100 NĂM TẠP CHÍ NAM PHONG

100 NĂM TẠP CHÍ NAM PHONG :

Khát vọng giáo dục quốc dân

của lớp trí thức thời đầu thế kỷ XX

Năm 2017 đánh dấu tròn 100 năm tạp chí Nam Phong ra mắt quốc dân. Số báo đầu tiên của Nam Phong được phát hành vào ngày 01/07/1917 và số cuối cùng vào ngày 16/12/1934, chấm dứt 210 số báo tiếng Việt, 210 phụ trương tiếng Pháp và 210 phụ trương tiếng Hán sau hơn 18 năm tồn tại.

Vào năm cuối cùng này, tờ báo chuyển từ nguyệt san sang bán nguyệt san với một nỗ lực mạnh mẽ đổi mới, như Hán Thu Nguyễn Tiến Lãng viết trong số báo 199 kỷ niệm mười tám năm ra số đầu : «Tôi muốn từ nay Nam Phong không phải là một bà lão, Nam Phong lại là một cô thiếu nữ hây hây».

Trả lời RFI tiếng Việt, nhà nghiên cứu Thủy Chi tại Hà Nội, nhận xét : Ám chỉ một bà lão ở tuổi 18 của một tờ báo mang nhiều ý nghĩa. Trước hết, nó gắn với hiện tượng thường gặp trong làng báo chí đương thời: việc đình bản và tục bản của các tờ báo trong một thị trường báo chí thuộc địa rất hẹp và nhỏ. Thứ hai, báo chí Việt Nam cho tới những năm 1930 đã chứng kiến một sự lột xác ngoạn mục, mà ví dụ là việc Phong Hóa với khẩu hiệu trẻ trung đã thay thế «vị trí rất cao trong văn giới, chính giới» của Nam Phong.

Dĩ nhiên Nam Phong sống thọ như thế một phần quan trọng là nhờ ở vai trò ở hậu trường của người Pháp với một ý định chính trị thực dân cáo già rất rõ ràng. Đó là nhằm loại trừ ảnh hưởng nước Đức, vốn được truyền bá gián tiếp qua phong trào Tân Thư, qua tên tuổi Lương Khải Siêu. Nam Phong không chỉ nhận được khoản trợ cấp để có thể ra báo một cách đầy đặn, mà còn được chính quyền thực dân hỗ trợ «tạo nên công chúng».

Hồi ký của Hồ Hữu Tường cho biết ông cậu bà con của mình làm Hội Đồng «bị nhà nước ép mua dài hạn tạp chí nầy». Song mọi việc nhanh chóng vượt khỏi những điều mà Louis Marty dự tính ban đầu khiến ta phải thừa nhận rằng Nam Phong tồn tại thực sự trong làng báo chí Việt Nam với tư cách một tờ báo lớn không thể chỉ là nhờ ý định chủ quan của giới thực dân mà còn chính ở những người trực tiếp chèo lái nó. Một trong số những công trạng quan trọng nhất cần kể đến là khát vọng giáo dục quốc dân của lớp trí thức.

Trong lời mở đầu cho số 1 Nam Phong, Phạm Quỳnh đã đặt ra một vấn đề quan trọng về vai trò học vấn : «Ông cha ta đã đề tạo ra cái tổ quốc ta, đã chung đúc thành cái quốc hồn ta, không ngờ rằng ngoài nước ta còn có nhiều nước khác, ngoài học vấn đạo đức của ta còn có nhiều học vấn đạo đức khác nữa mà có ngày ta không thể biết hết được. Ngày ấy nay đã đến.Người nước ta nay đã mở mắt tỉnh giấc mộng trăm năm, mở cái mắt mơ màng ra mà nhìn cái thế giới mới.Trông thấy những cảnh tượng lạ lùng mà kinh mà sợ […] Sống trong thời đại này tất phải có một phần trong sự hoạt động ấy».

Phạm Quỳnh như thế đã tóm tắt điểm chủ yếu nhất mà một trí thức Việt Nam đương thời phải đối mặt.Đó là tình thế «toàn cầu hóa» một cách bất đắc dĩ.Nhận thức của ông với tư cách một trí thức Tây học không chỉ bao gồm việc nhận ra «kẻ khác» mà còn hiểu rằng giờ đây ta phải sống cùng kẻ khác thì mới có cơ hội tồn tại trong thời mới.

Để tồn tại được cùng kẻ khác, giáo dục là một trong những cách mà thế hệ trí thức 1907 thực hiện nhằm gìn giữ những giá trị quá khứ. Thế mà chi phí giáo dục theo lối mới rất đáng kể đối với một gia đình thường thường bậc trung ở ngay Hà Nội khi đó. Vào thời điểm này, từng có Đông Kinh Nghĩa Thục tham gia giáo dục quốc dân rồi nhanh chóng bị chính quyền thuộc địa đàn áp và giải tán. Đồng hành cùng với họ là Đông Dương tạp chí do Nguyễn Văn Vĩnh làm chủ bút với những bài viết về học vấn Tây phương, nhưng cuối cùng bị đình bản.

Giáo dục quốc dân qua tạp chí

Với phụ đề «l’Information française» (Cơ quan thông tin của Pháp) trên măng sét, tạp chí Nam Phong lại có phụ đề khác bằng tiếng Việt Văn học Khoa học tạp chí. Các đề mục đặc biệt có liên quan tới giáo dục do các nhà tân nho như Phan Kế Bính và Nguyễn Đỗ Mục, hoặc các trí thức Tây học Phạm Quỳnh, Phạm Duy Tốn đảm trách và được duy trì suốt trong suốt thời kỳ ra báo : Luận thuyết, Văn học bình luận, triết học bình luận, Khoa học bình luận, Văn tuyển, Tạp trở, Thời đàm, tiểu thuyết.

Bằng việc thiết kế như vậy, Nam Phong tự nhiệm về giáo dục như Đông Dương tạp chí từng làm.Cũng trong số đầu tiên, bức ảnh Albert Sarraut được chú thích là người thành lập Đại học Đông Dương chứ không phải bằng chức danh quan toàn quyền. Rõ ràng, tạp chí Nam Phong là một cách thức giáo dục dành cho quốc dân mà Phạm Quỳnh muốn theo đuổi. Với cách học qua tạp chí như thế, học không chỉ là lên lớp để lấy bằng, mà còn học để lấy tri thức như ông viết: «đương buổi bây giờ không cần cấp bằng gây lấy một cái cao đẳng học thức để thay cái học thức cũ đã gần mất».

Theo bà Phạm Thị Ngoạn, trong nghiên cứu của mình, hoàn toàn có lý khi gọi Phạm Quỳnh cùng các bạn đồng chí là những « giáo sư » trong một trường học mở theo lối mới để đáp ứng một nhu cầu học mới. Trong hoạt động của kiểu trường học không có trụ sở này, giáo sư không giao bài cho học sinh, không sửa bài, mà chỉ muốn «tâm tình với bạn đọc như với bạn cố tri», nhận những câu trả lời từ bạn đọc để từ đó có những bài viết thể hiện được.

Tính chất trường học góp phần tạo nên tính điển phạm ở cả khía cạnh kiến thức lẫn hành vi của cuộc đời. Điều ấy còn tương ứng với một kỳ vọng khác của Phạm Quỳnh khi ông viết: «Nước cốt ở dân, dân chủ ở một bọn người gọi là «thượng-lưu», hay bọn «thức giả xã hội», như nhà có nóc vậy. Nhà không có nóc thì ở sao.Nước không có một bọn thượng-lưu trí-thức để giữ-gìn cái cốt-cách trong nước, thì sao gọi là một nước được?Có nhà danh-sĩ Pháp đã nói rằngNước Pháp sở-dĩ là nước Pháp, cũng chỉ nhờ bởi bốn năm mươi người đại-trí.Nếu không có bọn ấy thì nước Pháp không còn là nước Pháp nữa ».

Chi tiết « bọn bốn mươi người đại trí » của Hàn Lâm Viện Pháp, mà Phạm Quỳnh thường xuyên cho in lại trên Nam Phong những bài viết của các thành viên hoặc của các giáo sư đại học Paris, hàm ý tham vọng xây dựng một lớp trí thức mới mẫu mực, tinh túy cho thời đại mới.

Vậy ai là những thành viên có thể tham gia vào nhóm bốn mươi người Việt đó? Hẳn nhiên trước hết chính là những ai từng bỉnh bút cho Nam Phong giai đoạn đầu như Nguyễn Bá Trác, Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Bá Học, Nguyễn Đôn Phục và Nguyễn Mạnh Bổng. Họ tất thảy đều có hai yếu tố rất quan trọng đối với giới trí thức Việt Nam đương thời: uy tín và tuổi tác.

Phạm Quỳnh cùng tờ báo của mình không chỉ hoàn thành một vai trò nhà báo đưa tin như cái măng-sét đã ghi ban đầu, mà còn có tham vọng giữ một tiếng nói chính thức về mặt học thuật đương thời trên trường trí thức mới đương thành lập. Dù tiếng nói đó đôi lúc trở nên học phiệt như Phan Khôi sau này từng lên tiếng, nhưng người ta không thể không ghi nhận một kỳ vọng lớn lao ấy của Phạm Quỳnh về lớp «thượng lưu trí thức để giữ gìn cốt cách trong nước, để bồi dưỡng cái quốc-túy».

Phong Hóa vào những năm 1930 sẽ chấm hết sự tồn tại Nam Phong bằng giọng hài hước khi nhại lại câu «Thứ nhất sừ Uỳnh thứ nhì sừ Ĩnh». Nhưng chắc chắn lớp trí thức tư sản như Nhất Linh, Khái Hưng đã được thừa hưởng rất nhiều từ cái khát vọng thượng lưu trí thức của Phạm Quỳnh như một nền tảng của trường trí thức thời hiện đại.

Phan Tất Đại chuyển tiếp

KHÁM PHÁ NGHỆ THUẬT

TRANH GƯƠNG XỨ HUẾ

DI SẢN QUÝ GIÁ THỜI NGUYỄN

Chúng ta đã được chiêm ngưỡng nhiều bức họa được vẽ trên các chất liệu như: giấy, lụa, sành, sứ… Nhưng có một loại tranh đặc biệt độc đáo, nó được vẽ trên kính, mà người Huế gọi nó là tranh gương. Dòng tranh này có giá trị nghệ thuật đặc sắc cần được bảo tồn và lưu truyền.

Đến nay, các bức tranh gương có giá trị đều do triều Nguyễn để lại và đang được trưng bày tại Bảo tàng cổ vật cung đình Huế (16 bức) và các cung điện, lăng tẩm ở Huế như cung Diên Thọ (điện chính), lăng Minh Mạng (điện Sùng Ân), lăng Thiệu Trị (điện Biểu Đức), lăng Tự Đức (điện Hòa Khiêm, điện Lương Khiêm), lăng Đồng Khánh (điện Ngưng Hy) và điện Huệ Nam (điện Hòn Chén).

Xuất xứ của dòng tranh gương vẫn còn nhiều thắc mắc

Có rất nhiều người nghiên cứu về xuất xứ của loại nghệ thuật độc đáo này. Phần đa ý kiến cho rằng, tranh gương cố đô Huế có xuất xứ từ Trung Quốc. Nguyên là vua Thiệu Trị (1841-1847) có tập thơ “Thần kinh nhị thập cảnh” vịnh 20 cảnh đẹp của đất Huế, đã gởi các bài thơ này qua Trung Quốc đặt vẽ. Dựa trên nguồn cảm hứng này, các nghệ nhân Trung Quốc thời đó đã khắc họa 20 bức tranh theo 20 khung cảnh trong tập thơ. Mỗi bài thơ này được thể hiện thành một bức tranh gương, sau đó mới mang trở về kinh đô Huế, treo tại các miến điện.

Nét độc đáo của tranh gương triều Nguyễn- cung đình Huế

Nếu ai đã từng tới Huế, thì không khỏi ngỡ ngàng và yêu thích những bức tranh gương đang được trưng bày tại đây. Một loại thể hiện nghệ thuật trên chất liệu mới lạ đã có từ trăm năm nay.

Tranh gương cung đình Huế là một loại hình tranh mang bản sắc riêng của Huế bởi xuất xứ, cách thể hiện cùng chất liệu độc đáo. Tranh gương được đóng trong những khung gỗ chạm thếp vàng, khá cầu kỳ, thực sự là những bức tranh độc lập.

Chủ đề của tranh gương cung đình Huế về cơ bản có 3 loại chính. Loại tranh cao cấp “thi họa” hay tranh thơ ngự chế chủ yếu mô tả và ca ngợi 20 cảnh đẹp được vua Thiệu Trị xếp hạng, tranh minh họa các bài thơ đề vịnh các mùa trong năm, vịnh các cảnh mà vua bất chợt tức cảnh đề thi…

Loại tranh thứ hai không đề thơ nhưng có đề rõ chủ đề là loại tranh minh họa cho các điển tích trong lịch sử Trung Hoa.

Loại tranh thứ ba là tranh vẽ tĩnh vật. Với người thưởng lãm hay du khách, những bức tranh này có thể chỉ đơn thuần là cảnh đẹp của thiên nhiên, của non nước hữu tình, nhưng với những nhà nghiên cứu, bên cạnh giá trị nghệ thuật, mỗi bức tranh gương chính là giai thoại lịch sử quan trọng để phục dựng, trùng tu các di tích có liên quan.

Chất liệu để vẽ loại tranh này là bột màu pha keo, hoặc sơn, được vẽ hoặc khảm xà cừ vào mặt sau của gương theo kiểu vẽ âm bản để nhìn mặt trước thành dương bản.

Kỹ thuật vẽ ngược chiều đòi hỏi họa sĩ, nghệ nhân phải hết sức tài hoa, khéo léo và có trí tưởng tượng cực kỳ phong phú mới có thể thực hiện được.

Do kỹ thuật phức tạp, sự tư duy về mặt hình tượng là rất riêng. Người vẽ phải tưởng tượng phía bên kia (mặt trái) để nhìn xuyên từ kính qua (mặt phải) đòi hỏi dự phối hợp giữa tư duy, kỹ thuật, chất liệu và đặc trưng phản ánh. Tất cả tạo nên nét riêng, độc đáo, tinh tế của tranh gương và đó cũng chính là những đặc trưng mà không có loại hình mỹ thuật nào của Huế có được

Đặc biệt trong đề tài, màu sắc của tranh gương dường như là ngôn ngữ của một mảng nghệ thuật riêng biệt, không nhất quán. Tại lăng Tự Đức, điện Hòa Khiêm, cung An Định hiện lưu giữ được những tranh gương tuyệt đẹp, mỗi bức có chiều rộng khoảng 9 tấc, cao 6 tấc. Bức tranh được lồng trong một khung thếp vàng, chạm nổi những vòng hoa, trái, lá… Theo một số tài liệu, khi sơn thếp vàng dùng trong tranh là vàng thật, bằng một chất kết dính đặc biệt, không làm phai màu của vàng và giữ được độ óng ánh của màu kim loại này. Do đó, trải qua thăng trầm thời gian, những bức tranh vẫn rực rỡ, tươi tắn như mới, có độ phát quang, lan tỏa giữa các màu.

Quá trình khôi phục dòng tranh đặc sắc này cần thời gian nghiên cứu và sự bền bỉ

Có một vài ý kiến cho rằng, lí do mà dòng tranh mang giá trị nghệ thuật lớn như thế này gần như không còn phát triển tại Huế là vì nó được truyền từ Trung Quốc, trải qua năm tháng lịch sử mà bị thất truyền.

Do kĩ thuật vẽ loại hình tranh gương này rất đặc biệt, bức họa được vẽ theo dạng vẽ ngược, tức là cái gì kết thúc sau phải vẽ trước, nên càng đòi hỏi sự tài hoa và truyền dạy.

Chính vì vậy mà sau  2 năm mày mò tìm hiểu, thử nghiệm, hiện nay họa sĩ Dương Văn Kính đã có thể tạo nên những sản phẩm tranh gương trang trí khổ nhỏ về chủ đề phong cảnh, tranh dân gian làng Sình, tranh Đông Hồ và sen Huế để quảng bá du lịch, tạo sản phẩm lưu niệm mới cho du khách khi đến cố đô Huế. Anh mạnh dạn dùng màu chuyên dụng cho tranh gương của Pháp, loại màu này cho phép nhìn bức tranh 2 mặt gần như nhau chứ không chỉ một mặt như tranh gương trước đây.

Tranh gương xứ Huế dẫu trải qua những năm tháng của lịch sử, nhưng màu sắc và tuổi thọ của nó như thách thức với thời gian. Nó tạo lên một nét rất riêng của Huế.

Quá trình phát triển của xã hội cuốn theo các trào lưu tư tưởng nghệ thuật mới, có những dòng tư tưởng được coi là biến dị về phong cách nghệ thuật cũng như ý tứ nghệ thuật, cái mà ngày nay người ta gọi đó là nghệ thuật đôi khi là sự phản cảm thì sức hút của nó tới công chúng chỉ là một giai đoạn thời gian ngắn ngủi, nhưng với những kiệt tác nghệ thuật cổ xưa thì sức hấp dẫn của nó chưa bao giờ là nguội.

Nó không chỉ là giá trị tinh thần của dân tộc mà hơn thế, chính là tinh hoa trí tuệ của người xưa. Cái mà cho đến ngày nay, thế hệ đời sau vẫn mãi phải kiếm tìm để có được. Bảo tồn giá trị xưa chính là bảo tồn và di lưu truyền thống, tìm về văn hóa nghệ thuật nguồn cội. (theo Tịnh Tâm)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

NHỮNG TRUYỆN THẬT NGẮN

ĐẦY CẢM ĐỘNG

Lời con trẻ

Sau khi ly hôn, người chồng dọn đồ đạc ra khỏi nhà. Đứa con gái nhỏ hỏi mẹ :

– Sao mẹ đuổi bố ?

– Tại bố hư !

Để nó khỏi vặn vẹo hỏi lôi thôi, người mẹ mua cho cái bánh. Thằng anh từ đâu phóng tới bẻ của em miếng bánh, bỏ ngay vào mồm. Con bé khóc ré bắt đền. Người mẹ dỗ dành:

– Anh này hư quá ! Thôi con nín đi, bỏ qua cho anh một lần.

Đứa con phụng phịu:

– Thế mẹ có bỏ qua cho bố đâu !

Người mẹ nhìn xa xăm:

– Ừ, ra mẹ cũng hư!

Em tôi

Bám đất Sài Gòn sau 3 năm ra trường, tôi vẫn không xin được việc. Vài cua dạy kèm cũng chẳng đủ trang trải, lại phải nhờ nguồn “trợ cấp” ở quê. Vừa rồi, đau ruột thừa, nằm viện. Mẹ vượt ngàn cây số vào thăm. Ngày về, dúi vào tay tôi chỉ vàng, bảo : “Của cái Lan, nó dặn con dùng để hồi sức, viện phí và tiền gởi vào cho con trước đây cũng một tay nó cả. Tội nghiệp ! Dạy thêm tít mù, còn nuôi thêm cả lợn”.

… Nhớ ngày Lan trượt đại học, thư về tôi mắng chẳng tiếc lời… Cầm món quà của em, tôi chỉ còn biết nuốt nước mắt vào trong.

Ngày xưa

Thuở nhỏ, nhà tôi nghèo lắm. Mỗi chiều, anh em tôi thường tụ lại bên nồi cơm độn khoai sắn, ríu rít như đàn chim về tổ. Thiếu thốn, nhưng chúng tôi nhường nhau phần thức ăn ngon nhất, mẹ tôi rất vui lòng.

Khi chúng tôi khôn lớn, có gia đình riêng, ai cũng khá giả. Hôm giỗ ba, có mặt đông đủ, anh Hai tôi phàn nàn với mẹ cây xoài của anh Ba mọc chồm qua sân nhà anh. Chị Ba trách anh Tư đào ao lấn qua phần đất của chị hai tấc. Mẹ tôi trầm ngâm : “Mẹ ước gì được trở lại thời nghèo khó ngày xưa…”

Mẹ tôi

Chiến tranh ác liệt. Bố ra chiến trường. Mẹ cô độc dắt con lánh nạn khắp nơi.
Hòa bình. Bố không trở về. Mẹ khóc hằng đêm.

Năm năm sau, mẹ mới quyết định lập bàn thờ với bức di ảnh của bố. Một mình mẹ vất vả nuôi con. Vậy mà căn bệnh ung thư quái ác lại cướp mất mẹ.

Hôm bức ảnh mẹ được đưa lên bàn thờ bên cạnh bố, bất ngờ bố trở về ! Tất cả chợt vỡ òa…. Bức ảnh bố được hạ xuống. Trên bàn thờ… mẹ lại một mình.

Mẹ ghẻ

Cô tôi muộn chồng vì quá dữ dằn, ruột thịt cũng chẳng ai muốn gần, đành lấy dượng, đã góa vợ.

6 tuổi, Lộc về với mẹ ghẻ, làm đủ việc mà vết roi mới chồng lên dấu đòn cũ… Lộc 15 tuổi, dượng chết. Đinh ninh Lộc bỏ đi, nên ngày mở cửa mả, cô đuổi khéo :

– Có muốn về với bà ngoại mày không ?

Lộc cúi đầu, nói trong nước mắt :

– Con đi rồi, mẹ ở với ai ?

Sau câu nói ấy, dường như bà mẹ ghẻ thì ở lại với nấm mồ, còn cô tôi về, đi chùa, ăn chay. Lộc trở thành cậu ấm – rồi trở thành thạc sĩ, mẹ con thân thương như một phép màu.

Lòng mẹ

Nhà nghèo, chạy vạy mãi mới được xuất hợp tác lao động, Thanh coi đó như cách duy nhứt để giúp đỡ gia đình. Nhưng ảo mộng chóng tan. Xứ người chẳng phải là thiên đường. Thanh chỉ còn biết làm quần quật và dành dụm từng đồng.

Để nhà khỏi buồn, trong thư Thanh tô vẽ về một cuộc sống chỉ có trong mơ.
Ngày về, mọi người mừng rỡ nhận quà, Thanh lại tiếp tục nói về cuộc sống trong mơ. Đêm. Chỉ có Mẹ. Hết nắn tay, nắn chân Thanh rồi Mẹ lại sụt sùi. Thanh nghẹn ngào khi nghe Mẹ nói : “Dối Mẹ làm gì ! Giơ xương thế kia thì làm sao mà sung sướng được hở con !”

Quế Phượng chuyển tiếp

Say vì vợ

Một người đàn ông đến quầy bar và yêu cầu một ly rượu.​ Khi vừa uống hết ly rượu, ông ta khẽ liếc vào túi áo mình rồi mới bắt đầu gọi thêm một ly rượu khác. Cứ như thế, người đàn ông luôn nhìn vào túi áo trước khi gọi rượu. Quá ngạc nhiên, người phục vụ hỏi :​

– Tôi có thể phục vụ cho ông cả đêm, nhưng tại sao trước khi gọi ông cứ phải nhìn vào túi áo mình thế ?

Người đàn ông cười lớn;

– Đó là phương pháp giúp tôi xác định mình còn tỉnh táo hay không ấy mà.

Người phục vụ ngạc nhiên :

– Làm sao có thể chứ.

– Bên trong túi áo là một bức ảnh của vợ tôi, khi tôi bắt đầu nhìn thấy cô ấy xinh đẹp thì đó chính là lúc tôi nên về nhà rồi đấy anh bạn ạ

Thế mà điên được sao ?

– Lão chồng làm mình tức điên được.

– Sao thế ?

– Mình xin lão 500usd đi thẩm mỹ viện.

