100 NĂM TẠP CHÍ NAM PHONG

100 NĂM TẠP CHÍ NAM PHONG :

Khát vọng giáo dục quốc dân

của lớp trí thức thời đầu thế kỷ XX

Năm 2017 đánh dấu tròn 100 năm tạp chí Nam Phong ra mắt quốc dân. Số báo đầu tiên của Nam Phong được phát hành vào ngày 01/07/1917 và số cuối cùng vào ngày 16/12/1934, chấm dứt 210 số báo tiếng Việt, 210 phụ trương tiếng Pháp và 210 phụ trương tiếng Hán sau hơn 18 năm tồn tại.

Vào năm cuối cùng này, tờ báo chuyển từ nguyệt san sang bán nguyệt san với một nỗ lực mạnh mẽ đổi mới, như Hán Thu Nguyễn Tiến Lãng viết trong số báo 199 kỷ niệm mười tám năm ra số đầu : «Tôi muốn từ nay Nam Phong không phải là một bà lão, Nam Phong lại là một cô thiếu nữ hây hây».

Trả lời RFI tiếng Việt, nhà nghiên cứu Thủy Chi tại Hà Nội, nhận xét : Ám chỉ một bà lão ở tuổi 18 của một tờ báo mang nhiều ý nghĩa. Trước hết, nó gắn với hiện tượng thường gặp trong làng báo chí đương thời: việc đình bản và tục bản của các tờ báo trong một thị trường báo chí thuộc địa rất hẹp và nhỏ. Thứ hai, báo chí Việt Nam cho tới những năm 1930 đã chứng kiến một sự lột xác ngoạn mục, mà ví dụ là việc Phong Hóa với khẩu hiệu trẻ trung đã thay thế «vị trí rất cao trong văn giới, chính giới» của Nam Phong.

Dĩ nhiên Nam Phong sống thọ như thế một phần quan trọng là nhờ ở vai trò ở hậu trường của người Pháp với một ý định chính trị thực dân cáo già rất rõ ràng. Đó là nhằm loại trừ ảnh hưởng nước Đức, vốn được truyền bá gián tiếp qua phong trào Tân Thư, qua tên tuổi Lương Khải Siêu. Nam Phong không chỉ nhận được khoản trợ cấp để có thể ra báo một cách đầy đặn, mà còn được chính quyền thực dân hỗ trợ «tạo nên công chúng».

Hồi ký của Hồ Hữu Tường cho biết ông cậu bà con của mình làm Hội Đồng «bị nhà nước ép mua dài hạn tạp chí nầy». Song mọi việc nhanh chóng vượt khỏi những điều mà Louis Marty dự tính ban đầu khiến ta phải thừa nhận rằng Nam Phong tồn tại thực sự trong làng báo chí Việt Nam với tư cách một tờ báo lớn không thể chỉ là nhờ ý định chủ quan của giới thực dân mà còn chính ở những người trực tiếp chèo lái nó. Một trong số những công trạng quan trọng nhất cần kể đến là khát vọng giáo dục quốc dân của lớp trí thức.

Trong lời mở đầu cho số 1 Nam Phong, Phạm Quỳnh đã đặt ra một vấn đề quan trọng về vai trò học vấn : «Ông cha ta đã đề tạo ra cái tổ quốc ta, đã chung đúc thành cái quốc hồn ta, không ngờ rằng ngoài nước ta còn có nhiều nước khác, ngoài học vấn đạo đức của ta còn có nhiều học vấn đạo đức khác nữa mà có ngày ta không thể biết hết được. Ngày ấy nay đã đến.Người nước ta nay đã mở mắt tỉnh giấc mộng trăm năm, mở cái mắt mơ màng ra mà nhìn cái thế giới mới.Trông thấy những cảnh tượng lạ lùng mà kinh mà sợ […] Sống trong thời đại này tất phải có một phần trong sự hoạt động ấy».

Phạm Quỳnh như thế đã tóm tắt điểm chủ yếu nhất mà một trí thức Việt Nam đương thời phải đối mặt.Đó là tình thế «toàn cầu hóa» một cách bất đắc dĩ.Nhận thức của ông với tư cách một trí thức Tây học không chỉ bao gồm việc nhận ra «kẻ khác» mà còn hiểu rằng giờ đây ta phải sống cùng kẻ khác thì mới có cơ hội tồn tại trong thời mới.

Để tồn tại được cùng kẻ khác, giáo dục là một trong những cách mà thế hệ trí thức 1907 thực hiện nhằm gìn giữ những giá trị quá khứ. Thế mà chi phí giáo dục theo lối mới rất đáng kể đối với một gia đình thường thường bậc trung ở ngay Hà Nội khi đó. Vào thời điểm này, từng có Đông Kinh Nghĩa Thục tham gia giáo dục quốc dân rồi nhanh chóng bị chính quyền thuộc địa đàn áp và giải tán. Đồng hành cùng với họ là Đông Dương tạp chí do Nguyễn Văn Vĩnh làm chủ bút với những bài viết về học vấn Tây phương, nhưng cuối cùng bị đình bản.

Giáo dục quốc dân qua tạp chí

Với phụ đề «l’Information française» (Cơ quan thông tin của Pháp) trên măng sét, tạp chí Nam Phong lại có phụ đề khác bằng tiếng Việt Văn học Khoa học tạp chí. Các đề mục đặc biệt có liên quan tới giáo dục do các nhà tân nho như Phan Kế Bính và Nguyễn Đỗ Mục, hoặc các trí thức Tây học Phạm Quỳnh, Phạm Duy Tốn đảm trách và được duy trì suốt trong suốt thời kỳ ra báo : Luận thuyết, Văn học bình luận, triết học bình luận, Khoa học bình luận, Văn tuyển, Tạp trở, Thời đàm, tiểu thuyết.

Bằng việc thiết kế như vậy, Nam Phong tự nhiệm về giáo dục như Đông Dương tạp chí từng làm.Cũng trong số đầu tiên, bức ảnh Albert Sarraut được chú thích là người thành lập Đại học Đông Dương chứ không phải bằng chức danh quan toàn quyền. Rõ ràng, tạp chí Nam Phong là một cách thức giáo dục dành cho quốc dân mà Phạm Quỳnh muốn theo đuổi. Với cách học qua tạp chí như thế, học không chỉ là lên lớp để lấy bằng, mà còn học để lấy tri thức như ông viết: «đương buổi bây giờ không cần cấp bằng gây lấy một cái cao đẳng học thức để thay cái học thức cũ đã gần mất».

Theo bà Phạm Thị Ngoạn, trong nghiên cứu của mình, hoàn toàn có lý khi gọi Phạm Quỳnh cùng các bạn đồng chí là những « giáo sư » trong một trường học mở theo lối mới để đáp ứng một nhu cầu học mới. Trong hoạt động của kiểu trường học không có trụ sở này, giáo sư không giao bài cho học sinh, không sửa bài, mà chỉ muốn «tâm tình với bạn đọc như với bạn cố tri», nhận những câu trả lời từ bạn đọc để từ đó có những bài viết thể hiện được.

Tính chất trường học góp phần tạo nên tính điển phạm ở cả khía cạnh kiến thức lẫn hành vi của cuộc đời. Điều ấy còn tương ứng với một kỳ vọng khác của Phạm Quỳnh khi ông viết: «Nước cốt ở dân, dân chủ ở một bọn người gọi là «thượng-lưu», hay bọn «thức giả xã hội», như nhà có nóc vậy. Nhà không có nóc thì ở sao.Nước không có một bọn thượng-lưu trí-thức để giữ-gìn cái cốt-cách trong nước, thì sao gọi là một nước được?Có nhà danh-sĩ Pháp đã nói rằngNước Pháp sở-dĩ là nước Pháp, cũng chỉ nhờ bởi bốn năm mươi người đại-trí.Nếu không có bọn ấy thì nước Pháp không còn là nước Pháp nữa ».

Chi tiết « bọn bốn mươi người đại trí » của Hàn Lâm Viện Pháp, mà Phạm Quỳnh thường xuyên cho in lại trên Nam Phong những bài viết của các thành viên hoặc của các giáo sư đại học Paris, hàm ý tham vọng xây dựng một lớp trí thức mới mẫu mực, tinh túy cho thời đại mới.

Vậy ai là những thành viên có thể tham gia vào nhóm bốn mươi người Việt đó? Hẳn nhiên trước hết chính là những ai từng bỉnh bút cho Nam Phong giai đoạn đầu như Nguyễn Bá Trác, Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Bá Học, Nguyễn Đôn Phục và Nguyễn Mạnh Bổng. Họ tất thảy đều có hai yếu tố rất quan trọng đối với giới trí thức Việt Nam đương thời: uy tín và tuổi tác.

Phạm Quỳnh cùng tờ báo của mình không chỉ hoàn thành một vai trò nhà báo đưa tin như cái măng-sét đã ghi ban đầu, mà còn có tham vọng giữ một tiếng nói chính thức về mặt học thuật đương thời trên trường trí thức mới đương thành lập. Dù tiếng nói đó đôi lúc trở nên học phiệt như Phan Khôi sau này từng lên tiếng, nhưng người ta không thể không ghi nhận một kỳ vọng lớn lao ấy của Phạm Quỳnh về lớp «thượng lưu trí thức để giữ gìn cốt cách trong nước, để bồi dưỡng cái quốc-túy».

Phong Hóa vào những năm 1930 sẽ chấm hết sự tồn tại Nam Phong bằng giọng hài hước khi nhại lại câu «Thứ nhất sừ Uỳnh thứ nhì sừ Ĩnh». Nhưng chắc chắn lớp trí thức tư sản như Nhất Linh, Khái Hưng đã được thừa hưởng rất nhiều từ cái khát vọng thượng lưu trí thức của Phạm Quỳnh như một nền tảng của trường trí thức thời hiện đại.

Phan Tất Đại chuyển tiếp

KHÁM PHÁ NGHỆ THUẬT

TRANH GƯƠNG XỨ HUẾ

DI SẢN QUÝ GIÁ THỜI NGUYỄN

Chúng ta đã được chiêm ngưỡng nhiều bức họa được vẽ trên các chất liệu như: giấy, lụa, sành, sứ… Nhưng có một loại tranh đặc biệt độc đáo, nó được vẽ trên kính, mà người Huế gọi nó là tranh gương. Dòng tranh này có giá trị nghệ thuật đặc sắc cần được bảo tồn và lưu truyền.

Đến nay, các bức tranh gương có giá trị đều do triều Nguyễn để lại và đang được trưng bày tại Bảo tàng cổ vật cung đình Huế (16 bức) và các cung điện, lăng tẩm ở Huế như cung Diên Thọ (điện chính), lăng Minh Mạng (điện Sùng Ân), lăng Thiệu Trị (điện Biểu Đức), lăng Tự Đức (điện Hòa Khiêm, điện Lương Khiêm), lăng Đồng Khánh (điện Ngưng Hy) và điện Huệ Nam (điện Hòn Chén).

Xuất xứ của dòng tranh gương vẫn còn nhiều thắc mắc

Có rất nhiều người nghiên cứu về xuất xứ của loại nghệ thuật độc đáo này. Phần đa ý kiến cho rằng, tranh gương cố đô Huế có xuất xứ từ Trung Quốc. Nguyên là vua Thiệu Trị (1841-1847) có tập thơ “Thần kinh nhị thập cảnh” vịnh 20 cảnh đẹp của đất Huế, đã gởi các bài thơ này qua Trung Quốc đặt vẽ. Dựa trên nguồn cảm hứng này, các nghệ nhân Trung Quốc thời đó đã khắc họa 20 bức tranh theo 20 khung cảnh trong tập thơ. Mỗi bài thơ này được thể hiện thành một bức tranh gương, sau đó mới mang trở về kinh đô Huế, treo tại các miến điện.

Nét độc đáo của tranh gương triều Nguyễn- cung đình Huế

Nếu ai đã từng tới Huế, thì không khỏi ngỡ ngàng và yêu thích những bức tranh gương đang được trưng bày tại đây. Một loại thể hiện nghệ thuật trên chất liệu mới lạ đã có từ trăm năm nay.

Tranh gương cung đình Huế là một loại hình tranh mang bản sắc riêng của Huế bởi xuất xứ, cách thể hiện cùng chất liệu độc đáo. Tranh gương được đóng trong những khung gỗ chạm thếp vàng, khá cầu kỳ, thực sự là những bức tranh độc lập.

Chủ đề của tranh gương cung đình Huế về cơ bản có 3 loại chính. Loại tranh cao cấp “thi họa” hay tranh thơ ngự chế chủ yếu mô tả và ca ngợi 20 cảnh đẹp được vua Thiệu Trị xếp hạng, tranh minh họa các bài thơ đề vịnh các mùa trong năm, vịnh các cảnh mà vua bất chợt tức cảnh đề thi…

Loại tranh thứ hai không đề thơ nhưng có đề rõ chủ đề là loại tranh minh họa cho các điển tích trong lịch sử Trung Hoa.

Loại tranh thứ ba là tranh vẽ tĩnh vật. Với người thưởng lãm hay du khách, những bức tranh này có thể chỉ đơn thuần là cảnh đẹp của thiên nhiên, của non nước hữu tình, nhưng với những nhà nghiên cứu, bên cạnh giá trị nghệ thuật, mỗi bức tranh gương chính là giai thoại lịch sử quan trọng để phục dựng, trùng tu các di tích có liên quan.

Chất liệu để vẽ loại tranh này là bột màu pha keo, hoặc sơn, được vẽ hoặc khảm xà cừ vào mặt sau của gương theo kiểu vẽ âm bản để nhìn mặt trước thành dương bản.

Kỹ thuật vẽ ngược chiều đòi hỏi họa sĩ, nghệ nhân phải hết sức tài hoa, khéo léo và có trí tưởng tượng cực kỳ phong phú mới có thể thực hiện được.

Do kỹ thuật phức tạp, sự tư duy về mặt hình tượng là rất riêng. Người vẽ phải tưởng tượng phía bên kia (mặt trái) để nhìn xuyên từ kính qua (mặt phải) đòi hỏi dự phối hợp giữa tư duy, kỹ thuật, chất liệu và đặc trưng phản ánh. Tất cả tạo nên nét riêng, độc đáo, tinh tế của tranh gương và đó cũng chính là những đặc trưng mà không có loại hình mỹ thuật nào của Huế có được

Đặc biệt trong đề tài, màu sắc của tranh gương dường như là ngôn ngữ của một mảng nghệ thuật riêng biệt, không nhất quán. Tại lăng Tự Đức, điện Hòa Khiêm, cung An Định hiện lưu giữ được những tranh gương tuyệt đẹp, mỗi bức có chiều rộng khoảng 9 tấc, cao 6 tấc. Bức tranh được lồng trong một khung thếp vàng, chạm nổi những vòng hoa, trái, lá… Theo một số tài liệu, khi sơn thếp vàng dùng trong tranh là vàng thật, bằng một chất kết dính đặc biệt, không làm phai màu của vàng và giữ được độ óng ánh của màu kim loại này. Do đó, trải qua thăng trầm thời gian, những bức tranh vẫn rực rỡ, tươi tắn như mới, có độ phát quang, lan tỏa giữa các màu.

Quá trình khôi phục dòng tranh đặc sắc này cần thời gian nghiên cứu và sự bền bỉ

Có một vài ý kiến cho rằng, lí do mà dòng tranh mang giá trị nghệ thuật lớn như thế này gần như không còn phát triển tại Huế là vì nó được truyền từ Trung Quốc, trải qua năm tháng lịch sử mà bị thất truyền.

Do kĩ thuật vẽ loại hình tranh gương này rất đặc biệt, bức họa được vẽ theo dạng vẽ ngược, tức là cái gì kết thúc sau phải vẽ trước, nên càng đòi hỏi sự tài hoa và truyền dạy.

Chính vì vậy mà sau  2 năm mày mò tìm hiểu, thử nghiệm, hiện nay họa sĩ Dương Văn Kính đã có thể tạo nên những sản phẩm tranh gương trang trí khổ nhỏ về chủ đề phong cảnh, tranh dân gian làng Sình, tranh Đông Hồ và sen Huế để quảng bá du lịch, tạo sản phẩm lưu niệm mới cho du khách khi đến cố đô Huế. Anh mạnh dạn dùng màu chuyên dụng cho tranh gương của Pháp, loại màu này cho phép nhìn bức tranh 2 mặt gần như nhau chứ không chỉ một mặt như tranh gương trước đây.

Tranh gương xứ Huế dẫu trải qua những năm tháng của lịch sử, nhưng màu sắc và tuổi thọ của nó như thách thức với thời gian. Nó tạo lên một nét rất riêng của Huế.

Quá trình phát triển của xã hội cuốn theo các trào lưu tư tưởng nghệ thuật mới, có những dòng tư tưởng được coi là biến dị về phong cách nghệ thuật cũng như ý tứ nghệ thuật, cái mà ngày nay người ta gọi đó là nghệ thuật đôi khi là sự phản cảm thì sức hút của nó tới công chúng chỉ là một giai đoạn thời gian ngắn ngủi, nhưng với những kiệt tác nghệ thuật cổ xưa thì sức hấp dẫn của nó chưa bao giờ là nguội.

Nó không chỉ là giá trị tinh thần của dân tộc mà hơn thế, chính là tinh hoa trí tuệ của người xưa. Cái mà cho đến ngày nay, thế hệ đời sau vẫn mãi phải kiếm tìm để có được. Bảo tồn giá trị xưa chính là bảo tồn và di lưu truyền thống, tìm về văn hóa nghệ thuật nguồn cội. (theo Tịnh Tâm)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

NHỮNG TRUYỆN THẬT NGẮN

ĐẦY CẢM ĐỘNG

Lời con trẻ

Sau khi ly hôn, người chồng dọn đồ đạc ra khỏi nhà. Đứa con gái nhỏ hỏi mẹ :

– Sao mẹ đuổi bố ?

– Tại bố hư !

Để nó khỏi vặn vẹo hỏi lôi thôi, người mẹ mua cho cái bánh. Thằng anh từ đâu phóng tới bẻ của em miếng bánh, bỏ ngay vào mồm. Con bé khóc ré bắt đền. Người mẹ dỗ dành:

– Anh này hư quá ! Thôi con nín đi, bỏ qua cho anh một lần.

Đứa con phụng phịu:

– Thế mẹ có bỏ qua cho bố đâu !

Người mẹ nhìn xa xăm:

– Ừ, ra mẹ cũng hư!

Em tôi

Bám đất Sài Gòn sau 3 năm ra trường, tôi vẫn không xin được việc. Vài cua dạy kèm cũng chẳng đủ trang trải, lại phải nhờ nguồn “trợ cấp” ở quê. Vừa rồi, đau ruột thừa, nằm viện. Mẹ vượt ngàn cây số vào thăm. Ngày về, dúi vào tay tôi chỉ vàng, bảo : “Của cái Lan, nó dặn con dùng để hồi sức, viện phí và tiền gởi vào cho con trước đây cũng một tay nó cả. Tội nghiệp ! Dạy thêm tít mù, còn nuôi thêm cả lợn”.

… Nhớ ngày Lan trượt đại học, thư về tôi mắng chẳng tiếc lời… Cầm món quà của em, tôi chỉ còn biết nuốt nước mắt vào trong.

Ngày xưa

Thuở nhỏ, nhà tôi nghèo lắm. Mỗi chiều, anh em tôi thường tụ lại bên nồi cơm độn khoai sắn, ríu rít như đàn chim về tổ. Thiếu thốn, nhưng chúng tôi nhường nhau phần thức ăn ngon nhất, mẹ tôi rất vui lòng.

Khi chúng tôi khôn lớn, có gia đình riêng, ai cũng khá giả. Hôm giỗ ba, có mặt đông đủ, anh Hai tôi phàn nàn với mẹ cây xoài của anh Ba mọc chồm qua sân nhà anh. Chị Ba trách anh Tư đào ao lấn qua phần đất của chị hai tấc. Mẹ tôi trầm ngâm : “Mẹ ước gì được trở lại thời nghèo khó ngày xưa…”

Mẹ tôi

Chiến tranh ác liệt. Bố ra chiến trường. Mẹ cô độc dắt con lánh nạn khắp nơi.
Hòa bình. Bố không trở về. Mẹ khóc hằng đêm.

Năm năm sau, mẹ mới quyết định lập bàn thờ với bức di ảnh của bố. Một mình mẹ vất vả nuôi con. Vậy mà căn bệnh ung thư quái ác lại cướp mất mẹ.

Hôm bức ảnh mẹ được đưa lên bàn thờ bên cạnh bố, bất ngờ bố trở về ! Tất cả chợt vỡ òa…. Bức ảnh bố được hạ xuống. Trên bàn thờ… mẹ lại một mình.

Mẹ ghẻ

Cô tôi muộn chồng vì quá dữ dằn, ruột thịt cũng chẳng ai muốn gần, đành lấy dượng, đã góa vợ.

6 tuổi, Lộc về với mẹ ghẻ, làm đủ việc mà vết roi mới chồng lên dấu đòn cũ… Lộc 15 tuổi, dượng chết. Đinh ninh Lộc bỏ đi, nên ngày mở cửa mả, cô đuổi khéo :

– Có muốn về với bà ngoại mày không ?

Lộc cúi đầu, nói trong nước mắt :

– Con đi rồi, mẹ ở với ai ?

Sau câu nói ấy, dường như bà mẹ ghẻ thì ở lại với nấm mồ, còn cô tôi về, đi chùa, ăn chay. Lộc trở thành cậu ấm – rồi trở thành thạc sĩ, mẹ con thân thương như một phép màu.

Lòng mẹ

Nhà nghèo, chạy vạy mãi mới được xuất hợp tác lao động, Thanh coi đó như cách duy nhứt để giúp đỡ gia đình. Nhưng ảo mộng chóng tan. Xứ người chẳng phải là thiên đường. Thanh chỉ còn biết làm quần quật và dành dụm từng đồng.

Để nhà khỏi buồn, trong thư Thanh tô vẽ về một cuộc sống chỉ có trong mơ.
Ngày về, mọi người mừng rỡ nhận quà, Thanh lại tiếp tục nói về cuộc sống trong mơ. Đêm. Chỉ có Mẹ. Hết nắn tay, nắn chân Thanh rồi Mẹ lại sụt sùi. Thanh nghẹn ngào khi nghe Mẹ nói : “Dối Mẹ làm gì ! Giơ xương thế kia thì làm sao mà sung sướng được hở con !”

Quế Phượng chuyển tiếp

Say vì vợ

Một người đàn ông đến quầy bar và yêu cầu một ly rượu.​ Khi vừa uống hết ly rượu, ông ta khẽ liếc vào túi áo mình rồi mới bắt đầu gọi thêm một ly rượu khác. Cứ như thế, người đàn ông luôn nhìn vào túi áo trước khi gọi rượu. Quá ngạc nhiên, người phục vụ hỏi :​

– Tôi có thể phục vụ cho ông cả đêm, nhưng tại sao trước khi gọi ông cứ phải nhìn vào túi áo mình thế ?

