CA KHÚC MỚI CỦA ĐẶNG THẾ PHONG

NHỮNG KẺ ĐỐT ĐỀN

Ngôi đền Artemis nổi tiếng đã bị

phá hủy như thế nào?

Một đêm hè oi bức năm 356 trước CN, có một người rón rén đi trên các đường phố của Ephesus (thành phố ngày nay thuộc Thổ Nhĩ Kỳ). Anh ta mang một bó đuốc nhỏ cố tránh thu hút sự chú ý của mọi người. Khi gặp người qua đường tình cờ lúc ban đêm, anh ta sợ hãi lấy chiếc áo mưa rộng thùng thình của mình để che giấu.

Lén lút nhìn quanh một hồi, cuối cùng anh ta đã lẻn đến ngôi đền lớn màu trắng vươn cao ở một vùng ngoại ô thành phố. Đội canh gác ngủ say nên anh ta đã đột nhập điện thánh chẳng gặp trở ngại gì. Và chính ở đây anh ta đã gây nên chuyện làm chấn động thế giới văn minh : dùng đuốc đốt một số đồ thờ cúng và tặng vật thiên liêng.

Bức màn che trước tượng thần bốc lửa cháy, ngọn lửa lan đến các cửa ra vào bằng gỗ tẩm dầu, rồi táp lên mái nhà. Trong chốc lát điện thánh biến thành những đống đổ nát, khói lửa mù mịt, dưới bầu trời đen tối chỉ còn thấy nhô lên hình bóng những chiếc cột đá cẩm thạch điêu tàn.

Tại phiên tòa xét xử kẻ phạm tội ác man rợ, hắn thừa nhận rằng hắn đã đốt đền để được lưu danh muôn thuở. Để loại trừ kẻ điên cuồng háo danh, những người dân thành phố Ephesus đã nhất quyết quên và không bao giờ nhắc đến tên hắn ta, những có lẽ chính vì thế mà tên hắn lại lưu truyền đến chúng ta ngày nay : Herostratus.

Còn nói về đền thờ đã bị hắn đốt biến thành tro tàn và đổ nát thì, theo lời nhà lịch sử học cổ đại Ampêli, đó la một ngôi đền “uy nghi và lớn nhất thế giới đã tìm được”, và theo sự xác nhận của Plini, một đồng nghiệp khác của Ampêli, thì đây là “đài  kỷ niệm thực là kỳ diệu của nền văn hóa Hy Lạp, khiến mọi người kinh ngạc về sự tráng lệ của nó”. Đấy là ngôi đền thờ nữ thần Artemis ở Ephesus, xây bằng cẩm thạch – kỳ quan thứ tư trong số bảy kỳ quan thế giới.

Tính đến thời gian đó thì ngôi đền đã tồn tại trên một nghìn năm. Cuối thiên niên kỷ thứ hai trước CN, một bộ phận người lônit – trong khi đi tìm không gian sinh hoạt mới –  đã di dân từ lục địa Hy Lạp sang Tiểu Á và định cư trên vùng duyên hải đối diện với hòn đảo Xamôxơ, thành phố Ephesus.

Thành phố cảng này nhanh chóng biến thành trung tâm buôn bán nhộn nhỊp với những ngôi nhà lớn, đẹp và những căn lều nhỏ hẹp, những đường phố sạch sẽ và quảng trường rộng lớn, thường là những nơi họp chợ, đông đúc người. Việc buôn bán của những người Hy Lạp ở đây rất sầm uất, y như ở quê hương cũ của họ vậy. Ephesus đã nhanh chóng trở thành một trong những thành phố lớn nhất của thế giới cổ đại.

LỜi BÀN CỦA CAO BỒI GIÀ :

Đọc mẫu chuyện kẻ đốt đền thờ nữ thần Artemis ở Ephesus, hồi năm 356 TrCN, và kẻ đốt đền là Herostratus. đã lên tiếng nhận hắn đốt đền để được lưu danh muôn thuở.

Nay suy ngẫm về vụ xả súng ờ Las Vegas mới đây : Cảnh sát trưởng Las Vegas Joseph Lombardo cho biết, tên Paddock là nghi phạm chính vụ xả súng khiến 58 người chết và gần 600 người bị thương nặng nhẹ, tại lễ hội âm nhạc tối 1/10/2017, theo cuộc điều tra Paddock lên kế hoạch trốn thoát sau khi thực hiện vụ thảm sát nhưng bất thành, nên đành tự xử sau đó.

Phải chăng tên Paddock cũng muốn như Herostratus thời cổ Hy Lạp ? Tức muốn ghi danh thiên cổ ?! Vì đến giờ các nhà điều tra chưa tìm thấy “đồng đảng” hay ý đồ gây ra cuộc thảm sát của tên Paddock !

Và mời các bạn đọc tiếp về một kẻ đốt thành Roma :

KẺ ĐỐT THÀNH ROMA

Năm 64 sau Công nguyên đã xảy ra một trận hỏa hoạn vô cùng dữ dội kéo dài suốt hơn một tuần liền khiến cho PHẦN LỚN THÀNH Roma bị hủy hoại. Ngay sau đó đã dấy lên tin đồn cho rằng hoàng đế Nero chính là kẻ đã châm ngòi cho ngọn lửa.

Trận hỏa hoạn dữ dội chưa từng thấy

Việc thành phố Roma bị lửa thiêu rụi quả là một bi kịch quốc gia. Thảm họa này không chỉ nổi tiếng vì quy mô lớn chưa từng có mà còn bởi vì kẻ gây ra nó được cho là … hoàng đế Nero ?!?

Vào đêm 18 rạng sáng 19 tháng 7 năm 64, các kho hàng nằm gần Đại Đấu Trường bỗng vô cớ bốc cháy. Gặp gió mạnh, ngọn lửa nhanh chóng bốc cao, lan về hướng đồi Palatin rồi tỏa xuống các con phố dọc đồi Quirinal, đồi Viminal và đồi Esquiline. Bị đánh thức trong cơn say ngủ, người dân thành phố nháo nhào chạy ra đường trong hoảng loạn.

Mỗi người nếu không tự thoát thân thì cũng lo cứu người thân hoặc cứu lấy của cải. Lính gác đêm, tức những người có nhiệm vụ phòng cháy và dập cháy, không cách nào ngăn chặn được ngọn lửa do bị màn đêm dày đặc cùng đám đông hỗn loạn gây trở ngại.

Trận hỏa hoạn không những không lắng xuống mà còn tiếp tục hoành hành trong suốt 7 ngày đêm. Khi nhà cầm quyền tưởng đã khắc chế được ngọn lửa thì nó lại đột ngột bùng lên ở một con phố khác. Mãi đến ngày thứ 9, ngọn lửa mới tắt hẳn. Roma lúc này chỉ còn là một đống hoang tàn đổ nát.

Thành Roma bị thiêu rụi

Trong số 14 khu phố ở Roma, chỉ có 4 khu là không hề hấn gì. 10 khu còn lại thì có khu bị thiêu hủy hoàn toàn, khu bị thiêu hủy một phần. Không thể tổng kết số nạn nhân của trận hỏa hoạn, nhưng có lẽ phải đến hơn 200.000 người Roma phải ra đường ở do nhà cửa bị thiêu hủy. Nơi bị cháy nặng nhất là những khu phố bình dân có nhiều nhà cho thuê.

Các công trình cổ kính mà người Roma vô cùng trân trọng chỉ còn là những đống gạch vụn. Các tác phẩm nghệ thuật đưa từ Hy Lạp và Phương Đông về đễ trang trí các nơi công cộng đều hư hại nặng. Sách cổ chép tay trong các thư viện công cộng cũng không thể cứu vãn.

Tin đồn động trời

Ngay từ lúc thảm họa mới xảy ra, mọi người đã tìm hiểu xem ai là người gây ra hỏa hoạn. Ngọn lửa lan nhanh đến mức nhiều người cho rằng trận hỏa hoạn không phải là ngẫu nhiên. Một số người kể rằng họ nhìn thấy nhiều người ném đuốc vào các căn nhà. Chẳng bao lâu, toàn bộ dân chúng thành Roma đều cho rằng người gây ra thảm họa kinh hoàng này không ai khác hơn là Nero.

Người thì nói rằng hoàng đế vì muốn xây dựng lại kinh đô nên đã tìm cách san bằng các khu phố cũ. Kẻ lại cho rằng Nero vì muốn tìm cảm hứng cho thiên anh hùng ca “Chinh phục thành Troy” mà ngài đang sáng tác nên đã ra lệnh phóng hỏa chính thành phố của mình.

Nero thoát tội

Khi nghe khắp nơi đồn mình là kẻ phóng hỏa, Nero hoảng sợ. Quần chúng đang cần 1 con tốt thí, vì thế nhà vua phải nhanh chóng chỉ ra kẻ phạm tội để thoát khỏi trách nhiệm này. Quả thật, dân chúng đã nguôi ngoai khi tội ác được đổ lên đầu một Giáo phái nhỏ.

Các tín đồ của giáo phái này bị vu cáo đã thực hiện những nghi lễ bí ẩn làm phật lòng các vị thần hộ mệnh của Roma. Khoảng 200 tín đồ của giáo phái đó bị bắt và hành quyết. Họ bị biến thành những ngọn đuốc sống để soi sáng các lễ hội mà Nero tổ chức cho dân chúng thành Roma.

Cho đến nay vẫn chưa ai chứng minh được một cách chắc chắn rằng hoàng đế Nero đã gây ra chuyện này. Thay vì tìm kẻ phóng hỏa, ta hãy trở về với lời giải thích hợp lý và đơn giản nhất : ngọn lửa đã bốc lên từ những khoang chứa dầu và kho lúa ở bến tàu rồi nhanh chóng bị gió thổi lan ra. Do thảm họa xảy ra ngay giữa mùa hè nên lính cứu hoả gần như bất lực vì nguồn nước dự trữ của họ rất hạn chế.

Lan Hương tổng hợp chuyển tiếp

KẺ CẮP GẶP… CHUYÊN VIÊN

Hai thầy trò vừa nhận phòng được mấy giờ tại khách sạn 9 sao, Sếp bất thình lình kêu mất cái phong bì 10 ngàn đô, tôi chết đứng. Mới có 1 cô hầu phòng vào cung cấp nước uống, khăn mặt, kem đánh răng…

Vậy thì ai lấy trộm 10 ngàn đô của Sếp đây ? Nhưng bị mất trộm mà mặt Sếp vẫn tỉnh như quả bơ chín. Tại sao nhỉ ?!

Phải tìm cho ra thằng ăn trộm mới được, đích thân tôi, chuyên viên giỏi nhất cơ quan sẽ giải quyết vụ này, tạm thời chưa báo công an. Mà không hiểu sao đi công tác mấy ngày mà Sếp mang đi nhiều tiền quá thế ? Chả nhẽ công ty nào vừa biếu phong bì này hay sao, nghi ngờ tí cho có vẻ thám tử.

Tôi quyết định triển khai truy tìm nguồn gốc cái phong bì 10 ngàn đô này trong thời gian nhanh nhất. Sếp đồng ý để tôi áp dụng mọi biện pháp nghiệp vụ, kể cả khám xét khắp phòng tìm dấu vết tên trộm.

Tôi lật tung 2 cái giường, tủ đồ, tủ lạnh, thùng rác trong phòng vệ sinh, thậm chí khám cả túi quần Sếp nhưng vô vọng. Tên trộm này quá giỏi, chắc chắn được đào tạo bài bản ở một trường gián điệp bên Tây.

Thời gian hứa với Sếp sắp kết thúc, nếu không tìm ra cái phong bì này thì toi là cái chắc rùi, bao nhiêu công lao phấn đấu coi như vứt đi, kể cả chân ứng viên chức phó văn phòng. Đầu óc tôi gần như phát điên, bây giờ mà tóm được thằng trộm này thì bố tùng xẻo mày giải hạn. Kiếp trước chắc chắn tôi nợ thằng trộm này khá nhiều tiền.

Bóp nát quả chuối chín trứng cuốc, tôi chạy ra sảnh gọi điện cho vợ: “Cô gửi gấp cho tôi 10 ngàn đô la. Nếu không có thì tôi chính thức bị kỷ luật ! Nếu không có số tiền này thì đời tôi chính thức xuống dốc !” Chạy ra ngân hàng rút tiền, tôi cho vào cái phong bì rồi chạy về phòng báo cáo Sếp :

 – Dạ thưa thủ trưởng kính mến, em đã túm được tên trộm rùi ạ. Thằng này vô cùng giỏi, hình như nó là thằng trộm chuyên nghiệp khét tiếng. Em nhìn nó ngồi uống bia cỏ ở bờ sông nên xông vào tóm liền. Cái phong bì của Sếp vẫn còn nguyên trong túi quần nó, may là bà bán bia hơi chỉ lấy tiền Việt. Xin mời Sếp đến lại xem còn đủ 10 ngàn đô không ạ !

Sếp bình tĩnh đếm lại tiền cẩn thận, gật đầu khen tôi sái cổ :

– Hay lắm, cậu đúng là một chuyên viên vô cùng đa tài, viết báo cáo cũng giỏi mà bắt trộm cũng giỏi. Chân phó văn phòng chắc chắn là của cậu rùi. Chỉ có điều cậu giúp tớ thêm một vụ nữa: Bà xã tớ cũng mới bị mất trộm 5 cây vàng… (Lê Tự theo Dân Việt)

Huỳnh Công Khanh chuyển tiếp

TỘI NGHIỆP ANH QUANG !!!

Anh Nguyễn Xuân Quang đương kim Phó Cục trưởng Cục kiểm soát ô nhiễm của Tổng cục Môi trường, Bộ Tài Nguyên và Môi trường, vừa vào miền Nam kiểm tra tình trạng ô nhiễm tại các doanh nghiệp hồi cuối tháng Chín này. Vậy mà mới mấy ngày sau, anh Quang đã bị đạo chích đột nhập phòng khách sạn cuỗm mất gần 400 triệu đồng.

Đời thuở nào mà chấp nhận được bọn đạo chích bất lương, nhẫn tâm và bất chấp đạo lý đến vậy ?!

oOo

Anh Quang bị mất trộm ở một khách sạn tại thành phố Tân An (tỉnh Long An), lúc điều tra viên đến ghi nhận hiện trường, còn phát hiện một giấy chuyển tiền vào ngân hàng trước lúc bị mất trộm một ngày. Trong phòng còn có tiền đô, tiền Việt và một cơ số phong bì đã bị bóc vỏ.

Tui biết là dư luận nghe đến đây dư luận đã vội hồ nghi anh Quang ảnh nhận tiền của doanh nghiệp hay ảnh trục lợi cho cá nhân từ chuyến công tác kiểm tra này rồi. Ai nói gì thì nói, ai đồn gì thì đồn, ai nghi gì thì nghi nhưng cá nhân tui tin chắc anh Quang ảnh không có vậy đâu.

oOo

Cứ nhìn vào thực tế đi, ngành Môi trường của nước mình rất có trách nhiệm trong việc giám sát lẫn xử lý doanh nghiệp xã thải bậy, trong việc bảo vệ môi trường sống của người dân. Mà giám sát chặt chẽ vậy, xử lý nghiêm minh vậy thì làm gì kiếm chác được.

Lúc báo đăng công ty này xả thải ra sông, công ty kia xả thải ra biển, công ty kia chôn bùn thải xuống khu vực gần khu bảo tồn… lãnh đạo ngành Tài nguyên đều lên tiếng ủng hộ quyết liệt thấy không ? À, tui nhầm. Lãnh đạo ngành Tài nguyên không phải ủng hộ mà họ lý giải có tình có lý vì sao doanh nghiệp làm vậy, vì sao làm vậy là đúng luật, vì sao làm vậy là an toàn, vì sao làm vậy là không có ảnh hưởng gì hết.

