THÁI THANH DIVA MỘT THỜI SÀI GÒN

ĐIỀU ÍT BIẾT VỀ THÁI THANH 

DIVA CỦA SÀI GÒN MỘT THUỞ

Thái Thanh vốn là con nhà nòi âm nhạc, chị gái là ca sĩ Thái Hằng, anh rể là nhạc sĩ Phạm Duy, anh trai là nhạc sĩ Phạm Đình Chương, con gái là ca sĩ Ý Lan, nhưng danh ca Thái Thanh cho đến nay dù tóc đã chuyển màu trắng cước vẫn chẳng hề bị chìm lút giữa những nghệ sĩ nổi tiếng trong đại gia đình mình.

Biết hát nhờ nhạc phẩm của Phạm Duy

Gia đình nữ danh ca Thái Thanh vốn là gia đình nòi âm nhạc ở Hà thành xưa. Thái Thanh là thứ nữ của ông Phạm Đình Phụng với người vợ hai. Người vợ đầu của ông Phạm Đình Phụng sinh được 2 người con là Phạm Đình Sỹ và Phạm Đình Viêm. Người vợ thứ hai sinh ra Phạm Thị Quang Thái (ca sĩ Thái Hằng – vợ nhạc sĩ Phạm Duy), nhạc sĩ Phạm Đình Chương và con gái út Phạm Thị Băng Thanh (tức danh ca Thái Thanh). Thái Thanh còn một người chị gái lớn, sinh trước ca sĩ Thái Hằng, nhưng không may đã trúng bom chết khi còn nhỏ.

Song thân của danh ca Thái Thanh đều là những người rất sành nhạc cổ. Thân phụ của Thái Thanh vốn chơi đàn nguyệt, còn thân mẫu chơi đàn tranh và đàn tỳ bà hay có tiếng ở đất Bắc. Nên tất cả anh em của Thái Thanh đều ngấm máu văn nghệ sĩ từ khi còn nhỏ.

Quê ngoại của Thái Thanh ở Sơn Tây, quê nội ở ngay Hà Nội. Thái Thanh chào đời năm 1934 tại làng Bạch Mai, Hà Nội. Năm 1946, 12 tuổi, Thái Thanh đã được ông bà Phạm Đình Phụng đưa theo cùng các anh chị lên Sơn Tây tản cư. Cũng tại nơi đây, người chị đầu của Thái Thanh đã bị trúng bom tử nạn. Ông bà Phạm Đình Phụng lại đưa con chạy về xuôi, mở một quán phở đặt tên là Thăng Long.

Tại quán Thăng Long này, các văn nghệ sĩ kháng chiến thường dừng chân, ăn phở và nghe nhạc. Chị em Phạm Đình Chương (nghệ danh Hoài Bắc), Phạm Thị Quang Thái (nghệ danh Thái Hằng) và Phạm Thị Băng Thanh (nghệ danh Thái Thanh) thường biểu diễn ngay tại quán Thăng Long. Khách đến rất vui vì được thưởng thức “cây nhà lá vườn”.

Đầu năm 1949, anh chị em Thăng Long gia nhập các ban văn nghệ quân đội của liên khu IV. Quán Thăng Long dời về chợ Neo (Thanh Hóa). Tại đây, Thái Hằng kết hôn với Phạm Duy và hành trình âm nhạc của gia đình từ nay nảy nở thêm những tài năng mới, với Duy Quang là con đầu lòng sinh năm 1951, và tiếp theo là các con Duy Cường, Thái Hiền, Thái Thảo.

Chuyện Thái Hằng gặp gỡ và nên vợ chồng với nhạc sĩ Phạm Duy không chỉ là một bước ngoặt lớn với nữ ca sĩ nổi tiếng hi sinh cho chồng con này, mà cũng là dấu mốc quan trọng trong cuộc đời danh ca Thái Thanh.

Thái Thanh bắt đầu hát từ năm 13, 14 tuổi. Đến giờ, nữ danh ca không còn nhớ rõ bài hát đầu tiên mà mình trình diễn là bài nào nhưng chắc chắn là một bài hát của Phạm Duy. Lúc đó, nhạc sĩ Phạm Duy đang theo đuổi Thái Hằng nên thường dùng Thái Thanh làm cái cớ lấy điểm với chị Thái Hằng. Mà Phạm Duy nổi tiếng với tài sáng tác, nên chỉ nghĩ ra cách lấy điểm nhanh nhất và hiệu quả nhất là qua con đường âm nhạc.

Phạm Duy hơn Thái Thanh chục tuổi, còn Thái Hằng hơn Thái Thanh 7 tuổi. Khi anh rể tương lai chinh phục chị gái, Thái Thanh trở thành cầu nối cho Phạm Duy. Hồi đó, có bài “Dòng sông Xanh” nhạc ngoại quốc, lời Việt rất nổi tiếng. Phạm Duy đã đặt lời Việt cho bài “Dòng sông Xanh” cho cô em gái Thái Thanh bé xíu hát để lấy điểm với cô chị Thái Hằng. Năm 1948, Thái Hằng kết hôn với Phạm Duy. Nhạc sĩ Phạm Duy chính thức trở thành người một nhà với Thái Thanh. Chẳng biết Phạm Duy và Thái Hằng nên duyên vì những lẽ gì, nhưng chắc hẳn có một phần công lớn của danh ca Thái Thanh.

Từ sau khi hát bài “Dòng sông Xanh”, Thái Thanh đã cùng chị Thái Hằng và anh trai Phạm Đình Chương đi biểu diễn ở quân khu 4. Lần đầu tiên Thái Thanh hát cho công chúng nghe là ở một vùng quê những ngày tản cư kháng chiến. Khi đó, luôn có những ban nhạc hát cho công chúng ở vùng quê nghe.

Lên sân khấu ở tuổi 14, còn bé xíu mà đứng trước đông đảo bà con, nên Thái Thanh cũng sợ lắm. Nhưng sau khi cất tiếng hát, thì tiếng hát, âm nhạc không những làm Thái Thanh tan biến mọi nỗi sợ mà còn cảm thấy hứng khởi, hạnh phúc, vì lúc đó, Thái Thanh thấy mình vinh dự được đứng trong ban hợp ca gồm các anh các chị như Hoài Trung, Hoài Bắc, Thái Hằng, những thành viên của ban hợp ca “Thăng Long”.

May mắn cho Thái Thanh là song thân của cô đều là nghệ sĩ, yêu âm nhạc nên không ngăn cấm con cái theo nghiệp “xướng ca vô loài”. Các cụ chỉ dặn con nhất định phải học hành trước đã, đàn hát là chuyện phụ thôi, nhưng kể từ năm 1950, Thái Thanh đã lựa chọn đi theo con đường ca hát.

Tên tuổi của Thái Thanh gắn liền với những bản nhạc của Phạm Duy. Kể từ bài “Dòng sông Xanh”, Phạm Duy đặt lời cho Thái Thanh hát, thì Phạm Duy đã biết giọng của Thái Thanh sinh ra là để hát những ca khúc do ông sáng tác. Cũng có người cho rằng, Phạm Duy vì yêu quý giọng hát của Thái Thanh nên đã sáng tác nhiều bài hát hợp với giọng của Thái Thanh.

Trải qua 60 năm, Phạm Duy vẫn khẳng định: trong những người hát nhạc Phạm Duy, ông ưng nhất là Thái Thanh, Duy Quang và sau này có Đức Tuấn. Chỉ có Thái Thanh mới đủ khả năng nâng bổng nhạc của Phạm Duy lên và chỉ có nhạc của Phạm Duy mới đáng để Thái Thanh hát. Nhiều ca khúc của Phạm Duy được Thái Thanh thể hiện đúng chất và đúng tầm hơn hẳn những ca sĩ khác cùng thời – đó là nhận xét của một người làm chuyên môn bỏ công nghiên cứu về nhạc Phạm Duy và tiếng hát Thái Thanh.

Thái Thanh có biệt tài “phiêu” cũng với những ca khúc của Phạm Duy. Có những nhạc phẩm của Phạm Duy, Thái Thanh tự ý đổi ca từ khi lên sân khấu, nhưng nhạc sĩ Phạm Duy phải công nhận điều đó làm cho bản nhạc của ông bỗng mang một chút “duyên lạ”.

Như nhạc phẩm “Cho nhau”, Phạm Duy viết : “Cho nhau ngòi bút cùn trơ – Cho nhau, cho những câu thơ tàn mùa – Cho nốt đêm mơ về già”. Thái Thanh lại hát thành : “Cho nhau ngòi bút còn lưa…”. “Lưa” là một từ cổ, có nghĩa là còn sót lại, nhưng mang một âm thanh u hoài, luyến lưu tiếc nuối. Như trong ca dao Bình Trị Thiên vẫn có câu hát đẫm buồn : “Trăm năm dù lỗi hẹn hò – Cây đa bến – Cô con đò vắng đưa – Cây đa bến Cô còn lưa – Con đò đã khác năm xưa tê rồi”.

Nên từ “còn lưa” đã đẩy ca khúc “Cho nhau” về một cõi xa xưa đầy u hoài, luyến tiếc, để lại một dư âm da diết trong cảm nhận về ngôn từ trong lòng thính giả. Nhờ thế mà chữ tình trong “Cho nhau” trở nên lai láng, mơ hồ về quá vãng, còn day dứt mãi trong lòng tình nhân chứ không còn xao xác, tận cùng như “ngòi bút còn trơ”. Nên dù vậy, Phạm Duy lưu ý không chỉ nhắc nhớ một câu chuyện thú vị trong bài hát chứ chưa hề trách cô em vợ một tiếng nào. Mà vì tình “còn lưa” nên Thái Thanh lại hát câu : “Cho nốt đêm mơ về già” thành “Cho nối đêm mơ về già”, sâu nặng và thủy chung, như cứu rỗi hai linh hồn chưa bao giờ an lạc vì trót nhớ thương, tình lỡ.

Phạm Duy viết : “Cho nhau thù oán hờn ghen – Cho nhau cho cõi âm ty một miền”, Thái Thanh lại hát thành : “Cho nhau cho nỗi âm ty một miền”. Vô tình mà như hữu ý, vì từ “cõi” như là một ý niệm hiện hữu về không gian, như xa anh em về cõi chết, tưởng như “cõi âm ty” rất bao la nhưng thật ra chết là hết có còn vấn vương gì.

Cho em “nỗi âm ty”, từ “nỗi” dùng để diễn tả tâm trạng con người, con người tưởng như không thể sánh được với cả một “cõi” không gian nhưng nỗi lòng người lại bao la đến vô hình. “Nỗi âm ty” là sự chết đang tồn tại trong thực thể còn đang sống. Chính cái “phiêu”, cái sáng tạo rất duyên dáng của Thái Thanh đã nâng những bài hát mà Thái Thanh thể hiện, khiến cùng một nhạc phẩm, nhưng dưới sự thể hiện của Thái Thanh luôn ở tầm rất khác so với các ca sĩ cùng thời.

Thái Thanh được cho là một giọng hát “vượt thời gian”, từng bị dư luận vẽ ra đủ thứ giai thoại về bí quyết học nhạc. Có dư luận nói, Thái Thanh hát hay như thế nhờ chui đầu vào chum để tập phát âm. Lẽ thật, giọng hát Thái Thanh sống mãi vì hai điều: Thái Thanh hát với tình yêu âm nhạc và cháy hết mình khi đứng trước khán giả.

Khi còn nhỏ, Thái Thanh không theo học nhạc ở trường lớp nào. Nhạc lý cũng như là xướng âm, Thái Thanh phải đặt mua sách từ bên Pháp, theo đó tự học, có gì khó thì hỏi nhạc sĩ Phạm Đình Chương. Phạm Đình Chương cũng chủ yếu là tự học rồi từ vốn kiến thức đó lại trở thành thầy của em gái.

Phạm Đình Chương có lần nói : “Cô có cái đặc biệt là trước khi tôi dậy thì cô đã biết rồi”. Thái Thanh có được giọng ca sống mãi với thời gian và vẻ đẹp khiến đàn ông không thể không ngoái nhìn. Có lần ca sĩ Khánh Ly trong dịp hội ngộ Thái Thanh đã nắm bàn tay đẹp có tiếng của Thái Thanh nói: “Nếu cháu là chồng của cô, cháu đành phải để cô đi hát trước khán giả, nhưng cháu sẽ giữ hai bàn tay cô ở lại nhà, cháu không cho ai được nhìn hai bàn tay ấy khi cô hát”.

Danh ca, một người phụ nữ và một người mẹ

Nhớ lần ca sĩ Ý Lan trở lại hát tại Hà Nội trong một đêm nhạc tại Nhà hát Lớn, ca sĩ Ý Lan đã tâm sự, đây là nơi Ý Lan nhất định phải tìm về, vì đó là khung trời kỷ niệm của danh ca Thái Thanh – mẹ cô và tài tử Lê Quỳnh – cha cô. Dù sau này, Thái Thanh và Lê Quỳnh không còn bên nhau, nhưng mong ước được một lần quay lại khung trời kỷ niệm, nơi bắt đầu tình yêu của hai người mãi mãi là ước mơ của tài tử Lê Quỳnh.

Chính tại Nhà hát Lớn, trong một buổi biểu diễn của Thái Thanh, tài tử Lê Quỳnh khi đó còn chưa nổi danh đã phải trốn vé để vào nghe giọng hát mà mình vốn hằng ái mộ, để rồi sau đó bắt đầu một mối duyên đẹp, dù mối duyên đó không trọn vẹn đến cuối đường.

Thái Thanh lập gia đình với Lê Quỳnh năm 1956 và sinh liên tiếp 5 người con, 3 gái, 2 trai. Đó là: Ý Lan sinh năm 1957, Lê Việt 1958, Quỳnh Dao tức Quỳnh Hương 1960, Thanh Loan 1962 và Lê Đại 1964. Cậu út Lê Đại nhiều lần “chê” mẹ là sinh nhiều quá, “y như gái Tầu” vậy. Lê Đại cũng là người kém may mắn nhất trong 5 chị em: khi ra đời khỏe mạnh, nhưng Lê Đại bị bệnh sốt tê liệt từ lúc 8 tháng. Tuy sống sót nhưng Lê Đại bị liệt nửa thân dưới.

Thái Thanh được biết đến là nữ danh ca có ảnh hưởng lớn ở Sài Gòn trước năm 1975 nhưng cũng là một người mẹ hết mình vì gia đình. Năm 4 tuổi, Lê Đại bị ốm, được tổ chức Terre Des Hommes đưa qua nước Ý chữa trị 3 năm liền và năm 1971, Lê Đại trở về Việt Nam khi 7 tuổi. Từ khi sang Mỹ, Thái Thanh đảm đương trách nhiệm làm mẹ với rất nhiều nghị lực.

Thái Thanh tập lái xe dù không thích thú chút nào, nhưng phải tập ngay để có thể hàng ngày đưa đón Lê Đại đi học. Sau 2 năm học tại College Golden West, Lê Đại đã được vào đại học Long Beach. Sự kiên trì và nhẫn nại của bà mẹ Thái Thanh đã giúp Lê Đại (nay là Michael Đại Lê) tự tin hơn, yêu đời hơn. Lê Đại tốt nghiệp đại học năm 1996. Giờ Lê Đại đã đi làm, sống tự lập thoải mái trong một căn hộ riêng gần trường và rất ngưỡng mộ mẹ. Khi sức khỏe tốt, mỗi tuần, Thái Thanh đều đến thăm nom con trai, mang thêm vài món ăn Việt Nam nấu sẵn cho cậu út.

Thái Thanh không chỉ vất vả với Lê Đại. Khi cô bé Thanh Loan sang Mỹ thì cũng là lúc cô bắt đầu bị một dạng bệnh trầm cảm. Thái Thanh một lần nữa lại khổ đau cùng cực trước số phận khắt khe. Trong thời gian tìm hiểu về bệnh trạng của Thanh Loan, biết con không học hành bình thường như các anh chị em được, Thái Thanh đã cố gắng dìu dắt con gái, đi làm những việc thiện nguyện, mong con tìm được niềm vui sống…

Nhưng bệnh tình Thanh Loan cứ nặng dần, sau cùng, Thái Thanh đành phải nghe lời bác sĩ và các bạn đồng cảnh ngộ, đưa con vào một bệnh viện chữa trị. Nhưng Thái Thanh vẫn kiên trì phấn đấu với phương tiện và hoàn cảnh của mình để giúp đỡ con yêu quay trở lại với cuộc sống. Vai trò làm mẹ của 2 con bị bệnh nặng cũng lại đòi hỏi ở Thái Thanh một thứ nghị lực bằng “thép cứng” cùng sự kiên trì lớn lao. Với hoàn cảnh như vậy, những đức tính phi thường nơi người mẹ được tôi luyện đã giúp Thái Thanh được con cái yêu kính.

Sống xa Lê Quỳnh từ năm 1965, Thái Thanh một mình đảm đương vai trò vừa là mẹ, vừa thay cha trong việc nuôi dạy con cái. Khi dịu dàng, lúc nghiêm khắc, Thái Thanh luôn mong các con có được căn bản vững chắc về văn hóa và đạo đức, để mai sau trở thành những Con Người có thể viết hoa.

Dù các con của Thái Thanh đều có giọng ca thiên phú, nhất là Ý Lan và Quỳnh Hương, nhưng khi Ý Lan còn nhỏ, Thái Thanh nhất quyết không cho con theo nghề ca hát. Thái Thanh buộc con phải học hành như bao người khác. Nhưng dường như là số phận, sau này Ý Lan đi làm, lấy chồng rồi mới bước vào nghiệp xướng ca và vẫn nổi tiếng dù bước vào nghề rất muộn.

Ý Lan luôn coi mẹ là thần tượng trong cuộc sống cũng như trong âm nhạc, như Ý Lan đã tâm sự: “Mẹ tôi là một người đàn bà tình cảm và rất can đảm. Suốt thời thơ ấu cho đến khi trưởng thành, hình ảnh của mẹ Thái Thanh âu yếm, chăm sóc và yêu thương các con đã ảnh hưởng đến tôi rất nhiều khi tôi làm mẹ. Tình cảm thiêng liêng của mẹ dành cho tôi là niềm hạnh phúc và cả sự may mắn vô bờ bến”.

Sự nổi tiếng của bố Lê Quỳnh và mẹ Thái Thanh là cả một gia tài dành riêng cho con cái. Ý Lan trở thành ca sĩ như ngày hôm nay là nhờ có cả hai yếu tố quan trọng mà bố mẹ đã để lại trong dòng máu của Ý Lan. Cô tâm sự: “Tôi có tiếng hát và kỹ thuật hát thừa hưởng từ mẹ, còn kỹ thuật trình diễn được thừa hưởng từ bố”. Ý Lan cho đây là điều may mắn, chứ làm sao có thể nghĩ là một áp lực cho cuộc sống của mình.

Đối với riêng tình phụ tử và mẫu tử thì lúc nào gia đình Ý Lan cũng có sự yên ấm. Bố mẹ Ý Lan đã không còn sống chung với nhau từ khi Ý Lan 8 tuổi. Tuy nhiên, bố mẹ vẫn rất quý nhau và trân trọng nhau, cho nên Ý Lan và các em trong gia đình đã quen một nếp sống cố định. Còn về tính tình, có những lúc bố mẹ uốn nắn các con để theo nề nếp căn bản nhưng luôn luôn đi đôi với tình cảm nhẹ nhàng.

Ngoài đời thường, Thái Thanh cũng là một người rất đỗi đàn bà. Chúng ta quen hình dung Thái Thanh trên sàn diễn, khi đang hát, hoặc qua những đĩa, băng nhạc. Chúng ta thường nhớ đến Thái Thanh như một đệ nhất và danh ca và quên mất Thái Thanh trong đời thường như một bà mẹ, một người nội trợ thích nấu ăn, một phụ nữ thích mặc đẹp, ăn ngon, kể cả ăn quà vặt.

Khi 70 tuổi, Thái Thanh vẫn cần mẫn làm các món dưa chua, củ cải ngâm nước mắm, kho cá thu, làm thịt đông… Thái Thanh vẫn say sưa kể về cách làm các món ăn “Bắc Kỳ chính cống”. Cũng như khi đứng trên sân khấu, Thái Thanh dồn hết mình cho âm nhạc thì khi nấu nướng, toàn bộ con người bà, thân, trí và tâm. Thái Thanh đều chú tâm vào chuyện nấu nướng y như khi hát vậy.

Như Thái Thanh tâm sự về cách ứng xử với cây hoa lan : “Cư xử với cây khó lắm, nhất là hoa lan, không như cư xử với người đâu. Nếu mình không chăm sóc tử tế, không khéo, không làm đúng những gì mình phải làm, thì cây nó bỏ đi. Còn với người, người ta sẵn sàng chịu đựng nhau, đôi khi người ta giả dối dể vẫn liên lạc với nhau vì những điều gì đó. Còn với cây, mình có yêu cây thì cây mới ở lại với mình”. (Trí Huân theo Đang yêu)

– Nghe và đọc thêm : trên “Một thời Sài Gòn” ngày 19/3/2011. Mời bấm vào đường dẫn : Nữ ca sĩ THÁI THANH

– Danh Ca Thái Thanh 80 năm cuộc đời vẫn hát

https://youtu.be/JIk49JzPWHE

Yên Huỳnh chuyển tiếp

HOÀNG ANH TUẤN :

ĐẠO DIỄN HAY NHÀ THƠ ?

“Anh đã gặp em một lần duy nhất

Đà Lạt em, Đà Lạt vẫn của anh…”

Hoàng Anh Tuấn sinh năm 1932 tại Hà Nội, khi mới bắt đầu học tiểu học, thân phụ ông phải đổi đi làm việc tại Vinh, gởi ông lại nhà ông bác để đi học. Ông theo học tại trường Dòng Puginier ở Hà Nội, một trường đạo nổi tiếng có kỷ luật và nghiêm khắc.

Năm 1943, phi cơ Nhật bắt dầu dội bom Hà Nội, thân phụ ông bỏ việc ở Vinh, về Hà Nội mang gia đình chạy loạn về Hưng Yên, một tỉnh lỵ êm đềm ở xa Hà Nội. Trong lúc phong trào kháng chiến chống Pháp lên cao, Hoàng Anh Tuấn còn nhỏ nhưng cũng ra khu và học trường trung học Nguyễn Huệ tại làng Sêu thuộc Khu 3 gần Hà Nội và tham gia toán du kích Đống Đa, nhưng sau một thời gian, ông hay thắc mắc về Mao Trạch Đông, bị trù dập, vỡ mộng đi kháng chiến nên bỏ về Hà Nội.

Ông kết bạn với họa sĩ Duy Thanh, bắt đầu sáng tác thơ văn. Năm 14 tuổi, ông có bài thơ đầu tay đăng trên báo Tiểu Thuyết Thứ Bảy của Nhà xuất bản Tân Dân ở Hà Nội.

Năm 16 tuổi, khi chưa học xong trung học, gia đình cho ông sang Pháp du học và trong thời gian ở thành phố Nice, ông đã gặp nhà thơ Nguyên Sa (Trần Bích Lan) khi ấy từ Paris về nghỉ hè. Nguyên Sa đã rủ ông về Paris và tại đây ông đã theo học Trường Điện ảnh IDHEC (Institut Des Hautes Etudes Cinémato- graphiques).