Người đàn ông cười lớn;

– Đó là phương pháp giúp tôi xác định mình còn tỉnh táo hay không ấy mà.

Người phục vụ ngạc nhiên :

– Làm sao có thể chứ.

– Bên trong túi áo là một bức ảnh của vợ tôi, khi tôi bắt đầu nhìn thấy cô ấy xinh đẹp thì đó chính là lúc tôi nên về nhà rồi đấy anh bạn ạ

Thế mà điên được sao ?

– Lão chồng làm mình tức điên được.

– Sao thế ?

– Mình xin lão 500usd đi thẩm mỹ viện.

– Đúng là lão keo thiệt mà, có 500usd mà không cho hả ?

– Lão nhìn mình từ đầu đến chân, rút ví đưa mình hẳn 5.000usd mình mới điên đấy chứ.

!!!!????

Đồ ngu

Rời rạp hát, Tèo dìu nàng lên xe bus… Xe chạy chưa tiêu một lít xăng thì Tèo lại táy máy … đặt tay lên đùi váy ngắn của nàng rồi từ từ run run nhích cao lên … cao lên. Thấy nàng ngồi im không phản đối… Tèo háo hức lướt tay thẳng vào… nguồn gốc của nhân loại …

– ĐỪNG, “nàng quát và Tèo mất cả hồn vía rút tay về… có cái gì chợt… tiu ngĩu”
– Chời ơi..! Bảo đừng nhấc tay lên, để yên đấy ! Sao mà ngu thế không biết; “nàng .!!!”

Dung Dung chuyển tiếp

Advertisements

NỬA HỒN THƯƠNG ĐAU

Logo vannghe A

9 Khanh Ngoc 1BÓNG HỒNG TRONG :

NỬA HỒN THƯƠNG ĐAU

Những tình khúc Nửa hồn thương đau, Người đi qua đời tôi… của nhạc sĩ Phạm Đình Chương đã quá quen thuộc với công chúng từ hơn nửa thế kỷ qua. Tuy nhiên, hoàn cảnh ra đời các ca khúc tuyệt vời này lại thấm đẫm một nỗi buồn…

Nhạc sĩ Phạm Đình Chương sinh năm 1929 tại Hà Nội trong một gia đình giàu truyền thống âm nhạc. Cha ông là một nghệ sĩ đàn tranh, còn mẹ ông là nghệ sĩ đàn bầu. Cả hai chơi đàn rất tuyệt.

Phạm Đình Chương bắt đầu sáng tác vào năm 1947 khi vừa 18 tuổi. Hầu hết những sáng tác của ông trong giai đoạn này có phong cách tươi trẻ, hùng tráng như Hò leo núi, Sáng rừng, Trăng rừng, Trăng Mường Luông, Ra đi khi trời vừa sáng(viết chung với Phạm Duy)…

9 Pham D Chuong 1Năm 1951, Phạm Đình Chương chuyển vào Nam, và ban hợp ca Thăng Long được thành lập với những thành viên là anh chị em ruột trong gia đình gồm : Hoài Trung (Phạm Đình Viêm), Thái Hằng (Phạm Thị Quang Thái), Hoài Bắc (Phạm Đình Chương), Thái Thanh (Phạm Thị Băng Thanh), đôi khi còn có sự góp mặt của ca sĩ Khánh Ngọc. Ban hợp ca này mau chóng trở nên nổi tiếng. Trong khoảng gần 10 năm tiếp theo, Phạm Đình Chương đã sáng tác được nhiều ca khúc tuyệt vời như Tiếng dân chài, Được mùa, Đợi chờ, Xóm đêm, Ly rượu mừng, Đón xuân… đặc biệt là trường ca Hội Trùng dương (Tiếng sông Hồng, Tiếng sông Hương và Tiếng sông Cửu Long).

Trước đây, nhiều người từng cho rằng Phạm Đình Chương thật đáng tự hào khi là “sở hữu chủ” của một giai nhân kiều diễm và có một thân hình bốc lửa như nữ ca sĩ Khánh Ngọc (biệt danh “ngọn núi lửa”). Danh tiếng của Khánh Ngọc nổi như cồn trong khoảng 5 năm (từ 1955-1960), không chỉ trong lĩnh vực ca nhạc mà cả trong điện ảnh, cô nổi tiếng trước cả Kiều Chinh, Thẩm Thúy Hằng, Kim Cương… (qua các phim Chúng tôi muốn sống, Đất lành…) Sau biến cố được cho là do vợ ngoại tình (với nhạc sĩ Phạm Duy – anh rể trong nhà, 9 Ban Thang Long 2chồng của Thái Hằng), Phạm Đình Chương ly dị vợ, và ông được quyền nuôi đứa con trai (lúc đó khoảng 4-5 tuổi).

Thời gian này, Phạm Đình Chương không còn tâm trí để cùng biểu diễn với ban hợp ca Thăng Long được nữa. Ông sống khép kín, ít giao thiệp với bên ngoài. Cũng từ đây, những bản tình ca ai oán của Phạm Đình Chương đã ra đời trong nước mắt. Những nốt nhạc là kết tinh của những cơn đau thương, của những hoài niệm xót xa, với những ca từ bi thiết, đó là những ca khúc: Đêm cuối cùng, Thuở ban đầu…

Riêng với 2 ca khúc Người đi qua đời tôi Nửa hồn thương đau thì trong tâm trạng đau đớn tột cùng bởi gia đình tan nát, chia lìa, Phạm Đình Chương đã tìm thấy sự đồng cảm từ bài thơ của Trần Dạ Từ :

Tr Da Tu“Người đi qua đời tôi trong những chiều đông sầu.

Mưa mù lên mấy vai, gió mù lên mấy trời.

Người đi qua đời tôi, hồn lưng miền rét mướt.

Vàng xưa đầy dấu chân, đen tối vùng lãng quên.

Bàn tay mềm khói sương, tiếng hát nào hơ nóng.

Và ai qua đời tôi, chiều âm vang ngàn sóng, trên lối về nghĩa trang…

Người đi qua đời tôi, không nhớ gì sao người…

Em đi qua đời anh, không nhớ gì sao em” (Người đi qua đời tôi).

Đặc biệt, từ bài thơ Lệ đá xanh của Thanh Tâm Tuyền, ông đã viết thêm ý rồi đổi tựa để thành ca khúc Nửa hồn thương đau bất hủ : “Nhắm mắt cho tôi tìm một thoáng hương xưa, cho tôi về đường cũ nên thơ, cho tôi gặp người xưa ước mơ. Hay chỉ là giấc mơ thôi, nghe tình đang chết trong tôi, cho lòng tiếc nuối, xót thương suốt đời. Nhắm mắt ôi sao nửa hồn bỗng thương đau. Ôi sao ngàn trùng mãi xa nhau, hay ta còn hẹn nhau kiếp nào. Anh ở đâu ? Em ở đâu ? Có chăng mưa sầu buồn đen mắt sâu. 9 Khanh Ngoc 3Nhắm mắt chỉ thấy một chân trời tím ngắt, chỉ thấy lòng nhớ nhung chất ngất, và tiếng hát, và nước mắt… Đôi khi em muốn tin… Ôi những người… Khóc lẻ loi một mình”.

Ca khúc Nửa hồn thương đau được người em ruột của ông là ca sĩ Thái Thanh trình bày khiến những ai đã nghe qua khó thể quên được. Nhưng nếu trong một cơn say nào đó được chính tác giả hát lên thì người nghe mới thật sự xúc động. Giọng ca của Hoài Bắc vốn trầm và dội, sau cú sốc tình cảm quá lớn lại như có ướp thêm men rượu. Nếu như ai đã từng quen ngồi phòng trà Đêm màu hồng – tên một bản nhạc của Phạm Đình Chương phổ thơ Thanh Tâm Tuyền tại Sài Gòn vào những năm trước 1975, chắc chắn từng bắt gặp Phạm Đình Chương tay cầm ly rượu và điếu thuốc cháy dở, hát đơn ca bằng một chất giọng nhừa nhựa rất phiêu.

Thực ra đây là ca khúc ông viết cho phim Chân trời tím. Đến lúc bộ phim sắp hoàn tất, bị nhắc nhở vì trễ hẹn và trong men say chếnh choáng Phạm Đình Chương đã trút hết nỗi đau của mình vào Nửa hồn thương đau.

Khánh Ngọc sang Mỹ từ năm 1961 để học thêm về điện ảnh và đã có gia đình mới, nhạc sĩ Phạm Đình Chương từ trần tại California (Mỹ) năm 1991.

9 Khanh Ngoc 2Khánh Ngọc bây giờ ra sao ?

Khánh Ngọc cho biết hiện cô đang ở Los Angeles,  rất bằng lòng với đời sống hiện tại, lâu lâu đi hát cho các hội từ thiện và  bạn bè ở các tiểu bang, rất vui gặp lại bạn bè mới và cũ. Cô nói cô có nhiều kỷ niệm trong đời nghệ sĩ, mỗi lần gặp lại bạn bè, nhắc những kỷ niệm cũ cô cảm thấy rất vui, Cô cố giữ những kỷ niệm vui này trong tâm trí và  mong một ngày nào đó  trở về VN cùng với bạn bè  sống cho hết quảng đời còn lại.

Được hỏi, sau khi tốt nghiệp điện ảnh rồi sao cô không trở về VN, Ca sĩ Khánh Ngọc cho biết  trong thời gian lưu diễn các tiểu bang cô có gặp một sinh viên VN, hai người đã kết hôn  và có ba con nên rất bận rộn và gia đình cũng ngăn cản con đuờng nghệ thuật của cô. Tuy nhiên cô không buồn vì rất hạnh phúc với gia đình.  Khánh Ngọc cho biết nay cô đã về hưu, niềm  vui hiện tại của cô là với gia đình và các cháu. Cô rất thích nấu nướng và làm bánh… Mỗi lần đi các tiểu bang, gặp lại khán giả đã biết cô  và vẫn giữ lòng quý mến cô, cô cảm thấy rất là hạnh phúc(theo Hà Đình Nguyên)

9 Khanh Ngoc 4Nhạc phẩm : “Nửa hồn thương đau” của Phạm Đình Chương

Nhắm mắt cho tôi tìm một thoáng hương xưa

Cho tôi về đường cũ nên thơ

Cho tôi gặp người xưa ước mơ

Hay chỉ là giấc mơ thôi

Nghe tình đang chết trong tôi

Cho lòng tiếc nuối xót thương suốt đời.

Nhắm mắt ôi sao nửa hồn bỗng thương đau

Ôi sao ngàn trùng mãi xa nhau

Hay ta còn hẹn nhau kiếp nào

Em ở đâu? Anh ở đâu ?

9 Pham D Chuong 2Có chăng mưa sầu buồn đen mắt sâu.

Nhắm mắt chỉ thấy một chân trời tím ngắt

Chỉ thấy lòng nhớ nhung chất ngất

Và tiếng hát và nước mắt.

Đôi khi anh muốn tin

Đôi khi anh muốn tin

Ôi những người, ôi những người

Khóc lẻ loi một mình.

Nghe : tiếng hát THÁI THANH

http://youtu.be/1PyP4z3xO2k

Xem thêm Nói về nhạc phẩm NỬA HỒN THƯƠNG ĐAU

9 Le Thu 1NỮ CA SĨ LỆ THU

KHỜ KHẠO NÊN PHẢI

TRẢI QUA 3 ĐỜI CHỒNG

Bài hát đưa nữ danh ca lên đỉnh cao nghiệp diễn có tên “Dang dở”, như một điềm báo cho hạnh phúc không trọn vẹn với ba cuộc hôn nhân và mối tình đẹp, mà câu trả lời cuối cùng vẫn là không ai cùng đi trọn một con đường.

Tình duyên là thế, nhưng cuộc đời đã bù lại cho chị một sự nghiệp không phải ai cũng có được. Để rồi gần 50 năm qua, giọng ca Lệ Thu cất lên một niềm đồng cảm với những cuộc tình không trọn vẹn. Chị như người kể chuyện tình, đắm say qua nhiều thế hệ.

Lệ Thu chia sẻ, chị là người biết làm chủ cảm xúc và diễn tả nó một cách tỉnh táo, trong các ca khúc, chứ không bị chi phối bởi những đổ vỡ đớn đau của cuộc đời. Có thể tiếng hát Lệ Thu có trước những mất mát riêng tư của chị. Nhưng người nghe lại thấy trong giọng hát Lệ Thu có điều gì như uẩn ức, như muốn nói lời bí mật nào đó đã làm người hát đẩy nỗi đau lên đến tột cùng trong từng nốt nhạc.

Cô bé đi hia vạn dặm

– Chị là người nổi tiếng nhút nhát và khờ khạo, lại sinh ra trong một gia đình phong kiến. Tại sao một cô gái như thế lại chọn nghiệp ca sĩ ?

Tôi cho rằng đó là cái nghiệp. Gia đình tôi, chú bác, cậu đến người anh đều hát hay. Tôi hát chẳng là gì so với họ, nhưng chắc không ai có cái nghiệp như tôi. Tôi được học piano từ nhỏ, âm nhạc đã ngấm vào máu. Rồi mẹ đưa tôi từ Hải Phòng vào Sài Gòn sống. Gần nhà có người thầy dạy guitar, tôi theo học và thỉnh thoảng có hát. Hàng xóm khuyến khích đi thì, tôi chối đây đẩy: 9 Le Thu 2“Thôi thôi, hát tài tử thì được chứ đi thi thì không”. Lý do là trước khi đi thi, phải nhìn vào gương để tập hát, tôi nhìn thấy chính mình nên rất sợ.

Cho đến dịp sinh nhật người bạn vào năm 1960, đang ăn uống vui vẻ ở phòng trà Bồng Lai, một đứa bảo bạn : “Ê, Oanh, mày hát cho tụi tao nghe một bài”. Tôi từ chối, nhưng bạn bè đẩy quá nên hát bài Tà áo xanh (có tên khác là Dang dở) của nhạc sĩ Đoàn Chuẩn. Đến giờ tôi cũng không hiểu tại sao có thể bài hát đó để mở đầu cho sự nghiệp ca hát của mình.

Ông chủ phòng trà Bồng Lai khen : “Em hát được lắm, em có muốn đi hát không ?”. Tôi trả lời : “Dạ thưa không, mẹ cháu không muốn cho cháu đi hát”. Ông ấy thuyết phục: “Em đi hát nhưng vẫn có thể đi học được. Em không phải thức khuya, vì đến đây hát lúc 9 giờ, 10 giờ đã về rồi. Một tiếng đó, em có thể nói với mẹ là đến nhà đứa bạn học bài”. Rồi ông đưa ra mức thù lao, tôi thực sự choáng vì ngoài sức tưởng tượng. Tôi không nhớ là bao nhiêu, nhưng đối với nữ sinh lúc đó là cả một vấn đề. Nghĩ tới nghĩ lui, bạn bè cũng nói vào nên tôi quyết định đi hát.

– Như chị nói, con đường ca hát của chị được trải thảm đỏ ngay từ đầu. Nhưng để một tên tuổi nổi lên đâu phải dễ, nhất là đang có những cái bóng quá lớn như Thái Thanh, Mộc Lan, Kim Tước, Bạch Yến…?

Đúng là thập niên đó, các bậc đàn anh đàn chị đình đám lắm. Nhưng hầu hết đều hát giọng mũi, còn tôi là giọng nữ trung, đầy, rõ nên xuất hiện như một nhân tố lạ. Tôi trở thành cô bé đi hia vạn dặm, nhưng cuộc sống vẫn không có nhiều thay đổi.

Tôi nhớ những ngày đầu trốn mẹ đi hát ở Bồng Lai, vừa hát vừa sợ. Rồi mẹ tôi cũng biết do một anh hàng xóm mách lại. Anh ấy vốn rất mê tôi nhưng không được đáp lại tình cảm nên tố cáo chuyện tôi đi hát với mẹ. Bà nỏi giận đùng đùng, nhưng vẫn gọi tôi đến hỏi : “Oanh, tại sao con lại làm thế ? Dòng họ nhà mình có ai thế đâu. Con không biết xướng ca là vô loài ?”. Tôi chỉ biết im lặng. Và mẹ cấm cửa, không cho tôi ra khỏi nhà vào ban đêm.

Bốn ngày sau, ông chủ phòng trà Bồng Lai tìm đến thuyết phục mẹ tôi : “Bác ạ, nghề ca hát không phải xướng ca vô loài như hồi xưa. Nếu không tin, bác cứ đi với em đây đến phòng trà của con. Nếu bác thấy không được thì con thôi không làm phiền nữa. Em đứng trên bục hát hay, người ta vỗ tay và hát xong em về. Không ai đụng được đến em đâu”.

9 Le Thu 3Mẹ tôi nghe hay nên cũng đi cho biết. Thấy con gái hát ca khúc Sayonara được vỗ tay nhiều quá và chẳng “vô loài” gì cả, bà dần đổi ý. Rồi mẹ hỏi : “Thế đi hát thế, là… hát chơi à”. Ông chủ bảo có thù lao, rồi nói mức lương, bà ngạc nhiên đến mức té ngửa.

– Nhân chị nói về mẹ, xin được hỏi khi vào Sài Gòn, sao lại chỉ là hai mẹ con?

Đó là một câu chuyện dài. Mẹ tôi là vợ lẽ, sống dưới quyền người vợ cả, phải chịu đựng đủ điều. Một sân thóc rộng mênh mông, giữa trưa nắng đổ lửa, mẹ phải phơi, trở thóc, rồi thu dọn, quét sân từ trưa đến khi xế bóng. Không chỉ thế, còn đủ thứ việc trong nhà, chẳng bao giờ bà được nghỉ tay. Mẹ sinh 8 người con, cứ đến 3 tuổi là mất, chỉ có tôi là sống.

Năm 1953, khi mẹ con tôi vào đây, bố không đi vì tiếc gia tài. Một năm sau, ngày nọ tôi đi học về, mẹ chỉ ngắn gọn : “Thầy con mất rồi”. Từ đó mẹ sống lặng lẽ, không đi bước nữa. Và cũng từ đó tôi không biết tin tức gì ngoài đó nữa.

– Cuộc sống những ngày đó của mẹ con chị ở vùng đất mới như thế nào ?

Không đến nỗi nào, tuy chẳng khá giả nhưng không cơ cực. Tôi nhớ nhiều chuyện vui lắm. Năm 14 tuổi, đã có ngực mà tôi hồn nhiên đi tắm mưa không mặc áo, cũng không mặc áo ngực. Hàng xóm hàng phố đổ ra coi. Tôi không biết họ coi cái gì. Mãi sau mới biết họ nhìn mình, không biết là mình đang “triển lãm” trước mặt người ta.

– Từ chuyện đó nên anh hàng xóm mới thích chị ?

Tôi cũng không biết, nhưng hồi đó tôi xinh lắm. Anh hàng xóm nhà giàu, mỗi lần ăn xong, có tráng miệng lúc trái na, lúc trái cam, anh không ăn mà để dành cho tôi. Mỗi lần thấy tôi đi qua, không dám đưa tận tay, anh quẳng cho tôi và tôi cũng hồn nhiên nhận. Anh ấy và tôi học khác trường. Bốn năm trời anh cứ đạp xe đứng ngóng tôi trong những giờ ra chơi. Mặc dù chưa một lần nắm tay, chưa một lần đi cùng, cũng chưa bao giờ nói thương tôi nhưng đến bây giờ khi gặp lại, anh bảo vẫn còn nhớ tôi. 9 Le Thu 4Nghe nói, cuộc sống riêng của anh ấy cũng không hạnh phúc lắm.

Khờ khạo nên mất chồng

– Từ một cô bé hồn nhiên tắm mưa để rồi thành ca sĩ nổi tiếng, cuộc đời của chị hẳn thay đổi nhiều lắm?

Mẹ tôi bảo có con gái trong nhà như trái bom nổ chậm, lại theo ca hát nên sợ tôi ế và đặc biệt là lo sa ngã. Đi hát, gặp một anh chàng không quân thích tôi, gia đình họ đến đặt vấn đề. Tôi lấy chồng khi chưa một lần nắm tay người khác giới, chưa bao giờ hôn nên trong cuộc sống gối chăn, tôi cứ như… khúc gỗ. Người chồng thất vọng não nề về sự ngây thơ, thậm chí đần độn của vợ. Chỉ được hai tháng, anh ấy không thể chịu đựng nữa nên quyết định bỏ.

Gia đình chồng người Huế, anh ấy là con cưng. Còn tôi lại không biết nấu ăn, không biết làm dâu, nên họ không hài lòng. Kết thúc hôn nhân không có con cái, tôi về với mẹ. Bà cũng chẳng buồn vì mỗi lần lên thăm con đều cảm nhận được cảnh cơm nguội canh nhạt.

Lạ lùng bị chồng bỏ, tôi không thấy đau khổ. Có lẽ vì không yêu. Bởi nếu có một tình yêu đúng nghĩa, bằng mọi cách tôi sẽ giữ lấy tình yêu của mình. Chia tay khoảng 5 -7 năm, tôi gặp lại anh ấy một cách tình cờ. Khi ấy tên tuổi của tôi đã nổi lắm rồi. Anh ấy cũng hát hay và đi hát như một niềm đam mê.

– Cuộc hôn nhân đầu tiên không thành do chưa có kinh nghiệm với đàn ông, chưa biết thế nào là yêu. Vậy với cuộc hôn nhân thứ hai thì sao ?

Tôi gặp một Việt kiều về nước chơi. Anh ấy ở Pháp từ nhỏ, đã có vợ con bên đó nhưng về đây thấy tôi thì mê và bỏ luôn gia đình bên đó. Năm 1963, tôi đi bước nữa. Sau này tôi mới biết chuyện này chứ nếu biết anh ấy có vợ con rồi, chẳng bao giờ tôi tiến đến hôn nhân. Gọi là rung cảm thực sự cũng chưa hẳn, nhưng tôi nghĩ nên có một gia đình để yên thân yên phận. Rồi hỏi, rồi cưới, rồi dang dở. Có thể người nghệ sĩ được ông trời ban cho thanh sắc, thì hạnh phúc gia đình bị lấy đi chăng?

– Giữ được hay đánh mất hạnh phúc, một phần cũng do người đấy chứ ?

9 Le Thu 6Tôi từng tính bỏ hát để yên phận. Nhưng anh ấy không phải là người đàn ông của gia đình, đúng hơn là không phải là người chung thủy. Anh ấy hào hoa có sẵn, lăng nhăng có thừa, lại ảnh hưởng lối sống Tây hóa, tôi không chịu nổi nên cuối cùng phải bỏ, dù không cãi vã to tiếng. Bảy năm cho cuộc hôn nhân đó, chúng tôi có hai đứa con gái. Nếu đủ bản lĩnh, tôi đã giữ được chồng vì tôi có tiền, có danh, nhưng tôi không biết cách và cũng chẳng muốn giữ.