– Đúng là lão keo thiệt mà, có 500usd mà không cho hả ?

– Lão nhìn mình từ đầu đến chân, rút ví đưa mình hẳn 5.000usd mình mới điên đấy chứ.

!!!!????

Đồ ngu

Rời rạp hát, Tèo dìu nàng lên xe bus… Xe chạy chưa tiêu một lít xăng thì Tèo lại táy máy … đặt tay lên đùi váy ngắn của nàng rồi từ từ run run nhích cao lên … cao lên. Thấy nàng ngồi im không phản đối… Tèo háo hức lướt tay thẳng vào… nguồn gốc của nhân loại …

– ĐỪNG, “nàng quát và Tèo mất cả hồn vía rút tay về… có cái gì chợt… tiu ngĩu”
– Chời ơi..! Bảo đừng nhấc tay lên, để yên đấy ! Sao mà ngu thế không biết; “nàng .!!!”

Dung Dung chuyển tiếp

Advertisements

CHUYỆN ĐÀ LẠT KHÔNG PHẢI AI CŨNG BIẾT

CHUYỆN ĐÀ LẠT KHÔNG PHẢI AI CŨNG BIẾT

DINH III BẢO ĐẠI

& NGÔI BIỆT THỰ ĐÁ

Kể từ khi bác sĩ Yersin tìm ra cao nguyên Lang Biang, Đà Lạt trở thành tên gọi quen thuộc có sức hút mãnh liệt đối với du khách. Vùng đất này vẫn còn ẩn chứa nhiều điều không phải ai cũng biết.

Xin giới thiệu với bạn đọc một số câu chuyện về Đà Lạt ít ai biết, hoặc đã biết nhưng chưa tỏ tường…

Lão bộc nhận lương bằng…. vàng

Ngày 23/12/2017, bộ sưu tập “Báu vật triều Nguyễn tại Đà Lạt” với hơn 120 cổ vật quý giá được đưa ra trưng bày. Bà Đoàn Thị Ngọ, phó giám đốc Bảo tàng tỉnh Lâm Đồng, đã ghi nhận một cách trân trọng rằng ông Nguyễn Đức Hòa là người có công giữ gìn và bàn giao chúng nguyên vẹn cho chính quyền sau năm 1975.

Ông Hòa là ai mà được quyền lưu giữ, bảo quản những cổ vật quý giá được làm từ ngọc, bạc, vàng, đá quý, ngà voi và mã não…? Không nhiều thông tin về ông cho đến khi chúng tôi lục lại những tư liệu cũ liên quan đến dinh Bảo Đại tại Đà Lạt.

Dinh Bảo Đại là một công trình kiến trúc hài hòa giữa phong cách Á – Âu đầu tiên của triều Nguyễn được xây dựng trong bốn năm (1934-1938). Tên gốc của công trình này là Palais Impérial nằm trên đường Darles (nay là đường Triệu Việt Vương), bao quanh là rừng thông mang tên Bois d’amour (Rừng tình) rộng gần 10ha.

Sau năm 1975, có tên mới là Dinh 3. Trong biệt điện có một người quản gia tận tụy từ thời vua Bảo Đại qua chế độ Việt Nam cộng hòa cho đến sau ngày đất nước thống nhất. Đó là ông Nguyễn Đức Hòa (1926-2009).  Sinh thời, giới văn nghệ sĩ và người dân Đà Lạt gọi ông là “lão bộc qua các triều đại”.

Theo vua từ thuở mười ba

Trước năm 1945, dinh thự Palais Impérial là nơi sinh hoạt của gia đình vị vua cuối cùng của vương triều Nguyễn. Khi trở thành quốc trưởng và khai sinh ra Hoàng triều cương thổ (năm 1950), vua Bảo Đại đã sử dụng biệt điện này để ở và tiếp khách.  Công trình kiến trúc này được xây dựng hai tầng, sắp xếp khéo léo từ trong ra ngoài.

Ông Nguyễn Đức Hòa sinh ra và lớn lên tại làng Dương Nỗ (huyện Phú Vang, Thừa Thiên – Huế). Năm 13 tuổi, được một người bác họ làm ở đội kỵ mã đưa vào Đại nội giúp việc và được thái hậu Từ Cung (bà Hoàng Thị Cúc, mẹ vua Bảo Đại) tin cậy cho theo hầu Bảo Đại.

Ngày 28/4/1949, Bảo Đại được Pháp đưa về Việt Nam. Ngày 14/4/1950, Bảo Đại ra dụ số 6/QT/TG xác định Đà Lạt là thủ phủ của Hoàng triều cương thổ và cao nguyên miền Nam. Ông Nguyễn Đức Hòa được theo vua lên Đà Lạt. Ông được vua Bảo Đại hết sức tin cậy.

Khi còn sinh hoạt trong dinh, vua Bảo Đại và Nam Phương hoàng hậu luôn giữ gìn nề nếp gia phong của hoàng tộc. Sau mỗi bữa tối, các hoàng tử, thái tử, công chúa đều được gọi lên phòng để hàn huyên và nghe vua, hoàng hậu giáo huấn, bảo ban.

Sau khi Bảo Đại không còn làm vua nữa, ông Hòa được Việt Nam cộng hòa giữ lại làm việc trong dinh. Đây cũng là điều đặc biệt, có lẽ nhờ bản tính điềm đạm, hiền lành, trung thực của ông.

Gìn giữ báu vật hoàng gia

Trước khi ông Hòa mất, chúng tôi có gặp ông và đề nghị ghi âm cuộc trò chuyện, ông vui vẻ đồng ý. Khi hỏi đến tiền lương, ông nói :

– Ngày còn phục vụ vua Bảo Đại, mỗi tháng tôi được 4 lượng vàng.

– Vậy một năm được 48 lượng vàng, bác tiêu sao hết ?

– Tuổi trẻ ham chơi, tiêu hết rồi…

– Trong thời gian làm việc với Bảo Đại, có bao giờ bác thấy vợ chồng Bảo Đại to tiếng với nhau không ?

– Có chứ ! Nhưng mỗi lần cãi nhau thì họ chuyển sang nói bằng tiếng Pháp. Mình chịu. Ông tiếp : Vua Bảo Đại hay dành thời gian nói chuyện với tôi khi đi xa. Ông cũng có nỗi niềm riêng ít ai biết được.

Rồi ông cho biết them : “Dưới thời ông Ngô Đình Diệm, tôi được trả lương hằng tháng tương đương 5 lượng vàng, thời ông Nguyễn Văn Thiệu là 7 lượng vàng”.

Sau ngày 30/4/1975, chính quyền quân quản cũng tiếp tục nhận ông làm nhân viên, lo các công việc trong dinh Bảo Đại và được hưởng lương theo quy định nhà nước cho đến khi qua đời.

Ông là lão bộc duy nhất được các chế độ khác nhau giữ lại làm quản gia ở dinh Bảo Đại, và là người được Từ Cung thái hậu tín cẩn giao giữ các két sắt có chứa tài sản (gồm tư trang và đồ dùng của gia đình). Về sau, tài sản này đã được đơn vị T78 thuộc Ban Tài chính quản trị Tỉnh ủy Lâm Đồng bảo quản, cất giữ.

Năm 2000, ông Hòa là người đặt ra một số câu hỏi đề nghị những người có trách nhiệm trong chính quyền địa phương trả lời về sự mất còn của số tài sản là ngọc ngà châu báu tại dinh Bảo Đại trước đây.

Ngày 17/2/2000, Văn phòng Chính phủ đã có công văn yêu cầu chủ tịch tỉnh Lâm Đồng làm rõ sự việc và báo cáo kết quả lên Thủ tướng. Kết quả báo cáo như sau (trích) :

Nguồn gốc số tài sản này (gồm tư trang và đồ dùng gia đình) trước ở dinh III là tài sản của Từ Cung thái hậu (mẹ của vua Bảo Đại). Sau ngày 30-4-1975, đơn vị T78 thuộc Ban Tài chính quản trị Tỉnh ủy Lâm Đồng tiếp nhận, bảo quản, cất giữ (có biên bản bàn giao và niêm phong cẩn thận). Đến cuối năm 1996, số tài sản đó được đưa sang Kho bạc Lâm Đồng tiếp nhận niêm phong cất giữ cho đến nay và bảo đảm còn nguyên trạng như khi tiếp nhận từ T78.

Sở dĩ tỉnh chưa có kế hoạch trưng bày các cổ vật này vì : Đây là những cổ vật quý, hiếm, có giá trị về lịch sử nên muốn trưng bày phải có chế độ bảo quản nghiêm ngặt. Ngoài ra, khi cho trưng bày thì phải đầu tư trang bị một số thiết bị chuyên dùng để phục vụ công tác bảo quản tránh hư hao xuống cấp đồ vật”.

Cho đến khi mất, ông Hòa có hơn 60 năm gắn bó với dinh Bảo Đại, khu Rừng tình và những ký ức khó để nói tường tận về vua Bảo Đại.

Trưng bày báu vật triều Nguyễn trong festival hoa

Trong thời gian diễn ra Festival hoa Đà Lạt 2017 (từ ngày 23/12/2017 đến ngày 2/1/2018), Bảo tàng Lâm Đồng đã chọn cung Nam Phương Hoàng Hậu (số 4 Hùng Vương, Đà Lạt) làm nơi trưng bày giới thiệu bộ sưu tập “Báu vật triều Nguyễn tại Đà Lạt”.

Đây cũng là lần đầu tiên bộ sưu tập hiện vật độc đáo này ra mắt công chúng một cách đầy đủ về số lượng và chuẩn xác về thông tin với trên 120 cổ vật.

Phần lớn các hiện vật này đều do Ngự xưởng triều Nguyễn chế tác từ thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20, cá biệt có một ít hiện vật thuộc thế kỷ 18.

NGÔI BIỆT THỰ ĐÁ CỦA BÀ PHI ÁNH

Ngoài Nam Phương hoàng hậu – người vợ chính thức, vua Bảo Đại còn có các thứ phi và những cuộc tình. Câu chuyện tình của cựu hoàng Bảo Đại và thứ phi Phi Ánh là lý do quyết định khiến tôi tìm hiểu thêm về căn biệt thự này

Qua sự “mai mối” của dược sĩ Phan Văn Giáo – thủ hiến Trung Kỳ, cựu hoàng Bảo Đại đã gặp Lê Thị Phi Ánh (sinh năm 1925).

Người tình đặc biệt

Năm 1949, được tin cựu hoàng Bảo Đại trở về nước lại lên ngay Đà Lạt, ông Phan Văn Giáo đã xuống tận phi trường Liên Khương đón vua Bảo Đại và giới thiệu Phi Ánh cho ông. Bà Lê Thị Phi Ánh là con út của ông Lê Quang Sáu ở Huế. Bác của Phi Ánh là ông Lê Quang Thiết, phò mã của vua Thành Thái.

Chúng tôi đã nhiều lần được gặp ông Nguyễn Đắc Xuân – một người luôn gắn bó với công việc nghiên cứu về Huế, đặc biệt là chuyện vua tôi nhà Nguyễn.  Khi nhắc đến Đà Lạt và những câu chuyện liên quan đến những bà thứ phi của cựu hoàng Bảo Đại, nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân rất vui và kể lại rành mạch.

Bà Lê Thị Phi Ánh người trắng trẻo, cao ráo, mũi cao, mắt sáng, đẹp nhất trong bốn cô “phi”. Đang lúc buồn, gặp Phi Ánh, Bảo Đại phải lòng ngay. Không rõ Phan Văn Giáo đã “tâu” với Bảo Đại như thế nào mà sau khi ân ái với Phi Ánh, Bảo Đại đã “tặng” cho bà một số tiền lớn. Và thật bất ngờ, theo một người thân trong gia đình Phi Ánh cho biết, ông vua “ham chơi” đã bị nhân tình “thất lễ” bằng một cái tát.

Phi Ánh giải thích cho Bảo Đại biết bà “muốn làm thứ phi của hoàng đế, chứ không phải là gái làm tiền”. Bảo Đại vỡ lẽ, không những ông không phẫn nộ mà càng yêu quý Phi Ánh hơn.

Bà Phi Ánh xuất thân trong một gia đình tử tế và giàu có với nhiều nhà cửa và biệt thự tại Huế. Bà Ánh gọi bà Lê Thị Kim Lộc (bà ngoại của giáo sư Phan Lương Cầm) là cô ruột.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân còn cho biết thêm: Bà Phi Ánh đã sinh cho vua Bảo Đại được 2 người con. Người con gái là Nguyễn Phước Phương Minh, sinh năm 1950 và qua đời tại Mỹ năm 2012. Người con trai là Nguyễn Phước Bảo Ân, sinh năm 1951 tại Đà Lạt. Sau năm 1975, bà Phi Ánh sống trong cô đơn tại Sài Gòn và qua đời vào năm 1986 ở tuổi 61.

Nhà… đá tặng thứ phi

Cựu hoàng Bảo Đại đã mua một ngôi biệt thự bằng đá nằm trên đường René Robin (nay là đường Quang Trung, P.9, TP Đà Lạt) vào năm 1950, được người Pháp xây dựng theo kiến trúc Tây Ban Nha để làm quà tặng cho bà Phi Ánh.

Đây là món quà tặng đặc biệt của cựu hoàng, nên còn có tên gọi khác là biệt thự Phi Ánh. Theo Trung tâm Quản lý nhà Đà Lạt, biệt thự được xây dựng vào năm 1928.

Khác với các ngôi biệt thự khác, kiến trúc của biệt thự Phi Ánh nằm trên một diện tích sân vườn vừa phải.. Biệt thự được xây phần lớn bằng đá chẻ, có lối đi rộng nối từ căn nhà bên này sang bên kia, có những ô cửa lớn được thiết kế thành những chiếc vòm cao gió lùa bốn phía.

Trong biệt thự này có trưng bày các bức tượng vũ nữ, 12 phù điêu hai mặt trên tường, trong đó có 4 bức hoa sen cách điệu có hình hai đầu chim lạ. Một số bức tranh sơn dầu vẽ cựu hoàng Bảo Đại, thứ phi Lê Thị Phi Ánh trên tầng lầu phía bên trái nhìn từ ngoài vào.

Ông Đặng Nguyễn Văn Tích, giám đốc Trung tâm Quản lý nhà Đà Lạt, cho biết biệt thự Phi Ánh sau năm 1975 được giao cho khoảng 30 hộ dân sống bên trong, khiến nó xuống cấp trầm trọng vì sử dụng không đúng công năng và quá tải bởi hơn trăm người cư ngụ, trong khi nó được thiết kế cho một gia đình.

Sau này, nhà đầu tư đã bỏ tiền di dời dân ra khỏi biệt thự, thuê chuyên gia khôi phục nguyên trạng. Đây là căn biệt thự được đánh giá hồi sinh sau khi giao cho tư nhân sử dụng kinh doanh du lịch.

Sau nhiều lần sang tay đổi chủ, hiện nay biệt thự này có tên mới là nhà hàng Phù Đổng. Ông Nguyễn Trọng Phương – người Hà Nội, là người chủ mới nhất của biệt thự này – không chỉnh sửa nhiều mà cố giữ nguyên trạng, đặc biệt là hình dáng và vật liệu làm nên sự độc đáo của ngôi biệt thự là những khối đá xanh lớn.

Ông Phương cho biết khi đến Đà Lạt có để ý nhiều biệt thự cổ, nhưng sau cùng ông quyết định mua biệt thự Phi Ánh : “Câu chuyện tình của cựu hoàng Bảo Đại và thứ phi Phi Ánh là lý do quyết định khiến tôi tìm hiểu thêm về căn biệt thự này và mua”.

“Có hơi người thì biệt thự Phi Ánh mới có sức sống. Khi tiếp nhận nó, mở cánh cửa từng căn phòng, tôi cảm nhận hơi lạnh tràn từ góc nhà này sang góc nhà khác. Từ lúc đó, tôi biết căn nhà này không được đóng cửa dù chỉ một ngày” – ông Phương nói.

Ông bóng gió rằng chính ký ức mãnh liệt của Đà Lạt thời Bảo Đại khiến căn nhà này có sức sống và độ bền bỉ hơn hàng trăm biệt thự cổ khác ở Đà Lạt. Khi còn sống, kiến trúc sư Nguyễn Văn Lập, nguyên chủ tịch Hội Kiến trúc tỉnh Lâm Đồng, nhận định biệt thự Phi Ánh có nét riêng biệt giữa 170 biệt thự cổ trên địa bàn TP Đà Lạt.

Xét về độ độc đáo, nó có thể so sánh với bốn công trình đặc trưng của Đà Lạt là: Trường cao đẳng Sư phạm Đà Lạt (trước kia là Trường Grand Lycée Yersin, thành lập năm 1927), nhà ga Đà Lạt, nhà thờ Con Gà, Cục Bản đồ (trước là Nha Địa dư) dù có quy mô khiêm tốn hơn nhiều.

Trong một tài liệu mới đây, nhà nghiên cứu Nguyễn Hồng Trân cho biết: sau ngày cựu hoàng bị Ngô Đình Diệm truất phế, bà con, ngay cả bên gia đình của bà Phi Ánh cũng không ai dám chứa chấp mẹ con bà, nên ba mẹ con phải ở nhà thuê, rày đây mai đó, thật mệt mỏi…

Trong hoàn cảnh này, bà Phi Ánh đành phải bước thêm bước nữa cho đỡ cô đơn, vất vả. Các con của bà Phi Ánh và cựu hoàng Bảo Đại cũng có cuộc sống long đong, lận đận không khác gì mẹ mình.

Quan tâm đến người tình

Không riêng gì với thứ phi Phi Ánh, cựu hoàng Bảo Đại luôn quan tâm đến các thứ phi cũng như người tình của mình khi họ cùng lên Đà Lạt sinh sống với ông.

Bà Bùi Mộng Điệp được cựu hoàng Bảo Đại mua tặng một ngôi biệt thự sang trọng của ông Basier trên đường Graffeuille, gần ngã ba Trại Hầm (giao giữa đường Hùng Vương và Hoàng Hoa Thám, P.10, Đà Lạt).

Bà Jenny Woong (Hoàng Tiểu Lan, còn có tên là Tran Ny) được cựu hoàng Bảo Đại đưa về Đà Lạt và dành cho bà một ngôi biệt thự tại số 3 đường Babey (nay là đường Nguyễn Du). (theo Mai Vinh – Ngọc Trác)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

THỦ PHỦ

‘HOÀNG TRIỀU CƯƠNG THỔ’

Đà Lạt dù là vùng đất được phát hiện muộn (năm 1893) nhờ công của bác sĩ Yersin nhưng thành phố nhỏ này luôn được đặt ở một vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển quốc gia cho dù thời thế đã vần chuyển bao lần.

Chính quyền thời Pháp thuộc từng xác định mảnh đất cao nguyên nhỏ bé này là thủ phủ Đông Dương và ra sức quy hoạch, xây dựng. Cựu hoàng Bảo Đại có một thời gian ngắn “làm chủ” vùng đất này và biến nó thành “đất của vua”. Ai muốn đặt chân đến lãnh thổ này (Đà Lạt) phải xin phép Nha công an Hoàng triều cương thổ thuộc Văn phòng Quốc trưởng ở Hà Nội và Sài Gòn

“Đất của vua”

Cựu hoàng Bảo Đại được Pháp đưa về nước năm 1949, cho lập chính phủ mới và làm quốc trưởng “Quốc gia Việt Nam”. Một năm sau, ông ra dụ số 6/QT/TG, lập Hoàng triều cương thổ đặt dưới quyền quản trị của khâm mạng (Nguyễn Đệ nhận chức vụ ấy) nhưng mọi quyết định đều do Khâm sứ Trung kỳ chuẩn phê.

Dụ này cũng xác định Đà Lạt là thủ phủ của Hoàng triều cương thổ và cao nguyên miền Nam. Mấy tháng sau, Bảo Đại bổ nhiệm đại tá Didelot làm đại diện cho quốc trưởng tại các tỉnh sơn cước Tây Nguyên: Đà Lạt, Buôn Ma Thuột, Đắk Lắk, Kon Tum, Pleiku, Lâm Viên, Đồng Nai Thượng và gọi là “Hoàng triều cương thổ”, tức đất của nhà vua. Như vậy, Hoàng triều cương thổ trải dài trên khắp các tỉnh Tây Nguyên.

Khi về nước, ông Ngô Đình Diệm được Bảo Đại cử làm thủ tướng của chính phủ “Quốc gia Việt Nam”. Được Mỹ hậu thuẫn, ông Ngô Đình Diệm đã tổ chức truất phế Bảo Đại, lập ra chính phủ “Việt Nam cộng hòa” do ông làm tổng thống.

Ngày 24/3/1955, đại diện quốc trưởng Bảo Đại đã đọc tuyên bố chấm dứt chế độ “Hoàng triều cương thổ” tại buổi lễ tổ chức trước Tòa hành chánh Kon Tum, với sự hiện diện của hàng ngàn đồng bào Thượng (dân tộc thiểu số). Như vậy, Hoàng triều cương thổ vỏn vẹn chỉ tồn tại có 4 năm 11 tháng.

Đến Đà Lạt phải có “visa”

Chúng tôi tìm gặp ông Nguyễn Hữu Tranh, nguyên cán bộ Sở Khoa học kỹ thuật Lâm Đồng. Ông Tranh là người đã sống qua thời “Hoàng triều cương thổ” và có hơn 30 năm tổng hợp tư liệu và nghiên cứu về Đà Lạt.

Khi hỏi đến thời kỳ Hoàng triều cương thổ, ông hào hứng kể : “Năm 1952, lúc ấy tôi mới 13 tuổi đã lên Đà Lạt đi học. Thời đó học sinh giỏi sẽ được nhà trường giới thiệu đưa lên Dinh Bảo Đại dự lễ vạn thọ của cựu hoàng và nhận quà do Bảo Đại tận tay trao”.

Theo ông, cuộc sống ngày đó ở Đà Lạt rất bình yên. Ai muốn đặt chân đến lãnh thổ này phải xin phép Nha công an Hoàng triều cương thổ thuộc Văn phòng Quốc trưởng ở Hà Nội và Sài Gòn.

Thời Pháp thuộc thì phải có giấy khám sức khỏe, phải có bảo lãnh. Thời Hoàng triều cương thổ không cần giấy khám sức khỏe, nhưng bắt buộc phải có người ở Đà Lạt bảo lãnh và phải có công ăn việc làm mới cho nhập cư. Nếu người được bảo lãnh mà phạm pháp thì chính quyền bắt ngay người bảo lãnh.

“Luật pháp nước Nam thời đó có nhiều thứ để bàn nhưng luật lệ ở Đà Lạt có nhiều điểm riêng biệt và nghiêm lắm nên tệ nạn trộm cắp, cướp giật rất khó xảy ra. Ngoài đường người ăn xin, giang hồ đầu trộm đuôi cướp không có.

Cờ bạc, rượu chè say xỉn công khai không xảy ra. Đường sá thì sạch sẽ. Chẳng hạn như chợ Đà Lạt (nay là khu Hòa Bình) thì khoảng 4 giờ chiều mọi người buôn bán đã xịt nước xung quanh rửa chợ sạch bong” – ông Tranh kể.

Nhà lề cửa lối

Chúng tôi hỏi ông Tranh : “Chuyện xây nhà, lấn đất ra sao ?”, ông cười bảo: “Nhà cửa phải lề lối nghiêm túc, mà muốn xây nhà khó lắm. Thông thường những năm đó chỉ có thầu khoán đứng ra xin phép, xây dựng nhà cửa rồi bán lại. Thời thuộc Pháp, nhà cửa phải theo mẫu kiến trúc.