Năm 1958, ông về nước làm đạo diễn cho hãng phim Alpha ở Sài gòn rồi chuyển sang viết cho các báo như Đồng Nai và Tiền Tuyến, các tạp chí như Hiện Đại. Từ năm 1965 đến năm 1974, ông làm giám đốc của Đài phát thanh Đà Lạt. Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, ông học tập cải tạo 2 năm ở trại Phan Đăng Lưu rồi được trả tự do, sống vất vưởng ở Sài gòn thêm 2 năm nữa trước khi sang Pháp đoàn tụ với gia đình sau 20 năm xa cách.

Ông sống tại Pháp một thời gian dài rồi cùng với gia đình định cư tại bang Ohio của Mỹ vào năm 1981.

Con gái ông đã tập hợp những bài thơ của ông để in tập thơ “Yêu em, Hà Nội và những bài thơ khác” ra mắt vào năm 2004 tại tòa soạn báo Người Việt, chỉ 1 năm trước khi ông qua đời (ngày 1/9/2006) tại thành phố San Jose, bang California.
Hoàng Anh Tuấn có nhiều tình cảm với thành phố Hà Nội và có tới 4 bài thơ về Hà Nội (“Bài thơ Hà Nội”, “Hà Nội, mùa thu và em”, “Yêu em Hà Nội” và “Mưa Sài gòn, mưa Hà Nội”) nhưng cho tới nay, bài thơ của ông về Hà Nội được nhiều người biết đến nhất là bài “Mưa Sài gòn, mưa Hà Nội” đã được Phạm Đình Chương phổ nhạc.

Ca khúc “Mưa Sài gòn, mưa Hà Nội” của Phạm Đình Chương với ban hợp ca Thăng Long : (nguyên tác thơ và nhạc “Mưa Sài gòn mưa Hà Nội – xin bấm vào đường link sau đây:  Bai tho – Mua Saigon mua Ha Noi )

https://youtu.be/F_-q370tkTQ

Ca khúc “Mưa Sài gòn, mưa Hà Nội” với Quỳnh Giao, Mai Hương và Kim Tước:

https://youtu.be/IwQhWQyeY18

Trong 9 năm làm giám đốc Đài phát thanh Đà Lạt, vợ chồng Hoàng Anh Tuấn ở trong ngôi biệt thự số 11 đường Hoa Hồng (rue Des Roses, nay là đường Huỳnh Thúc Kháng). Tác giả Nguyễn Vĩnh Nguyên cho biết : “Căn nhà số 11 đường Hoa Hồng mà họa sĩ Đinh Cường và GS Đỗ Long Vân ở cũng là nơi cư ngụ của vợ chồng nhà văn Hoàng Anh Tuấn – Ngô Thy Liên. Ông Hoàng Anh Tuấn là nhà điện ảnh gốc Hà Nội, du học tại Pháp, chọn Đà Lạt làm nơi phát triển sự nghiệp. Ông chính là quản đốc Đài phát thanh Đà Lạt giai đoạn 1965. Hoàng Anh Tuấn có những câu thơ về Đà Lạt thật nhẹ nhàng, êm đềm như địa đàng thuở ban sơ:

“Có những buổi trăng về từ suối bạc

Đem phong lan trang điểm một trời hương

Đà Lạt của ta trong thần thoại hoang đường

Lang tình tứ đã gặp Bian e ấp

Anh đã gặp em một lần duy nhất

Đà Lạt em, Đà Lạt vẫn của anh…”

Tên tuổi của ông gắn liền với ngành điện ảnh trong vai trò đạo diễn. Bốn cuốn phim sự do ông đạo diễn là :

1/- Ngàn năm mây bay (1963), dựa theo tiểu thuyết của nhà văn Văn Quang, hãng Thái Lai sản xuất với các diễn viên Lê Quỳnh, Bích Sơn, Bích Thủy, Phạm Huấn

2/- Hai chuyến xe hoa (1961) dựa trên tiểu thuyết cùng tên của Nguyễn Bính Thinh và tuồng cải lương của Thái Thụy Phong ; hai diễn viên chính trong phim là Thanh Nga và Thành Được.

3/- Nước mắt đêm xuân với các diễn viên Mai Trường, Nguyễn Long, Lệ Quyên

4/- Xa lộ không đèn (1972) với các diễn viên Thanh Nga, Hoài Trung, Trang Thanh Lan và Năm Châu. (theo Huỳnh Duy Lộc)

Phim : Xa lộ không đèn (1972) (1:33’) : https://youtu.be/HxlulRdfn5E

Sang Huỳnh chuyển tiếp

Đọc thêm : trên “Một thời Sài Gòn” ngày 23/3/2010 : Đạo diễn HOÀNG ANH TUẤN

THÁNG 4 NHỚ NGUYÊN SA

THÁNG TƯ NHỚ NGUYÊN SA

Chuyện cùng “Nga buồn như con chớ ốm”

Mười chín năm qua, từ ngày nhà thơ Nguyên Sa qua đời (18 Tháng Tư 1998), những đóa cúc vàng trên mộ ông trong nghĩa trang ở thành phố Westminster vẫn vàng rực, nhờ sự chăm sóc ân cần từ người vợ thủy chung.

Vợ nhà thơ Nguyên Sa, bà Trịnh Thúy Nga, người đi vào cõi thơ Nguyên Sa với những câu mở đầu “tếu táo” :

“Hôm nay Nga buồn như một con chó ốm

Như con mèo ngái ngủ trên tay anh

Ðôi mắt cá ươn như sắp sửa se mình

Ðể anh giận sao chả là nước biển !…”

Trên đời, chắc chỉ có mình ông, nhà thơ Nguyên Sa, viết thư thông báo đám cưới của mình bằng thơ. Cũng chẳng có ai đặt tựa cho bài thơ báo hỷ “cộc lốc” như ông – chỉ vỏn vẹn một chữ “Nga,” tên người con gái ông lấy làm vợ. Thế mà người ta nhớ ! Có ai mà không nhớ thơ tình Nguyên Sa ! Và bà Nguyên Sa -Trịnh Thúy Nga, luôn nhớ một câu chuyện chẳng thể nào cũ.

Tháng Giêng Mai Thảo đã qua

Tháng Tư chợt nhớ Nguyên Sa, lại buồn.

(thơ Ngọc Hoài Phương)

“Năm 1952, sau khi hồi cư về Hà Nội, tôi được gia đình cho sang Pháp du học cùng với người anh họ. Ông Lan (tên nhà thơ Nguyên Sa: Trần Bích Lan) qua trước hai năm. Ông thân sinh của ông ấy buôn bán lớn, sợ Việt Minh làm phiền nên cho ba người con lớn sang Pháp du học. Tôi quen em gái ông ấy ở Paris, tình cờ đến nhà chơi nên quen ông”.

Quen nhau Tháng Mười Hai năm 1952, đến mùa Hè năm 1953, ông làm bài thơ tỏ tình tặng bà. Cho đến giờ, chưa ai biết nội dung bài thơ đó như thế nào, vì bà muốn giữ kín, cho riêng bà. Chỉ biết rằng, trái tim của cô nữ sinh tên Nga từ đó có một hình bóng, mà cô luôn trân trọng nhớ về, từ mùa Hè năm đó.

Bà hồi tưởng lại : “Hồi đó tôi còn trẻ, cũng chẳng suy nghĩ gì cả, chỉ lo học thi đậu xong rồi về. Phải lo học xong cho sớm chứ đời sống bên Pháp đắt đỏ lắm. Cũng trong năm 1953, cụ thân sinh ông Lan mất ở Hà Nội, ông ấy phải ngưng học, về nước để giúp đỡ gia đình. Lúc đó chúng tôi yêu nhau rồi, ông ấy cũng muốn dỗ dành tôi về Việt Nam chung, nhưng tôi còn ham học cao lên. Tuổi trẻ mà, ai cũng có giấc mơ lớn, và tôi cũng muốn thực hiện ước mơ của mình.”

Cuộc chia tay này là nguyên nhân bài thơ “Paris có gì lạ không em ?” ra đời trong nỗi nhớ khắc khoải của ông.

“Paris có gì lạ không em ?

Mai anh về em có còn ngoan

Mùa xuân hoa lá vương đầy ngõ

Em có tìm anh trong cánh chim


Paris có gì lạ không em ?

Mai anh về mắt vẫn lánh đen

Vẫn hỏi lòng mình là hương cốm

Chả biết tay ai làm lá sen?…”

Câu hỏi cuối ông gởi lại bà trong sự chờ đợi, thay cho câu hỏi “Em có bằng lòng làm vợ anh không ?” Để rồi hai năm sau gặp lại nhau ở Paris, khi bà khẽ gật đầu ưng thuận “làm lá sen” suốt đời cho ông, thì ông mới viết bài thơ đính hôn thay cho thiệp báo hỷ gởi cho gia đình, bằng hữu, trong niềm vui sướng tột độ.

“Chúng mình lấy nhau

Cần gì phải ai hỏi…

Cả anh cũng không cần phải hỏi anh

‘Có bằng lòng lấy em ?…’

Vì anh đã trả lời anh

Cũng như em trả lời em

Và cũng nghẹn ngào nước mắt !…”

(Nga – Nguyên Sa)

Bà Nga nhớ lại : “Sinh viên tụi tôi ở lại Pháp sau Hiệp Định Genève chia đôi đất nước, gia đình lo tản cư vào Nam nên đâu có gởi tiền qua được. Chúng tôi ra Tòa Đốc Lý Paris ký giấy hôn thú, bạn bè theo đông lắm. Xong kéo nhau ra quán cà phê đối diện uống cà phê, ăn bánh. Bạn bè chung tiền trả tiền cho cô dâu, chú rể. Thế thôi.”

Đám cưới sinh viên Việt Nam nghèo ở kinh đô ánh sáng diễn ra như thế. Chú rể chẳng mặc lễ phục, cô dâu không có áo cưới, mà ngay cả nhẫn cưới họ cũng chẳng mua được. Nhưng có sao đâu, vì ông trao cho bà những thứ quý hơn nhẫn cưới.

“Người ta làm thế nào cấm được chúng mình yêu nhau

Nếu anh không có tiền mua nhẫn đeo tay

Anh sẽ hôn đền em

Và anh bảo em soi gương

Môi anh tròn lắm cơ

Tròn hơn cả chữ O

Tròn hơn cả chiếc nhẫn

Tròn hơn cả hai chiếc nhẫn đeo tay!…”

(Nga – Nguyên Sa)

oOo

Mười chín năm ông ra đi, chữ O tròn trên má vẫn chẳng phai nhòa, vì với bà, ông chẳng bao giờ đi xa cả, mà chỉ chuyển chỗ từ ngôi nhà ở thành phố Irvine đến nơi đầy nắng và gió ở thành phố Westminster.

“Đối với tôi thì lúc nào ông cũng quanh quẩn đâu đây, trong cái nhà này. Tôi ở trong nhà, hay đi bất cứ con đường nào, đều thấy hình bóng ông ở bên cạnh tôi hết.” Bà Nga nói.

Nhà thơ Ngọc Hoài Phương cho biết, lúc sinh thời Nguyên Sa rất thích hoa cúc vàng – như câu thơ trong bài “Áo lụa Hà Đông” của ông : Áo nàng vàng, anh về yêu hoa cúc – nên bà Nga chỉ mang hoa cúc ra mộ ông thôi. “Nếu để ý sẽ thấy, hoa cúc vàng trên mộ nhà thơ Nguyên Sa không bao giờ tàn hay héo cả vì được bà Nga chăm sóc rất kỹ. Hoa sắp héo sẽ được bà thay bằng hoa mới.” Nhà thơ Ngọc Hoài Phương cho biết.

Hôm gặp bà ở mộ ông, bà cho hay : “Ông ấy không bao giờ nghĩ đến cái chết, hay mình được chôn cất ở đâu cả. Khi ông ấy mất, tôi ra đây xem rồi chọn cho ông chỗ này. Nó gần hồ nước, lại dưới một bóng cây. Lúc trước trông vắng vẻ, giờ trông ấm cúng vì chung quanh ông có rất nhiều bạn bè.”

“Hồi nhà tôi mới mất, ngày nào tôi cũng ra đây, sửa bông, cắt cỏ. Giờ thì lớn tuổi rồi, thì một tuần tôi ra thăm ông ấy 2 lần. Nhiều khi bực mình với ông ấy cũng ra đây nói cho ông ấy biết.”

“Hồi ông Lan còn sống, tôi rất ít tiếp xúc với bạn ông ấy lắm, nhưng từ hồi ông ra đây, tôi được gặp nhiều người thăm ông, an ủi nâng đỡ tôi. Tôi nhớ ông Đỗ Ngọc Yến (nhà báo, sáng lập nhật báo Người Việt), hồi đó, cứ có ai từ xa đến Little Saigon, muốn gặp tôi thì ông ấy cứ nói cứ ra thăm mộ Nguyên Sa thì gặp bà Nga. Cho nên ở đây tôi được gặp nhiều người lắm, kể cả bạn cũ ở Việt Nam sang chơi. Cuối năm còn có người hẹn tôi ra đây cho cá kho, dưa chua nữa.”

Điều trùng hợp là sự lựa chọn nơi yên nghỉ cho ông, lại chính là nơi ông từng mơ ước được về qua câu thơ của ông, được bà khắc trên mộ.

“Nằm chơi ở góc rừng này

Chưa thiên thu cũng đã đầy cỏ hoang

Xin em một sợi tóc vàng

Làm hoa khởi sự cho ngàn kiếp sau

Biết đâu thảo mộc bớt đau

Biết đâu có bản kinh cầu dâng lên?”

Và trong bài Tân Ước trong tập thơ cuối cùng, hình như lời “năn nỉ” của ông cũng được bà chiều theo.

“…Anh vẫn nhận ra em, em khác biệt mà vẫn đồng nhất, giấc mơ gián đoạn bao nhiêu, em vẫn trở lại, giấc mơ phi lý, em khắng khít bằng những liên tục vuốt ve, liên tục hiền dịu, liên tục chăm sóc. Em liên tục không gian em, liên tục luận lý em. Tân ước nói có thế giới ở ngoài thế giới, khác biệt và bao trùm thế giới. Em có phải là giấc mơ ở trong giấc mơ và phủ kín giấc mơ?”

Chẳng biết như thế nào, nhưng trong thế giới thật này, “Nga buồn như con chó ốm” tiếp tục dùng đôi tay “làm lá sen” phủ kín “hương cốm” Nguyên Sa cho đến tận cùng. (theo Vũ Đình Trọng – Người Việt)

Kiều Văn chuyển tiếp

GIẢI MÃ THỨ BẬC

THẦY HAI, CON TÁM…

CỦA SÀI GÒN XƯA

Công chức, người có học là thầy Hai, người Hoa buôn bán là chú Ba, đại ca giang hồ là anh Tư, lưu manh là anh Năm… người lao động nghèo xếp thứ Tám.

Chiều muộn hôm qua có cậu bạn đi công việc ghé ngang nhà rủ làm ly cà phê tán dóc. Nói chuyện lan man một hồi, tự nhiên anh chàng kể công ty em có ông già gác cửa rất hay nói câu “bỏ qua đi Tám”…

“Em chả hiểu, có lần hỏi thì ổng nói đại khái là dùng khi can ngăn ai bỏ qua chuyện gì đó, nhưng sao không phải là Sáu hay Chín mà lại là Tám thì ổng cũng không biết”, cậu bạn thắc mắc.

Dựa vào những câu chuyện xưa cũ, những giai thoại, nên kể ra đây chút nguyên cớ của câu thành ngữ có lẽ sắp “thất truyền” này, biết đâu có dịp nào đó anh em có thể dùng để “buôn dưa lê” lúc “trà dư tửu hậu”.

Trước hết, phải biết là câu này phát sinh ở khu vực Sài Gòn – Chợ Lớn từ thời Pháp thuộc, khoảng đầu thế kỷ 20. Thời đó, cách xưng hô thứ bậc trong xã hội rất phổ biến và phần nào phản ánh vị trí xã hội, giai cấp… một cách khá suồng sã và dễ chấp nhận.

Đứng trên hết là các “quan lớn” người Pháp hoặc các quan triều nhà Nguyễn, thành phần này thì không “được” xếp thứ bậc vì giới bình dân hầu như không có cơ hội tiếp xúc đặng xưng hô hay bàn luận thường xuyên. Kế đến là các công chức làm việc cho chính quyền, họ ít nhiều là dân có học và dân thường hay có dịp tiếp xúc ngoài đời, là cầu nối giữa họ với các thủ tục với chính quyền, hoặc đó là thành phần trí thức, đó là các “thầy Hai thông ngôn”, hay “thầy Hai thơ ký”…

Hàng thứ Ba là các thương gia Hoa Kiều, với tiềm lực tài chính hùng hậu và truyền thống “bang hội” tương trợ, liên kết chặt chẽ trong kinh doanh, các “chú Ba Tàu” nghiễm nhiên là 1 thế lực đáng vị nể trong mắt xã hội bình dân Sài Gòn – Chợ Lớn thời đó.

Xếp thứ Tư là các “đại ca” giang hồ, những tay chuyên sống bằng nghề đâm chém và hành xử theo luật riêng, tuy tàn khốc và “vô thiên vô pháp” nhưng khá “tôn ti trật tự (riêng)” và “có đạo nghĩa” chứ không tạp nhạp và thiếu nghĩa khí như các băng nhóm “trẻ trâu” hiện đại. Các “anh Tư dao búa” vừa là hung thần, vừa ít nhiều lấy được sự ngưỡng mộ của giới bình dân (và cũng không ít tiểu thư khuê các) thời đó.

Thứ đến là vị trí của giới lưu manh hạ cấp hơn: các anh Năm đá cá lăn dưa, móc túi giật giỏ, hay làm cò mồi mại dâm…

Bị giới bình dân ghét hơn đám lưu manh côn đồ là các “thầy Sáu phú-lít (police)”, “thầy Sáu mã tà”, “thầy Sáu lèo”. Chức trách là giữ an ninh trật tự, chuyên thổi còi đánh đuổi giới buôn gánh bán bưng bình dân, nhưng các “thầy Sáu” này cũng không từ cơ hội vơ vét ít tiền mọn “hối lộ” của họ để “nhẩm xà” (uống trà).

Và trong giới buôn bán thì không thể thiếu chuyện vay vốn làm ăn, mặc dù Tàu hay Việt cũng đều có tổ chức cho vay. Nhưng phổ biến và “quy củ” nhất ở cấp độ trung – cao khu vực Sài Gòn – Chợ Lớn thời đó là các “anh Bảy Chà và”, các anh này là các nhà tài phiệt người Ấn, vừa giàu vừa ít bị “ghét”, vừa ít nhiều có quan hệ qua lại với giới chức người Pháp, lại làm ăn đúng luật lệ, ít thừa cơ bắt chẹt lãi suất nên khá được giới kinh doanh tín nhiệm.

Xếp thứ Tám chính là lực lượng đông đảo nhất xã hội bình dân bấy giờ: họ là giới lao động nghèo chỉ có sức lục làm vốn nuôi miệng, từ bốc vác, gánh nước bồng em, đến “sang” hơn chút xíu là phu xe kéo…

Tuy đông nhưng lại yếu thế nhất vì thất học, không có tiền như thầy Hai, anh Ba, cũng hiền lành chứ không bặm trợn phản kháng bạt mạng như các anh Tư anh Năm nên họ thường xuyên chịu sự áp bức, bắt nạt từ mọi phía. Cách để yên thân khả dĩ nhất với họ là khuyên nhau cắn răng nhẫn nhịn, quên đi để sống: “Bỏ qua đi Tám”, bây giờ chắc là đã dễ hiểu rồi.

Không còn liên quan nữa, nhưng nhân tiện sẵn nói luôn về thứ bậc chót cùng trong xã hội thời đó: các cô, các chị Chín xóm Bình Khang chuyên “kinh doanh” bằng “vốn tự có”.

Dài dòng tí để trình bày chút kiến giải về một câu thành ngữ đang dần bị quên lãng dùng để bày tỏ thái độ khuyên người hoặc tự an ủi mình hãy đừng để ý những chuyện không vui, hay bị ai đó “chơi không đẹp”. Nếu lỡ đọc thấy không có gì thú vị thì thôi, “bỏ qua đi Tám”.

Hai Điếu ĐĐ chuyển tiếp

VÌ SAO LẠI GỌI

“ANH HAI SÀI GÒN” ?

 “Anh Hai Sài Gòn” là cách gọi vui, thân mật, nhưng cũng thể hiện tính cách phóng khoáng, dám làm dám chịu của dân Sài Gòn nói riêng và Nam bộ nói chung. Vì sao lại là “Anh Hai” chứ không là “Anh Cả” ? Như thế nào mới là “người Sài Gòn” ?

Khó nhận diện người Sài Gòn gốc

Năm 1558, Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa, bắt đầu gây dựng chính quyền Chúa Nguyễn ở Đàng Trong. Đây là cái mốc quan trọng của quá trình “Nam tiến” trong lịch sử Việt Nam, cũng là quá trình hình thành văn hóa vùng đất phía Nam trong xu thế mang theo và gìn giữ văn hóa cội nguồn, đồng thời tiếp nhận những yếu tố văn hóa của cư dân vùng đất mới.

Đến năm 1698, Phủ Gia Định được thành lập, Sài Gòn – Gia Định hình thành từ đó. Chỉ hơn 300 năm nhưng người Sài Gòn đã kịp định hình một bản sắc riêng dễ nhận biết giữa những người của vùng miền khác. Điều này hình thành từ nguồn gốc lưu dân và hoàn cảnh lịch sử xã hội của Nam bộ/Sài Gòn.

Lưu dân người Việt vào Nam bộ trước hết và đông nhất là những người “tha phương cầu thực” vì không có đất đai, không có phương kế sinh sống ở quê hương. Thành phần thứ hai là những người chống đối triều đình, quan lại địa phương bị truy bức nên phải tìm đường trốn tránh. Thứ ba là những tội đồ bị buộc phải ly hương (một hình phạt nặng của thời phong kiến). Ngoài ra, còn có số ít người tương đối giàu có, muốn mở rộng và phát triển việc làm ăn trên vùng đất mới nên nhập vào hàng ngũ lưu dân tới Nam bộ…

Khi Sài Gòn được hình thành như một trung tâm của vùng đất phía Nam thời chúa Nguyễn, một đô thị lớn thời thuộc Pháp thì nơi đây cũng là nơi dân tứ xứ tiếp tục đổ về. Người nhập cư là thành phần hữu cơ của bất cứ đô thị nào, Sài Gòn vốn hình thành từ những lớp “người nhập cư” rồi trở thành “người Sài Gòn”, rồi lại tiếp tục thu nhận và chia sẻ cho những lớp người nhập cư mới.

Chỉ hơn 300 năm thôi, khó có thể nói ai là người Sài Gòn “gốc” bởi nơi đây người ta đến rồi đi, nhiều người ở lại nhưng hàng năm vẫn luôn trở về quê nhà. Một thành phố cởi mở, dung dị, hòa hợp và tôn trọng những cộng đồng khác nhau.

Sống trong những điều kiện lịch sử luôn biến động, người dân Nam bộ/Sài Gòn đã tạo dựng một nếp sống tinh thần ấm áp, bình đẳng, lấy tình nghĩa, nghĩa khí làm trọng. Người Sài Gòn/Nam bộ sống chung với các dân tộc: Người Khmer hiền hậu, tính cộng đồng thôn xóm cao; Người Hoa chịu khó, giỏi tổ chức sản xuất, buôn bán và tương trợ giúp đỡ trong làm ăn;

Người Chăm cần cù, khéo léo… Sự ảnh hưởng qua lại của văn hóa, lối sống càng làm cho cá tính người Sài Gòn/Nam bộ cởi mở phóng khoáng hơn trong giao lưu, nhạy bén với cái mới, thấm nhuần một tinh thần bình đẳng, nhân nghĩa, bao dung, đồng thời rạch ròi, quyết liệt vượt ra khỏi những ràng buộc, gò bó của khuôn mẫu…

Người Sài Gòn không phân biệt “quê”, “tỉnh”, “đồng hương” hay không, vì vậy nói đến tính cách người Sài Gòn có thể được coi là sự khái quát tính cách người Nam bộ.