Anh ấy nhảy giỏi, đẹp trai, con nhà giàu, nhiều phụ nữ thích cũng là bình thường. Nhưng thấy họ mê mình, anh ấy cũng mê lại. Ca sĩ L. cùng thời với tôi và rất nổi tiếng, theo đuổi chồng tôi. Tôi ít biết ghen, nhưng đã không thể chịu đựng những gì diễn ra trước mắt, tôi gần như phát điên. Đang đêm tôi tung mền, xé quần áo lao ra đường. Hai người giúp việc phải chạy theo trùm mền đưa về nhà. Đó là một cuộc hôn nhân bi thảm.

Ngỡ đã ngọt ngào

– Sau những cay đắng, hạnh phúc mỉm cười với chị khi nên duyên với một nhà báo. Nhiều người nói chính chị đã bỏ hạnh phúc này để đi Mỹ ?

Không phải thế. Năm 1969, chúng tôi gặp nhau, đến năm 1974 mới tổ chức đám cưới. Cuộc hôn nhân kéo dài 10 năm, có với nhau một đứa con gái, anh ấy rất yêu thương, lo lắng cho tôi. Hạnh phúc được thử thách qua tháng ngày gian khổ, thế nên tôi hoàn toàn yên tâm đó là những gì ngọt ngào có được sau bao nhiêu cay đắng. Nhưng khốn khổ cho tôi. Tôi vừa đi Mỹ, lập tức đã có người phụ nữ khác đến nhà sống với anh ấy. Và một lần nữa, tôi vẫn là người khờ khạo.

– Đổ vỡ trong hôn nhân cũng là điều bình thường trong cuộc sống. Nhưng xin lỗi chị, đổ vỡ nhiều mà vẫn khờ khạo, liệu có bình thường không?

Người ta đồn tôi rất đoan chính, không ai đụng đến được nhưng không phải vậy. Thật ra tôi là kẻ khờ khạo, không dám lăng nhăng. Chẳng phải vì tôi nổi tiếng nên sợ lăng nhăng, người ta bêu rếu mình đâu. Đến giờ, tôi vẫn chưa giải thích được sự khờ khạo đó.

9 Le Thu 5Tôi từng có một cuộc tình rất thắm thiết. Năm 1988, gặp người đó, tôi mới biết rung động thật sự là gì, tình yêu đúng nghĩa là gì, nhưng tôi vẫn khờ khạo không giữ được tình yêu của mình. Và từ đó, tôi chẳng yêu ai được nữa. Tính tôi vốn nhát, không bao giờ đi tán tỉnh hay giành giật đàn ông dù có thích hoặc ước gì họ là người yêu của mình.

– Sau này chị gặp lại người những đàn ông đó, có thành bạn bè như người chồng đầu tiên? Họ bây giờ ra sao ?

Cả ba người đàn ông đó giờ đều còn sống, kể cả anh hàng xóm si tình năm ấy, có người qua Mỹ, có người còn ở Việt Nam. Chúng tôi vẫn là bạn và thăm hỏi nhau nếu có dịp. Riêng người chồng thứ hai ở Việt Nam thỉnh thoảng tôi có ghé thăm anh ấy. Và tôi đã hóa giải hết mọi chuyện trong quá khứ rồi. Những người làm tôi đau, thậm chí kẻ thù, tôi bỏ qua hết để làm bạn. Tính của tôi vốn vậy, vì hận thù chỉ làm khổ mình thôi. Những người đã đi qua đời mình hay những gì mình trải qua đều là duyên, đều là ngộ, đều là nợ nhau cả và mình phải trả. Trả hết thì thôi. (theo Mốt & Cuộc Sống)

Lan Hương tổng hợp chuyển tiếp

– Tình ca mùa Thu (2:01’)

https://youtu.be/tFvp11ZlMC0

01- Mùa Thu Cho Em – Lâm Thúy Vân 02. Thu Quyến Rũ – Tuấn Ngọc 03. Nước Mắt Mùa Thu – Khánh Ly 04. Mùa Thu Trong Mưa – Hợp Ca 05. Chuyện Hoa Tigon – Diệp Thanh Thanh 06. Giọt Mưa Thu – Khánh Hà 07. Autumn Night – Shayla 08. Tím Cả Chiều Hoang – Bảo Tuấn 09. Thu Vắng – Thanh Lan 10. Dấu Vết – Gia Huy

11/- Liên Khúc Mùa Thu – Thúy Hà Tú 12. Lá Đổ Muôn Chiều – Vũ Khanh 13. Autumn Leaves – Trish Thùy Trang 14. Chuyện Tình Mùa Thu – Duy Linh 15. Về Ðâu Hỡi Em ? – Lâm Nhật Tiến 16. Thu Sầu – Yến Phương 17. Nếu Có Em – Lê Tâm 18. Những Mùa Thu Qua Trên Cuộc Tình Tôi – Ninh Cát Loan Châu 19. Hoai Thu – Mạnh Đình 20. Xa Nhau Mua Thu – Thanh Trúc 21. Thu Hát Cho Người – Việt Dzũng.

– Những tình khúc bất hủ của nhạc sĩ Dương Thiệu Tước (1:20’)

https://youtu.be/RrM6X-yvcss

Những Tình Khúc Bất Hủ Của Nhạc Sĩ Dương Thiệu Tước : Mai Hương,Khánh ly, Hương Lan, Thái Thanh

Danh Sách Bìa Hát : 1/. Bóng Chiều – Mai Hương 2/. Chiều – Mai Hương 3/. Tiếng Xưa – Mai Hương 4/. Bóng Chiều Xưa – Khánh Ly 5/. Đêm Tàn Bến Ngự – Mai Hương 6/. Khúc Nhạc Dưới Trăng – Mai Hương 7/. Kiếp Hoa – Mai Hương 8/. Ngọc Lan – Mai Hương 9/. Thuyền Mơ – Mai Hương 10/. Áng Mây Chiều – Mai Hương 11/. Cánh Buồm Lướt Gió 12/. Đêm Ngắn Tình Dài – Thái Thanh 13/. Bến Xuân Xanh – Mai Hương 14/. Ơn Nghỉa Sinh Thành – Hương Lan 15/. Vườn Xuân Thắm Tươi – Mai Hương

Quế Phượng chuyển tiếp

“TÂY DU KÝ” THIÊN CỔ ĐỆ NHẤT KỲ THƯ

“TÂY DU KÝ” ĐƯỢC COI LÀ

THIÊN CỔ ĐỆ NHẤT KỲ THƯ ?

Nếu như hơn 30 năm trước, bộ phim “Tây Du Ký” của đạo diễn Dương Khiết đã đưa người xem đến với hành trình thỉnh kinh cùng những cảnh trảm yêu bắt quái ly kỳ; thì ngày hôm nay, những phân cảnh “Tây Du Ký” trên sân khấu của Đoàn Nghệ thuật Thần Vận lại mở ra trước mắt chúng ta một thế giới thần thoại chân thực đến ngỡ ngàng.

Những tiết mục biểu diễn sâu sắc và thấm đẫm nhân văn ấy đã làm chấn động lòng người. Khi tấm màn hạ xuống, người ta lại tự hỏi : “Tây Du Ký” rốt cuộc là tác phẩm thế nào ? Trong kho tàng văn hóa Thần truyền, vì sao “Tây Du Ký” có vị trí quan trọng đến như vậy ? Chúng ta hãy cùng trở lại với nguyên tác của Ngô Thừa Ân để tìm hiểu, điều gì đã làm nên một thiên cổ kỳ thư vĩ đại nhường ấy?

“Tây Du” kỳ thư

“Tây Du Ký” được Ngô Thừa Ân viết vào giữa thời kỳ nhà Minh trong thế kỷ 16. Tác phẩm kể về hành trình của bốn thầy trò Đường Tăng sang Tây Thiên thỉnh cầu Phật Pháp.

Đường Tăng là một nhân vật có thật trong lịch sử. Ông họ Trần, tên Y, pháp danh là Huyền Trang, vốn là người ở huyện Câu Thị, Lạc Châu (ngày nay là Yến Sư, tỉnh Hà Nam). Huyền Trang sinh ra vào năm thứ hai niên hiệu Nhân Thọ, thời Tùy Văn Đế (năm 602), lên 11 tuổi thì xuất gia. Từ nhỏ Huyền Trang đã nổi tiếng là thông minh đĩnh ngộ, tư chất siêu phàm, trở thành tăng nhân nổi tiếng khắp kinh thành khi đó.

Vì Phật Pháp lưu truyền tại Trung Thổ thời bấy giờ còn có nhiều chỗ không rõ ràng, nên vào năm thứ 3 niên hiệu Trinh Quán (năm 629), Huyền Trang đã từ kinh đô Trường An nhà Đường sang Tây Thiên thỉnh kinh. Suốt dọc đường ông đã đi qua Tân Cương, Trung Á, trải qua 17 năm ròng rã, trèo đèo lội suối hơn 5 vạn dặm đường. Cho tới năm thứ 19 niên hiệu Trinh Quán (năm 645), ông đã về đến Trường An, mang theo 657 bộ kinh Phật tiếng Phạn.

Sau đó ông lại tổ chức phiên dịch kinh sách, dịch ra 75 bộ Kinh, Luận, tổng cộng là 1335 quyển. Huyền Trang đã trở thành nhà Phật học, nhà phiên dịch, nhà lữ hành đầu tiên trong lịch sử có cống hiến đặc biệt trong việc lưu truyền Phật Pháp vào phương Đông.

Từ sau đời nhà Đường, câu chuyện Huyền Trang sang Tây Trúc thỉnh kinh được lưu truyền rộng rãi, dần dần trở thành truyền kỳ nửa thực nửa hư, phong phú ly kỳ. “Tây Du Ký” dựa trên câu chuyện Đường Tăng cầu Pháp, rồi thêm vào đó các tình tiết huyền ảo, mang màu sắc thần tiên. Khi tác phẩm vừa mới ra đời, Đường Tăng, Ngộ Không, Bát Giới, và Sa Tăng đã trở thành những nhân vật nhà nhà đều biết, người người đều hay.

Những câu chuyện như “Đại náo thiên cung”, “Ba lần đánh Bạch Cốt Tinh”, “Ba lần mượn quạt Ba Tiêu”, “Tây Lương nữ quốc”, v.v. đã trở thành bộ phận độc đáo hấp dẫn lòng người của văn hóa Trung Hoa.

Duyên khởi lấy kinh

Trong “Tây Du Ký”, cuộc thỉnh Kinh bắt đầu từ một niệm phổ độ chúng sinh của Phật Đà. Đức Phật Như Lai nói : “Ta xem trong bốn đại bộ châu, chúng sinh thiện ác có khác nhau. (…) Duy có người Nam Thiệm Bộ Châu tham dâm gây họa, hay giết hay tranh, chính là nơi đánh nhau cãi cọ, bể ác thị phi”.

Sau đó, Đức Phật muốn tìm người có pháp lực sang phương Đông chọn lấy một thiện tín, bảo người ấy chịu đựng gian khổ, vượt qua muôn núi nghìn sông, đến đất Phật cầu lấy chân kinh để lưu truyền sang phương Đông mãi mãi, khuyến hóa chúng sinh. Quan Âm Bồ Tát lĩnh mệnh, quả nhiên đã tìm được thầy trò năm người, trải qua chín chín tám mươi mốt kiếp nạn, cuối cùng đã lấy được chân kinh, năm người đồng thời cũng tu thành chính quả.

Nói đến thầy trò Đường Tăng, mỗi người đều có lai lịch đặc biệt. Đường Tăng vốn là Kim Thiền Tử, là đồ đệ thứ hai của Như Lai Phật Tổ. Vì khinh mạn Phật Pháp mà bị giáng xuống hạ giới, thác sinh thành Đường Huyền Trang.

Tôn Ngộ Không vốn là khỉ đá trong Thủy Liêm động trên núi Hoa Quả Sơn. Bởi nhận thấy sinh mệnh vô thường, Ngộ Không đến Tây Ngưu Hạ Châu tìm học thuật trường sinh, học được 72 phép thần thông biến hóa và thuật cân đẩu vân. Về sau bởi tâm tranh đấu không bỏ, đại náo thiên cung, Ngộ Không bị Như Lai Phật Tổ đè xuống núi Ngũ Hành suốt 500 năm.

Trư Bát Giới nguyên là Thiên Bồng Nguyên Soái trấn giữ Thiên Hà, bởi uống rượu say chọc ghẹo Hằng Nga, bị Ngọc Đế phạt đánh hai trăm chùy, đày xuống phàm trần. Sau cùng chuyển sinh vào bụng heo, trở thành hình dáng xấu xí mũi dài tai rộng.

Sa hòa thượng vốn là Quyển Liêm đại tướng ở điện Linh Tiêu, bởi sơ ý làm vỡ chén ngọc lưu ly mà bị Ngọc Đế đày xuống hạ giới, bị trừng phạt phi kiếm xuyên ngực ở Lưu Sa Hà, chịu đói chịu rét, phải bắt người ăn thịt mà sống qua ngày.

Còn Bạch Long mã vốn là con trai của Tây Hải Long vương Ngao Nhuận, bởi phóng hỏa đốt cháy viên minh châu trong điện nên phụ thân tâu lên thiên đình, tố cáo tội ngỗ nghịch, khiến Ngọc Đế phạt treo thân trên không trung, đánh ba trăm gậy, chuẩn bị nhận án tử hình.

Quan Âm Bồ Tát đến Đông Thổ tìm người đi lấy kinh là vào năm 13 Trinh Quán nhà Đường. Lúc ấy, vua Đường Thái Tông tổ chức đại hội Thủy Lục, thỉnh mời cao tăng đắc đạo tới giảng kinh thuyết pháp – vị cao tăng đó cũng chính là hòa thượng Huyền Trang. Quan Âm Bồ Tát hóa thân thành lão hòa thượng chốc đầu, điểm hóa Huyền Trang đến đất Phật Như Lai ở chùa Đại Lôi Âm, nước Thiên Trúc để thỉnh cầu Phật Pháp. Sau đó, Thái Tông kết nghĩa huynh đệ với Huyền Trang, rồi cử người hộ tống Huyền Trang sang Tây Thiên thỉnh kinh.

Dọc đường, Huyền Trang đã thu nhận Ngộ Không, Bát Giới, Sa Tăng làm đồ đệ, còn Tiểu Bạch Long đang chờ xử trảm cũng hóa thành ngựa trắng đưa Đường Tăng lên đường. Thầy trò năm người, đồng tâm hiệp lực, vượt qua muôn vàn khó khăn nguy hiểm, trải qua hết thảy 81 nạn, cuối cùng công đức viên mãn.

Nét đặc sắc trong Tây Du Ký

1/- Cảnh giới : Điều kỳ diệu trong “Tây Du Ký” chính là ở cảnh giới. Khác với việc lấy kinh trong lịch sử, câu chuyện trong “Tây Du Ký” vượt qua Tứ Đại Bộ Châu, thế giới mười phương, không kể là bảo điện Linh Tiêu của Ngọc Hoàng Đại Đế hay là bảo điện Lôi Âm của Phật Như Lai, không kể là Tứ Hải long cung hay là U Minh địa phủ, cũng bất kể là Thông Thiên hà sóng nước cuồn cuộn hay Hỏa Diệm sơn ngọn lửa hừng hừng, hết thảy đều đã trở thành sân khấu biểu diễn của người thỉnh chân kinh.

2/- Tình tiết : Điều ly kỳ trong “Tây Du Ký” chính là ở tình tiết. Thạch hầu vốn là một tảng đá hấp thụ thiên chân địa tú, tinh hoa nhật nguyệt trên Hoa Quả Sơn. Chỉ nói riêng đến xuất thân thì câu chuyện của Ngộ Không đã rất ly kỳ rồi. Nhưng đặc biệt hơn cả, thạch hầu sẵn sàng từ bỏ vinh hoa phú quý ở Hoa Quả Sơn và cuộc sống tự tại tiêu diêu nơi Thủy Liêm động mà quyết chí vân du tầm sư học đạo.

Ngộ Không gặp được Sư Tổ Bồ Đề đã học biết 72 phép biến hóa thần thông; sau lại xuống Long Cung của Đông Hải Long Vương lấy được cây định hải thần châm, có thể biến hóa tự do như ý; đến khi đại náo Thiên Cung, bị nhốt trong lò luyện đan của Thái Thượng Lão Quân lại luyện được hỏa nhãn kim tinh, có thể lên trời xuống đất, hô phong hoán vũ, thật quá ly kỳ.

Nhưng điều ly kỳ hơn là, dù con khỉ ấy có thần thông quảng đại đến đâu, vẫn không nhảy ra khỏi lòng bàn tay của Như Lai. Mỹ hầu vương có thật có giả, Đường Tăng có thật có giả, Lôi Âm tự có thật có giả, đều đã ly kỳ lắm rồi. Càng ly kỳ hơn nữa, là ngay đến cả kinh Phật ở Tây Thiên Phật thổ cũng có thật có giả.

Những màn khác như đấu phép ở Xa Trì quốc, hái trộm nhân sâm ở Ngũ Trang quán, ba lần đánh Bạch Cốt Tinh, uống nước sông Mẫu Tử rồi mang thai, đàm luận thơ từ ở am Mộc Tiên, thật là kỳ diệu ngoài sức tưởng tượng của con người.

3/- Nhân vật : Đặc sắc của tác phẩm nằm ở nhân vật. Thế giới “Tây Du Ký” không chỉ có người phàm nơi nhân thế mà còn có Thần Phật nhiều không đếm xuể; trong đó không chỉ có Như Lai, Bồ Tát, La Hán, Kim Cang của Phật gia, mà còn có Ngọc Đế, Vương Mẫu, Lão Quân, Thiên Vương của Đạo gia; không chỉ có chính Thần, mà còn có các dạng yêu ma quỷ quái, quỷ mị võng lượng.

Trong năm thầy trò, Bạch Long hóa ngựa đã ly kỳ rồi, càng ly kỳ hơn là Sa Tăng ở Lưu Sa Hà ăn thịt người sống qua ngày, một khi quy y Chính Pháp thì lại chịu cực chịu khổ, đạo tâm kiên cường bất phá. Bát Giới tham ăn biếng làm, sắc tâm không bỏ, ở rể Cao Lão trang đã rất thú vị rồi; càng thú vị hơn là huynh trưởng

Ngộ Không giỏi hàng yêu bắt quái, với bản lĩnh lên trời xuống đất, trước sau một lòng bảo hộ Đường Tăng thân phàm xác thịt sang Tây Thiên lấy kinh. Chỗ đặc sắc hơn cả, vẫn là Đường Huyền Trang, một khi đã thề sang Tây Thiên thì dẫu chết cũng không hối hận, tuy trên đường đâu đâu cũng đều có yêu ma quỷ quái chờ ăn thịt, nhưng nhờ vào sự giúp đỡ của bốn vị cao đồ và sự bảo hộ của Thần Phật và Bồ Tát các nơi, mỗi nạn Đường Tăng đều gặp dữ hóa lành, chuyển nguy thành an, cuối cùng đến được Đại Lôi Âm, công đức viên mãn.

Diệu lý huyền cơ

Tục ngữ có câu : “Trong nghề xem lề lối, ngoài nghề xem náo nhiệt”. Với “Tây Du Ký”, điều độc giả yêu thích nhất là những tình tiết biến hoá ly kỳ, những câu nói hài hước dí dỏm, những nhân vật sống động chân phương. Nhưng với những người có hiểu biết nhất định về Phật gia và Đạo gia, thì sẽ không khó phát hiện rằng đây là bộ tiểu thuyết viết về tu luyện, khắp “Tây Du Ký” đâu đâu cũng đầy ắp những diệu lý huyền cơ.

1/, Mỗi quan nạn đều là chấp trước cần phải tống khứ trong quá trình tu hành : Sau khi Đường Tăng thu nhận Ngộ Không làm đồ đệ, quan nạn đầu tiên gặp phải chính là lục tặc (sáu kẻ cướp đường), gồm có : Nhãn Khán Hỷ (Mắt thấy mừng), Nhĩ Thính Nộ (Tai nghe giận), Tỵ Khứu Ái (Mũi ngửi thích), Thiệt Thường Tư (Lưỡi nếm nghĩ), Thân Bổn Ưu (Thân vốn lo), Ý Kiến Dục (Ý thấy muốn).

Sáu tên giặc này ẩn dụ cho lục căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) mà Phật gia nói đến. Đánh chết sáu tên giặc này cũng có nghĩa là bài trừ mọi can nhiễu và phiền não mà cảm quan của nhục thân mang đến cho người tu luyện.

81 kiếp nạn, mỗi một nạn đều đối ứng với tâm chấp trước cần phải trừ bỏ. Phá trừ những quan nạn này, không phải là tiêu diệt số yêu ma quỷ quái hữu hình kia, mà là tu bỏ ma chướng trong tâm người tu luyện. Vậy nên, trong số 81 nạn, có nạn thì nhắm vào tâm sợ hãi của Đường Tăng, có nạn thì nhắm vào tâm tranh đấu của Ngộ Không, có nạn lại nhắm vào tâm tham lam lười biếng và háo sắc của Bát Giới.

Trong hồi thứ 50, khi Ngộ Không ra ngoài xin cơm chay, Đường Tăng, Bát Giới, Sa Tăng đến một gian nhà cũ và nhìn thấy trên bàn có những chiếc áo chẽn bằng gấm. Lúc này tiết trời đang lạnh, Bát Giới và Sa Tăng không chịu nổi cám dỗ, bèn mặc thử cho ấm tấm lưng. Không ngờ vừa mới khoác áo lên người, ngay lập tức bị hai chiếc áo trói chặt lại. Ngộ Không đã phải nhiều phen lao đao vất vả, cuối cùng mới được Thái Thượng Lão Quân ra tay hàng phục Kim Đâu Đại Vương, cũng chính là con trâu xanh của Ngài.