Họ đàng hoàng như vậy thì lấy đâu là chuyện tư túi tư lợi ở đây, doanh nghiệp nào mua chuộc được họ. Đừng có nghĩ là doanh nghiệp dùng tiền mua ai cũng được, nghĩ vậy là không có đúng, là không có chuẩn, là rất dễ lâm vào tình cảnh nhìn cuộc đời một màu đen thui lui như nước sông bị nhiễm chất bẩn từ nước thải mà doanh nghiệp bất lương xả ra.

oOo

Ví như anh Quang ảnh đi công tác hai tuần, mà đi công tác nghĩa là phải xa vợ xa con, nghĩa là phải xa bữa ăn ấm cúng, chiếc giường ngủ thân thuộc, hơi thở của hiền thê, giọng nói cười của nhi tử… Ảnh đi công tác mà lại là kiểm tra doanh nghiệp xem doanh nghiệp có hoạt động trên cơ sở đảm bảo sự ổn định về môi trường hay không ?

Có lén lút làm chuyện đặt ống ngầm xả thải chưa qua xử lý ra sông hồ hay không, có bớt xén trong khâu xử lý nước thải để giảm đầu tư nhằm tăng lợi nhuận hay không, có phương pháp để chắc rằng khói bụi thải ra khi sản xuất đạt mức cho phép hay không…

Anh Quang ảnh hy sinh cái cá nhân, ảnh hy sinh cái riêng tư, ảnh hy sinh nhiều thứ lắm để bảo vệ sức khỏe cho nhân dân, để bảo vệ môi trường cho quốc gia. Thiệt, cái tình đó lớn lắm, cái công đó vĩ đại lắm.

Vậy mà, bọn trộm lại ác nhơn đến mức nhắm vào cá nhân như vậy để hành nghề thì thiệt là quá đáng, thì thiệt là không còn coi luân thường đạo lý nhân quả ở đời ra cái gì nữa hết.

Còn dư luận nữa, dư luận nghi ngờ cái gì mà nghi ngờ. Anh Quang ảnh đi công tác xa nhà, ảnh sợ của nả để lại có gì bất trắc không may, nên ảnh mang toàn bộ gia sản chắt chiu dành dụm được có thể do từ chạy xe ôm thâu đêm lúc trẻ, từ nuôi heo lúc tốt nghiệp đại học, từ buôn chổi đót khi vừa mới có việc làm…

oOo

Tiền của ảnh là minh bạch, việc làm của anh là minh bạch, chỉ có thái độ của dư luận mới mờ mịt thôi.

Anh Quang hãy vững tin, tui luôn thấu hiểu và thông cảm cho anh. Thói đời ngày càng trớ trêu thiệt !!! Bọn đạo chích ngày càng tinh ranh, ngày càng biết lựa người mà. (Quan Quan theo Tuổi Trẻ Cười)

Khách Giang Hồ chuyển tiếp

VỪA TÌM THẤY MỘT NHẠC PHẨM

CỦA ĐẶNG THẾ PHONG

Cho đến nay, giới nghiên cứu âm nhạc chỉ biết Đặng Thế Phong qua đời ở tuổi 22 và có 3 bài hát : Con thuyền không bến, Đêm thu và Giọt mưa thu. Nhưng ông còn có nhạc phẩm Gắng bước lên chùa.

Trong đó, Con thuyền không bến lúc đầu có tên Vạn cổ sầu. Thông qua Lê Thương, Thế Lữ, Lưu Hữu Phước, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Cao Luyện, Nguyễn Đình Phúc, Nguyễn Văn Thương, v.v…, tôi được biết: Đặng Thế Phong còn là tác giả một số nhạc phẩm khác. Đồng thời, ông còn có mối quan hệ về mặt sáng tác với nhà văn chuyên viết truyện trinh thám Phạm Cao Củng.

Bộ sưu tập các bài hát Việt Nam từ khoảng 1937 tới 1975 của tôi không có nhạc phẩm nào mà Đặng Thế Phong và Phạm Cao Củng là đồng tác giả.

Cho tới một hôm…

Cuối năm 1993, tôi lên Đà Lạt dự kỷ niệm Đà Lạt một trăm tuổi. Một buổi chiều, đang đắm mình trong cảnh vật trầm lắng của một ngôi chùa lớn, giữa tiết trời mưa rét, tôi nghe tiếng hát của một người khoảng trên năm mươi tuổi đứng gần cổng chùa. Người đó hát nhè nhẹ, cách hát tỏ rõ ông hiểu âm nhạc.

Tôi làm quen với ông. Tôi bảo ông có giọng hát khá hay. Ông cười và hát lại cả bài. Tôi ngạc nhiên vì bài hát nói về chuyện lên chùa qua những âm điệu gần gũi với đặc trưng nơi cửa Phật.

Tôi nói : Lần đầu tiên, tôi được biết bài này. Nó làm cho tôi nhớ tới ca khúc Kinh khổ (Lời và nhạc: Trầm Tử Thiêng) mặc dầu hai ca khúc có nhiều nét khác nhau.

Ông khen tôi biết thẩm âm. Rồi ông cho biết: Bài hát vừa rồi có tên Gắng bước lên chùa – Nhạc: Đặng Thế Phong. Lời: Phạm Cao Củng.

Tôi hỏi : Có phải Đặng Thế Phong tác giả Con thuyền không bến và Phạm Cao Củng tác giả nhiều truyện trinh thám hay không ?

Ông nói : Đúng, đúng ! Rồi ông hẹn tôi : Hôm sau, khoảng 15 giờ, cũng tại chùa này, đến gặp ông để tiếp tục câu chuyện liên quan đến bài hát nói trên. Đúng hẹn, tôi đến. Trời vẫn rét nhưng khô ráo.

Người đàn ông mang theo một cây đàn ghita. Ông hát và tự đệm đàn bài hôm trước. Giọng trầm ấm và thiết tha. Sau đó, ông cho tôi xem một bức ảnh chụp ca khúc Gắng bước lên chùa do chính tay Đặng Thế Phong viết nắn nót cả nhạc lẫn lời.

Dưới đầu đề Gắng bước lên chùa, Đặng Thế Phong ghi rõ: Nhạc: Đặng Thế Phong. Lời: Phạm Cao Củng. Cuối ca khúc, có dòng chữ: Tặng Hoàng Quý – Hà Nội, 1 Mai 1940 (tức mồng 1 tháng 5 – 1940).  Ông cho biết thêm : Bức ảnh này do cụ Phúc Lai, một chủ hiệu ảnh rất nổi tiếng ở Hà Nội và Hải Phòng lúc bấy giờ, chụp tại Hà Nội cho bố ông khoảng cuối năm 1940.

Ảnh chụp từ bản có dòng chữ đề tặng nói trên cho nhạc sĩ Hoàng Quý (tác giả Cô láng giềng, Cảm tử quân) – anh ruột của Hoàng Phú tức GS nhạc sĩ Tô Vũ. Nhạc sĩ Hoàng Quý quen bố ông và đã cho bố ông mượn bài hát có lời đề tặng ấy để bố ông nhờ cụ Phúc Lai chụp làm kỉ niệm. Bố ông qua đời tại Đà Lạt năm 1991. Nhưng khoảng năm 1970, tại Sài Gòn, bố ông đã góp phần vào việc xuất bản tuyển tập nhạc Hoàng Quý.

Tôi hỏi tên ông và tên cụ nhưng ông trả lời: Vì lí do riêng, không thể cho biết. Tuy nhiên, ông nhiệt tình nói rõ: Ca khúc này, theo bố ông, đã in trên nhật báo Tin Mới khoảng đầu năm 1940.

Hồi giải phóng Sài Gòn, cùng cả gia đình dời Sài Gòn lên Đà Lạt, bố ông bỏ lại hết, kể cả trọn bộ tạp chí Nam Phong và trọn bộ báo Phụ Nữ Tân Văn.

Mùa đông. Chưa đến xế chiều trời đã trở nên mờ xám. Gió lạnh. Tôi phải đi xe ôm về nhà trọ ở xa ngôi chùa chúng tôi đang trò chuyện khoảng 5 cây số. Vì thế, không thể đi phô-tô-cóp-pi bức ảnh chụp bài hát nói trên được. Thật đáng tiếc !

Từ đó đến nay, tôi không được gặp lại người bạn quý ấy nữa.

Gần hai tuần sau, trở về Sài Gòn, tôi gặp ngay người chủ một tiệm sách báo cũ mà từ mười mấy năm nay tôi là khách quen, hỏi anh có báo Tin Mới hay không. Anh bảo: Khó lắm ! Để em tìm !  Tôi ghi số điện thoại bàn cho anh chủ tiệm.

Mãi đến… mười năm sau

Một chiều cuối thu 2003, anh chủ tiệm sách cũ điện thoại cho tôi, bảo đến tiệm anh ngay. Tôi vừa tới, anh lập tức đưa ra hai tập Tin Mới đóng gáy da từ tháng Giêng đến hết tháng Chạp 1940, trong đó khoảng bốn chục số bị mất.

Rất mừng : Có một số in bài hát Gắng bước lên chùa. Đó là số Jeudi 4 Avril 1940 (tức thứ Năm, mồng 4 tháng 4 năm 1940).

Tôi nghẹn ngào tưởng như Đặng Thế Phong đang đứng trước mặt, và, những trang truyện trinh thám Phạm Cao Củng hồi nhỏ tôi đọc ở Thủ đô Hà Nội bỗng hiện ra trước mắt, chập chờn !!!  Tôi đề nghị anh chủ tiệm đi cùng tôi đến một cửa hàng ở đường Hai Bà Trưng để photocopy và xin anh nhận một số tiền nào đó tương đối lớn của tôi.

Anh bảo : Mười năm lặn lội đi tìm một bản nhạc của một nhạc sĩ lỗi lạc. Mười mấy năm anh mua sách báo cũ của em và nhiều tiệm khác… Em chẳng những không lấy một đồng của anh mà còn biếu anh tiền photocopy bài hát đó.

22 giờ, trời se lạnh. Tôi ôm một tập Tin Mới ngồi sau xe máy do anh chủ tiệm sách báo cũ điều khiển phóng đến một cửa hàng photocopy trên đường Hai Bà Trưng (Tân Định, quận 1).  Xong việc, anh đèo tôi về tiệm của anh để tôi lấy xe đạp. Tôi nâng niu hồi lâu ca khúc Gắng bước lên chùa trước khi bắt tay cảm ơn anh bạn, ra về.

Gần 23 giờ. Đường vắng. Trong gió se lạnh phả vào mặt, tôi đạp xe từ từ trên đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa. Khi qua cửa chùa Vĩnh Nghiêm, tôi chợt nghĩ : Thế là… mình đã Gắng bước lên chùa

Đã hơi khuya. Gió heo may có vẻ mạnh hơn.  Đêm nay thu sang cùng heo may… Bến mơ dù thiết tha, thuyền ơi đừng chờ mong… (theo tác giả Nhật Hoa Khanh)    

Thái Thanh với 3 ca khúc của Đặng Thế Phong

https://youtu.be/WefG2bi00AM

Phan Tất Đại chuyển tiếp

Advertisements

CÂU CHUYỆN “PHÂY-BÚT”

CÂU CHUYỆN “PHÂY-BÚT”

Tôi mới làm quen trang ‘Phây-bút” chừng đôi ba năm nay, và cũng rất ít tâm sự về mình cho “bạn bè trên Phây-bút” biết mình đang muốn gì, vì đó không phải là nơi bày tỏ nỗi lòng cá nhân.

Hiện nay hiện tượng câu “lai’ đang trở thành một bệnh dịch trên “Phây-bút”, vì tôi có kết bạn bè với một số người (mà trước đây tôi có ý tưởng cũng nhằm câu “lai” hay có “còm-măng” trong mỗi tin ảnh chuyển lên trang mạng). Nhưng rồi quá bực mình, vì có một vài “hốt-gơn” ngày nào cũng trưng bày chừng bốn – năm tấm ảnh với đủ loại “Xì – Xú” hay quần là áo lượt đủ màu sắc như để khoe của hoặc để khoe thân, mà những hình ảnh đó không một lời chú thích. Làm tôi liên tưởng đến những cuốn ”ăn-bum” mà má mì ở các động chứa thường đưa cho khách làng chơi xem để lựa “đào” !

Vì thấy mình kết bạn không đúng người, nên vào “Phây bút” để xóa đi tình trạng kết bạn “lỗi lầm” đó. Cách xóa như sau :

– Động tác 1: Nhìn cột bên trái có mục “Danh sách bạn bè”. (H1)

– Động tác 2: bấm vào đó sẽ xuất hiện một hộp tim gồm 2 mục : 1/- Tạo danh sách và 2/- Xem tất cả bạn bè. (H2)

– Động tác 3: hãy bấm vào “Xem tất cả bạn bè”, sẽ xuất hiện tên và ảnh người mình đang kết bạn (mỗi tin ảnh của người này khi “bốt” lên “Phây-bút” nó sẽ xuất hiện trên trang “Phây-bút” của bạn)

– Động tác 4: bấm vào ô bạn bè, sẽ xuất hiện một ô gồm 5 hàng, hãy bấm vào “hủy kết bạn”, tức thì hình ảnh và tên người đó (thí dụ Nguyễn Văn Mít) sẽ biến mất. (H3)

Khách Giang Hồ

Nói cho rõ : “Phây-bút” = Facebook – “Lai” = Like –  “Còm-măng” = Comment (bình luận} – “Hốt-gơn” = Hot Girl – “Xú Xì” – Xu cheng và Sì lip

NỖI NIỀM ĐÊM MƯA

– Tùy bút của Uyên Sô

Một chiều cuối tuần mưa bay lất phất và mây trắng giăng giăng. Em đến thăm anh, vì trời mưa mãi nên không kịp về. Bên em anh lặng nhìn bầu trời và ánh mắt mộng mơ. Sợ người yêu khóc, khe khẽ bên tai anh kể chuyện ngày xưa…

Đó là một chiều mưa của nhạc  sỹ Nguyễn Vũ. Còn đây là một chiều mưa của nhạc sỹ Nhật Ngân : Tôi đưa em sang sông chiều xưa mưa rơi âm thầm để thấm ướt chiếc áo xanh và đẫm ướt mái tóc em… Nếu tôi đừng đưa em thì chắc đôi mình không quen. Đừng bước chung một lối mòn có đâu chiều nay tôi buồn…?

Như thế đó, cũng là  một chiều mưa thôi mà hạnh phúc một người và u sầu một kẻ.

Nhạc sỹ Nhật Ngân không lẻ loi trong phũ phàng mưa lạnh bỏi vì còn có một người khác cũng  trách cũng than vô tình mưa gió : “Mưa ơi ! Mưa ơi ! Mưa gieo sầu nhân thế”. Người ấy là nhạc sỹ Huỳnh Anh vậy. Mưa có “gieo sầu nhân thế” không ? Để trả lời câu hỏi đó, xin đến với một cô giáo – cô giáo Nhi Nguyễn – để nghe cô bộc bạch nỗi lòng :

Giờ này chưa ngủ được. Mỗi lần một cơn mưa đổ xuống là thấp thỏm lo lắng. Không biết nước có tràn vô nhà không ? Đêm nay cũng không phải là lần đầu tiên… Nước tràn sân trước, sân sau, vô phòng… Tội nghiệp mấy nhóc đang ngủ say sưa bị dựng dậy phụ tát nước.

Vậy đó thời gia sống chung với lũ cũng không phải là ít… Biết sao bây giờ ? Để có đủ kinh phí sửa lại cái nên nhà cũng đâu phải dễ. Chị em nhà giáo ráng dành dụm để làm lại cái nên nhà cho được yên giấc ngủ với những cơn mưa đêm.

Thế rồi lên kế hoạch. Đêm đơn lên phường thì được trả lời : “Không được sửa vì đang có tranh chấp”. Tranh chấp gì chứ. Đất nhà mình để ống nước mấy chục năm rồi. Giờ họ xây dựng lấn ép còn có chút xíu, giờ kiện ngược lại mình để ống nước lên đất của họ. Mà sao họ không kiện lúc chưa làm nhà ?

Cũng chấp nhận chờ… Chờ đến giờ này cũng chẳng thấy” anh chị” nào mời lên… Tranh chấp… Chờ… chờ… chờ… Giờ cũng hết hè rối. Vật tư thì tăng chóng mặt…Làm gì được nữa. Và cứ mỗi đêm mưa là như thế này.