Thời Hoàng triều cương thổ của quốc trưởng Bảo Đại, các thầu khoán xây nhà theo mẫu quy định, giống nhau trên từng con đường đã được xem xét. Chẳng hạn đường Duy Tân (nay là 3/2) chỉ có nhà 3 tầng liền nhau, đường Phan Đình Phùng chỉ có 2 tầng, đường Võ Tánh (nay là Bùi Thị Xuân) hai bên là nhà gỗ.

Dọc theo đường Hai Bà Trưng là khu cư xá của các công sở ở Đà Lạt. Tất cả nhà dân thường làm một kiểu giống nhau, chỉ có một số con đường như Trần Hưng Đạo, Yersin, Trần Bình Trọng, Lê Hồng Phong bấy giờ… là mỗi nhà mỗi kiểu.

Nhà dân cũng phải làm theo mẫu của ban kiến thiết lập ra. Ngay cả làm hàng rào, màu sơn hàng rào cũng phải được chính quyền cho phép”.

Ông Nguyễn Văn Kỳ (91 tuổi, ở đường Lê Hồng Phong, TP Đà Lạt) là công chức làm việc cho quốc trưởng Bảo Đại trong việc đánh morse (truyền điện tín).  Ông kể thời kỳ này, người Việt từ miền xuôi lên đây lập nghiệp rất khó khăn vì Hoàng triều cương thổ chú trọng đến việc phát triển đồng bào dân tộc và cư dân người Kinh hiện hữu.

Cũng như thời kỳ Pháp thuộc, ở Đà Lạt và các vùng trong Hoàng triều cương thổ khi đốn cây, xây dựng nhà đều phải được chính quyền cấp phép, không ai được tự tiện chặt phá rừng, kể cả cây hoa trồng ven đường.

Sau khi giải tán Hoàng triều cương thổ, chế độ Ngô Đình Diệm cho phép người Kinh lên Tây Nguyên sinh sống làm ăn tự do và bãi bỏ nhiều quy định có tính đặc thù khiến trật tự được xây dựng từ thời Pháp thuộc cho đến Hoàng triều cương thổ bị phá bỏ mau chóng.

Giữ những gì còn lại

Giữa năm 2014, Thủ tướng đã phê duyệt “Điều chỉnh quy hoạch chung TP Đà Lạt đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050”.  Theo đó, Đà Lạt tương lai sẽ có diện tích gấp 10 lần hiện tại. Quy hoạch này xác định những vùng đất tương đồng với Đà Lạt về mặt thổ nhưỡng, khí hậu, điều kiện phát triển kinh tế để mở rộng môi trường đầu tư cho Đà Lạt và vùng phụ cận; đồng thời tạo nên những đô thị vệ tinh hỗ trợ cho sự phát triển của Đà Lạt, bảo vệ Đà Lạt hiện hữu theo hướng thành phố di sản, thành phố du lịch xanh.

Đồ án do ThS.KTS Thierry Huau và nhóm chuyên gia quy hoạch tại Pháp thực hiện với sự phản biện của các cơ quan chuyên môn quy hoạch trong nước. Trong lần trao đổi với chúng tôi, ông Thierry Huau cũng nhấn mạnh về việc hình thành trục di sản tại Đà Lạt hiện hữu và tương lai để giữ được Đà Lạt – những gì còn lại.

Lan Hương chuyển tiếp

VĂN HÓA VĂN NGHỆ

THỜI NAY VÀ TUỎI THƠ CỦA TÔI

– Minh Ngọc

Tối Thứ Năm, 31 Tháng Tám, đọc thấy tin từ nhà văn Song Thao cho biết ông Nguyễn Văn Thái vừa từ trần tại Sài Gòn, sau đó có hình ảnh từ nhà văn Thiếu Khanh về lễ viếng ông Thái, tôi bồi hồi cảm xúc, những tháng ngày thơ ấu như tập sách cũ lâu năm đóng bụi thời gian bỗng mở ra, tươi mới rõ ràng như mới hôm qua.

Những cái tên này có thể không có ý nghĩa với nhiều người nhưng đã đồng hành với tôi suốt bao năm tháng từ hồi mới biết giở sách đọc chữ. (Ngồi đây viết lại theo trí nhớ vì trong tay hiện không có cuốn Thời Nay nào, thể nào cũng có sai sót, mong các chú Song Thao và Thiếu Khanh lượng thứ, quả tình cháu không dám múa rìu qua mắt thợ).

Má tôi nói tôi biết đọc từ lúc bốn tuổi vì má tôi chở theo vào lớp học, để ngồi bàn cuối. Đó là thời điểm khủng hoảng không chỉ với gia đình tôi mà cho đại đa số gia đình miền Nam. Ba tôi trình diện tập trung cải tạo, bà Tư hàng xóm vẫn coi giữ chị em tôi hàng ngày cho má tôi đi dạy nay phải về quê phụ con dâu có chồng đi cải tạo, má tôi chỉ gởi được em tôi mới một tuổi cho người quen, còn thì đưa tôi và chị tôi theo vào trường.

Lớn lên vào thời điểm chiến dịch kiểm kê văn hóa, tôi đáng lẽ cũng chịu chung cảnh bưng bít kiến thức như nhiều trẻ em Việt Nam hồi ấy nhưng may mắn được ở vùng Tân Quy có làng thương phế binh và cư xá cho công chức, sĩ quan, đa số người dân cùng chung hoàn cảnh nên đùm bọc thương yêu nhau, cán bộ phường xã cũng dĩ hoà vi quý.

Đội kiểm kê gồm nhiều học trò cũ của má tôi nên tuy biết nhà tôi nổi tiếng có tủ sách lớn nhất vùng đã làm ngơ vì tiếc, chỉ kê vài cuốn giáo khoa cũ mà không tịch thu. Hàng xóm và các thầy cô giáo thấy vậy chở thêm sách lại cho tị nạn nhà tôi. Má tôi cẩn tắc vô ưu nên dù được bảo đảm vẫn đóng khóa sách cẩn thận. Nhà tôi có một tủ sắt loại locker cho cầu thủ trong sân vận động, cao tới nóc nhà.

Má tôi tống hết sách báo vào đó, từ tạp chí Văn, Bách Khoa, sách Trung Hoa xưa, tiền chiến, Tự Lực Văn Đoàn, cho đến các tác giả bị liệt vào hạng phản động… Một cô giáo còn chở lại cả tủ Quỳnh Dao. Má tôi khóa tủ sắt, dặn chị em tôi không được lấy sách ra đọc rồi bỏ lung tung lỡ có ai thấy, ai hỏi thì nói khóa tủ hư lâu rồi không mở được.

Dĩ nhiên chị em tôi tránh sao khỏi tò mò, má tôi đi dạy là mở tủ lôi sách ra đọc ngấu nghiến, canh giờ má tôi sắp về thì gom sách cất khóa lại. Cũng từ lúc này tôi mới biết ở Huế có cây sầu đâu !

 Riêng bán nguyệt san Thời Nay, do số lượng quá nhiều (mỗi tháng hai số trong 15 năm) và cũng là tờ tạp chí yêu thích nhất, má tôi dành riêng một chỗ rất đặc biệt và an toàn. Dân miền Nam xưa chắc ai cũng biết cái garde-manger, người Bắc gọi là chạn thức ăn, phần trên có hai ngăn, hai cánh cửa tủ, giữa là ngăn trống để chai hũ, phần dưới không có ngăn nên rất rộng, chắc dành cho những bao hũ khổ lớn, có cửa đóng lại, là chỗ trú ẩn của bộ Thời Nay gia đình tôi.

Đội kiểm kê có vào chắc cũng chẳng nghĩ tới xét lục ngăn thường đựng nước mắm, dưa cải, v.v… này. Chị em tôi say mê đọc Thời Nay từng số tới lui đến thuộc lòng mà không chán, mỗi lần lấy ra mấy cuốn một lúc, đọc xong nhét giấu dưới gối nệm, tránh sao khỏi quăn góc, rớt bìa. Hễ má tôi thấy là la, vậy mà không chừa. Ngày đầu kỳ nghỉ Hè, má tôi quậy một nồi hồ, chị em tôi mở tủ Thời Nay lôi cả bộ ra, tìm những trang bìa rời dán lại, sắp theo thứ tự ngày tháng. Ít lâu lại tiếp tục rớt bìa, lại dán, lại sắp. Tụi tôi thuộc lòng tới nỗi nhìn tờ bìa là nhớ vanh vách trong cuốn đó có bài nào, ai viết.

Thời Nay được ông Nguyễn Văn Thái khai sinh và gầy dựng, tới lúc ra số chót Tháng Tư, 1975 là hơn 15 năm, một quãng thời gian quá ngắn ngủi so với đời người, nhưng đủ để lại dấu ấn đặc biệt trong lòng độc giả miền Nam, với đứa hậu sinh như tôi thì đó là tờ tạp chí tiếng Việt hay nhất trên đời.

Mô hình tương tự Reader’s Digest, nhưng nếu Reader’s Digest như một chương trình tạp kỹ với một vài bài về y tế sức khỏe, chính trị, giải trí, xã hội, tâm lý v.v… gom tứ tung vào một số, Thời Nay chọn lựa và sắp xếp bài vở công phu, thường có chủ đề cho mỗi số, ngoài số Xuân, kỷ niệm chu niên.

Hình bìa trình bày mỹ thuật, thường là tranh, ảnh nghệ thuật hay địa danh nổi tiếng, không bao giờ có hình chính trị gia, tài tử hay ngôi sao thể thao. Hình bìa thường theo nội dung chủ đề của số đó. Phần quảng cáo cũng hạn chế để đảm bảo tính nghệ thuật, trang đầu là nước ngọt Con Cọp “Nước ngọt Con Cọp ở đâu, Đấy là khỏe mạnh sống lâu yêu đời”, trang chót là dầu gội đầu Lan Sơn “Tóc mai sợi vắn sợi dài, Lan Sơn em gội thương hoài ngàn năm.”

Thời gian đầu, Thời Nay có khổ nhỏ, vuông vuông, chữ in nhỏ rí, bìa tối màu, những năm về sau khổ dài hơn, rõ ra hình chữ nhật, chữ in lớn và thưa hơn, bìa nhiều màu sáng hơn. Lối in tựa Thời Nay bằng chữ thường “thời nay” giản dị trên bìa đã từng bị các độc giả khó tính phê bình là sai luật văn phạm/chính tả (trong mục thư độc giả) nhưng Thời Nay trung thành với lối trình bày rất đặc biệt đó tới số chót.

Sau trang Con Cọp là mục lục bài vở. Những trang đầu dành cho “Thời Nay Khắp Nơi” và “Thế Giới Dưới Mắt Người Việt” điểm tin trong và ngoài nước với lối viết cô đọng, sắc sảo và trào phúng của Trọng Thăng làm tôi rất mê đọc dù lúc tôi đọc những chuyển biến thời cuộc đó đã quá cũ, mục này giúp tôi hiểu rõ những sự kiện mà sau này tôi được dạy khác hẳn.

Những bài viết theo chủ đề của số được sắp gần nhau rất dễ đọc, gồm phóng sự của Đông Quân, phiếm luận hài hước cười đau bụng của Thiên Ân, Thẩm Dương, Thẩm Diên An (có phải một người ?), bình luận thể thao của Lân Lũy Thân, những bài có tính cách khảo cứu giáo dục tâm lý của Xuân Tước, Thượng Nhân, ký sự của Song Thao…

Sau có Minh Trí là một bác sĩ y khoa viết nhiều bài về y học. Các học giả nổi tiếng Sơn Nam, Nguyễn Hiến Lê, Vương Hồng Sển cũng góp mặt thường xuyên. Xen lẫn đây đó là truyện ngắn của Thiếu Khanh, Lê Tất Điều, Tạ Sương Phụng… Thỉnh thoảng có truyện ngắn dịch từ các tác giả ngoại quốc O. Henry, Guy de Maupassant, Andre Gide, Leo Tolstoy…

Thơ không nhiều, nhưng bài nào được chọn đăng cũng thật hay, thường hai ba bài thơ sắp cùng một trang, tựa bài thơ và các chữ đầu câu bao giờ cũng in bằng chữ thường, không hề có chữ in hoa. Nhiều tác giả gửi thơ lúc đó là học sinh sinh viên, sau thành những nhà thơ tên tuổi những năm 80-90. Trang trí bên cạnh tựa bài là những ký họa đơn sơ, hình như của Khánh Giang ? Cuối các bài viết có một chuyện vui ngắn in bằng chữ nhỏ nghiêng, nhờ đó tôi thu thập cả kho chuyện cười kể cho bạn bè nghe. Sau mục truyện dài là những trang cuối dành cho độc giả với mục câu đối, câu đố và hộp thư bạn đọc.

Trang bìa sau đề tên giám đốc Nguyễn văn Thái, thư ký tòa soạn Khánh Giang, địa chỉ 217 Phạm Ngũ Lão, Văn Thái Ấn Quán. Thời Nay có khuynh hướng chính trị phóng khoáng với thành phần cộng tác viên trẻ nên có bài bị đục đen lỗ chỗ trong những giai đoạn kiểm duyệt khắt khe, bây giờ trong nước gọi là “nhạy cảm!”

Mỗi kỳ sự kiện quan trọng như Đại Hội Đồng Liên Hợp quốc, Hòa Đàm Paris, cho đến World Cup (hồi đó gọi là giải túc cầu thế giới), Thế Vận Hội, Thời Nay có cộng tác viên tường thuật tại chỗ với bài vở, hình ảnh phong phú, khi tôi đọc là cũng cả chục năm rồi mà vẫn thấy hấp dẫn.

Nữ sĩ Minh Đức Hoài Trinh cộng tác rất đắc lực cho Thời Nay. Cô có những thiên phóng sự nhiều kỳ rất đặc sắc về những chủ đề trong xã hội như “con không cha,” ký tên “cô Minh Đức”. Cô có lối viết giản dị mà sắc bén, lôi cuốn, những chủ đề vui cô cũng rất hóm hỉnh trào lộng. Có dạo cô viết phóng sự vui nhiều kỳ “Ôi đàn ông,” sau đó lại xuất hiện “Ôi đàn bà” mà cô giải thích là vì bị độc giả nam giới khiếu nại quá nhiều nên cô phải viết để đảm bảo lẽ công bằng !

Những trang cuối Thời Nay thường dành cho truyện dài nhiều kỳ của cô như Phi lễ, Thiên Nga, Bên ni bên tê. Khi viết truyện dài, giọng văn cô tuy gai góc bướng bỉnh nhưng vẫn mềm mại nữ tính. Dù sao đọc văn cô tôi vẫn tưởng tượng cô là một phụ nữ mạnh mẽ, độc lập kiểu nữ quyền (feminist). Mãi tới khi ra hải ngoại thấy hình cô, một phụ nữ mảnh mai xinh đẹp, thanh lịch, tôi mới tin đó là tác giả những dòng thơ yêu đương mãnh liệt mà nhạc sĩ Phạm Duy đã làm cho bất tử với hai bản nhạc “Đừng bỏ em một mình” và “Kiếp nào có yêu nhau.” Cô vừa mất cách đây không lâu.

Một cộng sự nhiệt tình khác của Thời Nay là Song Thao. Ông đi đây đi đó nhiều theo nhu cầu công việc, đi đến đâu ông không quên gửi một ký sự cho độc giả cùng thưởng thức. Từ Manila, Hồng Kông, Seoul, Tokyo, đến New York, Washington, DC, Los Angeles… độc giả đi du lịch theo ngòi bút sống động đầy hình tượng của ông với những chuyện vui chuyện buồn. Hồi đó còn nhỏ xíu tôi rất mê đọc ký sự Song Thao, đọc đi đọc lại, mơ ước một ngày đặt chân đến những nơi ấy.

Bây giờ đi du lịch đã nhiều, những ấn tượng đầu tiên vẫn còn nguyên vẹn khi đọc lại những ký sự này in trong tập “Dấu chân lang bạt” ông xuất bản năm ngoái. Song Thao còn giữ mục “100 cuốn tiểu thuyết hay nhất thế giới,” mỗi kỳ tóm tắt một tác phẩm cổ điển rất cô đọng mà diễn cảm. Lúc ấy tôi đọc ông viết về Jane Eyre (Charlotte Bronte), Đỉnh gió hú (Emily Bronte), Phù hoa giả dối (William Thackeray), David Copperfield (Charles Dickens)… Lên cấp hai, đủ trình độ đọc các tác phẩm này trọn vẹn, bài giới thiệu của Song Thao vẫn là cảm hứng ban đầu giúp tôi say mê những nhân vật trong sách.

Sau này, khi cộng tác với tạp chí Văn của nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng, thấy tên Song Thao dưới một truyện ngắn, tôi hỏi có phải đó là Song Thao của Thời Nay không, ông Hoàng bảo “đúng rồi” mà ngạc nhiên không hiểu sao tôi biết Thời Nay ! Hay tin ông đã ở Canada, vẫn viết rất mạnh, thiên về truyện ngắn, tôi mừng vì biết thân phận những người cầm bút còn ở lại rất lao khổ.

Máu viết phiếm luận và ký sự vẫn còn tươi trong Song Thao nên ông viết đều đặn, đã xuất bản tới cuốn “Phiếm” số 19. Ông cho biết những truyện ngắn ký tên Tạ Sương Phụng, Phượng Uyển trên Thời Nay cũng là của ông.

Khi nhớ lại giai đoạn “đổi đời” của người dân Sài Gòn, tôi cứ nghĩ về ông Thái. Gầy dựng, nuôi nấng tờ tạp chí và nhà in với tất cả tâm huyết qua mười lăm năm nhiều biến động chính trị đến khi chứng kiến nó bị khai tử, hủy diệt, chắc ông phải đau lòng lắm ? Phạm Ngũ Lão bây giờ là khu Tây ba-lô xô bồ xô bộn với đủ loại dịch vụ to nhỏ mọc lên như nấm, không còn dấu vết gì của khu báo chí ngày xưa.

Tôi thử tìm trên Google địa chỉ 217 thì thấy một khách sạn mini, không còn giống gì hình tòa soạn Thời Nay mà nhà văn Song Thao gởi cho tôi xem. Không biết số nhà có thay đổi không, thật đúng là nơi tòa soạn cũ chắc tôi chẳng bao giờ muốn đi ngang nếu là ông Thái.

Tạ thế ở tuổi 90, ông đã chứng kiến lẽ đời thăng trầm bể dâu, có thể cuối đời ông cũng chẳng còn tiếc nuối gì. Thời Nay bị khai tử nhưng nó không chết trong lòng độc giả ái mộ và thế hệ hậu sinh như tôi. Xin vĩnh biệt ông, thần tượng tuổi thơ của tôi, một thời ôm Thời Nay đọc giấu dưới gối ! (theo Minh Ngọc)

Nguyễn Văn Danh chuyển tiếp

Nói thêm : Ông Nguyễn Văn Thái có nhà riêng tại đường Nguyễn Văn Lạc, P19, Q, Bình Thạnh (tức khu Thị Nghè, con đường nằm sau nhà thờ Thị Nghè), Trước 1975, tờ Thời Nay chủ nhiệm là ông Thái, còn Tổng thư ký là Khánh Giang (còn là con rể ông Thái) sau chết vì bệnh tiểu đường (phải phẫu thuật tay chân, nỗi ngày vết thương không lành sinh biến chứng). còn người bạn của tôi là Phạm Đức giữ chức Thư ký tòa soạn.

Thời tôi còn làm tờ Hòa Bình (trước khi nhóm của ký giả Anh Quân đến thuê manchette của linh mục Trần Du), tôi vẫn thường ghé vào tờ Thời Nay thăm bạn, Vì tờ Thời nay hay tờ Hòa Bình đều nằm trên “con đường báo chí” trước 1975, mà giới văn nghệ sĩ thường mệnh danh cho nó. (Nguyễn Việt)

TẢN MẠN VỀ CHIẾC ÁO

– Nhã My

Ai cũng biết cái áo là vật để che thân. Không biết nó xuất hiện từ lúc  nào, nhưng kể từ khi con người biết tìm cái gì đó để che thân thì nó ra đời. Đầu tiên nó ”nghèo” lắm, chỉ tạm bợ ít oi để che phần nhạy cảm cuả phụ nữ, (đàn ông thì không cần thiết lắm), rồi từ từ theo thời gian văn minh tiến hóa, vật chất đầy đủ hơn nó cũng biến thể thành nhiều kiểu cách thời trang khéo léo, hấp dẫn ,sang trọng như bây giờ.

Mà thật ra để che thân thì phải xài luôn cả cái quần cho đủ bộ, vậy mà cái áo lại được nói đến nhiều hơn ở trong văn chương, âm nhạc , hội họa mới là kỳ và thú vị.
Hình ảnh cái áo lưu lại trong văn chương Việt Nam ta thì nhiều lắm, đầu tiên xin điểm qua chiếc áo đã đi vào ca dao, rồi đựoc cải biên thành điệụ hát. Cái áo huê tình thật dễ thương nó như thế này :

”Thương (yêu) nhau cởi áo cho nhau

Về nhà dối mẹ (mẹ hỏi) qua cầu gió bay”

Thử ”tán” rộng ra một chút cho vui nhé : cái áo ở đây chắc  là áo của người nam (chàng trai) tặng cho người nữ (cô gái) và nó xuất thân từ ngày xa xưa lắm,lúc xã hội còn nghèo, chưa có vải màu, vải hoa và may nhiều kiểu cách, đơn giản nó là một cái áo ”bà ba” màu gì đó (trắng, đen, chàm, nâu chẳng hạn) mà cả nam và nữ đều có thể mặc được, chỉ là kiểu may, kích thước hơi sai xích một ít thôi.

Người con trai không có ”của làm tin” nên đã cởi chiếc áo đang mặc tặng cho người mình thương yêu, chàng bèn để mình trần về nhà và nói dối với mẹ là ”qua cầu, gió bay”. Đương nhiên là chàng nói dối khó ai tin, bởi áo mặc phải cài khuy nút, gió làm sao mà bay được !.

Ta cũng có thể tưởng tượng thêm vài hình ảnh thơ mộng khác là họ đứng ở bờ sông (hay con rạch), sau phút tâm tình, chàng can đảm và chắc nịch với mối tình muốn bày tỏ cùng nàng nên dù chỉ có chiếc áo tùy thân đang mặc cũng cởi phắt ra trao tuốt cho nàng. Chàng qua cầu về nhà, nàng cũng trở về (không biết có cùng qua cầu chung một đoạn đường nữa hay không), chàng thì đã có sẵn cách nói dối (khó tin !), còn nàng ?

Thương quá đi, phận nữ nhi thời đó làm sao dám công khai mặc áo cuả chàng hoặc đi khoe áo, chắc là chiếc áo đó sẽ được đem cất kỹ (và len lén ngửi mùi chàng !). Rồi họ có thành đôi không , dù chưa chắc chắn nhưng mối tình ”trao áo” thì thật là đẹp, đơn giản, thực tế, chân tình .!

Còn thêm chàng trai quê khác, có chiếc áo (giả vờ hay cố ý) bỏ quên để ướm thử cô nàng.

“Hôm qua tát nước đầu đình

Bỏ quên chiếc áo trên cành hoa sen”

(ôi ! cành sen nó mỏng manh mềm mại thế kia , làm sao mà chàng máng áo lên được, chẳng qua là mượn cớ để hỏi chuyện thôi mà)

“Em được thì cho anh xin” (nếu em đã có người rồi)

“Hay là em để làm tin trong nhà” (ướm hỏi trao tình )

”Áo anh sứt chỉ đường tà (ồ, thì ra chỉ là một chiếc áo rách !)

