gia vị và không thể thiếu một ít mật ong chúa. Thuốc bắc thì ngâm cho nở trong nước ấm rồi rửa sạch, để ráo.

H3: Để đảm bảo vị chuẩn của món ăn, sau khi tiềm lần đầu, đầu bếp sẽ chia nước thuốc bắc và gà vào hai nổi riêng để tiềm một lần nữa. “Gà chín vừa tới thì vớt ra thố nhỏ. Khi có khách gọi món, những thố đất này sẽ được hấp lại cho nóng”, anh Thành nói.

H4: Cả gian bếp chỉ khoảng 20 mét vuông nhưng có đến 5, 6 cái bếp để nhanh chóng phục vụ khách. Anh Thành kể: “Gian bếp đã vài lần thay đổi vị trí đồ vật, gia cố thêm dụng cụ nhưng đã gắn bó với gia đình suốt gần 40 năm nay”.

H5: Phần bếp chế biến các món như mì, cơm được đặt gọn ở một gian bếp khác, phía trước quán. Khách vào có thể thấy một số công đoạn chế biến. H6: Một nhân viên gắp thố gà tiềm sau khi đã hâm nóng.

H7: Một phần gà ác hầm thuốc bắc có giá 50.000 đồng. Bên trong thố là một con gà, vài miếng thuốc bắc cùng nước dùng. Nếu không quen với mùi vị của thuốc bắc, bạn sẽ gặp khó khăn khi thưởng thức món ăn. Món gà ác tiềm thường ăn kèm với cơm trắng.

H8: Quán sử dụng 8 loại thuốc bắc để tiềm gà. Một số vị quen thuộc như: bạch quả, táo đỏ, nhãn nhục, đẳng sâm… Anh Dương Hải Thành (34 tuổi) là em trai của anh Thông Thành nói thêm, muốn các vị thuốc bắc không bị đắng, dễ ăn thì lúc tiềm phải canh lửa thật “chuẩn”. “Lửa mà liu riu lâu thì các vị thuốc bắc sẽ bị đắng. Còn nếu để quá lớn sẽ khiến nước tiềm bị chua”.

H9: Một thực khách quen của quán kể: “Tôi ăn ở quán đã gần 20 năm, từ lúc còn đời chủ thứ hai. Tuy bàn ghế nhiều lần thay đổi, hương vị món khó mà nhận ra được sự khác biệt. Vẫn là cái mùi thơm của các vị thuốc bắc, miếng gà rất mềm mà không bị nát, nước dùng đậm đà”.

H10: Nếu đã chán món gà ác tiềm thuốc bắc, bạn có thể đổi qua gà ác vi cá giá 230.000 đồng một suất hoặc canh vi cá giá 280.000 đồng.

H11: Bím bò tiềm cũng là món được nhiều thực khách ưa thích, đặc biệt là các đấng mày râu. H12: Mống dê hầm cũng hút khách không kém.

Thực đơn của quán có gần trăm món ăn, từ cơm chiên Dương Châu, cơm chiên cá mặn cho đến hủ tiếu, mì xào giòn, mì vịt tiềm… Giá trung bình mỗi món ăn khoảng 50.000 đồng. Quán mở cửa từ 11h đến nửa đêm.(theo bài và ảnh Di Vỹ)

Yên Huỳnh chuyển tiếp