Giờ các “anh chị” ấy nệm ấm chăn êm có nhớ đến lá đơn nhà mình nằm ở đâu không ? Ôi ! Đúng là “mưa gieo sâu nhân thế”. Mối sầu ngàn cân ! Có ai nghe thấy tiếng nức nở không ? Hay tiếng nức nở đã bị gió mưa, sấm sét nuốt chửng rồi ?

Cô giáo Nhi Nguyễn ơi ! Cô có thể chờ tới bao lâu nhỉ ?  Cô chờ để rồi hàng đêm cô lại chắp tay cầu khấn : Xin Chúa cho con đêm nay được bình an. Đêm qua con  sợ lắm rồi. Cô là một tín đồ ngoan đạo. Cô hết lòng tin tưởng vào Chúa và nhất nhất làm theo lời Chúa dạy : “Hãy xin thì sẽ được. Hãy gõ thì sẽ mở cửa cho”.

Nhưng cô giáo ơi ! Cô xin không đúng người và gõ không đúng cửa rồi. Người mà cô cần phải xin không phải là Chúa mà là các quan lớn quan nhỏ ở trên phường kìa. Cái cửa mà cô cần phải gõ không phải là trái tim Chúa mà là cửa phòng của các quan trên phường đó. Chúa đâu có làm cho cô khổ sở như thế đâu.

Hãy nhìn vào khuôn mặt u sầu của Người trên Thập giá đi ! Người đang trông xuống để chia sẻ nỗi khổ với cô mà. Nước tràn ngập nhà cô không phải do Chúa đâu. Do các “anh chị” trên phường đấy. Nếu họ không vứt đơn của cô vào sọt rác thì hè vừa qua chị em cô đã nâng được nền nhà lên rồi và như thế thì cô đâu có phải nặng trĩu lo âu : “Giờ này chưa ngủ được. Mỗi lần một cơn mưa đổ xuống là thấp thỏm lo lắng. Không biết nước có tràn vào không. Đêm nay cũng không phải là đêm đầu tiên… Nước tràn sân trước, sân sau, vô phòng…”

Vậy, cô hãy  mau mau lên UBP mà gõ cửa và kêu xin. Nhưng, để có kết quả thì đừng đi tay không, cô nhé ! Vì “vào cửa quan không có lối nói bằng nước dãi”. Câu nói ấy của viên quan huyện trong tác phẩm Bước đường cùng của Nguyễn Công Hoan cách đây gần một thế kỷ vẫn còn là kim chỉ nam cho bất cứ người dân nào khi đặt chân vào cổng các “ công đường” của thế kỷ 21 này, cô giáo Nhi Nguyễn ạ.

Sau khi cô giáo Nhi Nguyễn đăng lời than thở trên fb thì  cô nhận được nhiều sự cảm thông chia sẻ; trong đó có một người đã gợi ý cô nên siêng mua vé số Vietlot để, nếu trúng thì có tiền sửa nền nhà. Lời khuyên đó thoạt nghe có vẻ bông đùa, nhưng nếu ngẫm nghĩ kỹ thì quà là một lời khuyên chí lý. Bởi, nếu cô trúng số thiệt thì việc sửa nhà của cô sẽ rất thuận lợi, không chỉ có đủ kinh phí mà quan trọng hơn là việc làm đơn xin giấy phép ở trên phường  chắc chắn sẽ rất dễ dàng.

Ông bà ta đã chẳng từng dạy : “Nén bạc đâm toạc tờ giấy” sao ? Sở dĩ đơn xin của cô trước đây không được cứu xét vì cô không biết thủ tục đầu tiên” ở các cơ quan công quyền hiện nay.

Cô không biết vì cô là cô giáo. Là cô giáo  nên ngây thơ, thật thà. Mà “thật thà thì thua thiệt”. Cô nên biết rằng đất nước Việt Nam hôm nay là vương quốc của loài chuột. Bởi vậy, cô phải thuộc nằm lòng bài hát “ Bác đang cùng chúng cháu hành quân”. Đi đến đâu cô cũng phải hát bài ấy thì bảo đảm với cô rằng việc khó mấy cũng thành. Nhớ kỹ nhé, hỡi cô giáo nhỏ tội nghiệp !

Cầu xin cho cô được trúng số. Lần này thì phải cầu xin ơn Trên thật.

Trong  bản tin tối nay, xướng ngôn viên đài truyền hình loan báo : “ Đêm nay Nam bộ sẽ có mưa giông, gió giật cấp  8 đến cấp 9…”  Giữa lúc xướng ngôn viên còn đang đọc bản tin thì sấm sét bắt đầu lên tiếng. Những tia chớp ngoằn nghoèo xé nát bầu trời đêm. Gió  thổi mạnh  như muốn  xô đổ, giật sập mọi thứ nó gặp trên đường đi. Và mưa ào ào đổ xuống như thác lũ.

Giờ này chắc hẳn cô giáo Nhi Nguyễn đang sợ hãi âu lo. Mưa từ đâu mưa về làm muôn đóa hoa rơi tả tơi. Phải chăng mưa buồn vì tình đời, mưa sầu vì lòng người…?

Uyên Sồ Sài Gòn trong cơn bão số 10

TRUNG THU BUỒN

Trung thu buồn quá, chị Hằng ơi !

Mưa lớn lụt lội khắp nơi nơi.

Lênh láng nước dâng tràn mọi ngả,

Hối hả người chạy hụt cả hơi.

Tiu nghỉu trẻ con chực muốn khóc,

Rầu rầu người lớn ngăn lệ rơi.

Ai gây  cảnh này, chị Hằng nhỉ ?

Chị bảo :  Bắc thang lên hỏi Trời”.

Kiều Uyên Du

TIẾNG ĐÀN PIANO NỬA ĐÊM

Một chuyện có thật rất có tình…

Một ngày anh hẹn chị ra quán cà phê trước nhà ga chính của thành phố Bremen. Câu đầu tiên khi gặp anh, chị nói trong sự cáu gắt :

– Ông lại bán xe rồi hay sao mà đi tàu lên đây ?

Anh cúi đầu trả lời lí nhí trong hổ thẹn :

– Ừ thì bán rồi, vì cũng không có nhu cầu lắm !

Chị sầm mặt xuống :

– Ông lúc nào cũng vậy, suốt đời không ngóc lên đầu lên được. Hẹn tôi ra đây có chuyện gì vậy ?

Khó khăn lắm anh mới có thể nói với chị điều mà anh muốn nhờ. Chị cũng khó khăn lắm mới có thể trả lời từ chối :

– Nhưng mà gia đình tôi đang yên lành, nếu đưa con bé về e sẽ chẳng còn được bình yên nữa !

Anh năn nỉ, nhưng thật sự là anh rất bối rối :

– Con bé đã đến tuổi dậy thì, anh là đàn ông, không thể gần gũi và dạy dỗ chu đáo cho nó được. Anh chưa bao giờ cầu xin em điều gì, chỉ lần này thôi. Chỉ cần nửa năm hay vài ba tháng gì cũng được.

Em là phụ nữ em gần nó, em hướng dẫn và khuyên bảo nó trong một thời gian để nó tập làm quen với cuộc sống của một thiếu nữ, sau đó anh sẽ lại đón nó về.

Chị thở dài :

– Ông lúc nào cũng mang xui xẻo cho tôi. Thôi được rồi, ông về đi, để tôi về bàn lại với chồng tôi đã.Có gì tôi sẽ gọi điện thông báo cho ông sau.

Anh nhìn chị với ánh mắt đầy hàm ơn. Anh đứng dậy, đầu cúi xuống như có lỗi, tiễn chị ra xe rồi thở dài, lùi lũi bước vào nhà ga đáp tàu trở lại Hamburg…

oOo

Anh và chị trước kia là vợ chồng. Họ yêu nhau từ hồi còn học phổ thông. Anh đi lao động xuất khẩu ở Ðông Ðức. Chị theo học Ðại Học Sư Phạm Hà Nội 1. Ngày bức tường Berlin sụp đổ, anh chạy sang phía Tây Ðức. Chị tốt nghiệp đại học, về làm giáo viên cấp 3 huyện Thái Thụy, Thái Bình. Họ vẫn liên lạc và chờ đợi nhau.

Khi đã có giấy tờ cư trú hợp lệ, anh về làm đám cưới với chị, rồi làm thủ tục đón chị sang Ðức.

Vừa sang Ðức, thấy bạn bè anh ai cũng thành đạt, đa số ai cũng có nhà hàng, hay cửa tiệm buôn bán, chỉ có anh là vẫn còn đi làm phụ bếp thuê cho người ta. Chị trách anh vô dụng. Anh không nói gì, chỉ hơi buồn vì chị không hiểu: Ðể có đủ tiền bạc và điều kiện lo thủ tục cho chị sang được đây, anh đã vất vả tiết kiệm mấy năm trời mới được. Do vậy mà anh đã không dám mạo hiểm ra làm ăn.

“Ðồ cù lần, đồ đàn ông vô dụng…” đó là câu nói cửa miệng chị dành cho anh, sau khi anh và chị có bé Hương.

Bé Hương sinh thiếu tháng, phải nuôi lồng kính đến hơn nửa năm mới được về nhà. Khi bác sĩ thông báo cho vợ chồng anh biết bé Hương bị thiểu năng bẩm sinh. Giông tố bắt đầu thực sự nổi lên từ đó : Chị trách anh, đến một đứa con cũng không làm cho ra hồn thì hỏi làm được gì chứ. Anh ngậm đắng nuốt cay nhận lỗi về mình và dồn hết tình thương cho đứa con gái xấu số.

Bé Hương được 3 tuổi, chị muốn ly dị với anh. Chị nói, ông buông tha cho tôi, sống với ông đời tôi coi như tàn. Anh đồng ý vì anh biết chị nói đúng. Anh là người chậm chạp, không có chủ kiến và không có chí tiến thân, sống an phận thủ thường. Nếu cứ rằng buộc sẽ làm khổ chị. Bé Hương 3 tuổi mà chưa biết nói. Chị cũng rất thương con, nhưng vì bận bịu làm ăn nên việc chăm sóc con bé hầu hết là do anh làm.

Vì vậy mà con bé quấn quít bố hơn mẹ. Biết vậy nên chị cũng rất yên tâm và nhẹ nhõm nhường quyền nuôi dưỡng con bé cho anh khi làm thủ tục ly hôn. Ly dị được gần 1 năm thì chị tái giá.Chị sinh thêm một đứa con trai với người chồng mới. Thành phố Bremen là thành phố nhỏ.Người Việt ở đó hầu như đều biết nhau. Chị cảm thấy khó chịu khi thỉnh thoảng bắt gặp cha con anh đi mua sắm trên phố. Chị gặp anh và nói với anh điều đó. Anh biết ý chị nên chuyển về Hamburg sinh sống.

Chị không phải là người vô tâm, nên thỉnh thoảng vẫn gửi tiền nuôi dưỡng con cho anh. Trong những dịp năm mới hay Noel, chị cũng có quà riêng cho con bé. Nhiều năm, nếu có thời gian, chị còn đến trực tiếp tặng quà cho con bé trước ngày lễ Giáng Sinh nữa.

Thấm thoát đó mà giờ đây con bé đã sắp trở thành một thiếu nữ. Tuy chị không biết cụ thể thế nào. Chị chỉ hiểu, dù con bé lớn lên trong tật nguyền hẩm hiu nhưng anh rất thương nó. Chị cũng biết con bé gặp vấn đề trong giao tiếp, phải đi học trường khuyết tật. Nhưng con bé rất ngoan. Anh cũng không phải vất vả vì nó nhiều.Nó bị bệnh thiểu năng, trí tuệ hạn chế, phát âm khó khăn.Tuy vậy nó vẫn biết tự chăm sóc mình trong sinh hoạt cá nhân. Thậm chí nó còn biết giúp anh một số công việc lặt vặt trong nhà…

Chồng chị đã đồng ý cho chị đón con bé về tạm sống với chị vài tháng, với điều kiện trong thời gian con bé về sống chung với vợ chồng chị, anh không được ghé thăm. Chị cũng muốn thế, vì chị cảm thấy hổ thẹn khi phải tiếp xúc với vẻ mặt đần đần dài dại của anh.

Vợ chồng chị đã mua nhà. Nhà rộng, nên con bé được ở riêng một phòng. Chị đã xin cho con bé theo học tạm thời ở một trường khuyết tật ở gần nhà. Con bé tự đi đến trường và tự về được.

Ði học về, nó cứ thui thủi một mình trong phòng. Ðứa em trai cùng mẹ của nó, cũng như mẹ nó và bố dượng nó rất ít khi quan tâm đến nó. Niềm vui duy nhất của nó là chờ điện thoại của bố. Nó phát âm không chuẩn và nói rất khó khăn, nên hầu như nó chỉ nghe bố nói chuyện. Bố dặn dò nó rất nhiều và thỉnh thoảng còn hát cho nó nghe.

Em trai nó học thêm piano, nên nhà mẹ nó có cái đàn piano rất đẹp để ở phòng khách. Có lần nó sờ và bấm bấm vài nốt. Mẹ mắng nó không được phá đàn của em. Nên từ đó nó không dám đụng đến nữa. Có hôm anh gọi điện thoại cho nó, nó nghèn nghẹn nói lõm bõm : “…đàn… đàn… klavia… con muốn…” Anh thở dài và hát cho nó nghe.

Tháng đầu, hầu như ngày nào anh cũng gọi điện thoại cho nó. Rồi thưa dần, thưa dần. Cho đến một ngày anh không gọi cho nó nữa.Sau một tuần đăng đẳng không nghe anh gọi điện thoại. Con bé bỏ ăn và nằm bẹp ở nhà không đi học. Chị không biết gì cứ mắng nó giở chứng.

Một đêm, chị bỗng bật choàng dậy khi nghe tiếng đàn piano vang lên. Chị chạy ra phòng khách, thấy con bé đang ngồi đánh đàn say sưa. Nó vừa đánh vừa hát thì thầm trong miệng. Chị cứ há hốc mồm ra kinh ngạc. Chị không thể tưởng tượng nổi là con bé chơi piano điêu luyện như vậy. Chị chợt nhớ ra, đã có lần anh nói với chị, con bé ở trường khuyết tật có học đàn piano, cô giáo khen con bé có năng khiếu. Lần đó chị tưởng anh kể chuyện lấy lòng chị nên chị không quan tâm.

Chị đến gần sau lưng nó, và lặng lẽ ngắm nhìn nó đánh đàn. Chị cúi xuống và lắng nghe con bé hát thầm thì cái gì… Và chị sởn cả da gà, khi chị nghe con bé hát rõ ràng từng tiếng một, mà lại là hát bằng tiếng Việt hẳn hoi: “…Nhớ những năm xa xưa ngày cha đã già với bao sầu lo… sống với cha êm như làn mây trắng… Nhớ đến năm xưa còn bé, đêm đêm về cha hôn chúng con…với tháng năm nhanh tựa gió… Ôi cha già đi, cha biết không…” 

Chị vòng tay ra trước cổ nó và nhẹ níu, ôm nó vào lòng. Lần đầu tiên chị ôm nó âu yếm như vậy. Chị thấy tay mình âm ấm. Nó ngừng đàn đưa tay lên ôm riết tay mẹ vào lồng ngực. Nó khóc. Chị xoay vai nó lại, nhìn vào khuôn mặt đầm đìa nước mắt của nó. Nó chìa cho chị một tờ giấy giấy khổ A4 đã gần như nhàu nát.

Chị cầm tờ giấy và chăm chú đọc, rồi thở hắt ra nhìn nó hỏi :

– Con biết bố con bị ung thư lâu chưa ?

Nó chìa bốn ngón tay ra trước mặt mẹ.

– Chị hỏi : bốn tháng rồi hả ?.