Vợ anh chưa có, mẹ già chưa khâu (vì hoàn cảnh ….)

Áo anh sứt chỉ đã lâu

Nay mượn cô ấy về khâu cho cùng (cô ấy = đằng ấy tiếng gọi thân mật)

Khâu rồi anh sẽ trả công

Ít nữa lấy chồng anh sẽ giúp cho

Giúp cho một thúng xôi vò, (kể một lô lễ vật mà ai cũng hiểu là để rước nàng về dinh)

Một con lợn béo, một vò rượu tăm.

Giúp em đôi chiếu em nằm,

Đôi chăn em đắp, đôi chằm em đeo.

Giúp em quan tám tiền cheo,

Quan năm tiền cưới, lại đèo buồng cau”

Mối tình ”ướm áo” này cũng đẹp lắm, đơn giản, không kiểu cách màu mè tán tỉnh lơ mơ mà đi ngay vào thực tế, chân chất hiền hòa như tình cảm đôi bên (nếu áo có thật và nàng trả áo thì thôi có gì để nói, nhưng chắc là đoán biết nàng không  có áo để trả nên chàng mới can đảm tỏ (rõ) tình mình như thế ! Chân quê, khôn khéo quá ! Tình tứ quá !

Đó là hai chiếc áo cuả người bình dân mộc mạc trong văn chương truyền khẩu, còn thi sĩ ”tình yêu” Nguyên Sa thì:

”Nắng Sai Gon anh đi mà chợt mát

Bởi vì em mặc áo luạ Hà Đông”

Một chiếc áo lụa tình cờ của ai đó đang mặc trên hè phố đã làm chàng thi sĩ đọng lòng khi nhớ về tà áo thời quá khứ của quê hương xa cách để rồi :

”Anh vẫn yêu tà áo ấy vô cùng (cuả người yêu cũ)

Thơ anh vẫn còn nguyên lụa trắng” (đẹp lưu luyến đến thẫn thờ !)

Tà áo cũng được chàng thi sĩ nhuộm thêm màu sắc rất đẹp và so sánh với hoa, với lá :

”Áo nàng vàng anh về yêu hoa cúc

Áo nàng xanh anh mến lá sân trường” (nàng ở đây hẳn là cô giáo hay sinh viên trường đại học mới mặc áo (dài) màu chứ không phải tà áo trắng nữ sinh , tà áo màu rất đẹp  của thơ tình lảng mạn đầy thi vị)…

À quên, tôi cũng phải nói thêm tà áo trong ca từ đẹp lãng mạn đã làm say đắm nhiều người cuả  nhạc sĩ Trịnh Công Sơn nữa chứ :

”Gọi nắng

Trên vai em gầy đường xa áo bay…”

…. ”Áo xưa dù nhàu cũng xin bạc đầu gọi mãi tên nhau.”

…”Aó em bây giờ mờ xa nẻo mây

Gọi tên em mãi suốt cơn mê này”

Hay chiếc áo (đúng hơn là một bộ đồ) của cô giáo tên Lan, vợ bé  thầy giáo Hương, sau là ông cò quận 8 (thời đó đô thành SG mới có 7 quận) trong tuồng cải lương ”Tuyệt Tình Ca” đã từng lấy nước mắt nhiều người trước năm 75 ở miền Nam : bộ đồ mà bà giáo chung tình đã cất giữ suốt 18 năm dài  khi chồng bỏ đi về với vợ lớn, cho tới khi đôi mắt đã mờ không còn trông thấy được, chỉ để ngửi hơi hám của cố nhân !

Và chính mùi hơi thân thiết đó (cuả bộ áo) đã in sâu vào tâm khảm người vợ có thân phận đáng thương để rồi  trong lần gặp lại sau thời gian dài đằng đẵng cách xa, tuy không nhận ra giọng nói, mà đã nhận được hơi người !

Và còn , còn rất nhiều nữa ,ta cũng đã bắt gặp biết bao tà áo khác xinh đẹp rộn ràng , dịu dàng đầy sắc màu mộng mơ, yêu kiều, mến thương ở nhiều bài khác trong thơ và nhạc, nghĩa là Áo cũng là đề tài trong các đề tài thu hút sự sáng tác của thi , nhạc sĩ    …

Nhã My tui, làm thơ (dở ẹ ) chỉ để mua vui, thật không dám phạm thượng và khoe khoang những ”chiếc áo” trong nhiều bài thơ  của mình  bên cạnh tiền nhân lỗi lạc, nhưng cũng có ”tà áo trắng” của cô học trò ngây ngơ, đỏng đảnh :

“Ngày lại ngày trôi qu

Em khoe tà áo mỏng

Trắng cả trời ban trưa

Gió lùa trêu khóm lá

Anh nghe hồn đong đưa…”

Cái tà áo mỏng tí ti này (làm từ năm 19 tuổi) đã hân hạnh được thi sĩ tiền bối Nguyễn Khôi và  nhà văn Lê Ngọc Trác đã nhắc tới ! (ôi thật là cảm kích !)

Và có cái áo nữa của tui  (làm  năm 2011 lấy ý từ câu ca dao ”cởi áo cho nhau” thì nó không có gói bọc được  tình yêu trọn vẹn mà  ”ngậm ngùi” như thế này :

“Ngậm ngùi khúc vọng cổ xưa

Bên bờ lau lách gió đưa cung sầu

Tiếng thương tí tách giọt ngâu

Tiếng buồn chợt nhớ ” qua cầu gió bay”

Dối cha giấu mẹ bao ngày

Ngậm ngùi

Tiếc áo

Đã bay theo người !”

(Áo này là áo mua hoặc may để tặng và người ở đây là nam hay nữ gì cũng được hii bởi vì  là thơ  là sản phẩm cuả trí , tình trong tưởng tượng !)

Chúng ta đã điểm qua những chiếc áo trong tình cảm thơ văn (tưởng tượng), còn chiếc áo trong thực tế đời sống ? Tôi  dám chắc là không có ai trong chúng ta trong đời mà chưa có lần nào được nhận áo hay tặng áo.

Hồi nhỏ, lúc còn nghèo, trẻ con ắt đứa nào cũng mong tết đến để được bố mẹ may cho áo mới, áo đẹp để mặc đi chơi, đi khoe. Lên thời trung học, mấy cô bé nữ sinh đố đứa nào khỏi suýt xoa, vui mừng hoặc đôi chút ngỡ ngàng khi (lần đầu tiên soi gương) được mặc chiếc áo dài màu trắng tinh khôi mà mẹ , chị đã sắm cho.

Rồi thời ”bao cấp” chắc cũng có nhiều người rưng rưng cảm động khi nhận được chiếc áo cũ hay thầy,cô giáo (nghèo) cảm động khi nhận được xấp vải  (mà học trò nhiều đứa đã hùn tiền mua tặng để biết ơn thầy cô trong ngày lễ  Nhà Giáo ) để may chiếc áo mới mặc cho lịch sự , tươm tất hơn.

Tôi thật sự không muốn nói chuyện buồn khi thình lình người vợ  nhận chiếc áo tang của chồng  trong thời chiến tranh hay khi gia đình có người thân quá cố nhưng làm sao mà tránh được những chiếc áo tang thương đó .

Riêng cá nhân tôi, tuổi nhỏ và lớn lên trong đầy đủ ,vậy mà cũng vô cùng mừng vui , cảm động khi lưu lạc xứ người, nhận được những chiếc áo cũ phân phát từ trung tâm từ thiện. Những chiếc áo không đẹp lắm, không khít khao vừa vặn nhưng nó thật là quí ở thời điểm cần thiết, để tiết kiệm tiền mua sắm và hạnh phúc hơn khi nhận được tấm lòng từ những con người xa lạ.

Rồi qua thời gian làm việc, kiếm tiền và sinh sống trong xã hội thực dụng và đầy đủ vật chất, nói không ngoa, mỗi người phụ nữ ở đây ít nhứt cũng đã sắm từ vài chục tới vài trăm cái áo (không phải những thương hiệu với giá khủng tiền) Áo (quầ ) thì phải mặc theo thời tiết từng mùa, hè qua, đông đến, cứ lần lượt đem cất vì không mặc được.

Cứ bảo để sang năm đem ra mặc lại, rồi thì tới mùa năm khác lại ”sale off”, lại mua sắm cái mới ! Những chiếc áo cũ không xài tới, mang về quê nhà tặng thì sợ bị bắt lỗi là cho đồ cũ (mà hàng mới mua tặng cũng không đắc bao nhiêu), bán (ga-ra sale) cũng chỉ mua được vài món đồ ăn, thôi thì theo dòng đời luân chuyển, kẻ có, người không cứ mang tặng hết cho cơ sở từ thiện.

Những chiếc áo này (không mới tinh nhưng cũ thì không cũ lắm) sẽ được bay đi tận những nơi xa xôi, nghèo khó mà người cho và người nhận hoàn toàn xa lạ. Thương lắm thay những tấm lòng của những người làm thiện nguyện ,âm thầm nối kết , chia xẻ những tình người ! (theo Nhã My mùa đông 2017)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

CHỢ TRỜI Ở SÀI GÒN NGÀY TRƯỚC

NHỮNG KHẨU PHÁO

THẦN CÔNG CỔ

BẬC NHẤT VIỆT NAM

Được sản xuất vào những năm đầu thế kỷ 19, Cửu vị Thần công được xem là những khẩu pháo sở hữu sức mạnh hỏa lực lớn nhất trong lịch sử Việt Nam.

H1: Cửu vị Thần công hay khẩu pháo thần công có thể coi là một trong những khẩu đại bác cổ nhất và lớn nhất Việt Nam từng chế tạo do các nghệ nhân của nước ta tự tay đúc. Chín khẩu thần công này được đúc từ năm 1803 tới 1804, dưới thời vua Gia Long.

H2: Sau khi đánh bại nhà Tây Sơn và lên ngôi, chính vua Gia Long đã ra lệnh cho các nghệ nhân thời đấy thu thập đồng từ các loại binh khí thừa thãi sau chiến tranh để đúc thành chín khẩu thần công làm vật chứng cho chiến thắng vẻ vang của mình. H3: Mỗi khẩu thần công này có chiều dài 510 cm và nặng tới 17 tấn chưa tính giá đỡ. Tổng cộng, 9 khẩu thần công đã tốn tới 153 tấn đồng nguyên chất, đây là một con số khổng lồ thời bấy giờ khi mà công nghệ luyện kim còn rất sơ khai.

H4: Quá trình đúc Cửu vị Thần công chỉ kéo dài trong chưa đầy một năm, từ năm 1803 tới năm 1804 là hoàn thành. Bên ngoài của các khẩu thần công cùng với bệ đỡ được trạm trổ cực kỳ tinh vi. H5: Thậm chí, trên phần thân súng còn được trạm trổ cả trọng lượng, vị thứ, danh hiệu và cả… cách dùng súng. Mặc dù là một công trình mang tính biểu tượng nhưng việc trạm cả cách dùng súng vào thân súng cho thấy những khẩu thần công này hoàn toàn có thể bắn được.

H6: Chín khẩu thần công này được đặt tên theo thứ tự tên bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông và theo ngũ hành: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. H7: Thời gian đầu khi vừa được đúc xong, Cửu vị Thần công được đặt dưới chân Hoàng Thành, trước cửa Ngọ Môn – kinh thành Huế. Tuy nhiên tới đời vua Khải Định, chúng đã được di dời vào trong kinh thành và chính thức trở thành công trình mang tính biểu tượng như các bảo vật trấn quốc.

H8: Trong quá khứ, Cửu vị Thần công chưa từng được mang ra sử dụng bất cứ một lần nào và chỉ là một loại vũ khí mang tính biểu tượng sức mạnh của nhà Nguyễn. Dưới triều Nguyễn, Cửu vị Thần công thường có quân canh gác và thường được tổ chức cúng lễ rất linh đình. H9: Tới khi Pháp xâm lược Việt Nam, việc cúng bái Cửu vị Thần công bị bãi bỏ chính thức. Tuy nhiên binh lính và người dân sống gần khu vực này vẫn tự mang đồ lên đây cúng tế Cửu vị Thần công vì đây vốn được xem là chính vị thần linh bảo vệ Kinh thành.

H10: Cửu vị Thần công được di dời vào vị trí mới, do phương tiện lạc hậu nên việc di chuyển những khẩu trọng pháo nặng tới 17 tấn này là cả một quá trình gian nan. H11: Ngày nay, Cửu vị Thần công được xem là một bảo vật vô giá của nước ta với tuổi đời đã hơn 200 năm. H12: Hiện tại, Cửu vị Thần công đang được trưng bày cho khách du lịch viếng thăm ngay trong Kinh thành Huế.

CHỢ TRỜI Ở SÀI GÒN

NGÀY TRƯỚC

Sau năm 1954, ngoài Khu Dân Sinh bán buôn đủ loại mặt hàng thượng vàng hạ cám ở gần Cầu Muối, người tuổi trung niên trở lên chắc hẳn còn nhớ khu Chợ Cũ quanh đường Tôn Thất Đạm, Huỳnh Thúc Kháng giữa trung tâm Sài Gòn xuất hiện kiểu chợ trời tự phát trên vỉa hè bày bán một số loại thực phẩm đóng hộp của Mỹ, rượu Tây, thuốc lá và quần áo cũ.

Khoảng thời gian này, người Sài Gòn bắt đầu tiếp cận “hàng hoá Mỹ” một cách rộng rãi hơn nhờ cả triệu người miền Bắc di cư vào Nam sinh sống.

Ông bạn lớn tuổi của tôi nhớ lại cảnh lều bạt tại một khu tiếp nhận người di cư miền Bắc trong trường đua Phú Thọ. Ngoài tiền bạc trợ giúp chi phí sinh hoạt, dân di cư còn được cấp quần áo, thực phẩm vài ba tháng đầu để ổn định cuộc sống mới. Rất nhiều người di cư, chưa quen cách ăn mặc và khẩu vị của đồ ăn đóng hộp đem bán cho mấy đầu nậu thu gom bán lại ra thị trường chợ trời.

Với công việc điều hành tiếp nhận, cấp phát hàng trợ giúp cho bà con di cư, ông bạn tôi thường nhận được nhiều hàng “hiến tặng” mà không cần phải bỏ tiền mua lại những thứ thực phẩm đóng mác “Donated by The People of The USA. Do Not Resale”. (Được sự đóng góp của Nhân dân Hoa Kỳ. Không bán lại”).

Ðồ Mỹ viện trợ phần nhiều là dầu ăn, phô mai, thịt đóng hộp và ba loại kẹo bánh. Nói chung là một ít mặt hàng thiết yếu dùng hằng ngày cho người lớn và trẻ con. Ông nhớ mãi chuyện của nhiều gia đình di cư mang phô mai đến nhà tặng. Thú thật, “ban đầu tôi không dám nhận vì nhiều quá, một vài miếng phô mai thì cứ xem như nghĩa tình, đằng này cả đống phô mai, lại là loại giá trị của Pháp nhưng đối với nhiều người không biết ăn, không sành ăn phô mai Pháp thì coi như món đậu hủ thúi của người Hồng Kông, ngửi mùi đủ phát ớn, làm sao nuốt trôi qua cổ họng”.

“Tôi không hiểu sao trong hàng viện trợ của Mỹ lại có thực phẩm của Pháp nữa. Món phô mai Vieux Boulogne gói giấy bạc vuông vức. Mùi phô mai này khó ngửi nhưng lại là một trong những loại phô mai ngon mà tôi thỉnh thoảng được mấy người bạn Pháp hồi còn làm ở Kho Bạc nhà nước tặng cho. Loại phô mai này làm thủ công bằng sữa bò nguyên chất, ngâm trong bia lên men nhiều ngày. Phô mai Vieux Boulogne nhâm nhi với rượu vang Bordeaux thì rất tuyệt. Tội cho người di cư chưa quen mấy món ăn Tây”.

Thật ra, người Sài Gòn bắt đầu “yêu thích” hàng thực phẩm Mỹ bán ở chợ trời là khoảng thời gian hơn mười năm sau đó. Thời gian này, lính Mỹ vào miền Nam cả nửa triệu quân, để phục vụ miếng ăn thức uống theo khẩu vị quê nhà, các nhà thầu Mỹ thiết lập các cửa hàng PX (Post Exchange) tức là hàng hoá tiêu dùng của Mỹ dành cho quân nhân và viên chức Hoa Kỳ đóng quân ở nhiều vùng, trong đó Sài Gòn có hai cửa hàng lớn.

Một là PX Sài Gòn nằm trên đường Tự Do góc bên hông khách sạn Majestic và cái khác là PX Chợ Lớn nằm trên đường Nguyễn Tri Phương gần góc Ngã Sáu. Hàng hoá bán ra chợ trời phần lớn từ nơi đây.

Chuyện này có lần tôi đã nhắc tới trong bài viết “Hàng PX và đô la đỏ”. Và xin trích lại một bài phóng sự điều tra của ký giả Lederer William J. đăng trên tạp chí Der Spiegel số 44 ngày 28/10/1968 rằng: “Hệ thống cửa hàng PX có trên 5,000 phụ nữ người Việt được nhận vào để bán hàng. Trong tháng 5 năm 1967, chỉ riêng một cửa hàng PX ở Sài Gòn đã mất 65,000 dollar vì ăn cắp vặt. Và đó chỉ là một cửa hàng nhỏ.

Có một thời gian, ban giám đốc cho khám xét những người Việt bán hàng lúc họ tan ca ra về, khiến nhân viên dọa sẽ đình công nếu như việc kiểm tra này không chấm dứt. Trong thời gian thực hiện bài điều tra ở Sài Gòn, tôi đã quan sát thấy bốn lần chiếc xe tải chở đầy thực phẩm từ cửa hàng PX vào kho tiếp liệu của khách sạn Continental như thế nào. Có một lần, một kiện thịt to, có in tên Tướng Westmoreland, được đưa cùng với nước ép cà chua vào cửa kho khách sạn Continental”.

Và đâu chỉ có nhân viên bán hàng, kể cả những người làm nhiệm vụ quản lý người Hàn Quốc hoặc Phi Luật Tân cũng thông báo cho thân nhân của mình những đợt hàng có giá trị mới về để mua bán kiếm lời. Thế là một lô hàng tủ lạnh mới đưa vào cửa hàng ngày hôm qua, vừa mới mở cửa bán sáng nay cho lính Mỹ thì đã bị gom sạch. Ðâu chỉ thế, kể cả một số lính Mỹ cũng tham gia mua hàng mỗi ngày rồi đem ra bán lại cho con buôn thông đồng từ trước.

Cũng trong thời gian này, vài ba công ty nhập cảng hàng điện tử tủ lạnh, tivi, radio, máy hát đĩa than, máy Akai, mở đại lý chuyên bán mặt hàng này trên đường Huỳnh Thúc Kháng. Bên cạnh đó, các gian hàng nhỏ chuyên bán phụ tùng đi kèm, bao da radio, anten truyền hình, loa nhạc, băng từ và các phụ tùng transistor để sửa chữa ra đời góp phần làm nên tên chợ trời điện tử Huỳnh Thúc Kháng bán buôn nhộn nhịp trước năm 1975.

Ðây là nơi lần đầu tiên tôi biết đến một dãy cửa tiệm bán đồ điện tử ở Sài Gòn đông người lui tới. Ba tôi đi dạo một vòng xem giá rồi cuối cùng mua cái tivi trắng đen Panasonic nhỏ nhất. Tivi có cái cửa lùa, bên dưới là bốn cái chân tròn thanh mảnh màu vàng đất trông rất dễ thương. Việc ba tôi mua cái tivi là do một lần đi làm về bắt gặp tôi đứng chen chân trước cửa sổ nhà hàng xóm coi bộ phim cao bồi hấp dẫn đang bắn súng ì xèo.

Ông đứng đằng sau lay vai tôi, lúc đó do say mê xem phim tôi cứ tưởng đứa hàng xóm nào chen lấn, miệng còn lên tiếng cự nự : “Coi thì cứ coi đi, làm gì mà chen với lấn”. Với tuổi học trò cuối cấp tiểu học, được ba dẫn đi chợ hàng điện tử mua cái tivi coi cho thỏa thích đương nhiên tôi rất khoái.

Tôi cũng khoái đứng xem người ta lựa quần áo đổ đống trên vỉa hè đường Tôn Thất Ðạm. Ba tôi bảo đó là chợ trời quần áo cũ của những nước giàu viện trợ cho những nước nghèo. Nhìn những đống quần áo đủ màu đủ kiểu, nhất là những chiếc áo thun còn mới tôi rất thích với ánh mắt thèm muốn có được vài bộ đồ đẹp với chúng bạn. Nhưng ba tôi bảo thà mua vải về may mặc vừa vặn, đẹp hơn. Là đồ của mình, mình mặc chứ không phải mặc đồ của người ta.

Nói đến chợ trời đồ ăn thức uống của Mỹ không phải một số sạp hàng quanh khu Chợ Cũ mà phải nhắc đến chợ trời trên đường Nguyễn Thông. Từ khi học đệ thất, tôi mới biết đến những thứ hàng hoá đa dạng đầy hấp dẫn này. Mỗi chiều tan học tôi đều lội bộ trên con đường tắt ngang đây để xem người ta buôn bán đủ thứ kẹo chewing gum, chocolate, kẹo trái cây và từng đống đồ hộp thịt hay cá chất cao theo hình kim tự tháp.

Từ ngã ba Kỳ Ðồng kéo dài đến cuối đường gần vách tường chắn khu vực ga xe lửa Hoà Hưng, hai bên đông đúc người mua kẻ bán. Có cả đồ ăn của lính Mỹ, bột sy-rô, cacao thậm chí hàng quân tiếp vụ từ mì gói đến xà bông, đường sữa gì cũng có.

Tôi thích nhất là kẹo đậu phộng Hàn quốc, mỗi gói 6 viên, bọc trong giấy dầu, bên trong là giấy bóng, không cần phải lột vì khi bỏ vào miệng nó tan biến đâu mất. Viên kẹo giòn tan thơm đậu phộng rang xay nhuyễn, không cứng như cục kẹo gừng, kẹo kéo, kẹo ú mà mấy năm trước còn hấp dẫn đám trẻ chúng tôi.

Nguồn hàng đồ hộp của Mỹ bày bán trên đường Nguyễn Thông, ngoài hàng PX, còn có khẩu phần đồ ăn cá nhân của lính Mỹ đi trận ở mấy kho tiếp liệu. Tên vắn tắt gọi là hàng MCI (Meal Combat Individual), mỗi thùng có 12 hộp giấy nhỏ, trên mỗi hộp có ghi ký hiệu B-1, B-2 hay B-3 dùng cho bữa ăn sáng trưa chiều tối.

Sau này, tôi mới biết những ký hiệu ghi trên vỏ hộp. Hồi đó, tôi chỉ biết hộp này có ba miếng thịt heo chiên lên ăn khá ngon, thịt bò thì nghe mùi trầu không ngon bằng loại cá khô vuông vắn bằng ba ngón tay ngâm nước lạnh cho mềm chiên lên không khác gì miếng cá phi lê tươi rói.

Khi nghe chuyện đồ ăn của lính Mỹ, mấy người bạn lớn tuổi của tôi gần như rất vui, nhớ lại từng mùi vị của mỗi loại khẩu phần đóng gói. Có ông còn ganh tị, cùng là phận lính chiến, người thì ăn cơm sấy ngâm nước lạnh, hút Bastos xanh; thằng thì ăn bánh mì đồ hộp đủ loại thịt cá, hút Salem phì phèo, nhai kẹo cao su, uống thì cà phê hoà tan, cacao sữa, thậm chí còn có khăn giấy lau miệng, giấy vệ sinh đi cầu.