Có thể nói, tính cách người Sài Gòn bắt nguồn từ yếu tố, điều kiện thực tế nhất ở Sài Gòn là “LÀM” : “Làm ăn”, “Làm chơi ăn thiệt”, “Làm đại”, “Dám làm dám chịu”… được thể hiện một cách giản dị, thiết thực, “liều lĩnh” nhưng cũng đầy trách nhiệm

Phác họa đức tính người Sài Gòn

Ở Sài Gòn/Nam bộ, “dư luận xã hội” không nặng nề khe khắt với những cái khác, cái mới. Người Nam bộ khá dân chủ trong các mối quan hệ xã hội và cả trong gia đình, từ cách xưng hô (người Nam bộ thường xưng “tui”) đến việc cá nhân ít lệ thuộc, phụ thuộc vào cộng đồng.

Gần đây, một số tờ báo có những bài viết về chủ đề “Thế nào là người Sài Gòn ?”, hầu hết các ý kiến đều cho rằng, người Sài Gòn không chỉ là người “ba đời” sống ở Sài Gòn, càng không phải là người có “hộ khẩu thành phố”, mà là bất cứ ai dù quê ở đâu, sống ít hay nhiều năm tại Sài Gòn. Đó là những con người:

– Năng động nhưng không bon chen.

– Sôi nổi nhưng không ồn ào.- Bình thản nhưng nghĩa hiệp, trượng nghĩa.- Tôn trọng cá nhân nhưng hay làm từ thiện, thích giúp người.

– Chứng kiến điều xấu, là nạn nhân của cái ác nhưng luôn tử tế, vẫn tin người.

– Ăn xài thoải mái, biết tính toán nhưng không tính đếm so đo.

– Sống và chơi nhiệt tình, hết mình với bạn bè.

– Về thăm quê, rồi vào lại Sài Gòn mà cảm giác như về nhà.

– Không chê bai những gì khác mình, thích thì chơi không thích thì thôi, nhẹ nhàng.

– Không định kiến, dễ chấp nhận cái mới.

– Và cuối cùng là không lưu manh, ghét lưu manh.

Chỉ vậy thôi, bất kể người tỉnh nào vùng miền nào,  miễn là sống ở Sài Gòn, rồi có tính cách như vậy, thì đó là Người Sài Gòn…Có thể nói đây là những tính cách khá “dương tính”, “hướng ngoại”, như nhiều nhà nghiên cứu văn hóa phân tích. Có lẽ vì vậy mà người ta thường gọi người Sài Gòn một cách trìu mến là “Anh Hai Sài Gòn”.

Ở miền Bắc con trai trưởng trong nhà gọi là Anh Cả nhưng miền Nam lại gọi Anh Hai. Vì sao là Anh Hai mà không phải là Anh Cả? Có thể từ vài giả thuyết sau: Chúa Nguyễn Hoàng là người con trai thứ hai của Nguyễn Kim, mở đường vào Nam khai phá nên để tôn trọng ông, người dân gọi người con lớn của mình, trai hay gái, cũng chỉ là (thứ) Hai.

Hoặc, có ý kiến cho rằng, khi có phong trào lưu dân vào Nam khai khẩn, trong gia đình thường để con trai thứ ra đi vì người con trai trưởng có vai trò ở lại quê nhà phụng dưỡng cha mẹ và thờ cúng tổ tiên. Cũng có người cho rằng, trong làng quê Nam bộ xưa có ông Cả (Hương Cả) là người đứng đầu, vì vậy trong các gia đình chỉ có người thứ Hai…

Tuy khác nhau về nguồn gốc “thứ Hai” của “anh Hai Sài Gòn” hay “anh Hai Nam bộ” nhưng có thể nhận thấy có chung một điểm: Đó là người con thứ không bị ràng buộc trách nhiệm nặng nề “giữ hương hỏa, nền nếp” như người con trưởng nên có thể “rộng chân” ra đi, tự do hơn khi tiếp nhận cái mới, thay đổi cái cũ lạc hậu, dễ thích nghi, có khi thử, liều. Nhưng vì không có gia đình họ hàng bên cạnh để mà dựa dẫm “tại, vì, bởi…” nên phải có trách nhiệm “dám chịu” nếu lỡ sai lầm. (theo Nguyễn Thị Hậu)

Phan Tất Đại chuyển tiếp

NGHỆ SĨ THANH SANG QUA ĐỜI

NGHỆ SĨ THANH SANG

QUA ĐỜI

Được tin nghệ sĩ Thanh Sang đã trút hơi thở cuối cùng lúc 0 giờ 25 phút ngày 21/4 nhằm ngày 25 tháng 3 năm Đinh Dậu. tại nhà riêng. Hưởng thọ 75 tuổi.

NS Thanh Sang tên thật là Nguyễn Văn Thu, sinh năm 1943 tại Hòa Hiệp, Phước Hải, Bà Rịa- Vũng Tàu. Ngày 4/4/2017, ông được gia đình đưa đi cấp cứu vì có triệu chứng khó thở. Khi nhập viện ông rất tỉnh táo, trao đổi với bác sĩ về căn bệnh của mình.

Sau nhiều ngày điều trị tại Bệnh viện Nhân dân Gia Định dù được các thầy thuốc hết lòng cứu chữa nhưng do bệnh suy thận, xuất huyết não, suy tim, ông đã hôn mê sâu rồi ra đi trong niềm thương xót của gia đình, nghệ sĩ đồng nghiệp và đông đảo khán giả mộ điệu sân khấu cải lương.

Cha ông từng tham gia Kháng chiến chống Pháp, hy sinh năm 1949. Mẹ ông phải làm lụng vô cùng cực nhọc để nuôi 4 con nhỏ, trong đó chỉ có ông là trai. Vì vậy, từ năm 8 tuổi, ông bắt đầu sống bằng nghề đi vá lưới và đi biển đánh cá, vừa nuôi gia đình vừa kiếm tiền học văn hóa.

Do gia đình sống gần rạp cải lương Hải Lạc, ông bị cuốn hút theo nghề hát xướng. Ban đầu, ông thường nhại lại các giọng của đệ nhất danh ca Út Trà Ôn, ông Chín Sớm, Thành Công rất được bà con tán tưởng. Năm 1960, đoàn cải lương Ngọc Kiều của bầu Hoàng Kinh, Ngọc Đán đến Hải Lạc biểu diễn. Khi diễn vở “Chiều đông gió lạnh về”, ông được đưa vào thay thế do một nghệ sĩ bị bệnh đột xuất không thể diễn được. Bầu Hoàng Kinh thấy ông thông minh đã đặt cho nghệ danh là Thanh Sang.

Năm 1962, ông được bầu Hoàng Kinh cho thế vai của NS Hùng Cường, vai Đông Nhật trong vở “Tuyết phủ chiều đông”. Ông diễn thành công vai này nên từ đó thành kép chánh trong đoàn cải lương Ngọc Kiều. Năm 1964, ông chuyển về hát cho đoàn “Hoa mùa xuân”, sau đổi thành “Dạ lý hương”. Cũng trong năm này ông đoạt HCV giải Thanh Tâm với vai Tạ Tốn trong vở “Cô gái Đồ Long”.

Vai diễn Tạ Tốn trong vở này bị mù, rất khó diễn song ông lại diễn rất độc đáo, đến mức nhiều người nhắc đến ông với nghệ danh đính kèm “Thanh Sang – Kim Mao Sư Vương Tạ Tốn”. Vai diễn đã đưa ông từ một anh chàng chài lưới, chưa qua trường lớp, trở thành ngôi sao sáng trong làng sân khấu thời đó.

Năm 1975, ông đã tạc thêm thành công trong sự nghiệp với nhiều nhân vật khác như: Trần Minh trong vở “Bên cầu dệt lụa”, vai Thi Sách trong vở “Tiếng trống Mê Linh”, vai Lê Hoàn trong vở “Thái hậu Dương Vân Nga”… Năm 1985, ông thôi hát ở các đoàn văn nghệ, chỉ thu băng đĩa và hát phục vụ khi có yêu cầu. Ba năm sau, ông mới cùng đoàn nghệ sĩ Việt Nam sang Paris biểu diễn.

Năm 2001, ông bị bệnh nặng, phải rời xa sân khấu một thời gian dài. Ngày 4 tháng 3 năm 2007, chương trình Làn điệu phương Nam đã tổ chức tại Nhà hát Thành phố vinh danh ông với chủ đề “50 năm một tình yêu nghệ thuật”, do NS Bạch Tuyết làm tổng đạo diễn, để kỷ niệm 50 năm nghiệp ca diễn của ông.

Tang lễ của NSƯT Thanh Sang được tiến hành tại nhà riêng, đường số 17 P, Hiệp Bình Chánh, Thủ Đức. Lễ viếng bắt đầu từ 10 giờ ngày 21/4. Lễ truy điệu 7 giờ 15 phút ngày 25/4. An táng tại Nghĩa trang Bình Dương. (theo Thanh Hiệp)

Nghe – xem lại những bản vọng cổ, vai diễn để đời của cố NS Thanh Sang

– Tân cổ Thanh Sang (1:17’)

Những bài tân cổ còn xót lại : https://youtu.be/gZrduqaITBU

List bài : 1/. Chiều – 2/. Chiến tàu hoàng hôn – 3/. gánh lúa đêm trăng – 4/. vó ngựa trên đồi cỏ non – 5/. lối về xóm nhỏ – 6/. mộ em phượng – 7/. ngày em về thăm quê tôi – 8/. người đánh đàn trên sông mỹ thuận – 9/. nhớ mẹ – 10/. Tâm sự với quê hương

Tiếng Trống Mê Linh

Thanh Sang & Thanh Nga :https://youtu.be/vHmhi-NXS6E

trong Bên cầu dệt lụa : https://youtu.be/ZGlwxnlg4Uc

PHÂN ƯU

Nhận được tin buồn: Nghệ sĩ Thanh Sang vừa qua đời tại nhà riêng, “nhóm Thân hữu ký giả Điện Ảnh – Tân Nhạc Việt Nam” xin thành thật chia buồn cùng tang quyến và cầu chúc hương linh nghệ sĩ Thanh Sang sớm siêu thoát về miền lạc cảnh.

ĐD Nguyễn Việt

VĂN CHƯƠNG TỎ TÌNH MỘC MẠC

CỦA NGƯỜI NAM BỘ

Sự mộc mạc hồn nhiên ở từ ngữ, cách thể hiện dung dị và ngộ nghĩnh gây nên những bất ngờ thú vị là chất hóm hỉnh thường thấy trong ca dao tình yêu Nam bộ. Đó cũng là biểu hiện tính cách đặc trưng của người dân nơi đây. Trước hết là chất hóm hỉnh không cố tình, không dụng công, toát ra một cách tự nhiên qua những từ ngữ mộc mạc; không hề trau chuốt chân thật đến độ người nghe phải bật cười. Một anh chàng quá đỗi si tình đã trở thành ‘liều mạng’:

Dao phay kề cổ,

Máu đổ không màng

Chết thì chịu chết 

Buông nàng anh không buông

Một cô nàng thật thà cả tin đã giật mình ‘hú vía’ vì kịp thời nhận ra ‘chân tướng’ đối tượng:

May không chút nữa em lầm

Khoai lang khô xắt lát em tưởng sâm bên Tàu

Có những nỗi niềm tương tư ấp ủ trong lòng, nhưng cũng có khi người ta không ngại ngần thổ lộ trực tiếp với bạn tình :

Tôi xa mình hổng chết cũng đau

Thuốc bạc trăm không mạnh,

mặt nhìn nhau mạnh liền

Họ là những người lao động chân chất, nên cũng bày tỏ tình cảm với nhau bằng thứ khẩu ngữ thường ngày không chưng diện, màu mè, tuy vậy, cái tình trong đó cũng mãnh liệt và sâu sắc. Đây là lời tâm sự của một anh chàng đêm hôm khuya khoắt lặn lội đi thăm người yêu:

Thương em nên mới đi đêm

Té xuống bờ ruộng đất mềm hổng đau

May đất mềm nên mới hổng đau

Phải mà đất cứng ắt xa nhau phen này

Chàng thật thà chất phác, nhưng mà cũng có chút ranh ma đấy chứ? Chất hóm hỉnh đã toát ra từ cái ‘thật thà tội nghiệp’.

Nhưng phần lớn vẫn là sự hóm hỉnh mang tính chất đùa nghịch. Một chàng trai đã phóng đại nỗi nhớ người yêu của mình bằng cách so sánh ví von trào lộng:

Vắng cơm ba bữa còn no

Vắng em một bữa giở giò không lên

Nỗi vấn vương tơ tưởng đi vào tận giấc ngủ khiến chàng trở nên lú lẫn một cách buồn cười:

Phòng loan trải chiếu rộng thình

Anh lăn qua đụng cái gối, tưởng bạn mình, em ơi !

Nhưng cái độc đáo là ở đây nỗi niềm đó lại được bộc lộ một cách hài hước:

Tôi xa mình ông trời nắng tôi nói mưa

Canh ba tôi nói sáng, giữa trưa tôi nói chiều

Có một chút phóng đại làm cho lời nói nghe hơi khó tin! Nhưng hề gì. Chàng nói không phải cốt để đối tượng tin những điều đó là sự thật mà chỉ cốt cho nàng thấu hiểu tấm tình si của mình. Nàng bật cười cũng được, phê rằng ‘xạo’ cũng được, miễn sao hiểu rằng mình đã phải ngoa ngôn lên đến thế để mong người ta rõ được lòng mình.

Lại có một chàng trai đang thời kỳ o bế đối tượng, muốn khen cô nàng xinh đẹp, dễ thương mà khó mở lời trực tiếp. Để tránh đột ngột, sỗ sàng, chàng đã nghĩ ra một con đường vòng hiếm có:

Trời xanh bông trắng nhụy huỳnh

Đội ơn bà ngoại đẻ má, má đẻ mình dễ thương

Mục đích cuối cùng chỉ đơn giản là khen ‘mình dễ thương’ mà chàng đã vòng qua năm non bảy núi. Bắt đầu từ thế giới tự nhiên – trong thế giới tự nhiên lại bắt đầu từ ông trời – tạo hóa sinh ra những loại cây, hoa đẹp đẽ – rồi mới bước qua thế giới của loài người – trong thế giới loài người lại từ hiện tại ngược dòng lịch sử để bắt đầu từ tổ tiên ông bà, tới thế hệ cha mẹ, rồi tới nhân vật chính – ‘mình’. Thật là nhiêu khê, vòng vo tam quốc làm cho đối tượng hoàn toàn bất ngờ. Những lời ngộ nghĩnh kia dẫn dắt tới sự hiếu kỳ háo hức muốn biết ‘chuyện gì đây’, cho đến khi cái kết cục thình lình xuất hiện làm cho cô nàng không kịp chống đỡ… Nhưng mà nó thật êm ái, thật có duyên biết bao, nên dù phải đỏ mặt, cô hẳn cũng vui lòng và không thể buông lời trách móc anh chàng khéo nịnh! Ngược lại, cũng có những lời tỏ tình khá táo bạo, sỗ sàng, nhưng hình ảnh thì lại hết sức ngộ nghĩnh, dí dỏm:

Con ếch ngồi dựa gốc bưng

Nó kêu cái ‘quệt’, biểu ưng cho rồi

Những người nghe câu ‘xúi bẩy’ này không thể không bật cười, còn đối tượng xúi bẩy cùng lắm cũng có thể tặng cho người xúi có phần trơ tráo kia một cái nguýt dài.

Những câu ca dao hóm hỉnh không chỉ bật lên từ tâm trạng đang vui, tràn đầy hy vọng, có khi ‘rầu thúi ruột’ mà họ vẫn đùa. Những trắc trở trong tình yêu nhiều lúc được trào lộng hóa để ẩn giấu nỗi niềm của người trong cuộc:

Thác ba năm thịt đã thành bùn

Đầu thai con chim nhạn đậu nhánh tùng chờ em

Quả là ‘khối tình thác xuống tuyền đài chưa tan’, nên chàng lại quyết tâm chờ tiếp ở kiếp sau cho đến khi nào nên duyên nên nợ. Kiên nhẫn đến thế là cùng!

Khi chàng trai cố gắng đến hết cách vẫn không cưới được người mình yêu, không biết trút giận vào đâu, bèn đổ lỗi cho một nhân vật tưởng tượng:

Quất ông tơ cái trót

Ổng nhảy tót lên ngọn cây bần

Biểu ông se mối chỉ năm bảy lần, ổng hổng se

Thái độ quyết liệt trong tình yêu lắm lúc được thể hiện đầy mãnh liệt. Anh chàng hay cô nàng trong câu ca dao dưới đây đã xem cái chết nhẹ như lông hồng. Thà chết còn hơn là lẻ bạn!

Chẳng thà lăn xuống giếng cái ‘chũm’

Chết ngủm rồi đời

Sống chi đây chịu chữ mồ côi

Loan xa phượng cách, biết đứng ngồi với ai?

Có chàng trai thì quyết tâm đem tuổi thanh xuân gửi vào cửa Phật:

Nếu mà không lấy đặng em 

Anh về đóng cửa cài rèm đi tu

Chàng vừa muốn tỏ lòng mình vừa muốn thử lòng người yêu. Và cô nàng cũng tỏ ra quyết tâm không kém. Chàng đi đến đâu nàng theo đến đó để thách thức cùng số phận:

Tu đâu cho em tu cùng

May ra thành Phật thờ chung một chùa

Bằng câu đùa dí dỏm của mình, cô nàng đã làm nhẹ hẳn tầm nghiêm trọng của vấn đề trong tư tưởng anh chàng và cũng hóa giải tâm tư lo âu, phiền muộn của chàng – ‘Có gì đáng bi quan đến thế? Cái chính là em vẫn giữ vững lập trường’ – đồng thời cũng hàm thêm chút chế giễu – ‘Mà có chắc là tu được không đấy?’. Khi yêu, nhiều cô gái cũng mạnh dạn bày tỏ tình cảm của mình không kém các chàng trai.

Phải chi cắt ruột đừng đau

Để em cắt ruột trao nhau mang về

Không tiếc cả thân thể, sinh mạng của mình, nhưng cô gái chỉ… sợ đau, thật là một cái sợ đầy nữ tính rất đáng yêu. Hay khi chàng trai muốn liều mình chứng tỏ tình yêu, nhưng cũng lại ‘nhát gan’ đến bật cười:

Gá duyên chẳng đặng hội này

Tôi chèo ghe ra sông cái, nước lớn đầy… tôi chèo vô

Tinh nghịch, hóm hỉnh những lúc đùa vui và cả những khi thất vọng, đó là tinh thần của người lao động để chống chọi những khắc nghiệt của hoàn cảnh. Những chàng trai, cô gái đất phương Nam đã lưu lại trong lời ca câu hát cả tâm hồn yêu đời, ham sống, hồn nhiên của họ trên con đường khai mở vùng đất mới của quê hương tiếp nối qua bao thế hệ – Đó là tinh thần phóng khoáng, linh hoạt, dày dạn ứng biến của những con người:

Ra đi gặp vịt cũng lùa;

Gặp duyên cũng kết, gặp chùa cũng tu…

NHẠC SĨ DZŨNG CHINH

CHẾT TRÊN ĐỒI HOA SIM

tác giả “Những Đồi Hoa Sim”

– Bài Phạm Tín An Ninh

(Đã có một vài bài viết nói về cái chết của Nhạc sĩ Dzũng Chinh, nhưng tiếc là  không chính xác. Bài viết này nhằm mục đích làm rõ cái chết của ông, một nhạc sĩ trẻ được nhiều người biết đến qua nhạc phẩm “Những Đồi Hoa Sim”. Người viết bài này đã ở cùng một đơn vị với ông khi ông tử trận)

oOo

Nhạc sĩ Dzũng Chinh không có nhiều sáng tác, nhưng nhạc phẩm “Những Đồi Hoa Sim” đã làm nên tên tuổi ông. Bài hát được phổ biến trong những năm đầu thập niên 1960,  thời điểm chiến tranh Việt Nam bắt đầu khốc liệt, hàng hàng lớp lớp thanh niên miền Nam, hầu hết là những học sinh, sinh viên tạm gác bút nghiên, lên đường tòng quân bảo vệ giang sơn. Bài hát Những Đồi Hoa Sim (viết theo ý bài thơ Màu Tím Hoa Sim của Hữu Loan, một nhà thơ sống ở miền Bắc) phổ biến rất rộng rãi và nhanh chóng được quần chúng đón nhận khá nồng nhiệt, đặc biệt trong hàng ngũ lính chiến miền Nam Việt Nam.

Nhạc sĩ Dzũng Chinh cũng là một người lính chiến thực thụ. Tên thật là Nguyễn Bá Chính, quê quán ở Phan Thiết. Trước khi theo học khóa sĩ quan đặc biệt ở Đồng Đế Nha Trang, anh là hạ sĩ quan phục vụ tại một Sư Đoàn Bộ Binh thuộc Vùng IV.  Cuối năm 1968, sau khi tốt nghiệp với cấp bậc Chuẩn Úy, anh chọn đơn vị Sư Đoàn 23 BB và xin được phuc vụ tại Trung Đoàn 44 (trú đóng tại Sông Mao, Phan Thiết).

Thời điểm này, Sư Đoàn 23 BB đặt bản doanh tại Ban Mê Thuột, đặc trách hành quân trong lãnh thổ Khu 23 ChiếnThuật. Sư Đoàn có 3 trung đoàn cơ hữu. Trung Đoàn 45 BB trú đóng tại Ban Mê Thuột, nơi có Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn, phụ tránh hành quân an ninh tại các tỉnh Đắc Lắc, Phú Bổn. Trung Đoàn 53 BB đồn trú tại Di Linh (Lâm Đồng), trách nhiệm các tỉnh Lâm Đồng, Tuyên Đức, Quảng Đức. Riêng Trung Đoàn 44 BB trú đóng tại Sông Mao, Bình Thuận, đảm trách các tỉnh miền duyên hải: gồm Bình Thuận, Ninh Thuận, Khánh Hòa.

Trung Đoàn 44 BB đồn trú tại trại Lý Thường Kiệt, Sông Mao, một doanh trại rộng lớn của Sư Đoàn 5 BB, thời Đại tá Voòng A Sáng, bàn giao lại để di chuyển vào Vùng 3 CT. Sông Mao là một thị trấn nhỏ thuộc quận Hải Ninh, nằm phía Bắc Phan Thiết khoảng 60 cây số, cách Quốc Lộ 1 gần 2 cây số. Hầu hết dân chúng ở đây là người Nùng, đã theo chân Đại tá Voòng A Sáng và Sư Đoàn 3 Dã Chiến (tiền thân của Sư Đoàn 5 BB) từ vùng Mống Cái,Việt Bắc di cư vào đây tháng 8 năm 1954. Phía dưới là quận Phan Lý Chàm (Chợ Lầu). Dân chúng đa số là người Chàm. Có cả dinh cơ của bà công chúa cuối cùng của Vương quốc Chiêm Thành, với đền thờ vua, cờ xí, long bào và ấn tín. Cách đó không xa là mật khu Lê Hồng Phong nổi danh của du kích giải phóng.