Nó gật đầu. Chị nhìn chăm chăm vào tờ giấy, và từ từ ngồi thụp xuống nền nhà, rũ rượi thở dài. Con bé hốt hoảng đến bên mẹ, ôm mẹ vào lòng, vuốt mặt mẹ, rồi vừa ấp úng nói vừa ra hiệu cho mẹ. Ðại ý là nó diễn đạt rằng :

– Bố lên ở trên Thiên Ðường rồi. Mẹ yên tâm. Con đã xin vào nội trú ở trường dưới Hamburg, ngày mai con sẽ về dưới đó, con không ở lại đây lâu để làm phiền mẹ và em đâu ! Con về ở tạm đây là vì bố muốn thế, bố muốn mình ra đi được nhẹ nhàng và yên tâm là có mẹ ở bên con…

Chị cũng ôm nó vào lòng, vỗ vỗ vào vai nó và nói, con gái ngoan của mẹ. Ngày mai nếu mẹ sắp xếp được công việc, mẹ sẽ đưa con về Hamburg…

oOo

Tôi nghe người ta kể lại chuyện này, khi đi dự một cuộc biểu diễn nghệ thuật của học sinh khuyết tật và khiếm thị. Khi thấy em gái đệm đàn piano cho dàn đồng ca, cứ khăng khăng đòi phải đàn và hát bài hát “Người Cha Yêu Dấu” bằng tiếng Việt trước, sau đó mới chịu đệm đàn cho dàn đồng ca tiếng Ðức. Quá kinh ngạc nên tôi cứ gạn hỏi mãi một người trong ban tổ chức. Cuối cùng họ đã kể cho tôi nghe câu chuyện như vậy. (Tín Hữu theo nguồn: luu vu)

Phan Tất Đại chuyển tiếp

TRUNG THU CHO AI ?

TRUNG THU CHO AI ?

Vốn là biểu tượng của sự đoàn tụ, sum vầy, bánh Trung thu ngày nay đã trở thành một sản phẩm tiềm ẩn nguy hại cho sức khỏe. Oái oăm thay, đó lại là thứ quà cáp để đổi chác lấy tình thân. Lãng quên truyền thống để rồi vướng mắc trong vòng xoáy luẩn quẩn của sự thực dụng, chiếc bánh tự nó kể một câu chuyện nhói lòng về thế giới mà chúng ta đang thuộc về nhưng dường như không thực sự nhận ra.

Sinh ra là món quà của con người dâng lên Đất Trời

Bánh Trung thu xưa kia là món quà của con người dâng lên Trời Phật, vậy nên người xưa cũng làm ra nó với tất cả sự cẩn trọng và cầu kỳ. Chiếc bánh tưởng giản dị ấy chứa đựng biết mấy công phu và tâm huyết của những người phụ nữ vừa khéo tay, khẩu vị tinh tế và hết mực cẩn thận.

Nước đường làm vỏ bánh phải được nấu trước vài tháng thậm chỉ cả năm, mới lên được màu bánh đẹp và thơm. Mỡ lợn được phơi vài nắng đến khi trong veo, ăn béo mà không ngấy, bánh dẻo được làm từ thứ gạo nếp mới trắng ngần, cốm phải là loại cốm tươi…

Từ những nguyên liệu chính là những sản vật gần gũi trong tự nhiên như mứt sen, hạt bí, hạt dưa, mỡ, gừng, lá chanh, đậu xanh, sen, cốm.., người xưa khéo léo kết hợp để làm ra một chiếc bánh thơm ngọt, dậy mùi đặc trưng, hòa quyện hương vị như biểu tượng của sự no đủ, tròn đầy, viên mãn.

Trung thu cho ai ?

Chiếc bánh ấy vốn là biểu tượng của sự đoàn viên, của tình yêu đối với quê hương đất nước, của lòng thành kính với Trời Phật. Nhưng rồi, không hiểu sao, ý nghĩa thiêng liêng ấy không còn quan trọng nữa.

Chiếc bánh nay trở thành thứ quà cáp để đổi chác lấy tình thân và thể hiện văn hóa biếu xén cho công việc. Món quà của lòng thành trở thành món hàng béo bở, cơ hội vàng để các nhà sản xuất bánh biến hóa từ một loại bánh truyền thống dân gian vốn chẳng có gì đắt đỏ trở thành những chiếc bánh cao cấp có giá từ vài trăm đến vài triệu đồng.

Giá trị tinh thần được thay thế bằng giá trị vật chất nên bánh càng đắt tiền thì càng có giá trị. Giới buôn bánh Trung thu vẫn nói, làm một mùa ăn cả năm. Truyền thống ngày nay không phải để thờ mà là để bán mất rồi, nhất là khi nó lại siêu lợi nhuận.

Ngày này, người ta không xem trọng hương vị mà quan tâm đến giá tiền, độ sang trọng, bắt mắt của cái hộp đựng bánh. Để đáp ứng nhu cầu này, nhà sản xuất đua nhau ra đời những dòng bánh cao cấp, thay thế nguyên liệu truyền thống vốn đã trở nên lỗi thời bằng những nguyên liệu đắt đỏ thể hiện đẳng cấp như vi cá mập, yến sào, rượu, hoặc là những nguyên liệu hoàn toàn mới lạ nhưng là thứ nguyên liệu làm bánh như phô-mai, socola, trà xanh, café.….

Chỉ cần nhìn qua nguyên liệu bánh Trung thu cũng đủ biết người ta không mua bánh để cho trẻ nhỏ. Món bánh cổ truyền xưa đã trở thành món quà đắt tiền, mà lý do của sự đắt đỏ hẳn bởi mục đích đổi chác thay vì sự tri ân giản dị.

Cơ hội của nguyên liệu bánh Trung Quốc

Thị trường lớn và cơ hội kinh doanh vàng đã khiến các nhà sản xuất nhanh nhạy tìm đến nguồn hàng giá rẻ với số lượng lớn. Báo chí đã liên tiếp đưa tin về việc bắt giữ hàng tấn nhân bánh Trung thu Trung Quốc. Lại có tin về việc phát hiện bánh Trung Quốc để 10 năm không hỏng.

Cũng như bao sản phẩm khác, Việt Nam luôn được xem như một bãi rác thải lớn để nguồn sản phẩm kém chất lượng và độc hại từ Trung Quốc đổ vào. Hàng tấn bánh bị thu giữ, còn nhiều tấn nhân bánh có thể đã được đưa vào trót lọt đã yên vị trong những chiếc bánh đẹp đẽ, bắt mắt, bao bì sang trọng.

Truyền thống… kiểu hiện đại

Ngập trong các loại bánh Trung thu hiện đại với đủ các thứ nhân lạ lùng, người Hà Nội cũng muốn tìm về với bánh Trung thu truyền thống. Thế nên các tiệm bánh Trung thu kiểu truyền thống được dịp ‘phất’ lên như diều nhờ hàng ngàn thực khách sẵn sàng dậy sớm, xếp hàng cả nửa ngày để mua được một hộp bánh Trung thu kiểu truyền thống.

Thế nhưng cái truyền thống ấy mới nửa vời và hình thức làm sao ! Cứ như thể chỉ cần nói truyền thống là đã thành cố nhân vậy. Bánh tại những tiệm bánh “truyền thống” đôi khi còn xa lắm mới đúng là hương vị truyền thống. Nhiều chiếc bánh được làm thiếu vệ sinh, và còn khó có thể gọi là ngon… vậy mà người người xếp hàng chờ đợi để được mua.

Chán nản với bánh Trung thu không đảm bảo chất lượng và giá thành đắt đỏ, nhiều người đã tự làm những chiếc bánh Trung thu cho gia đình và người thân. Trào lưu bánh Trung thu handmade (tự làm) trở nên rầm rộ. Dạo một vòng qua các cửa hàng bán nguyên liệu làm bánh, dễ dàng thấy hóa ra việc làm bánh handmade trở thành trào lưu cũng bởi vì nó quá dễ dàng với nhân bánh được làm sẵn, đóng gói, chỉ việc mua về nhồi vào vỏ bánh nữa là xong.

Nhân bánh có đủ thứ đủ loại hương vị, từ đậu xanh, sầu riêng, khoai môn, lá dứa, chanh leo, sữa dừa… Giá thành mỗi cân nhân bánh khá rẻ, khoảng 60-80 ngàn cho một cân nhân bánh các loại. Làm một tính toán nhỏ, một cân hạt sen đã khoảng 150 ngàn, mà một cân nhân bánh chỉ có mấy chục ngàn, chưa kể để sên một mẻ nhân bánh cũng phải mất đến vài giờ đồng hồ với rất nhiều dầu và đường do nhân bánh trung thu phải được nấu rất tỉ mẩn cẩn thận với nhiệt độ thấp và thời gian dài.

Chừng đó đủ thấy là nhân bánh làm sẵn không thể được làm từ nguyên liệu tự nhiên mà có lẽ được thay bằng bột, phẩm màu, hương liệu vốn có đủ không thiếu hương vị gì ? Thời gian” luôn là câu trả lời cho mọi vấn đề của cuộc sống hiện đại, nhưng sống nhanh hơn, tiện hơn liệu có tốt đẹp hơn là câu hỏi rất cá nhân dành cho mỗi người. Nhưng có lẽ người ta cũng không còn thời gian để suy nghĩ về câu hỏi đó nữa.

Tràn ngập trên mặt báo là các câu chuyện về tham nhũng, chạy trường, chạy điểm, chạy việc.. Điều gì khiến cuộc sống trở thành cuộc thi maraton như thế? Và chiếc bánh được sinh ra từ thần thoại về chị Hằng, thỏ Ngọc, bỗng phải đóng vai lo lót bất đắc dĩ, để rồi người ta chỉ quan tâm đến kết quả của cuộc đổi chác mà thôi

Trung thu trong phong tục truyền thống cổ xưa vốn là lễ thưởng trăng.

Từ cảm hứng về vầng trăng tròn đầy, viên mãn, người xưa đã gửi gắm tư tưởng tình cảm của mình trong biểu tượng chiếc bánh tròn trịa được gọi là bánh Nguyệt Bính hay bánh Vầng Trăng. Hình ảnh “tròn” (viên) của trăng với cảnh quây quần “đoàn viên” của con người. Nên bánh Trung thu còn được gọi là bánh đoàn, bánh đoàn viên.

Trung thu Nguyệt bính với ý nghĩa nguyên sơ là dịp gia đình sum vầy, đoàn tụ trong một đêm trăng đẹp, cùng nhau ăn bánh, uống trà và các thứ hoa quả thơm ngọt ngào của mùa, thưởng ngoạn vẻ đẹp huyền ảo, nồng hậu của vầng trăng để thấy ấm nồng hơn bao giờ tình cảm gia đình và tình yêu với quê hương đất nước. Vẻ đẹp trong trẻo và thuần khiết của một giá trị văn hóa có lẽ nào đã dễ dàng mất đi trong dòng xoáy bất tận của sự bán mua đổi chác danh, lợi, tình..… (theo Lam Thư – ĐKN)

Lan Hương chuyển tiếp

THỎ NGỌC, HẰNG NGA,

VÀ NHỮNG ẨN Ý SÂU XA

TRONG CÂU CHUYỆN VỀ TẾT TRUNG THU

Cứ mỗi lần tới tết Trung Thu, ngẩng lên nhìn mặt trăng sáng vằng vặc trên không trung, tôi bỗng nhớ tới những câu chuyện thần thoại về chị Hằng, về Ngô Cương chặt quế và thỏ ngọc giã thuốc mà tôi thường nghe khi còn thơ dại.

Luân hồi chuyển thế đã mấy ngàn năm, những câu chuyện thần thoại xưa kia luôn hàm chứa nhiều ẩn ý sâu xa. Đã hàng ngàn năm qua đi, đây vẫn là điều con người luôn mong muốn tìm kiếm một lời giải…

Chúng ta hãy cũng tĩnh tâm lại một chút để cùng tìm hiểu ý tại ngôn ngoại ẩn sâu trong những câu chuyện thần thoại này.

1/. Hằng Nga bay lên cung trăng

Trong cuốn sách cổ “Hoài Nam Tử” thời Tây Hán có câu chuyện Hằng Nga bay lên cung trăng. Mỗi lần tới Trung Thu, nhìn lên bầu trời chúng ta lại thầm hỏi: Trăng đêm rằm tròn và trong sáng tới vậy, cớ sao Hằng Nga chỉ ở đó một mình ?

Trong truyền thuyết, Hằng Nga là nhân vật liên quan tới sợi dây tơ tình suốt thiên thu ngàn năm của thế gian nhân loại. Cái tên Hằng Nga gắn liền với Hậu Nghệ. Hậu Nghệ là anh hùng bắn rơi 9 mặt trời, còn Hằng Nga là một tiên nữ xinh đẹp trên thiên đình.

Tương truyền, một ngày trên không trung bỗng xuất hiện 10 mặt trời làm trái đất nóng bỏng, hoa màu cỏ cây bị thiêu đốt, dân chúng cũng lầm than cơ cực. Đồng cảm với nỗi thống khổ của muôn dân trăm họ, Hậu Nghệ đã lên đỉnh núi Côn Lôn kéo căng cung thần nhắm vào mặt trời mà bắn. 9 mặt trời lần lượt rơi xuống đất, cuối cùng, chỉ còn lại một mặt trời chiếu sáng cho nhân gian.

Hậu Nghệ và Hằng Nga kết nghĩa phu thê, tình cảm đằm thắm như chim liền cánh như cây liền cành, kính trọng yêu thương nhau. Tuy nhiên đến một ngày, Hằng Nga bỗng rời xa người chồng của mình mà bay lên cung trăng, để lại chàng Hậu Nghệ đau buồn nơi trần thế…

Hậu Nghệ mê mờ trong nhân thế, Hằng Nga một mình lên cung trăng

Tại sao Hằng Nga lại bay lên cung trăng một mình ? Trong các câu chuyện cổ được truyền lại có một số cách giải thích khác nhau:

Cách giải thích thứ nhất là Hằng Nga lấy trộm viên thuốc trường sinh nên đã bỏ lại Hậu Nghệ rồi một mình rời đi. Nhưng sau khi lên trời, Hằng Nga bị Thiên đế trách phạt và nhốt trong cung Quảng Hàm trên mặt trăng.

Tuy nhiên, nếu quả thật Hằng Nga là người thay lòng đổi dạ thì sao lại có thể lên được thiên giới ? Người xấu sao lại có thể trở thành tiên nữ mà không phải ở lại nhân gian chịu báo ứng ? Như vậy, cách giải thích này chưa thật sự hợp lý.

Cách giải thích thứ hai cho rằng, Hậu Nghệ và Hằng Nga vốn là phu thê tình cảm mặn nồng hòa thuận. Với tấm lòng nhân ái bao la, Hậu Nghệ đã truyền thụ thần thông cho mọi người trong thiên hạ. Tuy nhiên một trong những người được Hậu Nghệ truyền thụ lại có mưu đồ ác độc, rắp tâm ăn cắp tiên dược. Hằng Nga vì không muốn để tiên dược rơi vào tay kẻ ác nên đã nuốt viên thuốc trường sinh, kết quả nàng từ từ bay lên mà không kịp nói lời từ biệt với Hậu Nghệ.

Lại có một cách lý giải khác là: Sau khi bắn hạ 9 mặt trời, Hậu Nghệ được tôn vinh lên làm vua. Tuy nhiên, khi đã lập được công lao hiển hách, ông càng ngày càng trở nên kiêu ngạo, xa hoa phóng đãng và trở thành mối nguy hại cho muôn dân. Vì không muốn một tên bạo chúa có thể trường sinh bất lão nên Hằng Nga đã uống tiên dược.

Quay trở lại câu chuyện của Hằng Nga: Tại sao Tây Vương Mẫu chỉ đưa cho nàng một viên tiên dược ? Đó là khảo nghiệm hay đó là lời tiên tri ? Hay đó là lời nhắn nhủ rằng những kẻ tham lam dù có uống tiên dược cũng không thể thành tiên ? Liệu thần có thể cho phép kẻ xấu dùng thủ đoạn cướp đoạt tiên dược mà thành tiên được không ? Kỳ thực, chỉ những ai có tâm hồn thuần khiết không nhiễm bẩn bụi trần mới có thể thành tiên, chứ không phải thông qua thủ đoạn mà đạt được điều ấy.