Chẳng lính nào trên thế giới sang hơn lính Mỹ viễn chinh xứ mình. Ðồ ăn của lính Mỹ đi trận không được bán ra ngoài. Thế nhưng muốn kiếm vài chục thùng đồ ăn MCI cứ đến chợ trời Nguyễn Thông thể nào cũng có. Nguồn hàng này từ đâu? Từ kho tiếp liệu tuồn ra !

SÀI GÒN XƯA :

CÀ PHÊ VỢT PHA BẰNG SIÊU ĐẤT,

HƠN 50 NĂM NÍU GIỮ CHÂN NGƯỜI

Sài Gòn nổi tiếng bởi những quán hàng cà phê trải dài khắp các con phố với đủ thứ đủ loại: Cà phê phin, cà phê sữa, cà phê nội ngoại,… Nhưng trong tất cả những thức đồ ấy, tồn tại một món cà phê xưa cũ từng là kí ức quen thuộc, là hoài niệm thân thương của bao người dân xứ Gia Định, đặc biệt là người Hoa sống tại nơi đây, đó chính là Cà phê vợt.

Từ đầu thế kỷ 20, cà phê được người Sài Gòn đón nhận khá nồng nhiệt. Vào khoảng những năm 1930, khắp địa phương Sài Gòn – Chợ Lớn (Région de Saigon – Cholon) hầu như sáng nào cũng có các quán cà phê đông khách. Theo thời gian, hương cà phê len lỏi và ngấm dần vào thói quen và kí ức của người dân khu phố thị bậc nhất xứ Nam Kỳ này.

Trước khi uống cà phê kiểu Pháp, người Sài Gòn pha cà phê vợt theo kiểu Trung Hoa. Cà phê vợt hay còn được gọi với những cái tên khác như cà phê bít tất hay cà phê kho là một trong những nét văn hóa xưa của cộng đồng người Hoa còn sót lại tại Sài Gòn. Cà phê xay nhuyễn được lọc qua vợt bằng vải the dài như bít tất, ủ trong siêu thuốc bắc để ra hết vị. Thứ nước đầu này được tiếp tục đem kho liu riu trên bếp than.

Đến nay, Sài Gòn có lẽ chỉ còn sót lại 2 quán cà phê vợt kho bằng siêu đất tồn tại đã trên nửa thế kỷ, một ở quận 3 và một ở quận 11. Hương cà phê vợt “kho” trong siêu đất có sự hấp dẫn riêng mà có lẽ không vị cà phê tân thời nào có thể sánh được.

“Chỉ cần ngửi mùi thơm là người ta tự đến”

Quán cà phê vợt tồn tại đã nửa thế kỷ của ông Lưu Nhân Thanh nằm trong hẻm 313 Tân Phước, P. 6, Q.11. Không gian quán nhỏ xinh đậm chất người Hoa nằm trong một con hẻm nhỏ, nhìn vào đây đã thấy một thời xưa cũ và phong cách uống cà phê mộc mạc, bình dân vô cùng..

Người Việt Nam biết cách thưởng thức cà phê một cách đích thực và đúng nghĩa chắc cũng không có nhiều. Trải bao thăng trầm cùng thời gian, sự biến đổi cách uống, cách phục vụ cà phê, ông Thanh vẫn bảo tồn vẹn nguyên phong cách pha cà phê truyền thống.

Ông Thanh pha bằng siêu đất, loại siêu mà người ta chuyên dùng để nấu thuốc bắc. Ông chia sẻ : “Chỉ có giữ nóng bằng cái siêu đất, hương thơm cà phê vợt mới ngon hơn hẳn cà phê đựng trong cái phin bằng kim loại”. Bí quyết của ông là không bao giờ giặt vợt bằng xà phòng vì sẽ làm mất mùi cà phê, chỉ cần rửa bằng nước sạch là đủ. Vợt càng dùng lâu năm, càng đen thì pha cà phê lại càng ngon.

Cà phê pha xong bằng siêu đất mới được ông đổ ra ấm nhôm để bán cho khách. Nước cà phê đầu tiên gọi là nước cốt, đây cũng là lượt cà phê chất lượng nhất của một lần pha. Ấm cà phê cốt được bắc lên một bếp than trước khi rót cho khách.

Khi dùng bạn có thể cho thêm chút đường, khuấy đều rồi bưng tách cà phê lên để nếm thử hương vị cà phê tinh khiết lúc còn nóng. Nhấp một chút rất ít cà phê rồi dùng lưỡi trải mỏng nước cà phê khắp miệng và nuốt nhẹ nhàng.  Sau đó, thở ra từ từ để hương thơm cà phê xông lên từ hốc mũi, vòm mũi và bạn cảm nhận mùi hương cà phê dường như lan tỏa lên đến đỉnh đầu.

Điều đặc biệt cà phê vợt ở đây giá chỉ 5.000 đồng, thêm sữa thì giá 1 ca sẽ là 6.000 đồng. Những khách hàng của ông Thanh hầu hết là những người trung tuổi và cao tuổi. Họ uống như một thói quen hay nói đúng hơn là thỏa cơn ghiền cà phê vợt, nhất là khi kiểu pha chế này đã gần như đang bị mất hút tại Sài Gòn.

Nhiều năm qua quán của ông Thanh cũng chứng kiến nhiều câu chuyện, nhiều cảnh đời trái ngược ngang qua. Nhưng ông vẫn luôn tận tâm phục vụ mọi người bằng một lòng nhiệt huyết và đam mê pha cà phê truyền thống.

Cà phê nguyên chất có hương thơm và hậu vị tinh tế, đậm đà theo cách tao nhã, thanh thoát hoàn toàn khác với mùi thơm nồng của hương liệu, vị đậm và đắng nặng nề, màu nước đen thui và sánh kẹo của các loại hạt ngũ cốc như bắp, đậu rang cháy được tẩm hương liệu nồng độ cao trong quy trình sản phẩm cà phê pha tạp.

Rất nhiều người dân Sài Gòn cũng không thể nào nhớ rằng cà phê vợt có từ thời nào, nhưng ai cũng hiểu rằng quán như của ông Thanh đang góp phần níu giữ “hồn” cà phê vợt và nét văn hoá một thời của người Sài Gòn một thời.

Cheo Leo – Quán cà phê lâu đời nhất Sài Gòn

Ngang qua mấy con hẻm trên đường Bàn Cờ tới Nguyễn Thiện Thuật, quận 3. Thật không khó để tìm được quán cà phê vợt Cheo Leo dù có bị lọt thỏm giữa những ngôi nhà cao tầng san sát, bởi mùi cà phê thơm sực nức cùng tiếng nhạc xưa  đã tự dẫn người tìm đường tìm đến đúng nơi cần tìm.

Cà phê Cheo Leo của cụ cố Vĩnh Ngô được mở bán từ cuối những năm thập niên 30 của thế kỷ trước. “Những ngày đầu nhà tui về đây xung quanh đồng không trống trải, nhà cửa thưa thớt với vài ngọn đèn leo lét, nên cha tui đặt tên quán là Cheo Leo”, cô Hoa người con thứ 6 của cụ cố Vĩnh Ngô kể lại.

Thời đó, Cheo Leo là một trong những quán cà phê nhạc nổi tiếng Sài Gòn, là nơi hẹn hò của những cô cậu học trò trường Chu Văn An, Petrus Ký và đây cũng là nơi thường xuyên lui tới của một vài nghệ sĩ vang bóng một thời Sài Gòn.

Trong suốt 79 năm, hương vị cà phê cùng với cách pha độc đáo vẫn được từ chiếc vợt vẫn được mọi thành viên trong gia đình giữ nguyên.

Cô Hoa chia sẻ : “Lửa rất quan trọng khi luộc cà phê. Nếu để lửa lớn quá cà phê sẽ bị kho ra vị chua, còn nhỏ, cà phê sẽ bị nguội, uống vô không còn mùi vị”.

Lò nung cha chị làm từ cái thùng phuy chèn thêm lớp gạch pha với đường cát vàng hạt lớn. Giữa lò nung có than lửa làm nước sôi, nước sôi già mới đổ vào cái siêu mà người ta thường đun thuốc Bắc. Trong siêu có tấm vải lược, tức cái vợt, bỏ cà phê xay nhuyễn vào đó. Ủ một lúc thì chắt nước cà phê qua cái siêu khác, đặt bên rìa lò nung giữ nóng lâu, hoặc chắt liền vào ly phục vụ khách vừa tới quán.

Một khách ruột của quán tâm sự : “Sanh thời ông Cheo Leo điệu nghệ lắm. Ổng luôn vận quần soọc, cỡi xe Vespa đi chợ Bến Thành mua cà phê chánh hiệu Meilleur Gout, Jean Martin mang dzìa pha vợt. Tới khi Sài Gòn đã hiếm quán cà phê pha vợt, ổng cũng không chịu pha phin, biểu pha bằng cái phin thì cà phê cũng chẳng ngon hơn chút nào, mà nỡ bỏ đi cái cách cà phê pha vợt đã quá thân thương với người Sài Gòn. Tụi tui mến ổng là vậy”.

Khi muốn cảm thụ hương vị của tách cà phê đích thực, sự thư thái trong tâm hồn cùng với những cốc nhựa cà phê ở đây, nhiều người khám phá ra cà phê vợt đem đến cho bạn trải nghiệm thú vị và bổ ích.

oOo

Giữa nhịp sống hiện đại và náo nhiệt, hình ảnh những người già ngồi bên tách cà phê cạnh lò đun nghi ngút khói trở thành một nét duyên thầm trong thế giới ẩm thực và đời sống văn hóa vốn đã lắm phong phú của Sài Gòn.

Ngày nay, cà phê vợt không chỉ là thức uống được người lao động bình dân ưa chuộng, đó đã là niềm khao khát, là thói quen chung của nhiều người thích tĩnh lặng, nhớ hoài cổ và nét trầm mặc của thời gian.

Dù chúng ta có đi rất xa, chúng ta vẫn luôn mong muốn có một điều nào đó để nhớ về. Nhất là về với những kỉ niệm, những nét văn hóa truyền thống rất riêng còn lưu giữ lại, mọi thứ đều góp phần tạo nên một bức tranh muôn màu khiến Sài Gòn trở nên đẹp hơn.

Yên Huỳnh tổng hợp chuyển tiếp

NGUỒN GỐC MỘT SỐ ĐỊA DANH MIỀN NAM

Logo tai lieu

logo vietSƠ LƯỢC NGUỒN GỐC

MỘT SỐ ĐịA DANH MIỀN NAM

Có nhiều nơi ở miền Nam mình đã đi qua, đã ở đó, đã nghe nói tới hoặc đã đọc được ở đâu đó… riết rồi những địa danh đó trở thành quen thuộc; nhưng chắc ít khi mình có dịp tìm hiểu tại sao nó có tên như vậy ?

Bài viết này được hình thành theo các tài liệu từ một số sách cũ của các học giả miền Nam: Vương Hồng Sển, Sơn Nam và cuốn Nguồn Gốc Địa Danh Nam Bộ của Bùi Đức Tịnh, với mục đích chia sẻ những hiểu biết của các tiền bối về tên gọi một số địa phương trên quê hương mình.

Xin mời các bạn cùng tham khảo và đóng góp ý kiến từ các nguồn tài liệu khác – để đề tài này được đầy đủ và phong phú hơn.

1/- Tên do địa hình, địa thế 

Bắt đầu bằng một câu hát dân gian ở vùng Ba Tri, tỉnh Bến Tre : 9 Dia danh 1“Gió đưa gió đẩy, / về rẫy ăn còng, / về bưng ăn cá, / về giồng ăn dưa…”

– Giồng là chỗ đất cao hơn ruộng, trên đó nông dân cất nhà ở và trồng rau, đậu, khoai củ cùng một số loại cây ăn trái. Bởi vậy nên mới có bài hát : “trên đất giồng mình trồng khoai lang…”

Một con giồng có thể bao gồm một hay nhiều xã. Ở Bến Tre, Giồng Trôm đã trở thành tên của một quận (huyện). Lại nhắc đến một câu hát khác : “Ai dzìa Giồng Dứa qua truông Gió rung bông sậy, bỏ buồn cho em…” Giồng Dứa ở Mỹ Tho, khoảng từ chỗ qua khỏi ngã ba Trung Luơng đến cầu Long Định, ở bên phải quốc lộ 4 là Giồng Dứa. Sở dĩ có tên như thế vì vùng này ở hai bên bờ sông có nhiều cây dứa. (Dứa đây không phải là loại cây có trái mà người miền Nam gọi là thơm, khóm. Đây là loại cây có lá gai dáng như lá thơm nhưng to hơn và dày hơn, màu xanh mướt. Lá này vắt ra một thứ nước màu xanh, có mùi thơm dùng để làm bánh, đặc biệt là bánh da lợn). Vừa rồi có nhắc đến truông, hồi xưa về Giồng Dứa thì phải qua truông, vậy truông là gì ?

– Truông là đường xuyên ngang một khu rừng, lối đi có sẵn nhưng hai bên và phía trên đầu người đi đều có thân cây và cành lá bao phủ. 9 Dia danh 2Ở vùng Dĩ An có truông Sim. Ở miền Trung, thời trước có truông nhà Hồ.

“Thương em anh cũng muốn vô Sợ truông nhà Hồ, sợ phá Tam Giang” Tại sao lại có câu ca dao này ? Ngày xưa truông nhà Hồ thuộc vùng Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị, còn gọi là Hồ Xá Lâm. Nơi đó địa hình trắc trở, thường có đạo tặc ẩn núp để cướp bóc nên ít người dám qua lại.

– Phá là lạch biển, nơi hội ngộ của các con sông trước khi đổ ra biển nên nước xoáy,sóng nhiều thường gây nguy hiểm cho thuyền bè. Phá Tam Giang thuộc tỉnh Thừa Thiên, phía bắc của phá Tam Giang là sông Ô Lâu đổ ra biển, phía nam là sông Hương đổ ra cửa Thuận An.

– Bàu : là nơi đất trũng, mùa mưa nước khá sâu nhưng mùa nắng chỉ còn những vũng nước nhỏ hay khô hẳn. Khác với đầm, vì đầm có nước quanh năm. Ở Sài Gòn, qua khỏi Ngã Tư Bảy Hiền chừng 1 km về hướng Hóc Môn, phía bên trái có khu Bàu Cát. Bây giờ đường xá được mở rộng, nhà cửa xây rất đẹp nhưng mùa mưa vẫn thường bị ngập nước. Ở Long Khánh có Bàu Cá, Rạch Giá có Bàu Cò.

– Đầm : là chỗ trũng có nước quanh năm, mùa mưa nước sâu hơn mùa nắng, thường là chỗ tận cùng của một dòng nước đổ ra sông rạch hoặc chỗ một con sông lở bờ nước tràn ra hai bên nhưng vẫn dòng nước vẫn tiếp tục con đường của nó. Ở Cà mau có Đầm Dơi, Đầm Cùn. Ở quận 11 Sài Gòn có Đầm Sen, bây giờ trở thành một trung tâm giải trí rất lớn.

9 Dia danh 3Bưng : từ gốc Khmer là bâng, chỉ chỗ đất trũng giữa một cánh đồng, mùa nắng không có nước đọng, nhưng mùa mưa thì ngập khá sâu và có các thứ lác, đưng… mọc. Mùa mưa ở bưng thường có nhiều cá đồng. “…về bưng ăn cá, về giồng ăn dưa”. Ở Ba Tri, tỉnh Bến Tre, có hai bưng là Bưng TrômBưng Cốc.

– Láng : chỗ đất thấp sát bên đường nước chảy nên do nước tràn lên làm ngập nước hoặc ẩm thấp quanh năm. Ở Bình Chánh (gíap ranh Sài Gòn – Long An) có Láng Le, được gọi như vậy vì ở láng này có nhiều chim le le đến kiếm ăn và đẻ. Vùng Khánh Hội (quận 4 Sài Gòn) xưa kia được gọi là Láng Thọ vì có những chỗ ngập do nước sông Sài Gòn tràn lên. Người Pháp phát âm Láng Thọ thành Lăng Tô, một địa danh rất phổ biến thời Pháp thuộc.

Trảng : chỗ trống trải vì không có cây mọc, ở giữa một khu rừng hay bên cạnh một khu rừng. Ở Tây Ninh có Trảng Bàng, địa danh xuất phát từ một cái trảng xưa kia có nhiều cỏ bàng vì ở vùng ven Đồng Tháp Mười. Ở Biên Hoà có Trảng Bom, Trảng Táo.

Đồng : khoảng đất rất rộng lớn bằng phẳng, có thể gồm toàn ruộng, hoặc vừa ruộng vừa những vùng hoang chưa khai phá. Một vùng trên đường từ Gia Định đi Thủ Đức, qua khỏi ngã tư Bình Hoà, trước kia toàn là ruộng, gọi là Đồng Ông Cộ. Ra khỏi Sài Gòn chừng 10 km trên đường đi Lái Thiêu có Đồng Chó Ngáp, được gọi như thế vì trước kia là vùng đất phèn không thuận tiện cho việc cày cấy, bị bỏ hoang và rất vắng vẻ, trống trải. Ở Củ Chi có Đồng Dù, 9 Dia danh 4vì đã từng dược dùng làm nơi tập nhảy dù. Và to, rộng hơn rất nhiều là Đồng Tháp Mười.

Hố : chỗ đất trũng, mùa nắng khô ráo nhưng mùa mưa có nơi nước lấp xấp. Ở Củ Chi có Hố Bò, vì bò nuôi trong vùng thường đến đó ăn cỏ. Biên Hoà có Hố Nai, là nơi những người Bắc đạo Công Giáo di cư năm 1954 đến lập nghiệp, tạo thành một khu vực sầm uất.

2/- Tên bắt nguồn từ tiếng Khmer

Miền Nam, đặc biệt là khu vực đồng bằng sông Cửu Long, người Việt và người Khmer sống chung với nhau,văn hoá đã ảnh hưởng qua lại lẫn nhau. Điều đó biểu hiện rõ nét qua một số địa danh. Một số nơi, tên gọi nghe qua thì rất Việt Nam nhưng lại bắt nguồn từ tiếng Khmer; người Việt đã Việt hoá một cách tài tình.

9 Dia danh 13– Cần Thơ : Khi đối chiếu địa danh Cần Thơ với tên Khmer nguyên thủy của vùng này là Prek Rusey (sông tre), không thấy có liên quan gì về ngữ âm, người nghiên cứu chưa thể vội vàng kết luận là Cần Thơ là một địa danh hoàn toàn Việt Nam và vội đi tìm hiểu căn cứ ở các nghĩa có thể hiểu được của hai chữ Hán Việt “cần” và “thơ”.

Cần Thơ không phải là từ Hán Việt và không có nghĩa. Nếu dò tìm trong hướng các địa danh Việt hoá, người nghiên cứu có thể thấy ngữ âm của Cần Thơ rất gần với ngữ âm của từ Khmer “kìntho”, là một loại cá hãy còn khá phổ biến ở Cần Thơ, thông thường được gọi là cá sặc rằn, nhưng người ở Bến Tre vẫn gọi là cá “lò tho”.

Từ quan điểm vững chắc rằng “lò tho” là một danh từ được tạo thành bằng cách Việt hoá tiếng Khmer “kìntho”, người nghiên cứu có thể sưu tầm các tài liệu về lịch sử dân tộc, về sinh hoạt của người Khmer xa xưa trong địa phương này, rồi đi đến kết luận là địa danh Cần Thơ xuất phát từ danh từ Khmer “kìntho”.

– Mỹ Tho : Trường hợp Mỹ Tho cũng tương tự. Sự kết hợp hai thành tố có ngữ âm hoàn toàn Việt Nam, “mỹ” và “tho”, không tạo nên một ý nghĩa nào theo cách hiểu trong tiếng Việt. Những tài liệu thích ứng về lịch sử và sinh hoạt của người 9 Dia danh 11Khmer trong vùng thời xa xưa đã xác định địa phương này có lúc đã được gọi là “Srock Mỳ Xó” (xứ nàng trắng). Mình gọi là Mỹ Tho, đã bỏ đi chữ Srock,chỉ còn giữ lại Mỳ Xó thôi.

Sóc Trăng : Theo cố học giả Vương Hồng Sển, đúng ra phải gọi là Sốc Trăng. Sốc Trăng xuất phát từ tiếng Khmer “Srock Khléang”. Srock có nghĩa là xứ, cõi. Khléang là kho chứa vàng bạc của vua. Srock Khléang là xứ có kho vàng bạc nhà vua. Trước kia người Việt viết là Sốc Kha Lăng, sau nữa biến thành Sốc Trăng. Tên Sốc Trăng đã có những lần bị biến đổi hoàn toàn.

Thời Minh Mạng, đã đổi lại là Nguyệt Giang tỉnh, có nghĩa là sông trăng (sốc thành sông, tiếng Hán Việt là giang; trăng là nguyệt).Đến thời ông Diệm, lại gọi là tỉnh Ba Xuyên, châu thành Khánh Hưng. Bây giờ trở lại là Sóc Trăng.

Bãi Xàu : là tên một quận thuộc tỉnh Sóc Trăng. Đây là một quận ven biển nên có một số người vội quyết đoán, cho rằng đây là một trường hợp sai chính tả, phải gọi là Bãi Sau mới đúng. 9 Dia danh 14Thật ra, tuy là một vùng bờ biển nhưng Bãi Xàu không có nghĩa là bãi nào cả. Nó xuất phát từ tiếng Khmer “bai xao” có nghĩa là cơm sống. Theo truyền thuyết của dân địa phương, có địa danh này là vì nơi đây ngày trước, một lực lượng quân Khmer chống lại nhà Nguyễn đã phải ăn cơm chưa chín để chạy khi bị truy đuổi.

Kế Sách : cũng là một quận của Sóc Trăng. Kế Sách nằm ở gần cửa Ba Thắc (một cửa của sông Củu Long), phần lớn đất đai là cát do phù sa sông Hậu, rất thích hợp cho việc trồng dừa và mía. Cát tiếng Khmer là K’sach, như vậy Kế Sách là sự Việt hoá tiếng Khmer “k’sach”.

Một số địa danh khác :

– Cái Răng (thuộc Cần Thơ) là sự Việt hoá của “k’ran”, tức cà ràn, là một loại bếp lò nấu bằng củi, có thể trước kia đây là vùng sản xuất hoặc bán cà ràn.

– Trà Vinh xuất phát từ “prha trapenh” có nghĩa là ao linh thiêng.

– Sông Trà Cuông ở Sóc Trăng do tiếng Khmer “Prek Trakum”, là sông rau muống (trakum là rau muống).

– Sa Đéc xuất phát từ “Phsar Dek”, phsar là chợ, dek là sắt.

– Tha La, một địa danh nổi tiếng ở Tây Ninh (Tha La xóm đạo), do tiếng Khmer “srala”,là nhà nghỉ ngơi, tu dưỡng của tu sĩ Phật giáo.

9 Dia danh 15– Cà Mau là sự Việt hoá của tiếng Khmer “Tưck Khmau”, có nghĩa là nước đen.

3/- Địa danh do công dụng của một địa điểm hay do một khu vực sinh sống làm ăn.

Đây là trường hợp phổ biến nhất trong các địa danh. Theo thói quen, khi muốn hướng dẫn hay diễn tả một nơi chốn nào đó mà thuở ban đầu chưa có tên gọi, người ta thường hay mượn một điểm nào khá phổ biến của nơi đó, như cái chợ cái cầu và thêm vào một vào đặc tính nữa của cái chợ cái cầu đó; lâu ngày rồi thành tên, có khi bao trùm cả một vùng rộng lớn hơn vị trí ban đầu.