Hồi thứ 98 trong “Tây Du Ký”, thầy trò Đường Tăng trải qua muôn vàn cực khổ, cuối cùng mới đến được chùa Đại Lôi Âm ở Tây Thiên, hai vị Tôn giả A Nan, Ca Diếp phụng mệnh Phật Như Lai dẫn thầy trò đến bảo các lấy kinh. Hai vị Tôn giả xin lễ vật không thành, bèn trao cho họ kinh Phật không có chữ. Hành giả đến cáo trạng với Như Lai, không ngờ Phật Tổ nói rằng :

“Nhà ngươi cứ bình tĩnh. Việc hai người vòi lễ các ngươi ta đã biết rồi. Có điều kinh cũng không phải trao cho một cách dễ dàng, không thể lấy không được. Trước kia các Tỳ Kheo thánh tăng xuống núi cũng đem kinh này tụng hết một lượt cho nhà trưởng giả họ Triệu ở nước Xá Vệ, giúp cho nhà ấy người sống yên ổn, kẻ chết siêu thoát, thế mà chỉ lấy có ba đấu ba bơ vàng cốm của họ mang về thôi. Ta còn bảo họ bán kinh rẻ quá, con cháu đời sau lấy tiền đâu mà tiêu. Nhà ngươi tay không đến cầu, nên họ mới trao cho những quyển trắng tinh. Quyển trắng tinh là chân kinh không chữ, cũng là những kinh hay. Các ngươi là chúng sinh ở cõi Đông u mê ngu tối, lẽ ra chỉ nên trao cho những thứ đó thôi”.

Hai tôn giả lại dẫn bốn thầy trò đến dưới lầu ngọc gác báu, nhưng vẫn đòi Đường Tăng phải đưa tiền lễ vật. Tam Tạng không có gì dâng lên, đành phải bảo Sa Tăng lấy bát tộ vàng tía dâng lên. A Nan “hổ thẹn, mặt mũi nhăn nhúm, nhưng tay vẫn giữ chặt lấy cái bát tộ”.

Tình tiết này, trước nay đều bị người đời xem là ngòi bút trào phúng của Ngô Thừa Ân : ngay đến cả Thế giới Tây Thiên Cực Lạc cũng có chuyện tham ô nhận hối lộ. Thật ra, người tu luyện với mọi tâm chấp trước đều phải dứt bỏ mới có thể công thành viên mãn.

Tham luyến của Đường Tăng với cái bát tộ vàng, đó đã là có tâm tham tài ái vật, lại có nhân tình với vua Đại Đường trong đó, mà những thứ này vừa khéo lại là tâm mà người tu luyện phải trừ bỏ. Nếu như không thể trừ bỏ những tâm này, thì tâm hữu lậu, không thể nói đến chuyện công đức viên mãn được.

2/, Mọi quan nạn đều là an bài khéo léo của Thần Phật : Mỗi một quan mỗi một nạn trên đường lấy kinh mà thầy trò Đường Tăng gặp phải, đều là an bài khéo léo của Như Lai Phật Tổ và Quan Âm Bồ Tát.

Hoàng Phong quái là con chuột lông vàng đắc đạo dưới chân núi Linh Sơn của Linh Cát Bồ Tát. Hoàng Bào quái là Khuê Mộc Lang – một trong số nhị thập bát tú. Kim Giác Đại Vương, Ngân Giác Đại Vương là hai đồng tử Kim Ngân của Thái Thượng Lão Quân. Linh Cảm Đại Vương là con cá vàng được nuôi trong ao sen của Quan Âm Bồ Tát. Độc Giác Đại Vương là vật cưỡi của Thái Thượng Lão Quân.

Hoàng Mi Lão Quái là đồng tử lông mày vàng gõ chuông khánh của Phật Di Lặc. Thanh Mao Sư Tử quái, Hoàng Nha Lão Tượng quái là vật cưỡi của hai vị Bồ Tát Văn Thù và Phổ Hiền; Đại Bàng tinh là cậu của Phật Như Lai. Quan Âm Bồ Tát lợi dụng quan hệ nhân duyên giữa các sinh mệnh, vừa kết thúc nợ nghiệp giữa các sinh mệnh, lại giúp đỡ thầy trò Đường Tăng tu tâm trừ nghiệp, tu luyện viên mãn.

“Tây Du Ký” xây dựng trên văn hóa tu luyện bác đại tinh thâm trong văn hóa truyền thống Trung Quốc. Những tình tiết, nhân vật, đối thoại, thơ từ trong sách, toàn bộ đều có hàm ý thâm sâu, chứ không phải là những phóng túng nghệ thuật đơn thuần. Bởi vậy, “Tây Du Ký” xứng đáng là báu vật trong kho tàng văn học kim cổ đông tây, mãi mãi tỏa sáng đến ngàn đời. (theo Secretchina)

CẦU NGÓI THANH TOÀN XỨ HUẾ 

– Võ Quang Yến

Thời Thuộc địa, một công chức người Pháp ở Huế, ông Edmond Gras, chịu khó đi tìm xem cầu ngói Thanh Toàn (cầu mái ngói) cách xa thành phố khoảng 10km. Ông đi ngựa cùng với một viên chức địa phương, mất một buổi chiểu mà tìm không ra.

Tuy nhiên ông nhí nhảnh thuật lại trong tờ Đô thành Hiếu cổ BAVH (1917) cuộc hành trình thú vị. Trời hè nóng nhưng mát nhờ con đường đầy bóng cây uốn khúc trên bờ mương, lên xuống mỗi khi qua chiếc cầu tre lắc lư dưới chân ngựa.

Hai bên đường, làng xóm kín đáo núp mình sau các dãy hàng rào cao dày, những ngôi chùa hiu quạnh yên tĩnh dưới bóng cây tối sẩm. Thỉnh thoảng một lỗ trống trong bụi tre xanh để lộ ra một sân nhà quét dọn sạch sẽ quanh đống rơm xây đắp tươm tất, đàn gà con ríu rít bíu chân mẹ, chú heo đen kêu en éc trong rọ mây.

Trong một kiệt nhỏ, mùi hương thơm hoa sứ ngào ngạt như để át mùi phân trâu, phân bò. Một cậu bé trần truồng bất thình lình thấy chúng tôi, lấy roi đập đẩy đàn trâu sang môt bên như để dọn đường rồi nhảy xuống mương… Nhưng chiếc cầu thì vẫn không tìm ra vì như tuồng người dẫn đường cũng chưa khi nào lại viếng cầu !

Trời tối dần, cả hai lấy đò trở về. Trên nền trời đen thẩm, những đám cháy nhắc ông Edmond Gras nhớ đến những ngọn lửa Saint-Jacques ở quê Provence xa xăm của ông. Thì ra người nào đi xa cũng luôn ấp ủ trong lòng hình bóng quê hương của mình.

Ông đã trờ lại Thanh Toàn với cha Leopold Cadière, tổng biên tập tờ BAVH, lần nầy đi xe kéo và thấy được cầu. Thì ra cầu có thật : cột gỗ dài cao trên mặt nước, lợp mái ngói tráng men, hình cong trông từ xa như một con rồng uốn lưng. Trên cầu, những người rảnh rang dạo lượn chân không, học sinh đua thử thăng bằng trên các rầm kèo,… Ông không quên vẽ một bức tranh minh họa bài báo trong tương lai.

Cũng trong cùng tờ báo BAVH còn có hai bài viết về chiếc cầu Thanh Toàn của ông Công sứ Richard Orband, quan chức hành chính dân sự (cùng năm 1917) và của ông Hippolyte Lebreton Hiệu trương trường Quốc học, mười sáu năm sau (1933). Cả hai tác giả nầy đều cỏ miêu tả tỉ mỉ con đường từ Huế về cầu, kiến trúc cây cầu đồng thời lượt thuật lịch sử một kiệt tác hiếm có.

Ở miền Trung, hai chiếc cẩu có lối kiến trúc đặc biệt và giá trị nghệ thuật cao nhất Việt Nam là cầu Nhật Bản tức Chùa Cầu ở Hội An (lúc bấy giờ gọi Faifo) và cầu Thanh Toàn cạnh Huế. Cầu ngói Thanh Toàn có cầu kết thượng gia hạ kiều (trên nhà dưới cầu), là một tác phẩm kiến trúc nhỏ nhắn dài 16,85m (43 thước mộc), rộng 4,63m (14 thước mộc), gồm có bảy gian, gian giữa dùng để thờ cúng.

Hệ thống trụ đỡ sắp thành ba hàng, có chung một khối mộng để chống lún. Mỗi hàng có trụ bằng đá, sáu cột. Hai đầu là hai mố cầu, trang bị bảy hệ thống thống thoát nước. Hệ thống trụ đỡ nối liền các đầu mối cầu. Các thanh bê tông chay dọc từ hai đầu vào giữa dốc dần lên đến gần gian giữa thì nằm ngang.

Tư thế nầy khiến cả mặt cầu lẫn mái cầu trông như gãy khúc, nâng cổng giữa lên cao tạo một hình dáng duyên dáng, khỏe mạnh, đồng thời giúp ghe thuyền qua lại dễ dàng. Trên cầu, các hệ thống trụ cầu có dầm gỗ bắc ngang thành cơ sở dựng cột làm khung nhà. Mỗi vi có bốn hàng cột, giữa hai cột là lòng cầu làm lối đi lại. Từ hai bên cột cái trở ra là cột hiên nâng lên cao làm chỗ hóng mát. Bên ngoài có lan can chấn song để ngồi khỏi ngã. Mọi phần đều thông thoáng, chỉ có phần sườn cầu làm bàn thờ thì bịt kín. Các hệ thống xà thượng, xà hạ đều sắp xếp theo lối xà kép, xà trên nằm trên đầu cột, xà dưới di chuyển qua mộng cột.

Các bộ phận kiến trúc đều bằng gỗ, nhưng không chạm khắc hay trang trí mà chỉ gồm hai loại tiết diện tròn và vuông. Các nghệ nhân đã chạm khắc hình con vật với chủ đề tứ linh ở bộ mái cây cầu : long lân quy phụng. Về trang trí, trước đó chỉ có con giao long, sau này nhường chỗ cho con rồng ở hai đầu và đôi phượng chầu mặt trời ở giữa.

Sử sách ghi làng cũ mang tên Thanh Toàn từ hồi 12 vị tộc trưởng khai canh thế kỷ XVI. Những vị nầy phần lớn là người Việt quê gốc Thanh Hỏa theo chúa Nguyễn Hoàng vào Thuận Hóa (có tài liệu cho là chậm hơn), nhưng cũng có người Chăm đã sống tại chỗ từ trước. Cũng có thể hai dân tộc sống chung đụng với nhau, ngay cả trong cùng một tộc.

Qua thời Thiệu Trị (1841-1847) chữ Hoàng là tên húy ( ?) nên làng đổi tên thành Thanh Thủy. Làng đông người nên chia ra hai : Thanh Thủy Chánh và Thanh Thủy Thượng, tên giữ nguyên vẹn cho đến nay. Cầu ngói Thanh Toàn nằm ở làng Thanh Thủy Chánh thuộc xã Thủy Thanh, hượng Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Lịch sử cầu dính liền với tiểu sử bà Trần Thị Đạo. Bà người làng Thanh Thủy, cháu sáu đời một trong 12 vị khai canh làng. là vợ của Khâm sai, Chủ sự Hoàng cung, Tổng chỉ huy bộ binh và thủy binh, Tổng đốc của ba huyện Hương Trà, Phú Vang và Quảng Điền, Tứ Xuyên Hầu Phan Trọng Phiên, Nhất trụ triều đình. Vào thời nhà Trịnh đánh chiếm Phú Xuân,

Bà theo chồng ra bắc, nhưng được một thời gian bà trở về bản quán sinh sống. Bà không ngần ngại vượt qua bao mệt nhọc để theo đuổi cuộc hành trình cùng với đoàn của vua. Bà đã dũng cảm làm trọn ba nhiệm vụ của phái nữ. Bà còn để lại cho làng bà nhiều ân huệ mà người ta cần lưu niệm .

Làng Thanh Thủy có một con mương chảy qua, thường hằng ngày dân địa phương phải dùng thuyền, không thì mất thì giờ đợi đò ngang, rất vất vả khi trời đông giá, rét mướt. Mang một bụng dạ thương người, tấm lòng đức độ, thấu hiểu nỗi khó nhọc của người dân quê, bà bỏ tiền túi thuê làm chiếc cầu có mái lợp phòng khi trời mưa gió, cũng là nơi dừng chân của khách bộ hành tìm bóng mát những ngày nắng nóng.

Bà không dè cầu lại là nơi ngắm trăng, hóng gió. Tuy cầu được cấu trúc như một ngôi nhà bình thường nhưng lại là một ngôi nhà ấm áp khi đông về và mát mẻ khi nắng lên. Cầu cũng là nơi dạt dào tình thương nên trai thanh gái lịch trong vùng lại ca hát, giao duyên, hẹn hò, tình tứ.

Ở hai lối vào cầu có hai hàng câu đối chữ Hán được khắc lên trên cầu, nhưng thời gian làm hao mòn nên khó tìm ra câu nguyên vẹn : Kiệt cấu thiên thu truyền thắng tích, ngỏa kiều thắng cảnh cựu quy mô. Tạm dịch : Kiệt tác kiến trúc này là một di tích lưu truyền mãi nghìn năm sau, cầu ngói là một thắng cảnh làm theo quy mô cũ. Còn có câu: Tế xuyên mâu bửu phiệt, thanh thủy thắng hồng lâu. Tạm dịch : Qua sông là bè quý, nghỉ mát ấy gác son.

Căn cứ vào tờ Sắc của vua Lê Hiển Tông niên hiệu Cảnh Hưng thứ 7 thì cầu được xây vào năm 1776. Theo sử sách năm 1925 ghi lại thì vua Khải Định đã ban tặng cho bà Trần Thị Đạo tước vị “Dực Bảo Trung Hưng Linh Phù”. Vua còn hạ lệnh cho dân làng lập bàn thờ trên cầu để thờ bà và mong bà phù hộ độ trì cho dân làng.

Bên phần dân làng cũng không nề hà và lại sinh hoạt quanh cầu. Phía chân cầu là một vùng đất rộng, người ta đến đây để vui chơi và họp chợ. Giữa vùng đất còn có một cái đình không biết xây từ bao giờ, giao lưu buôn bán cũng không ai rõ từ hồi nào.

Người xưa kể lại chợ trước đây không lớn như bây giờ, buôn bán chỉ có những mặt hàng rất nhỏ như mớ rau, mớ cá, trái cau, lá trầu… Riêng tôi còn thấy trẻ chăn trâu, người đánh cá, hai bà già ngồi cạnh cầu bán cau trầu, thuốc lá trước khi có hội hè đình đám.

Trong rất lâu, người dân đánh cá, bắt cua đưa đến đây trao đổi với nhau qua thời gian tạo nên cái chợ làng. Dần dần đời sống phát triển, các mặt hàng xuất hiện ngày càng đa dạng hơn, hình thức buôn bán cũng trở nên to lớn hơn. Nhưng chợ luôn tự nhiên giới hạn và luôn còn mang nét quê Việt Nam.

Chính vì mang đậm nét bản thể thôn dã cho nên nơi đây được chọn làm hội chợ quê, vào những ngày lễ hội trong thời kỳ festival Huế. Cần phải nhận định, như việc mở mang cần thiết phố xá ngoại ô thành phố, cái bản sắc làng quê căn bản cuộc phát triển liệu rồi có bị hao mòn tiêu biến không.

Ngoài lễ hội chợ quê hai năm một lần thì vào ngày mồng ba tết nguyên đán hàng năm, nơi đây còn tổ chức cuộc đánh bài chòi. Đây là một trò chơi dân gian xưa mang đậm bản sắc và văn hóa người Việt Nam. Ngoài ra còn có một đám lễ nữa cũng được tổ chức linh đình không kém vào ngày rằm tháng tám, theo người dân địa phương thì là ngày giỗ của bà Trần Thị Đạo.

Họ rước bà từ đình ra cầu cúng lễ, rồi lại rước bà trở lại đình. Sau lễ, các trò chơi cho nhân dân trong làng như ca hát, hò giả gạo, đua thuyền trên mương và kéo co được tồ chức, gây thư giản cho dân quê suốt năm cặm cụi công việc.đồng án.

Yên Huỳnh tổng hợp chuyển tiếp

HIỆP SĨ MÙ “CHÉM GIÓ”

‘LÃO BÀ BÀ” LẠI TRỞ VỀ !

Các báo giấy và báo mạng ở VN vừa qua đồng loạt loan tin, “lảo bà bà” đã hơn 70 cái xuân xanh lại trở về Việt Nam với các đêm diễn từ Bắc vô Nam, mà lần trước ra về với những thất bại thảm hại, không kèn không trống.

Còn nhớ mấy năm trước đây, mấy tên ký giả cà phê, ký giả lá cải được bầu show tặng phong bao nên hí ha hí hửng chụp hình “đôi uyên ương” kẻ bỏ vợ người bỏ chồng” khi cả 2 qua Mỹ viết lách và hát hò. Mấy tên “nô tì ô-sa-ra” này còn nổ là ngoài Hà Nội, bà già sẽ hát… hỏng thêm một show ở Sài Gòn. Nhưng năm đó Sỡ VHTT ở Sài Gòn cấm cửa, làm ông K. (nguyên là một nhà báo đã và đang bị mất ghế tại một nhật báo nọ) gì đó quê một cục (do nghe đâu ông đứng ra bão lãnh cho lão bà bà trở về, do lý lịch lão bà bà này khi ở Mỹ đòi chống Cộng đến hơi thở cuối cùng !!!).

Năm rồi 2016 chắc ông K. này lại bão lãnh cho lão Bà, nên thành phố duyệt cho lão Bà hát trong một khách sạn, khán phòng chỉ nhỏ như một phòng trà chứ không phải nhà hát có cả ngàn chỗ ngồi)

Mấy tên “nô tì” loại “hậu sanh khả ố” này đâu biết rằng, dân Sài Gòn đã “cạch” mặt lão bà bà này, vì ai cũng biết lão bà đã hơn 70 đâu còn hơi hám để hát với hò. Sở dĩ lão bà hát ở xa Sài Gòn, do những nơi đây có nhiều dân trưởng giả mới muốn học làm sang, bỏ ra mấy chai mua vé vào cửa, để tỏ ra mình là người am hiểu âm nhạc… hiểu cách nghe nhạc nhép qua playback… ha ha ha !!!

SỰ THẬT VỀ LÃO BÀ BÀ

Rồi Hiệp Sĩ Mù nhớ đến một bài viết có tựa Con Quạ Đen Và Bồ Câu Trắng: Khánh Ly và Gloria Estefán của Lê Thy trên mạng. Do con Bồ Câu Trắng Gloria Estefán chẳng dính gì, nên Hiệp Sĩ Mù không trích ra đây, chỉ trích đoạn nói về Con Quạ Đen, vì khoái 2 câu : “Nữ hoàng xù show” “Ca sĩ nâng giá”. Vậy xin trích lại cho bà con được hiểu thêm. Dưới đây là bài trích về việc CON QUẠ ĐEN KHÁNH LY “nhổ ra liếm lại” (trích từ : Khánh Ly – Một đời tiến thoái lưỡng nan... của Bích Châu) :

Một cô bé mồ côi cha sống trong sự hà khắc của mẹ và bố dượng, cô bé đầy cá tính đã thoát ra khỏi nhà và sống tự lập bằng tiếng hát từ năm 16 tuổi. 17 tuổi đã lỡ lầm mang thai và lấy chồng, một người cô không hề yêu. Nhiều mối tình qua với 3 đời chồng 4 đứa con. Năm 1975, vượt biên sang Mỹ, những ngày đầu phải đi lau chùi nhà vệ sinh để có tiền nuôi con… Một cuộc đời lắm gian nan, dông bão…

Khánh Ly từng thú nhận mình chỉ học đến tiểu học, nhưng đi thi cũng rớt nên cuối cùng chẳng có bằng cấp gì trong tay, nhưng khi đọc những bài viết (?) của KL không ai nghĩ chị học không qua nổi lớp 6. Chị viết (?) hay, văn chương sáng rõ, nhất là những trang tự sự về cuộc đời mình.

Nhưng văn chương và đời thật nhiều lúc không hề song hành với nhau. Mặc dù cổ nhân vẫn khẳng định “Văn là người”, nhưng trên thực tế không hẳn như thế, nhiều nhà văn người đọc chỉ có thể ngưỡng mộ trên những trang viết, còn cuộc đời thật thì khó thể đến gần. Có lẽ người ta đã dồn tất cả tinh hoa của con người mình lên trang viết, bởi đó là ánh sáng hướng thiện, nhưng sống cho đúng với những điều mình viết ra thì không dễ chút nào. Có lẽ đó cũng là trường hợp của Khánh Ly.

Khi viết chị thật sự muốn sống tình nghĩa, muốn được tôn trọng, muốn trở thành một con người có nhân cách. Nhưng với cuộc đời thật nơi hải ngoại thì chị nổi tiếng là người tráo trở.

Nhiều thông tin từ báo chí, từ những lời chua chát của một số đồng nghiệp của chị ở hải ngoại cho thấy giữa Khánh Ly và những trang viết “Bên đời hiu quạnh” của chị gần như là hai con người biệt lập. Bởi vì ở hải ngoại Khánh Ly nổi tiếng với hai biệt hiệu khá phổ biến : “Nữ hoàng xù show” “Ca sĩ nâng giá”. Cụ thể:

“Năm 2002, một bà bầu show tên Nga tổ chức show tại Majestic, đã nhờ ông Duy Thanh mời Khánh Ly và Khánh Ly đồng ý với giá lên 3.000 USD. Nhưng 10 ngày trước show diễn Khánh Ly nói với Duy Thanh nâng giá lên 5.000.USD (?)”.

“Ngay cả với Trầm Tử Thiêng, cho đến phút cuối, theo di chúc của anh, gia đình đã không cho chị đến dự đám tang. Dư luận cho rằng, khi còn tại thế, nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng (trung tâm ASIA), người đã môi giới chị với một show diễn bên Phi-Luật-Tân (Philippines – người viết) hát cho đồng bào bị nạn nghe… chị đòi giá là $3.000. Mọi người đồng ý, trước vài hôm lên đường, chị đã đòi tăng giá lên $2.000 nữa. Trầm Tử Thiêng vì giữ thể diện, nên đã móc túi $2.000 trả cho chị. Sau đó Trầm Tử Thiêng không muốn nói chuyện với Khánh Ly nữa” Chỉ hai thí dụ cũng thấy rõ nhân cách con người cô ca sĩ nổi tiếng này.

Ai cũng biết khi sang Mỹ, Khánh Ly và chồng là Nguyễn Hoàng Đoan nổi tiếng là người chống Cộng hung hăng, chị đi hát có lúc mặc áo dài cờ vàng 3 sọc đỏ và câu nói nổi tiếng : “Tôi chỉ về nước khi không còn chế độ CS.”.

Nhưng năm 1996, Khánh Ly vẫn về Việt Nam và đã phát biểu hoàn toàn ngược lại : “Tôi rất hối hận, tôi muốn trong nước quên đi những lỗi lầm quá khứ của tôi. Tôi chỉ muốn về thăm quê hương như một người bình thường”.

Song khi trở về Mỹ, Khánh Ly lại tiếp tục tham gia vào các chương trình ca nhạc chống Cộng. Ngày 4-3-2000, Khánh Ly một mình về Việt Nam lần thứ hai, cũng với mục đích thăm gia đình. Gặp lại những nhà báo từng tiếp xúc, chị lại chữa thẹn : “Dưới sức ép của các phe nhóm, tôi phải hát cho các chương trình của họ. Nếu không sẽ bị coi là không xác định lập trường”.

