HIỆP SĨ MÙ “CHÉM GIÓ”

‘LÃO BÀ BÀ” LẠI TRỞ VỀ !

Các báo giấy và báo mạng ở VN vừa qua đồng loạt loan tin, “lảo bà bà” đã hơn 70 cái xuân xanh lại trở về Việt Nam với các đêm diễn từ Bắc vô Nam, mà lần trước ra về với những thất bại thảm hại, không kèn không trống.

Còn nhớ mấy năm trước đây, mấy tên ký giả cà phê, ký giả lá cải được bầu show tặng phong bao nên hí ha hí hửng chụp hình “đôi uyên ương” kẻ bỏ vợ người bỏ chồng” khi cả 2 qua Mỹ viết lách và hát hò. Mấy tên “nô tì ô-sa-ra” này còn nổ là ngoài Hà Nội, bà già sẽ hát… hỏng thêm một show ở Sài Gòn. Nhưng năm đó Sỡ VHTT ở Sài Gòn cấm cửa, làm ông K. (nguyên là một nhà báo đã và đang bị mất ghế tại một nhật báo nọ) gì đó quê một cục (do nghe đâu ông đứng ra bão lãnh cho lão bà bà trở về, do lý lịch lão bà bà này khi ở Mỹ đòi chống Cộng đến hơi thở cuối cùng !!!).

Năm rồi 2016 chắc ông K. này lại bão lãnh cho lão Bà, nên thành phố duyệt cho lão Bà hát trong một khách sạn, khán phòng chỉ nhỏ như một phòng trà chứ không phải nhà hát có cả ngàn chỗ ngồi)

Mấy tên “nô tì” loại “hậu sanh khả ố” này đâu biết rằng, dân Sài Gòn đã “cạch” mặt lão bà bà này, vì ai cũng biết lão bà đã hơn 70 đâu còn hơi hám để hát với hò. Sở dĩ lão bà hát ở xa Sài Gòn, do những nơi đây có nhiều dân trưởng giả mới muốn học làm sang, bỏ ra mấy chai mua vé vào cửa, để tỏ ra mình là người am hiểu âm nhạc… hiểu cách nghe nhạc nhép qua playback… ha ha ha !!!

SỰ THẬT VỀ LÃO BÀ BÀ

Rồi Hiệp Sĩ Mù nhớ đến một bài viết có tựa Con Quạ Đen Và Bồ Câu Trắng: Khánh Ly và Gloria Estefán của Lê Thy trên mạng. Do con Bồ Câu Trắng Gloria Estefán chẳng dính gì, nên Hiệp Sĩ Mù không trích ra đây, chỉ trích đoạn nói về Con Quạ Đen, vì khoái 2 câu : “Nữ hoàng xù show” “Ca sĩ nâng giá”. Vậy xin trích lại cho bà con được hiểu thêm. Dưới đây là bài trích về việc CON QUẠ ĐEN KHÁNH LY “nhổ ra liếm lại” (trích từ : Khánh Ly – Một đời tiến thoái lưỡng nan... của Bích Châu) :

Một cô bé mồ côi cha sống trong sự hà khắc của mẹ và bố dượng, cô bé đầy cá tính đã thoát ra khỏi nhà và sống tự lập bằng tiếng hát từ năm 16 tuổi. 17 tuổi đã lỡ lầm mang thai và lấy chồng, một người cô không hề yêu. Nhiều mối tình qua với 3 đời chồng 4 đứa con. Năm 1975, vượt biên sang Mỹ, những ngày đầu phải đi lau chùi nhà vệ sinh để có tiền nuôi con… Một cuộc đời lắm gian nan, dông bão…

Khánh Ly từng thú nhận mình chỉ học đến tiểu học, nhưng đi thi cũng rớt nên cuối cùng chẳng có bằng cấp gì trong tay, nhưng khi đọc những bài viết (?) của KL không ai nghĩ chị học không qua nổi lớp 6. Chị viết (?) hay, văn chương sáng rõ, nhất là những trang tự sự về cuộc đời mình.

Nhưng văn chương và đời thật nhiều lúc không hề song hành với nhau. Mặc dù cổ nhân vẫn khẳng định “Văn là người”, nhưng trên thực tế không hẳn như thế, nhiều nhà văn người đọc chỉ có thể ngưỡng mộ trên những trang viết, còn cuộc đời thật thì khó thể đến gần. Có lẽ người ta đã dồn tất cả tinh hoa của con người mình lên trang viết, bởi đó là ánh sáng hướng thiện, nhưng sống cho đúng với những điều mình viết ra thì không dễ chút nào. Có lẽ đó cũng là trường hợp của Khánh Ly.

Khi viết chị thật sự muốn sống tình nghĩa, muốn được tôn trọng, muốn trở thành một con người có nhân cách. Nhưng với cuộc đời thật nơi hải ngoại thì chị nổi tiếng là người tráo trở.

Nhiều thông tin từ báo chí, từ những lời chua chát của một số đồng nghiệp của chị ở hải ngoại cho thấy giữa Khánh Ly và những trang viết “Bên đời hiu quạnh” của chị gần như là hai con người biệt lập. Bởi vì ở hải ngoại Khánh Ly nổi tiếng với hai biệt hiệu khá phổ biến : “Nữ hoàng xù show” “Ca sĩ nâng giá”. Cụ thể:

“Năm 2002, một bà bầu show tên Nga tổ chức show tại Majestic, đã nhờ ông Duy Thanh mời Khánh Ly và Khánh Ly đồng ý với giá lên 3.000 USD. Nhưng 10 ngày trước show diễn Khánh Ly nói với Duy Thanh nâng giá lên 5.000.USD (?)”.

“Ngay cả với Trầm Tử Thiêng, cho đến phút cuối, theo di chúc của anh, gia đình đã không cho chị đến dự đám tang. Dư luận cho rằng, khi còn tại thế, nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng (trung tâm ASIA), người đã môi giới chị với một show diễn bên Phi-Luật-Tân (Philippines – người viết) hát cho đồng bào bị nạn nghe… chị đòi giá là $3.000. Mọi người đồng ý, trước vài hôm lên đường, chị đã đòi tăng giá lên $2.000 nữa. Trầm Tử Thiêng vì giữ thể diện, nên đã móc túi $2.000 trả cho chị. Sau đó Trầm Tử Thiêng không muốn nói chuyện với Khánh Ly nữa” Chỉ hai thí dụ cũng thấy rõ nhân cách con người cô ca sĩ nổi tiếng này.

Ai cũng biết khi sang Mỹ, Khánh Ly và chồng là Nguyễn Hoàng Đoan nổi tiếng là người chống Cộng hung hăng, chị đi hát có lúc mặc áo dài cờ vàng 3 sọc đỏ và câu nói nổi tiếng : “Tôi chỉ về nước khi không còn chế độ CS.”.

Nhưng năm 1996, Khánh Ly vẫn về Việt Nam và đã phát biểu hoàn toàn ngược lại : “Tôi rất hối hận, tôi muốn trong nước quên đi những lỗi lầm quá khứ của tôi. Tôi chỉ muốn về thăm quê hương như một người bình thường”.

Song khi trở về Mỹ, Khánh Ly lại tiếp tục tham gia vào các chương trình ca nhạc chống Cộng. Ngày 4-3-2000, Khánh Ly một mình về Việt Nam lần thứ hai, cũng với mục đích thăm gia đình. Gặp lại những nhà báo từng tiếp xúc, chị lại chữa thẹn : “Dưới sức ép của các phe nhóm, tôi phải hát cho các chương trình của họ. Nếu không sẽ bị coi là không xác định lập trường”.

Khi được hỏi cảm tưởng những ngày ở Việt Nam như thế nào, Khánh Ly trả lời : “Vui lắm, thoải mái lắm, hôm đi ăn với mấy người bạn tại nhà hàng Bạch Dương trên đường Lê Quý Đôn, nhiều người nhận ra tôi, yêu cầu tôi hát, và tôi đã hát liền một lúc 3 bài”

Thế nhưng, ngày 13/1/2004, tại Mỹ, Khánh Ly đã hô hào lập hội “Ái hữu ca nhạc” và kêu gọi tẩy chay nghệ sĩ trong nước ra hải ngoại biểu diễn (?). Chị đã từng viết, bày tỏ thái độ coi khinh nhạc sĩ và ca sĩ trong nước là chỉ có một giọng điệu giống nhau, không thể phân biệt được ai hát, đồng thời hết lời ca ngợi những ca sĩ thuộc thế hệ chị.

Nếu đúng như vậy thì việc gì chị phải lo sợ bị quên lãng mà kêu gọi Việt kiều hải ngoại tẩy chay. Và ngày 20/2/2004, tại khách sạn Capital Hilton – Washington D.C, trong một đại nhạc hội mang tên “Xin đừng quên tôi”, với vai trò người dẫn chương trình, Khánh Ly đã dúi vào tay Bằng Kiều lá cờ vàng 3 sọc đỏ, yêu cầu anh tỏ rõ thái độ để được “cộng đồng người Việt chấp nhận cho ở lại Mỹ”.

Một mặt chị bảo chị không về Việt Nam và không muốn hát ở Việt Nam, nhưng chị đã về hai lần. Và năm 2012, khi trong nước cho phép chị về diễn thì chị trả lời phỏng vấn đài BBC là trở về hát ở Việt Nam là niềm mơ ước của chị.

Trước đó chị lên án trong nước không có tự do khi kiểm duyệt bài hát: “Bất cứ ca sĩ nào cũng có quyền hát những nhạc phẩm họ yêu thích theo kiểu của họ. Không nên bắt người khác phải làm theo ý mình hoặc phải nghĩ như mình. Chỉ có Cộng sản mới như thế thôi” , nhưng khi trả lời BBC chị lại nói : “Phải có kiểm duyệt. Lỡ hát những bài người ta không cho phép thì phiền lắm. Nhưng mà nhiều khi tôi nghĩ nó cũng đúng. Mình vào nhà người ta thì chỉ được làm những gì người ta cho phép. Cái điều đó chẳng làm phiền gì mình hết. Tại vì nhiều khi cái mình thích chưa chắc là cái người ta thích”

Trả lời BBC là thế, nhưng sau đó người nhà Khánh Ly đã nói : “Một năm nay, ít nhất có 10 lời mời chính thức từ phía Việt Nam… Tuy nhiên, chúng tôi từ chối mọi lời mời rất hấp dẫn này. Vì chúng tôi không thể làm ngược lại những gì Khánh Ly đã từng tuyên bố trước đây”.

Thực ra, tất cả mọi sự bất nhất này chính là bi kịch của Khánh Ly, một bi kịch mà chị đã tự tạo ra mà không có cách nào thoát ra được. Ngay từ những ngày đầu ở Mỹ, chị đã chứng tỏ mình vượt hơn những ca sĩ khác trong phong trào chống cộng tại hải ngoại. Và chị đã thực sự nổi bật so với những ca sĩ thầm lặng khác. Chị viện mọi lý do để biện minh cho những việc làm, những lời tuyên bố của mình, “nhổ đó lại liếm đó”.

Vì vậy, báo chí trong nước gọi chị là con người tráo trở cũng rất đúng. Ngay cả biệt danh ca sĩ nâng giá, xù sô ở nước ngoài cũng nằm trong hệ lụy này. (Hết trích )

Còn theo Hiệp Sĩ Mù, bởi ở Hoa Kỳ ai cũng đã chào thua “lão bà bà”, vừa già vừa hết thời, nay chỉ có thằng bầu show ca cẩm dao búa gì đó trong nước hám cái danh… thiu ấy, chịu đấm ăn xôi chịu bỏ tiền mời “lão bà bà” về hát… hỏng, cho mọi người thấy ta là đại gia trong làng showbiz, dám bỏ tiền tổ chức show, nhưng rồi đây cũng chẳng có ai khen ! Ô hô !!!

CHUYỆN VỀ LÃO BÀ BÀ KHÁNH LY

Có lẽ “lão bà bà” U70 Khánh Ly đã đọc được bài “Ôi, thấm thía, tuổi già ở Mỹ” (xin xem dưới bài chém gió này) , nên “buồn tình đời” đang muốn “rửa chân” chạy theo một số đồng nghiệp, đã và đang về lại Sài Gòn sinh sống trong chuỗi ngày còn lại. Có lẽ Khánh Ly cũng đã thấy hình ảnh của Thái Thanh đang an dưỡng trong Viện dưỡng lão vì căn bệnh “mất trí nhớ” ! Thật khổ, dù Ý Lan còn đó, gia cảnh bà với 5 đứa con chẳng nghèo gì, nhưng vì sinh kế mà chúng nó phải đưa mẹ vào đây. Khánh Ly cũng sợ sẽ có một ngày như thế. Ở Mỹ theo nhiều người nói, đa số bị Mỹ hóa nên không có tình người, họ sống thực dụng nhiều hơn.

Nhưng cách Khánh Ly muốn trở về Sài Gòn như các đồng nghiệp không thật nhún nhường khiêm tốn, trái lại huyênh hoang tính tự cao tự đại, “lão bà bà” muốn “ngày trở về” của mình như một Nguyễn Cao Kỳ hay một Phạm Duy trước đây được người Hà Nội trọng vọng, dù họ là kẻ đã bỏ bom Bắc Việt và là người “diệt Công” trong chiến dịch Bình Định Nông Thôn” vẫn được mọi người vỗ tay cho “ngày trở về” đó. Nên bà bà đã diễn 2 xuất ở thủ đô trung tâm chính trị này cốt để mọi người… nhìn ngó thấy một bà già “phản tỉnh” mà “hồ hởi phấn khởi” vỗ tay đón chào như đã đón chào ông Kỳ ông Duy.

Có lẽ Khánh Ly nghĩ mình cũng có một vai trò “lớn lao” trong sự nghiệp chống Cộng khi qua Mỹ sau ngày 28/4/1975, và nay muốn “tung cánh chim tìm về tổ ấm”, sẽ được mọi người tôn sùng là một ca kỹ hạng VIP ? Tối thiểu cũng phải sánh ngang anh chàng nhạc sĩ họ Trịnh, sau này cũng sẽ có tên đường !!!? Nhưng “lão bà bà” đã thất bại thãm não ở cả 3 xuất diễn vừa qua (2 Hà Nội, 1 Đà Nẵng), và hiểu rằng lão bà bà chỉ là thứ “rác” trong con mắt của mọi người Việt Nam hiện nay mà thôi.

Hiệp Sĩ Mù (chém gió)

KHU DƯỠNG LÃO TUỔI GIÀ Ở MỸ

Người Việt có một câu nói : Mỹ là thiên đường giới trẻ, địa ngục giới già. Nay tôi đã vào cái tuổi giữa 70, câu nói này thật là thấm thía. Mỹ có tất cả những sản phẩm dành cho thanh thiếu nhi : đồ chơi, phim ảnh, máy chơi điện tử thính thị, khu giải trí có chủ đề (theme parks).

Còn đối với người già, thì chỉ có sự cô lập và nỗi cô đơn. Căn bản nếp sống của người Việt dựa vào gia đình, cộng đồng, và khi ta mất những cái đó, ta mất đi một phần lớn cái tôi.

Khi còn sống ở Việt Nam, tôi không bao giờ nghĩ đến việc sinh sống tại một nơi nào khác ngoài quê hương. Ta sống và chết nơi tiền nhân đã sống và đã chết. Ta có thân nhân, giòng họ; ta có gia đình, có những miếu đền.

Một khi ta đã quen miền đất với mồ mả tổ tiên, ta sẽ không còn sợ tử thần và cái chết. Nhưng tại Mỹ, lối sống cũ của chúng ta không còn nữa. Chúng ta bị buộc phải ra đi khi cuộc chiến kết thúc vào năm 1975, và chúng ta đã sống xa xứ từ lúc đó. Ngày nay, bạn bè và thân nhân của chúng ta tản mạn khắp nơi trên thế giới.

Tại Mỹ, càng già càng mất mát nhiều – bạn bè, thân nhân, trí nhớ, khả năng di chuyển, và ý nghĩ của chính mình. Chuông điện thoại kêu. Tôi nhấc ống máy. Đây là bà tên-này-tên-nọ ở Los Angeles. Bà mắc bệnh tiểu đường và mới bị cưa chân. Rồi chuông điện thoại lại reo nũa : Ông tên-ni-tên-nớ ở Georgia bị ung thư phổi, chỉ còn sống khoảng vài tháng.

Ở Việt nam, chúng tôi đều là bạn thân. Nhưng với cái tuổi đời chồng chất như tôi, tôi làm sao đến thăm họ được khi họ hàng ngàn cây số cách xa? Làm sao ta tưởng tượng được đến việc gọi điện thoại cho người bạn thân khi họ nằm chờ chết trong bệnh viện, để nói lời xin lỗi là không thể tận mình đến viếng thăm được lần cuối. Ấy vậy, tôi làm điều này mỗi tháng, buồn lắm.

Tôi và chồng tôi, chúng tôi dự định đi một chuyến du lịch Âu châu vào kỳ hè tới đây. Chuyến đi này là chuyến đi cuối cùng, để nói lời giã biệt thân nhân bè bạn. Chúng tôi biết là sau chuyến đi này, chúng tôi sẽ không đi đây đi đó được nữa vì sức khỏe đã kém, sẽ không thấy mặt họ nữa. Tôi gần như không bước xuống được cầu thang nhà vì đầu gối chân rất đau. Nhà thì đã bán, giờ thì chúng tôi ở trong một chung cư có thang máy vì đó là điều kiện duy nhất mà chúng tôi có thể sống độc lập không nhờ vả đến ai bây giờ.

Điều mà tôi quan tâm nhất là trí nhớ suy sụp rất nhiều. Tôi là người giữ gia phả của giòng họ, nhưng tất cả đều nằm ở trong đầu. Biết ai liên quan với ai như thế nào trong họ là nghề đặc biệt của tôi, người con gái trưởng trong nhà.. Nhưng không một đứa con nào của tôi biết được những mối dây liên hệ gia đình trong gia tộc, ngay cả đến những người em của chính tôi. Không có tôi, họ hàng thân thích sẽ trở thành kẻ xa lạ nếu tình cờ gặp nhau trên đường phố. Tôi có thể nhớ đến được những bà con cô dì chú bác ba đời của gia đình bên tôi và của cả bên chồng. Tôi phải viết xuống trước khi trí nhớ tôi lụt hết.

Thỉnh thoảng vào buổi sáng khi thức dậy, tôi lặng nhìn cây cối ngoài phố và tự hỏi tôi đang ở nơi nào. Đôi lúc, tôi đi sang khu chung cư kế cận, nơi có một số mèo hoang, và cho chúng ăn những thức ăn thừa. Khi tôi cất tiếng gọi, chúng nhận ra giọng nói của tôi và bổ xua lại. Bây giờ, chúng là những niềm vui nhỏ của tôi.

Đương nhiên những ngày hạnh phúc nhất là những ngày con cháu đến thăm. Nhưng chúng cũng có đời sống riêng, thỉnh thoảng chỉ đến chơi được một lúc rồi về, tôi làm gì cho hết những khoảng thì giờ trống trải sau đó?

Mẹ tôi, bà mất năm bà 97 tuổi, và mẹ chồng tôi, qua đời lúc 95 tuổi; cả hai người có sống chung trong một khu dưỡng lão nhiều năm. Tôi thường đi xe buýt đến thăm hai bà mỗi ngày, ngay cả khi còn đi làm. Từ lúc đó tôi đã biết cái thảm não của người già trên đất Mỹ, ngay khi tôi còn trẻ trung mạnh khỏe. Các nhân viên điều dưỡng ở đó thường nói với tôi là hai bà có phước lắm, thường có được con cháu đến thăm.

Tôi trả lời: “Đó là lối sống của người Việt Nam”. Còn những người già khác, con cháu họ ít đến. Tôi có nhớ một số bà lão, ngồi trên những chiếc xe đẩy, ngóng trông con cháu hay người thân, ngày này qua ngày khác, nhưng chẳng thấy ai. Có cả một bà cụ, cụ còn sống lâu hơn những người con trai; mỗi ngày bà vẫn ngồi chờ trông mong hình ảnh người con trai bước qua khung cửa. Thật tội nghiệp khi người ta sống dai như vậy trong sự cô đơn!

Ở xứ Mỹ này, tuổi già đúng là tuổi lỡ thời; cả hai đều không được người ta kính nể hay cho một chút gì quan trọng. Ở quê nhà, các ông già bà lão thì được nể vì nhất, vì họ là những người chia xẻ túi khôn cùng kinh nghiệm cho những người đi sau. Điều đó không có ở đây. Không ai muốn nghe tiếng nói của người già. Họ cảm thấy bị cô lập ngoài vòng ranh giới của con cháu Mỹ hóa của họ. Chúng cười vang về nhiều thứ mà tôi không hoàn toàn hiểu được. Mỹ đúng là một quốc gia của giới trẻ hơn là giới già như tôi.

Vào những buổi chiều mùa đông, tôi ngồi nhìn những hàng cây trơ trụi lá, tâm hồn lạc lõng. Tôi nghĩ về cái thế giới mà tôi đã biết, nay đã bay xa, như làn khói hương trầm. Tôi nghĩ đến cố hương, đến những mùa lễ Tết ở Saigon, đến những đám cưới, đám hỏi, đến những chuyến du lịch, những lần tíu tít họp mặt gia đình, ai ai cũng có mặt, con nít chạy quanh, người lớn ngồi nói chuyện đời chuyện gẫu, đàn bà con gái quây quần chung lo việc bếp nước. Và tôi cảm thấy rất khao khát những ngày quá khứ xa xưa. (theo Nguyễn Đức Nguyên chuyển ngữ)

TÂM TRẠNG NGƯỜI GIÀ VIỆT NAM Ở MỸ

Cụ Bùi Gia Tưởng, 81 tuổi, hiện cư trú tại Houston, Texas, viết trong bài này: Bộ sách “Viết về nước Mỹ” của hàng ngàn tác giả góp phần gồm có 12 quyển, mỗi năm ra một quyển, chẳng biết tuổi già tôi còn sống được để đọc quyển thứ 12 hay không vì ngày đó còn quá xa ! Lời cụ Bùi là sự thúc dục, mong cho số người viết nhiều hơn, bộ sách chung xong sớm hơn, mỗi năm hai ba bốn cuốn… Sau đây là bài viết của cụ Bùi.

oOo

Tuổi già ở xứ Cờ Hoa này thật cô đơn và buồn tẻ. Nhiều gia đình bà bất hạnh đi trước chỉ còn lại có một mình ông, ngày nào cũng đi đi lại lại quanh quẩn trong nhà làm bạn với sách báo việt ngữ và cái radio phát thanh tiếng Việt từ mờ sáng đến sẩm tối. Gần đây có thêm đài Tiếng Nước Tôi phát thanh 24/24. Những đêm thao thức mất ngủ có được một bạn đường bên cạnh thật đỡ buồn.