Chợ : Phổ biến nhất của các địa danh về chợ là chợ cũ, chợ mới, xuất hiện ở rất nhiều nơi. Sài Gòn có một khu Chợ Cũ ở đường Hàm Nghi đã trở thành một địa danh quen thuộc. Chợ Mới cũng trở thành tên của một quận trong tỉnh An Giang. Kế bên Sài Gòn là Chợ Lớn, xa hơn chút nữa là Chợ Nhỏ ở Thủ Đức. Địa danh về chợ còn được phân biệt như sau;

– Theo loại hàng được bán nhiều nhất ở chợ đó từ lúc mới có chợ, như : Chợ Gạo ở Mỹ Tho, Chợ Búng (đáng lý là Bún) ở Lái Thiêu, Chợ Đệm ở Long An, Chợ Đũi ở Sài Gòn.

Cho Ba Chieu– Theo tên người sáng lập chợ hay chủ chợ (độc quyền thu thuế chợ), như : chợ Bà Chiểu, chợ Bà Hom, chợ Bà Quẹo, chợ Bà Rịa.

– Theo vị trí của chợ, như : chợ Giữa ở Mỹ Tho, chợ Cầu (vì gần một cây cầu sắt) ở Gò Vấp, chợ Cầu Ông Lãnh ở Sài Gòn.

– Xóm : là một từ để phân biệt một khu vực trong làng hay một địa phương lớn hơn, về mục tiêu sản xuất, thương mại hay chỉ đơn thuần về vị trí. Đơn thuần về vị trí, trong một làng chẳng hạn, có Xóm Trên, Xóm Dưới, Xóm Trong, Xóm Ngoài, Xóm Chùa, Xóm Đình… Về các mục tiêu sản xuất và thương mại, ngày nay cách phân biệt các xóm chỉ còn ở nông thôn mà không còn phổ biến ở thành thị.

Những địa danh còn sót lại về xóm ở khu vực Sài Gòn, Chợ Lớn : vùng phụ cận chợ Bà Chiểu có Xóm Giá, Xóm Gà. Gò Vấp có Xóm Thơm. Quận 4 có Xóm Chiếu. Chợ Lớn có Xóm Than, Xóm Củi, Xóm Vôi, Xóm Trĩ (Trĩ là những nhánh cây hay thân cây suôn sẻ to cỡ bằng ngón chân cái, 9 Dia danh 5dài chừng 2 mét, dùng để làm rào, làm luới hay làm bủa để nuôi tằm).

Thủ là danh từ chỉ đồn canh gác dọc theo các đường sông, vì khá phổ biến thời trước nên “thủ” đã đi vào một số địa danh hiện nay hãy còn thông dụng, như : Thủ Đức, Thủ Thiêm, Thủ Ngữ (Sài Gòn), Thủ Thừa (Long An), Thủ Dầu Một (Bình Dương).

Đức, Thiêm, Ngữ, Thừa có lẽ là tên những viên chức được cử đến cai quản các thủ này và đã giữ chức vụ khá lâu nên tên của họ đã được người dân gắn liền với nơi làm việc của họ. Còn Thủ Dầu Một thì ở thủ đó ngày xưa có một cây dầu mọc lẻ loi.

Bến ban đầu là chỗ có đủ điều kiện thuận tiện cho thuyền ghe ghé vào bờ hoặc đậu lại do yêu cầu chuyên chở, lên xuống hàng. Sau này nghĩa rộng ra cho cả xe đò,xe hàng, xe lam… Cũng như chợ, bến thường được phân biệt và đặt tên theo các loại hàng được cất lên nhiều nhất. Một số tên bến đặt theo cách này đã trở thành tên riêng của một số địa phương, như : Bến Cỏ, Bến Súc, Bến Củi ở Bình Dương. Bến Đá ở Thủ Đức. Bến Gỗ ở Biên Hoà. Ngoài ra bến cũng còn có thể được đặt tên theo một đặc điểm nào ở đó, như một loại cây, cỏ nào mọc nhiều ở đó, và cũng trở thành tên của một địa phương, như : Bến Tranh ở Mỹ Tho, Bến Lức ở Long An (đáng lý là lứt, là một loại cây nhỏ lá nhỏ, rễ dùng làm thuốc, đông y gọi là sài hồ).

4/- Một số trường hợp khác

Có một số địa danh được hình thành do vị trí liên hệ đến giao thông, như ngã năm, ngã bảy, cầu, rạch…thêm vào đặc điểm của vị trí đó, hoặc tên riêng của một nhân vật có tiếng ở tại vị trí đó. Ở Sài Gòn có rất nhiều địa danh được hình thành theo cách này: Ngả Tư Bảy Hiền, Ngã Năm Chuồng Chó, Ngã Ba Ông Tạ9 Dia danh 9Ở Trà Vinh có Cầu Ngang đã trở thành tên của một quận.

Trường hợp hình thành của địa danh Nhà Bè khá đặc biệt, đó là vị trí ngã ba sông, nơi gặp nhau của 2 con sông Đồng Nai và Bến Nghé trước khi nhập lại thành sông Lòng Tảo. Lúc ròng, nước của hai con sông đổ ra rất mạnh thuyền bè không thể đi được, phải đậu lại đợi con nước lớn để nương theo sức nước mà về theo hai hướng Gia Định hoặc Đồng Nai. “Nhà Bè nước chảy chia hai, Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về.”

Tương truyền có ông Thủ Huồng là một viên chức cai quản “thủ” ở vùng đó, tham nhũng nổi tiếng. Có lần nằm mơ thấy cảnh mình chết bị xuống âm phủ phải đền trả những tội lỗi khi còn sống. Sau đó ông từ chức và bắt đầu làm phúc bố thí rất nhiều; một trong những việc làm phúc của ông là làm một cái bè lớn ở giữa sông trên đó làm nhà, để sẵn những lu nước và củi lửa. 9 Dia danh 6Những ghe thuyền đợi nước lớn có thể cặp đó lên bè để nấu cơm và nghỉ ngơi. Địa danh Nhà Bè bắt nguồn từ đó.

Miền Nam là đất mới đối với người Việt Nam, những địa danh chỉ mới được hình thành trong vài thế kỷ trở lại đây nên những nhà nghiên cứu còn có thể truy nguyên ra nguồn gốc và ghi chép lại để lưu truyền. Cho đến nay thì rất nhiều địa danh chỉ còn lại cái tên mà ý nghĩa hoặc dấu vết nguyên thuỷ đã biến mất theo thời gian.

Thí dụ, Chợ Quán ở đường Trần Hưng Đạo, Sài Gòn, bây giờ chỉ biết có khu Chợ Quán, nhà thờ Chợ Quán, nhà thương Chợ Quán… chứ còn cái chợ có cái quán đố ai mà tìm cho ra được. Hoặc Chợ Đũi (có một số người tưởng lầm là Chợ Đuổi vì người buôn bán hay bị nhân viên công lực rượt đuổi) ban đầu chuyên bán đũi, là một thứ hàng dày dệt bằng tơ lớn sợi, bây giờ mặt hàng đó đã biến mất nhưng địa danh thì vẫn còn.

Ngoài ra, đất Sài Gòn xưa sông rạch nhiều nên có nhiều cầu, sau này thành phố được xây dựng một số sông rạch bị lấp đi, cầu biến mất, nhưng người dân vẫn còn dùng tên cây cũ ở nơi đó để gọi khu đó,như khu Cầu Muối. Và cũng có một số địa danh do phát âm sai nên ý nghĩa ban đầu đã bị biến đổi nhưng người ta đã quen với cái tên được phát âm sai đó nên khi ghi chép lại, vẫn giữ cái tên đã được đa số chấp nhận, như Bến Lức, chợ Búng (Lứt là tên đúng lúc ban đầu, vì nơi đó có nhiều cây lứt; còn chợ Búng nguyên thủy chỉ bán mặt hàng bún, sau này bán đủ mặt hàng và cái tên được viết khác đi).

Phần trên đã nói tới nhiều địa danh của miền Nam, bây giờ là phần bổ túc. 9 Dia danh 12Gặp đâu ghi đó. Có những địa danh có thể đã được đề cập ở phần trên nhưng cũng vẫn ghi lại, vì tôi mới đọc được trong những cuốn sách khác.

1/- Thủ Đức : Ai chẳng một lần nghe nói đến nem Thủ Đức. Người ta nhắc đến cái địa danh Thủ Đức, Xuân Trường như là một nơi danh thắng để giai nhân, tài tử, tao nhân mặc khách đến đây thưởng thức phong quang. Theo lời truyền khẩu của các vị bô lão ở địa phương : Khi xưa, có vị thủ đồn đầu tiên ở nơi này tên là Đức. Đến sau, ông Tạ Dương Minh đứng ra qui dân lập chợ buôn bán, nhớ đến công vị thủ đồn tên Đức, nên lấy tên và chức tước của ông mà đặt cho chợ, gọi là chợ Thủ Đức nay đã thành danh. (trích trong cuốn Gia Định Xưa của Huỳnh Minh)

2/- Gò Vấp : Gò Vấp là tên một quận của tỉnh Gia Định. Gọi là Gò Vấp có ý nghĩa gì ? Chúng tôi đã dụng công ra tìm những sử sách và hỏi thăm các vị bô lão, nhưng chẳng tìm hiểu được gì đích xác. Tuy nhiên, theo truyền thuyết, cũng có thể tin được, địa danh mang tên Gò Vấp, vì lúc trước nơi ấy là một ngọn đồi trồng cây Vấp (theo tiếng Chàm gọi là Krai, tiếng Việt là Vấp hay Lùn). Thứ cây Vấp là thứ cây mà dân Chàm coi như thần mộc, yểm hộ cho dân tộc Chàm. (trích trong cuốn Gia Định Xưa của Huỳnh Minh) Cây Vấp (tên khoa học là Mesua Ferrea L.)

3/- Đồng Ông Cộ : Đồng bào ở tỉnh Gia Định từ xưa tới nay thường nghe nói đến tên “Đồng Ông Cộ” nhưng không hiểu rõ cụm từ này do ai đặt ra mà được truyền tụng mãi đến ngày nay.

Ở miền Nam chúng ta, địa phương nào cũng có nhiều huyền thoại, giai thoại truyền khẩu trong dân gian, lâu ngày trở thành một địa danh. Chúng tôi, người tình nguyện vạch bóng thời gian,ghi lại những sự việc xảy ra từng vùng,từng địa phương, để hiến quí bạn đọc hiểu rõ nguồn gốc từ thuở xa xưa nơi địa phương chính mình. Theo một vài vị bô lão cố cựu sinh quán tại Gia Định, thuật lại sự tích “Đồng ông Cộ” cho chúng tôi biết như sau.

8 Cho Saigon 2Đất Gia Định ngày xưa rộng lớn hoang vu, dân chúng ở rải rác từng nhóm theo ruộng gò nổng, rừng chòi dày đặc,đường sá chưa được khai mở, lối đi vất vả khổ cực. Khu đất “Đồng ông Cộ” này ngày xưa thuộc vùng sát cận trung tâm tỉnh Gia Định. Nó ăn từ chợ (ngã ba trong) dài tới cầu Hang; vòng ra đường Nguyễn Văn Học, phía bên này cầu Bình Lợi nó ăn sâu luôn phía trong có hơn 10 cây số, rồi vòng ra khu Hàng Xanh phía lò heo cũ Gia Định chạy dài tới ngã năm Bình Hoà.

Toàn thể khu vực rộng lớn như vậy,thuở xưa không có lấy một con lộ cái quan nào để dân chúng xê dịch. Dân cư trong vùng, sinh sống về nghề ruộng nương, rẫy bái, làm nghề hạ bạc (đánh cá) dọc theo sông cầu Bình Lợi, cầu Băng Ky bây giờ. Những khoảng đất không được khai phá thì toàn là rừng chồi cây lùm mọc rậm rạp. Về sau, Tây lấy Gia Định rồi thì mở mang quốc lộ đi Thủ Đức và khu sát rìa quốc lộ, ăn sâu vô hằng 5-7 cây số (từ phía Gia Định lên nằm bên tay mặt), được Tây khai phá làm rừng cao su. Toàn thể một khu đồng ruộng mênh mông như vậy, hơn phân nửa đất đai toàn là rừng rậm, dân cư lại ít nên không có nhiều đường mòn để xê dịch. Dân chúng di chuyển bằng ngựa cũng không tiện chớ đừng nói chi đến dùng xe bò hoặc xe trâu.

9 Dia danh 7Đây khác hơn mọi nơi là chỗ đó ! Mỗi khi dân cư trong vùng này muốn ra tỉnh, lúc đó là thành Gia Định, có việc cần kíp, hoặc rước thày trị bệnh, hoặc tải hàng rẫy, gạo thóc ra chợ bán, hoặc mua đổi các thứ cần thiết đem về dùng…. thật là muôn vạn khó khăn.

Chỉ có những trai tráng khoẻ mạnh mới có thể di chuyển nổi hằng mấy chục cây số đường lồi lõm không khác lên thác xuống ghềnh, khu đất này lại nhiều chỗ dốc lên, dốc xuống, đồi nổng..v.v.. Rất ít chỗ được khai phá, thành giồng như xuyên rừng vậy. Mà hễ mỗi lần đi như vậy thì ruộng nương, rẫy bái ở nhà lại không ai khai phá, làm lụng sản xuất. Lại mỗi lần đi ra thành thì lại mất ít nhất 2 ngày – 1 ngày đi, 1 ngày về mua bán, đổi chác.

Một ngày, bỗng dưng người ta thấy trước cổng nhà của một ông Phú Hộ với nhà ngói 3 gian, 2 chái, 1 dãy nhà bếp, nền đúc cao treo tấm bảng lớn đề mấy chữ : “Đảm nhận ‘Cộ’ người và hàng hoá đi khắp nơi”. Đồng thời với tấm bảng treo lên, ông Phú Hộ trong vùng gọi là ông Ba Phú Hộ truyền thâu dụng tất cả thanh niên vạm vỡ trong toàn khu, hay bất cứ nơi nào,muốn có chuyện làm, ngoài nghề ruộng rẫy.

9 Dia danh 10“Cộ người và hàng” ! Đó là một lối tải người và hàng hoá giản tiện hơn cả võng hay kiệu. Ông Ba Phú Hộ bèn cho dân đan những tấm vạc bằng tre, hai đầu có 4 lóng tre ló ra giống như cái băng ca nhà thương khiêng bệnh, để người đầu trước người đầu gác lên hai vai, khách thì ngồi ở vạc tre khúc giữa thòng chân lủng lẳng để người “Cộ” đi. Hàng hoá thì lại để ở khoảng giữa, thay vì tấm vạc tre đương thì nó là một miếng ván dày để có thể chất nhiều đồ mà không bị oằn chính giữa. Người sử dụng muốn mướn chỉ cần cho ông Ba Phú Hộ hay trước, cho biết nhà rồi thì sáng sớm, khi gà vừa gáy là có dân phu mang “Cộ” đến tận nhà mà rước người, hoặc “Cộ” hàng đi ra thành Gia Định. Từ đó, dân cư bắt đầu xê dịch dễ dàng, không nhọc mệt, bận tâm, hay tốn hao người mỗi khi tải hàng đi ra thành. Rồi thì, thời gian trôi qua, địa danh xuất hiện theo miệng người cư ngụ trong vùng. Khi hỏi : – Ở đâu ? Bèn đáp: – Ở trong đồng ông Ba “Cộ” !

Ông Ba “Cộ” đây có nghĩa là ông Ba Phú Hộ “Cộ” người và hàng hoá. Dần dần, hàng trăm năm sau vùng này được mở mang, nhưng là một vùng rộng lớn, dân chúng quy tụ về càng ngày càng đông lại không có địa danh, nên người ta nhớ ơn ông Ba “Cộ” lập thành vùng này thành địa danh gọi là “Đồng ông Cộ” cho đến ngày nay.

Cộ – danh từ: xe quệt. (td. trâu kéo cộ, một cộ lúa) – động từ: kéo đi, mang chở, khuân lấy (td. cộ lúa từ đồng về nhà) ăn. (td. nồi cơm lớn quá mức tụi tôi đâu có cộ nổi) đảm đương (td. nhiều việc quá liệu mình có cộ nổi khổng) (Theo cuốn Tự Điển Phương Ngữ Nam Bộ.) (Xe quệt, là loại xe dùng trâu hoặc bò để lết trên mặt đất. Khung xe bằng tre đặt trên 2 cây trượt. Đầu 2 cây trượt được gông vào càng xe. Người ta dùng dây chão buộc càng xe vào vai của trâu hoặc bò. Đây là phương tiện vận chuyển đường dài chủ yếu dùng trong mùa vụ nông nghiệp, thích ứng với địa hình phức tạp.)

Xe-cộ là danh từ kép, trong trường này, chữ cộ phải là danh từ để đứng chung với chữ xe. Cái xe và cái cộ cùng là danh từ chỉ một vật dùng để chuyển tải (người hoặc hàng hoá). Giống như danh từ kép chợ-búa, chợ và búa là hai danh từ đồng nghĩa, nhưng chữ búa là từ cổ đã biến mất không ai dùng nữa, chỉ còn tồn tại trong từ kép chợ-búa.  (trích trong cuốn Gia Định Xưa của Huỳnh Minh)

9 Dia danh 84/- Đồng Tháp Mười : Chú thích năm 1970. Theo tôi, thuyết dưới đây của ông Lê Hương có phần đáng tin hơn cả. Trong bài Địa danh, di tích, thắng cảnh trong vùng người Việt gốc Miên, tập san Sử Địa số 14, 15 năm 1969, ông viết :

– “Tháp mười là một trong những ngôi tháp làm bằng đá do vua Jayavarman VII xây cất khắp lãnh thổ để thờ vị thần Bà La Môn Lockecvera là vị thần chuyên trị bệnh cho nhân loại. Bên cạnh tháp có những căn nhà sàn gỗ lợp bằng đá mỏng, bằng ngói hay bằng lá thốt nốt để người bịnh nằm dưỡng bệnh do nhân viên y tế hoàng triều coi sóc. Những ngôi tháp được xây dựng dọc theo các con đường lớn trong nước mà ngôi nằm trong đồng Tháp Mười, tính từ địa điểm xuất phát, đứng vào hàng thứ muời.

Thời gian trôi qua, tàn phá tất cả các công trình kiến trúc của cổ nhân, dãy nhà gỗ tiêu tan, chỉ còn một tượng sư tử đá và một linh phù (linga) cũng bằng đá, dưới bệ có khắc chữ Bắc Phạn (sanscrit) ghi tên Tháp thứ mười.9 Dia danh 16Trong năm 1932, nhà khảo cổ Pháp Parmentier đã đi vào Đồng Tháp bằng ghe và xuồng để đọc những chữ khắc vào đó và phát giác ra ngôi tháp…” (trích trong cuốn Bảy Ngày Trong Đồng Tháp Muời của Nguyễn Hiến Lê)

5/- Bến Tre : Trường hợp hình thành tên gọi Bến Tre thật đặc biệt, vì đó là sự gán ghép giữa tiếng Khmer và tiếng Việt.Xưa kia người Khmer gọi nơi đó là Srok Treay – srok là xứ,treay là cá. Sau người Việt thay chỗ người Khmer đến sinh sống làm chủ chốn đó, biến chữ srok thành Bến nhưng chữ treay không dịch là cá mà phát âm theo tiếng Khmer thành Tre. Quả tình nơi đó không có tre mà thật nhiều tôm cá.(theo Hồ Đình Vũ)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

CHUYỆN TÌNH “LÁ DIÊU BÔNG”

DƯƠNG THIỆU TƯỚC MĨM CƯỜI

TRONG BÓNG CHIỀU XƯA

Tác giả của những ca khúc nổi tiếng của thời kỳ đầu tân nhạc Việt Nam: “Ngọc Lan”, “Bóng chiều xưa”, “Đêm tàn bến Ngự”… đã viết ra những cảm xúc Việt bằng âm điệu phương Tây để có được những bài ca hấp dẫn, đi cùng năm tháng

Có lẽ, Dương Thiệu Tước là một trong những nhạc sĩ thuở bình minh tân nhạc có cuộc đời và sự nghiệp sáng tạo khá khác biệt.

Xuất thân dòng dõi quý tộc

Dương Thiệu Tước sinh ngày 15/5/1915 ở làng Vân Đình, Hà Đông (nay thuộc Hà Nội) trong một gia đình nho học truyền thống. Ông nội ông là nhà nho Dương Khuê, tự Vân Trì, đỗ tiến sĩ năm 1868, làm quan đến Định Ninh Tổng Đốc, Thượng thư tham tán Nha Kinh Lược Bắc Kỳ, là bạn đồng khoa thân thiết với Yên Đỗ Nguyễn Khuyến.

Dương Khuê nổi tiếng với những bài văn ca trù phần nhiều viết về những mối tình gặp gỡ các cô đào trong hoàn cảnh éo le. Những tác phẩm này được thu thập vào cuốn “Vân Trì thi lục”. Ông trẻ (em ruột ông nội) Dương Lâm tự là Thu Nguyên, Mộng Thạch, hiệu là Quất Đình, Quất Tẩu đỗ Trạng nguyên năm 1878, làm quan đến Thượng thư Hiệp biện đại học sĩ, tước Thiếu Bảo.

Tác phẩm của ông được ghi lại trong “Vân Đình thi văn tập”. Cha thân sinh Dương Thiệu Tước là ông Dương Tự Nhu làm bố chính tỉnh Hưng Yên. Dương Thiệu Tước lại mê đàn từ bé. Bảy tuổi đã học đàn nguyệt rồi đàn tranh và cổ nhạc. Mười bốn tuổi đã học piano của giáo sư người Pháp tại Viễn Đông Âm nhạc Viện và học guitar cổ điển cùng các tiết tấu dancing.

Và nghiệp cầm ca đã đưa ông đến việc cùng các bạn như Thẩm Oánh, Vũ Khánh, Nguyễn Thiện Tơ, Nguyễn Trần Dzư, Phạm Văn Nhường… lập ra nhóm âm nhạc Myosotis (Hoa lưu ly). Ông cùng nhóm đã cho xuất bản những nhạc phẩm đầu tiên của nhóm như “Đồi Oanh vàng”, “Hoa tàn”, “Phút vui xưa”… cùng những bản soạn cho guitar Hawaienne như “Joie d’aimer”, “Son ven-ance”, “Tondouxsourise” vào cuối năm 1938.

Cũng trong năm ấy, vào tháng 9, “Myosotis” đã có buổi trình diễn trước đông đảo công chúng tại rạp Olenpia (nay là rạp Hồng Hà đối diện chợ Hàng Da – số 51 Đường Thành, Hà Nội) những nhạc phẩm của Thẩm Oánh, Dương Thiệu Tước được thanh niên mến mộ, náo nức xin văn bản để tập đàn ca. Nhóm thường xuyên được Hội Ánh Sáng của Tự Lực Văn Đoàn mời biểu diễn.

Gửi hồn dân tộc trên âm điệu phương Tây

Khi bắt đầu sáng tác, Dương Thiệu Tước có chủ trương soạn nhạc theo âm điệu Tây phương. Ông nghĩ nếu đã có nhà văn, nhà nghiên cứu Việt Nam viết tác phẩm bằng tiếng Pháp thì nhà soạn nhạc Việt Nam cũng rất có thể viết được những bản nhạc có âm điệu phương Tây.