Khi được hỏi cảm tưởng những ngày ở Việt Nam như thế nào, Khánh Ly trả lời : “Vui lắm, thoải mái lắm, hôm đi ăn với mấy người bạn tại nhà hàng Bạch Dương trên đường Lê Quý Đôn, nhiều người nhận ra tôi, yêu cầu tôi hát, và tôi đã hát liền một lúc 3 bài”

Thế nhưng, ngày 13/1/2004, tại Mỹ, Khánh Ly đã hô hào lập hội “Ái hữu ca nhạc” và kêu gọi tẩy chay nghệ sĩ trong nước ra hải ngoại biểu diễn (?). Chị đã từng viết, bày tỏ thái độ coi khinh nhạc sĩ và ca sĩ trong nước là chỉ có một giọng điệu giống nhau, không thể phân biệt được ai hát, đồng thời hết lời ca ngợi những ca sĩ thuộc thế hệ chị.

Nếu đúng như vậy thì việc gì chị phải lo sợ bị quên lãng mà kêu gọi Việt kiều hải ngoại tẩy chay. Và ngày 20/2/2004, tại khách sạn Capital Hilton – Washington D.C, trong một đại nhạc hội mang tên “Xin đừng quên tôi”, với vai trò người dẫn chương trình, Khánh Ly đã dúi vào tay Bằng Kiều lá cờ vàng 3 sọc đỏ, yêu cầu anh tỏ rõ thái độ để được “cộng đồng người Việt chấp nhận cho ở lại Mỹ”.

Một mặt chị bảo chị không về Việt Nam và không muốn hát ở Việt Nam, nhưng chị đã về hai lần. Và năm 2012, khi trong nước cho phép chị về diễn thì chị trả lời phỏng vấn đài BBC là trở về hát ở Việt Nam là niềm mơ ước của chị.

Trước đó chị lên án trong nước không có tự do khi kiểm duyệt bài hát: “Bất cứ ca sĩ nào cũng có quyền hát những nhạc phẩm họ yêu thích theo kiểu của họ. Không nên bắt người khác phải làm theo ý mình hoặc phải nghĩ như mình. Chỉ có Cộng sản mới như thế thôi” , nhưng khi trả lời BBC chị lại nói : “Phải có kiểm duyệt. Lỡ hát những bài người ta không cho phép thì phiền lắm. Nhưng mà nhiều khi tôi nghĩ nó cũng đúng. Mình vào nhà người ta thì chỉ được làm những gì người ta cho phép. Cái điều đó chẳng làm phiền gì mình hết. Tại vì nhiều khi cái mình thích chưa chắc là cái người ta thích”

Trả lời BBC là thế, nhưng sau đó người nhà Khánh Ly đã nói : “Một năm nay, ít nhất có 10 lời mời chính thức từ phía Việt Nam… Tuy nhiên, chúng tôi từ chối mọi lời mời rất hấp dẫn này. Vì chúng tôi không thể làm ngược lại những gì Khánh Ly đã từng tuyên bố trước đây”.

Thực ra, tất cả mọi sự bất nhất này chính là bi kịch của Khánh Ly, một bi kịch mà chị đã tự tạo ra mà không có cách nào thoát ra được. Ngay từ những ngày đầu ở Mỹ, chị đã chứng tỏ mình vượt hơn những ca sĩ khác trong phong trào chống cộng tại hải ngoại. Và chị đã thực sự nổi bật so với những ca sĩ thầm lặng khác. Chị viện mọi lý do để biện minh cho những việc làm, những lời tuyên bố của mình, “nhổ đó lại liếm đó”.

Vì vậy, báo chí trong nước gọi chị là con người tráo trở cũng rất đúng. Ngay cả biệt danh ca sĩ nâng giá, xù sô ở nước ngoài cũng nằm trong hệ lụy này. (Hết trích )

Còn theo Hiệp Sĩ Mù, bởi ở Hoa Kỳ ai cũng đã chào thua “lão bà bà”, vừa già vừa hết thời, nay chỉ có thằng bầu show ca cẩm dao búa gì đó trong nước hám cái danh… thiu ấy, chịu đấm ăn xôi chịu bỏ tiền mời “lão bà bà” về hát… hỏng, cho mọi người thấy ta là đại gia trong làng showbiz, dám bỏ tiền tổ chức show, nhưng rồi đây cũng chẳng có ai khen ! Ô hô !!!

CHUYỆN VỀ LÃO BÀ BÀ KHÁNH LY

Có lẽ “lão bà bà” U70 Khánh Ly đã đọc được bài “Ôi, thấm thía, tuổi già ở Mỹ” (xin xem dưới bài chém gió này) , nên “buồn tình đời” đang muốn “rửa chân” chạy theo một số đồng nghiệp, đã và đang về lại Sài Gòn sinh sống trong chuỗi ngày còn lại. Có lẽ Khánh Ly cũng đã thấy hình ảnh của Thái Thanh đang an dưỡng trong Viện dưỡng lão vì căn bệnh “mất trí nhớ” ! Thật khổ, dù Ý Lan còn đó, gia cảnh bà với 5 đứa con chẳng nghèo gì, nhưng vì sinh kế mà chúng nó phải đưa mẹ vào đây. Khánh Ly cũng sợ sẽ có một ngày như thế. Ở Mỹ theo nhiều người nói, đa số bị Mỹ hóa nên không có tình người, họ sống thực dụng nhiều hơn.

Nhưng cách Khánh Ly muốn trở về Sài Gòn như các đồng nghiệp không thật nhún nhường khiêm tốn, trái lại huyênh hoang tính tự cao tự đại, “lão bà bà” muốn “ngày trở về” của mình như một Nguyễn Cao Kỳ hay một Phạm Duy trước đây được người Hà Nội trọng vọng, dù họ là kẻ đã bỏ bom Bắc Việt và là người “diệt Công” trong chiến dịch Bình Định Nông Thôn” vẫn được mọi người vỗ tay cho “ngày trở về” đó. Nên bà bà đã diễn 2 xuất ở thủ đô trung tâm chính trị này cốt để mọi người… nhìn ngó thấy một bà già “phản tỉnh” mà “hồ hởi phấn khởi” vỗ tay đón chào như đã đón chào ông Kỳ ông Duy.

Có lẽ Khánh Ly nghĩ mình cũng có một vai trò “lớn lao” trong sự nghiệp chống Cộng khi qua Mỹ sau ngày 28/4/1975, và nay muốn “tung cánh chim tìm về tổ ấm”, sẽ được mọi người tôn sùng là một ca kỹ hạng VIP ? Tối thiểu cũng phải sánh ngang anh chàng nhạc sĩ họ Trịnh, sau này cũng sẽ có tên đường !!!? Nhưng “lão bà bà” đã thất bại thãm não ở cả 3 xuất diễn vừa qua (2 Hà Nội, 1 Đà Nẵng), và hiểu rằng lão bà bà chỉ là thứ “rác” trong con mắt của mọi người Việt Nam hiện nay mà thôi.

Hiệp Sĩ Mù (chém gió)

KHU DƯỠNG LÃO TUỔI GIÀ Ở MỸ

Người Việt có một câu nói : Mỹ là thiên đường giới trẻ, địa ngục giới già. Nay tôi đã vào cái tuổi giữa 70, câu nói này thật là thấm thía. Mỹ có tất cả những sản phẩm dành cho thanh thiếu nhi : đồ chơi, phim ảnh, máy chơi điện tử thính thị, khu giải trí có chủ đề (theme parks).

Còn đối với người già, thì chỉ có sự cô lập và nỗi cô đơn. Căn bản nếp sống của người Việt dựa vào gia đình, cộng đồng, và khi ta mất những cái đó, ta mất đi một phần lớn cái tôi.

Khi còn sống ở Việt Nam, tôi không bao giờ nghĩ đến việc sinh sống tại một nơi nào khác ngoài quê hương. Ta sống và chết nơi tiền nhân đã sống và đã chết. Ta có thân nhân, giòng họ; ta có gia đình, có những miếu đền.

Một khi ta đã quen miền đất với mồ mả tổ tiên, ta sẽ không còn sợ tử thần và cái chết. Nhưng tại Mỹ, lối sống cũ của chúng ta không còn nữa. Chúng ta bị buộc phải ra đi khi cuộc chiến kết thúc vào năm 1975, và chúng ta đã sống xa xứ từ lúc đó. Ngày nay, bạn bè và thân nhân của chúng ta tản mạn khắp nơi trên thế giới.

Tại Mỹ, càng già càng mất mát nhiều – bạn bè, thân nhân, trí nhớ, khả năng di chuyển, và ý nghĩ của chính mình. Chuông điện thoại kêu. Tôi nhấc ống máy. Đây là bà tên-này-tên-nọ ở Los Angeles. Bà mắc bệnh tiểu đường và mới bị cưa chân. Rồi chuông điện thoại lại reo nũa : Ông tên-ni-tên-nớ ở Georgia bị ung thư phổi, chỉ còn sống khoảng vài tháng.

Ở Việt nam, chúng tôi đều là bạn thân. Nhưng với cái tuổi đời chồng chất như tôi, tôi làm sao đến thăm họ được khi họ hàng ngàn cây số cách xa? Làm sao ta tưởng tượng được đến việc gọi điện thoại cho người bạn thân khi họ nằm chờ chết trong bệnh viện, để nói lời xin lỗi là không thể tận mình đến viếng thăm được lần cuối. Ấy vậy, tôi làm điều này mỗi tháng, buồn lắm.

Tôi và chồng tôi, chúng tôi dự định đi một chuyến du lịch Âu châu vào kỳ hè tới đây. Chuyến đi này là chuyến đi cuối cùng, để nói lời giã biệt thân nhân bè bạn. Chúng tôi biết là sau chuyến đi này, chúng tôi sẽ không đi đây đi đó được nữa vì sức khỏe đã kém, sẽ không thấy mặt họ nữa. Tôi gần như không bước xuống được cầu thang nhà vì đầu gối chân rất đau. Nhà thì đã bán, giờ thì chúng tôi ở trong một chung cư có thang máy vì đó là điều kiện duy nhất mà chúng tôi có thể sống độc lập không nhờ vả đến ai bây giờ.

Điều mà tôi quan tâm nhất là trí nhớ suy sụp rất nhiều. Tôi là người giữ gia phả của giòng họ, nhưng tất cả đều nằm ở trong đầu. Biết ai liên quan với ai như thế nào trong họ là nghề đặc biệt của tôi, người con gái trưởng trong nhà.. Nhưng không một đứa con nào của tôi biết được những mối dây liên hệ gia đình trong gia tộc, ngay cả đến những người em của chính tôi. Không có tôi, họ hàng thân thích sẽ trở thành kẻ xa lạ nếu tình cờ gặp nhau trên đường phố. Tôi có thể nhớ đến được những bà con cô dì chú bác ba đời của gia đình bên tôi và của cả bên chồng. Tôi phải viết xuống trước khi trí nhớ tôi lụt hết.

Thỉnh thoảng vào buổi sáng khi thức dậy, tôi lặng nhìn cây cối ngoài phố và tự hỏi tôi đang ở nơi nào. Đôi lúc, tôi đi sang khu chung cư kế cận, nơi có một số mèo hoang, và cho chúng ăn những thức ăn thừa. Khi tôi cất tiếng gọi, chúng nhận ra giọng nói của tôi và bổ xua lại. Bây giờ, chúng là những niềm vui nhỏ của tôi.

Đương nhiên những ngày hạnh phúc nhất là những ngày con cháu đến thăm. Nhưng chúng cũng có đời sống riêng, thỉnh thoảng chỉ đến chơi được một lúc rồi về, tôi làm gì cho hết những khoảng thì giờ trống trải sau đó?

Mẹ tôi, bà mất năm bà 97 tuổi, và mẹ chồng tôi, qua đời lúc 95 tuổi; cả hai người có sống chung trong một khu dưỡng lão nhiều năm. Tôi thường đi xe buýt đến thăm hai bà mỗi ngày, ngay cả khi còn đi làm. Từ lúc đó tôi đã biết cái thảm não của người già trên đất Mỹ, ngay khi tôi còn trẻ trung mạnh khỏe. Các nhân viên điều dưỡng ở đó thường nói với tôi là hai bà có phước lắm, thường có được con cháu đến thăm.

Tôi trả lời: “Đó là lối sống của người Việt Nam”. Còn những người già khác, con cháu họ ít đến. Tôi có nhớ một số bà lão, ngồi trên những chiếc xe đẩy, ngóng trông con cháu hay người thân, ngày này qua ngày khác, nhưng chẳng thấy ai. Có cả một bà cụ, cụ còn sống lâu hơn những người con trai; mỗi ngày bà vẫn ngồi chờ trông mong hình ảnh người con trai bước qua khung cửa. Thật tội nghiệp khi người ta sống dai như vậy trong sự cô đơn!

Ở xứ Mỹ này, tuổi già đúng là tuổi lỡ thời; cả hai đều không được người ta kính nể hay cho một chút gì quan trọng. Ở quê nhà, các ông già bà lão thì được nể vì nhất, vì họ là những người chia xẻ túi khôn cùng kinh nghiệm cho những người đi sau. Điều đó không có ở đây. Không ai muốn nghe tiếng nói của người già. Họ cảm thấy bị cô lập ngoài vòng ranh giới của con cháu Mỹ hóa của họ. Chúng cười vang về nhiều thứ mà tôi không hoàn toàn hiểu được. Mỹ đúng là một quốc gia của giới trẻ hơn là giới già như tôi.

Vào những buổi chiều mùa đông, tôi ngồi nhìn những hàng cây trơ trụi lá, tâm hồn lạc lõng. Tôi nghĩ về cái thế giới mà tôi đã biết, nay đã bay xa, như làn khói hương trầm. Tôi nghĩ đến cố hương, đến những mùa lễ Tết ở Saigon, đến những đám cưới, đám hỏi, đến những chuyến du lịch, những lần tíu tít họp mặt gia đình, ai ai cũng có mặt, con nít chạy quanh, người lớn ngồi nói chuyện đời chuyện gẫu, đàn bà con gái quây quần chung lo việc bếp nước. Và tôi cảm thấy rất khao khát những ngày quá khứ xa xưa. (theo Nguyễn Đức Nguyên chuyển ngữ)

TÂM TRẠNG NGƯỜI GIÀ VIỆT NAM Ở MỸ

Cụ Bùi Gia Tưởng, 81 tuổi, hiện cư trú tại Houston, Texas, viết trong bài này: Bộ sách “Viết về nước Mỹ” của hàng ngàn tác giả góp phần gồm có 12 quyển, mỗi năm ra một quyển, chẳng biết tuổi già tôi còn sống được để đọc quyển thứ 12 hay không vì ngày đó còn quá xa ! Lời cụ Bùi là sự thúc dục, mong cho số người viết nhiều hơn, bộ sách chung xong sớm hơn, mỗi năm hai ba bốn cuốn… Sau đây là bài viết của cụ Bùi.

oOo

Tuổi già ở xứ Cờ Hoa này thật cô đơn và buồn tẻ. Nhiều gia đình bà bất hạnh đi trước chỉ còn lại có một mình ông, ngày nào cũng đi đi lại lại quanh quẩn trong nhà làm bạn với sách báo việt ngữ và cái radio phát thanh tiếng Việt từ mờ sáng đến sẩm tối. Gần đây có thêm đài Tiếng Nước Tôi phát thanh 24/24. Những đêm thao thức mất ngủ có được một bạn đường bên cạnh thật đỡ buồn.

Buồn nào bằng cảnh quá cô đơn

Con phải đi làm để sống còn

Nếu mãi gần nhau thì “lãnh đủ”

Ân đành chịu vậy biết sao hơn !

Cuộc sống mới ở đây vật chất và tiện nghi quá đầy đủ, nhưng cảnh già thật buồn tẻ bạn tri âm không có, làng giềng cũng không, tiếng Mỹ chỉ biết được có 2 tiếng “ô-kê và Bai” của đóng then cài, ít khi có dịp ra ngoài, làm sao không buồn cho được!
Ở cái tuổi “Cổ lai hy” này đâu có sợ chết, vì sống đây là kiếp “dư sinh” có giúp ích được gì cho xã hội.

Ngày ngày tôi luôn cầu nguyện ơn trời phù hộ cho tôi được “ra đi” trong tích tắc để đỡ khổ bản thân và khổ cho bầy con thân yêu. Mỗi ngày tôi thường canh giờ ra trước mặt nhà mở thùng thơ. Hôm nào nhận được thơ của bà con thân nhân ở Việt Nam là tôi mừng hết lớn.

Ôi không gì đẹp bằng quê hương nơi chôn nhau cắt rốn và rất có nhiều kỷ niệm.
Thỉnh thoảng có điện thoại reo một vài ông bạn già gọi đến than thở nỗi buồn, thậm chí có vài ông muốn trở về. Tôi luôn luôn trấn an các bạn là “Như thế và không thể khác được, gặp thời thế thế thời phải thế”.

Một thời gian rồi các bạn cũng quen dần với nếp sống mới, những cú điện thoại sau có nhiều bạn đã cười giòn tan, không còn than than thở thở như trước nữa.
Sanh, lão, bệnh, tử là bốn thời kỳ của một đời người. Riêng tôi tới thời kỳ thứ ba rồi, đã gần đến lúc “Mắt mờ chẳng thấy” “trông trông” mãi “Tai điếc không nghe” “thử thử” hoài.

Cái ngày đó nhất định sẽ đến và phải đến không ai tránh khỏi. Lúc ấy điện thoại nghe không còn nghe được, mắt thì mờ không thấy rõ để bấm số gọi các con đang làm việc ở sở làm. Đôi khi chợt nghĩ đến mà rùng mình, lo lắng đau lòng, buồn tủi đến nỗi không cầm được nước mắt.

Ôi đời đúng là một bể khổ, tuổi càng cao càng thấy thật thấm thía. Đôi khi liên tưởng đến vua Quang Trung một thiên tài quân sự đã oanh liệt thắng trận Đống Đa, chỉ có 5 ngày mà đuổi được 150,000 quân Thanh xâm lược. Nếu Ngài không mất sớm chắc thừa thắng Ngài đã đòi lại được hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây vốn là lãnh thổ của ta. Lúc ấy, nước nhà được độc lập phú cường dưới sự lãnh đạo tài ba của Ngài, thì làm gì ngày nay con cháu của Ngài hàng triệu người phải sống lưu vong, giặc Pháp cũng không có cơ hội đô hộ dân ta suốt 80 năm ròng rã và dân ta đâu có nghèo khổ lầm than như bây giờ.

Hôm nay tôi viết bài dự thi “Viết về nước Mỹ”. Mặc dù biết “lão lai tài tận” nhưng tôi cũng cố gắng viết “trối già” để tả cái tâm trạng đau khổ của một người sống cô đơn nơi quê hương thứ hai này, một nước Mỹ giàu mạnh, văn minh và dân chư bậc nhất thế giới đã có lòng nhân cưu mang và giúp đỡ tận tình cho những dân tỵ nạn đau khổ trong đó có tôi bằng những tuổi già hàng tháng có tiền già, rủi đau ốm có medical, khám bệnh mua thuốc không tốn tiền. Nói chung là người già được chính phủ nuôi cho đến chết.

Tôi rất cám ơn lòng bác ái vô biên của nước Hoa Kỳ, vì tự thấy bản thân mình trước đến giờ đã đóng góp được gì cho xã hội Mỹ, để được hưởng cái ân huệ to tát đó. Bộ sách “Viết về nước Mỹ” của hàng ngàn tác giả góp phần gồm có 12 quyển, mỗi năm ra một quyển, chẳng biết tuổi già tôi còn sống được để đọc quyển thứ 12 hay không vì ngày đó còn quá xa!

Lời quê chắp nhặt được ít trang giấy thân gởi các bạn già cùng cảnh ngộ gọi là một chút tình nhỏ mọn này. (theo Bùi Gia Tưởng)

Lan caysu chuyển tiếp

NGƯỜI NHẠC SĨ VỚI 34 NGƯỜI TÌNH…

NHẠC SĨ Y VŨ TỪNG ĐƯA

34 NGƯỜI TÌNH…. ĐI LẤY CHỒNG  

Sáng tác các bài “Tôi đưa em sang sông” – “Ngày cưới em”…

Nhạc sỹ của nhiều ca khúc nổi tiếng chia sẻ về các cuộc tình của ông. Ở độ tuổi 75, ông đã từng trải qua hàng chục mối tình. Ông là một nhạc sĩ đa tình và hiện người vợ của ông là người tình thứ 35 trong cuộc đời. Đối với những người yêu nhạc, nhạc sĩ Y Vũ không còn là một người quá xa lạ.  Y Vũ tên thật là Trần Gia Hội, sinh năm 1942 tại Hà Nội và là em trai ruột của nhạc sĩ Y Vân.

Ông cho ra đời rất nhiều ca khúc khiến biết bao con tim phải thổn thức vì những câu chuyện đời tư mà chính Y Vũ lồng ghép vào trong ấy : “Kim”, “Điên”, “Hận”, “Ngày không em”, “Ngày cưới em”…

Và đặc biệt nhất có lẽ chính là ca khúc “Tôi đưa em sang sông”, ca khúc vẫn sống mãi cùng với thời gian với những ca từ da diết : “Tôi đưa em sang sông, chiều xưa mưa rơi âm thầm / Để thấm ướt chiếc áo xanh, và đẫm ướt mái tóc em / Nếu xưa trời không mưa, đường vắng đâu cần tôi đưa / Chẳng lẻ chung một lối về mà nở quay mặt bước đi…”

Tại buổi quay hình “Ca sĩ bí ẩn” mới đây, nhạc sĩ Y Vũ tiết lộ người con gái trong ca khúc “Tôi đưa em sang sông” chính là người mà ông luôn nhức nhối và khó quên nhất. Dù Y Vũ đã trao trọn tình cảm, sự yêu thương cho người yêu nhưng cô gái vẫn quyết sang ngang với người đàn ông khác tốt hơn và có cuộc sống đầy đủ hơn. “Cô người yêu đi lấy một ông bác sĩ rất giàu”, ông nhớ lại. Vì quá đau lòng, ông đã viết ca khúc “Tôi đưa em sang sông”.

Nhạc sĩ Y Vũ chia sẻ thêm, sau đó 6 tháng, ông lại nhận được thiệp hồng mời đến dự đám cưới của người yêu cũ. Ông ngồi trong sảnh cưới chỉ có một mình với tâm trạng buồn, lẻ loi. Sau khi về, vì quá tủi thân, nhạc sĩ đã cho ra đời ca khúc “Ngày cưới em” để nói lên tâm trạng cô đơn lúc bấy giờ của mình.