Và phải chăng vì nhìn thấy Hậu Nghệ đang mê đắm trong danh lợi tình nơi cõi thế nên Tây Vương Mẫu chỉ đưa một viên tiên dược ? Hằng Nga bay lên cung trăng không phải là bởi bất đắc dĩ, mà đó là sự xả bỏ, đoạn tuyệt với những thất tình lục dục nơi cõi người thường để đạt tới một cảnh giới siêu phàm, thoát tục. Mong muốn lên cung trăng, cũng chính là nguyện ước muốn quy thiên để trở về ngôi nhà chân chính của sinh mệnh.

Hậu Nghệ và Hằng Nga vốn là những sứ giả của Thần được cử xuống nhân gian, sau khi hoàn thành việc cứu độ thế nhân sẽ cùng nhau trở về trời. Tuy nhiên, vì Hậu Nghệ đã mê đắm quá sâu trong cõi nhân gian nên Hằng Nga chỉ có thể một mình bay về trời, quy thiên phục mệnh.

Đêm nay là đêm nào ? Đừng để mất đi sinh mệnh và cơ duyên vốn có của bản thân

Gần 1.000 năm trước, Tô Đông Pha đã để lại những dòng tuyệt tác dưới đêm trăng :

“Vầng trăng sáng có tự khi nào,

Nâng chén rượu lên hỏi trời cao,

Chẳng biết cung điện trên chốn ấy,

Đêm nay đã là đêm năm nào”.

Đêm nay đã là đêm năm nào ? Có lúc là trăng sáng sao thưa, có lúc là trăng ẩn sao hiện, lại có lúc trăng sao cùng ẩn mất. Con người đi giữa thế gian cũng giống như vậy, có lúc thiện tính rõ ràng, lại có lúc ma tính nổi lên, và có lúc quên mất rằng bản thân mình là ai. Khi hạ xuống nhân gian lạc vào cõi hồng trần, chỉ vì một chút thành tích đã làm Hậu Nghệ phóng túng bản thân, để ma tính trong mình lấn át đi phần thiện tính, nên không thể thăng hoa tầng thứ, cũng vĩnh viễn không thể quay về trời.

Đây lẽ nào là lời nhắn nhủ tới con người thế gian ? Câu chuyện Hậu Nghệ và Hằng Nga chính là lời thức tỉnh tới những ai đang hàng ngàn vạn năm không thoát khỏi kiếp luân hồi. Con người tới thế gian là mang theo sứ mệnh lịch sử, đó là tu luyện để thăng hoa cảnh giới của sinh mệnh, cuối cùng hồi thiên trở về nhà. Câu chuyện cũng là lời nhắc nhở thế nhân đừng mê đắm trong cõi hồng trần, để lỡ mất đi cơ duyên đáng quý nhất của bản nguyên sinh mệnh mình.

2/. Ngô Cương chặt quế

Trong “Thái Bình ngự lãm” và “Hoài Nam Tử” có ghi chép về sự tích cây quế trên mặt trăng, cũng chính là câu chuyện thần thoại Ngô Cương chặt quế.

Ngô Cương là người Tây Hà sống vào thời nhà Hán, khi tu đạo vì phạm tội nên bị sư phụ trừng phạt, phải lên Nguyệt Cung chặt quế. Cây quế trên Nguyệt Cung cao 500 trượng, là loại cây vô cùng thần kỳ, hễ chặt thì vết chặt lại lành lặn như cũ. Bởi vậy mặc dù trải qua thời gian rất lâu, Ngô Cương cũng không làm cây quế đổ xuống được, đành bất đắc dĩ ở Nguyệt Cung chặt cây mãi không ngừng.

Ngô Cương bất lực trước cây quế cao to, tới lúc nào mới có thể đốn ngã, tới lúc nào mới có thể phục mệnh ? Có lẽ việc chặt quế chính là một cách tu đạo mà sư phụ đã an bài cho anh ta, chính là qua chịu khổ mà tiêu trừ tội nghiệp. Vậy Ngô Cương phải làm thế nào mới có thể hoàn thành nhiệm vụ để thoát khỏi phàm trần?

Cảnh giới siêu phàm thoát tục, cuối cùng đắc Đạo thành tiên

Điều then chốt nhất của quá trình tu luyện chính là tu tâm. Sư phụ giao cho Ngô Cương chặt quế, một mặt vừa có thể thông qua chịu khổ mà tiêu nghiệp, một mặt cũng là để khảo nghiệm ngộ tính của Ngô Cương.

Người tu luyện phải đạt tới cảnh giới siêu phàm thì mới có thể thoát khỏi thế tục và đắc đạo, cũng chính là cần vượt qua tầng thứ hiện tại của bản thân mới có thể bước vào cảnh giới cao hơn. Chỉ khi loại bỏ những chấp trước ngăn trở về danh lợi tình trong thế gian, mới có thể đề cao cảnh giới và tầng thứ của sinh mệnh, mới có thể tu thành đắc đạo.

Đối với một người bình thường, chẳng phải đạo lý cũng như vậy hay sao? Người đời vì trăm ngàn lo âu về những thứ vật chất xung quanh mà tổn hại nhân tâm. Có những việc đôi khi cố gắng cả đời cũng không thể giải quyết được, bởi có những điều mà bản thân không thể làm chủ, ví dụ như thọ mệnh và số phận.

Những điều con người cả một đời theo đuổi đều không nằm ngoài những truy cầu về danh lợi tình. Kỳ thực, phúc phận của đời người sớm đã được an bài sắp đặt. “Thiện hữu thiện báo, ác hữu ác báo”, tạo nghiệp đời trước sẽ phải hoàn trả kiếp này. Nếu bản thân có thể coi nhẹ mọi việc, lùi một bước biển rộng trời cao thì con người mới có thể thoát khỏi khổ ải trầm luân. Chỉ cần cố gắng làm tốt mọi việc, tuỳ kỳ tự nhiên, thuận thiên nhi hành, thì con người mới được sống an nhiên và tự tại. Thần Phật luôn bảo hộ những người lương thiện, những người luôn tích đức hành thiện thì phúc báo sẽ mãi dài lâu.

3/. Thỏ ngọc giã thuốc

Người bạn nhỏ của chị Hằng trên cung trăng là thỏ ngọc. Câu chuyện về thỏ ngọc cũng là một trong những truyện cổ tích được lưu truyền trong ngày tết Trung Thu.

Trong “Nghĩ thiên vấn” của Phù Hàm có câu: “Trong trăng có gì thế? Có con thỏ bạch giã thuốc, cầu mong hưng thịnh, phúc lành”. Trong “Thơ ca nhạc phủ” thời xưa có bài: “Hái lấy ngọn cây trên núi thần dược, thỏ bạch giã thành viên thuốc tắc kè, dâng lên bệ hạ với cả tấm lòng”.

Kinh Veda kể rằng có bốn con vật, gồm khỉ, chó, rái cá và thỏ hằng ngày đến lắng nghe một vị đạo sĩ thuyết giáo. Một ngày nọ vị đạo sĩ tu thành và chuẩn bị rời khỏi thế gian; trước khi đi ông đã yêu cầu cả bốn con vật đi tìm thức ăn cho mình. Tất cả các con vật đều tìm được thức ăn, ngoại trừ thỏ. Vì để cung cấp thức ăn cho vị đạo sĩ, thỏ lao mình vào đống lửa, nhưng đống lửa lại biến thành băng tuyết và thỏ được cứu sống. Vị đạo sĩ hiển lộ thân phận thật và đưa thỏ lên cung Quảng Hàm, kể từ đó thỏ được lưu lại ở đây làm bạn với Hằng Nga.

Xả bỏ tự ngã, thoát khỏi phàm trần

Thỏ ngọc không phải là một chú thỏ bình thường. Từ xa xưa ngọc luôn tượng trưng cho phẩm hạnh đạo đức cao thượng, bởi vậy thỏ ngọc chính là một cảnh giới thăng hoa của sinh mệnh. Vì người khác, thỏ ngọc có thể hoàn toàn xả bỏ sinh mệnh, không màng tới an nguy của bản thân, vậy nên cảnh giới của thỏ ngọc đã thoát khỏi cõi phàm trần. “Thỏ ngọc giã thuốc” chính là bản nguyên của sinh mệnh sau khi không ngừng xả bỏ những tạp chất hậu thiên, hiển lộ bản chất hồn nhiên, thiện lương, thuần khiết vốn có. Thiện lương vốn là bản tính của con người, bản chất vô tư vô ngã chính là loại tiên đơn thần dược trường sinh bất lão chân chính nhất.

Hàng ngày hàng giờ, năm này qua năm khác, chúng ta đang đắm chìm trong vòng quay nơi thế tục. Trong những bon chen chìm nổi đó, con người dễ dàng nảy sinh các chủng nhân tâm như toan tính, ganh ghét, tranh đấu… Do vậy nếu muốn được thanh thản, muốn được thăng hoa, con người cần phải giữ cho mình sự thư thái thiện lương và không ngừng loại bỏ những nhân tâm bất hảo của bản thân. Thỏ ngọc giã thuốc là tượng trưng cho sinh mệnh con người, ở vào bất cứ thời điểm nào cũng không ngừng tu luyện bản thân, phản hồi về bản tính tiên thiên vốn có của sinh mệnh khi tới thế gian này.

Ánh trăng thu vẫn hàng ngày hàng giờ chiếu sáng thế gian, đưa đường chỉ lối cho con người mỗi khi đêm đến. Trong những năm tháng của tiến trình sinh mệnh, hãy giống như ánh trăng đang hàng ngày soi tỏ kia, luôn giữ được sự thuần khiết của mình. Hãy không ngừng đề cao cảnh giới tư tưởng đạo đức, quay về bản thính Chân, Thiện, Nhẫn tiên thiên vốn có của bản thân, đó mới là thứ tiên dược chân chính giúp con người “trường sinh bất lão”.

Phải chăng đây cũng chính là hàm ý sâu xa trong những câu chuyện thần thoại về tết Trung Thu được lưu truyền cho đến ngày nay ?

Yên Huỳnh chuyển tiếp

 

O HUẾ VÀ PHỤ NỮ SÀI GÒN

TẢN MẠN VỀ “O HUẾ”

Bà xã của tôi là một cô gái Huế, nói theo kiểu Huế là một o Huế. Dù cho bây giờ o Huế của tôi đã phần nào không còn là “rặc” Huế nữa, nhưng chỉ cần là sinh ra tại làng Phú Xuân và đi học ở trường Đồng Khánh, là đủ tiêu chuẩn o Huế rồi.

O sinh ra và đi học ở Huế, nhưng lớn lên một chút thì theo gia đình dọn vào Đà Nẵng, rồi khi lên đại học thì vào Sài Gòn.

Như thế là qua thời gian “chất Huế” của o cứ “loãng” dần theo mỗi chặng đường xuôi Nam. Nhưng có lai thì cũng chỉ lai một chút ở cái giọng nói nhẹ bớt đi thôi, chứ o vẫn là một o Huế chính hiệu.

Tôi gặp o khi lần đầu bước chân vào trường ĐHSP. Hình ảnh ban đầu ấy cho tới bây giờ vẫn còn in đậm trong trí tôi. Một o Huế với mái tóc đen dài buông xõa ngang lưng, với chiếc “băng đô” màu tím Huế đi kèm với cặp kính cận sẫm màu trà rất hợp với khuôn mặt của o. Chiếc áo dài trắng đơn sơ, vừa kín đáo vừa quyến rũ của o, cứ bay bay theo gió khi o ngồi trên chiếc Yamaha màu xanh đời cũ của những năm 66-67, đi đến trường vào mỗi buổi sáng sớm.

Có khi o đi một mình, có lúc o chở thêm cô bạn thân cùng lớp. Hình ảnh đó cứ lập đi lập lại mà trở thành quen thuộc, đến độ mới gần đây tôi tình cờ thấy một tấm ảnh trên “net” được chụp từ phía sau o với cô bạn gái, làm cho tôi chợt kêu lên : “Ai chụp tấm hình nầy vậy ?”. Cũng mái tóc đó, dáng dấp đó, chiếc áo dài đó, cũng chiếc xe cùng hiệu, cùng đời, cùng màu với xe của o.

Tấm ảnh giống đến 99,5%, khi tôi gởi tấm ảnh nầy cho cô bạn của o xem, thì cô bạn cũng kêu lên : “Tấm hình nầy chụp hồi nào vậy ?”. Sau đó tôi xem kỹ lại thì thấy có một chi tiết làm tôi ngờ ngợ là không có… bảng số xe và cái giỏ phía trước.

Thế đấy, tôi giật mình khi thoáng thấy lại cái hình ảnh của o hơn 40 năm trước, tôi cũng hồi hộp xôn xao giống như khi nhìn o lần đầu vậy. Lạ lắm, không biết có ai giống tôi không ? !!!

Có đôi lúc, o thỏ thẻ cất giọng nhẹ nhàng như rót mật vào tai mà hỏi tôi rằng : “Sao mình không chọn một o Nam giống mình hay o Bắc, mà lại chọn o Huế vậy ?”. Thiệt là không biết trả lời sao, khi “thế giới đông người nhưng chỉ thấy riêng em”.

Chính o cũng nhìn nhận một cách hết sức chủ quan là các o Huế…. “không đẹp” như hoa hậu, nhưng nếu làm người mẫu chụp ảnh thì…. điệu không ai bằng. Còn o Nam hay o Bắc thì tôi không dám lạm bàn, nếu lỡ nói bậy rất dễ…. cháy nhà lắm. Chỉ dám nói tới o Huế của tôi thôi, thì o “dễ thương chi lạ” !!!

Mà không phải đến khi gặp o trong sân trường đại học thì tôi mới thích cái “chất Huế” của o, với giọng nhỏ nhẹ đầy dấu nặng hay qua dáng vẻ dịu dàng khép nép rất bắt mắt của một nữ sinh Đồng Khánh ngày nào.

Tôi đã từng kể chuyện cho o nghe về việc học hành thời niên thiếu của mình.

Khi ấy vào khoảng năm học lớp đệ ngũ hay đệ tứ gì đó (lớp 8, lớp 9 bây giờ) ở trường HNC Gia Định, có một cô giáo trẻ mới ra trường về dạy lớp của tôi. Đó là cô N, dạy Anh văn. Giờ đầu tiên của cô giáo làm cho tôi rất thích thú với giọng Huế khá nặng của cô, nhưng lại rất êm tai. Các bạn trong lớp cũng hào hứng khi bỗng đâu một cô tiên thật là ngọt ngào hiền dịu lại lạc vào cái đám nam sinh quỷ quái chúng tôi.

Những giờ học sau đó của cô càng chứng tỏ cái “sức Huế” nó mãnh liệt biết chừng nào. Bọn học sinh chúng tôi cứ mong đến giờ Anh văn, cả lớp im phăng phắc ngóng cổ lên để nghe cô giáo….. nói tiếng Huế, chứ nào có thiết gì đến bài học tiếng Anh đâu. Sự trật tự của lớp tôi dành cho giờ dạy của cô giáo mới chưa bao giờ nặng lời quát mắng học trò, là một ngoại lệ hiếm có.

Nhưng rồi những ngày vui thường qua mau. Khoảng chừng ba bốn tháng sau, cô giáo N không còn dạy lớp tôi nữa vì nghe đâu cô đi… lấy chồng và đổi về trường khác.

Thế là tôi hụt hẫng, mất ăn mất ngủ nhiều tháng trời sau đó. Kỷ niệm của tuổi mới lớn nầy đã gây một ấn tượng sâu sắc trong tôi cho mãi đến bây giờ.

Từ khi tôi biết o Huế đến nay là tròn 43 năm, thời gian không dài lắm nhưng có đôi lúc tôi quên béng đi là tôi có một o Huế bên cạnh, nếu không có vài sự kiện thỉnh thoảng cứ xảy ra “nhắc nhở” tôi.

Vợ chồng tôi khi ra ngoài đi phố, đi chợ búa hay đi đâu đó chút việc, nhiều khi tình cờ gặp một dân Huế nào đó bắt chuyện, thì sau câu chào xã giao thông thường là đến câu thứ hai với giọng điệu mừng rỡ của vị khách lạ:

– “Chị là người Huế à ? Chị ở mô rựa ?”

– “Dạ, tui ở gần cầu Kho Rèn”.