Và cứ thế, từ ông đã tuôn trào ra những “Tâm hồn anh tìm em”, “Một ngày mà thôi”, “Ngọc Lan”, “Bóng chiều xưa”, “Ôi quê xưa”… chịu ảnh hưởng nhạc nhẹ cổ điển phương Tây. Nhưng dù có quan niệm như thế, Dương Thiệu Tước vẫn cho rằng khi ông đã là người Việt Nam thì những gì ông viết ra là đã mang hồn vía dân tộc Việt Nam rồi. Điều ấy cũng thể hiện rõ khi ông viết “Tiếng xưa”, “Chiều” (phổ thơ Hồ Dzếnh) và vượt lên hơn cả là đã sử dụng rất tinh tường ca Huế vào “Đêm tàn bến Ngự”.

Từ cảm xúc với nữ ca sĩ Minh Trang đẹp đến nao lòng, Dương Thiệu Tước đã thả hồn vào những luyến láy “rất Huế”, những biến phách, những đảo phách dìu dặt của nhạc cung đình và lời ca như nhập với giai điệu : “Nam Bình sầu than, như nức nở khóc duyên bẽ bàng…” hay “Thuyền mơ trong khúc Nam ai – Đàn khuya trên sóng ngân dài…” man mác đượm buồn như bài thơ “Một đêm đàn lạnh trên sông Huế” của Văn Cao.

Giống như Phạm Văn Ký, Phạm Duy Khiêm trong văn chương hay Nguyễn Văn Huyên trong nghiên cứu, Dương Thiệu Tước là nhạc sĩ viết ra những cảm xúc Việt bằng “ngữ pháp Tây” nhưng lòng trắc ẩn về một bản sắc dân tộc vẫn giúp cho ông biến những giáo huấn khô khan “Ơn nghĩa sinh thành” thành một bài ca hấp dẫn, biến những hồn nhiên thơ ngây thành những đồng dao đầy chất Việt như “Nhạc ngày xanh”, “Dưới nắng hồng”…

Nhân nhắc đến Nguyễn Văn Huyên, điều không ngờ là cả hai ông đều đem lòng yêu một thiếu nữ Hà Nội kiều diễm là con Tổng đốc Vi Văn Định – bà Vi Kim Ngọc. Khi Nguyễn Văn Huyên còn học ở Pháp, Dương Thiệu Tước đã đem lòng yêu thiếu nữ này. Song duyên đời lại không cho hai người se lại. Khi Nguyễn Văn Huyên về nước và gặp duyên với nàng, Dương Thiệu Tước mới lấy bà Lương Thị Thuần. Nhưng mối tơ duyên thì còn vấn vương. Đó là cảm hứng để ông viết “Ngọc Lan”.

Cái nhìn riêng về chiến tranh

Chiến tranh bùng nổ, Dương Thiệu Tước vẫn ở Hà Nội theo đuổi sự nghiệp sáng tác của mình. Ông từng khẳng định “Âm nhạc cải cách đã trỗi dậy và đã gieo vào tâm hồn ta những ý niệm tươi đẹp của một nền âm nhạc Việt Nam tương lai, cái ảnh hưởng mãnh liệt sâu xa của nó đan xen với mạch sống hằng ngày của mỗi người”.

 Dương Thiệu Tước có cái nhìn riêng của mình về chiến tranh qua “Ôi quê xưa”: “Rồi một chiều thu – Tôi về chốn xưa – Nhìn cảnh làng quê – Vết tro tàn đìu hiu gió sương – Nhìn mái nhà xác xơ – Mơ chốn đây năm nào – Chiều chiều bao người hẹn nhau – Đến bên nhịp cầu…” Ông cứ cảm nhận cuộc đời tha thiết và sang trọng trong tình yêu.

Tính đến năm 1953, Nhà Xuất bản Tinh Hoa đã thống kê ra đến 41 ca khúc ông viết từ thuở bình minh tân nhạc Việt Nam đến thời điểm đó. Sau Hiệp định Genève, ông vào Sài Gòn. Ở đây, những ca khúc của ông vẫn tiếp tục được tái ấn hành và được Thái Thanh, Minh Trang và cô con gái Quỳnh Giao trình diễn nhiều năm tháng.

Ông hướng về giáo dục âm nhạc là chủ yếu. Bởi vậy, sau ngày 30/4/1975, ông vẫn được trọng dụng để giảng dạy ở Nhạc viện Sài Gòn bằng một cuộc sống đạm bạc trong căn nhà có chái bếp lợp lá ở giữa con hẻm gần chùa Hành Thiên. Ông tạ thế ngày 1/8/1995, khi ấy ca khúc Dương Thiệu Tước đã được hát khắp nơi. Trong chương trình “Nửa thế kỷ bài hát Việt Nam” hồi cuối Xuân 1994, “Ngọc Lan” đã vang lên qua giọng hát Thu Hà.

– Những tình khúc bất hủ của nhạc sĩ Dương Thiệu Tước (1:20’)

https://youtu.be/RrM6X-yvcss

Những Tình Khúc Bất Hủ Của Nhạc Sĩ Dương Thiệu Tước : Mai Hương,Khánh ly, Hương Lan, Thái Thanh

Danh Sách Bìa Hát : 1/. Bóng Chiều – Mai Hương 2/. Chiều – Mai Hương 3/. Tiếng Xưa – Mai Hương 4/. Bóng Chiều Xưa – Khánh Ly 5/. Đêm Tàn Bến Ngự – Mai Hương 6/. Khúc Nhạc Dưới Trăng – Mai Hương 7/. Kiếp Hoa – Mai Hương 8/. Ngọc Lan – Mai Hương 9/. Thuyền Mơ – Mai Hương 10/. Áng Mây Chiều – Mai Hương 11/. Cánh Buồm Lướt Gió 12/. Đêm Ngắn Tình Dài – Thái Thanh 13/. Bến Xuân Xanh – Mai Hương 14/. Ơn Nghỉa Sinh Thành – Hương Lan 15/. Vườn Xuân Thắm Tươi – Mai Hương

LÁ DIÊU BÔNG,

MỘT TÌNH YÊU THÁNH HÓA

– Trần Việt Long

– Chuyện tình lá diêu bông – Thu Hiền

https://youtu.be/hgZgh8sGr8I

– Sao em nở vội lấy chồng , Tuấn Vũ

https://youtu.be/RBaF6mN0NDg

Lá Diêu Bông không hiện hữu trên trái đất này thì làm sao ai mà tìm thấy được và như thế thì chẳng khác nào người đẹp gieo cầu trong gió lớn, làm lỡ duyên người con gái thơ ngây ! Tôi viết vài dòng về Lá Diêu Bông vì thấy lyric và nhạc của Trần Tiến mang tính mẫn cảm thật đẹp về tình yêu hơn lyrics và nhạc của Phạm Duy về cùng một bài thơ, Lá Diêu Bông của Hoàng Cầm.

Thật vậy, câu chuyện tình Lá Diêu Bông là có thật cho dầu Lá Diêu Bông là một loại cỏ cây huyền thoại mang tính platonic. Năm 8 tuổi, cậu bé học trò Bùi Tằng Việt (sinh năm 1921) từ nơi trọ học trở về nhà ở Bắc Ninh thì tình cờ cậu gặp một thiếu nữ hàng xóm 16 tuổi tên Vinh, cậu fell in love immediately. Rung cảm trước tình cảm thiết tha thật dễ thương đó nơi một cậu em thật bé, tâm hồn người thiếu nữ đã khởi lên một tình yêu thăng hoa đầy thánh hóa.

Nhưng rồi mùa Xuân có giới hạn thời gian, người thanh nữ phải xuất giá ở tuổi 20 khi nhà thơ tương lai Hoàng Cầm của chúng ta mới tròn 12 tuổi. Chôn chặt hình ảnh lãng mạn đầu đời đó mãi đến năm 1959 thì bài thơ “Lá Diêu Bông” mới ra đời. Cần phân biệt ở đây bài thơ của Hoàng Cầm với bản nhạc cùng tên do Phạm Duy sáng tác trong thập niên 1980s. Bài thơ nguyên tác như sau :

Váy Đình Bảng buông chùng cửa võng

Chị thẩn thơ đi tìm

Đồng chiều,

Cuống rạ.

Chị bảo:

Đứa nào tìm được Lá Diêu Bông

Từ nay ta gọi là chồng.

Hai ngày em tìm thấy lá

Chị chau mày: Đâu phải Lá Diêu Bông.

Mùa đông sau em tìm thấy lá

Chị lắc đầu,

Trông nắng vãng bên sông.

Ngày cưới chị

Em tìm thấy lá

Chị cười xe chỉ cắm trôn kim.

Chị ba con

Em tìm thấy lá

Xoè tay phủ mặt, chị không nhìn.

Từ thuở ấy

Em cầm chiếc lá

Đi đầu non cuối bể.

Gió quê vi vút gọi

Diêu Bông hời… ới Diêu Bông !

Qua kinh nghiệm cuộc đời, chúng ta biết cả hai, cô Vinh và cậu bé Việt, đã tha thiết yêu nhau trong ý nghĩa thánh thiện nhất của tình yêu. Ở đây tình thơ và tình yêu đã quyện lẫn vào nhau nhưng vẫn ở ngoài tình ái. Biết tình cảm lãng mạn của mình không có lối thoát nên cô Vinh đã đưa ra một thách đố không thể thực hiện được cho cậu bé Việt.

Cô Vinh biết rằng làm gì có Lá Diêu Bông trên thực tế nhưng cậu bé Việt thì quyết tâm đi tìm trong cả cuộc đời mình như là một sự đi tìm cái “bản lai diện mục” của Tình Yêu viết hoa vậy. Đấy là “the Soul of World”“when you want something with all your heart, that’s when you are closest to the Soul of World . It’s always a positive force.” [The Alchemist, p. 78].

Khi một người tha thiết yêu ai đó thì tình yêu đó là một nguồn cảm hứng dạt dào thúc đẩy người ấy sáng tác những vần thơ tuyệt diệu mà sức tuôn trào của lời thơ như một dòng thác chảy vô bờ.

Tôi rất ngưỡng mộ khả năng diễn đạt ngôn ngữ qua lời nhạc của Phạm Duy nhưng lyric Lá Diêu Bông của ông thì dường như ông chưa nhận ra được tình yêu chân thành của cô Vinh dành trọn vẹn cho cậu bé Việt khi ông đem chữ “tao” gắn vào ngôn ngữ trữ tình của cô Vinh thay cho chữ “ta” nguyên khởi của chính cô, “Đứa nào tìm được lá diêu bông / Từ nay tao sẽ gọi là chồng.” “Ta / ngươi” là ngôn ngữ tình yêu được xử dụng bình đẳng giữa nam và nữ khi tình cảm của họ đã “tế ngộ” mà quan hệ xã hội chưa đủ chín mùi để chuyển sang “anh / em.”

Và cuộc hành trình đi tìm Lá Diêu Bông vẫn tiếp tục nơi Hoàng Cầm cho dầu đang tìm ở cõi vĩnh hằng chứ không phải nói như Phạm Duy, “Em đi trăm núi nghìn sông / Nào tìm thấy lá Diêu Bông bao giờ …”.

– Lá Diêu Bông – thơ Hoàng Cầm – nhạc Phạm Duy – trình bày : Ý Lan

https://youtu.be/7rhyRDaZHVo

Nhạc của Phạm Duy hay hơn nhưng tương đối khó hát trong khi nhạc của Trần Tiến rất gần gũi dân ca và dễ hát hơn, và lyric của Trần Tiến thì trung thành với cảm quan của cô Vinh và cậu bé Việt hơn; ngoài ra Trần Tiến lại thêm vào vài lời thật dễ thương mà có người con gái đã trả lời tôi khi tôi hỏi về chồng con của nàng sau nhiều năm mới gặp lại,

“Lấy chồng sớm làm gì /để lời ru thêm buồn !” Thật ra cô em này cũng “ăn gian” tôi khi cô chỉ trích ra một dòng để trả lời câu hỏi của tôi, trong khi lyric của Trần Tiến là lời than của Hoàng Cầm đối với cô Vinh khi cô Vinh đi lấy chồng:

Lấy chồng sớm làm gì, để lời ru thêm buồn

Ru em thời thiếu nữ xa xôi

Còn đâu bao đêm trăng thanh

Tát gàu sòng, vui bên anh.

Để hiểu bài thơ Lá Diêu Bông của Hoàng Cầm thì không thể không nói phớt qua về ý nghĩa của các chữ “váy Đình Bảng” và “buông chùng cửa võng” được .

Váy : Từ trước khi quân nhà Minh chiếm đóng Việt Nam thì đàn bà người Việt mặc váy. Váy giống như skirt của Mỹ và jupe của Pháp :

Vừa bằng cái thúng mà thủng hai đầu,

Bên ta thì có, bên Tàu thì không.

Đến đầu thế kỷ thứ 15 khoảng sau năm 1415 thì nhà Minh bắt buộc đàn bà Việt phải mặc áo ngắn và quần dài như người Tàu. Hơn 250 năm sau thì Nhà Lê cấm đàn bà mặc quần áo như Tàu mà phải mặc váy theo truyền thống văn hóa dân tộc.

Đến khoảng năm 1750 thì Chúa Nguyễn thấy người Chiêm ăn mặc kín đáo hơn nên bắt buộc đàn bà người Việt phải mặc quần như người Tàu. Đến đời Vua Minh Mạng thì nhà vua buộc đàn bà cả nước phải mặc quần như đàn bà Đàng Trong nhưng lệnh này không được thi hành triệt để ở Đàng Ngoài, nhất là vùng thôn quê.

Tháng chín có chiếu vua ra:

Cấm quần không đáy người ta hãi hùng.

Đình Bảng : Làng Đình Bảng nguyên là đất cố đô Hoa Lư, cách Hà Nội khoảng 30 km. Đình Bảng là nơi nổi tiếng về con gái đẹp, vãi lĩnh và lụa tốt, và có nhiều thợ may khéo, nhất là may váy phụ nữ. Về con gái đẹp thì Đình Bảng cũng như Nha Mân của Miền Nam hay Kim Long của Huế.

Gà nào hay bằng gà Cao Lãnh,

Gái nào bảnh bằng gái Nha Mân ?

Kim Long con gái mỹ miều

Trẫm yêu trẫm nhớ trẫm liều trẫm đi

Nhưng xin các cô gái Miền Nam và Miền Trung đừng giận tôi nhe vì tôi phải thành thật nói rằng cả Nha Mân và Kim Long đều không thể nào sánh được nét thướt tha duyên dáng của người con gái Đình Bảng trong chiếc váy lĩnh, váy lụa thật mượt mà và sang quý khi họ làm như vô tình “buông chùng” đến mắt cá chân với các nếp gấp phía trước (phụ nữ) hay hai bên (thiếu nữ) lượn hình lưỡi trai (con trai, con hến) như những gợn sóng nhấp nhô nho nhỏ để tha hồ cho các chàng trai giàu tưởng tượng mến yêu.

Cửa võng : hay còn gọi là “bao lam” là hình ảnh của “rèm vắn lên hai bên” như chúng ta cột màn cửa sổ sát hai bên thành đố cửa sổ. Vải rèm hay màn dồn lại và rũ xuống hai bên. Trên một bức hoành phi thì cửa võng là phần trang trí sơn son thếp vàng làm khung phía trên của bức hoành phi mà phía dưới thì “để trống” không trang trí.

Câu thơ này là câu thơ nói lên đại ý của cả bài thơ. Một cậu bé 8-9 tuổi lững thửng theo sau một cô gái 16-17 tuổi đang thẩn thơ (chứ không phải thẩn thờ) đi tìm trên đồng ruộng vừa gặt lúa xong chỉ còn trơ cuống rạ trong một buổi chiều để đi tìm cái chân nguyên thơ mộng mà trong tâm tư thầm kín nhất, sâu thẳm nhất của nàng là cái mộng mơ đầu đời không diễn đạt thành lời.

Đấy là cái tinh hoa của tình yêu nam nữ mơ hồ được thăng hoa từ sự phát triển thể chất tròn đầy một cách tự nhiên và không gợn một tí gì về dục tính. Và đấy là cái mà nàng đi tìm suốt cuộc đời một khi nàng đã trưởng thành và biết tên gọi rõ ràng cái tinh hoa đó là Hạnh Phúc ! Hình ảnh đầu tiên gây ấn tượng nhất về cô gái đối với cậu bé là chiếc váy của nàng (cậu bé thấp quá so với cô gái !).

Cái váy của người phụ nữ lớn tuổi và vất vã thì rất đơn giản, chỉ là một cuộn vải may khép kín, tròng vào qua hai chân, và có giây thắt lưng ở phần trên, nhưng chiếc váy của các phụ nữ giàu sang hay các cô gái mới lớn thì ngoài “cái thúng mà thủng hai đầu” đó thì vạt vải còn rộng dung hơn sự cần thiết dùng để tạo dáng thướt tha bằng cách làm nên những nếp gấp cân đối ở hai bên như hình ảnh cửa võng hay bao lam vậy.

Điều bi thảm của con người là cô gái mãi đi tìm trong suốt cuộc đời nàng nhưng cái tinh hoa của tình yêu mang tên là Hạnh Phúc đó vẫn xa xôi biền biệt vì rằng,

Hai ngày em tìm thấy lá

Chị chau mày : Đâu phải Lá Diêu Bông.

Mùa đông sau em tìm thấy lá

Chị lắc đầu ,

Trông nắng vãng bên sông.

rồi

Ngày cưới chị

Em tìm thấy lá

Chị cười xe chỉ cắm trôn kim.

cuối cùng

Chị ba con

Em tìm thấy lá

Xoè tay phủ mặt, chị không nhìn.

Tâm trạng người con gái đi từ “chau mày, lắc đầu, cười” lơ đãng đến nỗi buồn vô vọng “xòe tay phủ mặt, chị không nhìn” vì không thể nào tìm được Hạnh Phúc của Tình Yêu. (theo Trần Việt Long)

Yên Huỳnh tổng hợp chuyển tiếp

CA KHÚC TRƯNG VƯƠNG

KHUNG CỬA MÙA THU

(nhạc ngoại quốc- lời Việt : Nam Lộc)

Vào khoảng giữa thập niên 1960, phong trào Nhạc Trẻ Việt Nam phát triển một cách mạnh mẽ, với những tên tuổi được giới trẻ yêu mến như Elvis Phương, Thanh Lan, Billy Shane, Đức Huy, Tuấn Ngọc, Khánh Hà, Anh Tú, Thuý Anh… Họ nổi danh với các bản nhạc ngoại quốc hát bằng lời Pháp và Anh. Những hộp đêm Mỹ ngày càng nhiều từ 1968, càng khuyến khích số người hát nhạc Mỹ nhiều hơn. Trước sự phát triển mạnh của các ca khúc ngoại quốc nổi tiếng, các nhạc sĩ Phạm Duy, Quốc Dũng, Nam Lộc, Tùng Giang, Trường Kỳ, vv… đã đặt lời Việt cho nhạc ngoại quốc, để kéo giới trẻ đến với phong trào “Việt hoá nhạc trẻ”.

Một trong những tên tuổi tiêu biểu trong phong trào ấy mà chúng tôi muốn nhắc đến là nhạc sĩ Nam Lộc. Ông đã đặt lời Việt cho rất nhiều ca khúc ngoại quốc được công chúng đón nhận một cách sâu rộng. Nhiều người cứ ngỡ bài hát đó là những thuần tuý nhạc Việt Nam, như Mùa Thu Lá bay, Mây lang Thang, Chỉ Là Giấc Mơ Qua….

Trong số những ca khúc được nhạc sĩ Nam Lộc đặt lời Việt, có một bài hát nói về câu chuyện tình kết cục bi thảm nổi tiếng của tuổi thanh thiếu niên Mỹ vào năm 1960 là bài “Tell Laura I love her”. Nam Lộc đã chuyển lời Việt thành nhạc khúc học trò thơ mộng lãng mạn “Trưng Vương Khung Cửa Mùa Thu”.

Trưng Vương là tên của ngôi trường nữ trung học danh tiếng trước năm 1975 tại Sài Gòn. Bài hát “Trưng Vương Khung Cửa Mùa Thu” trước năm 1975 được thâu âm đầu tiên bởi ca sĩ Thanh Lan – Tiếng hát học trò của Sài Gòn một thời kỷ niệm. Bài hát đã nhanh chóng trở thành Top Hits trong giới sinh viên học sinh.

Sau năm 1975, ở hải ngoại có rất nhiều ca sĩ thâu âm lại ca khúc này như Ngọc Lan, Kiều Nga, Như Quỳnh… Nữ ca sĩ Thuý Vi trình bày bài hát này trong chương trình Asia video thu hình lần đầu tiên tại Las Vegas với chủ đề ĐÊM SÀI GÒN 1, đã để lại trong lòng người yêu nhạc những hình ảnh khó quên với giọng ca, với tà áo dài trắng và gia điệu Rumba dập dìu của Trưng Vương Khung Cửa Mùa Thu…

Hãy cùng nghe lại để nhớ về khung trời của sân trường ngày cũ….

– Trưng Vương khung cửa mùa Thu – Ngoc Lan

https://youtu.be/kGYCPH0dNsI

– Trưng Vương khung cửa mùa Thu – Thanh Lan

https://youtu.be/i3ZXI-NNC-s

Lan Hương chuyển tiếp

BỘ ẢNH MÁI TÓC DÀI

VÌ SAO CÁC BỨC TRANH “KHÓ HIỂU”

CỦA PICASSO LẠI ĐẮT GIÁ NHẤT ?

Tranh của Picasso khiến cho những người không am hiểu hội họa cảm thấy khó hiểu, ấy thế mà chúng lại có giá đắt bậc nhất thế giới. Cùng với tranh của Van Gogh, tranh của danh họa Picasso trở thành người sở hữu nhiều bức họa đắt giá nhất thế giới.

Điều đáng nói là đối với nhiều người tranh của ông có vẻ như “không đẹp” đến mức có thể lên giá trị cao như vậy. Hãy cùng khám phá lý do khiến những bức họa khó hiểu này đắt giá như vậy.

Một vài điều về Picasso

Picasso được coi là một trong những nghệ sĩ nổi bật nhất của thế kỷ 20, ông cùng với Georges Braque là hai người sáng lập trường phái lập thể trong hội họa và điêu khắc.

Ông là một trong 10 họa sĩ vĩ đại nhất trong top 200 nghệ sĩ tạo hình lớn nhất thế giới thế kỷ 20 do tạp chí The Times, Anh, công bố. Ông thọ 92 tuổi, là danh họa với phong cách vẽ trải qua rất nhiều trường phái – phong cách nghệ thuật, từ Hiện thực, Ấn tượng, Dã thú đến Biểu hiện, Lập thể, Siêu thực v.v… trường phái nào ông cũng đều thử sức và thành công.

Phần lớn nghệ thuật của ông được đồng nghiệp tán thưởng và khâm phục vì tạo hình đột phá, kỹ thuật hoàn hảo, biểu cảm mãnh liệt… Ông giao tiếp rộng rãi, lại vẽ liên tục nên nhiều tác phẩm sớm được lăng xê và sớm được đông đảo công chúng biết tới. Ông hình thành khả năng nghệ thuật từ rất nhỏ do cha mình (cũng là một họa sĩ) hướng dẫn và định hướng.

Picasso từng nói: “Người ta nói rằng tôi có thể vẽ giỏi hơn Raphael và có lẽ họ nói đúng. Có khi tôi còn vẽ giỏi hơn” (Gertrude Stein ghi lại lời Picasso).