“Khi người yêu đi lấy chồng, tôi được mời đến dự đám cưới. Ngồi với người khác mà cảm thấy như chỉ có một mình. Sau đó về, tôi tủi thân viết tiếp bài “Ngày cưới em” nói về tâm trạng cô đơn trong ngày cưới”, ông nói.

Nhạc sĩ Y Vũ thừa nhận, người nghệ sĩ thường đa tình và khó quên. “Người nghệ sĩ, nhạc sĩ rất đa tình, có thể mỗi bài viết cho một người yêu. Bài “Kim” là tôi viết cho một cô vũ nữ tên Kim, bài “Điên” là tâm trạng thất tình, giống như mộng du, đêm về đi lang thang phải có cậu em dẫn về nhà…”, ông nói.

Nhắc đến bài “Kim”, những người mê nhạc của ông còn nhớ vào năm 1969, Y Vũ làm việc ở Vũng Tàu, tối tối ông thường đi chơi ở vũ trường Blue Star, quen rồi yêu một vũ nữ tên là Kim. Cô gái có hoàn cảnh nghèo này bị bệnh tim. Ðể khích lệ tinh thần Kim, Y Vũ viết bài “Kim”.

Bài hát lập tức nổi tiếng và được ca sĩ Túy Phượng – nữ hoàng nhạc twist lúc đó hát trên cả đài phát thanh lẫn truyền hình. Khoảng một năm sau thì cô gái mất, Y Vũ đau buồn viết tiếp bài “Những tâm hồn hoang lạnh” riêng tặng cho kiếp vũ nữ…

Hiện giờ, ở cái tuổi thất thập, vị nhạc sĩ nhìn lại chặng đường đời ông đã từng đưa 34 người tình “sang sông”, cho đến tận người thứ 35 là người vợ lúc này của Y Vũ mới chính là chuyến đò cuối cùng và ở lại mãi với nhạc sĩ cho đến cuối đời.

35 lần yêu thì 34 lần dở dang, tuy nhiên theo thời gian, những kỷ niệm dù đau thương, không còn nguyên vẹn vẫn được lưu giữ trong gia tài là những ca khúc được ông nâng niu và được khán giả yêu thích cho đến tận bây giờ…

Tôi Đưa Em Sang Sông

https://youtu.be/vGfHJpWeql8

Tôi đưa em sang sông, chiều xưa mưa rơi âm thầm

Để thấm ướt chiếc áo xanh, và đẫm ướt mái tóc em

Nếu xưa trời không mưa, đường vắng đâu cần tôi đưa

Chẳng lẻ chung một lối về mà nỡ quay mặt bước đi

Tôi đưa em sang sông, bàn tay nâng niu ân cần

Sợ bến đất lấm gót chân, sợ bến gió buốt trái tim

Nếu tôi đừng đưa em, thì chắc đôi mình không quen

Đừng bước chung một lối mòn, có đâu chiều nay tôi buồn

Rồi thời gian lặng lẽ trôi,

Đời tôi là cánh chim đi khắp phương trời

Mà đời em là ước mơ,

Đẹp muôn ngàn ý thơ, như ngóng trông chờ

Hôm nao em sang ngang, bằng xe hoa thay con thuyền?

Giờ phút cuối đến tiễn em, nhìn xác pháo vướng gót chân

Gót chân ngày xa xưa sợ lấm trong bùn khi mưa..

Nàng đã thay một lối về, quên cả người trong gió mưa….

Yên Huỳnh chuyển tiếp

– Những Tình Khúc buồn của NS Y Vũ trước 75 (1:05’)

https://youtu.be/f239we0zEd8

1/- TÔI ĐƯA EM SANG SÔNG – Vũ Khanh 6:07 2/- HẬN – Thanh Lan
11: 25 3/- TÌNH MÌNH NGANG TRÁI – Khánh Ly 16:20 4/- CHUYỆN TÌNH ĐẦU – Mỹ Huyền 21:05. 5/- DẤU CHÂN QUA – Khánh Ly 24:14 6/- NGƯỜI XA TÔI – Giao Linh 28:20 7/- ĐIÊN – Nguyễn Hưng 33:20 8/- NGÀY MAI KHÔNG CÓ ANH – Giao Linh 38:40 9/- NHỮNG TÂM HỒN HOANG LẠNH – Thanh Thúy 44:08 10/- TIẾNG HÁT VỀ ĐÊM – Trúc Mai 49:20 11/- CHIỀU RU MẶT TRỜI – Lệ Thu 52:25 12/- NGÀY CƯỚI EM – Đan Nguyên 57:00 13/- TÔI TIỄN NGƯỜI TÔI YÊU – Anh Khoa 1:01:57

Quế Phượng chuyển tiếp

THƠ PHỔ NHẠC : “THÔI”

Nguyễn Long & Y Vân

Chào các bạn,

Hôm nay mình giới thiệu đến các bạn thi khúc “Thôi” của Thi sĩ/Tài tử điện ảnh Nguyễn Long và Nhạc sĩ Y Vân. Nhạc sĩ Y Vân là một nhạc sĩ tiêu biểu của nền Tân Nhạc Việt Nam từ cuối thập niên 1950 đến 1990. Nhiều sáng tác của ông đã trở thành bất hủ và vẫn được trình diễn bởi những ca sĩ hiện thời.

Nhạc sĩ Y Vân tên thật là Trần Tấn Hậu, sinh năm 1933 tại Hà Nội (quê gốc ở Thanh Hóa). Thuở niên thiếu, ông từng theo học nhạc với GS NS Tạ Phước và cũng đã sáng tác từ rất sớm. Mồ côi cha, nhà nghèo, gia đình ông phải dắt díu nhau nương náu trong một túp lều ở ngõ chợ Khâm Thiên. Chính vì thế, ông rất thương mẹ và các em, ông phải đi dạy đàn để lo cho gia đình.

Năm 1952 ông vào Nam, tiếp tục sáng tác, chơi nhạc, hòa âm và dạy nhạc, ngoài ra ông còn viết sách dạy nhạc và đàn guitar. Ông là người đi tiên phong cho dòng Nhạc Trẻ với những bài hát có giai điệu Chachacha, Disco, Twist như: “Sài Gòn”, “Ảo Ảnh”, “60 Năm Cuộc Đời”, “Thôi”.

Thời gian sau năm 1975, ông tham gia Đoàn Ca Nhạc Hương Miền Nam, rồi nhận viết nhạc cho nhiều nguồn: viết nhạc phim, nhạc nền cho sân khấu… Nhạc sĩ Y Vân có 2 đời vợ và 8 người con. Ông mất vào ngày 28 tháng 11 năm 1992 (tức ngày 05 tháng 11 năm Nhâm Thân – âm lịch). Hưởng thọ 60 tuổi (đúng như dự đoán của ông trong bài “60 Năm Cuộc Đời”)

Y Vân có nghĩa là “Yêu Vân”, tên của tiểu thư Tường Vân – người yêu đầu tiên của ông. Ông chọn tên này từ khi chuyện tình giữa ông và tiểu thư Tường Vân tan vỡ. Một số ca khúc của ông đã được viết với tâm sự mất mát này như: “Đò Nghèo”, “Ảo Ảnh”, “Nhạt Nắng”…

Sự nghiệp sáng tác của ông có khoảng trên dưới 200 tác phẩm. Tác phẩm “Lòng Mẹ” của ông rất nổi tiếng và được xem như một trong những ca khúc kinh điển tiêu biểu, sâu sắc và thiêng liêng nhất về tình mẹ. Tác phẩm “Lòng Mẹ” được ông sáng tác vào năm 1952. Từ đó đến nay, bài hát đã được nhiều ca sĩ thể hiện, vì thế nó là một bài hát rất quen thuộc với người Việt Nam từ ngày nó ra đời cho đến ngày nay.

Ngoài “Lòng Mẹ”, các ca khúc còn lại của ông trong phạm vi bài này cũng nổi tiếng không kém và thường được các ca sĩ nhiều thế hệ tiếp tục trình diễn cho đến giờ.

Đồng thời ông còn cùng Lan Đài đồng sáng tác hai quyển sách Tự Học Tây Ban Cầm cũng rất phổ biến:

– Tự học Tây Ban Cầm (nhạc thời trang – nhạc Jazz)

– Tự học Tây Ban Cầm (phương pháp Flamenco)

Thi khúc “Thôi” (Thi sĩ/TTĐA Nguyễn Long và Nhạc sĩ Y Vân)

Thôi em đừng khóc nữa làm gì

Kỷ niệm sầu ân tình cũ xa xưa

Thôi em đừng khóc,

Em đừng khóc, đừng khóc nữa giọt lệ sầu

Làm sao xóa hết tâm tư

Thôi em đừng tới nữa làm gì

Đừng để lòng se lại khúc yêu đương

Thôi em đừng tiếc

Em đừng tiếc, đừng tiếc nữa

Đừng để lòng anh trở lại kiếp u buồn

Ôi, cuộc đời đầy phong ba giữa lòng người

Lệ sầu chia ly buồn tê táI

Ly rượu này đầy thương đau tấm hình hài

Thu man mác buồn mùa thu ơi

Thôi em đừng nhắc nữa làm gì

Từng nẻo đường in hình bóng chung đô

Thôi em đừng nhớ

Em đừng nhớ nữa chuyện của mình

Kiếp nay đành lỡ duyên rồi

Thôi đôi bờ vai đừng rung động

Đã hết rồi còn khóc nữa chi em …

Đã hết rồi còn khóc nữa chi em…

https://www.youtube.com/watch?v=QiUcuGlLApQ
https://www.youtube.com/watch?v=cE8TG_yTF-o
https://www.youtube.com/watch?v=WuNl0yXszv8
https://www.youtube.com/watch?v=hgTNgITGWGA
https://www.youtube.com/watch?v=St9IVl0qHAk
https://www.youtube.com/watch?v=4uPxqT12P6o

Thi sĩ / Đạo diễn điện ảnh Nguyễn Long.

Vĩnh biệt anh Long… “Đất” của tụi em

Lại một người bạn thân nữa của tôi vừa mới ra đi, đó là anh Nguyễn Long, một nam tài tử điện ảnh và kịch nghệ lão thành của sàn quay và sân khấu Việt Nam . Không thể ngờ được là chỉ trong năm 2009 mà cả ba người tuổi tác rất chênh lệnh nhưng lại cùng rủ nhau đi một lượt. Sau Trường Kỳ, Tùng Giang giờ đến Nguyễn Long, dù trong một quẻ tự bói, anh Long cho biết sẽ mãn phần vào năm 2010. Như vậy anh chỉ đoán sai có đúng 2 tháng mà thôi.

Nguyễn Long lớn hơn tôi 10 tuổi, nhưng lúc nào cũng xem tôi như bạn và vẫn thường đòi làm “con nuôi” của Bố Mẹ tôi. Anh được tất cả các anh chị em trong gia đình tôi yêu quý và đôi khi cũng có những cuộc “đụng độ” nhau như “anh em trong nhà” khiến Bố tôi phải la rầy cả bọn. Lúc đó thấy anh Long thật dễ thương, khi vừa cúi đầu vừa nói “con xin lỗi Bố”!

Anh ra đi hôm nay để lại niềm thương tiếc cho gia đình, cho chị Nga và các cháu cũng như anh chị em chúng tôi. Nhưng tôi tin rằng Bố Mẹ tôi sẽ rất vui khi gặp lại anh nơi chín suối, nhất là Trường Kỳ, Tùng Giang và dĩ nhiên sư phụ của anh là “quái kiệt” Trần Văn Trạch cùng nhiều nghệ sĩ khác.

Vĩnh biệt anh Long… “Đất” của tụi em. (Nam Lộc – Mùa Thu California, 2009)

Sau đây là đôi dòng tiểu sử của tài tử Nguyễn Long

Nguyễn Long tên thật là Nguyễn Ngọc Long, sinh ngày 2 tháng 3 năm 1934 tại thành phố Hải Phòng. Năm 1945 học sinh của trường Hoàng Diệu. Năm 1946 gia nhập Ban Văn Nghệ Thiếu Niên Hà Nội. 1947 Ban Thiếu Niên Tuyên Truyền Chiến Khu 3.

Vào Sài Gòn năm 1949 và chính thức bước lên sân khấu kịch nghệ và điện ảnh miền Nam Việt Nam năm 1955 và xuất hiện trong một số phim do VN, Hoa Kỳ và Phi Luật Tân hỗn hợp thực hiện. Khởi sự viết kịch và chuyện phim từ năm 1957 và đã đóng vai chính trong gần 70 vở kịch ngắn, dài trên sân khấu và truyền hình VN.

Năm 1961 tự sản xuất, đạo diễn và đóng vai chính trong các bộ phim nổi tiếng như Mưa Lạnh Hoàng Hôn, Nước Mắt Đêm Xuân, Thuý Đã Đi Rồi, Anh Yêu Em, Hè 72 và OK, OK…! Tổng cộng 14 cuốn phim.

Vượt biên sang định cư tại Mỹ năm 1981, tiếp tục sản xuất, đạo diễn các tác phẩm điện ảnh khác như Mây Xám Chiều Hoang, Như Là Khởi Đầu, Biển Khổ v..v… Đến năm 1984 xoay ra làm báo và phát hành tuần báo Kịch Ảnh. Năm 1992 khởi sự viết sách, bắt đầu bằng tập tài liệu nghiên cứu có tên là “Chủ Nghĩa Tư Hữu”, rồi đến bộ sách “Việt Nam 94” ghi lại ký ức 60 năm lịch sử VN từ 1934 đến 1994. “Việt Nam 95” ghi lại cuộc hành trình của tác giả từ Lạng Sơn đến Cà Mâu. “Việt Nam 1996”, vòng quanh nước Mỹ và sau cùng là “Việt Nam 66 Năm Nhạc, Kịch và Điện Ảnh: 1937 – 2002”, ghi chép lại tiểu sử của hàng trăm nghệ sĩ, đạo diễn, tài tử VN. Đặc biệt trong phần ghi chú tác giả viết rất rõ như sau:

“Những cuốn sách do Nguyễn Long viết (11 cuốn) đều là Bản Quyền Việt Nam . Bất luận người Việt Nam nào cũng có quyền tự do sử dụng một cách miễn phí (free). Được phép trích từng đoạn hay cả bộ sách, kể cả việc in lại mà không cần phải hỏi sự đồng ý của tác giả”. (Nguyễn Long, 2001).

Theo cô Ngọc Hân, con gái út và cũng là người gần gũi nhất với “Bố Nguyễn Long” cho biết thì kể từ muà Hè 2003, nam tài tử Nguyễn Long đã về sống “ẩn dật” gần Vợ Con, đồng thời cũng để dưỡng bệnh tại thành phố Seattle, tiểu bang Washington. Ông không còn liên lạc với bất cứ ai, ngoại trừ Nam Khang, một người em kết nghĩa và nhạc sĩ Trúc Hồ, người vẫn thỉnh thoảng viết thư thăm hỏi cũng như gởi tác quyền các bài thơ được phổ nhạc của ông mà trung tâm Asia thường sử dụng. (theo Nam Lộc)

– Các bài hát chọn lọc hay nhất của NS Y Vân thu âm trước 1975 (3:57’)

https://youtu.be/GXIqPr0AyaQ

Lan Hương chuyển tiếp

Tiếu Lâm Chi Bảo

Bốn người khách vốn thuộc hạng văn thi sĩ… vào một quán nhậu. Trong khi chọn món ăn,cô hầu bàn đến cười duyên:

– “Em rót bia cho mấy anh nhé ?”

Anh A liền tán :

– “Xin lỗi, em mỹ danh là gì, ở đâu ?”

Cô cười dịu dàng:

– “Hỏi quê… rằng biển xanh dâu,

Hỏi tên… rằng mộng ban đầu đã xa”.

Anh B vỗ đùi :

– “Úi chà ! Giỏi thơ thiệt ! Tuyệt vời. Rót bia đi”.

– “Dạ . Cảm ơn quí anh”.

Anh C đon đả :

– “Lấy thêm ly. mời Em cùng ngồi uống cho vui”. – “Dạ”.

Thế là bàn có một bông hồng giữa đám sỏi đá. Anh D mời tất cả cụng ly :

– “Coi bộ em giỏi thơ văn nhỉ !”.

Cô cười rất duyên :

– “Em cũng học mót chút ít để góp chuyện cho vui mà. Quí anh không thấy phiền chứ ? Chắc quí anh giỏi văn thơ lắm thì phải ?”

Anh A xoa bụng, ưỡn ngực :

– “Cũng đủ xài. Ai hỏi gì nói nấy. Nhất là lãnh vực văn học. Không bao giờ bị kẹt”.

– “Thế là quá giỏi rồi. Vậy, em đố các anh về lĩnh vực văn học nhé ?”

Cả bàn nhốn nháo hẳn lên, vui như cá gặp nước. Họ là nhà giáo, nhà thơ nhà văn cả… hớn hở cụng ly chờ đợi cuộc  vui. Cô gái cười, cất giọng oanh vàng :

– “Nếu có một ông khỏa thân” (trần truồng) cõng một  ông cũng khỏa thân… Câu tục ngữ nào tả được cảnh này ?”.

Bốn vị khách không tìm ra câu tục ngữ nói về trường hợp hy hữu này… Anh C thẳng thắn :

– “Chúng tôi thua. Cô giảng đi.

Cô bình tĩnh giải thích :

– Này, một ông khỏa thân, cõng trên lưng một ông cũng khỏa thân… Lúc ấy sẽ có tình trạng mà tục ngữ nói “Gậy ông đập lưng ông”.

– “Úi trời ! Ðúng quá”

Cả bàn cười rộ. Vừa rót thêm bia, cô vừa đố tiếp :

– “Cũng cá iông khỏa thân ấy, ông ta nhảy tõm xuống ao, tục ngữ nói sao nào ?”

Bốn vị khách lại bí … Họ lại yêu cầu cô giải đáp. Cô cười tủm tỉm :

– “Ông khỏa thân mà nhảy xuống ao sẽ gây nên cảnh : “Chim sa cá lặn”.

Cả bàn cười vang như pháo tế t.

– “Úi trời ! Ðúng quá đi. Cá trông thấy chim hãi  quá phải lặn là cái chắc !”

Thừa thắng xông lên, cô ta đố tiếp :

– “Thưa quí anh, cũng cái ông khỏa thân ấy, ông ta ngồi lên hòn đá, tục ngữ bảo sao ?”

Bốn khuôn mặt thông minh kia lại đờ đẫn. Cô gái thong thả giải thích :

– “Ông khỏa thân ngồi lên hòn đá, lúc ấy tục ngữ phán rằng: “Trứng chọi đá !”

Cả bàn cười vang. Ông D  hăm hở :

– “Ðúng quá đi chớ. Trứng này không bể được ! Còn nữ akhông?

Cô gái tiếp :

– Cũng cái ông khỏa thân đó nữa, nay lại ngồi bệt xuống đất không chịu đứng dậy thì theo «tục ngữ» các ông nói sao ?

Bốn khuôn mặt sáng láng trông thật thảm thương, bí rị. Cô gái tiếp :

– Cái ông khỏa thân ngồi bệt xuống đất diễn ra cảnh mà «tục ngữ» gọi là «Ðất lành chim đậu». Ðúng chưa ?

Cả bọn cười vang… (Sưu tầm)

Yên Nhàn chuyển tiếp

MƠ ƯỚC CỦA NS LAM PHƯƠNG

MƠ ƯỚC CỦA NS LAM PHƯƠNG :

‘CÓ MÔT NGƯỜI BẠN ĐỂ HỦ HỈ’

Tối Thứ Bảy, 24/6/2017, tại Hội trường báo Người Việt diễn ra chương trình văn nghệ “Lam Phương- 80 cuộc đời, 65 năm âm nhạc” thu hút đông đảo khán giả thuộc nhiều thế hệ đến xem.

Nhân dịp này, phóng viên Ngọc Lan đã có cuộc phỏng vấn “chớp nhoáng” với nhạc sĩ Lam Phương để nghe ông chia sẻ những buồn vui trong cuộc đời của người nhạc sĩ tài hoa. Đặc biệt là niềm mơ ước rất thú vị của ông ở tuổi 80.

Ngọc Lan (NL) : Khi nãy nhìn thấy chú Lam Phương vừa ngồi vừa coi những video clip, có lẽ là những bài hát của chú. Mỗi lần ngồi xem ca sĩ trình diễn các ca khúc của mình như thế thì cảm xúc của chú như thế nào ?

Nhạc sĩ Lam Phương : Chắc chắn là rất cảm động, nhất là những bài hát mình viết, nghe để nhớ lại lúc mình sáng tác nó như thế nào.

NL: Chương trình ca nhạc, những ca sĩ hầu hết không phải chuyên nghiệp hay trên một sân khấu lớn, mà chú vẫn có mặt để tham dự. Chú nghĩ gì về việc có mặt ở đây để tham dự một chương trình đơn giản như vậy ?

Nhạc sĩ Lam Phương : Đối với tôi, việc đi dự những buổi nhạc chuyên nghiệp quen rồi. Nhưng tôi vẫn muốn làm điều gì để nâng đỡ đàn em sau này. Cho nên hy vọng sự hiện diện của tôi sẽ giúp cho các cháu ngày sau sẽ tiến lên.

NL: Chú bắt đầu sự nghiệp sáng tác của mình như thế nào  Giống như là năng khiếu bẩm sinh hay xuất phát từ điều gì để đi đến sáng tác đầu tiên của chú ?

Nhạc sĩ Lam Phương : Tôi sáng tác rất sớm, khi mới có 15 tuổi. Đây này là năng khiếu tự nhiên của mình. Lúc đó tôi còn đi học, thức đêm thay vì học bài mình lại có đầu óc sáng tác. Lúc trời khuya dễ có cảm hứng lắm.

NL: Khi sáng tác ra bài nhạc đầu tiên, chú đưa cho ai hát ? Làm sao để người ta biết đến tên của nhạc sĩ Lam Phương ?

Nhạc sĩ Lam Phương : Khổ lắm cháu ơI ! Cái gì khi bắt đầu cũng khó. Khi viết bài đầu tiên đâu có ai biết mình là ai, thành ra mình phải đi đến gặp họ, trình bày bài của mình cho họ biết, rồi họ kêu mình hát, dù hát không được cũng cố gắng hát cho họ nghe, nghe được rồi họ mới chịu hát bài của mình, chứ không có dễ đâu.

NL: Khoảng bao nhiêu lâu sao bài hát đầu tiên của chú thì người ta bắt đầu biết đến tên nhạc sĩ Lam Phương ?

Nhạc sĩ Lam Phương : Bài đầu tiên là bài Chiều Thu Ấy, tôi làm lúc 13 tuổi. Đến năm 15 tuổi mới tung ra mà đâu ai mua, trong khi không có tiền, phải đi mượn tiền để in bài đó. Phải bán cả năm sau mới lấy vốn được. Cũng gian nan lắm !