Buồn nào bằng cảnh quá cô đơn

Con phải đi làm để sống còn

Nếu mãi gần nhau thì “lãnh đủ”

Ân đành chịu vậy biết sao hơn !

Cuộc sống mới ở đây vật chất và tiện nghi quá đầy đủ, nhưng cảnh già thật buồn tẻ bạn tri âm không có, làng giềng cũng không, tiếng Mỹ chỉ biết được có 2 tiếng “ô-kê và Bai” của đóng then cài, ít khi có dịp ra ngoài, làm sao không buồn cho được!
Ở cái tuổi “Cổ lai hy” này đâu có sợ chết, vì sống đây là kiếp “dư sinh” có giúp ích được gì cho xã hội.

Ngày ngày tôi luôn cầu nguyện ơn trời phù hộ cho tôi được “ra đi” trong tích tắc để đỡ khổ bản thân và khổ cho bầy con thân yêu. Mỗi ngày tôi thường canh giờ ra trước mặt nhà mở thùng thơ. Hôm nào nhận được thơ của bà con thân nhân ở Việt Nam là tôi mừng hết lớn.

Ôi không gì đẹp bằng quê hương nơi chôn nhau cắt rốn và rất có nhiều kỷ niệm.
Thỉnh thoảng có điện thoại reo một vài ông bạn già gọi đến than thở nỗi buồn, thậm chí có vài ông muốn trở về. Tôi luôn luôn trấn an các bạn là “Như thế và không thể khác được, gặp thời thế thế thời phải thế”.

Một thời gian rồi các bạn cũng quen dần với nếp sống mới, những cú điện thoại sau có nhiều bạn đã cười giòn tan, không còn than than thở thở như trước nữa.
Sanh, lão, bệnh, tử là bốn thời kỳ của một đời người. Riêng tôi tới thời kỳ thứ ba rồi, đã gần đến lúc “Mắt mờ chẳng thấy” “trông trông” mãi “Tai điếc không nghe” “thử thử” hoài.

Cái ngày đó nhất định sẽ đến và phải đến không ai tránh khỏi. Lúc ấy điện thoại nghe không còn nghe được, mắt thì mờ không thấy rõ để bấm số gọi các con đang làm việc ở sở làm. Đôi khi chợt nghĩ đến mà rùng mình, lo lắng đau lòng, buồn tủi đến nỗi không cầm được nước mắt.

Ôi đời đúng là một bể khổ, tuổi càng cao càng thấy thật thấm thía. Đôi khi liên tưởng đến vua Quang Trung một thiên tài quân sự đã oanh liệt thắng trận Đống Đa, chỉ có 5 ngày mà đuổi được 150,000 quân Thanh xâm lược. Nếu Ngài không mất sớm chắc thừa thắng Ngài đã đòi lại được hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây vốn là lãnh thổ của ta. Lúc ấy, nước nhà được độc lập phú cường dưới sự lãnh đạo tài ba của Ngài, thì làm gì ngày nay con cháu của Ngài hàng triệu người phải sống lưu vong, giặc Pháp cũng không có cơ hội đô hộ dân ta suốt 80 năm ròng rã và dân ta đâu có nghèo khổ lầm than như bây giờ.

Hôm nay tôi viết bài dự thi “Viết về nước Mỹ”. Mặc dù biết “lão lai tài tận” nhưng tôi cũng cố gắng viết “trối già” để tả cái tâm trạng đau khổ của một người sống cô đơn nơi quê hương thứ hai này, một nước Mỹ giàu mạnh, văn minh và dân chư bậc nhất thế giới đã có lòng nhân cưu mang và giúp đỡ tận tình cho những dân tỵ nạn đau khổ trong đó có tôi bằng những tuổi già hàng tháng có tiền già, rủi đau ốm có medical, khám bệnh mua thuốc không tốn tiền. Nói chung là người già được chính phủ nuôi cho đến chết.

Tôi rất cám ơn lòng bác ái vô biên của nước Hoa Kỳ, vì tự thấy bản thân mình trước đến giờ đã đóng góp được gì cho xã hội Mỹ, để được hưởng cái ân huệ to tát đó. Bộ sách “Viết về nước Mỹ” của hàng ngàn tác giả góp phần gồm có 12 quyển, mỗi năm ra một quyển, chẳng biết tuổi già tôi còn sống được để đọc quyển thứ 12 hay không vì ngày đó còn quá xa!

Lời quê chắp nhặt được ít trang giấy thân gởi các bạn già cùng cảnh ngộ gọi là một chút tình nhỏ mọn này. (theo Bùi Gia Tưởng)

Lan caysu chuyển tiếp

Advertisements

NGƯỜI NHẠC SĨ VỚI 34 NGƯỜI TÌNH…

NHẠC SĨ Y VŨ TỪNG ĐƯA

34 NGƯỜI TÌNH…. ĐI LẤY CHỒNG  

Sáng tác các bài “Tôi đưa em sang sông” – “Ngày cưới em”…

Nhạc sỹ của nhiều ca khúc nổi tiếng chia sẻ về các cuộc tình của ông. Ở độ tuổi 75, ông đã từng trải qua hàng chục mối tình. Ông là một nhạc sĩ đa tình và hiện người vợ của ông là người tình thứ 35 trong cuộc đời. Đối với những người yêu nhạc, nhạc sĩ Y Vũ không còn là một người quá xa lạ.  Y Vũ tên thật là Trần Gia Hội, sinh năm 1942 tại Hà Nội và là em trai ruột của nhạc sĩ Y Vân.

Ông cho ra đời rất nhiều ca khúc khiến biết bao con tim phải thổn thức vì những câu chuyện đời tư mà chính Y Vũ lồng ghép vào trong ấy : “Kim”, “Điên”, “Hận”, “Ngày không em”, “Ngày cưới em”…

Và đặc biệt nhất có lẽ chính là ca khúc “Tôi đưa em sang sông”, ca khúc vẫn sống mãi cùng với thời gian với những ca từ da diết : “Tôi đưa em sang sông, chiều xưa mưa rơi âm thầm / Để thấm ướt chiếc áo xanh, và đẫm ướt mái tóc em / Nếu xưa trời không mưa, đường vắng đâu cần tôi đưa / Chẳng lẻ chung một lối về mà nở quay mặt bước đi…”

Tại buổi quay hình “Ca sĩ bí ẩn” mới đây, nhạc sĩ Y Vũ tiết lộ người con gái trong ca khúc “Tôi đưa em sang sông” chính là người mà ông luôn nhức nhối và khó quên nhất. Dù Y Vũ đã trao trọn tình cảm, sự yêu thương cho người yêu nhưng cô gái vẫn quyết sang ngang với người đàn ông khác tốt hơn và có cuộc sống đầy đủ hơn. “Cô người yêu đi lấy một ông bác sĩ rất giàu”, ông nhớ lại. Vì quá đau lòng, ông đã viết ca khúc “Tôi đưa em sang sông”.

Nhạc sĩ Y Vũ chia sẻ thêm, sau đó 6 tháng, ông lại nhận được thiệp hồng mời đến dự đám cưới của người yêu cũ. Ông ngồi trong sảnh cưới chỉ có một mình với tâm trạng buồn, lẻ loi. Sau khi về, vì quá tủi thân, nhạc sĩ đã cho ra đời ca khúc “Ngày cưới em” để nói lên tâm trạng cô đơn lúc bấy giờ của mình.

“Khi người yêu đi lấy chồng, tôi được mời đến dự đám cưới. Ngồi với người khác mà cảm thấy như chỉ có một mình. Sau đó về, tôi tủi thân viết tiếp bài “Ngày cưới em” nói về tâm trạng cô đơn trong ngày cưới”, ông nói.

Nhạc sĩ Y Vũ thừa nhận, người nghệ sĩ thường đa tình và khó quên. “Người nghệ sĩ, nhạc sĩ rất đa tình, có thể mỗi bài viết cho một người yêu. Bài “Kim” là tôi viết cho một cô vũ nữ tên Kim, bài “Điên” là tâm trạng thất tình, giống như mộng du, đêm về đi lang thang phải có cậu em dẫn về nhà…”, ông nói.

Nhắc đến bài “Kim”, những người mê nhạc của ông còn nhớ vào năm 1969, Y Vũ làm việc ở Vũng Tàu, tối tối ông thường đi chơi ở vũ trường Blue Star, quen rồi yêu một vũ nữ tên là Kim. Cô gái có hoàn cảnh nghèo này bị bệnh tim. Ðể khích lệ tinh thần Kim, Y Vũ viết bài “Kim”.

Bài hát lập tức nổi tiếng và được ca sĩ Túy Phượng – nữ hoàng nhạc twist lúc đó hát trên cả đài phát thanh lẫn truyền hình. Khoảng một năm sau thì cô gái mất, Y Vũ đau buồn viết tiếp bài “Những tâm hồn hoang lạnh” riêng tặng cho kiếp vũ nữ…

Hiện giờ, ở cái tuổi thất thập, vị nhạc sĩ nhìn lại chặng đường đời ông đã từng đưa 34 người tình “sang sông”, cho đến tận người thứ 35 là người vợ lúc này của Y Vũ mới chính là chuyến đò cuối cùng và ở lại mãi với nhạc sĩ cho đến cuối đời.

35 lần yêu thì 34 lần dở dang, tuy nhiên theo thời gian, những kỷ niệm dù đau thương, không còn nguyên vẹn vẫn được lưu giữ trong gia tài là những ca khúc được ông nâng niu và được khán giả yêu thích cho đến tận bây giờ…

Tôi Đưa Em Sang Sông

https://youtu.be/vGfHJpWeql8

Tôi đưa em sang sông, chiều xưa mưa rơi âm thầm

Để thấm ướt chiếc áo xanh, và đẫm ướt mái tóc em

Nếu xưa trời không mưa, đường vắng đâu cần tôi đưa

Chẳng lẻ chung một lối về mà nỡ quay mặt bước đi

Tôi đưa em sang sông, bàn tay nâng niu ân cần

Sợ bến đất lấm gót chân, sợ bến gió buốt trái tim

Nếu tôi đừng đưa em, thì chắc đôi mình không quen

Đừng bước chung một lối mòn, có đâu chiều nay tôi buồn

Rồi thời gian lặng lẽ trôi,

Đời tôi là cánh chim đi khắp phương trời

Mà đời em là ước mơ,

Đẹp muôn ngàn ý thơ, như ngóng trông chờ

Hôm nao em sang ngang, bằng xe hoa thay con thuyền?

Giờ phút cuối đến tiễn em, nhìn xác pháo vướng gót chân

Gót chân ngày xa xưa sợ lấm trong bùn khi mưa..

Nàng đã thay một lối về, quên cả người trong gió mưa….

Yên Huỳnh chuyển tiếp

– Những Tình Khúc buồn của NS Y Vũ trước 75 (1:05’)

https://youtu.be/f239we0zEd8

1/- TÔI ĐƯA EM SANG SÔNG – Vũ Khanh 6:07 2/- HẬN – Thanh Lan
11: 25 3/- TÌNH MÌNH NGANG TRÁI – Khánh Ly 16:20 4/- CHUYỆN TÌNH ĐẦU – Mỹ Huyền 21:05. 5/- DẤU CHÂN QUA – Khánh Ly 24:14 6/- NGƯỜI XA TÔI – Giao Linh 28:20 7/- ĐIÊN – Nguyễn Hưng 33:20 8/- NGÀY MAI KHÔNG CÓ ANH – Giao Linh 38:40 9/- NHỮNG TÂM HỒN HOANG LẠNH – Thanh Thúy 44:08 10/- TIẾNG HÁT VỀ ĐÊM – Trúc Mai 49:20 11/- CHIỀU RU MẶT TRỜI – Lệ Thu 52:25 12/- NGÀY CƯỚI EM – Đan Nguyên 57:00 13/- TÔI TIỄN NGƯỜI TÔI YÊU – Anh Khoa 1:01:57

Quế Phượng chuyển tiếp

THƠ PHỔ NHẠC : “THÔI”

Nguyễn Long & Y Vân

Chào các bạn,

Hôm nay mình giới thiệu đến các bạn thi khúc “Thôi” của Thi sĩ/Tài tử điện ảnh Nguyễn Long và Nhạc sĩ Y Vân. Nhạc sĩ Y Vân là một nhạc sĩ tiêu biểu của nền Tân Nhạc Việt Nam từ cuối thập niên 1950 đến 1990. Nhiều sáng tác của ông đã trở thành bất hủ và vẫn được trình diễn bởi những ca sĩ hiện thời.

Nhạc sĩ Y Vân tên thật là Trần Tấn Hậu, sinh năm 1933 tại Hà Nội (quê gốc ở Thanh Hóa). Thuở niên thiếu, ông từng theo học nhạc với GS NS Tạ Phước và cũng đã sáng tác từ rất sớm. Mồ côi cha, nhà nghèo, gia đình ông phải dắt díu nhau nương náu trong một túp lều ở ngõ chợ Khâm Thiên. Chính vì thế, ông rất thương mẹ và các em, ông phải đi dạy đàn để lo cho gia đình.

Năm 1952 ông vào Nam, tiếp tục sáng tác, chơi nhạc, hòa âm và dạy nhạc, ngoài ra ông còn viết sách dạy nhạc và đàn guitar. Ông là người đi tiên phong cho dòng Nhạc Trẻ với những bài hát có giai điệu Chachacha, Disco, Twist như: “Sài Gòn”, “Ảo Ảnh”, “60 Năm Cuộc Đời”, “Thôi”.

Thời gian sau năm 1975, ông tham gia Đoàn Ca Nhạc Hương Miền Nam, rồi nhận viết nhạc cho nhiều nguồn: viết nhạc phim, nhạc nền cho sân khấu… Nhạc sĩ Y Vân có 2 đời vợ và 8 người con. Ông mất vào ngày 28 tháng 11 năm 1992 (tức ngày 05 tháng 11 năm Nhâm Thân – âm lịch). Hưởng thọ 60 tuổi (đúng như dự đoán của ông trong bài “60 Năm Cuộc Đời”)

Y Vân có nghĩa là “Yêu Vân”, tên của tiểu thư Tường Vân – người yêu đầu tiên của ông. Ông chọn tên này từ khi chuyện tình giữa ông và tiểu thư Tường Vân tan vỡ. Một số ca khúc của ông đã được viết với tâm sự mất mát này như: “Đò Nghèo”, “Ảo Ảnh”, “Nhạt Nắng”…

Sự nghiệp sáng tác của ông có khoảng trên dưới 200 tác phẩm. Tác phẩm “Lòng Mẹ” của ông rất nổi tiếng và được xem như một trong những ca khúc kinh điển tiêu biểu, sâu sắc và thiêng liêng nhất về tình mẹ. Tác phẩm “Lòng Mẹ” được ông sáng tác vào năm 1952. Từ đó đến nay, bài hát đã được nhiều ca sĩ thể hiện, vì thế nó là một bài hát rất quen thuộc với người Việt Nam từ ngày nó ra đời cho đến ngày nay.

Ngoài “Lòng Mẹ”, các ca khúc còn lại của ông trong phạm vi bài này cũng nổi tiếng không kém và thường được các ca sĩ nhiều thế hệ tiếp tục trình diễn cho đến giờ.

Đồng thời ông còn cùng Lan Đài đồng sáng tác hai quyển sách Tự Học Tây Ban Cầm cũng rất phổ biến:

– Tự học Tây Ban Cầm (nhạc thời trang – nhạc Jazz)

– Tự học Tây Ban Cầm (phương pháp Flamenco)

Thi khúc “Thôi” (Thi sĩ/TTĐA Nguyễn Long và Nhạc sĩ Y Vân)

Thôi em đừng khóc nữa làm gì

Kỷ niệm sầu ân tình cũ xa xưa

Thôi em đừng khóc,

Em đừng khóc, đừng khóc nữa giọt lệ sầu

Làm sao xóa hết tâm tư

Thôi em đừng tới nữa làm gì

Đừng để lòng se lại khúc yêu đương

Thôi em đừng tiếc

Em đừng tiếc, đừng tiếc nữa

Đừng để lòng anh trở lại kiếp u buồn

Ôi, cuộc đời đầy phong ba giữa lòng người

Lệ sầu chia ly buồn tê táI

Ly rượu này đầy thương đau tấm hình hài

Thu man mác buồn mùa thu ơi

Thôi em đừng nhắc nữa làm gì

Từng nẻo đường in hình bóng chung đô

Thôi em đừng nhớ

Em đừng nhớ nữa chuyện của mình

Kiếp nay đành lỡ duyên rồi

Thôi đôi bờ vai đừng rung động

Đã hết rồi còn khóc nữa chi em …

Đã hết rồi còn khóc nữa chi em…

https://www.youtube.com/watch?v=QiUcuGlLApQ
https://www.youtube.com/watch?v=cE8TG_yTF-o
https://www.youtube.com/watch?v=WuNl0yXszv8
https://www.youtube.com/watch?v=hgTNgITGWGA
https://www.youtube.com/watch?v=St9IVl0qHAk
https://www.youtube.com/watch?v=4uPxqT12P6o

Thi sĩ / Đạo diễn điện ảnh Nguyễn Long.

Vĩnh biệt anh Long… “Đất” của tụi em

Lại một người bạn thân nữa của tôi vừa mới ra đi, đó là anh Nguyễn Long, một nam tài tử điện ảnh và kịch nghệ lão thành của sàn quay và sân khấu Việt Nam . Không thể ngờ được là chỉ trong năm 2009 mà cả ba người tuổi tác rất chênh lệnh nhưng lại cùng rủ nhau đi một lượt. Sau Trường Kỳ, Tùng Giang giờ đến Nguyễn Long, dù trong một quẻ tự bói, anh Long cho biết sẽ mãn phần vào năm 2010. Như vậy anh chỉ đoán sai có đúng 2 tháng mà thôi.

Nguyễn Long lớn hơn tôi 10 tuổi, nhưng lúc nào cũng xem tôi như bạn và vẫn thường đòi làm “con nuôi” của Bố Mẹ tôi. Anh được tất cả các anh chị em trong gia đình tôi yêu quý và đôi khi cũng có những cuộc “đụng độ” nhau như “anh em trong nhà” khiến Bố tôi phải la rầy cả bọn. Lúc đó thấy anh Long thật dễ thương, khi vừa cúi đầu vừa nói “con xin lỗi Bố”!

Anh ra đi hôm nay để lại niềm thương tiếc cho gia đình, cho chị Nga và các cháu cũng như anh chị em chúng tôi. Nhưng tôi tin rằng Bố Mẹ tôi sẽ rất vui khi gặp lại anh nơi chín suối, nhất là Trường Kỳ, Tùng Giang và dĩ nhiên sư phụ của anh là “quái kiệt” Trần Văn Trạch cùng nhiều nghệ sĩ khác.

Vĩnh biệt anh Long… “Đất” của tụi em. (Nam Lộc – Mùa Thu California, 2009)

Sau đây là đôi dòng tiểu sử của tài tử Nguyễn Long

Nguyễn Long tên thật là Nguyễn Ngọc Long, sinh ngày 2 tháng 3 năm 1934 tại thành phố Hải Phòng. Năm 1945 học sinh của trường Hoàng Diệu. Năm 1946 gia nhập Ban Văn Nghệ Thiếu Niên Hà Nội. 1947 Ban Thiếu Niên Tuyên Truyền Chiến Khu 3.

Vào Sài Gòn năm 1949 và chính thức bước lên sân khấu kịch nghệ và điện ảnh miền Nam Việt Nam năm 1955 và xuất hiện trong một số phim do VN, Hoa Kỳ và Phi Luật Tân hỗn hợp thực hiện. Khởi sự viết kịch và chuyện phim từ năm 1957 và đã đóng vai chính trong gần 70 vở kịch ngắn, dài trên sân khấu và truyền hình VN.

Năm 1961 tự sản xuất, đạo diễn và đóng vai chính trong các bộ phim nổi tiếng như Mưa Lạnh Hoàng Hôn, Nước Mắt Đêm Xuân, Thuý Đã Đi Rồi, Anh Yêu Em, Hè 72 và OK, OK…! Tổng cộng 14 cuốn phim.

Vượt biên sang định cư tại Mỹ năm 1981, tiếp tục sản xuất, đạo diễn các tác phẩm điện ảnh khác như Mây Xám Chiều Hoang, Như Là Khởi Đầu, Biển Khổ v..v… Đến năm 1984 xoay ra làm báo và phát hành tuần báo Kịch Ảnh. Năm 1992 khởi sự viết sách, bắt đầu bằng tập tài liệu nghiên cứu có tên là “Chủ Nghĩa Tư Hữu”, rồi đến bộ sách “Việt Nam 94” ghi lại ký ức 60 năm lịch sử VN từ 1934 đến 1994. “Việt Nam 95” ghi lại cuộc hành trình của tác giả từ Lạng Sơn đến Cà Mâu. “Việt Nam 1996”, vòng quanh nước Mỹ và sau cùng là “Việt Nam 66 Năm Nhạc, Kịch và Điện Ảnh: 1937 – 2002”, ghi chép lại tiểu sử của hàng trăm nghệ sĩ, đạo diễn, tài tử VN. Đặc biệt trong phần ghi chú tác giả viết rất rõ như sau:

“Những cuốn sách do Nguyễn Long viết (11 cuốn) đều là Bản Quyền Việt Nam . Bất luận người Việt Nam nào cũng có quyền tự do sử dụng một cách miễn phí (free). Được phép trích từng đoạn hay cả bộ sách, kể cả việc in lại mà không cần phải hỏi sự đồng ý của tác giả”. (Nguyễn Long, 2001).