Nhắc đến địa danh Sông Mao và mật khu Lê Hồng Phong, người ta nhớ tới mấy câu thơ nổi tiếng hào sảng của nhà thơ Nguyễn Bắc Sơn :

Mai ta đụng trận ta còn sống

Về ghé Sông Mao phá phách chơi

Chia sớt nỗi buồn cùng gái điếm

Đốt tiền mua vội một ngày vui

…..

Đêm nằm ngủ võng trên đồi cát

Nghe súng rừng xa nổ cắc cù

Chợt thấy trong lòng mình bát ngát

Nỗi buồn sương khói của mùa thu

Chuẩn Úy Nguyễn Bá Chính xin về Trung Đoàn 44 BB nhằm được gần quê quán. Anh được bổ sung về Đại Đội 1 thuộc Tiểu Đoàn 2/44. Đại Đội Trưởng là Trung Úy Nguyễn Văn Chánh và Tiểu Đoàn Trưởng là Đại Úy Ngô Văn Xuân (đến tháng 5 năm 1972 ông là Trung tá Trung Đoàn Trưởng). Một tháng sau khi về đơn vị, anh được vị sĩ quan trưởng khối CTCT Trung Đoàn biết anh là nhạc sĩ Dzũng Chinh nên xin biệt phái anh về Khối CTCT, tạm thời đảm trách Ban Văn Nghệ, mới được thành lập.

Vốn mang tính nghệ sĩ và sống phóng khoáng, nên anh thường (dù) về Phan Thiết chơi với bạn bè, nhiều lần vắng mặt tại đơn vị, nên bị trả lại Tiểu Đoàn, tiếp tục giữ chức vụ trung  đội trưởng tác chiến.

Đầu tháng 3 năm 1969, Tiểu Đoàn 2/44 di chuyển ra hành quân tại khu vực quận Ninh Phước thuộc Tiểu Khu Ninh Thuận. Đại Đội 1/2 đảm trách an ninh tại Văn Lâm, một làng của người Chàm, nằm phía Đông Nam tỉnh lỵ Phan  Rang khoảng 25 cấy số. Nhận tin tức của Phòng Nhì Tiểu Khu, cho biết có một mũi công tác của du kích quân từ mật khu núi Chà Bang (tiếng Chàm : Chơk Chabbang) sẽ về Văn Lâm thu thuế và thực phẩm, Tiểu Đoàn ra lệnh Đại Đội 1 cho một trung đội đến án ngữ dưới chân núi Chà Bang để phục kích toán du kích khi chúng trên đường ra Văn Lâm.

Trung Đội của Dzũng Chinh nhận lãnh trách nhiệm đặc biệt này. Đến địa điểm phục kích khoảng 7 giờ tối, Chuẩn úy Chính cho tiểu đội của Trung sĩ Luận ra nằm tiền đồn phía trước, bên con đường mòn dưới chân núi, cách trung đội chừng 500 mét, vừa theo dõi báo cáo bằng tín hiệu riêng khi địch quân xuất hiện, vừa làm nút chặn, khi đám địch bị trung đội tấn công, chạy ngược lại phía sau.

Khoảng 11 giờ tối, một toán người xuất hiện và lên tiếng: “Luận về đây”. Chuẩn úy Chính tưởng là Trung sĩ Luận đã dắt trung đội về, nên hỏi lại: “Sao Luận về sớm vậy ?” Một tràng súng nổ tức thì. Chinh ngã xuống.

Thì ra có một trùng hợp kỳ lạ, quái ác, đã đưa đến cái chết tức tưởi của Dzũng Chinh. “Luận về đây” lại là mật khẩu của quân du kích, trong đó cũng có tên Luận trùng với tên Trung sĩ Luận, người tiểu đội trưởng của Chính có nhiệm vụ tiền đồn. Du kích quân sợ bị phục kích nên đã chia làm hai toán, sử dụng lộ trình khác, không đi theo con đường mòn, nên tiểu đội tiền đồn của Trung sĩ Luận không phát hiện được. Chính vì sự ngộ nhận đáng tiếc này làm Dzũng Chinh đã hứng trọn một tràng đạn AK của quân. Đại Đội cho bắn trái sáng, kịp thời bao vây và truy kích tiêu diệt đám địch quân du kích.

Chính bị thương khá nặng. Được trực thăng của Mỹ tản thương kịp thời về Quân Y Viện Đoàn Mạnh Hoạch Phan Thiết. Nhưng vì vết thương quá nặng ở vùng bụng và ngực, nên sáng hôm sau Dzũng Chinh qua đời.

Cái chết oan uổng của Dzũng Chinh đã được bạn bè cùng đơn vị bàn tán khá nhiều với vài sự kiện mà mọi người cho là những điềm gỡ báo trước :

Ngày xưa lương lính thường không đủ xài, nhất là những khi được về thành phố, nên trước cuộc hành quân, Dzũng Chinh đến Ban Tài Chánh Trung Đoàn xin mượn lương trước. Vị sĩ quan tài chánh ngần ngừ, bảo sao mượn lương sớm thế. mới đầu tháng đã mượn, hơi khó xử cho ông. Dzũng Chinh gãi đầu năn nỉ:

– Thì Đại úy cứ xem như ứng trước tiền tử tuất cho tôi thôi mà.

Vị Đại úy cho mượn, nhưng rầy anh:

– Cậu chớ nói điều gỡ, không nên !

Sau đó, anh rủ hai người lính về thành phố Phan Thiết chơi. Không hiểu đụng chạm thế nào, nhóm anh đánh nhau với một nhóm lính hải thuyền. Trước ngày đi hành quân, anh nhận giấy báo của Quân Cảnh Tư Pháp Phan Thiết, gọi trình diện. Anh khoe với đám bạn bè trong một buổi nhậu rồi nói:

– Kỳ này tao đi luôn, xem thử lấy ai mà trình diện !

Không ngờ anh đã đi luôn thật.

Dưới chân núi Chà Bang, nơi Dzũng Chinh ngã xuống là một vùng đầy hoa sim. Tác giả nhạc phẩm “Những Đồi Hoa Sim” cuối cùng cũng đã nằm xuống trên ngọn đồi bạt ngàn hoa sim tím. Cái chết của Chuẩn úy Nguyễn Bá Chính, một trung đội trưởng bộ binh, cũng lặng lẽ như hàng vạn chiến sĩ vô danh khác đã anh dũng hy sinh trong cuộc chiến khốc liệt để bảo vệ quê hương, nhưng tên tuổi Dzũng Chinh được nhiều người tiếc thương, nhắc nhở, bởi vì anh là một nhạc sĩ trẻ tuổi, đã tạo nên một tác phẩm đi vào lòng người, và mãi ở lại với thiên thu. (theo Phạm Tín An Ninh)

Yên Huỳnh tổng hợp chuyển tiếp

Nghe nhạc : Những Đồi Hoa Sim – Phương Dung

https://youtu.be/k4b2UglfrWw

Liên khúc chuyên tình đồi hoa sim tím 1.2.3.4 (0:45’)

https://youtu.be/P_kLYUezLx

Lan Hương chuyển tiếp

NHÀ VĂN TRƯƠNG ĐẠM THỦY

Giới thiệu

nhà văn nhà thơ, nhà báo

TRƯƠNG ĐẠM THỦY

& truyện “MA XEM HÁT”

– Bài Nguyễn Việt

Nhà văn, nhà thơ Trương Đạm Thủy, tên thật Trương Minh Hiếu. Sinh năm 1940 tại Bến Tre. Anh từng đoạt giải truyện ngắn trên nhật báo Tiếng Chuông của ông Đinh Văn Khai vào đầu thập niên 1960 và sống chết với ngòi bút tại Sài Gòn cũng từ năm 1960 cho đến nay.

Tôi biết nhà văn Trương Đạm Thủy từ giữa thập niên 1960 từ tờ tuần báo Ngày Mới của ông Hoàng Phố lúc đó nằm ở số 54 Võ Tánh (nay là một siêu thị trên tên đường mới là Nguyễn Trãi) gần ngã sáu Phù Đổng; còn tôi chỉ là một “văn nghệ trẻ” đang tập tễnh vào đời. Lúc đó anh còn rất trẻ, viết truyện ngắn và làm thơ rất hay, cùng với Bình Nguyên Lộc, Phan Trần Duyên (Phan Yến Linh), Phương Triều, Ngô Tỵ thay nhau mỗi người mỗi tập truyện ngắn mỗi tuần.

Lúc đó tôi mê một truyện ngắn của Trương Đạm Thủy, một truyện có tên “Tháng giêng cỏ non” nói về một cô gái gánh nước mướn bị người cha dượng hãm hiếp không còn đời con gái, khi có một chàng trai ngỏ ý lấy cô làm vợ, cô gái khóc nói sợi dây thừng đã đứt, nếu cột thì vẫn còn tỳ vết” – loại dây câu móc thùng lấy từ giếng nước lên – để thấy một cô gái dù thất học nhưng luân lý đạo đức Á Đông vẫn luôn tồn tại trong đầu óc mọi người, luôn lấy tiết trinh đánh giá nhân phẩm của người phụ nữ.

Cô gái mang mặc cảm vì không còn tiết trinh để trao lại cho người yêu. Còn chàng trai trẻ không vì tính phong kiến của người đời, vẫn giang tay đón nhận thực tế dù cho có phũ phàng, để cùng người yêu đến một chân trời mới nơi đó chỉ có tháng Giêng mùa Xuân và cỏ non. Hay một bài thơ mang tựa “Thì thầm trong tối” mà tôi mê nhất một đoạn : “nếu biết tôi nghèo, em yêu tôi không / sự nghiệp trắng tay tóc xanh phiêu bồng / con tim nhỏ, mang nhiều thương tích lớn / Ước vọng chưa thành đời đã long đong…” diễn tả nội tâm của một anh nghèo đang yêu và mặc cảm trong tình yêu.

Và vì truyện và thơ Trương Đạm Thủy làm tôi say mê, thích lối văn phong bình dị mà sâu sắc, lãng mạn và trữ tình, và ai đọc cũng hiểu bởi văn chương thơ phú của anh không “xa hoa” với những ngôn từ “vĩ mô” theo mốt thời thượng bây giờ. Tôi xin làm em anh từ dạo đó.

Nhà văn Trương Đạm Thủy rất ít người thân, anh nói mồ côi cha mẹ từ dưới quê Bến Tre lên Sài Gòn kiếm sống, rồi anh dẫn tôi về trên một gác trọ nhỏ đang thuê trong hẽm đường Phan Thanh Giản khi xưa, để tiện dịp anh em gặp gỡ nhau hơn. Cũng từ đó tôi biết nhà văn Trương Đạm anh còn cộng tác với nhiều báo – từ giữa thập niên 1960 – như Lẽ Sống, Chuông Mai, Tia Sáng… và các tuần san tuần báo khác, đa phần do người miền Nam biên tập.

Sau này khi tôi về cộng tác với nhật báo Trắng Đen, anh đã có mặt ngay từ số báo đầu tiên phụ trách trang trong, giữ mục tuyển thơ cùng Cẩm Thi – Lý Dũng Tâm, Phan Trần Duyên, trang văn nghệ trẻ và một fueilleton. Khi anh bận bịu và không thích gò bó bị “đóng khung” của những người làm báo chuyên nghiệp, anh đã giao lại những khoản mục này cho tôi phụ trách để được tự do bay nhảy khắp các nơi.

Vì thế tôi biết cuộc đời nhà văn Trương Đạm Thủy rất “ba chìm bảy nổi”, lúc ngày xưa người ta đi xe gắn máy nhiều hơn đi xe hơi, thì anh đã có một chiếc xe “Đơ-chơ-vô con cóc” cầm lái chạy giật le với đời, tuy chiếc xe không mới tinh hoành tráng nhưng cũng đủ làm mọi người phải nhìn anh bằng đôi mắt thán phục.

Với nghề cầm bút, ít ai biết nhà văn Trương Đạm Thủy ngoài tài viết truyện ngắn, làm thơ anh còn viết fueilleton, giữ mục tuyển thơ cho nhiều tờ nhật báo và tuần báo vào thời trước 1975, nổi tiếng trong nhóm “Sông Hậu” cùng với các nhà văn nhà thơ khác như Hoài Điệp Tử, Tâm Đạm – Dương Trữ La, Ngô Tỵ, Phương Triều; nhóm này giờ đây chỉ còn có anh là đang sống để tiếp tục “dzung dzăng dzung dẻ” với văn nghệ và với cõi dương trần đang trong độ tuổi gần Bát Tuần này.

Và cũng ít ai biết nhà văn Trương Đạm Thủy còn là một võ sư hoặc từng kinh qua nhiều môn võ thuật khác như Vovinam, Thái Cực Quyền, Aikido… nhờ vậy sau những năm 1975 nhiều gia đình phải ăn cơm độn với bobo, còn gia đình anh vẫn có gạo trắng nước trong của miền đồng bằng sông Cửu Long để nấu nhờ vào tiền “bồi dưỡng” vào mỗi sáng anh dạy võ dưỡng sinh cho người cao tuổi nơi những công viên cây xanh.

Bây giờ cuộc sống mọi người đã khá hơn, còn anh thì lại “long đong” với phận già, viết chuyện phiếm, làm thơ, viết văn cho các báo để nhận nhuận bút từng bài rồi cùng các anh em tri kỷ của “một thời Sài Gòn” như nhà thơ Thiên Hà, như tôi – bởi người của một thời giờ xưa giờ đây không còn nhiều, có người đã khuất núi, có người đã đi xa – cùng vô CLB Văn Nghệ uống lai rai vài chai bia để nói chuyện “văn nghệ văn gừng” quá khứ hiện tại tương lai, rồi về ngủ một giấc, cho đến hôm sau tiếp tục kéo cày để tiếp tục hùn tiền uống bia cùng với mọi người, cho cuộc sống tồn tại của ngày hôm ấy luôn thấy vui vẻ, yêu đời.

Vào đầu thiên niên kỷ thứ III mọi người còn thấy nhà văn Trương Đạm Thủy một mình một ngựa sắt (chiếc “xế điếc” đòn dông) rong ruổi trên các đường phố đi tìm bạn bè thân hữu mới cũ cho qua ngày tháng. Cái năm mọi người đã bắt đầu đi xe gắn máy hàng hiệu, hàng thùng, thì anh chỉ có một cái xe cánh én loại “sơ-công-hen” dùng lã lướt cho khỏi mỏi gối chùng chân, đi từ ngã tư Xóm Gà – Gia Định (nơi anh đang sống) đến quán Văn Nghệ ngồi nhâm nhi bên ly bia và đấu láo mọi sự trên đời cùng mọi người – trừ chuyện “chính trị chính em”, anh không bao giờ hưởng ứng. Thấy vậy vào giữa năm 2009 vừa qua, đứa con trai lớn mới hay ra, anh thường vất vả khi cái “xế nổ” cũ xì này hay giỡ chứng giữa đường, đã sắm cho anh một chiếc xe gắn máy mới khui thùng. Bây giờ anh “yêu xe như con, yêu xăng như máu” chăm chút cho xe mỗi ngày.

Cuộc đời nhà văn, nhà thơ Trương Đạm Thủy là như thế, rất văn nghệ và sống bằng văn nghệ. Anh không luồn cúi, bi lụy ai để có một cuộc sống xuyênh xoang như mọi đồng nghiệp khác; mà sống tự tại bằng thế “đứng tấn” bởi hai chân cũng như bằng đôi tay còn cầm bút được. Nên không ai biết anh là nhà văn hội viên trong Hội Nhà Văn thành phố, vì anh cũng khá trầm tính và rất khiêm tốn không khoe khoang với những chức danh in trong danh thiếp, hay trong những tập truyện, thơ từng xuất bản cũng không có đôi dòng nói về tiểu sử hay cuộc đời của anh…

Còn nói về tình ái, nhà văn nhà thơ nào mà không lãng mạn, ngày anh còn trẻ đã yêu đơn phương một chị làm “thầy cò” trên báo Ngày Mới, đến giờ anh vẫn còn nhắc đến tên Họa Mi của chị, rồi hỏi tôi có còn gặp không. Nói như thế không phải nhà văn nhà thơ Trương Đạm Thủy không chung tình, chung thủy; trước 1975 anh cưới vợ, vợ anh làm ở một hãng dược phẩm trên đường Nguyễn Bỉnh Khiêm đến nay vẫn “đầu gối tay ấp” mặn nồng bên nhau cùng với hai con. Con trai anh hiện giờ đang thành đạt trên trường đời, con gái đã lấy chồng đi theo chồng xa xứ. Nên ngày ngày anh vui với những đứa cháu nội sau những giờ không đi tìm bạn bè thân hữu…uống bia.

Có lẽ tôi chỉ biết về nhà văn, nhà thơ, nhà báo Trương Đạm Thủy chỉ có bấy nhiêu, và nhưng có lẽ cũng đã gói ghém hết cuộc đời và sự nghiệp văn thơ của anh trong bài viết này, không còn thiếu xót bao nhiêu, nếu có, xin mọi người cho thêm những đóng góp phản hồi.

Những tác phẩm của nhà văn nhà thơ Trương Đạm Thủy đã xuất bản vào thập niên 1960 – 1975 : Miền đất hồi sinh (tập truyện), Cành cây nước lũ (tiểu thuyết), Chuyện những dòng sông (tập truyện).

Từ thập niên 1990 : Không có tình yêu (tiểu thuyết), Bên kia bờ cỏ xanh (tiểu thuyết), Như lá vàng bay (tiểu thuyết).Vào thập niên thế kỷ 21 : Thơ tình Trương Đạm Thủy, Hát xẩm giữa đêm (thơ) – Hợp tuyển thơ Bến Tâm Hồn 1, 2 (Một thời Sài Gòn), 3 (Tôi còn kỷ niệm). Đang thai nghén tập truyện ngắn : Vượt vũ môn

Nguyễn Việt

Sau đây xin giới thiệu đến các bạn một truyện ngắn của nhà văn Trương Đạm Thủy :

MA XEM HÁT

Mới đó mà gần hết mùa đông, chỉ còn hơn mươi ngày nữa đã đến xuân rồi. Đêm càng thêm lạnh. Mấy đứa trẻ ngồi làm một vòng tròn cạnh ngoại Bảy dưới mái hiên nhà ngoại. Ngọn đèn bão treo trên cây xà đỡ mái hiên lắc lư trong ngọn gió bấc hắt hiu. Ngoại Bảy têm miếng trầu nhai tóp tép như để nhớ lại chuyện đời xửa đời xưa…

Gánh hát nghèo

– Hồi đó ngoại còn nhỏ lắm, như tụi bây thời bây giờ. Mẹ ngoại, tức bà cố cũng làm bà đỡ như ngoại. Chuyện bà cố đi đỡ đẻ về khuya gặp ma quỉ yêu tinh coi như chuyện cơm bữa bởi hồi đó làng mình còn hoang vu lắm. Nhà cửa thưa thớt, cách nhau năm sáu tiếng hú mới có người nghe. Hồi đó có một gánh hát nghèo, cố nói gánh đó thường di chuyển trên ghe, nay làng nầy mai làng khác hát để kiếm cơm nuôi đoàn nghệ sĩ cũng nghèo như gánh. À, đó là gánh hát của ông bầu Hớn.

Hôm đó mới hơn ba giờ chiều từ xa trên con sông chảy qua làng mình đã nghe thấy tiếng trống hiệu vang lên. Người lớn, trẻ em đều náo nức reo lên: “Gánh hát về ! Có gánh hát về !”. Nửa giờ sau có hai chiếc ghe lớn cặp bến chợ. Bầu Hớn nhảy lên bờ chạy lên Nhà Việc, tức là nơi các ông hương chức hội tề làm việc, xin phép tắc. Dễ thôi, chỉ cần dành nguyên hàng ghế mời danh dự cho hương cả, hương chủ, hương thân, hương hào, hương quản… là xong thôi.

Gánh hát Bầu Hớn nhìn qua đã thấy nghèo rồi, từ bầu gánh đến đào kép đều quần áo lôi thôi. Phông màn của gánh hát thì cũ kỷ có cái rách dọc ngang phải đắp vá nhiều chổ.

Ngoại Bảy nhả miếng trầu châm một điếu thuốc. Ngưng nghỉ giây lâu ngoại tiếp:

– Được làng xã chấp thuận cho hát xong bầu Hớn vội vả cho dựng sân khấu ngay trong lòng chợ. Bảng quảng cáo tuồng “Phạm Công – Cúc Hoa” được dựng ngay trước cửa chợ. Trống và phèn la cũng được các “cậu chài” nổi lên inh ỏi.

Năm đó các làng xã bị hạn hán thất mùa nên gánh bầu Hớn đã đi hát một tháng ròng mà đào kép đói vẫn đói bởi chẳng có ai có tiền để đi coi hát. Đến làng nầy bầu Hớn hy vọng khán giả khá hơn để toàn thể nhân viên còn có cơ may chịu đựng. Trời sụp tối trống phèn la càng thúc giục nhưng chỉ ngoài đám trẻ con quần áo lôi thôi lếch thếch ra chẳng thấy có một người lớn nào đến xem.

Mặt mày bầu Hớn nhăn nhó thảm hại. Nếu như đêm nay ế khách thì ngày mai đào kép lấy gì ăn? Ông Hớn cứ đi ra đi vào cửa chợ ngóng khách, cũng chẳng thấy ai ngoài một ít người kẻ chợ lác đác trước sân chợ.

Đám trẻ chắc lưỡi :

– Tội nghiệp ông bầu quá hả ngoại ?

Ngoại buồn buồn :

– Ờ, tội nghiệp đời xướng ca ba chìm bảy nổi quá. Đêm ấy ngoài các ông hương của làng xã và năm ba khán giả khá giả ra cả rạp hát trong lòng chợ vắng hoe vắng hoắc. Bầu Hớn đành cho diễn mà trong bụng khóc ròng. May sao tuồng diễn hay quá nên các ông hội tề thương tình hùn nhau cho mấy bao gạo và chục con gà con vịt cho đào kép có gì lót dạ qua đêm.

Đêm hát vãng, bầu Hớn rầu rỉ đi ra ngoài sân chợ rồi thẫn thờ đi xuống bến sông. Chợ làng khuya càng thêm vắng vẻ, con trăng khuyết đầu tháng trôi bềnh bồng trên nền trời như con thuyền vô chủ đứt dây neo. Bỗng từ đâu đó dưới bến sông đi lên một người dàn bà mặt hoa da phấn. Vừa đến gần bầu Hớn người dàn bà đã lên tiếng :

– Có phải ông đây là bầu Hớn ?

Bầu Hớn mau mắn :

– Ừ, tôi là bầu Hớn đây.

Người dàn bà mỉm cười :

– Tôi biết gánh hát của ông đang ế nên đến giúp ông. Mai ông lui ghe đi đến hát chỗ làng tôi đi, bảo đảm có hơn trăm khách. Mà không lo, tui bao dàn.

– Làng của cô đây là làng nào, ở đâu ?

– Tui chỉ cho. Mai lúc nước lớn ông cho ghe đi ngược về phía dòng nước, đi đến lúc trời sụp tối sẽ thấy có người cầm đuốc ra bờ sông đón. Đừng lo, sân khấu đã có người dựng sẵn, đến là hát ngay lại có gà qué, heo cúi để các người ăn khuya. Đây, tui đặt trước cho lượng vàng, ngày mai nhớ làm đúng lời tui dặn.