NL: Phải mấy năm sau sự gian nan đó thì tên tuổi Lam Phương mới được người ta chú ý đến ?

Nhạc sĩ Lam Phương : Hai năm sau. Bài đầu ít người biết lắm, sau này đến bài thứ nhì thì người ta mới biết nhiều, là bài “Nhạc Rừng Khuya,” giai đoạn tôi viết nhạc về quê hương đó, thì lúc đó phong trào mới nổi lên, và người ta mới biết đến tên tôi.

NL: Và khi tên tuổi nhạc sĩ Lam Phương được người ta biết đến nhiều, thì chuyện sáng tác của chú làm ra để đưa đến ca sĩ hay làm ra băng đĩa bán trở nên dễ dàng hơn rất nhiều phải không ạ ?

Nhạc sĩ Lam Phương : Đúng rồi, dễ dàng hơn lúc đầu nhiều lắm, vì người ta đã biết tên mình thì người ta tin tưởng bài mình. Lúc đó mình không cần năn nỉ nữa mà người ta tìm đến mình xem có bài mới không là họ hát.

NL: Trong số những ca sĩ đã trình diễn các sáng tác của chú, chú cảm thấy ưng ý nhất là ca sĩ nào ?

Nhạc sĩ Lam Phương : Cũng khó so sánh, vì tôi viết nhiều loại nhạc lắm, mỗi một loại nhạc có một số ca sĩ riêng, như nhạc quê hương thì có Hương Lan, Mai Thiên Vân, nhạc tình thì có Khánh Hà, Ý Lan, thành ra mình không so sánh được, mỗi ca sĩ chuyên về một loại nhạc, mình không đem ca sĩ hát loại nhạc này với ca sĩ hát loại nhạc khác.

NL: Về bài hát “Chiều Tây Đô,” chú Lam Phương có thể cho biết là chú sáng tác bài đó trong hoàn cảnh như thế nào để có thể nói lên nỗi niềm tâm sự của nhiều người như vậy?

Nhạc sĩ Lam Phương : Trước tiên, tôi không phải là người sanh dưỡng tại Cần Thơ, mà tôi sanh ở Rạch Giá. Nhưng tôi có một người bạn, người bạn đó nói “Sao anh viết cho mọi người được mà anh không viết cho em được? Em ở Tây Đô.” Chính vì vậy mà tôi viết bài “Chiều Tây Đô.”

NL: Còn bài hát “Một Mình” thì sao ạ ?

Nhạc sĩ Lam Phương : Thường những bài hát tôi sáng tác là tôi có một hoàn cảnh riêng của mình. Tôi viết bài đó lúc thôi bà vợ thứ hai, thứ ba, sống một mình. Sống một mình thì tình cảm cô đơn lắm. Tối tôi nằm một mình thấy tình cảnh mình cô độc quá mới viết bài “Một Mình,” đó là hoàn cảnh thật.

NL: Chú viết từ năm 13 tuổi, đến 15 tuổi thì tung sáng tác đầu tiên ra, cho đến bài cuối cùng là lúc chú bao nhiêu tuổi?

Nhạc sĩ Lam Phương : Tôi bệnh là năm 62 tuổi, tức năm 1999. Bốn năm sau, tức 2003, tôi viết bài cuối cùng là “Hạnh Phúc Mang Theo” lúc đó tôi nghĩ mình sắp chết rồi. Tôi nghĩ khi mình chết thì tất cả những kỷ niệm mình mang theo mình, để cho người sống ở lại không nhớ tới để mà buồn, tôi mang theo tất cả.

NL: Mặc dù trải qua một cơn bạo bệnh như vậy và có lúc đã nghĩ là mình không còn sống được lâu, nhưng đến bây giờ đã là 19 năm rồi, mà mỗi lần chú xuất hiện đều trong một thần thái rất là lạc quan, rất là vui. Làm sao chú có được điều đó ?

Nhạc sĩ Lam Phương : Nhờ vậy mà sống lâu đó cháu. Giờ 80 rồi. Tôi nghĩ giờ mình có buồn cũng vậy thôi, tại sao mình không vui để hưởng những ngày cuối cùng của mình cho nó êm đẹp.

NL: Người ta thường nói, người nhạc sĩ, hay thi sĩ cũng vậy, khi họ sáng tác, thường có những tâm sự buồn hay khi xung quanh có những tác động mang tính buồn, tiêu cực thì sáng tác của họ hay hơn. Thì điều đó có đúng không ?

Nhạc sĩ Lam Phương : Phần đông là như vậy. Nhưng riêng tôi thì tôi viết trong mọi hoàn cảnh. Lúc vui tôi viết nhạc vui, lúc buồn tôi viết nhạc buồn, lúc giận viết nhạc giận, không có so sánh được.

NL: Một bài thường từ lúc hình thành ý tưởng đến lúc chú hoàn thành sáng tác mất bao lâu ?

Nhạc sĩ Lam Phương : Cũng tùy, nhưng thường tôi viết mau lắm. Một bài chậm lắm là một tuần thôi. Một bài mà tôi viết 3-4 ngày mà nghe không được là bỏ liền để viết bài khác.

NL: Vậy bài nhanh nhất chú viết trong bao lâu ?

Nhạc sĩ Lam Phương : Trong vài tiếng đồng hồ, trong một đêm.

NL: Chú có thường nghe lại nhạc của chính mình mỗi ngày hay mỗi tuần không ?

Nhạc sĩ Lam Phương : Nghe mỗi ngày (cười). Nghe để coi có chỗ nào yếu, không hay mình sửa lại để sau này tránh đi, để viết hoàn hảo hơn.

NL: Có bao giờ chú nghe lại sáng tác của mình và nghĩ “Ồ tại sao lúc đó mình viết hay như vậy !” Hay có lúc nào lại nghĩ “Trời, sao lúc đó mình viết tệ quá!” ?

Nhạc sĩ Lam Phương : Như tôi đã nói khi viết tôi thấy được mới tiếp tục, còn không được thì thôi bỏ, để khỏi mất thì giờ.

NL: Ngay trong lúc này, khi mà bên hội trường có rất nhiều ca sĩ đang trình diễn những ca khúc của chú, thì chú cảm thấy như thế nào ?

Nhạc sĩ Lam Phương : Đó là niềm sung sướng của người sáng tác. Mình hát không được thì mình nghe người ta hát nhạc của mình. Đó là niềm vui sướng của người sáng tác.

NL: Hiện giờ điều chú lấy làm niềm vui trong đời sống hằng ngày của mình là gì ?

Nhạc sĩ Lam Phương : Bây giờ tôi sống một mình, với gia đình người em. Cuộc sống rất giản dị. Tối ngủ, không thức khuya. Sáng thức sớm, rồi ăn uống, ngủ trưa. Cuộc đời có vậy thôi.

NL: Nếu bây giờ, có một điều ước thật đặc biệt thì chú nghĩ chú ước điều gì ?

Nhạc sĩ Lam Phương (suy nghĩ thật nhanh): Có một người bạn để mình hủ hỉ những lúc buồn. Thế thôi. Bạn thôi. (Cười)

NL: Một người bạn, nhưng là nam hay nữ ?

Nhạc sĩ Lam Phương (cười lớn): Nữ càng tốt !

Đọc thêm : Trên “Một thời Sài Gòn’ ngày 5/12/2013

NHẠC SĨ LAM PHƯƠNG

Trên “Một thời Sài Gòn’ ngày 2/9/2017

LAM PHƯƠNG & NHỮNG MỐI TÌNH (1)

LAM PHƯƠNG & NHỮNG MỐI TÌNH (2)

NHỮNG NHẠC PHẨM  CỦA NS LAM PHƯƠNG

– Cho Em Quên Tuổi Ngọc

Hoàng Kim;

https://youtu.be/x4jBS1cWEt4

– Chuyến đò vĩ tuyến – Giao Linh

http://youtu.be/V634FEJrusk

– Đèn Khuya – Thanh Thúy :  http://youtu.be/ZPVvKO3nmGQ

– Một mình – Quang Dũng :  https://www.youtube.com/watch?v=m_B1mBTmpXE

– Chuyến đò vĩ tuyến – Hoàng Oanh :  http://youtu.be/8-6sbyFZFL8

– Bức tâm thư – Tuấn Vũ & Ngọc Đan Thanh

http://youtu.be/5jeMNBivXzg

BÁNH MÌ SÀI GÒN

Bánh mì đã xuất hiện ở xứ ta trước cái mốc 1859, nhưng được biết đến nhiều là sau khi đội quân viễn chinh chiếm thành Gia Định.

Ngoài người Pháp, cách làm bánh mì đầu tiên được người Hoa tiếp thu, sản xuất bán ra thị trường và trong số khách hàng mua bánh mì thời kỳ đó có cả người Việt : Bồi bàn, thông ngôn, thầy ký có lẽ là những người nếm bánh mì đầu tiên; Kế đó là công chức tân trào, rồi đến tầng lớp Tây học, thị dân và lần lần tỏa rộng phổ biến cả thành thị lẫn nông thôn”

Trong bài Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc của cụ Nguyễn Đình Chiểu năm 1861, ta thấy có hai câu như sau :

Sống làm chi theo quân tả đạo, quăng vùa hương, xô bàn độc, thấy lại thêm buồn

Sống làm chi ở lính mã tà, chia rượu lạt, gặm bánh mì, nghe càng thêm hổ.

Rồi có thêm bài thơ chế :

Vân Tiên ngồi dựa gốc dừa,

Tay cầm chai rượu miệng nhai bánh mì.

Nguyệt Nga mới hỏi ăn gì ?

Vân Tiên mới nói thịt quay bánh mì.

Bánh mì theo chân người Pháp đến Saigon đầu tiên, xuống Nam Kỳ lục tỉnh, ra miền Bắc, sau đó mới phổ biến trên toàn quốc, cho nên khi đề cập đến bánh mì, người ta đề cập đến Saigon : bánh mì Saigon.

Ta thấy những thực phẩm, những vật dụng hàng ngày mà người Pháp mang đến Việt Nam, đều được gọi kèm theo chữ tây như : khoai tây, hành tây, dâu tây, rượu tây, thuốc tây, giày tây …

Trong khi ngoài Bắc gọi bánh mì là bánh tây, thì miền Nam lúc đó đã gọi nó là bánh mì ổ (ổ như chữ ổ của bánh bông lan). Có lẽ một trong các loại bánh mì mà người Pháp du nhập sang đầu tiên là pain de champagne (bánh mì đồng quê) ổ bự, to bè, nhiều ruột, để được vài ngày hay các loại bánh mì hình tròn, hình bầu dục gọi tên là le pain rond, le complet, le bâtard…

Những ổ bánh mì Saigon mới ra lò còn nóng, dậy mùi thơm của bột mì nướng, vỏ giòn rụm, vàng ươm, láng lẩy bơ, nở tròn bụng, ruột trắng mịn và xốp này từ những năm 30 cho mãi đến bây giờ, vẫn là một thứ quà Saigon, mà những người dân ở miền Tây đi Saigon về lại nhà mua làm quà cho con cháu.

Dù bánh mì khắp nơi đều có, ở các tỉnh đều có lò làm bánh mì, nhưng danh tiếng bánh mì Saigon đã đi vào ký ức người ta từ lâu lắm rồi. Ở cửa ngõ thành phố đi các tỉnh đầy những chỗ bán bánh mì.

Bến xe xa cảng miền Đông, miền Tây, lúc nào cũng có những người đội các cần xé đựng bánh mì đến tận cửa xe bán cho khách mua. Nhà thơ Kiên Giang có bài thơ :

– Đáp tàu khói, về quê ăn Tết

Gió bấc đầu mùa gợn sóng đêm

Ôm ổ bánh mì làm gối nhỏ

Đem về cho mẹ với cho em.

Còn ông Công Tử Hà Đông thì viết :

Bánh mì ăn không cũng ngon

Ta đi trăm núi, ngàn sông biển

Không đâu bánh mì ngon

Bằng bánh mì Saigon.

Bánh mì ăn kèm với gì ?

Ăn bánh mì theo ông Tây, bà đầm từ thời thuộc địa là ăn bánh mì với fromage, trứng (omelette, oeufs au plat), thịt nguội (paté, jambon, saucisse à), beurre, mứt trái cây (confiture) như dâu, cam, nho àhay chấm sữa nóng cho bữa ăn sáng. Dùng bánh mì ăn kèm với súp (soupe), bí tết (bifteck), ra gu (ragout)à trong bữa ăn tối.

Tuy cũng ăn giống như vậy, nhưng người Saigon đã dần dà cải tiến cho hợp với khẩu vị của mình như: Ăn bánh mì với những miếng phô mai “ Đầu con bò cười (La vache qui rit)”, phối hợp thêm chuối già.

Ăn sáng bằng bánh mì trét bơ mặn Bretel, rắc chút đường cát trắng; Bánh mì chấm sữa nóng, pha thêm một chút cà phê cho có mùi thơm hay ăn bánh mì trét bơ chấm cà phê sữa nóng; Bánh mì chấm sữa đặc có đường hiệu Ông Thọ hay Con chim (hiệu Ông Thọ – Hiệu sữa Longevity, trước đây thuộc hãng Foremost, Mỹ, hình “Ông Thọ chống gậy”, nói lên tuổi thọ của người dùng. Hiệu Con chim của hãng Nestlé, Thụy Sỹ, đúng ra là hình một tổ chim, gồm một chim mẹ và hai chim con)…

Nổi tiếng ở Sài Gòn có lẻ tiệm Hòa Mã của vợ chồng ông Bắc kỳ di cư, rồi tiệm Hương Lan ở Bưu Điện Sài Gòn, xe bánh mì chả lụa của bà Bắc ở đường Phan Thanh Giản… nói ra thì rất nhiều. Kết bài bằng mấy câu thơ :

Ngồi buồn gặm ổ bánh mì

Mùi thơm chả quế thầm thì bên tai

Bánh mì hương vị mặn mà

Bỏ tình anh gặm mì gà ba-tê

Bánh mì xá xíu ai chê

Lại thêm xíu mại cho “phê” cõi người

”Xì dầu” anh xịt đã đời

Thừa thiên “ớt hiểm” cho vừa xót xa

Bánh mì thịt nguội có hành

Mua năm tặng một cả làng anh quơ

Cho dù người có thị phi

Yêu đời anh “ xực ” bánh mì mà thôi. ( st).

NHỮNG CHỦ ĐỀ TÁO BẠO

TRONG TRANH TRUYỀN THỐNG

NHẬT BẢN

Ukiyo-e, tức tranh in bản gỗ, là “dấu son” nổi bật trong lịch sử mỹ thuật Nhật Bản. Không chỉ thịnh hành như một trường phái hội họa độc đáo, ukiyo-e còn tạo tiền đề quan trọng cho rất nhiều trào lưu nghệ thuật đương đại. Tính lôi cuốn đến “mê hoặc” của thể loại tranh truyền thống này, tuy nhiên, vượt xa những hình ảnh phong cảnh hay lễ hội vui tươi. Ở ukiyo-e, chủ đề tình dục, đồng tính, thậm chí kinh dị, nhận được sự chú ý đặc biệt.

1/- Shunga – tranh ảnh “phòng the” ; Shunga (xuất phát từ từ gốc Hán “xuân họa” – tranh vẽ về mùa xuân) là phong cách ukiyo-e phát triển mạnh vào khoảng thế kỉ 17-19. Shunga tập trung mô tả cảnh ân ái chốn lầu xanh, chân dung những nàng kỹ nữ với dáng điệu gợi cảm, quyến rũ, cùng nhiều hoạt động “người lớn” khác nơi phố đèn đỏ.

Có quá trình tạo dựng suốt 300 năm, đến nay, Shunga đã trở thành dạng tranh ukiyo-e nổi tiếng, rất được yêu thích. Dù mang nét cổ xúy tính dục, xã hội Nhật thời bấy giờ không phân loại tranh in như văn hóa phẩm khiêu dâm. Thực tế, chế độ Tokugawa, giai đoạn Shunga trở nên “cực thịnh,” không cấm đoán việc thể hiện đề tài tình dục trên tranh ảnh.

Nghệ sĩ nổi bật, từng tạo dấu ấn lớn nhờ Shunga, không thể không nhắc đến Katsushika Hokusai (1760-1849). Bức “Người phụ nữ và đôi bạch tuộc” (ảnh trên) của ông, xuất hiện lần đầu như tranh minh họa cho một tựa sách xuất bản năm 1814, đã trở thành ví dụ điển hình nhất của phong cách Shunga truyền thống.

2/- Wakashu – những “mỹ nam” lưỡng tính : Bức vẽ bên thực hiện bởi họa sĩ nổi tiếng thời Edo, Suzuki Harunobu, tái hiện một ngày thường nhật trong khu phố đèn đỏ, thủ đô nước Nhật thế kỉ 18. Bạn sẽ muốn tập trung vào nhân vật mặc kimono sọc, cầm quạt, ngồi phía trái khung tranh. Người này mang gương mặt thanh tú, bề ngoài hệt như phụ nữ, nhưng thật ra lại là nam giới. Tên gọi cho họ là “wakashu,” nhân vật lưỡng tính đầu tiên tìm thấy trong tranh ukiyo-e.

Wakashu là khái niệm bắt nguồn từ các sử gia Nhật, dùng để ám chỉ một “mỹ nam,” hay người đàn ông có dáng vấp hấp dẫn cả hai giới. Vào thời Edo thịnh vượng, họ làm công việc mua vui – đàn hát trong kỹ viện. Hoặc, wakashu còn được hiểu như nhóm diễn viên được đào tạo đặc biệt, chuyên đóng vai nữ trên sân khấu ca kịch truyền thống.

Đối với ukiyo-e, hình tượng wakashu hiện diện không nhiều, nhưng luôn rất lôi cuốn và độc đáo. Tương tự Shunga, bằng cách phát họa wakashu, họa sĩ ukiyo-e đã tạo nên dấu ấn chưa từng có xoay quanh chủ đề nhạy cảm như tình dục và đồng tính. Nhìn ngắm những “mỹ nam” này trên tranh màu, người xem dễ dàng bị thu hút bởi nét duyên dáng, thần thái sống động của họ. Như nhiều nhà giám tuyển và chuyên gia sưu tầm tranh ukiyo-e nhận xét, vẻ đẹp riêng ở wakashu đã “thách thức ranh giới giới tính” trong lịch sử mỹ thuật Nhật Bản.

3/- Thế giới rùng rợn của ukiyo-e : Nhật Bản với nền hội họa lâu đời, không thiếu cảm hứng cho tranh vẽ kinh dị. Yếu tố ma quỷ, linh hồn cho đến cái chết được người nghệ sĩ “tái sinh” trên mặt giấy thông qua truyện cổ, giai thoại lẫn sự kiện kinh hoàng có thật.

Nổi tiếng hàng đầu thuộc thể loại ukiyo-e là dạng tranh in minh họa cho “kusazoshi,” một phong cách truyện dân gian phổ biến từ những năm 1700, thời Edo. Kusazoshi được hiểu như tiền thân của truyện tranh kinh dị ngày nay. Chúng khai thác nhiều khía cạnh “lạnh gáy” tiềm ẩn nơi đời sống thường ngày lẫn thần thoại Nhật Bản. Tranh ukiyo-e với nét cọ uyển chuyển, “truyền thần,” càng khiến câu chuyện kể thêm phần đặc sắc đến rợn người. .

Không ít “huyền thoại” ukiyo-e như họa sĩ thiên tài Hokushai, Toyokuni I, Utagawa Kunisada đều có niềm đam mê lớn dành cho chủ đề kinh dị. Bên cạnh mục tiêu gây sợ hãi hay thể hiện bài học răn đe đạo đức, đôi khi một số nhân vật yêu quái hoặc hồn ma trong tranh vẽ còn nhằm gây cười cho độc giả kusazoshi. (theo JapanTimes)

Yên Huỳnh tổng hợp chuyển tiếp

TRẦN VĂN TRẠCH & NGUYỄN NHƯỢC PHÁP

QUÁI KIỆT TRẦN VĂN TRẠCH

(1924-1994)

– MC Việt Thảo – Quái Kiệt Trần Văn Trạch- Vũ Trường Ritz- 1993

https://youtu.be/5uXar7gBJbQ

– Trần Văn Trạch & Việt Hùng : 

https://youtu.be/_ItPZdtsNbU

Trần Văn Trạch & những ca khúc trình bày :

– Tê Lê Phôn – Thu Âm Trước 1975 : https://youtu.be/kt-raWHjMU8

– Xe Lửa Mùng 5 – Trần Văn Trạch https://youtu.be/V4X6TH7Etr0

– Ba Giờ Khuya – Thu Âm Trước 1975 https://youtu.be/iR157-oVKmY

– Đồng Hồ Đeo Tay (Trần Văn Trạch) / (Dĩa hát Tân Thanh TT-67 Pre 1975) :

https://youtu.be/SsaR0YaNGIg

– Chiều Mưa Biên Giới – Nguyễn Văn Đông – Thu Âm Trước 1975 : https://youtu.be/WQGGGMEOcu8

–  Mùa Thu Chết (pre 75) https://youtu.be/iAop3usHNAk

– Không (Nguyễn Anh 9) https://youtu.be/QuoCSHFUr6w

– Con Thuyền không Bên (Đặng Thế Phong)

https://youtu.be/-oqlEXaD1h4

– Tà Áo Tím (Hoàng Nguyên)

https://youtu.be/CYZqRCSfsNY

– Sầm Giang Tái Ngộ 03 – Hài hước

https://youtu.be/HD5zURWzb8s

Tân nhạc Việt Nam có nhiều những tình ca buồn, số lượng đến hàng ngàn bản nhạc. Khi nghe những bản nhạc buồn, con người cũng lắng hồn vào tiếng nhạc và có cảm giác buồn. Ngược lại khi nghe nhạc vui, tâm hồn người cũng mở rộng chào đón hân hoan. Những bản hùng ca lại làm khơi động những ý chí hào hùng, yêu nuớc. Nghe những bản du ca thấy muốn dấn thân làm việc xã hội. Những bản nhạc nhi đồng làm người nghe thấy tâm hồn trẻ lại.

Một loại nhạc có thể nói khó sáng tác nhất là nhạc hài hước, loại nhạc nghe có thể vui đến bật tiếng cười. Nhạc hài hước Việt Nam có lẽ chỉ có độ chừng vài chục bản, do những nhạc sĩ thật đặc biệt sáng tác. Một trong những người đó, một ngạc nhiên cho hầu như tất cả mọi người, là tác giả Trường Ca Hòn Vọng Phu. Chính Lê Thương là người đầu tiên viết nhạc hài hước Việt Nam với những bản nhạc Hòa Bình 48, Liên Hiệp Quốc, Làng Báo Sài Gòn…

Nhưng nói đến chuyện viết nhạc hài hước và rồi tự đơn ca trình diễn lấy, nổi tiếng cả nước, trong lịch sử âm nhạc Việt Nam chỉ có một người: Trần Văn Trạch.