Theo cô Ngọc Hân, con gái út và cũng là người gần gũi nhất với “Bố Nguyễn Long” cho biết thì kể từ muà Hè 2003, nam tài tử Nguyễn Long đã về sống “ẩn dật” gần Vợ Con, đồng thời cũng để dưỡng bệnh tại thành phố Seattle, tiểu bang Washington. Ông không còn liên lạc với bất cứ ai, ngoại trừ Nam Khang, một người em kết nghĩa và nhạc sĩ Trúc Hồ, người vẫn thỉnh thoảng viết thư thăm hỏi cũng như gởi tác quyền các bài thơ được phổ nhạc của ông mà trung tâm Asia thường sử dụng. (theo Nam Lộc)

– Các bài hát chọn lọc hay nhất của NS Y Vân thu âm trước 1975 (3:57’)

https://youtu.be/GXIqPr0AyaQ

Lan Hương chuyển tiếp

Tiếu Lâm Chi Bảo

Bốn người khách vốn thuộc hạng văn thi sĩ… vào một quán nhậu. Trong khi chọn món ăn,cô hầu bàn đến cười duyên:

– “Em rót bia cho mấy anh nhé ?”

Anh A liền tán :

– “Xin lỗi, em mỹ danh là gì, ở đâu ?”

Cô cười dịu dàng:

– “Hỏi quê… rằng biển xanh dâu,

Hỏi tên… rằng mộng ban đầu đã xa”.

Anh B vỗ đùi :

– “Úi chà ! Giỏi thơ thiệt ! Tuyệt vời. Rót bia đi”.

– “Dạ . Cảm ơn quí anh”.

Anh C đon đả :

– “Lấy thêm ly. mời Em cùng ngồi uống cho vui”. – “Dạ”.

Thế là bàn có một bông hồng giữa đám sỏi đá. Anh D mời tất cả cụng ly :

– “Coi bộ em giỏi thơ văn nhỉ !”.

Cô cười rất duyên :

– “Em cũng học mót chút ít để góp chuyện cho vui mà. Quí anh không thấy phiền chứ ? Chắc quí anh giỏi văn thơ lắm thì phải ?”

Anh A xoa bụng, ưỡn ngực :

– “Cũng đủ xài. Ai hỏi gì nói nấy. Nhất là lãnh vực văn học. Không bao giờ bị kẹt”.

– “Thế là quá giỏi rồi. Vậy, em đố các anh về lĩnh vực văn học nhé ?”

Cả bàn nhốn nháo hẳn lên, vui như cá gặp nước. Họ là nhà giáo, nhà thơ nhà văn cả… hớn hở cụng ly chờ đợi cuộc  vui. Cô gái cười, cất giọng oanh vàng :

– “Nếu có một ông khỏa thân” (trần truồng) cõng một  ông cũng khỏa thân… Câu tục ngữ nào tả được cảnh này ?”.

Bốn vị khách không tìm ra câu tục ngữ nói về trường hợp hy hữu này… Anh C thẳng thắn :

– “Chúng tôi thua. Cô giảng đi.

Cô bình tĩnh giải thích :

– Này, một ông khỏa thân, cõng trên lưng một ông cũng khỏa thân… Lúc ấy sẽ có tình trạng mà tục ngữ nói “Gậy ông đập lưng ông”.

– “Úi trời ! Ðúng quá”

Cả bàn cười rộ. Vừa rót thêm bia, cô vừa đố tiếp :

– “Cũng cá iông khỏa thân ấy, ông ta nhảy tõm xuống ao, tục ngữ nói sao nào ?”

Bốn vị khách lại bí … Họ lại yêu cầu cô giải đáp. Cô cười tủm tỉm :

– “Ông khỏa thân mà nhảy xuống ao sẽ gây nên cảnh : “Chim sa cá lặn”.

Cả bàn cười vang như pháo tế t.

– “Úi trời ! Ðúng quá đi. Cá trông thấy chim hãi  quá phải lặn là cái chắc !”

Thừa thắng xông lên, cô ta đố tiếp :

– “Thưa quí anh, cũng cái ông khỏa thân ấy, ông ta ngồi lên hòn đá, tục ngữ bảo sao ?”

Bốn khuôn mặt thông minh kia lại đờ đẫn. Cô gái thong thả giải thích :

– “Ông khỏa thân ngồi lên hòn đá, lúc ấy tục ngữ phán rằng: “Trứng chọi đá !”

Cả bàn cười vang. Ông D  hăm hở :

– “Ðúng quá đi chớ. Trứng này không bể được ! Còn nữ akhông?

Cô gái tiếp :

– Cũng cái ông khỏa thân đó nữa, nay lại ngồi bệt xuống đất không chịu đứng dậy thì theo «tục ngữ» các ông nói sao ?

Bốn khuôn mặt sáng láng trông thật thảm thương, bí rị. Cô gái tiếp :

– Cái ông khỏa thân ngồi bệt xuống đất diễn ra cảnh mà «tục ngữ» gọi là «Ðất lành chim đậu». Ðúng chưa ?

Cả bọn cười vang… (Sưu tầm)

Yên Nhàn chuyển tiếp

MƠ ƯỚC CỦA NS LAM PHƯƠNG

MƠ ƯỚC CỦA NS LAM PHƯƠNG :

‘CÓ MÔT NGƯỜI BẠN ĐỂ HỦ HỈ’

Tối Thứ Bảy, 24/6/2017, tại Hội trường báo Người Việt diễn ra chương trình văn nghệ “Lam Phương- 80 cuộc đời, 65 năm âm nhạc” thu hút đông đảo khán giả thuộc nhiều thế hệ đến xem.

Nhân dịp này, phóng viên Ngọc Lan đã có cuộc phỏng vấn “chớp nhoáng” với nhạc sĩ Lam Phương để nghe ông chia sẻ những buồn vui trong cuộc đời của người nhạc sĩ tài hoa. Đặc biệt là niềm mơ ước rất thú vị của ông ở tuổi 80.

Ngọc Lan (NL) : Khi nãy nhìn thấy chú Lam Phương vừa ngồi vừa coi những video clip, có lẽ là những bài hát của chú. Mỗi lần ngồi xem ca sĩ trình diễn các ca khúc của mình như thế thì cảm xúc của chú như thế nào ?

Nhạc sĩ Lam Phương : Chắc chắn là rất cảm động, nhất là những bài hát mình viết, nghe để nhớ lại lúc mình sáng tác nó như thế nào.

NL: Chương trình ca nhạc, những ca sĩ hầu hết không phải chuyên nghiệp hay trên một sân khấu lớn, mà chú vẫn có mặt để tham dự. Chú nghĩ gì về việc có mặt ở đây để tham dự một chương trình đơn giản như vậy ?

Nhạc sĩ Lam Phương : Đối với tôi, việc đi dự những buổi nhạc chuyên nghiệp quen rồi. Nhưng tôi vẫn muốn làm điều gì để nâng đỡ đàn em sau này. Cho nên hy vọng sự hiện diện của tôi sẽ giúp cho các cháu ngày sau sẽ tiến lên.

NL: Chú bắt đầu sự nghiệp sáng tác của mình như thế nào  Giống như là năng khiếu bẩm sinh hay xuất phát từ điều gì để đi đến sáng tác đầu tiên của chú ?

Nhạc sĩ Lam Phương : Tôi sáng tác rất sớm, khi mới có 15 tuổi. Đây này là năng khiếu tự nhiên của mình. Lúc đó tôi còn đi học, thức đêm thay vì học bài mình lại có đầu óc sáng tác. Lúc trời khuya dễ có cảm hứng lắm.

NL: Khi sáng tác ra bài nhạc đầu tiên, chú đưa cho ai hát ? Làm sao để người ta biết đến tên của nhạc sĩ Lam Phương ?

Nhạc sĩ Lam Phương : Khổ lắm cháu ơI ! Cái gì khi bắt đầu cũng khó. Khi viết bài đầu tiên đâu có ai biết mình là ai, thành ra mình phải đi đến gặp họ, trình bày bài của mình cho họ biết, rồi họ kêu mình hát, dù hát không được cũng cố gắng hát cho họ nghe, nghe được rồi họ mới chịu hát bài của mình, chứ không có dễ đâu.

NL: Khoảng bao nhiêu lâu sao bài hát đầu tiên của chú thì người ta bắt đầu biết đến tên nhạc sĩ Lam Phương ?

Nhạc sĩ Lam Phương : Bài đầu tiên là bài Chiều Thu Ấy, tôi làm lúc 13 tuổi. Đến năm 15 tuổi mới tung ra mà đâu ai mua, trong khi không có tiền, phải đi mượn tiền để in bài đó. Phải bán cả năm sau mới lấy vốn được. Cũng gian nan lắm !

NL: Phải mấy năm sau sự gian nan đó thì tên tuổi Lam Phương mới được người ta chú ý đến ?

Nhạc sĩ Lam Phương : Hai năm sau. Bài đầu ít người biết lắm, sau này đến bài thứ nhì thì người ta mới biết nhiều, là bài “Nhạc Rừng Khuya,” giai đoạn tôi viết nhạc về quê hương đó, thì lúc đó phong trào mới nổi lên, và người ta mới biết đến tên tôi.

NL: Và khi tên tuổi nhạc sĩ Lam Phương được người ta biết đến nhiều, thì chuyện sáng tác của chú làm ra để đưa đến ca sĩ hay làm ra băng đĩa bán trở nên dễ dàng hơn rất nhiều phải không ạ ?

Nhạc sĩ Lam Phương : Đúng rồi, dễ dàng hơn lúc đầu nhiều lắm, vì người ta đã biết tên mình thì người ta tin tưởng bài mình. Lúc đó mình không cần năn nỉ nữa mà người ta tìm đến mình xem có bài mới không là họ hát.

NL: Trong số những ca sĩ đã trình diễn các sáng tác của chú, chú cảm thấy ưng ý nhất là ca sĩ nào ?

Nhạc sĩ Lam Phương : Cũng khó so sánh, vì tôi viết nhiều loại nhạc lắm, mỗi một loại nhạc có một số ca sĩ riêng, như nhạc quê hương thì có Hương Lan, Mai Thiên Vân, nhạc tình thì có Khánh Hà, Ý Lan, thành ra mình không so sánh được, mỗi ca sĩ chuyên về một loại nhạc, mình không đem ca sĩ hát loại nhạc này với ca sĩ hát loại nhạc khác.

NL: Về bài hát “Chiều Tây Đô,” chú Lam Phương có thể cho biết là chú sáng tác bài đó trong hoàn cảnh như thế nào để có thể nói lên nỗi niềm tâm sự của nhiều người như vậy?

Nhạc sĩ Lam Phương : Trước tiên, tôi không phải là người sanh dưỡng tại Cần Thơ, mà tôi sanh ở Rạch Giá. Nhưng tôi có một người bạn, người bạn đó nói “Sao anh viết cho mọi người được mà anh không viết cho em được? Em ở Tây Đô.” Chính vì vậy mà tôi viết bài “Chiều Tây Đô.”

NL: Còn bài hát “Một Mình” thì sao ạ ?

Nhạc sĩ Lam Phương : Thường những bài hát tôi sáng tác là tôi có một hoàn cảnh riêng của mình. Tôi viết bài đó lúc thôi bà vợ thứ hai, thứ ba, sống một mình. Sống một mình thì tình cảm cô đơn lắm. Tối tôi nằm một mình thấy tình cảnh mình cô độc quá mới viết bài “Một Mình,” đó là hoàn cảnh thật.

NL: Chú viết từ năm 13 tuổi, đến 15 tuổi thì tung sáng tác đầu tiên ra, cho đến bài cuối cùng là lúc chú bao nhiêu tuổi?

Nhạc sĩ Lam Phương : Tôi bệnh là năm 62 tuổi, tức năm 1999. Bốn năm sau, tức 2003, tôi viết bài cuối cùng là “Hạnh Phúc Mang Theo” lúc đó tôi nghĩ mình sắp chết rồi. Tôi nghĩ khi mình chết thì tất cả những kỷ niệm mình mang theo mình, để cho người sống ở lại không nhớ tới để mà buồn, tôi mang theo tất cả.

NL: Mặc dù trải qua một cơn bạo bệnh như vậy và có lúc đã nghĩ là mình không còn sống được lâu, nhưng đến bây giờ đã là 19 năm rồi, mà mỗi lần chú xuất hiện đều trong một thần thái rất là lạc quan, rất là vui. Làm sao chú có được điều đó ?

Nhạc sĩ Lam Phương : Nhờ vậy mà sống lâu đó cháu. Giờ 80 rồi. Tôi nghĩ giờ mình có buồn cũng vậy thôi, tại sao mình không vui để hưởng những ngày cuối cùng của mình cho nó êm đẹp.

NL: Người ta thường nói, người nhạc sĩ, hay thi sĩ cũng vậy, khi họ sáng tác, thường có những tâm sự buồn hay khi xung quanh có những tác động mang tính buồn, tiêu cực thì sáng tác của họ hay hơn. Thì điều đó có đúng không ?

Nhạc sĩ Lam Phương : Phần đông là như vậy. Nhưng riêng tôi thì tôi viết trong mọi hoàn cảnh. Lúc vui tôi viết nhạc vui, lúc buồn tôi viết nhạc buồn, lúc giận viết nhạc giận, không có so sánh được.

NL: Một bài thường từ lúc hình thành ý tưởng đến lúc chú hoàn thành sáng tác mất bao lâu ?

Nhạc sĩ Lam Phương : Cũng tùy, nhưng thường tôi viết mau lắm. Một bài chậm lắm là một tuần thôi. Một bài mà tôi viết 3-4 ngày mà nghe không được là bỏ liền để viết bài khác.

NL: Vậy bài nhanh nhất chú viết trong bao lâu ?

Nhạc sĩ Lam Phương : Trong vài tiếng đồng hồ, trong một đêm.

NL: Chú có thường nghe lại nhạc của chính mình mỗi ngày hay mỗi tuần không ?

Nhạc sĩ Lam Phương : Nghe mỗi ngày (cười). Nghe để coi có chỗ nào yếu, không hay mình sửa lại để sau này tránh đi, để viết hoàn hảo hơn.

NL: Có bao giờ chú nghe lại sáng tác của mình và nghĩ “Ồ tại sao lúc đó mình viết hay như vậy !” Hay có lúc nào lại nghĩ “Trời, sao lúc đó mình viết tệ quá!” ?

Nhạc sĩ Lam Phương : Như tôi đã nói khi viết tôi thấy được mới tiếp tục, còn không được thì thôi bỏ, để khỏi mất thì giờ.

NL: Ngay trong lúc này, khi mà bên hội trường có rất nhiều ca sĩ đang trình diễn những ca khúc của chú, thì chú cảm thấy như thế nào ?

Nhạc sĩ Lam Phương : Đó là niềm sung sướng của người sáng tác. Mình hát không được thì mình nghe người ta hát nhạc của mình. Đó là niềm vui sướng của người sáng tác.

NL: Hiện giờ điều chú lấy làm niềm vui trong đời sống hằng ngày của mình là gì ?

Nhạc sĩ Lam Phương : Bây giờ tôi sống một mình, với gia đình người em. Cuộc sống rất giản dị. Tối ngủ, không thức khuya. Sáng thức sớm, rồi ăn uống, ngủ trưa. Cuộc đời có vậy thôi.

NL: Nếu bây giờ, có một điều ước thật đặc biệt thì chú nghĩ chú ước điều gì ?

Nhạc sĩ Lam Phương (suy nghĩ thật nhanh): Có một người bạn để mình hủ hỉ những lúc buồn. Thế thôi. Bạn thôi. (Cười)

NL: Một người bạn, nhưng là nam hay nữ ?

Nhạc sĩ Lam Phương (cười lớn): Nữ càng tốt !

Đọc thêm : Trên “Một thời Sài Gòn’ ngày 5/12/2013

NHẠC SĨ LAM PHƯƠNG

Trên “Một thời Sài Gòn’ ngày 2/9/2017

LAM PHƯƠNG & NHỮNG MỐI TÌNH (1)

LAM PHƯƠNG & NHỮNG MỐI TÌNH (2)

NHỮNG NHẠC PHẨM  CỦA NS LAM PHƯƠNG

– Cho Em Quên Tuổi Ngọc

Hoàng Kim;

https://youtu.be/x4jBS1cWEt4

– Chuyến đò vĩ tuyến – Giao Linh

http://youtu.be/V634FEJrusk

– Đèn Khuya – Thanh Thúy :  http://youtu.be/ZPVvKO3nmGQ

– Một mình – Quang Dũng :  https://www.youtube.com/watch?v=m_B1mBTmpXE

– Chuyến đò vĩ tuyến – Hoàng Oanh :  http://youtu.be/8-6sbyFZFL8

– Bức tâm thư – Tuấn Vũ & Ngọc Đan Thanh

http://youtu.be/5jeMNBivXzg

BÁNH MÌ SÀI GÒN

Bánh mì đã xuất hiện ở xứ ta trước cái mốc 1859, nhưng được biết đến nhiều là sau khi đội quân viễn chinh chiếm thành Gia Định.

Ngoài người Pháp, cách làm bánh mì đầu tiên được người Hoa tiếp thu, sản xuất bán ra thị trường và trong số khách hàng mua bánh mì thời kỳ đó có cả người Việt : Bồi bàn, thông ngôn, thầy ký có lẽ là những người nếm bánh mì đầu tiên; Kế đó là công chức tân trào, rồi đến tầng lớp Tây học, thị dân và lần lần tỏa rộng phổ biến cả thành thị lẫn nông thôn”

Trong bài Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc của cụ Nguyễn Đình Chiểu năm 1861, ta thấy có hai câu như sau :

Sống làm chi theo quân tả đạo, quăng vùa hương, xô bàn độc, thấy lại thêm buồn

Sống làm chi ở lính mã tà, chia rượu lạt, gặm bánh mì, nghe càng thêm hổ.

Rồi có thêm bài thơ chế :

Vân Tiên ngồi dựa gốc dừa,

Tay cầm chai rượu miệng nhai bánh mì.

Nguyệt Nga mới hỏi ăn gì ?

Vân Tiên mới nói thịt quay bánh mì.

Bánh mì theo chân người Pháp đến Saigon đầu tiên, xuống Nam Kỳ lục tỉnh, ra miền Bắc, sau đó mới phổ biến trên toàn quốc, cho nên khi đề cập đến bánh mì, người ta đề cập đến Saigon : bánh mì Saigon.

Ta thấy những thực phẩm, những vật dụng hàng ngày mà người Pháp mang đến Việt Nam, đều được gọi kèm theo chữ tây như : khoai tây, hành tây, dâu tây, rượu tây, thuốc tây, giày tây …

Trong khi ngoài Bắc gọi bánh mì là bánh tây, thì miền Nam lúc đó đã gọi nó là bánh mì ổ (ổ như chữ ổ của bánh bông lan). Có lẽ một trong các loại bánh mì mà người Pháp du nhập sang đầu tiên là pain de champagne (bánh mì đồng quê) ổ bự, to bè, nhiều ruột, để được vài ngày hay các loại bánh mì hình tròn, hình bầu dục gọi tên là le pain rond, le complet, le bâtard…

Những ổ bánh mì Saigon mới ra lò còn nóng, dậy mùi thơm của bột mì nướng, vỏ giòn rụm, vàng ươm, láng lẩy bơ, nở tròn bụng, ruột trắng mịn và xốp này từ những năm 30 cho mãi đến bây giờ, vẫn là một thứ quà Saigon, mà những người dân ở miền Tây đi Saigon về lại nhà mua làm quà cho con cháu.

Dù bánh mì khắp nơi đều có, ở các tỉnh đều có lò làm bánh mì, nhưng danh tiếng bánh mì Saigon đã đi vào ký ức người ta từ lâu lắm rồi. Ở cửa ngõ thành phố đi các tỉnh đầy những chỗ bán bánh mì.

Bến xe xa cảng miền Đông, miền Tây, lúc nào cũng có những người đội các cần xé đựng bánh mì đến tận cửa xe bán cho khách mua. Nhà thơ Kiên Giang có bài thơ :

– Đáp tàu khói, về quê ăn Tết

Gió bấc đầu mùa gợn sóng đêm

Ôm ổ bánh mì làm gối nhỏ

Đem về cho mẹ với cho em.

Còn ông Công Tử Hà Đông thì viết :

Bánh mì ăn không cũng ngon

Ta đi trăm núi, ngàn sông biển

Không đâu bánh mì ngon

Bằng bánh mì Saigon.

Bánh mì ăn kèm với gì ?

Ăn bánh mì theo ông Tây, bà đầm từ thời thuộc địa là ăn bánh mì với fromage, trứng (omelette, oeufs au plat), thịt nguội (paté, jambon, saucisse à), beurre, mứt trái cây (confiture) như dâu, cam, nho àhay chấm sữa nóng cho bữa ăn sáng. Dùng bánh mì ăn kèm với súp (soupe), bí tết (bifteck), ra gu (ragout)à trong bữa ăn tối.

Tuy cũng ăn giống như vậy, nhưng người Saigon đã dần dà cải tiến cho hợp với khẩu vị của mình như: Ăn bánh mì với những miếng phô mai “ Đầu con bò cười (La vache qui rit)”, phối hợp thêm chuối già.