Bầu Hớn mừng rỡ :

– Dạ dạ, ngày mai đúng giờ nước lớn chúng tôi sẽ lui ghe.

Hôm sau mới sáng bầu Hớn đả cho nhân viên chuẩn bị hòm trấp đưa lần xuống ghe. Đến trưa chợ vắng người thì đưa tiếp phông màn xuống. Đào kép thì di chuyển từ người một. Họ lui ghe mà như đi ăn trộm vì sợ các ông hội tề cản trở bởi xin phép hát mười ngày cớ sao mới một đêm mà lặn mất ?

Đến giờ nước lớn nhớ theo lời dặn bầu Hớn cho lịnh lui ghe. Chẳng biết có ma quỉ nào che chở không mà bầu đoàn đào kép của gánh bầu Hớn có cả ba bốn mươi người ra đi lúc mới xế chiều mà cả chợ, cả ban hội tề cũng chẳng ai thấy chẳng ai hay.

Mặt trời xế dần, xế dần… Hai chiếc ghe của gánh bầu Hớn bắt đầu đi vào một đoạn sông cây dừa nước, cây bần, cây tạp mọc um tùm. Chiều dần xuống đoạn sông càng hoang vắng. Lũ chim nghe mái chèo khua động cất cánh bay tán loạn. Cảnh vật hoang vu quá làm ai nấy trên thuyền đều lo sợ. Riêng bầu Hớn nhờ có cây vàng lận lưng nên vẫn hớn hở chỉ tay cho thuyền đi tới.

Rồi mặt trời cũng thấp dần, thấp dần. Phía trước mũi thuyền đỏ như máu màu nắng quái hoàng hôn. Hai bên bờ sông cây cối đã chìm lẫn vào bóng tối mờ ảo. Bản thân bầu Hớn cũng bắt đầu lo lắng tự hỏi : “Hay là bọn cướp dụ mình đến đây để cướp của giết người ? Nhưng bây giờ cũng chẳng làm sao quay ghe lại được. Vàng của người ta mình đã nhận, dành một liều một ăn một thua”.

Đang nghĩ vẫn vơ như vậy đột nhiên phía bên phải thuyền trên bờ sông đã thấy có người mặc toàn đồ trắng tay quơ quơ ánh đuốc. Bầu Hớn mừng rỡ ra lệnh cho thuyền cặp vào. Lại xuất hiện thêm hàng chục người cùng xuống thuyền khuân vác hộ rương trấp phông màn.

Theo chân đoàn người tiếp đón, đoàn bầu Hớn đi dưới ánh đuốc qua một đoạn rừng cây thưa thì bỗng trước mắt đoàn hiện ra một thôn xóm sầm uất, nhà ngói tường vôi san sát, đèn sáng như sao sa. Đi thêm một khắc đã thấy một rạp hát bề thế, đèn “măng sông” treo hàng chục chiếc. Chung quanh rạp lại treo đầy đèn lồng ánh sáng tỏa ra thật đẹp. Người thiếu phụ hôm qua xuất hiện chào đón nồng nhiệt bầu Hớn. Thiếu phụ tươi cười :

– Rạp, sân khấu, phông màn đã chuẩn bị đâu đó xong xuôi. Đêm nay ông cho diễn luôn hai tuồng “Phạm Công – Cúc Hoa” và “Phụng Nghi Đình” cho làng xem cho thỏa mãn.

Bầu Hớn cười khổ :

– Làm sao một đêm mà diễn được hai tuồng ?

Nữ nhân khoát tay :

– Không lo, đêm nay sẽ dài lắm. Cứ diễn, diễn hết một tuồng sẽ có cháo gà, cháo vịt chiêu đãi để lấy sức. Rồi còn heo qué muốn ăn thứ gì có người lo thứ đó.

Đoàn bầu Hớn vào rạp đã thấy choáng váng bởi cảnh trí rực rỡ ở đây. Sân khấu với phông màn cực kỳ lạ mắt. Đèn màu giăng mắc khắp nơi, lại nghe một mùi hương gì đó như hương nhang cúng. Được một lát thì đàn sáo nổi lên rôm rả như nhạc đám ma. Rồi từng đoàn, từng đoàn khán giả đủ cả già trẻ lớn bé có cả trăm người lần lượt vào rạp.

Nhìn khán giả đông đảo chất kín rạp làm bầu Hớn vô cùng hoan hỉ. Vị nữ nhân xuất hiện căn dặn :

– Bây giờ ông cho diễn đi, đừng lo gì cả. Hôm nay tui bao dàn. Ngoài tiền mua dàn, diễn hay còn có thưởng hậu.

Quá sướng bầu Hớn cho lệnh diễn. Được tin sẽ có nhiều tiền ban thưởng nên ai nấy đều ra sức ca diễn sao cho thật hay. Cứ mỗi lớp tuồng hay đều được khán giả phía dưới ném tiền lên ào ào như bươm bướm, bầu Hớn cho người ra sân khấu lượm ôm cả ôm không hết.

Xong vở Phạm Công – Cúc Hoa ra sau rạp hát đã thấy bày dãy tiệc đầy thịt thà gà cháo cho các nghệ sĩ giải lao. Ai nấy no nê lại thấy tiền thưởng quá nhiều nên mọi người lại nức lòng diễn tiếp tuồng hai, rồi đền tuồng thứ ba. Mà lạ quá, sao đoàn hát cứ diễn hoài mà đêm vẫn chưa hết, hình như đêm vẫn còn dài lắm. Song cứ diễn, cứ ăn uống, cứ có tiền thưởng nên ai nấy đều hưng phấn phô diễn hết tài năng.

Hết Phạm Công – Cúc Hoa đến Lưu Kinh Đính Giải Giá Thọ Châu lại đến Lữ Bố Hí Điêu Thuyền rồi Tôn Tẩn Giả Điên mà trời vẫn chưa sáng. Dù được cho ăn uống thỏa thuê nhưng các diễn viên tài tử, nghệ sĩ của gánh hát bầu Hớn đều quá mệt mỏi. May sao khi họ sắp hết hơi thì tiếng gà ran trong thôn xóm mé Đông đã chợt gáy.

Đám khán giả nháo nhác đứng dậy. Nữ nhân bao dàn nhét vội vào tay bầu Hớn mấy thỏi vàng lớn rồi biến mất. Cả đoàn hát sau đó tự nhiên rơi vào giấc ngủ say sưa chưa từng có. Từ bầu gánh cho đến đào kép, nhân viên đều lăn ra sân khấu ngủ say như chết, tiếng mớ, tiếng ngáy vang lên khắp nơi.

Mãi cho đến tận trưa mới có người đến lay bầu Hớn :

– Chú Hớn, chú Hớn dậy đi, sao cái gì lạ quá !

Bầu Hớn dụi mắt nạt :

– Lạ lạ cái gì, tao đang ngủ mà.

– Dậy, lạ lắm chú ơi !

Bầu Hớn mở mắt ra nhìn quanh rồi kêu “Trời” một tiếng đoạn ngất xỉu. Bởi lạ thật ! Chung quanh xóm làng nhà ngói tường sơn, rạp hát lộng lẫy đâu biến mất hết rồi. Cả đoàn hát, từ đào kép đến mấy cậu chài đều đang nằm ngủ say như chết giữa một bãi tha ma mồ cao mả thấp, bia mộ cái đứng cái xiêu. Chung quanh những người nằm ngủ thì la liệt những tờ giấy tiền âm phủ.

Khi bầu Hớn tỉnh dậy ông sờ túi thấy còn mấy thỏi vàng liền mở ra, ai ngờ chỉ là vàng mả. Sợ hết cả hồn ông gào lên :

– Lui ghe mau lên, đêm rồi chúng ta hát cho những con ma ở nghĩa địa nầy. Lui ghe lẹ lên.

Cả đoàn chạy ra hai chiếc ghe thì thấy cả hai chiếc ghe đang nằm chơ vơ trên một bãi sông cùn chung quanh đầy lau sậy không một bóng người… Ngoại kể một hơi rồi kết :

– Nhưng nghe nói sau đêm diễn tuồng cho ma coi thì gánh hát của bầu Hớn bắt đầu phất lên, diễn ở đâu là có đông khán giả đến đó. Có khán giả không muốn đi xem hát rồi cũng như bị ai ám vẫn phải kiếm tiền mua vé đi xem cho bằng được. Có người trong đoàn hát nói là những con ma mê tuồng hát đã trả ơn cho gánh hát của bầu Hớn. Có người còn luận : Ma coi vậy chớ cũng có tình nghĩa, làm ơn cho nó, nó chẳng quên ơn…

Trương Đạm Thủy

CÂU CHUYỆN “CHÙA HƯƠNG”

CÂU CHUYỆN “CHÙA HƯƠNG”

Qua thi phẩm của :

NGUYỄN NHƯỢC PHÁP

– Bài Nguyễn Việt

Nói đến nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp phải nhớ đến bài thơ nổi tiếng “Chùa Hương” của ông và nhạc phẩm “Đi chùa Hương” của nhạc sĩ Trung Đức.

Nguyễn Nhược Pháp sinh ngày 12/12/1914, ở xã Phượng Dực, huyện Phú Xuân, Hà Nội. Là con trai của nhà văn, nhà báo, dịch giả, học giả Nguyễn Văn Vĩnh còn là một ông chủ nhà in mang tên Trung Bắc Tân Văn ở xứ Bắc thời kỳ bấy giờ; còn mẹ ông là bà vợ hai của cụ Vĩnh tên Hai Lựu. Đến giờ không ai rõ tên bà Hai Lựu, chỉ biết bà người cao ráo, trắng trẻo, giao du rộng, nói thạo tiếng Pháp và sử dụng súng ngắn rất thành thạo.

Trong gia đình, Nguyễn Nhược Pháp có các người anh cùng cha khác mẹ, thuộc dòng bà cả, gồm nhà thơ Nguyễn Giang (về sau ông này là bạn thân của họa sĩ Picasso) sinh ở Bắc Giang; người anh thứ tên Nguyễn Dực sinh ở Phượng Dực, Nguyễn Phổ sinh vào thời điểm chiến tranh Pháp – Phổ và Nguyễn Hồ anh út.

Khi đi học Nguyễn Nhược Pháp học tại trường Albert Sarraut và sau khi thi đậu tú tài, ông vào học tại trường Cao đẳng Luật Đông Dương. Nhưng sau đó như để nối nghiệp cha, lúc thành tài ông không vào làm bất kỳ ngạch quan lại hoặc công chức nào trong chính quyền, mà làm thơ viết văn làm báo.

Nguyễn Nhược Pháp làm thơ rất sớm ngay thuở còn mài đủng quần nơi ghế nhà trường; vì theo nghề cha nên ông từng viết cho các báo Annam Nouveau, Hà Nội Báo, Tinh hoa, Đông Dương Tạp chí. Truyện ngắn và kịch của ông có lẽ không phổ biến nhiều và không nổi tiếng bằng thơ. Ngoài thi phẩm “Chùa Hương”, nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp còn có những bài thơ khá nổi tiếng khác như “Tay Ngà” và “Sơn Tinh Thủy Tinh” (bài thơ này ông viết tặng Nguyễn Giang con bà cả).

Năm 1936 lúc nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp đã hơn hai mươi hai tuổi, ông đang nổi tiếng với tập thơ “Ngày xưa”, gặp phải cái chết bất đắc kỳ tử của thân sinh là cụ Nguyễn Văn Vĩnh, từ đó gia cảnh đang thuộc hàng giàu có ở Hà Thành bỗng dưng sa sút, có thể từ hoàn cảnh đó đã khiến cuộc đời người thi sĩ tài hoa này đã bước sang hướng khác.

Nên từ thời điểm đó cho đến khi Nguyễn Nhược Pháp qua đời chỉ vài năm sau, ông không có thêm tập thơ nào cũng như một bài thơ nào nổi bật, kể cả người gần gủi với ông về mặt tinh thần tức nhà thơ, nhà văn, nhà báo Nguyễn Vỹ cũng không đề cập đến thân thế của ông nhiều trong cuốn “Văn thi sĩ tiền chiến”.

Người tài thường đoản mệnh, nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp qua đời lúc ông mới 24 tuổi vào ngày 19/11/1938, do bệnh thương hàn.

Tác phẩm Nguyễn Nhược Pháp đã in có Ngày xưa (Nguyễn Dương xuất bản, Hà Nội 1935), Người học vẽ (kịch bản, xuất bản 1936 Hà Nội).

Trong thi phẩm “Ngày xưa”, nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp đã sắp xếp thứ tự như sau : Sơn Tinh Thủy Tinh (Avril 1933), thất ngôn; Mỵ Châu (Janvier 1933), thất ngôn; Giếng Trọng Thủy (Janvier 1933), thất ngôn; Tay ngà (2 Mai 1934), ngũ ngôn; Mỵ Nương (Mai 1933), thất ngôn bát cú; Một buổi chiều xuân (6 Mai 1933), ngũ ngôn; Nguyễn Thị Kim khóc Lê Chiêu Thống (30 Décembre 1932), thất ngôn bát cú; Đi cống (10 Mai 1933), thất ngôn; Mây (25 Janvier 1934), ngũ ngôn và Chùa Hương (Aout 1934), ngũ ngôn.

Hai nhà phê bình văn học Hoài Thanh và Hoàn Chân đã viết trong cuốn “Thi nhân Việt Nam” về ông :

– Nguyễn Nhược Pháp in ra rất ít mà được người ta mến rất nhiều, tưởng không ai bằng Nguyễn Nhược Pháp…. Đọc thơ Nguyễn Nhược Pháp, lúc nào hình như cũng thoáng thấy bóng một người đương khúc khích cười. Nhưng cái cười của Nguyễn Nhược Pháp khác xa lối bông lơn, khó chịu của các ông tú, từ Tú Xuất, Tú Xương đến Tý Mỡ. Nó hiền lành và thanh tao. Nội chừng ấy có lẽ cũng đủ cho nó có một địa vị trên thi đàn. Nhưng còn có điều này nữa mới thật quý : với Nguyễn Nhược Pháp nụ cười trên miệng bao giờ cũng kèm theo một ít cảm động trong lòng. Bài thơ “Chùa Hương” nổi tiếng của ông đã được ca sĩ kiêm nhạc sĩ Trung Đức và giáo sư  Trần Văn Khê phổ nhạc.

…Tôi đọc thơ ông để cảm, để vui giây bâng khuâng của một lứa tuổi thanh xuân nào đó. Nguyễn Nhược Pháp hay kể chuyện bằng thơ, chuyện Sơn Tinh Thủy Tinh, chuyện đi Chùa Hương, chuyện Đi Cống sứ vân vân… nhưng kể mà gợi lại được những huyền thoại xưa, kể mà làm lưu luyến người đọc, nghệ thuật kể chuyện bằng thơ… có lẽ chỉ có một Nguyễn Nhược Pháp mà thôi vậy.

Bài thơ “Cô gái chùa Hương” khi in vào tập “Ngày Xưa” thì hai chữ Cô gái bị bỏ đi, chỉ còn Chùa Hương. Bài thơ trước đây đã được nhạc sĩ Trần Văn Khê phổ nhạc song không được phổ biến rộng rãi. Phải tới gần 60 năm sau, nghệ sĩ Trung Đức qua lần đi Hương Sơn cảm tác đã phổ nhạc bài thơ, thêm bớt lời để thành bài hát “Em đi chùa Hương”. Ngay từ lần phát sóng đầu tiên, nhạc phẩm này đã được đông đảo thính giả ưa thích và nhanh chóng được phổ biến rộng rãi…

Đến nay, bài thơ Chùa Hương” đã gần 80 tuổi, Nguyễn Nhược Pháp đã qua đời được 80 năm, song “Chùa Hương” cùng tên tuổi nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp vẫn sống mãi với Chùa Hương cùng với thời gian…

Xuất xứ bài thơ “Chùa Hương”

Trong cuốn “Văn sĩ thi sĩ tiền chiến” của nhà thơ Nguyễn Vỹ, (chủ nhiệm bán nguyệt san Phổ Thông; từng là bạn chơi thân với Nguyễn Nhược Pháp, vì Nguyễn Vỹ chỉ hơn Nguyễn Nhược Pháp 4 tuổi. Nhà thơ Nguyễn Vỹ sinh ở đất Quy Nhơn nhưng thành danh ở đất Hà thành, và sau khi vào sống ở Sài Gòn, nhà thơ này càng nổi tiếng với bài Gửi Trương Tửu); trong cuốn “Văn thi sĩ tiền chiến” chúng ta có thể xác định được thời điểm ra đời của thi phẩm “Chùa Hương” vào khoảng năm 1935.

Theo Xuân Ba kể về xuất xứ của bài thơ “Cô gái Chùa Hương” như sau :

– Chuyến đi chùa Hương vào tháng Giêng âm lịch năm ấy, gồm có Nguyễn Nhược Pháp và Nguyễn Vỹ cùng hai cô bạn (không rõ đây có phải là người yêu của hai chàng ?). Hai cô này thuộc dạng phụ nữ tân thời và có lẽ là con nhà khá giả, nên một trong hai cô có đem theo cả máy chụp hình. Mà máy chụp hình khi đó là của hiếm, nhà giàu có mới sắm nổi…

Qua đò suối Yến là cả nhóm bắt đầu đi xuyên qua rừng mơ. Trên lối mòn khúc khuỷu, cây đá gập ghềnh, cả bọn gặp một cô gái độ tuổi trăng tròn bận quần lĩnh áo the đang dắt tay một bà, không rõ là bà hay mẹ ? Khi hai người đi miệng luôn khe khẽ niệm Phật. Cả bọn liền vượt lên nhưng không hiểu sao Nguyễn Nhược Pháp đứng sững lại bên hai người, tức thì cô gái bặt luôn tiếng niệm Phật. Nguyễn Nhược Pháp mới khẽ hỏi tại sao cô không niệm tiếp, giọng niệm Phật nghe hay lắm… Cô gái nọ đỏ bừng mặt e thẹn cúi đầu không nói…

Vừa lúc ấy, một trong hai cô bạn của Nguyễn Vỹ và Nguyễn Nhược Pháp có máy chụp hình, quay ngược lại thấy cảnh ấy liền bấm máy chụp ngay một “pô” ! Từ lúc đó đến lúc qua chùa Tiên Sơn rồi tối ngủ lại trong chùa để sáng hôm sau ra về, cả bọn đều không gặp lại bà cụ với cô gái nọ. Dù là thế nhưng hai cô bạn gái lại có ý phiền trách, thậm chí lạnh nhạt với Nguyễn Nhược Pháp và cả Nguyễn Vỹ về động thái “người đâu gặp gỡ làm chi ấy…” Tuy có hờn giận nhưng khi về đến Hà Nội, cô gái vẫn đưa tấm ảnh chụp cảnh Nguyễn Nhược Pháp đang đứng bên cô gái quần lĩnh áo the đó ! (nay tấm ảnh này cũng đã thất lạc).

Nguyễn Nhược Pháp đâu có để tâm đến tấm hình chụp. Mà chàng đang bận tâm chuyện khác. Chàng đưa bài thơ “Cô gái Chùa Hương” viết chưa ráo mực cho Nguyễn Vỹ xem, nội dung tưởng tượng thêm nhiều sự kiện, từ cảnh gặp gỡ bất chợt đến khi rời chùa Hương Tích ra về… Bài thơ lúc đầu có tên là “Cô gái chùa Hương” sau đưa vào tập thơ “Ngày xưa”, Nguyễn Nhược Pháp bỏ hai chữ đầu còn lại là “Chùa Hương”.

Ngày hôm ấy Nguyễn Nhược Pháp ngỏ ý với Nguyễn Vỹ đưa bài thơ vào một cuốn thơ của mình mà lâu nay đang có ý xuất bản. Nhưng khi đó đang kẹt tiền. Nhà thơ Nguyễn Vỹ mới gợi ý là xin ông bố (tức cụ Nguyễn Văn Vĩnh). Nhưng Nguyễn Nhược Pháp e dè sợ ông cụ rầy trách rồi vứt vào sọt rác khi biết Nguyễn Nhược Pháp làm bài thơ ấy ! Nguyễn Vỹ lại mách nước thế thì xin cụ bà vậy ? (tức bà cả ngôi thứ trên mẹ ruột của ông, nhưng thương ông như con dứt ruột sinh ra) Nguyễn Nhược Pháp đồng ý. Và tập thơ “Ngày xưa” của Nguyễn Nhược Pháp, trong đó có bài Chùa Hương ra đời năm 1935.

Một giai thoại khác cũng kể về xuất xứ bài thơ “Chùa Hương” của Nguyễn Nhược Pháp :

– Trong bài thơ Chùa Hương, chàng thi sĩ 20 tuổi đã thể hiện tình cảm của mình với cô bé 15 tuổi thanh tao đến thánh thiện, đằm thắm mà không uỷ mị, nồng cháy mà vẫn thanh lịch, trữ tình mà tinh tế, cả tâm hồn và hiện thực hoà quyện vào nhau hài hoà khiến Chùa Hương có vị trí xứng đáng trên thi đàn.

Thi phẩm Chùa Hương ra đời trong hoàn cảnh rất kỳ thú. Hội Chùa Hương năm 1934, ông cùng nhà văn Nguyễn Vỹ và hai người bạn nữ sinh Hà thành đi trẩy hội. Đến rừng mơ, hai văn nhân gặp một bà mẹ cùng cô gái độ tuổi trăng rằm vừa bước lên những bậc đá vừa niệm phật “Nam Mô Cứu Khổ Cứu Nạn Đại Từ Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát”.

Vẻ đẹp thánh thiện mang nét chân quê của cô gái đã hớp hồn hai chàng thi sĩ khiến họ trân trân nhìn quên cả hai bạn gái cùng đi. Nguyễn Nhược Pháp lại gần hỏi :

– “Tại sao trông thấy chúng tôi cô lại không niệm Phật nữa ?”

Cô gái bối rối, thẹn thùng như muốn khóc. Hai người bạn gái gọi hai chàng thi sĩ để đi tiếp nhưng họ đã bị hớp hồn, tai đâu còn nghe thấy. Giận dỗi, họ bỏ đi. Lúc bừng tỉnh, hai văn nhân không thấy các cô đâu, vội len thốc len tháo, lách qua những dòng người đang trẩy hội nhưng tìm đâu cho thấy. Mệt và ngán ngẩm, hai thi sĩ quay lại tìm cô gái chân quê thì cả hai mẹ con cũng đã lẫn vào dòng người.

Đêm đó, Nguyễn Nhược Pháp không sao chợp mắt được. Hình ảnh cô gái chân quê đi chùa Hương khiến ông xúc động viết lên những vần thơ có sắc màu tươi vui, hình ảnh ngộ nghĩnh, cả hồn người lẫn vẻ đẹp của ngày xưa hiện lên trên từng câu, từng chữ.

Thân thế nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp

Nói về thân thế của nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp, ở phần sơ lược tiểu sử trên chúng ta đã biết, mẹ ruột của ông tức bà Hai Lựu, vợ hai của cụ Nguyễn Văn Vĩnh. Và trong những giai thoại có kể đến mối tình này :

Thời gian ấy cụ Nguyễn Văn Vĩnh rất giàu có, khai thác một khách sạn ở phố Hàng Trống, làm chủ nhà in Trung Bắc Tân Văn tại ngay trung tâm Hà Nội. Cả hai nơi là địa điểm gặp gỡ giao du của những tao nhân mặc khách và của những người có máu mặt của đất Hà thành. Người đẹp Hai Lựu cũng đã lọt vào mắt xanh ông chủ bút kiêm xuất bản hào phóng Nguyễn Văn Vĩnh khi đến nơi đây.