Ca nhạc sĩ Trần Văn Trạch, tên thật là Trần Quang Trạch, sinh năm 1924 ở Mỹ Tho, sinh trưởng trong một gia đình toàn là những nhân vật có tiếng về Cổ Nhạc Việt Nam. Tuy trong gia đình có những nhân vật khoa bảng lỗi lạc về âm nhạc như anh ruột giáo sư tiến sĩ âm nhạc Trần Văn Khê, cháu ruột tiến sĩ âm nhạc Trần Quang Hải… Trần Văn Trạch phải nói được nhiều người Việt Nam biết đến hơn cả.

Ông Trần Văn Trạch có khiếu âm nhạc từ nhỏ, biết nhiều về Cổ Nhạc, thông thạo đàn kìm và tỳ bà, hát Vọng Cổ rất “mùi”, nhưng lại thích Tân Nhạc hơn. Sau khi học xong trường Trung Học Mỹ Tho, Trần Văn Trạch bắt đầu với nghề thương mại, lập lò làm chén bán ở Vĩnh Kim nhưng không đuợc khá lắm.

Năm 1945, ông Trần Văn Trạch bỏ nghề buôn bán, lên Sài Gòn “giang hồ” và tìm cách đi hát cho những phòng trà, vũ trường nhỏ. Đến khoảng năm 1947, nghệ sĩ Trần Văn Trạch bắt đầu trình diễn những bài hát hài hước. Những bản nhạc hài hước đầu tiên ông trình bầy là những bản sáng tác bởi nhạc sĩ Lê Thương đã kể ở trên.

Nhưng về sau, vì nhu cầu trình diễn, ông Trần Văn Trạch đã tự sáng tác ra những bản nhạc hài hước để tự mình trình diễn lấy. Bản nhạc Anh Phu Xích Lô là sáng tác đầu tiên của ca nhạc sĩ Trần Văn Trạch :

Có ai mà muốn đi tới Chợ Lớn

Có ai mà muốn đi tới Chợ Mới

Có ai mà muốn đi chóng cho mau tới

Ê ! Tôi xin mời lại đây…

Những bài hát nổi tiếng ngày đó là Cái Đồng Hồ Tay, Cây Bút Máy, Anh Chàng Thất Nghiệp, Sở Vòi Rồng, Đừng Có Lo, Tôi Đóng Xi-Nê, Ba Chàng Đi Hỏi Vợ, Chiếc Ô-Tô Cũ… Bài nhạc nào của nhạc sĩ Trần Văn Trạch cũng làm người nghe cười… bể bụng. Thí dụ bài Tai Nạn Tê-lê-phôn :

Từ đâu nạn đưa tới

Gắn chi cái tê-lê-phôn

Bởi tôi muốn làm tài khôn

Khiến tôi muốn thành ra ma

Không vào Chợ Quán, cũng ra Biên Hòa…

Tuy vậy, không phải ông Trần Văn Trạch chỉ sáng tác nhạc hài hước. Chuyến Xe Lửa Mùng 5, kể chuyện đi thăm mẹ của một anh chàng. Đây là một bản nhạc lúc đầu nghe thấy có vẻ là nhạc hài hước, với những tiếng động của nhà ga, xe lửa… Nhưng đoạn cuối là một khúc thương ca, khi người về đến nhà mới biết mẹ đã qua đời.

Một bản nhạc có cả hài hước pha lẫn chút triết lý là Khi Người Ta Yêu Nhau:

Khi người ta yêu nhau

Yêu trong lúc hai mươi tuổi đầu

Thì không phải vì tiền đâu

Nhưng mà chẳng được bao lâu…

Những đoạn giữa nói về các tuổi ba mươi, bốn mươi, năm mươi, sáu mươi và:

Khi người ta yêu nhau

Yêu trong lúc bẩy mươi tuổi đầu

Thì không phải vì tiền đâu

Nhưng mà chẳng còn bao lâu.

Hai câu Nhưng mà chẳng được bao lâu và Nhưng mà chẳng còn bao lâu nghe có vẻ giống nhau. Nhưng suy nghĩ cho kỹ thấy hai ý nghĩa khác hẳn nhau và cho thấy Trần Văn Trạch là người có đầu óc, biết dùng chữ khá thâm thúy. Cái triết lý giản dị, có thể học được từ bài hát là nếu vì vấn đề tiền mà yêu nhau, thì đó không phải là tình yêu chân thật.

Một bản nhạc phải nói hầu như ngày xưa người Việt Nam nào cũng phải biết đến, vì được ông hát đi hát lại mỗi tuần khi có xổ số tại rạp Thống Nhất, Sài Gòn và sau này trực tiếp truyền thanh qua đài phát thanh Sài Gòn. Tuần lễ nào người dân nước Việt ở khắp nơi đều nghe thấy tiếng người nghệ sĩ trình bầy bài này qua làn sóng điện. Đó là bài hát Xổ Số Kiến Thiết Quốc Gia, do Trần Văn Trạch viết và hát :

Kiến thiết quốc gia

Giúp đồng bào ta

Xây đắp muôn người

Được nên cửa nhà

Tô điểm giang san

Qua bao lầm than

Ta thề kiến thiết

Trong giấc mộng vàng

Triệu phú đến nơi

Năm muời đồng thôi

Mua lấy xe nhà

Giàu sang mấy hồi

Kiến thiết quốc gia

Giúp đồng bào ta

Ấy là thiên chức

Của người Việt Nam

Mua số mau lên

Xổ số gần đến

Mua số mau lên

Xổ số… gần… đến…

Một bản nhạc khác Trần Văn Trạch sáng tác không hài hước một chút nào cả là bản nhạc hùng mạnh Chiến Xa Việt Nam, bài được hát đi hát lại trong những dịp đài phát thanh cần chạy nhạc hùng như Ngày Quân Lực, Ngày Quốc Khánh… hay khi có… đảo chánh.

Ca sĩ Trần Văn Trạch cũng có hát những nhạc không hài hước và hát thật hay. Một thí dụ điển hình là bản Chiều Mưa Biên Giới của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông đã nổi tiếng sau khi chính do Trần Văn Trạch hát rất điêu luyện, với phần nhạc đệm từ một băng nhạc thu sẵn, của một ban nhạc bên Pháp. Lúc đó vào khoảng thập niên 1960, phương pháp trình diễn này coi như rất mới. Từ đây, đã phát sinh ra những loại hát có nhạc đệm sẵn (karaoké).

Ngoài sáng tác nhạc, hát ông còn là trưởng ban nhạc Sầm Giang của đài phát thanh Pháp Á, vào khoảng thập niên 1950. Ban này gồm những ca sĩ nổi tiếng đương thời như Linh Sơn, Tâm Vấn, Minh Diệu, Mạnh Phát, Tôn Thất Niệm…

Trần Văn Trạch không chỉ hoạt động trong lãnh vực âm nhạc. Cũng trong thập niên 1950, khi điện ảnh vẫn còn là một môn nghệ thuật phôi thai ở Việt Nam, Trần Văn Trạch đã đóng cùng với nữ nghệ sĩ Kim Cương trong những phim như Lòng Nhân Đạo, Giọt Máu Rơi… và về sau còn làm đạo diễn điện ảnh cho những phim như Thoại Khanh Châu Tuấn (do Kim Cương và Vân Hùng đóng), Trương Chi Mỵ Nương (do Trang Thiên Kim và La Thoại Tân đóng)…

Nhưng có lẽ công trình ông đóng góp nhiều nhất cho nghệ thuật là những buổi Đại Nhạc Hội, với chuyện sáng tác và sự trình diễn những bản nhạc hài hước đã kể trên của ông.

Danh từ Đại Nhạc Hội chỉ những buổi trình diễn ca nhạc xen kẽ với kịch, ảo thuật… tại các rạp hát do chính ông Trần Văn Trạch đặt ra và từ đó cũng do chính ông đã phát huy chủ trương, bắt đầu từ khoảng năm 1949. Dĩ nhiên một trong những tiết mục quan trọng nhất của những buổi Đại Nhạc Hội này là màn hát nhạc hài hước của chính Trần Văn Trạch.

Nghe Trần Văn Trạch hát thấy vui và lạ. Ông có biệt tài bắt chước được những âm thanh như tiếng còi tầu xe lửa, tiếng xe hơi chạy, tiếng những cầm thú… Nhưng nếu chỉ nghe không cũng chưa thấy hết cái hay của ông, mà phải nhìn ông trình diễn mới thấy hết được cái linh hoạt của bài hát do ông sáng tác. Giọng hát mộc mạc, đơn giản của người Nam và cách trình diễn hoạt náo những bản nhạc hài hước của chính mình, đã làm nên tên tuổi Trần Văn Trạch, người được dân chúng Việt Nam gọi là Quái Kiệt.

Với những chương trình Đại Nhạc Hội, Trần Văn Trạch đã trình diễn rất nhiều tại Sài Gòn. Danh tiếng của ông nổi như cồn. Ông đã đi khắp các tỉnh ở miền Nam và trước khi xẩy ra Hiệp Định Genève 1954 chia cắt đất nước, có lần ông ra cả miền Bắc trình diễn.

Về sau có những người khác theo quan niệm như vậy của ông tổ chức Đại Nhạc Hội cũng rất thành công như nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ, nữ nghệ sĩ Kim Cương…

Sau “Giải Phóng 1975”, Trần Văn Trạch bị kẹt lại Việt Nam và ông cũng vẫn đi lưu diễn thường xuyên cho đến khi qua Pháp năm 1977. Từ đó, ở Paris, ngoài việc mưu sinh hàng ngày, ông cũng vẫn có những hoạt động âm nhạc như băng nhạc và video Hài Hước Trần Văn Trạch, trình diễn nhạc ở Pháp hay ở Úc, Hoa Kỳ… và hoạt động xã hội nhất là trong những buổi hát giúp quyên tiền cho những con tầu về lại biển Đông vớt người Việt tỵ nạn vượt biển.

Năm 1994, nghệ sĩ Trần Văn Trạch qua đời tại Paris, vì bệnh ung thư gan.

Nhớ lại hình ảnh ngày xưa của người nghệ sĩ quá cố, có dáng dấp giang hồ với mái tóc dài và phong trần, lái chiếc xe mui trần cũ kỹ và bụi bậm, đang thân thiện hiền hòa vẫy chào mọi người ở đường phố Sài Gòn, phải công nhận một điều:

Ca nhạc sĩ Trần Văn Trạch, người có một không hai trong lịch sử âm nhạc Việt Nam, quả là một Quái Kiệt tài hoa trong tâm tưởng của mọi người dân Việt mãi mãi…

Xem thêm (bấm vào đường link) : Quái Kiệt Trần Văn Trạch trên “Một thời Sài Gòn” ngày 05/07/2010

MỐI TÌNH CỦA

TÁC GIẢ ‘CHÙA HƯƠNG’

Mối tình hoảng loạn với người ái nam ái nữ của tác giả ‘Chùa Hương”

– Ít ai biết nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp từng có mối tình với một người con gái bí ẩn. Câu chuyện tình này đã để lại cho chàng thi sĩ trẻ nỗi buồn sâu sắc và cả sự hoảng hốt…

Cuộc đời bi thương và 3 bức thư của nhà thơ

Ảnh hưởng từ cha, học giả Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyễn Nhược Pháp dù học hành giỏi giang, đỗ đạt cao, nhưng không quan tâm đến quan trường, mà chỉ mê đọc, nghiên cứu văn thơ, viết sách, làm báo. Ngoài thơ, Nguyễn Nhược Pháp còn viết không ít truyện ngắn và kịch…

Tuy nhiên, khác nhiều bạn cùng làng văn thuở đó, Nguyễn Nhược Pháp sống hồn nhiên và trong sáng, không ham mê ả đào, thuốc phiện, những thứ hay cám dỗ tuổi trẻ tò mò.

Ông Nguyễn Lân Bình (cháu gọi Nguyễn Nhược Pháp là bác), từng kể : “Theo các bác trong gia đình nói chuyện, bác Pháp không chỉ được thừa hưởng sự tài hoa và thông minh của học giả Nguyễn Văn Vĩnh, ông còn được thừa hưởng luôn cả sự đào hoa và tâm hồn lãng mạn của cha mình. Bởi vậy trong thơ, văn và kịch ông viết, luôn phảng phất những “bóng hồng” đầy mộng mị”.

Mối tình câm với người đẹp nức tiếng Hà thành

Thông qua những thế hệ cùng trang lứa với Nguyễn Nhược Pháp, đặc biệt là các gương mặt từng là đồng môn với nhà thơ, chúng ta được đọc nhiều lần, qua nhiều thời kỳ những ghi chép và lời kể của những bậc tiền nhân, trong đó có câu chuyện nói về

Giai nhân Hà thành – Đỗ Thị Bính (1915). Bà Bính là con của thương gia Đỗ Bá Lợi – nhà tư sản lớn vào loại có hạng ở Hà thành lúc đó. Bà Bính được miêu tả là người thiếu nữ với làn da nõn nà, vóc dáng thanh tú với đôi mắt phượng hồng. Bà đã làm cho bao kẻ mê mẩn, thầm yêu, trộm nhớ….

Vậy nhưng, dù là tiểu thư khuê các, con nhà giàu có, lại đẹp nức tiếng, nhưng bà Bính được nhiều người chung quanh quý mến vì lối sống rất giản dị, nhân hậu, chan hòa với mọi người.

Ngày ấy, trước hiên nhà cô Bính ở phố Nguyễn Thái Học có trồng nhiều loại hoa thơm. Thường cứ đến chiều, nàng vừa ra ngắm hoa, vừa ngồi trên ghế đá đọc sách.

Chàng thư sinh nhỏ nhắn Nguyễn Nhược Pháp, lúc nào cũng mang một hồn thơ lai láng, mộng mơ và đầy cảm xúc, đã đem lòng thương trộm cô tiểu thư Đỗ Thị Bính từ lúc nào không biết..

Bấy giờ Nguyễn Nhược Pháp đang làm việc tại tòa báo L’Annam Nouveau – Nước Nam Mới, chàng thường tìm đủ lý do để được đi qua nhà nàng, chỉ những mong được thấy nàng, ngắm nàng, người yêu trong mộng, từ đó thêm cảm xúc làm thơ ngợi ca.

Tất nhiên, giai nhân cũng biết chàng thư sinh ấy “cảm mến” mình. Đã có đôi lần, hai người đã trò chuyện với nhau qua rào cây tầm xuân hữu tình và thật lãng mạn. Cái sự “đầu mày cuối mắt” của chàng thi sĩ với giai nhân đã để cả hai bên gia đình đều biết.

Nhưng một biến cố khủng khiếp của gia đình chàng thi sỹ đã khiến cho mối tình ấy không thể đơm hoa, kết trái, đó là sự kiện học giả Nguyễn Văn Vĩnh – cha của nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp, gặp đại nạn, ông mất một cách cô độc bên miền Nam nước Lào heo hút.

So với gia cảnh người đẹp Đỗ Thị Bính, chàng thi sĩ lúc này chỉ là kẻ tay trắng. Nhất là trong bối cảnh gia đình đang bị chính quyền đương thời o ép, chàng đã đành phải đào sâu chôn chặt mối tình ngắn ngủi qua hàng rào ấy. Nhà thơ đã gửi gắm nỗi lòng vào tập thi phẩm mang tên “Ngày xưa” với 10 bài thơ đầy tâm sự. Thi phẩm này đã đưa tên tuổi ông tìm được chỗ đứng trong phong trào Thơ mới ở thế kỷ 20.

Mặt khác, lòng tự trọng của Nguyễn Nhược Pháp cũng không nhỏ khi tự đặt mình trong hoàn cảnh một cuộc sống đổ vỡ, nên hãy đừng mơ ước cao xa, nhất là với một tiểu thư khuê các, cành vàng lá ngọc… Hình như, thi sỹ đã “tự ti” về cái thân phận của một người vốn đã mất mẹ đẻ từ nhỏ, giờ lại mất cả người cha uy danh…

Mối tình hoảng loạn với người con gái bí ẩn

Người đời, cứ nghĩ đến chàng thi sỹ đa cảm đó, họ lại nhắc đến mối tình trong mộng của chàng với mỹ nhân đất Hà Thành – Đỗ Thị Bính. Nhưng mấy ai biết rằng, tác giả của bài thơ “Chùa Hương” đã từng có tình ý với một người con gái bí ẩn cho đến khi kết thúc bằng sự bi đát.

Vẫn Ông Nguyễn Lân Bình lại kể : “Trước đây, tôi đã có được nghe các bác các chú trong gia đình đôi lần kể về giai thoại này. Tôi nghĩ với sự hào hoa, đa tài của Nguyễn Nhược Pháp, việc ông khiến bao bóng hồng thổn thức là điều làm sao tránh”.

Trong một vài bài viết, nhà thơ Nguyễn Vỹ (1912-1971) – bạn rất thân của Nguyễn Nhược Pháp, từng thuật lại mối tình của bạn mình với một cô gái… bí ẩn.

Câu chuyện diễn ra nhân chuyến đi chơi xa cùng Nguyễn Vỹ với ba cô gái bằng tàu hỏa từ Hà Nội lên Yên Bái. Tất cả ngồi cùng toa. Tàu lướt qua bao nhiêu vùng đất lạ, nhưng hôm ấy, chẳng thấy chàng thi sĩ quan tâm đến. Ngược lại, mắt Nguyễn Nhược Pháp đã phải sững sờ, dán chặt vào một cô gái mặc bộ áo dài đen. Khuôn mặt nàng thanh tú, làn da như trứng gà bóc trên một thân hình cân đối được nhấn mạnh bằng đôi môi chúm chím, đỏ mọng.

Lập tức, vẻ đẹp của nàng đã khiến Nguyễn Nhược Pháp liêu xiêu. Với tính cách rụt rè, hình như chưa bao giờ thấy ai nói chàng là người mạnh dạn, cho nên, suốt cuộc hành trình, Nguyễn Nhược Pháp chỉ dám nhìn trộm, ngắm nàng từ xa bằng ánh mắt như nhìn vào cõi xa xăm, chứ không dám dấn bước làm quen.

Chiều tối, khi tàu đến Yên Bái, cô gái đã ngồi xe kéo chạy nhanh xa khỏi tầm mắt, Nguyễn Nhược Pháp vẫn mơ màng dõi theo, lòng dạ ngổn ngang, xao xuyến.

Cả đêm hôm đó, chàng thao thức chẳng ngủ được, rầm rì nhỏ to với nhà thơ Nguyễn Vỹ. Được biết, chuyến đi chơi đó, là do cô Thanh Tú – là người thầm yêu Nguyễn Nhược Pháp đứng ra chủ trò, tổ chức.

Nguyễn Vỹ viết: “Tôi biết từ lâu rồi, rằng Nguyễn Nhược Pháp không yêu cô Thanh Tú, nhưng Thanh Tú thì yêu Nguyễn Nhược Pháp gần như mê mẩn. Thanh Tú chủ động tổ chức cuộc du hành này, để có cớ mời Nhược Pháp lên nhà. Chết nỗi, ông cụ của cô lại là bạn thân với ông Nguyễn Văn Vĩnh, và nghe đâu, ông cụ cũng muốn gả Thanh Tú cho người con trai giỏi giang mà hiền lành của ông Vĩnh”.

Hôm từ Yên Bái trở về, làm sao, vô tình Nguyễn Nhược Pháp lại đi cùng tàu hỏa với cô gái đó. Tàu vừa dừng, là chàng thi sĩ trẻ mất hút… lướt theo gót giai nhân.

Nguyễn Nhược Pháp đã đeo đuổi cô gái đó có đến cả năm trời. Chàng đã kiên nhẫn tìm được địa chỉ nhà “cô tiên giáng trần”, và đánh tiếng làm quen.

Nhưng thật lạ lùng và buồn bã thay, người con gái đó tỏ ra rất lạnh lùng, thậm chí, nàng đã cương quyết từ chối dứt khoát tình cảm nồng nàn của chàng thi sĩ, cho dù hình như, trong lòng nàng đã có những rung động.

Thấy bảo, chàng thi sĩ, tuy là người duy nhất được làm quen với nàng, nhưng tình cảm của chàng luôn nằm trong thế tuyệt vọng, chẳng khác gì ném một quả bóng xịt vào tường.

Và cũng có được một ngày, Nguyễn Nhược Pháp liều lĩnh viết lá thư mời cô gái đến để trò chuyện tại nơi ở riêng của Nguyễn Vỹ. Chàng thi sĩ đau khổ, quyết định một lần nữa, dồn tất cả sự liều lĩnh, sẽ nói thẳng lời cầu hôn với nàng. Chàng bấm bụng, đây là lần cuối cùng mình bày tỏ.

Khi gặp nhau, cô gái lặng lẽ nhìn chàng, rồi gục đầu xuống vai, vừa thổn thức, vừa nức nở khóc, và xin chàng tha lỗi… vì em không thể yêu anh được, dù anh là người duy nhất em yêu ! Nói xong, cô vụt chạy khi nước mắt vẫn dàn dụa, mà vẫn không quên chào vĩnh biệt Nguyễn Nhược Pháp.

Ngay ngày hôm sau, có tin báo : Một thiếu nữ đã tự tử trên hồ Trúc Bạch, thi thể được vớt đã chở vào nhà thương Phủ Doãn (bệnh viện Việt Đức ngày nay). Như có linh cảm, Nguyễn Nhược Pháp rủ Nguyễn Vỹ cùng đến bệnh viện.

Nguyễn Nhược Pháp được phép vào nhận mặt nạn nhân, khi chàng quay ra, khuôn mặt chàng thất thần, với sự hoang mang đến tột độ, vì không hiểu tại sao giai nhân lại từ chối lời tỏ tình của mình, và bỏ chạy bằng việc nhảy xuống hồ quyên sinh ?!

Người y tá thấy Nguyễn Vỹ là bạn với chàng trai thất thần kia, bèn kéo ra một góc khuất nói nhỏ : “Chúng tôi đã khám nghiệm tử thi. Nhưng có điều khác thường, là cô ấy không phải hoàn toàn là phụ nữ. Những trường hợp người con gái như thế, thường người ta gọi là ái nam ái nữ!”.

Chẳng bao lâu, Nguyễn Nhược Pháp cũng từ biệt cuộc đời tài hoa của mình khi tuổi đời đang ở ngưỡng thanh xuân phơi phới, mang theo bao nỗi day dứt về trần thế, trong đó có cả mối tình với cô gái bí ẩn ngày nào.

Xem thêm (bấm vào đường link) : Câu Chuyện “Chùa Hương” trên “Một thời Sài Gòn” ngày 11/04/2017

Yên Huỳnh tổng hợp chuyển tiếp