Ăn sáng bằng bánh mì trét bơ mặn Bretel, rắc chút đường cát trắng; Bánh mì chấm sữa nóng, pha thêm một chút cà phê cho có mùi thơm hay ăn bánh mì trét bơ chấm cà phê sữa nóng; Bánh mì chấm sữa đặc có đường hiệu Ông Thọ hay Con chim (hiệu Ông Thọ – Hiệu sữa Longevity, trước đây thuộc hãng Foremost, Mỹ, hình “Ông Thọ chống gậy”, nói lên tuổi thọ của người dùng. Hiệu Con chim của hãng Nestlé, Thụy Sỹ, đúng ra là hình một tổ chim, gồm một chim mẹ và hai chim con)…

Nổi tiếng ở Sài Gòn có lẻ tiệm Hòa Mã của vợ chồng ông Bắc kỳ di cư, rồi tiệm Hương Lan ở Bưu Điện Sài Gòn, xe bánh mì chả lụa của bà Bắc ở đường Phan Thanh Giản… nói ra thì rất nhiều. Kết bài bằng mấy câu thơ :

Ngồi buồn gặm ổ bánh mì

Mùi thơm chả quế thầm thì bên tai

Bánh mì hương vị mặn mà

Bỏ tình anh gặm mì gà ba-tê

Bánh mì xá xíu ai chê

Lại thêm xíu mại cho “phê” cõi người

”Xì dầu” anh xịt đã đời

Thừa thiên “ớt hiểm” cho vừa xót xa

Bánh mì thịt nguội có hành

Mua năm tặng một cả làng anh quơ

Cho dù người có thị phi

Yêu đời anh “ xực ” bánh mì mà thôi. ( st).

NHỮNG CHỦ ĐỀ TÁO BẠO

TRONG TRANH TRUYỀN THỐNG

NHẬT BẢN

Ukiyo-e, tức tranh in bản gỗ, là “dấu son” nổi bật trong lịch sử mỹ thuật Nhật Bản. Không chỉ thịnh hành như một trường phái hội họa độc đáo, ukiyo-e còn tạo tiền đề quan trọng cho rất nhiều trào lưu nghệ thuật đương đại. Tính lôi cuốn đến “mê hoặc” của thể loại tranh truyền thống này, tuy nhiên, vượt xa những hình ảnh phong cảnh hay lễ hội vui tươi. Ở ukiyo-e, chủ đề tình dục, đồng tính, thậm chí kinh dị, nhận được sự chú ý đặc biệt.

1/- Shunga – tranh ảnh “phòng the” ; Shunga (xuất phát từ từ gốc Hán “xuân họa” – tranh vẽ về mùa xuân) là phong cách ukiyo-e phát triển mạnh vào khoảng thế kỉ 17-19. Shunga tập trung mô tả cảnh ân ái chốn lầu xanh, chân dung những nàng kỹ nữ với dáng điệu gợi cảm, quyến rũ, cùng nhiều hoạt động “người lớn” khác nơi phố đèn đỏ.

Có quá trình tạo dựng suốt 300 năm, đến nay, Shunga đã trở thành dạng tranh ukiyo-e nổi tiếng, rất được yêu thích. Dù mang nét cổ xúy tính dục, xã hội Nhật thời bấy giờ không phân loại tranh in như văn hóa phẩm khiêu dâm. Thực tế, chế độ Tokugawa, giai đoạn Shunga trở nên “cực thịnh,” không cấm đoán việc thể hiện đề tài tình dục trên tranh ảnh.

Nghệ sĩ nổi bật, từng tạo dấu ấn lớn nhờ Shunga, không thể không nhắc đến Katsushika Hokusai (1760-1849). Bức “Người phụ nữ và đôi bạch tuộc” (ảnh trên) của ông, xuất hiện lần đầu như tranh minh họa cho một tựa sách xuất bản năm 1814, đã trở thành ví dụ điển hình nhất của phong cách Shunga truyền thống.

2/- Wakashu – những “mỹ nam” lưỡng tính : Bức vẽ bên thực hiện bởi họa sĩ nổi tiếng thời Edo, Suzuki Harunobu, tái hiện một ngày thường nhật trong khu phố đèn đỏ, thủ đô nước Nhật thế kỉ 18. Bạn sẽ muốn tập trung vào nhân vật mặc kimono sọc, cầm quạt, ngồi phía trái khung tranh. Người này mang gương mặt thanh tú, bề ngoài hệt như phụ nữ, nhưng thật ra lại là nam giới. Tên gọi cho họ là “wakashu,” nhân vật lưỡng tính đầu tiên tìm thấy trong tranh ukiyo-e.

Wakashu là khái niệm bắt nguồn từ các sử gia Nhật, dùng để ám chỉ một “mỹ nam,” hay người đàn ông có dáng vấp hấp dẫn cả hai giới. Vào thời Edo thịnh vượng, họ làm công việc mua vui – đàn hát trong kỹ viện. Hoặc, wakashu còn được hiểu như nhóm diễn viên được đào tạo đặc biệt, chuyên đóng vai nữ trên sân khấu ca kịch truyền thống.

Đối với ukiyo-e, hình tượng wakashu hiện diện không nhiều, nhưng luôn rất lôi cuốn và độc đáo. Tương tự Shunga, bằng cách phát họa wakashu, họa sĩ ukiyo-e đã tạo nên dấu ấn chưa từng có xoay quanh chủ đề nhạy cảm như tình dục và đồng tính. Nhìn ngắm những “mỹ nam” này trên tranh màu, người xem dễ dàng bị thu hút bởi nét duyên dáng, thần thái sống động của họ. Như nhiều nhà giám tuyển và chuyên gia sưu tầm tranh ukiyo-e nhận xét, vẻ đẹp riêng ở wakashu đã “thách thức ranh giới giới tính” trong lịch sử mỹ thuật Nhật Bản.

3/- Thế giới rùng rợn của ukiyo-e : Nhật Bản với nền hội họa lâu đời, không thiếu cảm hứng cho tranh vẽ kinh dị. Yếu tố ma quỷ, linh hồn cho đến cái chết được người nghệ sĩ “tái sinh” trên mặt giấy thông qua truyện cổ, giai thoại lẫn sự kiện kinh hoàng có thật.

Nổi tiếng hàng đầu thuộc thể loại ukiyo-e là dạng tranh in minh họa cho “kusazoshi,” một phong cách truyện dân gian phổ biến từ những năm 1700, thời Edo. Kusazoshi được hiểu như tiền thân của truyện tranh kinh dị ngày nay. Chúng khai thác nhiều khía cạnh “lạnh gáy” tiềm ẩn nơi đời sống thường ngày lẫn thần thoại Nhật Bản. Tranh ukiyo-e với nét cọ uyển chuyển, “truyền thần,” càng khiến câu chuyện kể thêm phần đặc sắc đến rợn người. .

Không ít “huyền thoại” ukiyo-e như họa sĩ thiên tài Hokushai, Toyokuni I, Utagawa Kunisada đều có niềm đam mê lớn dành cho chủ đề kinh dị. Bên cạnh mục tiêu gây sợ hãi hay thể hiện bài học răn đe đạo đức, đôi khi một số nhân vật yêu quái hoặc hồn ma trong tranh vẽ còn nhằm gây cười cho độc giả kusazoshi. (theo JapanTimes)

Yên Huỳnh tổng hợp chuyển tiếp

TRẦN VĂN TRẠCH & NGUYỄN NHƯỢC PHÁP

QUÁI KIỆT TRẦN VĂN TRẠCH

(1924-1994)

– MC Việt Thảo – Quái Kiệt Trần Văn Trạch- Vũ Trường Ritz- 1993

https://youtu.be/5uXar7gBJbQ

– Trần Văn Trạch & Việt Hùng : 

https://youtu.be/_ItPZdtsNbU

Trần Văn Trạch & những ca khúc trình bày :

– Tê Lê Phôn – Thu Âm Trước 1975 : https://youtu.be/kt-raWHjMU8

– Xe Lửa Mùng 5 – Trần Văn Trạch https://youtu.be/V4X6TH7Etr0

– Ba Giờ Khuya – Thu Âm Trước 1975 https://youtu.be/iR157-oVKmY

– Đồng Hồ Đeo Tay (Trần Văn Trạch) / (Dĩa hát Tân Thanh TT-67 Pre 1975) :

https://youtu.be/SsaR0YaNGIg

– Chiều Mưa Biên Giới – Nguyễn Văn Đông – Thu Âm Trước 1975 : https://youtu.be/WQGGGMEOcu8

–  Mùa Thu Chết (pre 75) https://youtu.be/iAop3usHNAk

– Không (Nguyễn Anh 9) https://youtu.be/QuoCSHFUr6w

– Con Thuyền không Bên (Đặng Thế Phong)

https://youtu.be/-oqlEXaD1h4

– Tà Áo Tím (Hoàng Nguyên)

https://youtu.be/CYZqRCSfsNY

– Sầm Giang Tái Ngộ 03 – Hài hước

https://youtu.be/HD5zURWzb8s

Tân nhạc Việt Nam có nhiều những tình ca buồn, số lượng đến hàng ngàn bản nhạc. Khi nghe những bản nhạc buồn, con người cũng lắng hồn vào tiếng nhạc và có cảm giác buồn. Ngược lại khi nghe nhạc vui, tâm hồn người cũng mở rộng chào đón hân hoan. Những bản hùng ca lại làm khơi động những ý chí hào hùng, yêu nuớc. Nghe những bản du ca thấy muốn dấn thân làm việc xã hội. Những bản nhạc nhi đồng làm người nghe thấy tâm hồn trẻ lại.

Một loại nhạc có thể nói khó sáng tác nhất là nhạc hài hước, loại nhạc nghe có thể vui đến bật tiếng cười. Nhạc hài hước Việt Nam có lẽ chỉ có độ chừng vài chục bản, do những nhạc sĩ thật đặc biệt sáng tác. Một trong những người đó, một ngạc nhiên cho hầu như tất cả mọi người, là tác giả Trường Ca Hòn Vọng Phu. Chính Lê Thương là người đầu tiên viết nhạc hài hước Việt Nam với những bản nhạc Hòa Bình 48, Liên Hiệp Quốc, Làng Báo Sài Gòn…

Nhưng nói đến chuyện viết nhạc hài hước và rồi tự đơn ca trình diễn lấy, nổi tiếng cả nước, trong lịch sử âm nhạc Việt Nam chỉ có một người: Trần Văn Trạch.

Ca nhạc sĩ Trần Văn Trạch, tên thật là Trần Quang Trạch, sinh năm 1924 ở Mỹ Tho, sinh trưởng trong một gia đình toàn là những nhân vật có tiếng về Cổ Nhạc Việt Nam. Tuy trong gia đình có những nhân vật khoa bảng lỗi lạc về âm nhạc như anh ruột giáo sư tiến sĩ âm nhạc Trần Văn Khê, cháu ruột tiến sĩ âm nhạc Trần Quang Hải… Trần Văn Trạch phải nói được nhiều người Việt Nam biết đến hơn cả.

Ông Trần Văn Trạch có khiếu âm nhạc từ nhỏ, biết nhiều về Cổ Nhạc, thông thạo đàn kìm và tỳ bà, hát Vọng Cổ rất “mùi”, nhưng lại thích Tân Nhạc hơn. Sau khi học xong trường Trung Học Mỹ Tho, Trần Văn Trạch bắt đầu với nghề thương mại, lập lò làm chén bán ở Vĩnh Kim nhưng không đuợc khá lắm.

Năm 1945, ông Trần Văn Trạch bỏ nghề buôn bán, lên Sài Gòn “giang hồ” và tìm cách đi hát cho những phòng trà, vũ trường nhỏ. Đến khoảng năm 1947, nghệ sĩ Trần Văn Trạch bắt đầu trình diễn những bài hát hài hước. Những bản nhạc hài hước đầu tiên ông trình bầy là những bản sáng tác bởi nhạc sĩ Lê Thương đã kể ở trên.

Nhưng về sau, vì nhu cầu trình diễn, ông Trần Văn Trạch đã tự sáng tác ra những bản nhạc hài hước để tự mình trình diễn lấy. Bản nhạc Anh Phu Xích Lô là sáng tác đầu tiên của ca nhạc sĩ Trần Văn Trạch :

Có ai mà muốn đi tới Chợ Lớn

Có ai mà muốn đi tới Chợ Mới

Có ai mà muốn đi chóng cho mau tới

Ê ! Tôi xin mời lại đây…

Những bài hát nổi tiếng ngày đó là Cái Đồng Hồ Tay, Cây Bút Máy, Anh Chàng Thất Nghiệp, Sở Vòi Rồng, Đừng Có Lo, Tôi Đóng Xi-Nê, Ba Chàng Đi Hỏi Vợ, Chiếc Ô-Tô Cũ… Bài nhạc nào của nhạc sĩ Trần Văn Trạch cũng làm người nghe cười… bể bụng. Thí dụ bài Tai Nạn Tê-lê-phôn :

Từ đâu nạn đưa tới

Gắn chi cái tê-lê-phôn

Bởi tôi muốn làm tài khôn

Khiến tôi muốn thành ra ma

Không vào Chợ Quán, cũng ra Biên Hòa…

Tuy vậy, không phải ông Trần Văn Trạch chỉ sáng tác nhạc hài hước. Chuyến Xe Lửa Mùng 5, kể chuyện đi thăm mẹ của một anh chàng. Đây là một bản nhạc lúc đầu nghe thấy có vẻ là nhạc hài hước, với những tiếng động của nhà ga, xe lửa… Nhưng đoạn cuối là một khúc thương ca, khi người về đến nhà mới biết mẹ đã qua đời.

Một bản nhạc có cả hài hước pha lẫn chút triết lý là Khi Người Ta Yêu Nhau:

Khi người ta yêu nhau

Yêu trong lúc hai mươi tuổi đầu

Thì không phải vì tiền đâu

Nhưng mà chẳng được bao lâu…

Những đoạn giữa nói về các tuổi ba mươi, bốn mươi, năm mươi, sáu mươi và:

Khi người ta yêu nhau

Yêu trong lúc bẩy mươi tuổi đầu

Thì không phải vì tiền đâu

Nhưng mà chẳng còn bao lâu.

Hai câu Nhưng mà chẳng được bao lâu và Nhưng mà chẳng còn bao lâu nghe có vẻ giống nhau. Nhưng suy nghĩ cho kỹ thấy hai ý nghĩa khác hẳn nhau và cho thấy Trần Văn Trạch là người có đầu óc, biết dùng chữ khá thâm thúy. Cái triết lý giản dị, có thể học được từ bài hát là nếu vì vấn đề tiền mà yêu nhau, thì đó không phải là tình yêu chân thật.

Một bản nhạc phải nói hầu như ngày xưa người Việt Nam nào cũng phải biết đến, vì được ông hát đi hát lại mỗi tuần khi có xổ số tại rạp Thống Nhất, Sài Gòn và sau này trực tiếp truyền thanh qua đài phát thanh Sài Gòn. Tuần lễ nào người dân nước Việt ở khắp nơi đều nghe thấy tiếng người nghệ sĩ trình bầy bài này qua làn sóng điện. Đó là bài hát Xổ Số Kiến Thiết Quốc Gia, do Trần Văn Trạch viết và hát :

Kiến thiết quốc gia

Giúp đồng bào ta

Xây đắp muôn người

Được nên cửa nhà

Tô điểm giang san

Qua bao lầm than

Ta thề kiến thiết

Trong giấc mộng vàng

Triệu phú đến nơi

Năm muời đồng thôi

Mua lấy xe nhà

Giàu sang mấy hồi

Kiến thiết quốc gia

Giúp đồng bào ta

Ấy là thiên chức

Của người Việt Nam

Mua số mau lên

Xổ số gần đến

Mua số mau lên

Xổ số… gần… đến…

Một bản nhạc khác Trần Văn Trạch sáng tác không hài hước một chút nào cả là bản nhạc hùng mạnh Chiến Xa Việt Nam, bài được hát đi hát lại trong những dịp đài phát thanh cần chạy nhạc hùng như Ngày Quân Lực, Ngày Quốc Khánh… hay khi có… đảo chánh.

Ca sĩ Trần Văn Trạch cũng có hát những nhạc không hài hước và hát thật hay. Một thí dụ điển hình là bản Chiều Mưa Biên Giới của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông đã nổi tiếng sau khi chính do Trần Văn Trạch hát rất điêu luyện, với phần nhạc đệm từ một băng nhạc thu sẵn, của một ban nhạc bên Pháp. Lúc đó vào khoảng thập niên 1960, phương pháp trình diễn này coi như rất mới. Từ đây, đã phát sinh ra những loại hát có nhạc đệm sẵn (karaoké).

Ngoài sáng tác nhạc, hát ông còn là trưởng ban nhạc Sầm Giang của đài phát thanh Pháp Á, vào khoảng thập niên 1950. Ban này gồm những ca sĩ nổi tiếng đương thời như Linh Sơn, Tâm Vấn, Minh Diệu, Mạnh Phát, Tôn Thất Niệm…

Trần Văn Trạch không chỉ hoạt động trong lãnh vực âm nhạc. Cũng trong thập niên 1950, khi điện ảnh vẫn còn là một môn nghệ thuật phôi thai ở Việt Nam, Trần Văn Trạch đã đóng cùng với nữ nghệ sĩ Kim Cương trong những phim như Lòng Nhân Đạo, Giọt Máu Rơi… và về sau còn làm đạo diễn điện ảnh cho những phim như Thoại Khanh Châu Tuấn (do Kim Cương và Vân Hùng đóng), Trương Chi Mỵ Nương (do Trang Thiên Kim và La Thoại Tân đóng)…

Nhưng có lẽ công trình ông đóng góp nhiều nhất cho nghệ thuật là những buổi Đại Nhạc Hội, với chuyện sáng tác và sự trình diễn những bản nhạc hài hước đã kể trên của ông.

Danh từ Đại Nhạc Hội chỉ những buổi trình diễn ca nhạc xen kẽ với kịch, ảo thuật… tại các rạp hát do chính ông Trần Văn Trạch đặt ra và từ đó cũng do chính ông đã phát huy chủ trương, bắt đầu từ khoảng năm 1949. Dĩ nhiên một trong những tiết mục quan trọng nhất của những buổi Đại Nhạc Hội này là màn hát nhạc hài hước của chính Trần Văn Trạch.

Nghe Trần Văn Trạch hát thấy vui và lạ. Ông có biệt tài bắt chước được những âm thanh như tiếng còi tầu xe lửa, tiếng xe hơi chạy, tiếng những cầm thú… Nhưng nếu chỉ nghe không cũng chưa thấy hết cái hay của ông, mà phải nhìn ông trình diễn mới thấy hết được cái linh hoạt của bài hát do ông sáng tác. Giọng hát mộc mạc, đơn giản của người Nam và cách trình diễn hoạt náo những bản nhạc hài hước của chính mình, đã làm nên tên tuổi Trần Văn Trạch, người được dân chúng Việt Nam gọi là Quái Kiệt.

Với những chương trình Đại Nhạc Hội, Trần Văn Trạch đã trình diễn rất nhiều tại Sài Gòn. Danh tiếng của ông nổi như cồn. Ông đã đi khắp các tỉnh ở miền Nam và trước khi xẩy ra Hiệp Định Genève 1954 chia cắt đất nước, có lần ông ra cả miền Bắc trình diễn.

Về sau có những người khác theo quan niệm như vậy của ông tổ chức Đại Nhạc Hội cũng rất thành công như nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ, nữ nghệ sĩ Kim Cương…

Sau “Giải Phóng 1975”, Trần Văn Trạch bị kẹt lại Việt Nam và ông cũng vẫn đi lưu diễn thường xuyên cho đến khi qua Pháp năm 1977. Từ đó, ở Paris, ngoài việc mưu sinh hàng ngày, ông cũng vẫn có những hoạt động âm nhạc như băng nhạc và video Hài Hước Trần Văn Trạch, trình diễn nhạc ở Pháp hay ở Úc, Hoa Kỳ… và hoạt động xã hội nhất là trong những buổi hát giúp quyên tiền cho những con tầu về lại biển Đông vớt người Việt tỵ nạn vượt biển.

Năm 1994, nghệ sĩ Trần Văn Trạch qua đời tại Paris, vì bệnh ung thư gan.

Nhớ lại hình ảnh ngày xưa của người nghệ sĩ quá cố, có dáng dấp giang hồ với mái tóc dài và phong trần, lái chiếc xe mui trần cũ kỹ và bụi bậm, đang thân thiện hiền hòa vẫy chào mọi người ở đường phố Sài Gòn, phải công nhận một điều:

Ca nhạc sĩ Trần Văn Trạch, người có một không hai trong lịch sử âm nhạc Việt Nam, quả là một Quái Kiệt tài hoa trong tâm tưởng của mọi người dân Việt mãi mãi…

Xem thêm (bấm vào đường link) : Quái Kiệt Trần Văn Trạch trên “Một thời Sài Gòn” ngày 05/07/2010

MỐI TÌNH CỦA

TÁC GIẢ ‘CHÙA HƯƠNG’

Mối tình hoảng loạn với người ái nam ái nữ của tác giả ‘Chùa Hương”

– Ít ai biết nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp từng có mối tình với một người con gái bí ẩn. Câu chuyện tình này đã để lại cho chàng thi sĩ trẻ nỗi buồn sâu sắc và cả sự hoảng hốt…

Cuộc đời bi thương và 3 bức thư của nhà thơ

Ảnh hưởng từ cha, học giả Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyễn Nhược Pháp dù học hành giỏi giang, đỗ đạt cao, nhưng không quan tâm đến quan trường, mà chỉ mê đọc, nghiên cứu văn thơ, viết sách, làm báo. Ngoài thơ, Nguyễn Nhược Pháp còn viết không ít truyện ngắn và kịch…

Tuy nhiên, khác nhiều bạn cùng làng văn thuở đó, Nguyễn Nhược Pháp sống hồn nhiên và trong sáng, không ham mê ả đào, thuốc phiện, những thứ hay cám dỗ tuổi trẻ tò mò.

Ông Nguyễn Lân Bình (cháu gọi Nguyễn Nhược Pháp là bác), từng kể : “Theo các bác trong gia đình nói chuyện, bác Pháp không chỉ được thừa hưởng sự tài hoa và thông minh của học giả Nguyễn Văn Vĩnh, ông còn được thừa hưởng luôn cả sự đào hoa và tâm hồn lãng mạn của cha mình. Bởi vậy trong thơ, văn và kịch ông viết, luôn phảng phất những “bóng hồng” đầy mộng mị”.