Rồi sau đó là những câu thăm hỏi rối rít vồn vã thân tình giữa hai người, làm như thể cả hai đã quen nhau “từ kiếp trước” rồi. Khi đó tôi bắt đầu đóng vai kẻ thứ ba nhìn hai người nói chuyện mà tôi chẳng hiểu gì cả. Chỉ nội mấy cái địa danh, mấy cái tên ông Nghè, ông Tổng gì đó đã lạ hoắc, nói chi nó được phát âm bởi giọng Huế đặc sệt thì… hết biết luôn.

Hồi lâu sau khi mãi mê với “Huế của mình”, người khách lạ mới sực nhớ lại quay sang hỏi tôi :

– “Còn anh là người ở mô ?”

– “Dạ, tôi là dân Sài Gòn”.

Người khách nhìn tôi như có ý tò mò, nhưng tôi đoán trong đầu anh ta đang thắc mắc là không hiểu sao tôi là dân ở tuốt trong Nam mà lại rinh được một o Huế xa lắc xa lơ “ngoài nớ”. Cái tình cảnh vừa kể trên không phải tôi chỉ đụng một lần, mà hễ gặp dân Huế đâu đó là y như rằng cái điệp khúc “Chị là người Huế à ? Chị ở mô rựa ?” lại bắt đầu và rồi….. cứ thế tới luôn !!!

Các bạn nào có bà xã là o Huế thử xem tôi nói có đúng không ? Dân Huế cứ gặp nhau là rất mừng rỡ, nhất là ở hải ngoại nầy. Họ coi như “chất Huế” là tài sản riêng của con dân đất Thần Kinh, tất cả ai có dính dáng chút xíu đến Huế là đương nhiên trở thành thân thuộc, là người trong nhà với nhau từ thời…. ông Bành Tổ !!!

Đây có lẽ là một đặc điểm trong văn hóa ứng xử của riêng dân Huế, vì tôi không thấy điều nầy ở người miền Nam hay miền Bắc. Chưa hề có một người Nam nào hỏi tôi: “Bộ anh là người Nam hả ?” !!!

Tôi chỉ hay nghe nói “người Nam”, “người Bắc”, chứ hình như ít ai nói “người Trung”. Người Nam thường không phân biệt miệt nào, còn người Bắc đôi lúc có xác định “người Hà Nội”, “dân xứ Nghệ”…..

Riêng “dân Huế” nhất định không cho mình lẫn lộn vào cụm từ “người miền Trung”, mà phải chỉ đích danh “Huế” mới chịu. Mà cũng phải thôi, có lẽ do ở khúc giữa nầy thường bị chia vụn ra như “người Đà Nẵng”, “dân xứ Quảng”, “gốc Bình Định”, “người Nha Trang”, “dân Phan Thiết”. v.v…, nên người Huế “buộc lòng” phải dành riêng cho mình một vương quốc “quý tộc”.(?) Chứ chẳng phải các o Huế kênh kiệu đâu….

Mới đây có người bạn email cho tôi một truyện ngắn dí dỏm “Vợ chồng như khách khứa” của NTTD. Tựa truyện nầy phát xuất từ câu “Phu phụ tương kính như tân”. Ở đây tôi không bàn đến nội dung truyện mà chỉ muốn nói đến chữ “tân” là “khách”.

Tại sao vợ chồng lại phải đối xử với nhau như là khách. Đã là khách thì khách sáo rồi. Đã là khách thì còn gì là chân thật, còn gì là tình tứ lãng mạn nữa. Đã làm khách với nhau thì miệng mồm xởi lởi, rào trước đón sau, tay bắt mặt mừng, nhưng không biết câu nào là thật, câu nào là giả. Đã là khách thì phải dè dặt xem lời nào là nói suông miệng, câu nào là gài độ, khi nói bông đùa mà nghe ra như xiên xỏ !!!

Thế mà cứ bảo vợ chồng phải xem nhau như khách khứa thì quả thật chả còn tình nghĩa đầu ấp tay gối gì nữa.

Đó là chưa nói đến cái kiểu khách khứa bây giờ. Vào một ngày đẹp trời nào đó, bỗng dưng sếp vi hành đến nhà nhân viên “làm khách” khiến chủ nhà mặt mày tái mét, ngồi căng tai nghe cả buổi cũng không hiểu nỗi sếp mình muốn vòi vĩnh cái gì để mà… liệu cơm gắp mắm. Hay là gặp lúc Tết nhất thì thuộc hạ phải đến “làm khách” nhà ông chủ để chúc Tết, mà đã chúc thì phải làm sao…. coi cho được thì làm !!!

Như thế làm khách đâu phải là dễ chịu. Mình là khách của người ta hay người ta là khách của mình thì cũng chỉ là hai cách…. chết khác nhau thôi. Trong hoàn cảnh nầy tôi liên tưởng đến nghĩa khác của chữ “tân” là “cay”, là cay đắng, cay nghiệt .

Cho nên tôi muốn hiểu “tân” là “mới”. Vợ chồng đối xử với nhau lúc nào cũng như lúc mới biết, mới quen, mới cưới. Dù qua thời gian, vẫn giữ gìn lời ăn tiếng nói cho cẩn trọng, đúng lễ nghĩa, biết kềm chế, biết tôn trọng đừng làm tổn thương nhau, việc gì cũng đúng mực, không bất cập, không thái quá.v.v…

Nếu hiểu như thế nầy thì o Huế của tôi đúng là “tương kính như tân” rồi.

Mỗi khi tôi hỏi o một chuyện gì hoặc làm giúp o một việc lặt vặt nào đó, thì o luôn nhỏ nhẹ: “Dạ, em làm rồi mình à “, “Dạ, cám ơn mình”…. Những chi tiết như vậy xem ra cũng là vặt vãnh thôi, vã lại lâu dần tôi quen rồi nên có khi không “thấy” nữa. Nhưng hễ ra ngoài nghe vợ chồng người ta ăn nói với nhau nhát gừng, không đầu không đuôi, thì tôi lại nhớ ra o Huế khác xa cái kiểu ngang phè đó.

Hỏi như vậy thì làm sao mà tôi không mê o cho được !!!

Thập niên 60 là khoảng thời gian nhiều “sóng gió” trong đời tôi. Những năm đầu là ngẩn ngơ trước cô giáo Huế ở trung học, những năm cuối là mê mẩn với o Huế ở đại học. Còn những năm lơ lửng giữa chừng thì bận…. mơ mộng đến các người đẹp trong phim “xi nê”.

Vào thời đó, các rạp chiếu phim bình dân đều chiếu thường trực suốt ngày, giá vé chỉ 5 đồng xem hai phim. Những tên tuổi lớn vẫn còn “theo” tôi đến giờ như Audrey Hepburn trong phim “Roman Holiday” (1953), hay Romy Schneider trong “Sissi” (1955), hoặc những ngôi sao hạng nhì như Giorgia Moll với “The Thief of Bagdad” (1961).

Khi lớn hơn một chút thì trong bóp của tôi đã có ảnh của Sylvie Vartan, cô nàng hát bài “La plus bell pour aller danser” trong phim “Cherchez l’idole” (1964), lúc đó đang chiếu tại rạp Casino Dakao gần cầu Bông. Còn ca khúc vượt thời gian “The house of the rising sun” được ban nhạc The Animals trình diễn trong phim “Pop Gear”(1965), đã gợi cảm hứng cho tôi nuôi mộng trở thành tay trống chuyên nghiệp, nhưng chỉ mãi đến những năm gần đây tôi mới được cầm đũa chơi trên dàn “Tama” trong một thời gian ngắn.

Nhưng từ khi ra đi dạy, tôi không còn cái thú xem phim nữa, kể cả sau nầy khi có thể xem phim online tại nhà. Cho nên những cái tên mới còn nhớ được ngày càng hiếm dần, như Julia Roberts (Pretty Woman, 1990), Sandra Bullock (Speed, 1994), hay Natalie Portman (The Professional, 1994)

oOo

Còn o Huế của tôi thì rất mê xem phim, nhất là phim bộ nhiều tập. Có lúc tôi thấy o cắm cúi rà tìm phim trên web, tôi hỏi, thì o nói  : “Mình ơi, hết phim cho em coi rồi”. Thì ra mấy hãng phim đó quay…. không kịp cho o coi. Vì mê phim như vậy nên chẳng những o không lạ gì các khuôn mặt Chương Tử Di, Phạm Băng Băng, hay Choi Ji Woo, Kim Hye Soo…. mà đôi khi còn nhập tâm cả lời thoại lồng tiếng trong phim nữa. Những lúc đó, o thỏ thẻ vào tai tôi:

– “Mình à,……. Huynh có thích muội không ?”

– “Trời, không thích muội thì thích ai chứ ?”

– “Vậy hả mình,……vậy còn cô bạn gái ở Văn khoa khi xưa….. thì răng ? “

Nghe đến đây tôi bỗng bủn rủn tay chân. Nếu sơ sẩy thì “bể dĩa” như chơi. Thế nên nói chuyện với o phải thật cẩn thận, phải biết câu nào nên trả lời ra sao, chứ mà cứ vô tư thì có ngày sẽ dính chấu với hoạt cảnh “trắng đêm không ngủ”. Lúc đang diễn cái cảnh thỏ thẻ vào tai nầy, tốt nhất là phải nhớ câu “tương kính như…. khách khứa” mới an toàn.

Nói thiệt thì o Huế của tôi cũng có uy lắm đấy, đừng tưởng là o hiền. Đôi lúc vui miệng tôi hỏi o: “Vậy chớ kho rèn ngoài nớ nó rèn cái giống gì vậy ?”, thì o không trả lời mà trừng mắt nhìn tôi !!!

Đến đây, dám có người cho là tôi sinh ra ở gần “kho đạn” Long Bình lắm. Làm gì có chuyện đó. Không tin thì cứ…. đi hỏi o Huế coi. (theo Bùi Thanh Đoàn)

– Huế Xưa – Anh Bằng & Vân Khánh

https://www.youtube.com/watch? v=cTn49Dwvbec

PHỤ NỮ SÀI GÒN XƯA

NỬA THẾ KỶ TRƯỚC, PHỤ NỮ SÀI GÒN

ĂN MẶC ĐẸP NHƯ THẾ NÀO ?

Sài Gòn trong những bức ảnh xưa hiện lên với những quý cô xinh đẹp, phóng khoáng và chịu chơi… luôn khiến người ta thích thú.

Sài Gòn đã bước qua những giai kỳ hoa lệ khác nhau, giai kỳ nào cũng tân thời và phồn hoa. Thế kỷ trước, Sài Gòn được những tao nhân mặc khách mà giờ chắc đã ra thiên cổ gần phân nửa ưu ái gọi bằng cái tên Hòn ngọc Viễn Đông.

Tôi luôn tự hỏi, điều gì khiến Sài Gòn được ưu ái gọi tên như thế, do vị trí địa lý phù hợp với những cuộc kinh thương ngoại quốc, do đất chật người đông, ồn ào náo nhiệt với những vũ trường, rạp hát ken đặc người…? Không, có lẽ Sài Gòn được ví như ngọc là bởi con người, nhất là phụ nữ Sài Gòn thời đó.

Phụ nữ Sài Gòn nửa thế kỷ trước đã biết ăn mặc sao cho thật có gu và tạo nên cho mình một hào quang riêng biệt. Từ một cô gái xa lạ băng ngang qua đường với kiểu tóc “bình bông” và đôi kính râm thôi cũng đủ khiến cánh đàn ông đang đọc nhật trình gần đó phải ngẩn ngơ ngước nhìn.

Hay những cô nàng mặc áo dài đáy thắt lưng ong, mắt kẻ viền đen, tay cầm dù hoa đang vội vàng nhảy lên một chiếc xích lô gần đó để đi cho kịp giờ coi hát cũng đủ khiến các ông các anh chạy theo, xin một lần hò hẹn. Và cả những người đàn bà buôn gánh bán bưng nhưng biết chăm chút từng nét chỉ, thớ vải áo dài để bước xuống đường sao cho ra dáng Sài Thành nhất…

Ngắm nhìn những bức ảnh phụ nữ Sài Gòn thế kỷ trước, tôi đồ rằng đó là phố thị duy nhất trên thế giới nơi một người đàn bà bình thường trên phố cũng mang phong thái của một quý bà dạ hội.

H1: Sự giao thoa giữa tân thời và truyền thống đã được phụ nữ Sài Gòn xưa áp dụng triệt để, nhưng không vì thế mà nó kém xinh, ngược lại nó tôn lên vẻ hiện đại nền nã của phụ nữ thời đó.

 H2: Sơ mi trắng và chân váy ngang đầu gối cũng là một mốt thời mấy chục năm trước của những cô nàng trẻ trung hiện đại. H3: Nhìn lướt qua thôi cũng nhận ra đây đích thực là phụ nữ Sài Gòn. H4: Sự hòa trộn tinh tế giữa tân thời và nét cổ Á Đông.

H5: Cách ăn mặc và ngôn ngữ cơ thể cũng đủ để chứng minh đặc tính phóng khoáng của phụ nữ Sài Gòn nửa thế kỷ trước. Áo dài nền nã là vậy, phụ nữ Sài Gòn dường như vẫn chẳng e ấp mà rất cởi mở, tự tin trong phong thái.

H6: Nhóm kích động nhạc “3 trái táo” (Appe Three) ban nhạc 3 cô gái chuyên biểu diễn ở các hộp đêm với lối ăn mặc vô cùng gợi cảm. H7: Nhưng suy cho cùng, dù Sài Gòn ngày ấy có tân thời cách mấy, những người phụ nữ vẫn ưu ái chọn chiếc áo dài mỗi khi xuống phố. H8: Sài Gòn luôn nắng nóng quanh năm nên dù cũng là phụ kiện không thể thiếu của chị em thời đó.

H9: Kiểu tóc pin-up rất đặc trưng của phụ nữ Sài Thành thời trước. H10: Đừng nghĩ phụ nữ Sài Gòn cách đây nửa thế kỷ chỉ biết ăn diện mua sắm, mà đọc báo cũng là một thú tao nhã của chị em. Trong ảnh là một cô gái đứng mua báo tại một kiôt góc đường Tự Do – Nguyễn Văn Thinh (nay là Đồng Khởi – Mạc Thị Bưởi). H11: Ngoài đi bộ dạo phố, nhiều quý bà, quý cô còn chọn xích lô làm phương tiện di chuyển hàng ngày.

H12: Một cô gái đang chăm chú đọc tạp chí Salut Les Copains magazine – tạp chí Pháp rất nổi tiếng vào những năm 60 tại Sài Gòn. H13: Áo dài và xe đạp là hình ảnh thường thấy trong những hình chụp phụ nữ Sài Gòn hơn nửa thế kỷ trước.

H14: Phụ nữ Sài Gòn ngày trước cũng rất ưa đi mua sắm, vào những buổi cuối ngày mát mẻ, chị em hay rủ nhau đến các thương xá để chọn mua những món đồ yêu thích. H15: Một “Paris Phương Đông” phồn thịnh với cub, vespa và những quý cô hợp mốt với chiếc Honda PC.

H16: Một người phụ nữ Sài Gòn mặc áo dài phi bóng tím, tay cầm dù đang ung dung dạo phố tại Công Xã Paris trước 1975. H17: Váy suông cùng họa tiết đơn giản luôn là món đồ được những chị em trẻ tuổi Sài Gòn yêu thích. H18: Khi phụ nữ Sài Gòn đi lễ chùa đầu năm.

H19: Một lối nhỏ kinh kỳ hoa lệ có cô gái Sài Gòn đang vội chân đi. H20: Xe Lam mini, váy bút chì, tóc bob, kính râm thì còn gì hiện đại hơn ? H21: Những quý bà thành đô đang qua đường trong những ánh nhìn ngẩn ngơ. H22: Thật không ngoa khi nói Sài Gòn là phố thị đài các của phương Đông.

H23: Áo dài thướt tha, tóc bay trong gió thì luôn có những ánh mắt dõi theo. H24: Một góc phố giai nhân của Sài Gòn. H25: Quần ống loe – mốt của những năm 70 được phụ nữ Sài Gòn nhiệt liệt chào đón. H26: Những chiếc đầm rất mốt đã được phụ nữ Sài Gòn thế kỷ trước diện chỉ “chậm” hơn xu hướng của thế giới vài tháng.