Đến bây giờ chưa ai biết rõ họ tên thật của bà Hai Lựu tức thân mẫu nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp, cũng như xuất xứ quê quán ở đâu. Chỉ biết khi ấy bà là một người đẹp có danh phận, con gái yêu của một thổ ty giàu có ở mạn ngược vùng Lạng Sơn, và có họ gần với Tổng đốc người Tày Vi Văn Định (?). Sau này, do nhiều nguyên nhân, các con cháu của cụ Nguyễn Văn Vĩnh không có điều kiện để tìm hiểu gốc gác của bà Hai Lựu mẹ kế của họ như thế nào.

Đặc biệt là bà Hai Lựu biết sử dụng súng ngắn rất thành thạo, và luôn có súng trong người ! Khi bà đã thành thân với cụ Nguyễn VănVĩnh sinh được Nguyễn Nhược Pháp, bà từng có các mối giao du khá rộng nên khá thân với bà Suzanne, vì thế có lần bà Hai Lựu giới thiệu Suzanne với chồng người bạn thân của bà để tiện giao thiệp.

Với tính phong lưu đa tình như cụ Nguyễn Văn Vĩnh lúc ấy, cụ làm sao để tuột mất người đẹp Suzanne khả ái đó. Cho nên mọi người phát hiện ra, rồi báo chí Hà Nội bấy giờ đã đăng mập mờ chuyện lén lút vụng trộm giữa cụ với người đẹp Suzanne. Làm bà Hai Lựu nổi cơn ghen, trong mình mang súng ngắn đáp xe đến trang trại nổi tiếng của Suzanne bên Gia Lâm, định phải quấy một phen với chính người bạn thân của bà !

Khi bà Hai Lựu đến nơi, cơn ghen cũng đã hạ hỏa và có lẽ do giữ thanh danh cho chồng, phần chợt trỗi chút thiên lương nên bà hạ súng ! Trái lại bà đã chọn cho mình một cái chết tức tưởi, bỏ lại cậu con trai khi đó mới lên hai tuổi chính là thi sĩ đoản mệnh Nguyễn Nhược Pháp.

Người xưa có câu : Chết cha ăn cơm với cá / Chết mẹ liếm lá đầu đường…

Tuy mồ côi mẹ, nhưng cậu bé Nguyễn Nhược Pháp từ năm lên hai tuổi đó đã may mắn được lọt trong vòng tay thân ái của bà vợ cả của cụ Nguyễn Văn Vĩnh, cho đến ngày ông qua đời.

Lễ Hội Chùa Hương (trích Wikipedia)

Chùa Hương và động Hương Tích là danh lam nổi tiếng của Việt Nam thuộc xã Hương Sơn, huyện Mỹ Ðức, tỉnh Hà Tây, cách Hà Nội khoảng 70km. Hàng năm, mỗi độ xuân về hoa mơ nở trắng núi rừng Hương Sơn, hàng triệu phật tử cùng tao nhân mặc khách khắp 4 phương lại nô nức trẩy hội chùa Hương. Hành trình về một miền đất Phật – nơi Bồ Tát Quan Thế Âm ứng hiện tu hành, để dâng lên Người một lời nguyện cầu, một nén tâm hương, hoặc thả hồn bay bổng hòa quyện với thiên nhiên ở một vùng rừng núi còn in dấu Phật.

Hội chùa Hương được tổ chức vào ngày 6 tháng Giêng hàng năm và kéo dài đến hết tháng 3 âm lịch. Tuy nhiên, không chỉ trong mùa lễ hội, hằng ngày vẫn có hàng ngàn lượt người đến vãn cảnh chùa. Hội chùa Hương diễn ra trên địa bàn xã Hương Sơn, trong địa phận huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây. Xã gần sáu thôn : Tiên Mai, Phú Yên, Hội Xá, Đục Khê, Yến Vĩ và Hạ Đoàn.

Quần thể chùa Hương có nhiều công trình kiến trúc rải rác trong thung lũng suối Yến. Khu vực chính là chùa Ngoài, còn gọi là chùa Trò, tên chữ là chùa Thiên Trù. Chùa nằm không xa bến Trò nơi khách hành hương đi ngược suối Yến từ bến Đục vào chùa thì xuống đò ở đấy mà lên bộ. Tam quan chùa được cất trên ba khoảng sân rộng lát gạch. Sân thứ ba dựng tháp chuông với ba tầng mái. Đây là một công trình cổ, dáng dấp độc đáo vì lộ hai đầu hồi tam giác trên tầng cao nhất. Tháp chuông này nguyên thủy thuộc chùa làng Cao Mật, tỉnh Hà Đông, năm 1980 được di chuyển về chùa Hương làm tháp chuông.

Chùa Chính, tức chùa Trong không phải là một công trình nhân tạo mà là một động đá thiên nhiên. Ở lối xuống hang có cổng lớn, trán cổng ghi 4 chữ Hương Tích động môn. Qua cổng là con dốc dài, lối đi xây thành 120 bậc lát đá. Vách động có năm chữ Hán 南天第一峝 (Nam thiên đệ nhất động) khắc năm 1770, là bút tích của Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm (1767-1782). Ngoài ra động còn có một số bia và thi văn tạc trên vách đá.

Nguyên tác bài thơ “Chùa Hương”: xin bấm vào đường dẫn sau đây :Bài thơ – Đi chùa Hương

Nhạc phẩm “Em Đi Chùa Hương” của NS Trung Đức

Hôm nay em đi chùa Hương / Hoa cỏ còn mờ hơi sương / Cùng thầy me em vấn đầu soi gương / Khăn nhỏ, đuôi gà cao / Em đeo giải yếm đào / Quần lãnh, áo the mới / Tay em cầm chiếc nón quai thao / Chân em di đôi guốc cao cao

Đường đi qua bến Dục / Mọi người ngắm nhìn em / Thẹn thùng em không nói / Em bây giờ mới tuổi mười lăm / Em hãy còn bé lắm (chứ) mấy anh ơi

Đường đi qua Đồng Vọng / Mọi người ngắm nhìn em / Thẹn thùng em không nói / Nam mô A Di Đà / Nam mô A Di Đà

http://youtu.be/hNjCiEO9CeA

http://youtu.be/YiIWMvxCsX0

Thi phẩm “Chùa Hương” của nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp ngoài nhạc sĩ Trung Đức phổ thành nhạc thành công nhất, còn trước đó giáo sư Trần Văn Khê cũng có phổ nhạc, sau này có nhạc sĩ Song Ngọc lấy ý thơ “Chùa Hương” mà soạn thành nhạc phẩm riêng… (Trích trong cuốn : “Tác phẩm – tác giả Thơ Văn Nhạc Họa trữ tình” của tác giả, sắp xuất bản)

Nguyễn Việt

NGUYỄN NHƯỢC PHÁP :

THƯƠNG CHO MỘT KIẾP

TÀI HOA MỆNH BẠC

Em Đi Chùa Hương – Ái Vân ca MsThienduong 40,835 views

Số phận ưu ái cho chàng thi sĩ ấy một phần tài hoa, nhưng kéo theo đó là mấy phần truân chuyên. Phải chăng hồn thơ thấm đẫm ưu tư ấy được xây nên từ những đa đoan của kiếp người.

Khi nhắc đến cái tên Nguyễn Nhược Pháp với nhiều độc giả, đặc biệt là độc giả trẻ, có lẽ sẽ nhận lại những cái lắc đầu. Nhưng những lời ca quen thuộc của bài thơ mà sau này là bài hát Em đi chùa Hương, thì luôn ở trong lòng nhiều thế hệ người yêu nhạc Việt Nam. Ít ai biết rằng, đằng sau con người viết nên những vần thơ đầy chất nhạc và thấm đẫm hồn quê ấy lại là một  câu chuyện buồn.

Nguyễn Nhược Pháp sinh ngày 12/12/1914 tại Hà Nội. Ông là con trai của học giả Nguyễn Văn Vĩnh. Sinh thời, cha ông vốn là một người hào hoa, phong nhã và đặc biệt rất đa tình. Những năm đầu thế kỉ XX, học giả Nguyễn Văn Vĩnh không chỉ nổi tiếng tài cao học rộng mà còn là người giàu có, sở hữu nhiều đất đai và biệt thự trong nội thành Hà Nội.

Trong đó, có một căn biệt thự rộng ở gần bờ Hồ, đoạn giáp giữa phố Lý Quốc Sư và phố Hàng Trống được ông dùng làm khách sạn. Đây chính là nơi gặp gỡ của học giả Nguyễn Văn Vĩnh và giai nhân Phan Thị Lựu. Bà Lựu là con gái của một thổ ty giàu có ở Lạng Sơn, ngoài dáng vẻ thướt tha bà còn giỏi ăn nói và rất thạo tiếng Pháp.

Mỗi khi có dịp về Hà Nội, bà Lựu lại nghỉ ở khách sạn của ông Vĩnh để tiện thăm thú phố phường. Dù đã có vợ con đề huề nhưng nhìn thấy vẻ đẹp sắc sảo, kiêu sa của người con gái phố Đồng Đăng, trái tim đa tình của học giả Nguyễn Văn Vĩnh bị khuất phục ngay lập tức.

Hằng ngày, vào buổi trưa, học giả Nguyễn Văn Vĩnh sẽ tới khách sạn ăn cơm, trò chuyện và đưa bà Lựu đi dạo. Đến tối, ông Vĩnh lại về ngôi nhà trên phố Mã Mây với bà vợ cả là Đinh Thị Tính và các con. Cậu bé Nguyễn Nhược Pháp ra đời chính là trái ngọt cho mối tình đậm màu sắc tiểu thuyết của học giả Nguyễn Văn Vĩnh và bà Phan Thị Lựu.

Nhưng “ngày vui ngắn chẳng tày gang”, khi Nguyễn Nhược Pháp lên 2 tuổi thì bố ông say mê một cô đào lai Pháp vô cùng xinh đẹp. Vui bên tình mới, học giả Nguyễn Văn Vĩnh có phần lạnh nhạt với bà Phan Thị Lựu. Khi mọi chuyện vỡ lỡ, quá đau khổ, buồn bã và quẫn trí, bà Lựu đã tự tử. Sau cái chết của người vợ hai, học giả Nguyễn Văn Vĩnh đem cậu con riêng còn chưa nói sõi về cho vợ cả là bà Đinh Thị Tính nuôi nấng.

Là người phụ nữ truyền thống, tính tình nhân hậu, lại cam chịu, bà Tính đồng ý nuôi con riêng của chồng, không buông một câu oán thán. Cùng là phận đàn bà, bà chỉ trách bà Lựu sao lại quẫn trí đi “ghen ngược” rồi làm điều dại dột, bỏ lại đứa con còn chưa nhớ được mặt mẹ. Bởi chính bà Tính mới là người phải đánh ghen.

Là phận con riêng, nhưng Nguyễn Nhược Pháp được mẹ cả yêu thương, đối xử công bằng như con ruột. Khi bà Đinh Thị Tính mất, bà yêu cầu con cháu an táng bà cạnh phần mộ của cậu con cưng Nguyễn Nhược Pháp. Tuy không cùng một mẹ sinh ra, nhưng cùng sống dưới một mái nhà từ thuở nhỏ, các con của học giả Nguyễn Văn Vĩnh sống với nhau rất tình cảm, không có sự phân biệt.

Là một người tiếp xúc với nền Tây học từ rất sớm, lại giỏi tiếng Pháp nhưng khác với tầng lớp thanh niên lúc bấy giờ, nhờ sự ảnh hưởng của cha, Nguyễn Nhược Pháp có một lòng yêu thích đặc biệt với văn hóa và văn học dân gian. Các tác phẩm như : Chùa Hương, Sơn Tinh – Thủy Tinh, Chuyện Mị Châu, Giếng Trọng Thủy… thể hiện rõ điều đó.

Trong thơ Nguyễn Nhược Pháp luôn thấp thoáng bóng một người con gái dịu dàng với làn da trắng và đôi môi đỏ. “Nàng thơ” ấy chính là “ánh chiếu” của tiểu thư Đỗ Thị Bính, con của thương gia Đỗ Bá Lợi. Bà là một trong “tứ đại mỹ nhân Hà Thành” thời bấy giờ. Bà cũng chính là người con gái mà sinh thời nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp thầm thương trộm nhớ. Mỗi lần đi qua hiệu buôn của thương gia Đỗ Bá Lợi, ở phố Hàng Đẫy, chàng công tử Nguyễn Nhược Pháp khi ấy, đã bị hút hồn bởi vẻ ngoài của giai nhân đài các.

Người ta kể rằng cô Bính có làn da trắng nõn, mịn màng, ý thức được thế mạnh của mình, cô tiểu thư xinh đẹp vẫn thường mặc đồ màu đen. Nguyễn Nhược Pháp vẫn gọi cô Bính là “người con gái áo đen”.

Tuy hào hoa, nhưng Nguyễn Nhược Pháp lại không thừa hưởng sự bạo dạn của người cha. Không chỉ viết thư, chàng thi sĩ còn làm thơ đề tặng tiểu thư Bính và nhờ người gửi tới phố Hàng Đẫy, chứ không dám hẹn gặp người đẹp. Lúc bấy giờ, quan niệm phong kiến vẫn còn ảnh hưởng nặng nề nên cặp “trai tài gái sắc” lâm vào cảnh “tình trong như đã, mặt ngoài còn e”.

Năm 1938, sau cái chết của hai chị gái và cha, Nguyễn Nhược Pháp đau lòng và lâm bệnh lao hạch. Chàng thi sĩ ấy ra đi ở tuổi 24, khi tài năng mới chỉ bắt đầu và vẫn chưa được gặp mặt để ngỏ lời với giai nhân. Biết tin Nguyễn Nhược Pháp mất, bà Đỗ Thị Bính rất đau lòng, mối tình tưởng như rất đẹp vì “sinh ly tử biệt” mà dang dở.

Yên Huỳnh chuyển tiếp

NGỌC CHÁNH NGƯỜI NS SÀI GÒN XƯA (1)

NHẠC SĨ NGỌC CHÁNH

NGƯỜI ĐÍNH LÊN BẦU TRỜI

ÂM NHẠC SÀIGÒN

NHỮNG VÌ SAO LUNG LINH BẤT TỬ

– Trần Quốc Bảo

Khi gọi điều gì đó bất tử, có nghĩa điều đó có sự sống đời đời hoặc rất dài lâu. Những vì sao được gọi bất tử, chắc chắn đó là những tinh tú mà hào quang lung linh chẳng bao giờ tắt cho dẫu hàng trăm năm trôi qua.

Trong số báo viết về Nhạc sĩ Ngọc Chánh và ban nhạc Shotguns kỳ này, số báo mừng Ông với sinh nhật thứ 80 (13/3/1937), người viết muốn cùng với người yêu nhạc nhìn lại một sự nghiệp âm nhạc đồ sộ mà người nhạc sĩ này đã có công xây dựng và phát triển từ hơn nửa thế kỷ trước, và hôm nay, sau gần 50 năm nhìn lại, tên gọi Shotguns của ban nhạc và những sản phẩm nghệ thuật, hầu như những người yêu nhạc năm xưa ở miền Nam, khó có ai mà quên được.

Khởi đi là ban nhạc Shotguns, được thành lập từ năm 1968, và chấm dứt ngừng hẳn vào cuối tháng 12 năm 1998, có nghĩa, ban nhạc Shotguns đã trị vì trong vương quốc âm nhạc Việt – từ trong nước ra hải ngoại – tròn suốt 30 năm dài.

Viết về nhạc sĩ Ngọc Chánh và ban nhạc Shotguns là phải nhớ đến phòng trà Queen Bee (từ tháng 3 năm 1971 đến tháng 3 năm 1974) và sau đó là phòng trà International – Quốc Tế (từ tháng 3 năm 1974 đến 30/4/1975). Cả hai phòng trà với lối kiến trúc đẹp mắt ấm cúng và hấp dẫn nằm ngay giữa trung tâm Hòn Ngọc Viễn Đông. Ở đó, hàng đêm đã thu hút số đông rất lớn những khách yêu thích ca nhạc.

Nhà báo Lưu Khâm từng ca ngợi : “Người ta đến với vũ trường của nhạc sĩ Ngọc Chánh như tìm về một tổ ấm thân thương dưới ánh đèn màu, tiếng nhạc lời ca của những ca sĩ ưu hạng đương thời và đệ nhất ban nhạc Shotguns. Lắm người ghiền Queen Bee, mê Quốc Tế và sau này ra hải ngoại với Maxim (San Jose), Ritz (Quận Cam) cùng ban nhạc Shotguns như mê một nhân tình tài sắc, tâm vẹn toàn.

Trong khung cảnh lãng mạn, thơ mộng hài hòa giữa nhạc và ca, thời gian như lắng đọng lại để người ta tạm quên những nỗi nhọc nhằn cơ cực của đời sống. Ở đây, tâm tình được dàn trải, thương yêu được gắn bó, ước mơ được nối liền, những trái tim cùng thưởng thức một nhịp đập trên cung điệu tài hoa của Shotguns, lắng nghe và ngắm nhìn những tiếng hát hàng đầu, bồng bềnh sương khói có khả năng dìu người ta về những bến đời hạnh phúc”.

Và qua những lời của nhà báo Lưu Khâm vừa viết, chúng ta thấy ngay những Queen Bee, Quốc Tế trước 75 và sau này ở hải ngoại, vũ trường Maxim (1980-1983), rồi Ritz (1984-1998), nói chung là những vũ trường có bàn tay chỉ huy của nhạc sĩ Ngọc Chánh được ví như một tổ ấm và ban nhạc Shotguns là những cọng rơm đan kết âm thanh dịu dàng và nồng nàn nhất.

Chưa hết, điều đáng nói là những sản phẩm băng nhạc nghệ thuật của Shotguns được bắt đầu tung ra tại miền Nam từ tháng 9 năm 1969. Khách yêu nhạc trên mọi miền đất nước, nếu không thể đến vũ trường, vẫn có thể nghe được những giọng hát, lời ca, những nhạc khúc quen thuộc được thu âm và phát ra từ băng nhạc (cassette) mang danh hiệu Shotguns.

Mỗi sản phẩm là một đúc kết vẹn toàn về nghệ thuật lẫn kỹ thuật. Hàng trăm sản phẩm giá trị như vậy đã khiến Shotguns trở thành một trung tâm băng nhạc được yêu thích nhất, được vồn vã đáp ứng nhất. Báo chí Saigon ngày đó gọi những băng nhạc do Shotguns thực hiện là món ăn tinh thần dự phần quan trọng trong đời sống con người chứa đầy buồn vui hờn giận. Đó là một cô đọng đầy chất nghệ thuật như một ánh lửa bập bùng, rồi âm ỉ của những tâm hồn mặn nồng yêu thương của nhiều thế hệ.

Nhạc sĩ Ngọc Chánh còn có công lao nhiều lắm, khi đã giới thiệu (trực tiếp hoặc gián tiếp) những giòng nhạc mới của Phượng Hoàng (Lê Hựu Hà – Nguyễn Trung Cang), Vĩnh Điện, Trần Quang Lộc, Đynh Trầm Ca, hoặc có công phổ biến những bài thơ của các thi sĩ Phạm Thiên Thư, Nguyễn Tất Nhiên, Vũ Hữu Định, Linh Phương, Phạm Văn Bình, Người Áo Tím… được nhạc sĩ Phạm Duy phổ thành ca khúc.

Và bây giờ xin mời bạn đọc bước vào câu chuyện về “Nhạc sĩ Ngọc Chánh và ban nhạc Shotguns – người đã vẽ lên bầu trời âm nhạc Sàigòn những vì sao lung linh bất tử” do Trần Quốc Bảo thực hiện.

Nhạc sĩ Ngọc Chánh, tên họ thật Nguyễn Ngọc Chánh, sanh ngày 13 tháng 3 năm 1937. Khi ông ra đời, gia đình đang sống tại khu vực Nhà thờ Chí Hòa (Ngã Ba Ông Tạ, quận Tân Bình). Gia đình Ông ở đây cho đến năm 1968 mới dời đi chỗ khác.

Ông có tất cả 10 anh chị em, nhưng tất cả đã mất từ khi còn nhỏ, chỉ còn lại nhạc sĩ Ngọc Chánh (thứ sáu) và cô em út (thứ mười một) tên Ngọc Lan (tên giấy tờ là Nguyễn Thị Trí). Người em gái này đã có giấy tờ đi Mỹ định cư vào giữa tháng 10 năm 1989 nhưng chẳng may lại đột ngột qua đời hai tuần trước. Cô mất vào ngày 25 tháng 9 năm 1989 để lại sự bàng hoàng hụt hẫng và đau đớn cho người con trai tên Long (cũng là tay trống của ban nhạc Shotguns lúc bấy giờ) và cho người anh ruột là Ngọc Chánh.

Nhạc sĩ Ngọc Chánh mê nhạc và có năng khiếu từ thuở bé. Lúc lên 6 tuổi, Ông đã học ghi ta với một anh bạn lớn tên là Cổ Tấn Tịnh Châu, anh này có ngón đàn Flamenco tài giỏi (về sau mất năm 1967). Người nhạc sĩ tài danh vắn số này là em ruột của đại tá TQLC Cổ Tấn Tinh Châu (Chỉ Huy Trưởng Đặc Khu Rừng Sát) phu quân của ca sĩ Dạ Lý hiện sống tại Quận Cam (Cali).

Sau đó Ông học thêm với một nhạc sĩ người Phi là Benito.. nhờ vậy mà ngay từ lúc nhỏ, Ông đã có một số kiến thức khá vững vàng về nhạc lý để từ đó soạn riêng cho mình 2 cuốn sách chỉ dẫn Tự Học Đàn Guitar từ lúc ông mới 13, 14 tuổi (sẽ nói rõ phần sau).

Năm 1945, khi Ông vừa 8 tuổi, gia đình xin cho Ông vào trường dòng Lasan Đức Minh (Tân Định), một nơi nổi tiếng về kỷ luật với các frères khá nghiêm khắc. Trong số các frères, Ông luôn nhớ hình bóng hiền từ nhân ái của Frère Aimé Nguyễn Văn Đức, người đã dậy cho Ông nhiều điều tốt đẹp thuở cắp sách đến trường.

Người viết cũng một thời khoác áo Lasan, đầu tiên là Lasan Mossard, sau về Saigon năm 1975, có một năm học tại Lasan Taberd, đến khi trường bị giải thể, sang học 2 năm cuối tại Lasan Đức Minh. Khi sang bên Mỹ gặp nhạc sĩ Ngọc Chánh, ngoài tình cảm nghệ sĩ, còn là tình huynh đệ cùng trường. Khi người viết đứng ra tổ chức 4 chương trình Lasan Hội Ngộ : Nhớ Ơn Thầy bắt đầu từ kỳ 1 (1986), kỳ 2 (1988), kỳ 3 (1990) và kỳ 4 (1992), những lần tổ chức này, nhạc sĩ Ngọc Chánh đều tạo điều kiện cho mượn vũ trường Ritz làm nơi gây quỹ.

Năm 1948, lúc 11 tuổi, Ông rời Lasan Đức Minh chuyển sang trường Lê Văn Hai học 2 năm. Ở đây, anh dành thì giờ học Pháp văn và học Việt văn với giáo sư Ngọc Thứ Lang (cũng là một tiểu thuyết gia và là người dịch truyện Bố Già). Hai năm sau (1950), Ông được vào học tại Trường Kỹ Thuật Cao Thắng.