Mối tình câm với người đẹp nức tiếng Hà thành

Thông qua những thế hệ cùng trang lứa với Nguyễn Nhược Pháp, đặc biệt là các gương mặt từng là đồng môn với nhà thơ, chúng ta được đọc nhiều lần, qua nhiều thời kỳ những ghi chép và lời kể của những bậc tiền nhân, trong đó có câu chuyện nói về

Giai nhân Hà thành – Đỗ Thị Bính (1915). Bà Bính là con của thương gia Đỗ Bá Lợi – nhà tư sản lớn vào loại có hạng ở Hà thành lúc đó. Bà Bính được miêu tả là người thiếu nữ với làn da nõn nà, vóc dáng thanh tú với đôi mắt phượng hồng. Bà đã làm cho bao kẻ mê mẩn, thầm yêu, trộm nhớ….

Vậy nhưng, dù là tiểu thư khuê các, con nhà giàu có, lại đẹp nức tiếng, nhưng bà Bính được nhiều người chung quanh quý mến vì lối sống rất giản dị, nhân hậu, chan hòa với mọi người.

Ngày ấy, trước hiên nhà cô Bính ở phố Nguyễn Thái Học có trồng nhiều loại hoa thơm. Thường cứ đến chiều, nàng vừa ra ngắm hoa, vừa ngồi trên ghế đá đọc sách.

Chàng thư sinh nhỏ nhắn Nguyễn Nhược Pháp, lúc nào cũng mang một hồn thơ lai láng, mộng mơ và đầy cảm xúc, đã đem lòng thương trộm cô tiểu thư Đỗ Thị Bính từ lúc nào không biết..

Bấy giờ Nguyễn Nhược Pháp đang làm việc tại tòa báo L’Annam Nouveau – Nước Nam Mới, chàng thường tìm đủ lý do để được đi qua nhà nàng, chỉ những mong được thấy nàng, ngắm nàng, người yêu trong mộng, từ đó thêm cảm xúc làm thơ ngợi ca.

Tất nhiên, giai nhân cũng biết chàng thư sinh ấy “cảm mến” mình. Đã có đôi lần, hai người đã trò chuyện với nhau qua rào cây tầm xuân hữu tình và thật lãng mạn. Cái sự “đầu mày cuối mắt” của chàng thi sĩ với giai nhân đã để cả hai bên gia đình đều biết.

Nhưng một biến cố khủng khiếp của gia đình chàng thi sỹ đã khiến cho mối tình ấy không thể đơm hoa, kết trái, đó là sự kiện học giả Nguyễn Văn Vĩnh – cha của nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp, gặp đại nạn, ông mất một cách cô độc bên miền Nam nước Lào heo hút.

So với gia cảnh người đẹp Đỗ Thị Bính, chàng thi sĩ lúc này chỉ là kẻ tay trắng. Nhất là trong bối cảnh gia đình đang bị chính quyền đương thời o ép, chàng đã đành phải đào sâu chôn chặt mối tình ngắn ngủi qua hàng rào ấy. Nhà thơ đã gửi gắm nỗi lòng vào tập thi phẩm mang tên “Ngày xưa” với 10 bài thơ đầy tâm sự. Thi phẩm này đã đưa tên tuổi ông tìm được chỗ đứng trong phong trào Thơ mới ở thế kỷ 20.

Mặt khác, lòng tự trọng của Nguyễn Nhược Pháp cũng không nhỏ khi tự đặt mình trong hoàn cảnh một cuộc sống đổ vỡ, nên hãy đừng mơ ước cao xa, nhất là với một tiểu thư khuê các, cành vàng lá ngọc… Hình như, thi sỹ đã “tự ti” về cái thân phận của một người vốn đã mất mẹ đẻ từ nhỏ, giờ lại mất cả người cha uy danh…

Mối tình hoảng loạn với người con gái bí ẩn

Người đời, cứ nghĩ đến chàng thi sỹ đa cảm đó, họ lại nhắc đến mối tình trong mộng của chàng với mỹ nhân đất Hà Thành – Đỗ Thị Bính. Nhưng mấy ai biết rằng, tác giả của bài thơ “Chùa Hương” đã từng có tình ý với một người con gái bí ẩn cho đến khi kết thúc bằng sự bi đát.

Vẫn Ông Nguyễn Lân Bình lại kể : “Trước đây, tôi đã có được nghe các bác các chú trong gia đình đôi lần kể về giai thoại này. Tôi nghĩ với sự hào hoa, đa tài của Nguyễn Nhược Pháp, việc ông khiến bao bóng hồng thổn thức là điều làm sao tránh”.

Trong một vài bài viết, nhà thơ Nguyễn Vỹ (1912-1971) – bạn rất thân của Nguyễn Nhược Pháp, từng thuật lại mối tình của bạn mình với một cô gái… bí ẩn.

Câu chuyện diễn ra nhân chuyến đi chơi xa cùng Nguyễn Vỹ với ba cô gái bằng tàu hỏa từ Hà Nội lên Yên Bái. Tất cả ngồi cùng toa. Tàu lướt qua bao nhiêu vùng đất lạ, nhưng hôm ấy, chẳng thấy chàng thi sĩ quan tâm đến. Ngược lại, mắt Nguyễn Nhược Pháp đã phải sững sờ, dán chặt vào một cô gái mặc bộ áo dài đen. Khuôn mặt nàng thanh tú, làn da như trứng gà bóc trên một thân hình cân đối được nhấn mạnh bằng đôi môi chúm chím, đỏ mọng.

Lập tức, vẻ đẹp của nàng đã khiến Nguyễn Nhược Pháp liêu xiêu. Với tính cách rụt rè, hình như chưa bao giờ thấy ai nói chàng là người mạnh dạn, cho nên, suốt cuộc hành trình, Nguyễn Nhược Pháp chỉ dám nhìn trộm, ngắm nàng từ xa bằng ánh mắt như nhìn vào cõi xa xăm, chứ không dám dấn bước làm quen.

Chiều tối, khi tàu đến Yên Bái, cô gái đã ngồi xe kéo chạy nhanh xa khỏi tầm mắt, Nguyễn Nhược Pháp vẫn mơ màng dõi theo, lòng dạ ngổn ngang, xao xuyến.

Cả đêm hôm đó, chàng thao thức chẳng ngủ được, rầm rì nhỏ to với nhà thơ Nguyễn Vỹ. Được biết, chuyến đi chơi đó, là do cô Thanh Tú – là người thầm yêu Nguyễn Nhược Pháp đứng ra chủ trò, tổ chức.

Nguyễn Vỹ viết: “Tôi biết từ lâu rồi, rằng Nguyễn Nhược Pháp không yêu cô Thanh Tú, nhưng Thanh Tú thì yêu Nguyễn Nhược Pháp gần như mê mẩn. Thanh Tú chủ động tổ chức cuộc du hành này, để có cớ mời Nhược Pháp lên nhà. Chết nỗi, ông cụ của cô lại là bạn thân với ông Nguyễn Văn Vĩnh, và nghe đâu, ông cụ cũng muốn gả Thanh Tú cho người con trai giỏi giang mà hiền lành của ông Vĩnh”.

Hôm từ Yên Bái trở về, làm sao, vô tình Nguyễn Nhược Pháp lại đi cùng tàu hỏa với cô gái đó. Tàu vừa dừng, là chàng thi sĩ trẻ mất hút… lướt theo gót giai nhân.

Nguyễn Nhược Pháp đã đeo đuổi cô gái đó có đến cả năm trời. Chàng đã kiên nhẫn tìm được địa chỉ nhà “cô tiên giáng trần”, và đánh tiếng làm quen.

Nhưng thật lạ lùng và buồn bã thay, người con gái đó tỏ ra rất lạnh lùng, thậm chí, nàng đã cương quyết từ chối dứt khoát tình cảm nồng nàn của chàng thi sĩ, cho dù hình như, trong lòng nàng đã có những rung động.

Thấy bảo, chàng thi sĩ, tuy là người duy nhất được làm quen với nàng, nhưng tình cảm của chàng luôn nằm trong thế tuyệt vọng, chẳng khác gì ném một quả bóng xịt vào tường.

Và cũng có được một ngày, Nguyễn Nhược Pháp liều lĩnh viết lá thư mời cô gái đến để trò chuyện tại nơi ở riêng của Nguyễn Vỹ. Chàng thi sĩ đau khổ, quyết định một lần nữa, dồn tất cả sự liều lĩnh, sẽ nói thẳng lời cầu hôn với nàng. Chàng bấm bụng, đây là lần cuối cùng mình bày tỏ.

Khi gặp nhau, cô gái lặng lẽ nhìn chàng, rồi gục đầu xuống vai, vừa thổn thức, vừa nức nở khóc, và xin chàng tha lỗi… vì em không thể yêu anh được, dù anh là người duy nhất em yêu ! Nói xong, cô vụt chạy khi nước mắt vẫn dàn dụa, mà vẫn không quên chào vĩnh biệt Nguyễn Nhược Pháp.

Ngay ngày hôm sau, có tin báo : Một thiếu nữ đã tự tử trên hồ Trúc Bạch, thi thể được vớt đã chở vào nhà thương Phủ Doãn (bệnh viện Việt Đức ngày nay). Như có linh cảm, Nguyễn Nhược Pháp rủ Nguyễn Vỹ cùng đến bệnh viện.

Nguyễn Nhược Pháp được phép vào nhận mặt nạn nhân, khi chàng quay ra, khuôn mặt chàng thất thần, với sự hoang mang đến tột độ, vì không hiểu tại sao giai nhân lại từ chối lời tỏ tình của mình, và bỏ chạy bằng việc nhảy xuống hồ quyên sinh ?!

Người y tá thấy Nguyễn Vỹ là bạn với chàng trai thất thần kia, bèn kéo ra một góc khuất nói nhỏ : “Chúng tôi đã khám nghiệm tử thi. Nhưng có điều khác thường, là cô ấy không phải hoàn toàn là phụ nữ. Những trường hợp người con gái như thế, thường người ta gọi là ái nam ái nữ!”.

Chẳng bao lâu, Nguyễn Nhược Pháp cũng từ biệt cuộc đời tài hoa của mình khi tuổi đời đang ở ngưỡng thanh xuân phơi phới, mang theo bao nỗi day dứt về trần thế, trong đó có cả mối tình với cô gái bí ẩn ngày nào.

Xem thêm (bấm vào đường link) : Câu Chuyện “Chùa Hương” trên “Một thời Sài Gòn” ngày 11/04/2017

Yên Huỳnh tổng hợp chuyển tiếp

HUYỀN THOẠI GIANG HỒ SÀI GÒN

HUYỀN THOẠI

GIANG HỒ SÀI GÒN

– Nguyễn Chính

Hai chữ “Giang Hồ” gần đây được nhắc tới trên cộng đồng mạng, đó là đề tài thời sự nóng hổi… Bài viết dưới đây chỉ nói về giới giang hồ của “Sài Gòn xưa”, trong một cuốn sách đã được xuất bản tại Hoa Kỳ : “Hồi ức Sài Gòn”. Qua bài viết này, người đọc có thể nhìn “giang hồ” qua hai lăng kính Xưa và Nay.

oOo

Giang hồ, theo một số học giả, có chiết tự từ tên con sông Tam Giang và hồ nước Ngũ Hồ bên Tàu. Đây là những địa danh có nhiều người đến ngao du, ngoạn cảnh. Thế nhưng, khi nói đến dân giang hồ người ta liên tưởng ngay đến những tay anh chị ‘lục lâm thảo khấu’, ‘đầu trộm đuôi cướp’, ‘đâm thuê chém mướn’ hay nói theo từ vựng của thời nay là ‘xã hội đen’.

Thế giới ngầm thường chứa đựng nhiều huyền thoại vì người ta thường thêm thắt những chi tiết không có thực để tô điểm về cuộc đời của các ‘anh hùng hảo hán’. Trong bài viết này, tác giả giới thiệu 3 loại giang hồ điển hình của Sài Gòn xưa : giang hồ trí thức, giang hồ lục lâm và giang hồ anh chị.

Giang hồ trí thức : Sơn Vương Trương Văn Thoại

Nhân vật ‘giang hồ – trí thức’ nổi tiếng ở miền Nam, thập niên 30, là Sơn Vương Trương Văn Thoại với thành tích 34 năm ngồi tù, trong đó có 32 năm khổ sai ở Côn Đảo. Ngoài việc nổi tiếng là một tên cướp ‘trọng nghĩa’ và ‘hào hoa’, Sơn Vương còn là một nhà văn được nhiều người đọc hâm mộ.

Ở vào tuổi thanh niên, Trương Văn Thoại vùi đầu vào sách, từ loại kiếm hiệp Tàu và tiểu thuyết Tây viết về những tên cướp nghĩa hiệp, từ Robin Hood của A. Dumas đến Carmen của Merimée. Đặc biệt, Trương Văn Thoại cực kỳ say mê nhân vật trong tiểu thuyết của nhà văn Phú Đức: Bách-xi-ma lái … ‘khúc dồi’ phóng như bay đuổi theo Hoàng Ngọc Ẩn đang cưỡi trên… Điếu Xì Gà.

Cuối năm 1925, mới hơn 16 tuổi, Trương Văn Thoại đã quyết chí bỏ làng theo tiếng gọi… giang hồ. Anh thanh niên giàu nghĩa khí đã bỏ ra hơn 6 năm trời lăn lộn khắp vùng núi Thị Vải, núi ông Trịnh, núi Mây Tào ở Long Hải, Bà Rịa, để theo một đại lão sư, mai danh ẩn tích nhằm học võ và học đạo.

Năm 1931, Thoại hạ sơn về Sài Gòn, sống lăn lóc cùng giới thợ thuyền. Những năm đầu thập kỷ 30, lề đường De la Some (Hàm Nghi) được coi là nơi tập trung của đủ hạng người. Từ các thầy bói, kính đen che mắt, đến các văn nhân, chủ báo cũng có mặt tại đây. Trong số những người làm báo, Trương Văn Thoại làm quen với Nguyễn An Ninh, chủ bút tờ La Cloche Fêlée (Tiếng Chuông Rè). Cảm phục ý chí và sự nghiệp của Nguyễn An Ninh, Trương Văn Thoại đã dần dần bước vào nghiệp cầm bút, trở thành một cộng sự đắc lực của tờ La Cloche Fêlée.

Theo Hán tự, chữ “Thoại” được ghép bởi 3 chữ Sơn, Vương và Nhi. Bút danh Sơn Vương được Thoại khai sinh từ đó. Chẳng bao lâu, tên tuổi Sơn Vương đã khá nổi danh trong nghề cầm bút. Những bài báo của ông thổi vào công luận một dư âm lạ, đầy màu sắc bình dân và nỗi cảm thông sâu sắc đối với tầng lớp bần cùng.

Có thể xem Sơn Vương như một người tiên phong có công trong việc cách tân nền tiểu thuyết Việt Nam thời đó. Ông chuyên viết ‘tiểu thuyết võ hiệp kỳ tình’ nhưng tác phẩm của Sơn Vương đã có sự thay đổi lớn lao về mặt hình thức. Nhân vật ‘tướng cướp nghĩa hiệp’ cướp của nhà giàu chia cho dân nghèo của Sơn Vương đã đoạn tuyệt hẳn với hình tượng ‘thanh gươm lưng ngựa’ thời trước. Thay vào đó là các trang công tử lái xe hơi như bay, bắn súng lục bằng cả hai tay và ném tạc đạn như đồ chơi. Đáng kể nhất là 3 tác phẩm của Sơn Vương : Luật rừng xanh, Chén cơm lạtTướng cướp hào hoa.

Trong hơn hai năm (1931-1933), Sơn Vương đã đơn thương độc mã, gây ra hàng chục vụ cướp kinh thiên động địa nhắm vào các phú hộ khắp các vùng từ Đồng Nai đến Sài Gòn, Long An nhưng tung tích vẫn không hề bị lộ. Người ta chỉ thầm ngưỡng mộ một Sơn Vương – nhà văn – cao gầy dong dỏng nói năng nhỏ nhẹ, thường ngồi trọn buổi sáng bên lề đường với một bộ xá xẩu bằng lụa Tân Châu để bán sách của chính mình.

Con mồi lớn nhất của Sơn Vương là René Gaillard, Giám đốc hãng cao su Mimot. Sau một thời gian theo dõi, Sơn Vương biết rõ hàng tháng Gaillard cùng một tài xế và một vệ sĩ trên chiếc Peugeot đến Ngân hàng Đông Dương để lĩnh tiền về phát lương cho công nhân. Số tiền mỗi kỳ lên đến 50.000 đồng. Sơn Vương quyết định sẽ chặn xe cướp vali tiền với một… khẩu súng giả !

Vụ cướp táo tợn được đồn khắp Sài Gòn chỉ một ngày sau. Dân nghèo được một phen hả dạ, bởi kẻ bị trừng trị là một ‘Tây thực dân’ khét tiếng tàn ác. Giới lục lâm Sài Gòn – Lục tỉnh cũng thầm khen tác giả của vụ cướp – dù chẳng biết là ai – bạo gan và chơi rất bảnh, khiến tên chủ Tây vừa mất tiền vừa mất mặt.

Giới giang hồ Nam kỳ nói chung có màu sắc nghĩa hiệp, là một đặc tính của người dân ‘đàng trong’, trọng danh dự và nhân nghĩa. Với Sơn Vương, chuyến ‘đi hát’ đó (một từ lóng chỉ chuyện cướp bóc của giới giang hồ) lại là tai hoạ và cũng là vụ cướp cuối cùng trong cuộc đời ngang dọc.

Kẻ bị cướp – René Gaillard – vốn cũng xuất thân từ một tên cướp khét tiếng của đảo Corse. Tuy đã giã từ nghề thảo khấu nhưng trong huyết quản Gaillard, dòng máu đảo Corse vẫn còn ngùn ngụt. Bị Sơn Vương cướp tiền, Gaillard tuyên bố: Thưởng 5.000 đồng bạc Đông Dương – một phần mười số tiền bị cướp – cho bất cứ ai tìm ra tung tích thủ phạm.

Bazin – tên mật thám khét tiếng tàn ác sau này – đang là một cò tập sự ở bót Catinat. Y xua hết mã tà, lính kín dưới quyền ra sức điều tra, lùng sục, quyết giật cho được món tiền 5.000 đồng mà Gaillard đã rêu rao. Vốn là cáo già, Bazin rất quan tâm đến những chi tiết vụ cướp. Y nhanh chóng nhận ra rằng, loại xe hơi Clément Bayard chặn đường cướp tiền của Gaillard cả Sài Gòn chỉ có không hơn 10 chiếc (xe hơi hiệu Clément Bayard được sản xuất từ Pháp từ năm 1903 đến 1922).

Bazin liên tục gọi tài xế và chủ nhân của những chiếc xe hơi loại này lên làm ‘ăng kết’. Bị tra hỏi quá nhiều lần, Năm Đường (chủ nhân chiếc xe đã cho Sơn Vương mượn để ‘đi hát’) biết chắc sẽ bị bại lộ nên vội ra đầu thú, nộp lại 10.000 đồng được chia sau vụ cướp đồng thời khai ra tên Sơn Vương. Một tháng sau, Sơn Vương bị toà tiểu hình kết án năm năm khổ sai và bị đày ra Côn Đảo.

Tháng 7/1936, một số tù nhân ở Côn Đảo được phóng thích. Sơn Vương cũng được xét trả về đất liền, tiếp tục thụ hình tại Hà Tiên. Trong tù, Sơn Vương đã hô hào tù nhân đập phá khám khiến chủ tỉnh Hà Tiên đã quyết định đày Sơn Vương ra đảo Phú Quốc.

Từ Phú Quốc trở về, chỉ một năm sau, Sơn Vương lại bị tống vào tù. Lần này ông bị bắt vì một lý do… lãng xẹc. Tại ghi-sê bán vé của một rạp chiếu bóng ở Chợ Lớn, Sơn Vương bị một gã hung hăng đạp giày đau điếng. Ông đẩy hắn ra, tên này lập tức nhảy vào đánh Sơn Vương. Cáu tiết, ông xô mạnh, tên gây sự bật ngửa ra sau, ngã chỏng gọng. Rất không may, kẻ gây sự lại là … sếp mật thám của bót Polo trong Chợ Lớn.

Ra toà, Sơn Vương bị kết tội du đãng, bị đưa đi giam giữ tại trại Pursat (Cao Miên). Sơn Vương trốn trại và tìm đường qua Thái Lan nhưng không lâu sau, ông lại bị bắt khi tìm cách về lại Sài Gòn. Lần này ông bị kết án 10 năm tù vì tội vượt ngục, bị tống vào phòng 17, bót Catinat. Đầu năm 1942, ông bị đày ra Côn Đảo lần thứ hai.

Trong thời gian ở Côn Đảo, Sơn Vương giết một ‘ăng ten’ trong số tù nhân. Với tội mới, Sơn Vương lại phải nhận thêm một án chung thân khổ sai nữa. Theo quy định, án chung thân hồi đó được tính là 32 năm. Tổng cộng, đời Sơn Vương đã 4 lần nhận án gồm 1 lần 5 năm, 1 lần 10 năm và 2 án chung thân khổ sai (32 năm). Tính ra ông phải nhận mức án những 79 năm tù …

Năm 1984, Sơn Vương trở lại quê nhà ở Gò Công và mất tại đó vào năm 1987, chấm dứt một cuộc đời ‘trí thức giang hồ’.

Giang hồ thảo khấu : Bình Xuyên

Đến thập niên 50, nổi bật trong giới giang hồ có lực lượng Bình Xuyên, nguyên thủy là tên của ấp Bình Xuyên thuộc làng Chánh Hưng, Nhà Bè. Sau năm 1945, danh xưng Bình Xuyên được dùng để chỉ Lực lượng Bình Xuyên với nòng cốt là dân giang hồ miền Nam, hoạt động ở vùng ven Sài Gòn trong suốt 10 năm, từ 1945 đến 1955.

Từ năm 1948, Bình Xuyên là một lực lượng quân sự bổ sung nằm trong khối Liên hiệp Pháp dưới danh xưng công an xung phong, địa bàn hoạt động ở xung quanh Sài Gòn. Với sự đồng thuận của Pháp, Bình Xuyên kiểm soát nhiều sòng bài, nhà thổ, cùng những thương cuộc lớn nhỏ khắp vùng Sài Gòn – Chợ Lớn trong đó phải kể đến Casino Grande Monde (Đại Thế Giới), Casino Cloche d’Or (Kim Chung), Bách hóa Noveautes Catinat.