H27: Quý cô Sài Gòn xưa vừa hiện đại, vừa đài các. H28: Nghinh tân những vẫn thủ cựu, Sài Gòn vẫn luôn là một bức tranh lập thể tuyệt vời như thế. H29: Một cô gái mặc áo dài trắng, đeo khăn trắng và tạo điểm nhấn bởi cặp kính đen, trông không khác nào một bức ảnh bìa của tạp chí nước ngoài. H30: Ngoài những cây dù, kính râm cũng là một phụ kiện không thể thiếu của các quý cô Sài Gòn xưa, vì nó giúp họ toát lên sự thời thượng, sang trọng.

Yên Huỳnh tổng hợp chuyển tiếp

KÝ ỨC MỘT THỜI SÀI GÒN

KÝ ỨC

MỘT THỜI SÀI GÒN

Hồi trước, ở Sài gòn, cánh đây lâu lắm, tròm trèm… nửa thế kỷ lận nhen… Tất cả cái loại xe hơi, hai đèn trước, đều phải có “mắt mèo” nghĩa là phải sơn màu vàng lên 1/3 bên trên mặt kiếng của đèn trước, ý là… hỏng cho bác tài pha đèn ban đêm, làm chói mắt người hay xe chạy ngược chiều ! Bởi vậy, bác tài có muốn… chơi ác pha đèn, cũng… bó tay !!!

Khúc đường gần bịnh viện đều có bảng “cấm nhận kèn” để bịnh nhân khỏi giựt mình!

Xe đậu trong đường Sàigon đều phải tuân theo bảng đậu “ngày chẵn lẻ”… Tất cả xe tắc-xi đều sơn trùng một màu xanh hoặc vàng xanh, ý là để “khách bộ hành” biết nó từ đàng xa để… quơ tay đón và cũng. có ý là nếu, hỏng… phải xe tắc xi, mà là xe du lịch tư nhân lại đi ”dù” rước khách… kiếm chút cháo là biết liền, cũng dĩ nhiên, xe nào “nhảy dù” như vậy, bị bắt là bị phạt, lớ quớ còn bị tịch thu bằng lái !

Xe tắc xi phải có đèn hộp “bắt chết luôn” trên mui xe, về đêm, hộp đó có đèn cháy sáng để khách biết mà… dơ tay đón… để cho khỏi lộn với xe du lịch !

Xe buýt cũng phải sơn một màu đặc trưng riêng để dể phân biệt với xe đò… Ví dụ Xe Buýt Vàng thì… sơn màu vàng đặc trưng… khác thiên hạ… Bến xe nầy ở gần Bà Quẹo… mà bà con gọi là Bến-Tô-Bít-Vàng…  Kế bến xe buýt vàng nầy có hãng cơm xấy Hồng Hoa (?) làm cơm xấy cho lính…

Bắt đầu 18 – 20 tuổi… mới cho thanh niên lái xế hộp 4 bánh du lịch… để lấy le, sau đó vài ba năm, bác tài… trẻ mới lên được 1 “hạng”, rồi cày vô lăng… vài năm nửa, mới cho… mó tới xe tải, rồi “chạy xe” thêm vài niên, mới “đủ ngày” để lấy dấu E để lái xe đò, nghĩa là khi bác tài lái… mấy chục tánh mạng hành khách, thì bác tài… vô tuổi trung niên rồi, nên… hết máu thanh niên, háo thắng, ưa nóng gà… chạy ẩu !!! Chớ không có cái chuyện “giao trứng cho ác” được !

Ở ngã tư đèn đỏ, có vạch sơn trắng, tất cả xe cộ đều ngừng sau vạch đó, xe nào cáng mức sơn, mà nhè ông đạp xích lô thấy được… ổng chửi cho tắt bếp, quê lắm nhen !!!

Nhà bán thuốc tây, thì bảng hiệu đề Nhà Thuốc Tây hoặc Nhà Thuốc Gác (đó là danh từ chung) chớ khộng ai lấy Tên Riêng (danh từ riêng) để đề bảng hiệu bán thuốc tây ! Hai bảng hiệu nầy luôn luôn là bảng màu xanh đậm và chữ trắng, nó còn có hộp đèn chữ thập xanh gắn thêm, để đêm hôm, người mua thuốc… đứng ở xa, cũng thấy ! Tiệm nào bán thuốc bắc thì có chữ “đường” ở sau, Ví dụ : Vĩnh Sanh Đường, Nhị Thiên Đường, Thiên Hòa Đường…

Còn chùa thì có chữ “tự”… dính ở sau, ví dụ : Huỳnh Kim Tự, Thới Hòa Tự, Long Vân Tự, Linh Sơn Cổ Tự…

Tiệm bán vàng thì bảng hiệu chỉ có 2 chữ, chũ  đầu luôn luôn là chữ “kim”, ví dụ: Tiệm vàng… Kim Hưng, Kim Liên, Kim Sen, Kim Hoàng, Kim Phát…

Địa Danh ít khi dùng chữ Thái (kỵ húy vua Thành Thái ?) mà dùng chữ Thới : Ví dụ: Thới Bình (Cà Mau), núi Châu Thới (Biên Hòa), Bình Thới (quận 11), Tân Thới Hiệp (chỗ tập lính QT) Thới Tam Thôn, Thới Hòa (Vinh Lộc) Thới Nhứt, Thới Nhì, Thới Tam, Thới Tứ (Hóc Môn), Xuân Thới Sơn (chỗ đương trạc, giỏ tre… )

Nhà dân cất dọc đường lớn, xa lộ, người ta luôn luôn tự động cất nhà thụt lùi vô trong, ở xa lộ, cách Xa Lộ ít nhứt là 50 mét ! Lý do là để cho an toàn chuyện xe cộ, thứ 2 nếu có mở rộng đường xá thì khỏi phải dời nhà… Nhà mà dời đi, dời lại là điều ông bà xưa kiêng kỵ, nên, hỏng ai ham lú mặt ra đường ! Dọc đường cái trống trơn, hỏng ai… dám gan, tới chỗ đó… tự nhiên cất nhà…

Nếu gan cùng mình, cất nhà đại… thì cứ cất, đợi cất xong, bên Điền Địa hỏi Bằng Khoán đất, hỏng có, thì “coi như”… gia chủ xách tụng đi ăn mày… ở tòa bố ! Còn những tên cất nhà, mà lấn từng tấc đất, bà con nói nhẹ rằng “thằng đó hết xài” ! Thằng nào “hết xài”… thì nó, chỉ còn nước… đội quần mà đi, nhục lắm !!!…

Ở Sàigon, cái vụ học hành, có ba thứ trường để học :

Trường Công Lập, Trường Tư Thục và Trường Hàm Thụ

TRƯỜNG HÀM THỤ là trường… mà… hỏng ai tới trường ! Bất kể ai, vì hoàn cảnh gì đó không tới trường học trực tiếp được, thì cũng có cách học để tiến thân, đó là “học trường hàm thụ”. Nghĩa là, cứ… đi làm sở, làm sùng tà tà hay làm việc nhà nấu cơm hoặc cày sâu cuốc bẩm đồng sâu nước mặn…

Nếu muốn tiến thủ trong cuộc đời… thì ghi danh học Trường Hàm Thụ, trường sẽ gởi Bưu Điện bài học, bài làm tới nhà và làm bài xong, gởi bưu điện tới cho trường chấm bài, rồi trường gởi bài tiếp… Cứ thế… cứ thế… Chỉ tới ngày thi, thì thí sinh phải đi thi mà thôi… Bởi vậy, anh em nào có tinh thần cầu tiến, cứ học, nếu thi đậu thì đáng nể lắm !!!

TRƯỜNG TƯ THỤC thì học sinh phải “đóng tiền trường” hàng tháng và bằng Tú Tài cũng giống y như học sinh Trường Công Lập…

TRƯỜNG CÔNG LẬP là… trường công, học sinh không đóng tiền trường suốt 7 năm Trung Học… Đặc biệt, trường Công Lập nam nữ… lại cho học riêng, như :

– Nữ Trung Học : Lê Văn Duyệt, Gia Long, Trưng Vương… vv…

– Nam Trung Học: Hồ Ngọc Cẩn, Chu Văn An, Võ Trường Toản, Pétrus Ký, Lý Thường Kiệt, Quốc Gia Nghĩa Tử… vv… Mạc Đỉnh Chi (nam nữ cùng trường)

Ở trường công nam, Nam Sinh mặc đồng phục Quần xanh áo trắng… bỏ áo vô thùng, trên miệng túi áo, có ghi tên trường hẳn hẹ… nên đố thằng nào… dám hó hé! Ở trường công nữ, Nữ Sinh đồng phục là mặc áo dài trắng, quần trắng… Có… thời khắc “mấy nhỏ áo dài trắng”… bắt chước mấy cô ca sỹ Sàigòn, bận áo dài vạt “lửng”… còn tay áo thì kiểu “rặc lăn”… là… tay áo dài nối vô thân áo…

Mấy anh chàng Nam Sinh trường công vì học chung “tòn-là đực rựa”… nên nhiều thằng dòm… quí nàng áo dài… vạt lửng… bước đi với tà áo (cố tình) thước tha yểu điệu, tụi đực rực… áp nhau thấy, tụi nó… rụng rúng bầy bầy !!! Hì hì…

Bởi vậy, mới có chuyện, mấy “tay tổ” trường công nam, cúp cua vô Lăng Ông Sở Thú Tao Đàn… để “trồng cây si” mấy nàng áo trắng, thây kệ chuyện, bị… cồng-sing !!! Và… thấy tiếp… ở Sàigòn năm xưa…

Cây xăng nào cũng có “vòi bơm bánh xe gắn máy, xe hơi” đứng ở giữa hai trụ xăng… Đang chạy xe, thấy bánh xe mềm, tấp vô cây xăng, dựng xe trước “cây bơm”, lấy tay “quây” cây kim hơi, về số 5 (5 năm ký hơi)… rồi ung dung ngồi xuống, mở nấp vòi, ịnh đầu bơm hơi vô vòi ruột xe… để cho nó tự bơm, cây kim bơm hơi, quơ quơ nghe cạch cạch cạch, tới khi, nghe kêu cái teng, đủ hơi, là máy bơm tự động ngừng bơm… Bơm xe như vầy, nghe… nó phẻ cách gì, chớ 2 tay “thụt ống bơm”… mệt lắm !!!

Nhưng… úi chà… cứ bom cây xăng riết, ruột xe Honda tòn – là… nước không hà ! Biết được ruột xe có nước là do vô vá xe tại tiệm sửa xe “Sĩ Solex” kề bên trường Lê văn Duyệt và bên kia đường… có rất nhiều ruộng rau muống xanh um !

Trên đường Phan Đình Phùng Sàigòn 3, kề bên chợ Vườn Chuối có đường xe lửa chạy ngang và bên kia đường rầy, có căn nhà 3 từng, đó là nhà “cho mướn sách” Cảnh Hưng. Cho mướn sách là cho độc giả… mượn sách về nhà đọc, nhưng phải “đóng tiền thế chưn” bằng 1/2 giá tiền sách in ở trang bìa, khi đem trả sách, Cảnh Hưng trừ tiền mướn vô tiền thế chưn, tiền mướn, cứ 1 cuốn 1 đồng 1 ngày… răng rắc !

Mấy nhà bán sách và tác giả có sách xuất bản… hỏng vui với Cảnh Hưng… Nhà Cảnh Hưng chứa sách để cho mướn… hỏng biết mấy chục ngàn cuốn, vì sách nằm trong kệ… đen nghẹt, bít kín từng trệt và 2 từng lầu… Ông Cảnh Hưng… tướng tá… hơi nhỏ con nhưng vui tánh, học trò khoái lắm ! Thằng học trò nào mê Kiếm Hiệp, muốn luyện chưởng hay… muốn đột nhập “cái bang vài ba túi”… thì tới đây… tìm bí kíp !!!

Ông Cảnh Hưng… biết tẩy học trò hết ráo nhen, thấy mặt, ổng cười hì hì, liền cho mượn cả tuần mới trả, với 2 đồng một tuần… là cái… giá-ghẽ-ghề…  Bởi vậy, học trò “mê đọc sách” Cảnh Hưng… quá xá cỡ là vậy đó đa !!!

Phụ việc ông Cảnh Hưng là bốn năm đứa nhỏ, chuyện môn, chạy đi lấy sách… theo sự “chỉ chỗ” của ông chủ hay lấy sách đọc giả trả, rồi đem sách để “chỗ cũ”…

Ông Cảnh Hưng có trí nhớ… siêu phàm tàn canh gió lốc…

Khi ai tới mướn sách, chỉ cần nói tên sách, là ông Cảnh Hưng, nói liền, thí dụ :

– Bộ Tam Quốc Chí có 3 cuốn, nhưng khách đang mướn cuốn 1 và 2…

– Ủa ? Ông chủ có cả chục bộ lận mà ?

– Thì ờ… người ta mượn hết ráo rồi, giờ còn cuốn 3… Cuốn 1 và 2 mai trả…

–… vậy đi… lấy tui cuốn 3… cũng được !

Ông Cảnh Hưng ra lịnh :

– Tèo, mầy lên từng 2 kệ số 7 ngăn 6 lấy cuốn 3 bộ Tam Quốc Chí cho ông Hai !

Học trò Đệ Lục nghe ông Cảnh Hưng… nhớ từng vị trí cuốn sách nằm ở đâu trong rừng sách từ trên lầu xuống tới đất… thấy mà xám hồn luôn !!!

Ông Cảnh Hưng có quen với nhiều nhà xuất bản, như Yên Sơn (Phú Nhuận) chẳng hạn, khi đang sách in, ông… được ưu tiên “thộp” một mớ… đem về cho mướn trước, khi nào in đủ số, sách… mới phát hành ! Bởi vậy, coi sách “nóng hổi” là vậy !  Mỗi loại sách, Cảnh Hưng có ít lắm 15 bộ mới đủ cho mướn…

Đặc biệt, những cuốn sách hồi xưa, xa lắc, xa lơ… xuất bản từ hồi… bà cố hỉ cố lai 8 đời vương ông hoãnh… nhà Cảnh Hưng cũng có !!! Như cuốn Tôi Kéo Xe của Tam Lang hay cuốn Con Trâu của Trần Tiêu in năm 1940 hoặc cuốn Chồng Con in năm 1941 !!!  Biết “rõ” như vậy là do Cô dạy Việt Văn cho “thuyết trình” ở lớp những Tiểu Thuyết xưa, mà sách… xưa ơi là xưa, thì chỉ có ở nhà Cảnh Hưng !!! Thế là học trò Đệ Lục tức tốc mượn về, để… mần thuyết trình trong lớp…

Sách cho mướn, được bao thêm bìa giấy xi măng, trên đó, viết chi chít ngày mượn…

Ngoài ra, học trò muốn mượn “cuốn nào hây hây”, thì… hỏng hiểu “do đâu”, ông Cảnh Hưng liền nói tuốt luốt một lèo cho nghe, cái nội dung cuốn “sách hây” hoặc là bất kể cuốn nào mà học trò còn… mù mờ, nghe xong, thế là học trò mượn liền ! Ông Cảnh Hưng còn… quảng cáo cuốn sách… thứ dữ… “chỉ tao mới có”…

Sách nầy thuộc loại “cái ban môn phái” mà học trò khi ấy… đang muốn luyện thử !  Đó là cuốn Lục Tàn Bang (quên tên tác giả) Đây là cuốn sách viết về… cái bang bảy tám túi, coi… hay hết kỵ luôn:

Lục Tàn là 6 nhân vật (tàn tật) gồm : Thằng đui, thằng điếc, thằng mất 2 giò, thằng mất 1 tay, thằng mất 1 chưn, thằng cụt 2 tay. Thằng đui làm… Bang Trưởng Lục Tàn !!! (ối trời… *&%#?><… ) Sáu ông cố tàn nầy… luyện chưởng, luyện gồng, luyện nghe, luyện thấy, luyện chạy… thuộc hàng cao thủ võ lâm… để trả thù cho sư phụ bị sát hại năm xưa…

Giới giang hồ cho rằng “môn phái” đó bị tiêu diệt, khi 6 đệ tử sau cùng bị thương nặng trong rừng, không ai cứu chữa và ai cũng tưởng… chết hết rồi ! Mấy thằng học trò Đệ Lục coi say mê Lục Tàn Bang luôn !!! Có thằng còn “luyện thử”… cách dòm xuyên màn đêm của cao thủ Lục Tàn Bang !!! Bởi vậy, thằng nào… non tay ấn, luyện nhản riết, tới độ mang kiếng cận dầy cui, chớ ở đó mà đổ thừa “tại bị”… rồi nói dóc là “tao lo học” tới cận thị!!! Ba-xạo quá nha mấy cha!!!