Sinh thời, Picasso thực hiện khoảng 50.000 tác phẩm, bao gồm gần 2.000 bức tranh, hơn 1.200 bức điêu khắc, gần 3.000 tác phẩm gốm, 12.000 bản vẽ, hàng nghìn bức tranh in từ những bản khắc…

Mỗi tác phẩm của Picasso khi xuất hiện trên thị trường đều có giá triệu đô cho tới trăm triệu đô. Hiện tại, tác phẩm của ông vẫn đang nắm giữ kỷ lục “bức tranh được trả giá cao nhất trong lịch sử đấu giá”.

Picasso và trường phái độc đáo của mình

Được xem là “bậc thầy hư hỏng” với sự nghiên cứu hàn lâm nghệ thuật tinh thông, ông trở thành người phá cách, với ý tưởng đi tìm một con đường mới, con đường của nghệ thuật hiện đại.

Picasso trở thành người tiên phong của một trường phái nghệ thuật do chính mình sáng lập. Ông đi con đường của riêng mình, không giống ai và trở nên khác biệt.

Nếu như để xây dựng một còn đường, một trường phái cần rất nhiều bàn tay. Ở thời Phục Hưng những bậc thầy như Leonardo da Vinci, Michael Angello. Raffael,… và rất nhiều họa sĩ khác cũng nhau xây dựng nên.

Thì hội họa đương đại lại mang tính cá nhân, phá cách,… mà Picasso chính là người đầu tiên làm được. Một cậu bé chỉ mới 16 tuổi đã chống lại lối vẽ cổ điển hàn lâm, đi ngược lại con đường của các bậc thầy, Đi tìm cho mình một lối đi riêng, do đó tranh của ông còn mang tính cá nhân rất cao.

Nhưng có phải ông là kẻ cứng đầu và thiển cận, trước khi lựa chọn lối đi này ông đã dày công học hỏi, nghiên cứu của nhiều trường phái của nhiều bậc thầy.

Hơn nữa Picasso muốn phá vỡ mọi qui cách, ước lệ ở thời đó,một sự hoà nhập phi thường cho một cá tính riêng biệt và đưa dẫn những hoạ nhân khác đổi mới tư duy để cùng nhau hội nhập một thời đại mới dưới nhiều sắc thái khác nhau.

Picasso là một nghệ nhân riêng biệt; ông không lệ thuộc vào một điều kiện nào cả, ông tránh xa những hình ảnh có tính truyền thống. Picasso sống ngoài tầm nhìn xã hội, phá vỡ mọi hình thức cưỡng chế của nền luân lý cố hữu.​

Leonard Da Vinci từng nói  : “Khi trau dồi nghệ thuật,phải học cho đúng kỷ thuật căn bản trước, nhưng khi học xong rồi thì từ từ quảng cái căn bản đó đi”. Picasso đã tìm hiểu rất kỹ lưỡng những thứ căn bản và rồi ném nó để trở thành người đặc biệt của hội họa hiện đại.

Ông chính là “Einstein” của giới hội họa, những điều ông làm có lẻ phải rất lâu sau chúng ta mới có thể hiểu được như những gì Einstein từng làm vậy.

Huyền thoại làm tăng giá bức tranh

Bán một bức tranh không đơn giản chỉ vì giá trị nghệ thuật của nó, còn rất nhiều yếu tố khác chi phối khiến giá trị bức tranh đó “đội giá” một cách khủng khiếp. Ví dụ như tranh Van Gogh, đương thời chúng không được đánh giá cao và rất khó bán khiến cuộc sống của ông vô cùng bần hàn.

Mãi sau khi danh hoạ này chết thì cuộc đời chìm nổi, sóng gió và quyết liệt vì lý tưởng nghệ thuật của ông mới làm xúc động hàng triệu người. Số phận bi thảm bao nhiêu thì tranh của ông sau này đắt giá bấy nhiêu bởi các nhà tỷ phú quyết tâm dốc hầu bao mua bằng được nhằm thoả mãn cơn khát: Nghệ thuật + huyền thoại + sự xả thân vì lý tưởng nghệ thuật cao cả.

Với Picasso cũng gần như vậy. Ông là huyền thoại của lối sống tự lập, đi lên từ nghèo khó, với niềm đam mê mãnh liệt, sức sáng tạo vô bờ bến và còn được công chúng yêu thích nghệ thuật biết tới bởi những rắc rối về đời sống tình ái của ông.

Những bức họa không thể sao chép

Khác với các loại hình nghệ thuật khác như văn thơ, nhạc, kịch,.. chúng có thể được sao chép, diễn đi diễn lại, chơi bằng nhiều nhạc cụ khác nhau. Riêng đối với hội họa, chúng là duy nhất ! Bức họa đó được sáng tạo chỉ duy nhất một lần bởi một họa sĩ, dù cho có sao chép cũng chỉ là “đồ nhái” và không thể đạt tới mức độ của các bậc thầy.

Chính vì tính độc bản, có một không hai nên những bức tranh kiệt tác càng trở nên có giá trị khi ai đó sở hữu nó, không ai có thể có được.

Một gia tài cho hậu thế

Đa số các kiệt tác hội họa lại không nổi tiếng lúc đương thời khi tác giả còn sống, nhiều khi tác giả còn không thể bán tranh của mình. Thế nhưng trớ trêu thay sau khi họ mất đi, những bức tranh của họ lại có một cái giá mà có lẽ bản thân họa sĩ cũng “không thể tin nổi” nếu biết được.

Những nhà sưu tập tranh ban đầu cũng thường mua chúng với cái giá khá “bèo” nhưng theo thời gian chúng lại có thể bán đấu giá với giá trị cao ngất ngưỡng. Và những người kế thừa bức tranh sau này lại càng sỡ hữu tác phẩm giá trị tăng theo thời gian.

Một “món thừa kế” mà những người đi trước để lại cho con cháu. Do đó càng làm tăng mong muốn sở hữu “con gà đẻ trứng vàng” này. “Một vốn bốn lời” và cứ thế tăng theo thời gian.

Ví dụ : Bức “Cậu bé cầm tẩu thuốc” được hai vợ chồng ông Whitney mua từ năm 1950 với giá 30.000 USD để hôm nay đạt giá 104 triệu USD. Hai ông bà Witney là những nhà từ thiện lớn, từng có địa vị xã hội cao – tên tuổi của họ một lần nữa tăng thêm huyền thoại cho bức tranh, mà huyền thoại ở đây lại có thể quy ra tiền. (Hoa Hướng Dương theo Trí Thức Trẻ)

Lan Hương chuyển tiếp

NGẮM BỘ ẢNH

MÁI TÓC DÀI NHẤT VIỆT NAM

Nhiếp ảnh gia Trần Bích là người đam mê chụp ảnh sen, nhưng bị cuốn hút bởi mái tóc dài của cô Hoàng Thị Lan nên đã từ Sài Gòn ra Thái Bình chụp bộ ảnh về mái tóc đặc biệt này.

Tác giả thừa nhận có chịu ảnh hưởng từ nhiếp ảnh gia Phạm Văn Mùi (1907 – 1992), nhưng bộ ảnh của ông ra đời xuất phát từ tình yêu vẻ đẹp mềm mại, cổ điển bộc lộ qua mái tóc dài người phụ nữ Việt Nam. Nhiếp ảnh gia Trần Bích được biết như một người chỉ thích chụp ảnh sen và không gì khác ngoài sen. Ông từng xác lập kỷ lục triển lãm và chụp sen nhiều nhất Việt Nam.

Trong lần trò chuyện, người bạn giới thiệu ông về một người phụ nữ cũng từng xác lập kỷ lục Việt Nam: cô Hoàng Thị Lan, quê Thái Bình – người phụ nữ sở hữu mái tóc dài 2.4m – được ghi nhận có mái tóc dài và thẳng nhất Việt Nam

Trần Bích kể tuy toàn tâm toàn ý chụp sen, nhưng ông bị thu hút bởi vẻ đẹp của mái tóc dài của cô Hoàng Thị Lan nên đã tìm về Thái Bình để chụp bộ ảnh. “Trước đây ông Phạm Văn Mùi từng chụp bộ ảnh tóc dài quá nổi tiếng. Chính vẻ đẹp cổ điển được thể hiện qua mái tóc dài của người phụ nữ Việt Nam làm tôi muốn ghi lại những hình ảnh này”.

Tuy nhiên, Trần Bích cũng khiêm tốn nói về bức ảnh của mình: “Thật ra chụp ảnh về người không phải là sở trường của tôi lắm. Tôi chụp vì thích và  muốn chia sẻ với mọi người về vẻ đẹp bộ tóc dài của cô Lan thôi !”.

 Trong khi đó, bộ ảnh tóc dài của nhiếp ảnh gia Phạm Văn Mùi được chụp vào thập niên 1960 của thế kỷ trước. Người mẫu trong bộ ảnh là chị em bà Nguyễn Tú Loan, Nguyễn Tú Quỳnh, vốn là bạn của bà Phạm Vân Loan – con gái của nhiếp ảnh gia Phạm Văn Mùi và là vợ của TS sử học Nguyễn Nhã.

Bà Phạm Vân Loan với chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan cũng là con em chú bác ruột, là dòng dõi của Phạm Thận Duật (1825 – 1885), một đại thần nổi tiếng thời Nguyễn.

Trong lúc chơi cùng bà Phạm Vân Loan, chị em bà Nguyễn Tú Loan, Nguyễn Tú Quỳnh được ông Phạm Văn Mùi đề nghị chụp bộ ảnh mái tóc dài – bộ ảnh nổi tiếng của ông. Và dưới đây là những bức ảnh nổi tiếng của nhiếp ảnh gia Phạm Văn Mùi.

CỐ NGHỆ SĨ NHIẾP ẢNH PHẠM VĂN MÙI

QUA HỒI ỨC CỦA CON GÁI

Là một trong những bậc đại thụ của nhiếp ảnh đen – trắng Việt Nam, cố nghệ sĩ nhiếp ảnh Phạm Văn Mùi(1907 -1992) đã để lại một khối lượng lớn tác phẩm cũng như những kinh nghiệm, bài học rất có giá trị về nghệ thuật nhiếp ảnh. Dù rằng, giờ đây, ảnh đen – trắng không còn phổ biến nhưng người mê ảnh và học chụp ảnh vẫn thích tìm về giá trị của nó.

Nhân dịp đầu xuân, tôi gặp bà Phạm Vân Loan, ái nữ thứ năm trong 7 người con của ông, nghe những dòng hồi tưởng về người cha, người nghệ sĩ mà bà suốt đời trân trọng, yêu thương, kính phục.

Trò chuyện với con gái cố nghệ sĩ Phạm Văn Mùi tôi cảm nhận bà vẫn còn nhiều chất của phụ nữ Hà Nội xưa dù rằng bà đã cùng gia đình di cư vào Nam từ năm 1954. Hồi ức của bà cứ xen giữa hiện tại và quá khứ, nó không theo một dòng mà là những lát cắt thời gian và không gian về người bố đáng kính.

Cố nghệ sĩ Phạm Văn Mùi có 7 người con thì chỉ duy nhất bà Vân Loan sống ở Việt Nam. Đã mấy bận tôi ghé nhà lưu niệm của cố nghệ sĩ Phạm Văn Mùi để gặp TS Nguyễn Nhã (con rể nghệ sĩ Phạm Văn Mùi) phỏng vấn về vấn đề Hoàng Sa- Trường Sa, về hành trình xây dựng Bếp Việt do ông nguyên là Viện trưởng Viện nghiên cứu ẩm thực Việt Nam. Những lần ấy, các bức ảnh đen – trắng của cố nghệ sĩ Phạm Văn Mùi trên bức tường như mê hoặc và tôi quyết định gặp bà Phạm Vân Loan.

Bố tôi”, bà bắt đầu hành trình cảm xúc, “ông rất thương yêu con cháu, chăm sóc từng li từng tí một, dạy từ cách cầm bút, cầm đôi đũa, cách đánh răng; còn mẹ tôi thì dạy nữ công gia chánh, là hình ảnh người phụ nữ “công, dung, ngôn, hạnh” mà tất cả 5 chị em gái chúng tôi đều ảnh hưởng những tính cách của bà cụ”. Cố nghệ sĩ Phạm Văn Mùi sinh tại thành phố Nam Định, nguyên quán làng Đông Ngạc (làng Vẽ), tỉnh Hà Đông, nay thuộc ngoại thành Hà Nội. Sau khi học trường Nam Định, ông làm việc tại Nông Phố Ngân Hàng Nam Định, sau trở thành một chuyên gia và thầy dạy kế toán giỏi tại Nông Phố Ngân Hàng ở Nam Định và Bộ Tài Chánh, sau đó làm tại Nông Tín Cuộc ở Sài Gòn. Ông cũng là người rất có khiếu về nhiếp ảnh và hội họa, đặc biệt là vẽ chân dung vì ông từng là học viên dự thính cùng lớp với họa sĩ Nguyễn Gia Trí của trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương Hà Nội.

Là bậc thầy tài ba về kỹ thuật phòng tối, chính công thức tráng phim hai nước thuốc để trị độ tương phản do ông khám phá thời cuối thập niên 50 thế kỷ trước đã được áp dụng vào bộ ảnh “mái tóc”, đem về hàng chục huy chương nổi tiếng trên thế giới. Nổi tiếng nhất trong di sản nhiếp ảnh của nghệ sĩ Phạm Văn Mùi phải kể đến các bộ ảnh “Đôi dòng thác (1961), “Duyên dáng” (1962), “Tâm tư” (1963)… với hình ảnh những thiếu nữ trong bộ áo dài truyền thống, mái tóc mượt mà chấm gót tạo nên vẻ đẹp nền nã, hoài cổ của phụ nữ Việt Nam thời xưa. Không những thế, nghệ sĩ Phạm Văn Mùi còn là người thầy rất tận tâm với học trò, không bao giờ giấu nghề mà luôn truyền đạt tất cả cho các thế hệ học trò, “Bố tôi luôn nói với học trò mong học trò mình phải thành đạt hơn mình và ông quan niệm “Nghệ sĩ nhiếp ảnh cần nhất là cái nhìn, tâm hồn thì mới tìm được tác phẩm hay, đặc sắc”, bà Loan chia sẻ.

Chúng ta đều biết là đầu thế kỷ XX, kỷ thuật nhiếp ảnh ở Việt Nam chưa phát triển nhưng cố nghệ sĩ Phạm Văn Mùi đã mê nó từ sớm. Vì thiếu phương tiện, nên thời đầu mê nhiếp ảnh, ông phải vây tấm màn xung quanh cái bàn để làm phòng tối và chui vào bên trong để in ảnh bằng đèn dầu. Bà Loan vẫn nhớ mãi về một người bố với tính cách kỹ càng, chỉnh chu, để săn được một bức ảnh có khi phải mất hàng giờ liền, canh từng tí một và chờ đúng khoảnh khắc cần chớp và nếu ảnh nào có lỗi là ông xé bỏ ngay chứ không để công bố rộng rãi ra ngoài. Đối với ông, trong công việc và cả trong nghệ thuật phải chỉnh chu, nghiêm túc, cẩn trọng và luôn cần sự hoàn hảo chứ không làm qua loa hay chơi chơi được.

Tôi bắt gặp sự tự hào rực sáng trong đôi mắt bà khi nói về bố mình, từng câu chuyện nhỏ, từng kỉ vật của nghệ sĩ Phạm Văn Mùi đều được bà lưu giữ cẩn trọng. Và bà cũng kể tôi nghe hai câu chuyện đáng nhớ trong cuộc đời của ông ngoài chuyện nhiếp ảnh, chuyện giải thưởng. Ấy là, năm 1981, nghệ sĩ Phạm Văn Mùi chuẩn bị đầy đủ đồ nghề đi săn ảnh cùng một nhóm nhiếp ảnh, hôm đó đến Nhà văn hóa Thanh Niên TPHCM vì mải trò chuyện với bạn bè, học trò, ông để túi xách máy ảnh ở một góc phòng, xong việc quay lại thì chúng đã không cánh mà bay. Cụ tiếc đứt ruột, thế là về nhà nói con cháu bán cái giải thưởng “Con Sò Vàng” mà cụ đã nhận trước đây. Nhưng gia đình giấu cụ không bán, bà Loan đưa ông cụ 5 chỉ vàng y nói đã đổi được để bố mua bộ máy ảnh mới.

Ông cụ thế đó, con cháu gửi ông tiền để mua, ông nhất quyết không chịu: “Cái gì của bố thì bố xài. Bố có cái gì thì bố dùng cái đó, bố chưa cần dùng tiền của các con”. Bà vui vẻ kể tiếp: “Trước ngày ông cụ đi Mỹ, học trò ảnh hỏi Con Sò Vàng bán ở đâu để họ mua về làm kỷ niệm, tôi bèn đem giải thưởng Con Sò Vàng đã cất bấy lâu đưa cụ coi. Cụ mới ngả người, bố cứ tưởng tụi con đã bán và lấy tiền cho bố mua máy ảnh rồi chứ”.

Không chỉ là nhà kế toán giỏi, nhà nhiếp ảnh giỏi mà ông còn là vận động viên bơi thuyền, chơi tennis rất cừ. Vì thế mà ông tự cứu được mình trong một lần té xuống rạch gần kênh Thị Nghè, chỉ vì né một người đi đường trên một chiếc cầu ván gỗ gập ghềnh không có thành cầu từ Tân Định về Phú Nhuận mà cả ông và chiếc xe đạp bị quăng xuống kênh. Con cháu hết hồn bảo sao bố té xuống lỡ có chuyện gì thì sao: “Bố té xuống sông thì bố bơi vào bờ chứ sao”, “ ông cụ trả lời tỉnh bơ vậy đó cô”.

Dù rằng trong 7 người con cố nghệ sĩ Phạm Văn Mùi, chỉ có một người theo nghiệp nhiếp ảnh nhưng tất cả những người còn lại đều mê ảnh, biết tự tặng cho mình, bạn bè và gia đình những bức ảnh đẹp. Là người sống bên bố gần trọn cuộc đời, bà Vân Loan nhiều lần giúp bố chấm lỗi trên các bức ảnh bằng bút lông với mực tàu, và bà cũng là cô con gái được ông cụ chọn làm người mẫu cho một số bức chân dung nên tình cảm bố con rất sâu sắc.

Nói về những tác phẩm của cố nghệ sĩ nhiếp ảnh Phạm Văn Mùi, GS-TS Trần Văn Khê từng nói rằng: “Tôi như nghe thấy nhạc, đọc thấy thơ trong từng bức ảnh của Phạm Văn Mùi. Với những tấm ảnh đen trắng, đẹp như tranh thủy mặc, Phạm Văn Mùi lấy cái đơn sơ, giản dị để làm rung động lòng người… Những bức ảnh của Phạm Văn Mùi sẽ là bài học lớn cho các thế hệ nhà nhiếp ảnh hiện đại. Vì ngày xưa máy ảnh chỉ làm 20% công việc. Còn người cầm máy phải làm tới 80%. Nhưng bây giờ thì ngược lại”.

Ngoài ra, cố nghệ sĩ Phạm Văn Mùi còn là một nhà phê bình, biên khảo và lý luận sắc bén, một họa sĩ, một thi sĩ với lòng yêu quê hương nồng nàn. Năm 1991, khi qua Mỹ thăm con cháu chưa kịp quay về quê hương như ước nguyện thì ông mất tại California, đó quả là một sự nuối tiếc không chỉ cho bản thân ông mà còn cho gia đình và những học trò của ông.

Hơn 60 năm cầm máy với hàng trăm tác phẩm được sáng tác, nhưng do hoàn cảnh chiến tranh, nhiều tác phẩm của ông bị thất lạc và năm 2007, gia đình và học trò ruột của ông là nghệ sĩ nhiếp ảnh Thu An đã dày công lựa chọn những tác phẩm tiêu biểu nhất trong sự nghiệp của nghệ sĩ Phạm Văn Mùi để in “Ảnh nghệ thuật Phạm Văn Mùi”. Những tác phẩm tiêu biểu này được trưng bày vĩnh viễn tại Nhà lưu niệm của cố nghệ sĩ ở Sài Gòn.

Ảnh hưởng từ bố nếp sống cẩn thận, nguyên tắc, chỉnh chu và tính cách thành thật, trung thực, không giấu nghề, bà Phạm Vân Loan (vợ của TS sử học Nguyễn Nhã) giờ là chuyên gia ẩm thực món ngon Hà Nội, cùng chồng tiếp tục sứ mệnh hành trình xây dựng thương hiệu ẩm thực Bếp Việt. Cả hai ông bà đang sống và gìn giữ nhà lưu niệm cố nghệ sĩ nhiếp ảnh Phạm Văn Mùi. Nơi để những nghệ sĩ nhiếp ảnh, công chúng yêu ảnh nghệ thuật đen – trắng đến thưởng thức những tác phẩm nghệ thuật vang bóng một thời. (theo Thiên Thanh – petrotimes)

– Nhiếp ảnh gia Phạm Văn Mùi và các tác phẩm bất hủ

https://youtu.be/BuzeD2YqHAA

Nguyễn Văn Danh tổng hợp chuyển tiếp

TRANH BIẾM HỌA BÓC TRẦN

BẢN CHẤT CUỘC SỐNG NGÀY NAY

Có những góc khuất trong cuộc sống mà bất cứ ai cũng hiểu nhưng không phải ai cũng dám nói ra và càng không có đủ bản lĩnh để thay đổi những sự thật ấy.

Cuộc sống đang thay đổi từng ngày, ấy thế nhưng bên cạnh những điều tốt đẹp còn có biết bao nhiêu những góc khuất mà bất cứ ai cũng hiểu nhưng không phải ai cũng dám nói ra và càng không có đủ bản lĩnh để thay đổi những sự thật ấy.

H1: Phố phường thì ngày một đông đúc, ở đâu cũng chỉ trông thấy toàn người với người. Mỗi ngày chúng ta sẽ lại bắt đầu bằng việc chen lấn, xô đẩy nhau để đến trường học, đến nơi làm việc giống như những chú chuột chù ở dưới hố sâu.

H2: Xem TV là một hình thức giải trí phổ biến ngày nay cho mọi gia đình, mọi lứa tuổi. Ấy thế nhưng trên TV thực sự đang chiếu những gì ? H3: Động vật thì bị giết hàng loạt để phục vụ nhu cầu của con người H4: Vòng tuần hoàn của cuộc sống: Không có ai cho không ai thứ gì, anh muốn có được thứ này thì anh phải bỏ ra thứ khác

H5: Mọi thứ đều được qui đổi ra thành tiền, kể cả…trái đất! H6: Dù rằng ai cũng mong muốn có tiền để được hạnh phúc thế nhưng làm thế nào để có được tiền mà không rơi vào cạm bẫy mới thực sự là một câu hỏi không phải ai cũng trả lời được.

H7: Những người giàu luôn làm giàu thêm trên lưng của những người nghèo khó. Việc những người nghèo có thể làm là…chấp nhận. H8: Khi đối xử với nhau con người cũng cố che đi bản chất thật của mình. Họ sẽ mang những khuôn mặt khác nhau khi bước vào các mối quan hệ ngoài xã hội

H9: Công nghệ đã mang đến cho chúng ta những trải nghiệm tuyệt vời, ấy thế nhưng việc quá lệ thuộc vào nó đã vô tình biến chúng ta thành những kẻ nô lệ không hơn không kém. H10: Còn đây là những thứ mà chúng ta ăn hàng ngày với toàn những đồ ăn nhanh, đồ ăn nhiễm độc do dùng chất bảo quản và được gắn mác rất rõ ràng… “có thể gây chết người” H11: Đồ ăn nhanh có thể thấy ở bất cứ đâu… H12: Chính con người đang tự hủy hoại bản thân mình (tác giả: Steve CuttsHLT – Ohay TV)

Dung Dung chuyển tiếp