Lê Văn Viễn (tức Bảy Viễn) là người chỉ huy Bình Xuyên, hợp tác với Bảo Đại để thành lập chính quyền Quốc gia Việt Nam. Thành phần này là lực lượng Bình Xuyên được biết đến nhiều nhất vào thập niên 1950. Sau Hiệp định Genève (1954), Bình Xuyên đúng ra phải nhập vào Quân đội Quốc gia Việt Nam nhưng lại không tòng phục.

Lê Văn Viễn sinh năm 1904 tại xã Phong Đước, quận Cần Giuộc, Chợ Lớn, thuộc gia đình điền chủ. Bảy Viễn học hết trường làng đến lớp ba thì bỏ nhà đi lưu lạc giang hồ. Trong thời gian khoảng 10 năm, Bảy Viễn học võ ở nhiều nơi. Sau đó Bảy Viễn xưng anh chị tại trường đua Phú Thọ, tập hợp được một số du đãng em út. Vùng hoạt động của nhóm Bảy Viễn bấy giờ là Chợ Thiếc, An Bình, Cù lao Chánh Hưng và xóm Phạm Thế Hiển từ cầu Hiệp Ân đổ xuống cầu Chữ Y.

Với tiền đánh cướp ở các chợ vùng ngoại ô như Cần Giuộc, Nhà Bè, Giồng Ông Tố, Bảy Viễn sắm xe lô-ca-xông cho thuê, đôi khi còn dùng các xe này để đi ăn cướp. Bảy Viễn cũng chịu ảnh hưởng nặng loại tiểu thuyết ‘ăn cướp, bắn súng, lái xe đua’ như Bách-si-ma, Hoàng Ngọc Ẩn của nhà văn Phú Đức nổi tiếng thời bấy giờ. Ăn mặc đúng thời trang, Bảy Viễn lái xe tới những tiệm vàng ở các chợ quận, mua cả bụm vàng rồi để lại một băng đạn trước khi lên xe vọt mất.

Tháng 7/1954 Thủ tướng Ngô Đình Diệm chấp chính, thành lập chính phủ trung ương và nộp danh sách nội các. Lê Văn Viễn đòi được tham chính và đưa ra yêu sách lập chính phủ mới. Lực lượng Bình Xuyên cùng với quân đội Cao Đài và Hòa Hảo còn lập Mặt trận Thống nhất Toàn lực Quốc gia và gửi tối hậu thư buộc chính phủ phải có danh sách mới trước ngày 26/3/1955.

Ngô Đình Diệm không chịu nhượng bộ nên Bình Xuyên mở cuộc tấn công Bộ tổng tham mưu rồi pháo kích vào Dinh Độc Lập. Sang tháng 4/1955, quân Bình Xuyên đánh thành Cộng Hòa. Quân đội Quốc gia phản công, phá được căn cứ chính của Bình Xuyên ở khu vực cầu Chữ Y, lực lượng Bình Xuyên phải triệt thoái khỏi Sài Gòn – Chợ Lớn và rút về Rừng Sát.

Bảy Viễn bị bắt với 17 tiền án ăn cướp có súng, bị kêu án 15 năm khổ sai, đày ra Côn Đảo. Mười lăm ngày sau, Bảy Viễn vượt ngục bằng bè và được thuyền đánh cá vớt. Một năm sau hắn lại bị bắt đưa ra Côn Đảo. Hai tháng sau hắn lại trốn về đất liền. Nhà tù Côn Đảo mở cuộc điều tra tìm hiểu vì sao Bảy Viễn trốn quá dễ dàng như vậy. Nguyên do là Bảy Viễn có tay em ngoài đảo sẵn sàng giúp ‘đại ca’ đóng bè làm buồm, tiếp tế cơm khô, nước ngọt. Một số thầy chú cũng ngán Bảy Viễn nên cố tình nhắm mắt làm ngơ.

Tháng 9/1955 Ngô Đình Diệm phái đại tá Dương Văn Minh (Big Minh) mở Chiến dịch Hoàng Diệu truy nã Bình Xuyên ở Rừng Sát. Quân Bình Xuyên bị hoàn toàn tiêu diệt. Lê Văn Viễn đào tẩu sang Campuchia rồi lưu vong sang Pháp, chấm dứt thực lực của Bình Xuyên.

Xem thêm trên “Một thời Sài Gòn” ngày 15/3/2012. Bấm vào đường dẫn sau :

Bảy Viễn : cuộc đời ngang dọc

Giang hồ anh chị : Đại Cathay

Đến thập niên 60, nổi bật nhất trong giới giang hồ có Đại Cathay. Người ta nói nhiều về một Đại Cathay, với mái tóc bồng bềnh, quần Jean, giày cao cổ ‘đờ-mi-bốt’, trên môi không rời điều thuốc và chiếc hộp quyẹt Zippo… Những gì mà Đại Cathay đã tạo dựng chỗ đứng của mình trong giới giang hồ thật khác biệt và đã trở thành… huyền thoại. Đối với Đại Cathay, sự liều lĩnh không được đánh giá cao bằng lối sống ‘giang hồ tình nghĩa’.

Đại sinh năm 1940, con của Lê Văn Cự, vốn cũng là một tay giang hồ hảo hớn ở khu vực chợ Cầu Muối. Khi còn nhỏ Đại sống với cha mẹ ở đường Đỗ Thành Nhân, Khánh Hội (nay là đường Đoàn Văn Bơ, Quận 4). Cả cha lẫn mẹ đều nghèo, làm nghể chẻ củi thuê cho một vựa củi nằm bên kia Cầu Mống, cạnh Chợ Cũ, Quận 1.

Đại thường xuyên trốn học và chơi với đám trẻ con bụi đời cạnh vựa củi. Hiền lành, ít nói, dù khuôn mặt rất ngầu, tính phóng khoáng, lại rất ‘lì đòn’. Những đức tính được ‘thừa kế’ từ cha đã giúp Đại nhanh chóng được đám trẻ đồng cảnh mến mộ. Mới 10 tuổi, ‘thủ lĩnh’ Đại đã thường xuyên luồn lách vào các chợ ăn trộm dưa, chuối về chia cho chúng bạn.

Đại bỏ học, sang vườn hoa Cầu Mống đánh giày, bán báo. Khu vực làm ăn của Đại là xung quanh ngã tư Công Lý (nay là Nam Kỳ Khởi Nghĩa) – Nguyễn Công Trứ gần rạp xi-nê Cathay. Không ngày nào trước cửa rạp hát không xảy ra những vụ đánh lộn giành khách giữa đám trẻ bụi đời. Lì lợm và liều lĩnh, Đại lăn xả vào đối thủ, liên tục tấn công, dù kẻ đó có cao hơn, to hơn.

Trăm lần như một, Đại luôn là kẻ chiến thắng, dù tay chân mặt mũi đầy thương tích. Nghiễm nhiên, hắn trở thành thủ lĩnh của đám nhóc tì du thủ du thực trong khu vực. Cũng vì thế, gã đã ráp thêm ‘tên địa bàn hoạt động’ vào sau tên cúng cơm để trở thành Đại Cathay, một đại ca hùng cứ trên đường Nguyễn Công Trứ. Đó là năm 1954, lúc Đại mới 14 tuổi.

Trở thành ‘anh chị’, Đại được quyền sống mà không mó tay vào bất cứ việc gì. Hắn vẫn đóng thùng đánh giày, nhưng là để giao cho đàn em ‘đi làm’ mang tiền về nộp. Được cái, hắn rất hào phóng. Đại Cathay chia hết tiền cho đàn em, chỉ giữ lại cho mình 1 khoản nhỏ, đủ cà phê, thuốc lá cho ngày kế tiếp. Vì vậy, đàn em rất khoái và chịu nghe lời “anh Đại”. Ở đây ta thấy giới giang hồ miền Nam rất trọng ‘đạo nghĩa’ và ‘công bằng’ dù trình độ văn hóa của họ rất thấp.

Nằm ngay cạnh khu vực của Đại Cathay là bót cảnh sát quận Nhì, thường được gọi là bót Dân Sinh, nổi tiếng dữ dằn. Rất nhiều lần, sau khi dẫn đàn em đi chinh phạt các khu vực khác hoặc đánh dằn mặt người của các băng nhóm đến giành lãnh địa, Đại Cathay đã bị xách tai lôi về bót. Cuối cùng, cảnh sát tống Đại Cathay vào trại tế bần ở Thủ Đức. Sau nhiều lần vào trại rồi trốn ra khỏi tế bần, Đại Cathay càng liều lĩnh hơn, kinh nghiệm hơn, và càng lao đầu vào những trận thư hùng.

Năm 1955, Đại Cathay chuyển sang sinh sống ở khu vực hãng phân Khánh Hội, cạnh Nhà máy thuốc lá Bastos. Đám giang hồ khu vực này ‘nghênh đón’ Đại Cathay khá nồng nhiệt bằng những trận hỗn chiến. Một lần nữa, sự lì đòn của Đại lại giành phần thắng. Toàn bộ khu vực Khánh Hội, quanh cầu Ông Lãnh, gồm toàn dân giang hồ ở bến tàu, vựa cá, vựa rau cải đều quy phục dưới trướng của Đại Cathay.

Đầu những năm 1960, thuyết hiện sinh và phong trào hippie bắt đầu thâm nhập Sài Gòn. Đại Cathay tuy ít học nhưng cũng không hề kém cạnh các bậc trí giả trong khoản ăn chơi. Đám nghệ sĩ, trí thức cũng nể Đại Cathay vì tính chịu chơi và khoái vẻ ngang tàng, bụi bặm của gã.

Nguồn lợi lớn hơn cả mà Đại Cathay thu được lại không phải từ tiền thuế ‘bảo kê’. Chính giới doanh nghiệp làm ăn lớn là kẻ tình nguyện đóng góp đều đặn để Đại nuôi quân, đồng thời để nhờ vả Đại làm hậu thuẫn khi cần gây sức ép hay giành giật trên thương trường với kẻ khác. Cả anh em tỉ phú Hoàng Kim Qui (vua kẽm gai), Xí Ngàn ‘mặt rỗ’ (vua thuốc Bắc), La Thành Nghệ (vua thuốc đỏ) và hơn chục ông vua các ngành nghề khác của người Hoa là những người đều đặn chu cấp cho Đại. Cũng nhờ uy thế của các ‘vua’, Đại Cathay cũng làm quen và “chơi chịu” với khá đông nhân vật quyền thế và tên tuổi khác.

Sài Gòn thập niên 60 nổi tiếng có ‘tứ đại giang hồ’ gồm Đại Cathay, Huỳnh Tỳ, Ngô Văn Cái và Nguyễn Kế Thế. Cả miền Nam đều biết tiếng ‘tứ nhân bang’, nhất là sau khi cuốn tiểu thuyết Điệu ru nước mắt của nhà văn Duyên Anh ra đời. Sau một trận hỗn chiến giữa ‘tứ đại giang hồ’, Đại Cathay lên đứng đầu nhóm và một trận chiến kinh hồn với băng đảng người Hoa của Tín Mã Nàm đã đưa Đại Cathay lên ngôi ‘bang chủ’ trong một đế chế mà khắp Sài Gòn – Chợ Lớn chẳng có một băng nhóm nào dám đối đầu.

Cả một bộ máy quân sự khổng lồ của miền Nam dưới thời Nguyễn Cao Kỳ hình như cũng phải ‘xuống nước’. Tướng ‘Sáu Lèo’ Nguyễn Ngọc Loan (khi đó nắm quyền chỉ huy lực lượng cảnh sát) ngỏ ý mời Đại Cathay về làm đại úy cảnh sát để ‘dĩ độc trị độc’. Đại Cathay thẳng thừng từ chối:

Tôi xuất thân du đãng, làm sao có thể quay lưng diệt du đãng được? Nếu tôi nhận lời, du đãng không chém, tôi cũng chết vì thân bại danh liệt”.

Đại và cả đám đàn em bị tống ra Trung tâm hướng nghiệp tại đảo Phú Quốc, hay còn gọi là ‘Trại Cửu Sừng’. Đây là nơi lưu đày những tên lưu manh ngoại hạng dày thành tích bất hảo nhưng không có chứng cớ để bắt quả tang, do chính Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Loan đề nghị thành lập nhằm “bài trừ du đãng, chấn hưng đạo đức, thượng tôn luật pháp”.

Người vợ cuối cùng, cũng là cuộc tình sâu nặng nhất của Đại Cathay, là cô Nhân, con gái chủ tiệm đồ gỗ Đồng Nhân nổi tiếng nằm trên đường Hồng Thập Tự (nay là Nguyễn Thị Minh Khai) đối diện với vũ trường Olympic. Nhân ở lại Sài Gòn, biết chắc rằng loại ‘tù không án’ như chồng mình e khó có ngày về. Cô cùng anh trai vung tiền ra tìm cách cứu Đại Cathay.

Khi biết cô Nhân đang tìm cách lo lót tổ chức cho Đại Cathay vượt ngục… Tướng Nguyễn Ngọc Loan đã chỉ đạo cứ để cho Đại Cathay thực hiện kế hoạch. Đến giờ chót, theo lệnh Loan, toàn bộ toán lính gác của trại hướng nghiệp bất ngờ bị đổi. Toán lính gác mới ráo riết truy kích đám tép riu, còn riêng Đại Cathay được cố tình cho đào thoát vào núi Tượng.

Sau đó, tướng Loan cho một tiểu đội biệt kích do thiếu úy Trần Tử Thanh chỉ huy, được trực thăng chở từ Sài Gòn ra truy kích Đại. Trần Tử Thanh sau này đã từng khoe với nhiều phóng viên của một số tờ báo ở Sài Gòn trước 1975 rằng chính tay mình đã nổ súng hạ gục Đại Cathay.

Trên đây chỉ là lời đồn đại, ‘đoán non đoán già’ về ngày tàn của Đại Cathay. Huyền thoại về cuộc đời và cái chết của Đại Cathay vẫn có nhiều chi tiết chưa được làm rõ về một tên ‘giang hồ ngoại hạng’.

Xem thêm trên “Một thời Sài Gòn” ngày 23/12/2011. Bấm vào đường dẫn sau :

Cuộc đời của Đại Cathay

oOo

Chuyện của giới giang hồ miền Nam là một kho tàng vô tận, chuyện thật cũng có, người đời thêu dệt thành huyền thoại cũng không ít. Chẳng hạn như cuộc đời các tướng cướp Bạch Hải Đường, Điền Khắc Kim, những tay anh chị như Tín Mã Nàm và gần đây nhất là ông trùm Năm Cam…

Yên Huỳnh chuyển tiếp

THÁI THANH DIVA MỘT THỜI SÀI GÒN

ĐIỀU ÍT BIẾT VỀ THÁI THANH 

DIVA CỦA SÀI GÒN MỘT THUỞ

Thái Thanh vốn là con nhà nòi âm nhạc, chị gái là ca sĩ Thái Hằng, anh rể là nhạc sĩ Phạm Duy, anh trai là nhạc sĩ Phạm Đình Chương, con gái là ca sĩ Ý Lan, nhưng danh ca Thái Thanh cho đến nay dù tóc đã chuyển màu trắng cước vẫn chẳng hề bị chìm lút giữa những nghệ sĩ nổi tiếng trong đại gia đình mình.

Biết hát nhờ nhạc phẩm của Phạm Duy

Gia đình nữ danh ca Thái Thanh vốn là gia đình nòi âm nhạc ở Hà thành xưa. Thái Thanh là thứ nữ của ông Phạm Đình Phụng với người vợ hai. Người vợ đầu của ông Phạm Đình Phụng sinh được 2 người con là Phạm Đình Sỹ và Phạm Đình Viêm. Người vợ thứ hai sinh ra Phạm Thị Quang Thái (ca sĩ Thái Hằng – vợ nhạc sĩ Phạm Duy), nhạc sĩ Phạm Đình Chương và con gái út Phạm Thị Băng Thanh (tức danh ca Thái Thanh). Thái Thanh còn một người chị gái lớn, sinh trước ca sĩ Thái Hằng, nhưng không may đã trúng bom chết khi còn nhỏ.

Song thân của danh ca Thái Thanh đều là những người rất sành nhạc cổ. Thân phụ của Thái Thanh vốn chơi đàn nguyệt, còn thân mẫu chơi đàn tranh và đàn tỳ bà hay có tiếng ở đất Bắc. Nên tất cả anh em của Thái Thanh đều ngấm máu văn nghệ sĩ từ khi còn nhỏ.

Quê ngoại của Thái Thanh ở Sơn Tây, quê nội ở ngay Hà Nội. Thái Thanh chào đời năm 1934 tại làng Bạch Mai, Hà Nội. Năm 1946, 12 tuổi, Thái Thanh đã được ông bà Phạm Đình Phụng đưa theo cùng các anh chị lên Sơn Tây tản cư. Cũng tại nơi đây, người chị đầu của Thái Thanh đã bị trúng bom tử nạn. Ông bà Phạm Đình Phụng lại đưa con chạy về xuôi, mở một quán phở đặt tên là Thăng Long.

Tại quán Thăng Long này, các văn nghệ sĩ kháng chiến thường dừng chân, ăn phở và nghe nhạc. Chị em Phạm Đình Chương (nghệ danh Hoài Bắc), Phạm Thị Quang Thái (nghệ danh Thái Hằng) và Phạm Thị Băng Thanh (nghệ danh Thái Thanh) thường biểu diễn ngay tại quán Thăng Long. Khách đến rất vui vì được thưởng thức “cây nhà lá vườn”.

Đầu năm 1949, anh chị em Thăng Long gia nhập các ban văn nghệ quân đội của liên khu IV. Quán Thăng Long dời về chợ Neo (Thanh Hóa). Tại đây, Thái Hằng kết hôn với Phạm Duy và hành trình âm nhạc của gia đình từ nay nảy nở thêm những tài năng mới, với Duy Quang là con đầu lòng sinh năm 1951, và tiếp theo là các con Duy Cường, Thái Hiền, Thái Thảo.

Chuyện Thái Hằng gặp gỡ và nên vợ chồng với nhạc sĩ Phạm Duy không chỉ là một bước ngoặt lớn với nữ ca sĩ nổi tiếng hi sinh cho chồng con này, mà cũng là dấu mốc quan trọng trong cuộc đời danh ca Thái Thanh.

Thái Thanh bắt đầu hát từ năm 13, 14 tuổi. Đến giờ, nữ danh ca không còn nhớ rõ bài hát đầu tiên mà mình trình diễn là bài nào nhưng chắc chắn là một bài hát của Phạm Duy. Lúc đó, nhạc sĩ Phạm Duy đang theo đuổi Thái Hằng nên thường dùng Thái Thanh làm cái cớ lấy điểm với chị Thái Hằng. Mà Phạm Duy nổi tiếng với tài sáng tác, nên chỉ nghĩ ra cách lấy điểm nhanh nhất và hiệu quả nhất là qua con đường âm nhạc.

Phạm Duy hơn Thái Thanh chục tuổi, còn Thái Hằng hơn Thái Thanh 7 tuổi. Khi anh rể tương lai chinh phục chị gái, Thái Thanh trở thành cầu nối cho Phạm Duy. Hồi đó, có bài “Dòng sông Xanh” nhạc ngoại quốc, lời Việt rất nổi tiếng. Phạm Duy đã đặt lời Việt cho bài “Dòng sông Xanh” cho cô em gái Thái Thanh bé xíu hát để lấy điểm với cô chị Thái Hằng. Năm 1948, Thái Hằng kết hôn với Phạm Duy. Nhạc sĩ Phạm Duy chính thức trở thành người một nhà với Thái Thanh. Chẳng biết Phạm Duy và Thái Hằng nên duyên vì những lẽ gì, nhưng chắc hẳn có một phần công lớn của danh ca Thái Thanh.

Từ sau khi hát bài “Dòng sông Xanh”, Thái Thanh đã cùng chị Thái Hằng và anh trai Phạm Đình Chương đi biểu diễn ở quân khu 4. Lần đầu tiên Thái Thanh hát cho công chúng nghe là ở một vùng quê những ngày tản cư kháng chiến. Khi đó, luôn có những ban nhạc hát cho công chúng ở vùng quê nghe.

Lên sân khấu ở tuổi 14, còn bé xíu mà đứng trước đông đảo bà con, nên Thái Thanh cũng sợ lắm. Nhưng sau khi cất tiếng hát, thì tiếng hát, âm nhạc không những làm Thái Thanh tan biến mọi nỗi sợ mà còn cảm thấy hứng khởi, hạnh phúc, vì lúc đó, Thái Thanh thấy mình vinh dự được đứng trong ban hợp ca gồm các anh các chị như Hoài Trung, Hoài Bắc, Thái Hằng, những thành viên của ban hợp ca “Thăng Long”.

May mắn cho Thái Thanh là song thân của cô đều là nghệ sĩ, yêu âm nhạc nên không ngăn cấm con cái theo nghiệp “xướng ca vô loài”. Các cụ chỉ dặn con nhất định phải học hành trước đã, đàn hát là chuyện phụ thôi, nhưng kể từ năm 1950, Thái Thanh đã lựa chọn đi theo con đường ca hát.

Tên tuổi của Thái Thanh gắn liền với những bản nhạc của Phạm Duy. Kể từ bài “Dòng sông Xanh”, Phạm Duy đặt lời cho Thái Thanh hát, thì Phạm Duy đã biết giọng của Thái Thanh sinh ra là để hát những ca khúc do ông sáng tác. Cũng có người cho rằng, Phạm Duy vì yêu quý giọng hát của Thái Thanh nên đã sáng tác nhiều bài hát hợp với giọng của Thái Thanh.

Trải qua 60 năm, Phạm Duy vẫn khẳng định: trong những người hát nhạc Phạm Duy, ông ưng nhất là Thái Thanh, Duy Quang và sau này có Đức Tuấn. Chỉ có Thái Thanh mới đủ khả năng nâng bổng nhạc của Phạm Duy lên và chỉ có nhạc của Phạm Duy mới đáng để Thái Thanh hát. Nhiều ca khúc của Phạm Duy được Thái Thanh thể hiện đúng chất và đúng tầm hơn hẳn những ca sĩ khác cùng thời – đó là nhận xét của một người làm chuyên môn bỏ công nghiên cứu về nhạc Phạm Duy và tiếng hát Thái Thanh.