Trong khoảng thời gian học tại đây, Ông viết 2 cuốn sách Tự Học về guitar và đến năm 1953 (khoảng 16 tuổi), Ngọc Chánh bán bản quyền 2 cuốn sách này cho nhà xuất bản Mỹ Tín, chủ nhân chuyên làm đàn violon (Tiệm đàn Mỹ Tín có tên trong tự điển Pháp về tài chế tạo đàn violon và ông này cũng là một kịch sĩ, giáo sư Kịch Nghệ của trường Quốc Gia Âm Nhạc trước 75).

Nhờ tiền bản quyền 2 cuốn sách, nhạc sĩ Ngọc Chánh lấy được 24 ngàn, mua đàn piano hết 22 ngàn, còn dư 2 ngàn, Ông dùng làm tiền học phí để học piano, hòa âm và sáng tác với Thầy Dung ở đường Hiền Vương.

Năm 1957, ở tuổi tròn 20, nhạc sĩ Ngọc Chánh đến tuổi động viên. Trước ngày phải đi Thủ Đức, anh được nhận vào làm trong ban Công Dân Vụ. Ở tại nơi đây, anh gặp các nghệ sĩ Thanh Hoài, Thanh Việt, tài tử Kim Vui, kịch sĩ Cảnh (còn được bạn bè gọi thân mật là Cảnh Vịt, chủ nhân Phở Nguyễn Huệ ở Bolsa), Hoàng Long, Huyền Anh.. Làm ở Công Dân Vụ được 3 tháng, anh rời nơi này và bắt đầu ra ngoài tự tìm nơi chơi đàn để mưu sinh.

Những ngày tìm việc thuở đầu đời đó, là những năm tháng khó quên của chàng trai tròn 21 tuổi. Năm 1958, chàng thanh niên rất vui khi có những công việc đầu tiên dù chỉ là chơi đàn trong những quán bé nhỏ, như nhà hàng An Lạc (ở Xa Cảng Miền Tây), sau đó vài tháng, Ông tìm thêm được những chỗ mới khá hơn, như nhà hàng Melody, nhà hàng Tàu Lai Yun..

Ròng rã gần hai năm, năm 1960 – nhạc sĩ Ngọc Chánh được ông Hoành, một người gốc Hoa, chủ nhân thầu ca nhạc tại Hồ Tắm Cộng Hòa (cũng là chủ nhân vũ trường Văn Cảnh) mời về làm chef d’orchestre. Một hôm, có một nhạc sĩ tên Tư giới thiệu Ngọc Chánh một nữ ca sĩ trẻ quê quán ở Bình Long lên Saigon trước tiên, cô dự tính học nghề may, đồng thời cô cũng có một giọng hát lạ mong có dịp tham gia vào làng ca nhạc.

Người nữ ca sĩ với khuôn mặt đẹp và tiếng hát khá ngọt ngào ấy – chính là nữ danh ca Minh Hiếu sau này – đã chinh phục ngay mọi người, từ ông chef d’orchestre cho đến người chủ nhân Hồ Tắm Cộng Hòa – ngay từ phút đầu tiên cô cất lên tiếng hát những bản Kiếp Nghèo, Nỗi Lòng, Gợi Giấc Mơ Xưa. Sau khi được nhận, Minh Hiếu còn được nhạc sĩ Ngọc Chánh dậy thêm về nhạc lý và chẳng bao lâu, người nữ ca sĩ này được nhiều vũ trường và phòng trà khác mời cộng tác. Thời gian này, tại Hồ Tắm Cộng Hòa, có những ca sĩ thường xuyên góp mặt, như Thanh Lan (vợ Ông Cao Xuân Vỹ)..

Năm 1962, chủ nhân Hoành thay người kéo Ngọc Chánh về trình diễn tại vũ trường Văn Cảnh, lúc đó chef d’orchestre là nhạc sĩ Sáu Già. Chỉ một năm sau (1963), Ông được nhà hàng Mỹ Phụng mời về làm chef d’orchestre, trong ban nhạc bấy giờ có Hoàng Liêm guitar, Xuân Mỹ saxo, một người Hoa đánh trống..

Năm 1964, nhạc sĩ Ngọc Chánh được ông bà Long (thân sinh anh Nguyễn Thành Quốc – chủ vũ trường Majestic và Blue Club tại hải ngoại sau này) mời về làm chef d’orchestre, thành phần cũng thế, ngoại trừ không có tay guitar Hoàng Liêm vì anh này bị một tai nạn lớn năm 1963 phải nghỉ làm việc một thời gian).

Năm 1966, với tình hình tổng động viên, Ngọc Chánh tham gia vào Biệt Đoàn Văn Nghệ Trung Ương. Năm 1967, Ban Hoa Tình Thương do bà Tướng Cao Văn Viên thành lập, rút những nghệ sĩ có tài từ nhiều nơi khác về, chẳng hạn bên Công Binh có Khánh Băng, Phùng Trọng, Duy Khiêm, Nguyễn Ánh 9, bên Hải Thuyền có Elvis Phương, bên Địa Phương Quân có Hoàng Liêm, bên Biệt Đoàn Văn Nghệ có Ngọc Chánh, Pat Lâm, Đức Hiếu..

Ngày 31 tháng 1 năm 1968, tức mùng 2 Tết, MTDTGPMN tổng tấn công Sàigòn. Toàn bộ những chương trình ăn chơi giải trí ở các phòng trà, vũ trường đều bị đóng cửa đồng loạt. Giới nghệ sĩ lúc này thất nghiệp cả đám ngoại trừ một số hát được nhạc ngoại quốc thì còn có công việc làm tại các Club Mỹ.

Trong hoàn cảnh này, ca sĩ Pat Lâm được một người cha nuôi người Mỹ có chức quyền cao trong cơ sở USO đề nghị Anh và nhạc sĩ Ngọc Chánh quy tụ những nhạc sĩ có sẵn trong Ban Hoa Tình Thương lúc bấy giờ thành lập một ban nhạc để chơi hàng tuần (thứ bẩy tại U.S.O. Tân Sơn Nhất và mỗi Chủ Nhật tại U.S.O. 119 Nguyễn Huệ Saigon) cũng như chạy thêm show ở các Club Mỹ khác tại Biên Hòa, Long Bình, Vũng Tầu.. với số lương rất cao.

Theo một tài liệu, USO (viết tắt từ United Services Organizations, tổ chức phi lợi nhuận đưa các hoạt động giải trí tới phục vụ quân đội Mỹ đóng ở khắp nơi trên thế giới. Cơ sở là rạp hát – Nguyễn Huệ. Rạp đã ngưng hoạt động từ trước 1975. Về sau là cơ sở U.S.O.119. Nguyễn Huệ).

Trong lúc mọi người đang mất việc, thì lời đề nghị này của người cha nuôi Pat Lâm quả như những giọt nước quý trên sa mạc. Chỉ một tuần sau, ban nhạc được hình thành với Ngọc Chánh (piano), Duy Khiêm (bass), Đức Hiếu (trống), Hoàng Liêm (guitar) và 2 tiếng hát Pat Lâm, Elvis Phương.

Một thời gian ngắn, Pat Lâm tăng cường thêm Ngọc Mỹ – một giọng nữ chỉ mới 22 tuổi mà đã được coi là một giọng ca vững vàng nhất về nhạc ngoại quốc, nhất là về nhạc Jazz, một loại nhạc nếu không có một căn bản nhạc lý vững chắc thì khó mà trình bày được. Khi vừa chơi trong Club Mỹ một thời gian ngắn, tay trống Lưu Bình vào thế Đức Hiếu và có thêm sự hiện diện của Quốc Hùng chơi bass, Duy Khiêm đánh guitare accord.

Còn tên gọi Shotguns, không chỉ vì ban nhạc được thành hình sau cuộc chiến Tết Mậu Thân chỉ vài tuần – mà tên ban nhạc còn được bắt nguồn từ một bài nhạc chào có tên Shotgun rất ăn khách vào thời gian đó.

Theo như một tài liệu : “Shotgun” là tên một dĩa đơn do Junior Walker & All Stars phát hành năm 1965; sáng tác do Walker viết lời và nhạc, sản xuất bởi Berry Gordy Jr. và Lawrence Horn. Trong bốn tuần liên tiếp, dĩa “Shotgun” đứng đầu danh sách các dĩa nhạc R&B Singles ở Hoa Kỳ và đứng hàng thứ tư trên Billboard Hot 100 vào cuối tuần 3 tháng 4 năm 1965.

Nhạc sĩ guitar Jimi Hendrix từng trình diễn bản này trên sân khấu với ban All Stars. Ca sĩ Pat Lâm và nhạc sĩ Ngọc Chánh, hai linh hồn của ban nhạc, quyết định chọn tên Shotguns cho ban nhạc mới thành lập của mình.

Năm 1969, khi tình hình chiến tranh có vẻ đã lắng dịu, sinh hoạt ca nhạc về đêm trở lại bình thường, nhạc sĩ Ngọc Chánh có khuynh hướng muốn về đóng đô trình diễn hàng đêm tại Sàigòn.

Theo nhà báo Nguyễn Việt, trong giai đoạn này, “Ngọc Chánh cùng Hoàng Liêm, Elvis Phương quyết định chuyển hướng từ một ban nhạc chuyên trình diễn loại nhạc Pop Rock kích động sang trình bày nhạc Việt. Bởi Ngọc Chánh có tâm tư, tại sao cứ phải trình diễn cho các Club Mỹ với loại nhạc kích động Pop Rock, Twist, Bebop.. ồn ào náo nhiệt, mà không trở về với cội nguồn cho khán giả Việt thưởng thức những nhịp điệu nhẹ nhàng, lãng mạn, trữ tình như Slow, Boston, Rumba, Tango, Bolero…

Một quyết định xem ra đơn giản nhưng không đơn giản vào thời đó, vì có một số anh chị em trong ban nhạc không đồng tình. Lý do trình diễn ở các Club Mỹ được nhiều tiền hơn trên các sân khấu Việt”.

Thời gian này, nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ có lúc đã mời ban Shotguns về trình diễn Show mỗi đêm với thời lượng một tiếng đồng hồ. Khách tại Maxim rất yêu thích phong cách sống động của ban nhạc và lối trình diễn nóng bỏng của Ngọc Mỹ, Pat Lâm và Elvis Phương.

Cuối năm 1969, đầu 1970, khi Jo Marcel rời Queen Bee, Khánh Ly đã mướn lại và mời ban nhạc Shotguns về đóng đô mỗi đêm. Mỗi đêm, bên cạnh thành phần nhạc sĩ thường xuyên của Shotguns, khán giả đến Queen Bee còn nghe được tiếng đàn piano của Nguyễn Ánh 9 và tiếng trống Anh Thoại.

Tết 1971, Khánh Ly cùng Ngọc Minh và cô em gái Ngọc Anh đi trình diễn tại Mỹ. Lúc trở về, Khánh Ly rời Queen Bee và khai trương chỗ mới ở phòng trà Tự Do. Riêng tại Queen Bee, nhạc sĩ Ngọc Chánh và ban Shotguns quyết định “thầu” lại và mời tiếng hát nữ danh ca Thanh Thúy tái xuất giang hồ sau 5 năm cô giải nghệ đi lấy chồng. Không biết vô tình hay hữu ý, đêm khai trương của hai vũ trường Tự Do và Queen Bee đều cùng một ngày, ngày 16 tháng 3 năm 1971.

Bên phòng trà Tự Do, để cho có nét lạ, đích thân Khánh Ly đến nhà Mai Hương mời cô cộng tác với hợp đồng ký 6 tháng. Tuy chỉ thích hát trên truyền hình, truyền thanh, nhưng vì quý mến Khánh Ly, cho nên Mai Hương đã nhận lời mời. Do đó, trên tờ quảng cáo, Khánh Ly đã ghi : “Và lần đầu tiên, giọng ca chị em với Thái Thanh, “nữ ca sĩ Mai Hương” chịu đi hát phòng trà.

Ngày cuối cùng mãn hợp đồng, đúng 6 tháng sau, ngày 16 tháng 9 năm 1971, trong buổi hát cuối cùng tại Tự Do, Mai Hương đã kêu gia đình đi xem rất đông, ai dè, đêm hôm đó, phòng trà Tự Do bị đặt chất nổ, một số người đã bị thương vong, trong đó có gia đình của ca sĩ Mai Hương, một vài người cháu đã bị thương khá nặng. (Còn 1 kỳ nữa)

Nguyễn Toàn chuyển tiếp

Chú thích ảnh :

H1: Phòng trà International Quốc Tế góc Công Lý, Lê Lợi

H2: Ban nhạc Shotguns thời kỳ thành lập năm 1968. Hàng đầu từ trái: Duy Khiêm (accord guitar), Đức Hiếu (trống), Quốc Hùng (bass), Ngọc Chánh (piano) và hàng cao nhất, từ trái: Pat Lâm, Ngọc Mỹ, Hoàng Liêm.

H3: Nhạc sĩ Ngọc Chánh tại vũ trường Ritz (Quận Cam) năm 1993. H4: Frère Aime Nguyễn Văn Đức, vị sư huynh khả kính đã dậy nhạc sĩ Ngọc Chánh lúc ông lên 8 tuổi. H5: Sân trường Lasan Đức Minh đầy kỷ niệm của nhạc sĩ Ngọc Chánh từ năm 8 tuổi đến 11 tuổi.

H6: Nhạc sĩ Ngọc Chánh thời trai trẻ đôi mươi. H7: Hồ Tắm Cộng Hòa,một trong những nơi đi đàn kiếm tiền của nhạc sĩ Ngọc Chánh thuở đầu đời những năm 1960-1962. H8: Ảnh trái: Nhạc sĩ Ngọc Chánh chụp năm 1964 (27 tuổi) thời gian anh được mời về làm chef d’orchestre vũ trường Eden Rock. H9: Trần Quốc Bảo thay mặt Ban Tổ Chức trao tặng trophy lưu niệm đến nhạc sĩ Ngọc Chánh.

H10: Ngọc Chánh cùng Ban Hoa Tình Thương ra Pleiku năm 1968 hát ủy lạo tinh thần chiến sĩ. Cả nhóm chụp cạnh xe tăng T54 của CS bị bắn hạ. Trong ảnh: NS Duy Khiêm (số 1), Elvis Phương (số 2), Đức Hiếu (số 3), ca sĩ Thu Anh – em gái NS Phượng Liên (số 4), nhạc sĩ Bảo Thu (số 5), NS Hoàng Liêm (số 6), NS Ngọc Chánh (số 7), Pat Lâm (số 8), saxo Nguyễn Hữu Thành (số 9), trống Phùng Trọng (số 10) H11: Các nghệ sĩ ra hát ủy lạo tinh thần chiến sĩ tại Pleiku. Trên cổ mỗi người còn đeo một huy chương. Ngọc Chánh (bìa trái), trong ảnh còn có có Pauline Ngọc, Á Hậu Ngọc Tuyết (đeo kiếng), Trần Văn Trạch, Khả Năng, Thanh Việt, Phương Hoài Tâm.

H12: Cơ sở U.S.O số 119 đường Nguyễn Huệ, nơi mà ban nhạc Shotguns trình diễn mỗi Chủ Nhật

H13: Ca Sĩ Pat Lâm và Duy Khiêm. H14: Ban Shotguns chơi hàng tuần mỗi chiều thứ bẩy tại U.S.O Tân Sơn Nhất. Từ trái : Elvis Phương, Ngọc Mỹ, Pat Lâm, Hoàng Liêm, phía sau là Lưu Bình (trống) và Ngọc Chánh (piano).

H15: Ban nhạc Shotguns trên sân khấu Maxim theo lời mời của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ. H16: Quảng cáo của phòng trà Queen Bee – Khánh Ly với ban nhạc Shotguns Ngọc Chánh trên báo Kịch Ảnh số 398 phát hành ngày 25 tháng 4 năm 1970

H17: Ảnh chụp ban nhạc Shotguns trình diễn tại Queen Bee mùa Hè 1970. Trong ảnh có Long Thoại Nguyên (Saxo), Ngọc Chánh, Nguyễn Ánh 9, Như Khiêm, Khánh Ly, 1 anh, Elvis Phương, Hoàng Liêm, Anh Thoại. H18: Thanh Thúy, Hoàng Liêm, Đan Thọ và ban Shotguns tại phòng trà Queen Bee.

H19: Cuốn Băng Vàng Shotguns tung ra vào dịp kỷ niệm 1 năm thành lập (ngày 22 tháng 7 năm 1970) đã tạo chú ý cho người nghe khắp nơi từ ngày đó tìm kiếm đi mua những cuốn băng do Shotguns thực hiện mỗi khi phát hành. Và những bìa băng của Shotguns xưa.

NGỌC CHÁNH NGƯỜI NS SÀI GÒN XƯA (2)

NHẠC SĨ NGỌC CHÁNH

NGƯỜI ĐÍNH LÊN BẦU TRỜI

ÂM NHẠC SÀIGÒN

NHỮNG VÌ SAO LUNG LINH BẤT TỬ

– Trần Quốc Bảo (tiếp theo kỳ 1 và hết)

Còn bên phía phòng trà Queen Bee do Ngọc Chánh làm chủ thì đêm khai trương kết quả ra sao, nhất là khi Anh đã có công mời được giọng ca liêu trai Thanh Thúy tái xuất giang hồ. Mời bạn đọc bài viết của Ngọc Hoài Phương đăng trên tuần báo Hồng số 10 phát hành ngày 14 tháng 7 năm 1971 :

Thanh Thúy ăn khách như thuở nào

“Sau hơn 5 năm xa lánh ánh đèn màu sân khấu, khi tái xuất giang hồ, giọng hát liêu trai của Thanh Thúy vẫn còn ăn khách như thuở nào. Nàng vẫn được đón tiếp với trọn vẹn cảm tình của giới ái mộ dành cho một thần tượng. Và có lẽ ngay chính nàng cũng không thể ngờ được sau quyết định tiếp tục trở lại nghiệp cầm ca này, nàng lại được tiếp đón nồng hậu đến như vậy.

Nhắc đến Thanh Thúy thì bắt buộc phải nhớ lại thuở vàng son của nàng trong những năm 1963, 1964 đã qua. Tên tuổi nàng đã đạt tới tuyệt đỉnh danh vọng trong những năm đó. Và bây giờ, khi trở lại với đám đông trong khung cảnh Queen Bee này, tài nghệ của nàng còn có phần điêu luyện, vững vàng hơn xưa nữa là khác. Giọng ca khàn khàn, lê thê đó vẫn còn dư hấp lực để lôi cuốn người nghe. Và ngày nay nếu nàng vẫn còn được nhiều người ái mộ, thiết tưởng đó là chuyện dĩ nhiên, không có gì đáng ngạc nhiên cả.

Nàng đã chọn Queen Bee cho lần tái xuất hiện này. Đêm 16/3 vừa qua, giới yêu nhạc ở thủ đô đã chen chúc nhau tới đây để được nghe lại giọng ca Thanh Thúy, được nhìn lại vóc dáng quen thuộc của nàng. Vẫn khuôn mặt đó, vóc dáng đó và giọng ca đó, người ta không tìm thấy một sự thay đổi nào ở người ca sĩ này.

Hình như, đối với Thanh Thúy, khoảng thời gian mấy năm qua chưa đủ để cho nàng có những thay đổi quan trọng, có chăng chỉ là tài nghệ của nàng vững vàng hơn mà thôi. Sự tái xuất hiện của Thanh Thúy được ghi nhận như một hiện tượng tốt trong sinh hoạt An Nam ta. Và kể từ buổi tối hôm đó, với sự góp mặt thường xuyên của Thanh Thúy, với dàn nhạc nổi tiếng Shotguns do Ngọc Chánh điều khiển cùng các nghệ sĩ tài danh khác, Queen Bee đã được giới yêu nhạc coi như một nơi giải trí ngon lành nhất, thích thú nhất.

Thường thường các phòng trà rất buồn tình đối với các trận mưa vào buổi tối, bởi vì sẽ vắng khách. Nhưng đối với Queen Bee, mưa hay nắng không phải là một vấn đề quan trọng. Điển hình là trong đêm 1/7, khi bộ biên tập báo Hồng mở cuộc hành quân tại Queen Bee, trời cũng mưa. Vậy mà những khách tới trễ cũng khó khăn trong việc tìm chỗ ngồi. Đây là một điểm son của phòng trà này.

Trở lại với người ca sĩ mang tên Thanh Thúy, điều mà rất nhiều người đã công nhận rằng, mặc dầu đã từng là một giọng ca bậc nhất, đã từng chiếm được ngôi vị cao nhất trong những năm trước đây, và cho tới nay nàng vẫn được đón tiếp nồng hậu như xưa, nhưng không phải vì thế mà Thanh Thúy có bộ mặt kên kên khó chịu như một số nghệ sĩ khác.

Nàng nói năng thật nhỏ nhẹ dễ thương và lúc nào cũng cởi mở với những người đã quen hoặc chỉ mới biết sơ sơ. Với tính tình hòa nhã như vậy, với tên tuổi và tài năng sẵn có, chúng tôi tin tưởng rằng Thanh Thúy sẽ còn gặt hát thêm nhiều thành quả trên bước đường ca hát mà nàng còn nặng nợ, không thể dứt bỏ được”.

Trụ ở Queen Bee được hơn 3 năm, Ngọc Chánh dời phòng trà về ngay trên lầu Bộ Tư Lịnh Khai Sáng 91 ter Công Lý cho dễ sinh hoạt. Ban ngày bán băng nhạc, buổi chiều chuẩn bị vặn máy lên đèn và một ngày đẹp trời của tháng 5 năm 1974, phòng trà Quốc Tế do Ngọc Chánh, Thanh Thúy làm chủ được khai trương thật rầm rộ.

Nhìn lại thật công tâm một chặng đường dài 5 năm của Ngọc Chánh và ban nhạc Shotguns, từ Queen Bee cho đến Quốc Tế, ở đây đã là nơi quy tụ những nhạc sĩ tài danh hàng đầu của Saigon như :

– Nhạc sĩ dương cầm Lê Văn Thiện: người đã hòa âm hàng ngàn nhạc khúc và được hàng trăm ca sĩ ưu hạng trình bày.

– Nhạc sĩ Hoàng Liêm: người solo guitar được khách ái mộ phong tặng đệ nhất Đế Vương Tây Ban Cầm độc tấu.

– Đức Phú, Lưu Bình, Hoàng Hải, Mạnh Tuấn: những tiếng trống cừ khôi đã tạo nên những vũ bão âm thanh với đôi dùi huyền nhiệm.

– Saxo Trần Vĩnh, Xuân Tiên: Hai tiếng kèn như hai ngọn núi cao nhất, hú gió gọi mưa về làm mát lòng người.

– Bass guitar Duy Khiêm: người nhạc sĩ được các ca sĩ ưu ái cho là hạt ngọc quý trong xâu chuỗi kim cương của dòng nhạc.

– Đan Thọ: nhà vĩ cầm với chiếc áo vàng trong cuộc đua violin cho tới nay chưa có người thay thế.

– Nhạc sĩ Cao Phi Long: ngôi sao sáng chói trên vòm trời trompet Việt Nam.