Thái Thanh có biệt tài “phiêu” cũng với những ca khúc của Phạm Duy. Có những nhạc phẩm của Phạm Duy, Thái Thanh tự ý đổi ca từ khi lên sân khấu, nhưng nhạc sĩ Phạm Duy phải công nhận điều đó làm cho bản nhạc của ông bỗng mang một chút “duyên lạ”.

Như nhạc phẩm “Cho nhau”, Phạm Duy viết : “Cho nhau ngòi bút cùn trơ – Cho nhau, cho những câu thơ tàn mùa – Cho nốt đêm mơ về già”. Thái Thanh lại hát thành : “Cho nhau ngòi bút còn lưa…”. “Lưa” là một từ cổ, có nghĩa là còn sót lại, nhưng mang một âm thanh u hoài, luyến lưu tiếc nuối. Như trong ca dao Bình Trị Thiên vẫn có câu hát đẫm buồn : “Trăm năm dù lỗi hẹn hò – Cây đa bến – Cô con đò vắng đưa – Cây đa bến Cô còn lưa – Con đò đã khác năm xưa tê rồi”.

Nên từ “còn lưa” đã đẩy ca khúc “Cho nhau” về một cõi xa xưa đầy u hoài, luyến tiếc, để lại một dư âm da diết trong cảm nhận về ngôn từ trong lòng thính giả. Nhờ thế mà chữ tình trong “Cho nhau” trở nên lai láng, mơ hồ về quá vãng, còn day dứt mãi trong lòng tình nhân chứ không còn xao xác, tận cùng như “ngòi bút còn trơ”. Nên dù vậy, Phạm Duy lưu ý không chỉ nhắc nhớ một câu chuyện thú vị trong bài hát chứ chưa hề trách cô em vợ một tiếng nào. Mà vì tình “còn lưa” nên Thái Thanh lại hát câu : “Cho nốt đêm mơ về già” thành “Cho nối đêm mơ về già”, sâu nặng và thủy chung, như cứu rỗi hai linh hồn chưa bao giờ an lạc vì trót nhớ thương, tình lỡ.

Phạm Duy viết : “Cho nhau thù oán hờn ghen – Cho nhau cho cõi âm ty một miền”, Thái Thanh lại hát thành : “Cho nhau cho nỗi âm ty một miền”. Vô tình mà như hữu ý, vì từ “cõi” như là một ý niệm hiện hữu về không gian, như xa anh em về cõi chết, tưởng như “cõi âm ty” rất bao la nhưng thật ra chết là hết có còn vấn vương gì.

Cho em “nỗi âm ty”, từ “nỗi” dùng để diễn tả tâm trạng con người, con người tưởng như không thể sánh được với cả một “cõi” không gian nhưng nỗi lòng người lại bao la đến vô hình. “Nỗi âm ty” là sự chết đang tồn tại trong thực thể còn đang sống. Chính cái “phiêu”, cái sáng tạo rất duyên dáng của Thái Thanh đã nâng những bài hát mà Thái Thanh thể hiện, khiến cùng một nhạc phẩm, nhưng dưới sự thể hiện của Thái Thanh luôn ở tầm rất khác so với các ca sĩ cùng thời.

Thái Thanh được cho là một giọng hát “vượt thời gian”, từng bị dư luận vẽ ra đủ thứ giai thoại về bí quyết học nhạc. Có dư luận nói, Thái Thanh hát hay như thế nhờ chui đầu vào chum để tập phát âm. Lẽ thật, giọng hát Thái Thanh sống mãi vì hai điều: Thái Thanh hát với tình yêu âm nhạc và cháy hết mình khi đứng trước khán giả.

Khi còn nhỏ, Thái Thanh không theo học nhạc ở trường lớp nào. Nhạc lý cũng như là xướng âm, Thái Thanh phải đặt mua sách từ bên Pháp, theo đó tự học, có gì khó thì hỏi nhạc sĩ Phạm Đình Chương. Phạm Đình Chương cũng chủ yếu là tự học rồi từ vốn kiến thức đó lại trở thành thầy của em gái.

Phạm Đình Chương có lần nói : “Cô có cái đặc biệt là trước khi tôi dậy thì cô đã biết rồi”. Thái Thanh có được giọng ca sống mãi với thời gian và vẻ đẹp khiến đàn ông không thể không ngoái nhìn. Có lần ca sĩ Khánh Ly trong dịp hội ngộ Thái Thanh đã nắm bàn tay đẹp có tiếng của Thái Thanh nói: “Nếu cháu là chồng của cô, cháu đành phải để cô đi hát trước khán giả, nhưng cháu sẽ giữ hai bàn tay cô ở lại nhà, cháu không cho ai được nhìn hai bàn tay ấy khi cô hát”.

Danh ca, một người phụ nữ và một người mẹ

Nhớ lần ca sĩ Ý Lan trở lại hát tại Hà Nội trong một đêm nhạc tại Nhà hát Lớn, ca sĩ Ý Lan đã tâm sự, đây là nơi Ý Lan nhất định phải tìm về, vì đó là khung trời kỷ niệm của danh ca Thái Thanh – mẹ cô và tài tử Lê Quỳnh – cha cô. Dù sau này, Thái Thanh và Lê Quỳnh không còn bên nhau, nhưng mong ước được một lần quay lại khung trời kỷ niệm, nơi bắt đầu tình yêu của hai người mãi mãi là ước mơ của tài tử Lê Quỳnh.

Chính tại Nhà hát Lớn, trong một buổi biểu diễn của Thái Thanh, tài tử Lê Quỳnh khi đó còn chưa nổi danh đã phải trốn vé để vào nghe giọng hát mà mình vốn hằng ái mộ, để rồi sau đó bắt đầu một mối duyên đẹp, dù mối duyên đó không trọn vẹn đến cuối đường.

Thái Thanh lập gia đình với Lê Quỳnh năm 1956 và sinh liên tiếp 5 người con, 3 gái, 2 trai. Đó là: Ý Lan sinh năm 1957, Lê Việt 1958, Quỳnh Dao tức Quỳnh Hương 1960, Thanh Loan 1962 và Lê Đại 1964. Cậu út Lê Đại nhiều lần “chê” mẹ là sinh nhiều quá, “y như gái Tầu” vậy. Lê Đại cũng là người kém may mắn nhất trong 5 chị em: khi ra đời khỏe mạnh, nhưng Lê Đại bị bệnh sốt tê liệt từ lúc 8 tháng. Tuy sống sót nhưng Lê Đại bị liệt nửa thân dưới.

Thái Thanh được biết đến là nữ danh ca có ảnh hưởng lớn ở Sài Gòn trước năm 1975 nhưng cũng là một người mẹ hết mình vì gia đình. Năm 4 tuổi, Lê Đại bị ốm, được tổ chức Terre Des Hommes đưa qua nước Ý chữa trị 3 năm liền và năm 1971, Lê Đại trở về Việt Nam khi 7 tuổi. Từ khi sang Mỹ, Thái Thanh đảm đương trách nhiệm làm mẹ với rất nhiều nghị lực.

Thái Thanh tập lái xe dù không thích thú chút nào, nhưng phải tập ngay để có thể hàng ngày đưa đón Lê Đại đi học. Sau 2 năm học tại College Golden West, Lê Đại đã được vào đại học Long Beach. Sự kiên trì và nhẫn nại của bà mẹ Thái Thanh đã giúp Lê Đại (nay là Michael Đại Lê) tự tin hơn, yêu đời hơn. Lê Đại tốt nghiệp đại học năm 1996. Giờ Lê Đại đã đi làm, sống tự lập thoải mái trong một căn hộ riêng gần trường và rất ngưỡng mộ mẹ. Khi sức khỏe tốt, mỗi tuần, Thái Thanh đều đến thăm nom con trai, mang thêm vài món ăn Việt Nam nấu sẵn cho cậu út.

Thái Thanh không chỉ vất vả với Lê Đại. Khi cô bé Thanh Loan sang Mỹ thì cũng là lúc cô bắt đầu bị một dạng bệnh trầm cảm. Thái Thanh một lần nữa lại khổ đau cùng cực trước số phận khắt khe. Trong thời gian tìm hiểu về bệnh trạng của Thanh Loan, biết con không học hành bình thường như các anh chị em được, Thái Thanh đã cố gắng dìu dắt con gái, đi làm những việc thiện nguyện, mong con tìm được niềm vui sống…

Nhưng bệnh tình Thanh Loan cứ nặng dần, sau cùng, Thái Thanh đành phải nghe lời bác sĩ và các bạn đồng cảnh ngộ, đưa con vào một bệnh viện chữa trị. Nhưng Thái Thanh vẫn kiên trì phấn đấu với phương tiện và hoàn cảnh của mình để giúp đỡ con yêu quay trở lại với cuộc sống. Vai trò làm mẹ của 2 con bị bệnh nặng cũng lại đòi hỏi ở Thái Thanh một thứ nghị lực bằng “thép cứng” cùng sự kiên trì lớn lao. Với hoàn cảnh như vậy, những đức tính phi thường nơi người mẹ được tôi luyện đã giúp Thái Thanh được con cái yêu kính.

Sống xa Lê Quỳnh từ năm 1965, Thái Thanh một mình đảm đương vai trò vừa là mẹ, vừa thay cha trong việc nuôi dạy con cái. Khi dịu dàng, lúc nghiêm khắc, Thái Thanh luôn mong các con có được căn bản vững chắc về văn hóa và đạo đức, để mai sau trở thành những Con Người có thể viết hoa.

Dù các con của Thái Thanh đều có giọng ca thiên phú, nhất là Ý Lan và Quỳnh Hương, nhưng khi Ý Lan còn nhỏ, Thái Thanh nhất quyết không cho con theo nghề ca hát. Thái Thanh buộc con phải học hành như bao người khác. Nhưng dường như là số phận, sau này Ý Lan đi làm, lấy chồng rồi mới bước vào nghiệp xướng ca và vẫn nổi tiếng dù bước vào nghề rất muộn.

Ý Lan luôn coi mẹ là thần tượng trong cuộc sống cũng như trong âm nhạc, như Ý Lan đã tâm sự: “Mẹ tôi là một người đàn bà tình cảm và rất can đảm. Suốt thời thơ ấu cho đến khi trưởng thành, hình ảnh của mẹ Thái Thanh âu yếm, chăm sóc và yêu thương các con đã ảnh hưởng đến tôi rất nhiều khi tôi làm mẹ. Tình cảm thiêng liêng của mẹ dành cho tôi là niềm hạnh phúc và cả sự may mắn vô bờ bến”.

Sự nổi tiếng của bố Lê Quỳnh và mẹ Thái Thanh là cả một gia tài dành riêng cho con cái. Ý Lan trở thành ca sĩ như ngày hôm nay là nhờ có cả hai yếu tố quan trọng mà bố mẹ đã để lại trong dòng máu của Ý Lan. Cô tâm sự: “Tôi có tiếng hát và kỹ thuật hát thừa hưởng từ mẹ, còn kỹ thuật trình diễn được thừa hưởng từ bố”. Ý Lan cho đây là điều may mắn, chứ làm sao có thể nghĩ là một áp lực cho cuộc sống của mình.

Đối với riêng tình phụ tử và mẫu tử thì lúc nào gia đình Ý Lan cũng có sự yên ấm. Bố mẹ Ý Lan đã không còn sống chung với nhau từ khi Ý Lan 8 tuổi. Tuy nhiên, bố mẹ vẫn rất quý nhau và trân trọng nhau, cho nên Ý Lan và các em trong gia đình đã quen một nếp sống cố định. Còn về tính tình, có những lúc bố mẹ uốn nắn các con để theo nề nếp căn bản nhưng luôn luôn đi đôi với tình cảm nhẹ nhàng.

Ngoài đời thường, Thái Thanh cũng là một người rất đỗi đàn bà. Chúng ta quen hình dung Thái Thanh trên sàn diễn, khi đang hát, hoặc qua những đĩa, băng nhạc. Chúng ta thường nhớ đến Thái Thanh như một đệ nhất và danh ca và quên mất Thái Thanh trong đời thường như một bà mẹ, một người nội trợ thích nấu ăn, một phụ nữ thích mặc đẹp, ăn ngon, kể cả ăn quà vặt.

Khi 70 tuổi, Thái Thanh vẫn cần mẫn làm các món dưa chua, củ cải ngâm nước mắm, kho cá thu, làm thịt đông… Thái Thanh vẫn say sưa kể về cách làm các món ăn “Bắc Kỳ chính cống”. Cũng như khi đứng trên sân khấu, Thái Thanh dồn hết mình cho âm nhạc thì khi nấu nướng, toàn bộ con người bà, thân, trí và tâm. Thái Thanh đều chú tâm vào chuyện nấu nướng y như khi hát vậy.

Như Thái Thanh tâm sự về cách ứng xử với cây hoa lan : “Cư xử với cây khó lắm, nhất là hoa lan, không như cư xử với người đâu. Nếu mình không chăm sóc tử tế, không khéo, không làm đúng những gì mình phải làm, thì cây nó bỏ đi. Còn với người, người ta sẵn sàng chịu đựng nhau, đôi khi người ta giả dối dể vẫn liên lạc với nhau vì những điều gì đó. Còn với cây, mình có yêu cây thì cây mới ở lại với mình”. (Trí Huân theo Đang yêu)

– Nghe và đọc thêm : trên “Một thời Sài Gòn” ngày 19/3/2011. Mời bấm vào đường dẫn : Nữ ca sĩ THÁI THANH

– Danh Ca Thái Thanh 80 năm cuộc đời vẫn hát

https://youtu.be/JIk49JzPWHE

Yên Huỳnh chuyển tiếp

HOÀNG ANH TUẤN :

ĐẠO DIỄN HAY NHÀ THƠ ?

“Anh đã gặp em một lần duy nhất

Đà Lạt em, Đà Lạt vẫn của anh…”

Hoàng Anh Tuấn sinh năm 1932 tại Hà Nội, khi mới bắt đầu học tiểu học, thân phụ ông phải đổi đi làm việc tại Vinh, gởi ông lại nhà ông bác để đi học. Ông theo học tại trường Dòng Puginier ở Hà Nội, một trường đạo nổi tiếng có kỷ luật và nghiêm khắc.

Năm 1943, phi cơ Nhật bắt dầu dội bom Hà Nội, thân phụ ông bỏ việc ở Vinh, về Hà Nội mang gia đình chạy loạn về Hưng Yên, một tỉnh lỵ êm đềm ở xa Hà Nội. Trong lúc phong trào kháng chiến chống Pháp lên cao, Hoàng Anh Tuấn còn nhỏ nhưng cũng ra khu và học trường trung học Nguyễn Huệ tại làng Sêu thuộc Khu 3 gần Hà Nội và tham gia toán du kích Đống Đa, nhưng sau một thời gian, ông hay thắc mắc về Mao Trạch Đông, bị trù dập, vỡ mộng đi kháng chiến nên bỏ về Hà Nội.

Ông kết bạn với họa sĩ Duy Thanh, bắt đầu sáng tác thơ văn. Năm 14 tuổi, ông có bài thơ đầu tay đăng trên báo Tiểu Thuyết Thứ Bảy của Nhà xuất bản Tân Dân ở Hà Nội.

Năm 16 tuổi, khi chưa học xong trung học, gia đình cho ông sang Pháp du học và trong thời gian ở thành phố Nice, ông đã gặp nhà thơ Nguyên Sa (Trần Bích Lan) khi ấy từ Paris về nghỉ hè. Nguyên Sa đã rủ ông về Paris và tại đây ông đã theo học Trường Điện ảnh IDHEC (Institut Des Hautes Etudes Cinémato- graphiques).

Năm 1958, ông về nước làm đạo diễn cho hãng phim Alpha ở Sài gòn rồi chuyển sang viết cho các báo như Đồng Nai và Tiền Tuyến, các tạp chí như Hiện Đại. Từ năm 1965 đến năm 1974, ông làm giám đốc của Đài phát thanh Đà Lạt. Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, ông học tập cải tạo 2 năm ở trại Phan Đăng Lưu rồi được trả tự do, sống vất vưởng ở Sài gòn thêm 2 năm nữa trước khi sang Pháp đoàn tụ với gia đình sau 20 năm xa cách.

Ông sống tại Pháp một thời gian dài rồi cùng với gia đình định cư tại bang Ohio của Mỹ vào năm 1981.

Con gái ông đã tập hợp những bài thơ của ông để in tập thơ “Yêu em, Hà Nội và những bài thơ khác” ra mắt vào năm 2004 tại tòa soạn báo Người Việt, chỉ 1 năm trước khi ông qua đời (ngày 1/9/2006) tại thành phố San Jose, bang California.
Hoàng Anh Tuấn có nhiều tình cảm với thành phố Hà Nội và có tới 4 bài thơ về Hà Nội (“Bài thơ Hà Nội”, “Hà Nội, mùa thu và em”, “Yêu em Hà Nội” và “Mưa Sài gòn, mưa Hà Nội”) nhưng cho tới nay, bài thơ của ông về Hà Nội được nhiều người biết đến nhất là bài “Mưa Sài gòn, mưa Hà Nội” đã được Phạm Đình Chương phổ nhạc.

Ca khúc “Mưa Sài gòn, mưa Hà Nội” của Phạm Đình Chương với ban hợp ca Thăng Long : (nguyên tác thơ và nhạc “Mưa Sài gòn mưa Hà Nội – xin bấm vào đường link sau đây:  Bai tho – Mua Saigon mua Ha Noi )

https://youtu.be/F_-q370tkTQ

Ca khúc “Mưa Sài gòn, mưa Hà Nội” với Quỳnh Giao, Mai Hương và Kim Tước:

https://youtu.be/IwQhWQyeY18

Trong 9 năm làm giám đốc Đài phát thanh Đà Lạt, vợ chồng Hoàng Anh Tuấn ở trong ngôi biệt thự số 11 đường Hoa Hồng (rue Des Roses, nay là đường Huỳnh Thúc Kháng). Tác giả Nguyễn Vĩnh Nguyên cho biết : “Căn nhà số 11 đường Hoa Hồng mà họa sĩ Đinh Cường và GS Đỗ Long Vân ở cũng là nơi cư ngụ của vợ chồng nhà văn Hoàng Anh Tuấn – Ngô Thy Liên. Ông Hoàng Anh Tuấn là nhà điện ảnh gốc Hà Nội, du học tại Pháp, chọn Đà Lạt làm nơi phát triển sự nghiệp. Ông chính là quản đốc Đài phát thanh Đà Lạt giai đoạn 1965. Hoàng Anh Tuấn có những câu thơ về Đà Lạt thật nhẹ nhàng, êm đềm như địa đàng thuở ban sơ:

“Có những buổi trăng về từ suối bạc

Đem phong lan trang điểm một trời hương

Đà Lạt của ta trong thần thoại hoang đường

Lang tình tứ đã gặp Bian e ấp

Anh đã gặp em một lần duy nhất

Đà Lạt em, Đà Lạt vẫn của anh…”

Tên tuổi của ông gắn liền với ngành điện ảnh trong vai trò đạo diễn. Bốn cuốn phim sự do ông đạo diễn là :

1/- Ngàn năm mây bay (1963), dựa theo tiểu thuyết của nhà văn Văn Quang, hãng Thái Lai sản xuất với các diễn viên Lê Quỳnh, Bích Sơn, Bích Thủy, Phạm Huấn

2/- Hai chuyến xe hoa (1961) dựa trên tiểu thuyết cùng tên của Nguyễn Bính Thinh và tuồng cải lương của Thái Thụy Phong ; hai diễn viên chính trong phim là Thanh Nga và Thành Được.

3/- Nước mắt đêm xuân với các diễn viên Mai Trường, Nguyễn Long, Lệ Quyên

4/- Xa lộ không đèn (1972) với các diễn viên Thanh Nga, Hoài Trung, Trang Thanh Lan và Năm Châu. (theo Huỳnh Duy Lộc)

Phim : Xa lộ không đèn (1972) (1:33’) : https://youtu.be/HxlulRdfn5E

Sang Huỳnh chuyển tiếp

Đọc thêm : trên “Một thời Sài Gòn” ngày 23/3/2010 : Đạo diễn HOÀNG ANH TUẤN

THÁNG 4 NHỚ NGUYÊN SA

THÁNG TƯ NHỚ NGUYÊN SA

Chuyện cùng “Nga buồn như con chớ ốm”

Mười chín năm qua, từ ngày nhà thơ Nguyên Sa qua đời (18 Tháng Tư 1998), những đóa cúc vàng trên mộ ông trong nghĩa trang ở thành phố Westminster vẫn vàng rực, nhờ sự chăm sóc ân cần từ người vợ thủy chung.

Vợ nhà thơ Nguyên Sa, bà Trịnh Thúy Nga, người đi vào cõi thơ Nguyên Sa với những câu mở đầu “tếu táo” :

“Hôm nay Nga buồn như một con chó ốm

Như con mèo ngái ngủ trên tay anh

Ðôi mắt cá ươn như sắp sửa se mình

Ðể anh giận sao chả là nước biển !…”

Trên đời, chắc chỉ có mình ông, nhà thơ Nguyên Sa, viết thư thông báo đám cưới của mình bằng thơ. Cũng chẳng có ai đặt tựa cho bài thơ báo hỷ “cộc lốc” như ông – chỉ vỏn vẹn một chữ “Nga,” tên người con gái ông lấy làm vợ. Thế mà người ta nhớ ! Có ai mà không nhớ thơ tình Nguyên Sa ! Và bà Nguyên Sa -Trịnh Thúy Nga, luôn nhớ một câu chuyện chẳng thể nào cũ.

Tháng Giêng Mai Thảo đã qua

Tháng Tư chợt nhớ Nguyên Sa, lại buồn.

(thơ Ngọc Hoài Phương)

“Năm 1952, sau khi hồi cư về Hà Nội, tôi được gia đình cho sang Pháp du học cùng với người anh họ. Ông Lan (tên nhà thơ Nguyên Sa: Trần Bích Lan) qua trước hai năm. Ông thân sinh của ông ấy buôn bán lớn, sợ Việt Minh làm phiền nên cho ba người con lớn sang Pháp du học. Tôi quen em gái ông ấy ở Paris, tình cờ đến nhà chơi nên quen ông”.

Quen nhau Tháng Mười Hai năm 1952, đến mùa Hè năm 1953, ông làm bài thơ tỏ tình tặng bà. Cho đến giờ, chưa ai biết nội dung bài thơ đó như thế nào, vì bà muốn giữ kín, cho riêng bà. Chỉ biết rằng, trái tim của cô nữ sinh tên Nga từ đó có một hình bóng, mà cô luôn trân trọng nhớ về, từ mùa Hè năm đó.

Bà hồi tưởng lại : “Hồi đó tôi còn trẻ, cũng chẳng suy nghĩ gì cả, chỉ lo học thi đậu xong rồi về. Phải lo học xong cho sớm chứ đời sống bên Pháp đắt đỏ lắm. Cũng trong năm 1953, cụ thân sinh ông Lan mất ở Hà Nội, ông ấy phải ngưng học, về nước để giúp đỡ gia đình. Lúc đó chúng tôi yêu nhau rồi, ông ấy cũng muốn dỗ dành tôi về Việt Nam chung, nhưng tôi còn ham học cao lên. Tuổi trẻ mà, ai cũng có giấc mơ lớn, và tôi cũng muốn thực hiện ước mơ của mình.”

Cuộc chia tay này là nguyên nhân bài thơ “Paris có gì lạ không em ?” ra đời trong nỗi nhớ khắc khoải của ông.

“Paris có gì lạ không em ?

Mai anh về em có còn ngoan

Mùa xuân hoa lá vương đầy ngõ

Em có tìm anh trong cánh chim


Paris có gì lạ không em ?

Mai anh về mắt vẫn lánh đen

Vẫn hỏi lòng mình là hương cốm

Chả biết tay ai làm lá sen?…”

Câu hỏi cuối ông gởi lại bà trong sự chờ đợi, thay cho câu hỏi “Em có bằng lòng làm vợ anh không ?” Để rồi hai năm sau gặp lại nhau ở Paris, khi bà khẽ gật đầu ưng thuận “làm lá sen” suốt đời cho ông, thì ông mới viết bài thơ đính hôn thay cho thiệp báo hỷ gởi cho gia đình, bằng hữu, trong niềm vui sướng tột độ.

“Chúng mình lấy nhau

Cần gì phải ai hỏi…

Cả anh cũng không cần phải hỏi anh

‘Có bằng lòng lấy em ?…’

Vì anh đã trả lời anh

Cũng như em trả lời em

Và cũng nghẹn ngào nước mắt !…”

(Nga – Nguyên Sa)

Bà Nga nhớ lại : “Sinh viên tụi tôi ở lại Pháp sau Hiệp Định Genève chia đôi đất nước, gia đình lo tản cư vào Nam nên đâu có gởi tiền qua được. Chúng tôi ra Tòa Đốc Lý Paris ký giấy hôn thú, bạn bè theo đông lắm. Xong kéo nhau ra quán cà phê đối diện uống cà phê, ăn bánh. Bạn bè chung tiền trả tiền cho cô dâu, chú rể. Thế thôi.”

Đám cưới sinh viên Việt Nam nghèo ở kinh đô ánh sáng diễn ra như thế. Chú rể chẳng mặc lễ phục, cô dâu không có áo cưới, mà ngay cả nhẫn cưới họ cũng chẳng mua được. Nhưng có sao đâu, vì ông trao cho bà những thứ quý hơn nhẫn cưới.

“Người ta làm thế nào cấm được chúng mình yêu nhau

Nếu anh không có tiền mua nhẫn đeo tay

Anh sẽ hôn đền em

Và anh bảo em soi gương

Môi anh tròn lắm cơ

Tròn hơn cả chữ O

Tròn hơn cả chiếc nhẫn

Tròn hơn cả hai chiếc nhẫn đeo tay!…”

(Nga – Nguyên Sa)

oOo

Mười chín năm ông ra đi, chữ O tròn trên má vẫn chẳng phai nhòa, vì với bà, ông chẳng bao giờ đi xa cả, mà chỉ chuyển chỗ từ ngôi nhà ở thành phố Irvine đến nơi đầy nắng và gió ở thành phố Westminster.

“Đối với tôi thì lúc nào ông cũng quanh quẩn đâu đây, trong cái nhà này. Tôi ở trong nhà, hay đi bất cứ con đường nào, đều thấy hình bóng ông ở bên cạnh tôi hết.” Bà Nga nói.

Nhà thơ Ngọc Hoài Phương cho biết, lúc sinh thời Nguyên Sa rất thích hoa cúc vàng – như câu thơ trong bài “Áo lụa Hà Đông” của ông : Áo nàng vàng, anh về yêu hoa cúc – nên bà Nga chỉ mang hoa cúc ra mộ ông thôi. “Nếu để ý sẽ thấy, hoa cúc vàng trên mộ nhà thơ Nguyên Sa không bao giờ tàn hay héo cả vì được bà Nga chăm sóc rất kỹ. Hoa sắp héo sẽ được bà thay bằng hoa mới.” Nhà thơ Ngọc Hoài Phương cho biết.

Hôm gặp bà ở mộ ông, bà cho hay : “Ông ấy không bao giờ nghĩ đến cái chết, hay mình được chôn cất ở đâu cả. Khi ông ấy mất, tôi ra đây xem rồi chọn cho ông chỗ này. Nó gần hồ nước, lại dưới một bóng cây. Lúc trước trông vắng vẻ, giờ trông ấm cúng vì chung quanh ông có rất nhiều bạn bè.”

“Hồi nhà tôi mới mất, ngày nào tôi cũng ra đây, sửa bông, cắt cỏ. Giờ thì lớn tuổi rồi, thì một tuần tôi ra thăm ông ấy 2 lần. Nhiều khi bực mình với ông ấy cũng ra đây nói cho ông ấy biết.”

“Hồi ông Lan còn sống, tôi rất ít tiếp xúc với bạn ông ấy lắm, nhưng từ hồi ông ra đây, tôi được gặp nhiều người thăm ông, an ủi nâng đỡ tôi. Tôi nhớ ông Đỗ Ngọc Yến (nhà báo, sáng lập nhật báo Người Việt), hồi đó, cứ có ai từ xa đến Little Saigon, muốn gặp tôi thì ông ấy cứ nói cứ ra thăm mộ Nguyên Sa thì gặp bà Nga. Cho nên ở đây tôi được gặp nhiều người lắm, kể cả bạn cũ ở Việt Nam sang chơi. Cuối năm còn có người hẹn tôi ra đây cho cá kho, dưa chua nữa.”

Điều trùng hợp là sự lựa chọn nơi yên nghỉ cho ông, lại chính là nơi ông từng mơ ước được về qua câu thơ của ông, được bà khắc trên mộ.

“Nằm chơi ở góc rừng này

Chưa thiên thu cũng đã đầy cỏ hoang

Xin em một sợi tóc vàng

Làm hoa khởi sự cho ngàn kiếp sau

Biết đâu thảo mộc bớt đau

Biết đâu có bản kinh cầu dâng lên?”

Và trong bài Tân Ước trong tập thơ cuối cùng, hình như lời “năn nỉ” của ông cũng được bà chiều theo.

“…Anh vẫn nhận ra em, em khác biệt mà vẫn đồng nhất, giấc mơ gián đoạn bao nhiêu, em vẫn trở lại, giấc mơ phi lý, em khắng khít bằng những liên tục vuốt ve, liên tục hiền dịu, liên tục chăm sóc. Em liên tục không gian em, liên tục luận lý em. Tân ước nói có thế giới ở ngoài thế giới, khác biệt và bao trùm thế giới. Em có phải là giấc mơ ở trong giấc mơ và phủ kín giấc mơ?”

Chẳng biết như thế nào, nhưng trong thế giới thật này, “Nga buồn như con chó ốm” tiếp tục dùng đôi tay “làm lá sen” phủ kín “hương cốm” Nguyên Sa cho đến tận cùng. (theo Vũ Đình Trọng – Người Việt)

Kiều Văn chuyển tiếp

GIẢI MÃ THỨ BẬC

THẦY HAI, CON TÁM…

CỦA SÀI GÒN XƯA

Công chức, người có học là thầy Hai, người Hoa buôn bán là chú Ba, đại ca giang hồ là anh Tư, lưu manh là anh Năm… người lao động nghèo xếp thứ Tám.

Chiều muộn hôm qua có cậu bạn đi công việc ghé ngang nhà rủ làm ly cà phê tán dóc. Nói chuyện lan man một hồi, tự nhiên anh chàng kể công ty em có ông già gác cửa rất hay nói câu “bỏ qua đi Tám”…

“Em chả hiểu, có lần hỏi thì ổng nói đại khái là dùng khi can ngăn ai bỏ qua chuyện gì đó, nhưng sao không phải là Sáu hay Chín mà lại là Tám thì ổng cũng không biết”, cậu bạn thắc mắc.

Dựa vào những câu chuyện xưa cũ, những giai thoại, nên kể ra đây chút nguyên cớ của câu thành ngữ có lẽ sắp “thất truyền” này, biết đâu có dịp nào đó anh em có thể dùng để “buôn dưa lê” lúc “trà dư tửu hậu”.

Trước hết, phải biết là câu này phát sinh ở khu vực Sài Gòn – Chợ Lớn từ thời Pháp thuộc, khoảng đầu thế kỷ 20. Thời đó, cách xưng hô thứ bậc trong xã hội rất phổ biến và phần nào phản ánh vị trí xã hội, giai cấp… một cách khá suồng sã và dễ chấp nhận.

Đứng trên hết là các “quan lớn” người Pháp hoặc các quan triều nhà Nguyễn, thành phần này thì không “được” xếp thứ bậc vì giới bình dân hầu như không có cơ hội tiếp xúc đặng xưng hô hay bàn luận thường xuyên. Kế đến là các công chức làm việc cho chính quyền, họ ít nhiều là dân có học và dân thường hay có dịp tiếp xúc ngoài đời, là cầu nối giữa họ với các thủ tục với chính quyền, hoặc đó là thành phần trí thức, đó là các “thầy Hai thông ngôn”, hay “thầy Hai thơ ký”…

Hàng thứ Ba là các thương gia Hoa Kiều, với tiềm lực tài chính hùng hậu và truyền thống “bang hội” tương trợ, liên kết chặt chẽ trong kinh doanh, các “chú Ba Tàu” nghiễm nhiên là 1 thế lực đáng vị nể trong mắt xã hội bình dân Sài Gòn – Chợ Lớn thời đó.

Xếp thứ Tư là các “đại ca” giang hồ, những tay chuyên sống bằng nghề đâm chém và hành xử theo luật riêng, tuy tàn khốc và “vô thiên vô pháp” nhưng khá “tôn ti trật tự (riêng)” và “có đạo nghĩa” chứ không tạp nhạp và thiếu nghĩa khí như các băng nhóm “trẻ trâu” hiện đại. Các “anh Tư dao búa” vừa là hung thần, vừa ít nhiều lấy được sự ngưỡng mộ của giới bình dân (và cũng không ít tiểu thư khuê các) thời đó.

Thứ đến là vị trí của giới lưu manh hạ cấp hơn: các anh Năm đá cá lăn dưa, móc túi giật giỏ, hay làm cò mồi mại dâm…

Bị giới bình dân ghét hơn đám lưu manh côn đồ là các “thầy Sáu phú-lít (police)”, “thầy Sáu mã tà”, “thầy Sáu lèo”. Chức trách là giữ an ninh trật tự, chuyên thổi còi đánh đuổi giới buôn gánh bán bưng bình dân, nhưng các “thầy Sáu” này cũng không từ cơ hội vơ vét ít tiền mọn “hối lộ” của họ để “nhẩm xà” (uống trà).

Và trong giới buôn bán thì không thể thiếu chuyện vay vốn làm ăn, mặc dù Tàu hay Việt cũng đều có tổ chức cho vay. Nhưng phổ biến và “quy củ” nhất ở cấp độ trung – cao khu vực Sài Gòn – Chợ Lớn thời đó là các “anh Bảy Chà và”, các anh này là các nhà tài phiệt người Ấn, vừa giàu vừa ít bị “ghét”, vừa ít nhiều có quan hệ qua lại với giới chức người Pháp, lại làm ăn đúng luật lệ, ít thừa cơ bắt chẹt lãi suất nên khá được giới kinh doanh tín nhiệm.

Xếp thứ Tám chính là lực lượng đông đảo nhất xã hội bình dân bấy giờ: họ là giới lao động nghèo chỉ có sức lục làm vốn nuôi miệng, từ bốc vác, gánh nước bồng em, đến “sang” hơn chút xíu là phu xe kéo…

Tuy đông nhưng lại yếu thế nhất vì thất học, không có tiền như thầy Hai, anh Ba, cũng hiền lành chứ không bặm trợn phản kháng bạt mạng như các anh Tư anh Năm nên họ thường xuyên chịu sự áp bức, bắt nạt từ mọi phía. Cách để yên thân khả dĩ nhất với họ là khuyên nhau cắn răng nhẫn nhịn, quên đi để sống: “Bỏ qua đi Tám”, bây giờ chắc là đã dễ hiểu rồi.

Không còn liên quan nữa, nhưng nhân tiện sẵn nói luôn về thứ bậc chót cùng trong xã hội thời đó: các cô, các chị Chín xóm Bình Khang chuyên “kinh doanh” bằng “vốn tự có”.

Dài dòng tí để trình bày chút kiến giải về một câu thành ngữ đang dần bị quên lãng dùng để bày tỏ thái độ khuyên người hoặc tự an ủi mình hãy đừng để ý những chuyện không vui, hay bị ai đó “chơi không đẹp”. Nếu lỡ đọc thấy không có gì thú vị thì thôi, “bỏ qua đi Tám”.

Hai Điếu ĐĐ chuyển tiếp

VÌ SAO LẠI GỌI

“ANH HAI SÀI GÒN” ?

 “Anh Hai Sài Gòn” là cách gọi vui, thân mật, nhưng cũng thể hiện tính cách phóng khoáng, dám làm dám chịu của dân Sài Gòn nói riêng và Nam bộ nói chung. Vì sao lại là “Anh Hai” chứ không là “Anh Cả” ? Như thế nào mới là “người Sài Gòn” ?

Khó nhận diện người Sài Gòn gốc

Năm 1558, Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa, bắt đầu gây dựng chính quyền Chúa Nguyễn ở Đàng Trong. Đây là cái mốc quan trọng của quá trình “Nam tiến” trong lịch sử Việt Nam, cũng là quá trình hình thành văn hóa vùng đất phía Nam trong xu thế mang theo và gìn giữ văn hóa cội nguồn, đồng thời tiếp nhận những yếu tố văn hóa của cư dân vùng đất mới.

Đến năm 1698, Phủ Gia Định được thành lập, Sài Gòn – Gia Định hình thành từ đó. Chỉ hơn 300 năm nhưng người Sài Gòn đã kịp định hình một bản sắc riêng dễ nhận biết giữa những người của vùng miền khác. Điều này hình thành từ nguồn gốc lưu dân và hoàn cảnh lịch sử xã hội của Nam bộ/Sài Gòn.

Lưu dân người Việt vào Nam bộ trước hết và đông nhất là những người “tha phương cầu thực” vì không có đất đai, không có phương kế sinh sống ở quê hương. Thành phần thứ hai là những người chống đối triều đình, quan lại địa phương bị truy bức nên phải tìm đường trốn tránh. Thứ ba là những tội đồ bị buộc phải ly hương (một hình phạt nặng của thời phong kiến). Ngoài ra, còn có số ít người tương đối giàu có, muốn mở rộng và phát triển việc làm ăn trên vùng đất mới nên nhập vào hàng ngũ lưu dân tới Nam bộ…

Khi Sài Gòn được hình thành như một trung tâm của vùng đất phía Nam thời chúa Nguyễn, một đô thị lớn thời thuộc Pháp thì nơi đây cũng là nơi dân tứ xứ tiếp tục đổ về. Người nhập cư là thành phần hữu cơ của bất cứ đô thị nào, Sài Gòn vốn hình thành từ những lớp “người nhập cư” rồi trở thành “người Sài Gòn”, rồi lại tiếp tục thu nhận và chia sẻ cho những lớp người nhập cư mới.

Chỉ hơn 300 năm thôi, khó có thể nói ai là người Sài Gòn “gốc” bởi nơi đây người ta đến rồi đi, nhiều người ở lại nhưng hàng năm vẫn luôn trở về quê nhà. Một thành phố cởi mở, dung dị, hòa hợp và tôn trọng những cộng đồng khác nhau.

Sống trong những điều kiện lịch sử luôn biến động, người dân Nam bộ/Sài Gòn đã tạo dựng một nếp sống tinh thần ấm áp, bình đẳng, lấy tình nghĩa, nghĩa khí làm trọng. Người Sài Gòn/Nam bộ sống chung với các dân tộc: Người Khmer hiền hậu, tính cộng đồng thôn xóm cao; Người Hoa chịu khó, giỏi tổ chức sản xuất, buôn bán và tương trợ giúp đỡ trong làm ăn;

Người Chăm cần cù, khéo léo… Sự ảnh hưởng qua lại của văn hóa, lối sống càng làm cho cá tính người Sài Gòn/Nam bộ cởi mở phóng khoáng hơn trong giao lưu, nhạy bén với cái mới, thấm nhuần một tinh thần bình đẳng, nhân nghĩa, bao dung, đồng thời rạch ròi, quyết liệt vượt ra khỏi những ràng buộc, gò bó của khuôn mẫu…

Người Sài Gòn không phân biệt “quê”, “tỉnh”, “đồng hương” hay không, vì vậy nói đến tính cách người Sài Gòn có thể được coi là sự khái quát tính cách người Nam bộ.

Có thể nói, tính cách người Sài Gòn bắt nguồn từ yếu tố, điều kiện thực tế nhất ở Sài Gòn là “LÀM” : “Làm ăn”, “Làm chơi ăn thiệt”, “Làm đại”, “Dám làm dám chịu”… được thể hiện một cách giản dị, thiết thực, “liều lĩnh” nhưng cũng đầy trách nhiệm

Phác họa đức tính người Sài Gòn

Ở Sài Gòn/Nam bộ, “dư luận xã hội” không nặng nề khe khắt với những cái khác, cái mới. Người Nam bộ khá dân chủ trong các mối quan hệ xã hội và cả trong gia đình, từ cách xưng hô (người Nam bộ thường xưng “tui”) đến việc cá nhân ít lệ thuộc, phụ thuộc vào cộng đồng.

Gần đây, một số tờ báo có những bài viết về chủ đề “Thế nào là người Sài Gòn ?”, hầu hết các ý kiến đều cho rằng, người Sài Gòn không chỉ là người “ba đời” sống ở Sài Gòn, càng không phải là người có “hộ khẩu thành phố”, mà là bất cứ ai dù quê ở đâu, sống ít hay nhiều năm tại Sài Gòn. Đó là những con người:

– Năng động nhưng không bon chen.

– Sôi nổi nhưng không ồn ào.- Bình thản nhưng nghĩa hiệp, trượng nghĩa.- Tôn trọng cá nhân nhưng hay làm từ thiện, thích giúp người.

– Chứng kiến điều xấu, là nạn nhân của cái ác nhưng luôn tử tế, vẫn tin người.

– Ăn xài thoải mái, biết tính toán nhưng không tính đếm so đo.

– Sống và chơi nhiệt tình, hết mình với bạn bè.

– Về thăm quê, rồi vào lại Sài Gòn mà cảm giác như về nhà.

– Không chê bai những gì khác mình, thích thì chơi không thích thì thôi, nhẹ nhàng.

– Không định kiến, dễ chấp nhận cái mới.

– Và cuối cùng là không lưu manh, ghét lưu manh.

Chỉ vậy thôi, bất kể người tỉnh nào vùng miền nào,  miễn là sống ở Sài Gòn, rồi có tính cách như vậy, thì đó là Người Sài Gòn…Có thể nói đây là những tính cách khá “dương tính”, “hướng ngoại”, như nhiều nhà nghiên cứu văn hóa phân tích. Có lẽ vì vậy mà người ta thường gọi người Sài Gòn một cách trìu mến là “Anh Hai Sài Gòn”.

Ở miền Bắc con trai trưởng trong nhà gọi là Anh Cả nhưng miền Nam lại gọi Anh Hai. Vì sao là Anh Hai mà không phải là Anh Cả? Có thể từ vài giả thuyết sau: Chúa Nguyễn Hoàng là người con trai thứ hai của Nguyễn Kim, mở đường vào Nam khai phá nên để tôn trọng ông, người dân gọi người con lớn của mình, trai hay gái, cũng chỉ là (thứ) Hai.

Hoặc, có ý kiến cho rằng, khi có phong trào lưu dân vào Nam khai khẩn, trong gia đình thường để con trai thứ ra đi vì người con trai trưởng có vai trò ở lại quê nhà phụng dưỡng cha mẹ và thờ cúng tổ tiên. Cũng có người cho rằng, trong làng quê Nam bộ xưa có ông Cả (Hương Cả) là người đứng đầu, vì vậy trong các gia đình chỉ có người thứ Hai…

Tuy khác nhau về nguồn gốc “thứ Hai” của “anh Hai Sài Gòn” hay “anh Hai Nam bộ” nhưng có thể nhận thấy có chung một điểm: Đó là người con thứ không bị ràng buộc trách nhiệm nặng nề “giữ hương hỏa, nền nếp” như người con trưởng nên có thể “rộng chân” ra đi, tự do hơn khi tiếp nhận cái mới, thay đổi cái cũ lạc hậu, dễ thích nghi, có khi thử, liều. Nhưng vì không có gia đình họ hàng bên cạnh để mà dựa dẫm “tại, vì, bởi…” nên phải có trách nhiệm “dám chịu” nếu lỡ sai lầm. (theo Nguyễn Thị Hậu)

Phan Tất Đại chuyển tiếp