Đồng thời cũng tại hai phòng trà này, nhạc sĩ Ngọc Chánh và ban nhạc Shotguns đã là nơi trình diễn lý tưởng cho những giọng ca nổi tiếng đương thời như Thái Thanh, Thanh Thúy, Elvis Phương, Khánh Ly, Lệ Thu, Mỹ Thể, Trúc Mai.. và là những bệ phóng tuyệt vời của những giọng ca trẻ ngời sáng như Thanh Lan, Dạ Hương, Thái Châu, Diễm Chi, Trọng Nghĩa, Nguyễn Chánh Tín..

Riêng trong lãnh vực thực hiện băng nhạc, mặc dù ra đời sau những hãng băng Jo Marcel, Tú Quỳnh, cộng thêm một bất lợi, là tác phẩm Shotguns đầu tay phát hành ngày 22 tháng 7 năm 1969 được thực hiện ở phòng thu Bùi Hữu Nghĩa trong Chợ Lớn (chuyên viên thu thanh tên Hồng), Ngọc Chánh tin rằng anh sẽ thành công bởi có trong tay ca sĩ Hùng Cường hát 5 ca khúc đang nổi ồn ào, đó là Một Trăm Phần Trăm, Ông Lái Đò, Chiều Hoang Vắng, Kim, Đêm Trao Kỷ Niệm.. bên cạnh đó cuốn băng còn có những giọng ca ăn khách thời đó như Thanh Tuyền, Duy Khánh, Ban Sao Băng, Mai Lệ Huyền, Lệ Thu, Giao Linh, Hoàng Oanh, Phương Hoài Tâm.. nhưng chẳng hiểu sao, cuốn băng không gây được tiếng vang như Ngọc Chánh mong muốn.

Nhà báo Nguyễn Việt đã nhắc lại câu chuyện này như sau : “Giới thưởng thức âm nhạc thời bấy giờ rất kén nghe ca sĩ hát, và ca khúc thuộc dạng lãng mạn trữ tình hay dành cho “sến nương” trong một nhãn hiệu băng nhạc nào đó. Hai trường phái này luôn đối nghịch, nếu nhãn băng có những Lệ Thu, Khánh Ly, Elvis Phương, Thanh Lan… thì sẽ không có những Chế Linh, Giao Linh, Trang Mỹ Dung, Chung Tử Lưu, Giang Tử, Duy Khánh v.v…

Có các nhạc phẩm như Tình nhớ, Con thuyền không bến, Đêm đông, thì thường không nghe những bài thuộc dòng “nhạc sến” như Chuyện tình Lan và Điệp, Nhẫn cỏ cho em v.v… Khán thính giả đã phân chia các hạng bậc ca sĩ, nhạc phẩm như thế để thưởng thức nhằm thư giản tinh thần.

Cho nên khi Ngọc Chánh mở đầu cho nhãn hiệu băng nhạc Shotguns với bài “Một trăm phần trăm” do Hùng Cường hát, trong một cuốn băng có những giọng ca như Thanh Thúy, Thanh Lan, Xuân Sơn, Khánh Ly, Elvis Phương… đã không được giới thính giả chào đón, đi đến thất bại.

Từ kinh nghiệm trên, nhạc sĩ Ngọc Chánh rất thận trong phong cách chọn bài hát, ca sĩ và cả về âm thanh. Đến khi cuốn “Băng Vàng Shotguns” được phát hành, tờ nhật báo Trắng Đen bán chạy nhất lúc bấy giờ viết đến kỹ thuật thu âm audio cao cấp của nhóm nhạc này, giới mộ điệu âm nhạc bắt đầu chú ý và từ đó trở thành nhãn hiệu băng được mọi người tin cậy, bán chạy nhất bấy giờ”.

Thừa thắng xông lên, Ngọc Chánh tung thêm nhiều nhãn hiệu khácngoài Shotguns, Thanh Thúy, và tùy theo giòng nhạc, nếu là nhạc trẻ, Anh xếp vào tủ băng có tên Nhạc Trẻ, những cuốn đầu tiên do Kỳ Phát chăm sóc, chọn bài, ca sĩ chủ lực trong những cuốn băng này là Elvis Phương, Thanh Lan, Minh Phúc & Minh Xuân, Bích Loan và CBC, Julie Quang, Cathy Huệ, Thúy Hà Tú, Vy Vân, Thái Hiền, Duy Quang và ban Dreamers, Tuấn Dũng, Cao Giảng, Trung Hành (Mây Trắng), Paolo Tuấn, Tuấn Ngọc, Thanh Mai, Ái Ly.. và đôi khi mời những special guest như Ngọc Mỹ, Tuấn Ngọc, Carol Kim, Jennie Mai, Trọng Nghĩa..

Bên cạnh tủ băng Nhạc Trẻ, tủ băng Chế Linh, tủ băng cải lương với nhãn hiệu Hồn Nước (do soạn giả Viễn Châu phụ trách). Cũng nói thêm tại đây, cách đây khá lâu, cô Sáu Liên chủ hãng dĩa Việt Nam có tìm cách liên lạc với nhạc sĩ Ngọc Chánh để xin phép sử dụng lại những cuốn băng cải lương mang nhãn hiệu Hồn Nước mà Ngọc Chánh đã thực hiện trước 75.

Sau khi suy nghĩ, Ông đồng ý cho cô Sáu Liên sử dụng những sản phẩm Hồn Nước với điều kiện Bà trao số tiền 1000 dollars (xem như tiền sử dụng) đến tay nhạc sĩ Viễn Châu và một số tiền cũng như thế đến Hội Ái Hữu Tương Tế Nghệ Sĩ (lúc đó do nghệ sĩ Phùng Há chăm sóc). Người viết không rõ câu chuyện kết cuộc về đâu nhưng tấm lòng cao quý âm thầm của nhạc sĩ Ngọc Chánh vô cùng đáng quý.

Điều tiếc nuối của Ngọc Chánh là năm 1974, Ông dự tính một kế hoặc lăng xê những giọng hát trẻ có nhiều triển vọng như Hương Lan, Hải Lý, Nguyễn Chánh Tín,.. nhưng chưa kịp lăng xê thì bởi chiến cuộc lan rộng khắp miền Nam nên mọi kế hoạch đành hủy bỏ.

Biến cuộc 30/4 trờ đến. Cuối năm 1975, để được yên thân, anh nhận lời cộng tác với đoàn kịch Kim Cương vào cuối tháng 12. Những thành viên trong ban nhạc hầu hết là những nhạc sĩ cũ của ban Shotguns như : Ngọc Chánh, Lê Văn Thiên, Đan Thọ, Cao Phi Long, Duy Khiêm, Long Thoại Nguyên, Đức Hiếu, Xuân Tiên.. có thêm Văn Hạnh, Lê Tấn Quốc (chồng Họa Mi), Đặng Văn Hiền..

Những buổi diễn đầu tiên tại Rạp Kinh Thành vé bán hết sạch trong chớp nhoáng bởi những cái tên nạm vàng của miền Nam ngày trước: Lệ Thu, Thanh Tuyền, Thái Châu, Hà Thanh, Thanh Phong, Phương Đại, Họa Mi cùng với một ban nhạc toàn những tên tuổi lẫy lừng.

Ẩn nhẫn chờ thời khoảng 3 năm, Ngọc Chánh cùng gia đình vượt biển đến đảo Pulau Tengah của Mã Lai vào đúng ngày 4 tháng 10 năm 1978. Ngày 1 tháng 4 năm 1979, gia đình Anh đến Mỹ do nhà thờ bảo lãnh. Ở San Pedro 1 tháng, cả nhà dời lên thành phố Van Nuys cư ngụ khoảng 6 tháng. Tháng 10 năm 1979, trong một dịp tình cờ Anh gặp lại Đinh Thành Châu – một thân hữu giờ làm chủ một nhà hàng tại San Jose muốn giao cho Ngọc Chánh làm vũ trường với tiền cho mướn chỉ 2200$ một tháng.

Đêm khai trương của nhạc sĩ Ngọc Chánh và ban Shotguns cùng những tiếng hát Kim Anh (Mùa Thu Lá Bay), Huy Sinh, Hải Lý, Ánh Lệ vào cuối tháng 12 năm 1979 đã thu hút giới mê nhạc năm xưa ở Saigon. Những năm 1980-1981 dù bận nhưng Ông vẫn dành thì giờ đi học chụp ảnh nghệ thuật với nhà nhiếp ảnh Trần Cao Lĩnh.. và nhờ vậy, Ông đã có một số kiến thức về nhiếp ảnh để những năm sau này, khi từ giã thế giới phòng trà, Ông đã lao vào thú vui chụp hình như một đam mê cháy bỏng cuối đời.

Năm 1983, đang sinh hoạt nhộn nhịp, vũ trường Ông bị cháy. Đang dự tính tìm một nơi khác để mở lại thì bỗng một dịp xuống thăm Quận Cam, ông gặp được nhạc sĩ Vô Thường, lúc đó đang cùng Lê Đức Long (chủ một cây xăng) làm chủ một vũ trường và đang muốn sang lại. Chỉ nửa ngày sau, Ngọc Chánh đồng ý chồng tiền.

Từ một diện tích nhỏ khi sang lại năm 1984, đến cuối tháng 12 năm 1989, chỉ 5 năm sau, vũ trường Ritz đã khuếch trương gấp 5. Lúc Trần Quốc Bảo tổ chức đêm ra mắt tờ báo Thế Giới Nghệ Sĩ ngày 8 tháng 12 năm 1989, thì trong vũ trường còn đang xây dựng một bên góc khá ngổn ngang.

Năm 1986, Ông cùng các con mở một nhà in thật lớn, có tên Perfect Printing, được sự yểm trợ của nhiều anh chị em nghệ sĩ và thân hữu xa gần.

Sau 19 năm làm chủ vũ trường, con cái Ông Bà giờ đây học hành cũng đã thành đạt, Ông quyết định giải nghệ và sang lại vũ trường này cho ông Phương. Đêm đầu tiên, đúng vào lễ Noel 1998, người viết và nhiều ca nhạc sĩ (cũng như khách hàng quen) bước chân vào vũ trường mới biết được giờ đây chủ nhân Ritz đã là người mới.

Sau ngày đó, nhạc sĩ Ngọc Chánh cùng vợ dành thì giờ đi du lịch rong chơi nhiều quốc gia. Thì giờ còn lại, Ông chơi tennis, rồi đánh golf, cũng như chuyên tập bộ môn Hồng Gia để giúp cho cơ thể có thêm sức khỏe.

Cách đây 10 năm, năm 2007, Ông bắt đầu đi vào chuyên môn nhiếp ảnh, và nhiều lần ghi danh dự thi, Ông cũng nhiều lần đoạt được những giải thưởng hạng đầu. Tuy nhiên với Ông, niềm vui duy nhất trong thú đam mê này, đó là làm sao tạo được những tác phẩm nghệ thuật mà mình và nhiều người nhìn vào sẽ yêu thích. Cũng như ngày xưa, biết bao giờ quên ăn, đêm không ngủ, để cố đi tìm những phương cách mới lạ cho bảng hiệu Shotguns.

Kết thúc bài viết này, người viết xin trích một bài thơ ngắn mà ngày xưa thi sĩ Hoàng Trúc Ly từng viết về Shotguns : Em là người yêu có sắc / Em là người thương có tài / Em là tình nhân có tâm / Ta si mê nên trở thành nô lệ / Suốt đời ta không hối hận một lần. Kính chúc nhạc sĩ Ngọc Chánh, một sinh nhật thứ 80, mãi mãi tươi trẻ, mãi mãi nồng nàn, để cho thần Thời Gian phải cúi đầu khuất phục. (trích bài Trần Quốc Bảo trong tuần báo Thế Giới Nghệ Sĩ số 109 phát hành ngày 10 tháng 3 năm 2017)

Nguyễn Toàn chuyển tiếp

Chú thích ảnh :

H20: Tờ quảng cáo một băng nhạc Shotguns về Noel ra cuối tháng 12 năm 1969. H21: Tờ quảng cáo show nhạc quy tụ những thành viên Shotguns cũ và những giọng hát vàng nổi tiếng của Saigon trước 75.

H22: Thời gian vũ trường bị cháy, ban nhạc Shotguns vẫn trình diễn những Show lớn vào những dịp Lễ trong năm. H23: Một buổi họp mặt của gia đình Shotguns tại Đường Sơn Quán vào dịp Tết 1975. Từ trái: nhạc sĩ Ngọc Chánh, Anh Ôn Văn Tài, một Cựu Đại Tá (chủ nhân Đường Sơn Quán), nhạc sĩ Mạnh Tuấn, AC Luật sư Lai (Ban Giám Đốc phòng.

NHÂN SINH NHẬT TUỔI 80 (13/3/1937-2017)

NHẠC SĨ NGỌC CHÁNH

và ban nhạc Shotguns trong ký ức văn nghệ sĩ một thời

– CA SĨ THANH THÚY : Thanh Thúy đã biết anh Ngọc Chánh từ những năm 1960-1961, khi ấy anh chơi nhạc tại Hồ Tắm Cộng Hòa. Khoảng năm 1964, Thanh Thúy đi lấy chồng quyết định giải nghệ. Đến khoảng 5 năm sau, có một lần anh tìm gặp và mời Thanh Thúy trở lại, đầu tiên là thu băng, sau đó về cộng tác phòng trà Queen Bee nhân dịp anh sẽ khai trương vào tháng 3 năm 1971.

Ngày đó giữa Thúy và gia đình anh chị Ngọc Chánh gần gũi và thân thiết như gia đình. Dù bận cách mấy, mỗi sáng hết đi hát ở đại nhạc hội, Nha Xổ Số, thu Tivi hoặc thâu băng, đến chiều về là đã chuẩn bị son phấn quần áo để vào vũ trường. Anh em gặp nhau mỗi ngày, chưa kể là có những buổi tập dợt ban nhạc, ăn uống họp mặt gia đình, nên tình thân có thể nói là thâm sâu lắm.

Năm 1974, khi dời phòng trà Queen Bee sang Quốc Tế, mấy anh em cũng làm chung với nhau. Thuở ấy, thành thật mà nói, Thanh Thúy không hề biết nghĩ đến chuyện tiền bạc, chỉ lo công việc hàng đầu là mặt nghệ thuật, chọn lựa bài hát.. mong sao khi thực hiện những tác phẩm băng nhạc Thanh Thúy (có anh Ngọc Chánh góp công phần lớn trong đó), sẽ luôn được khán giả hài lòng về chất lượng cũng như bài bản.

Thấm thoát mà nay cũng đã hơn 46 năm dài kể từ khi cộng tác với anh và ban nhạc Shotguns. Được biết Trần Quốc Bảo và tuần báo Thế Giới Nghệ Sĩ thực hiện một số chủ đề về ban nhạc Shotguns và mừng anh sinh nhật thứ 80, Thanh Thúy kính chúc Anh sức khỏe tràn đầy để còn có thể đi khắp nơi chụp ảnh nghệ thuật như anh yêu thích, cũng như luôn cầu mong gia đình Anh chị và các cháu bình an và luôn gặp nhiều may mắn.

– NHẠC SĨ DUY KHIÊM (tay bass của Shotguns) :  Anh Chánh, Trần Quốc Bảo có nhờ Khiêm viết vài dòng những kỷ niệm về anh cho một bài báo sắp phát hành. Vài dòng làm sao nói hết những kỷ niệm, những hồi ức suốt mấy chục năm từ lúc có cơ hội gặp nhau và chơi nhạc thuở ban Shotgun thành lập năm 1968.

Những kỷ niệm đáng nhớ lúc thiếu thời đôi khi nó không là gì lớn lao nhưng là những dấu ấn hằn sâu trong suốt cuộc đời nhau. Có gì đâu anh Chánh, chiếc Vespa của anh không có cần đạp máy, bị gẫy hay là mất gì đó, điều đó không quan trọng, chỉ có là khi muốn chạy, anh lên ngồi sang số rồi một người đẩy, sau đó cười ngặt nghẽo, anh em mình là những nhạc sĩ nghèo mà vui quá phải không anh.

Anh và Khiêm là hàng xóm bao nhiêu năm mà không biết nhau. Ở xóm ông Tạ, Khiêm ở đầu hẻm, anh ở xóm trong. Sau khi lập ban, vô tình hỏi nhau mới biết, “Ủa, vậy hả !” thật đơn giản mà dễ thương làm sao. Anh có nhớ anh em mình gọi Pat Lâm là gì không ? “Ông thầy Tàu”. Vậy đó, Pat Lâm vẫn vui với tên gọi đó. Sau 75, trong một chuyến vượt biên, tàu Pat Lâm bị bắn chìm, xác trôi vào bờ với đứa con trong tay, nhiều người chứng kiến nói lại, nhưng anh em mình không biết an táng nơi nào.

Bao nhiêu năm trôi giạt nơi xứ người, mỗi người một nơi, kẻ còn người mất, tuổi ngày càng cao, những kỷ niệm một thời của ban shotgun, của anh Chánh, của Khiêm, của những anh em còn lại là một hoài niệm đẹp trong cuộc đời nhạc sĩ.

Vài dòng nhưng cũng đã dài, nhân có bài viết về ngày Sinh Nhật anh. Duy Khiêm Chúc anh Sinh Nhật thật vui, sức khỏe dồi dào và mong lại có dịp gặp nhau để nhắc lại một thời huy hoàng đã rất xa…

– CA SĨ PAULINE NGỌC : Nhạc sĩ Ngọc Chánh là một ông anh giỏi, rất giỏi và sáng tạo. Rất nhiều ý kiến mới trong lãnh vực Văn Nghệ và gan dạ cùng mình. Từ đi làm công trong ban nhạc để trở thành chủ phòng trà và tinh mắt lúc nào cũng theo kịp thị hiếu cũng như sự yêu thích của khán thính giả.

Nhạc sĩ Ngọc Chánh từ làm băng Shotgun đến Nhạc trẻ đều thành công độc đáo. Lúc nào cũng đi tiên phong, không ngán thua cuộc hay lỗ vốn. Anh Ngọc Chánh đã đem Pauline Ngọc từ Club Mỹ Long Bình về hát phòng trà Queen Bee, cũng như thế với anh Elvis Phương.

Thời đó anh Đức Huy đóng đô ở phòng trà Mỹ Phụng bến Bạch Đằng, còn Duy Quang, Julie Quang – ban Dreamers ở Club Hai bà Trưng, Mây Trắng ở Key Hole, nhưng Queen Bees thì hỗn hợp Nhạc trẻ và giòng nhạc tình với nữ Hoàng sầu muộn Thanh Thúy rất tuyệt vời!

Nghệ sĩ về hát ở phòng trà Queen Bee của anh Ngọc Chánh và chị Thanh Thúy thì sướng lắm. Ba tháng đầu Pauline Ngọc được ký contrat hát độc quyền, khỏi chạy vòng vòng hát chỗ khác, và được chú Ngọc Hoài Phương cùng những ký giả khác thay phiên viết bài lancer mình qua sự hướng dẫn của anh Ngọc Chánh. Chị bắt đầu sự nghiệp là từ đó nên yêu quý anh Ngọc Chánh suốt đời. Cầu Chúa thương cho anh ấy sức khỏe và bình an để xách máy đi vòng Thế giới chụp ảnh dài dài !

– CA SĨ ANH KHOA : – Hỏi : Khi mới vào nghiệp ca hát, những ca khúc nào có thể coi là “tủ” của anh ? Những bản nào khiến khán thính giả, nếu nghe lại, vẫn nhớ đến ca sĩ Anh Khoa ? Và, nhạc sĩ nào đã có ảnh hưởng lớn đến anh?

– Anh Khoa : Phải nói đến những “Bài không tên” của Vũ Thành An. Nhưng bài đã đưa tôi lên tên tuổi sáng chói nhất, chỉ có một bài thôi, là “Bao giờ biết tưong tư” (nhạc Phạm Duy, lời Ngọc Chánh). Sau này, có nhiều người ca bài đó, nhưng thật sự đa số khán giả vẫn đánh giá tôi hát bài đó là đạt nhất.

– NHÀ BÁO NGUYỄN VIỆT :  Năm 1969, Ngọc Chánh thành lập Trung tâm băng nhạc Shotguns, thu âm ở một phòng thu trên đường Bùi Hữu Nghĩa. Vì cộng tác chặt chẽ với nhạc sĩ Phạm Duy nên Ngọc Chánh đã nhờ Phạm Duy đặt lời cho bản nhạc “Bao giờ biết tương tư” (năm 1972) ông đã viết cho phim “Điệu ru nước mắt” dựa theo tác phẩm của nhà văn Duyên Anh. Ca sĩ Anh Khoa đã hát rất thành công bản nhạc này đúng ý ông nhất.

Nhạc sĩ Ngọc Chánh còn viết bản nhạc “Vết thù trên lưng ngựa hoang” cho bộ phim cùng tên của đạo diễn Lê Hoàng Hoa. Lúc đầu, ông định nhờ nhà văn Duyên Anh viết lời, nhưng sau đó đã để cho Phạm Duy viết lời. Duyên văn nghệ giữa Ngọc Chánh và nhạc sĩ Phạm Duy còn mang lại cho nền tân nhạc Việt Nam một bài hát nữa là “Tuổi biết buồn” cũng do Phạm Duy đặt lời.

Ca khúc “Bao giờ biết tương tư” trong phim “Điệu ru nước mắt” là lời tâm tình của một chàng trai biết thế nào là nỗi sầu tương tư khi tình yêu đến. Mãi đến khi đã thật sự yêu nàng, chàng mới biết thế nào là nỗi nhớ da diết mà người ta thường gọi là nỗi tương tư của một người phải xa cách người yêu để từng ngày qua là một ngày mong chờ được nhìn thấy bóng dáng của nàng. (theo Trần Quốc Bảo – Thế Giới Nghệ Sĩ)

Nguyễn Toàn chuyển tiếp

Chú thích ảnh :

H1: Lễ phát giải Kim Khánh 1973 do nhật báo Trắng Đen tổ chức. Từ trái sang phải: Bạch Tuyết, bầu Xuân (Dạ Lý Hương), Mai Lệ Huyền, Trần Quang, Thẩm Thúy Hằng, Elvis Phương, Thanh Thúy, Ngọc Chánh

H2: Ban nhạc Shotguns từ Saigon lên Đà Lạt dự đám cưới Duy Khiêm ngày 3 tháng 12 năm 1969. Từ trái sang phải : Pát Lâm, Ngọc Chánh, Elvis Phương, Ngọc Mỹ, Quốc Hùng, Hoàng Liêm, Duy Khiêm. H3: Anh chị Bảo Hà, Duy Khiêm.

H4: Một bức ảnh quý chụp tại Đà Lạt tháng 12 năm 1969. Phía sau là vũ trường Tulipe Rouge, nơi mà Khánh Ly đã hát trước khi về Saigon năm 1965-1966. Từ trái sang phải : Elvis Phương, Ngọc Chánh, vợ chồng Pat Lâm, Ngọc Mỹ, Duy Khiêm, Quốc Hùng và Hoàng Liêm. H5: Nhạc sĩ Ngọc Chánh và Phạm Duy từ những ngày trong nước đến khi ra hải ngoại luôn sát cánh hoạt động bên nhau.

H6: Buổi họp mặt Pauline Ngọc sang Cali lần đầu ngày 26 tháng 4 năm 2010. Từ trái: Ngọc Chánh, Trung Nghĩa, Pauline Ngọc, Lưu Thế Vũ, Anh Thời Billars, Trần Quốc Bảo.. H7: Bài hát Bao Giờ Biết Tương Tư (sáng tác của Phạm Duy – Ngọc Chánh) đã đưa tên tuổi Anh Khoa đến gần người yêu nhạc tại Saigon những năm 1971-1972