Trên đường Phan Đình Phùng, sáng sáng có xe lấy rác, có gắn cái chuông kêu leng keng. Cuối hẻm 376 là đình Phú Thạnh, là chỗ con nít ưa tụ tập, thả diều, bắn đạn… Trước nhà số 380 Phan Đình Phùng Sàigòn 3 có “phong tên” nước công cộng… Ở đó có đông người “chuyên gánh nước mướn”, được bà con các hẻm xung quanh “mướn” gánh nước mỗi sáng sớm, gánh từng đôi nước về nhà… Mấy bà (cô) gánh nước khoái đọc cuốn tiểu thuyết Rặng Trâm Bầu của Lê Xuyên !

Nước phong tên ở đây được chảy từ cái sa-tô-đô cũng nằm ở đường Phan Đình Phùng… và và… nếu ai… hà tiện, thì khi khát nước, cứ lại phong-tên khòm lưng mở vòi uống… chùa… Bà con gọi là “uống nước khum”…

Cùng phe gánh nước mướn ở phong-tên, cũng có mấy người “ở đợ” nhưng được gọi nghe cho… nhẹ hơn là “con sen”, sáng sớm cũng ra gánh nước về nhà cho chủ… Lúc đó và sau đó, Tân Nhạc với điệu Boléro thịnh hành trên khắp nẻo đường và có nhiều bản nhạc “hợp với tâm trạng – hoàn cảnh” nên Ca Sỹ thứ thiệt hát là rung động trái tim, nên được mấy bà chị gánh nước khoái, cứ nhè mấy bản đó hát mãi, tiếng ca “nhảo nhẹt” mà hát… hoài hoài hỏng biết chán, bà con nghe riết phát nhàm…

Dần dà, cộng thêm mấy chị… ma-ri-sến ”làm sở Mỹ”, rồi dân vũ nữ quán Bar, phòng trà… thuộc loại quá “date”… cũng hát những bản điệu Boléro thịnh hành ! Ma Ri Sến thất nghiệp cũng về gánh nước và cũng hát “bản tủ” như mấy chị kia… Cứ hát riết, phát ngấy, bà con gọi giọng hát đó là… giọng rên… ma ri sến !!!

Mấy chị… sáng sớm vừa chờ nước vô thùng vừa hát tân nhạc véo von, chỉ có vài bài tủ, mấy chị cứ hát riết nghe… phát mệt… (Đã vậy, nó còn “cộng hưởng” rồi “trùng tên” với… cái vụ con gái rơi của ngài thượng sĩ – tổng thống da đen Bocasa bên châu phi, tên cô là Mary… Cô Mary gái lai đen nầy ở vùng Ngã Năm chuồng chó, ngài tông-tông Bocasa nhờ báo Trắng Đen tìm dùm, thế là cô Mary… trở thành ngọc ngà châu báu… ) Và “miệng thế gian”… đặt cho chết tên cho giọng ca… mới nổi, giọng ma-ri-rến !

Giọng marisến… làm mệt lỗ tai… thính giả ! Hát “bản nhạc tủ” miết, làm cho nó… lờn, tới độ, bà con nằm nhà hay đi ngang… nghe… thì biết là tiếng hát của con Sến nào !!! Khi ở nhà bà chủ, tên là Con Sen, sau đó, nàng ra Vũng Tàu làm “ma ri sến”… ở mấy cái Bar Thiên Thai, Ạc-ăng-Sen… ở Bãi Trước… Vì vậy, giọng ca con sen hay con sến… đều như nhau… Và bà con… giận, khi nghe hoài mấy bản nhạc “tủ”, nên nói : – Mấy con nhỏ đó… là sến nướng… nên ca hoài !!! – Mấy con sến đó… ca đi ca lại miết, nghe mệt thấy mẹ !!!

Ở đầu đường Phan Đình Phùng, có nhà số 3 đó là Đài Phát Thanh Sàigòn… Ngã tư Phan Đình Phùng – Lê Văn Duyệt có tòa đại sứ Miên, bên kia đường là cây xăng rất lâu đời và ở ngã tư nầy, năm 63 hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu… Cũng ở ngã tư nầy, có tiệm cơm tàu, ở đây có món “cơm thố”… ngon bá chấy !!! Cơm thố được hấp trong cái xửng tre có cả chục ngăn, thố là chén nhỏ rí, chừng 3 muỗng cơm, vì vậy, ăn xong, thố chất 1 chồng 15 cái… cao như núi !!! Một số… dân chơi cầu 3 cẳng, loại tứ hải giai huynh đệ… tới ăn cơm thố ở đây, ý là, để khoe chồng thố cao nghệu… để “lấy le” với thiên hạ… đó nha bà con !!!

Phan Đình Phùng… cụng vô đường Lý Thái Tổ… ngay tại ngã ba… Ở ngã ba nầy, có Phòng Trà Lệ Liễu và chủ Phòng Trà là chị Ba Liễu ! Quán “Chị ba Liễu” là chỗ gặp mặt mỗi chiều tối của rất nhiều Nhạc Sỹ – Ca Sỹ Sàigon trước khi đi hát Phòng Trà hay Hát Rạp hoặc quán Bar… Đây là “quán ruột” của Thanh Kim, Đệ Nhất Danh Cầm Hạ Uy Di… DK, MLH, GL… hát ở Phòng Trà Lệ Liễu cho khách (rất đông) thưởng thức…

Thí dụ : DK ca bài Ai Ra Xứ Huế thì chị ba Liễu “trả công” là 1 ngàn 8… Có “chàng – lính” bận đồ trận bốn túi, đội Bê Rê đen, vì là em (đệ tử) của Thanh Kim, nên chàng ta… xâm mình, bậm gan, đổ lỳ, dám… thót lên sân khấu Lệ Liễu để hát bài Đường Xưa Lối Cũ và bài Tàu Đêm Năm Cũ… (cũ mèm không hà) .

Chàng hát… một cách khơi khơi, trong khi Nghệ Sỹ thứ thiệt ngồi lủ khủ ở đó… Chàng lính trận nầy, vì ỷ có Thanh Kim… lo, nên hỏng lo trật nhịp, chàng ta cất tiếng… véo von liên tiếp hai bài tân nhạc, thì Chị Ba Liễu… coi bộ… nghe được được, chị… tức tốc tiến ra sân khấu, liền… móc bóp, xỉa cho chàng 9 trăm đồng… gọi là “lính góp vui”, rồi Chị Ba còn… xúi… (quá đã) – Đêm nào, nếu rảnh… em tới hát nhen !!! Lính mà… hát vậy, được đó…!!!

– Dà dà… $%%$!!! (vô mánh) Anh chàng lính nầy, về đơn vị… móc xấp tiền, dứ dứ lên trời… hét: – Bữa nay, tao đãi anh em cả làng một chầu… cơm tấm – cà phê – thuốc lá !!! – Chắc còn… dư bộn tiền đó ông thầy !!! – Thì thì… Băm 3 mí lỵ tôm khô củ kiệu… cho sạch nhách luôn !!! – Hoan hô thẩm quyền !!! – Hé hé… cho xin chữ ký đi ông… khò khò…

Phòng trà Lệ Liễu là chổ Nghệ Sỹ Sàigòn… tụ lại nói dóc, trước khi đi hát… Và cũng là chỗ “tụ tập” của những tay tổ đờn vọng cổ Văn Vỹ, Năm Cơ, Ngọc Sáu… Khi Ca Sĩ hát xong tới khua, trước khi về nhà, lại tụ nhau ở quán Cháo Đêm sau hàng cây… dái ngựa cổ thụ ở đường Hồng Thập Tự, quán cháo cũng gần đường xe lửa từ bên đường Phan Đình Phùng chạy qua…

Cũng ở đường Phan Đình Phùng, ngay trong vòng chợ Vườn Chuối là nhà của Soạn Giả Nguyễn Phuong, khi ấy anh Nguyễn Phương có đứa con gái nhỏ cỡ trên 10 tuổi và nó cùng với Ba Má… đặt lời thoại cho vở cải lương !!! Cô gái nhỏ cùng ba má ngồi 3 góc trong phòng, đóng làm 3 nhân vật… nói chuyện, rồi đánh máy luôn, đó là ”làm thoại” để Nguyễn Phương “lấy câu trẻ con” soạn tuồng cải lương… Đó là cách Nguyễn Phương đang soạn tuồng và… bị bắt tại trận… hì hì…

Nguyễn Phương là Đạo Diển cho đoàn Thanh Minh Thanh Nga và mỗi tuồng cải lương được đánh máy sáu bảy bản để cho anh em “nhắc tuồng” đứng sau màn nhung hay cánh gà… đọc câu cho Đào Kép đứng ở ngoài sân khấu… nói hay ca !!! (cứ tưởng Đào Kép học thuộc lòng hết vở tuồng, hỏng có đâu nhen !!!)

Từ ngã tư Phan Đình Phùng – Lê Văn Duyệt chạy lên tí nữa là Ngã 6 Sàigon, ngay “bùng binh” ngã 6 nầy, có xe lửa chạy qua và là chổ bắt đầu của đường Yên Đổ, ở đây, trên đầu đường Yên Đổ,có khu Kiều Lộ (sửa, tráng dầu đường hư… ) Nằm chung trong khuôn viên khu Kiều Lộ… là Sở Phú De đó đa!!! Phú De là chổ… nhốt chó chạy rong, bị “xe bắt chó” bắt được trong đường phố! Ai mất chó, cứ vô Phú De tìm là y như rằng… nó ngự ở đó và bỏ tiền chuộc chó về! Bởi đó, hồi xưa, DA trong báo CO có viết bài Phú De Giao Chỉ, đọc nghe nhức xương Trong khu Kiều Lộ nầy có cái… cưa tay, bự chà bá, dùng xẻ gổ lóng…

Ở đây có Kỹ Sư Bê và Hồ Lợi và Hồ Lợi là dân chơi tài tử… chánh cống bà lang trọc. Trong văn phòng khu Kiều Lộ của Hồ Lợi… có tùm lum… đờn cò, gáo, xến, ghi ta thùng, ghi ta phím lỏm… treo tá lả trên tường, để nhân viên nào… quởn mà khoái đờn vọng cổ thì cứ vô… tập dợt thả giàn và… Hề Minh và danh cầm Thanh Kim, Tạo Minh Đời… vv… xuất thân từ đây ! Hề Minh là danh hề diễu có tiếng trên bầu trời Cải lương một thời…

Tạo Minh Đời cười được 18 giọng riêng biệt và còn có khiếu một mình vừa nói giọng ông nội, giọng cháu nội trai, gái, giọng con gái… rất hay, giống y giọng… như trong “gia đình bác tám”… nhất là giọng chó mèo cắn lộn… là nghe hay hết phản luôn ! Nhứt là… mở đầu câu… a… bê… cê… ca… nháy giọng xe lửa đề pa… của bản Chuyến Xe Lửa Mồng Năm của Trần văn Trạch… y chang Trần văn Trạch !… nhưng “hỏng có thời” nên anh Đời không nổi tiếng như anh Minh và anh Kim… Thanh Kim là Đệ Nhất Hạ Uy Di Cầm chuyên đờn 6 vọng cổ… nhưng né… ló mặt trước bàn dân thiên hạ truyền hình,

Thanh Kim chỉ đờn cho gánh hát và chơi tân nhạc cho quán Bar và Phòng Trà và học trò Thanh Kim là TKH… – Anh Kim, sao anh chỉ “thâu dỉa” mà hỏng thấy anh lên sân khấu hay truyền hình ? – Tao… xí-giai thấy bà… miệng rộng tàn hoạt, cười hô hố, tướng tá như đấu bò ! – Thì… có sao đâu… – Tao… trốn… để khán thính giả tưởng tao… đẹp trai đó mầy… hỏi hoài !!! – Ờ ờ… hehehe…

Năm 1965 đường Xa Lộ Saigon – Biên Hòa làm xong và dọc bên đường xa lộ đang đào để xuống ống cống vuông vuông lọt lòng trên 2 mét của Sàigòn Thủy Cục… Lúc đó, chạy xe gắn máy ở Xa Lộ thiệt… là êm, êm như mơ… Do đó, mấy tay anh chị… mới dám đi Gobel, Sachs, Rummi… chui lòn qua bụng xe be trên có 3 lóng gỗ… dài thòn bự tổ kền, đó là… chọt lét tử thần !!!

Cũng thời… xa xưa ấy, khi chở “người đẹp” ngồi đằng sau Xe Gắn Máy thì hai chân người đẹp Để Về 1 Bên, không Cô nào… dám gác cẳng 2 bên !  Nếu xe chở là chiếc Vespa Spring… thì thấy “nàng” ngồi sau… ôm eo ếch bác tài… thì… thì… ngó, thấy… đẹp như mơ luôn !!! Còn nói gì “mấy nhỏ áo dài trắng” đi Vélo Solex… thì dòm… hết phản nghen!

Gỗ rừng đem về đổ đống ở chỗ ngã ba xa lộ đi Vũng Tàu, nên ngã ba nầy có tên Ngã Ba Bến Gỗ… Từ ngã ba Bến Gỗ tới một xí là Căn Cứ Long Bình của Quân đội Mỹ… Chỉ mỗi phút buồn mà… quá xá chuyện xưa tích cũ…(theo Chàng Hiu 374)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

LẠM BÀN VỀ CHUYỆN “SẾN”

logo-phiem

9-ng-ngoc-chinh“SẾN” HAY “SANG”?

– Nguyễn Ngọc Chính

Kho từ vựng Sài Gòn xưa có một thuật ngữ đã đi sâu vào cuộc sống và cho đến ngày nay người ta vẫn còn dùng với hàm ý miệt thị, chê bai hay chí ít cũng là đánh giá thấp.  Chỉ một chữ “Sến” cũng đủ để gây nhiều chuyện bất bình, thậm chí còn khiến người ta phải đỏ mặt tía tai vì tranh cãi.

Một bức thư tình mùi mẫm với những lời lẽ như “… đêm nay trăng thượng tuần lên cao, anh nhớ em vô vàn, em có biết chăng em một kẻ si tình đang độc hành trong đêm lạnh lẽo ?” sẽ bị cho là “thư viết theo kiểu… sến”. Nhiều người cho rằng tán gái theo kiểu sỗ sàng “Em đi đâu đó cho anh theo cùng ?” cũng là một cách tống tình theo kiểu… sến. Cô gái áo quần lòe loẹt có tông màu xanh đỏ chỏi nhau thế nào cũng bị xem là “diện theo kiểu… sến”.

Bước sang hội họa, họa sĩ Trịnh Cung lại khẳng định, “Trong tranh vẫn có “sến” chứ ! Ví dụ như tranh của họa sĩ Lê Trung trước đây. Ông thường vẽ phụ nữ ngực tròn, mặc áo bà ba đội khăn hoặc nón rất Sài Gòn. Nói chung là bình dân…”. Tranh vẽ của Lê Trung (1) thường xuất hiện trên các báo “lá cải” như Phụ nữ Diễn đàn,  Sài Gòn Mới… và dĩ nhiên những tạp chí này cũng được xếp vào loại báo… sến !

Nhưng trước hết chúng ta hãy thử tìm hiểu nguồn gốc của chữ “sến”. Cho đến nay, có rất nhiều cách giải thích trong việc truy tầm từ nguyên.

9-sen-sang-1-le-trungGiáo sư Cao Xuân Hạo (2) giải thích, “Theo tôi, gốc của từ ‘sến’ phải bắt đầu từ chữ ‘sen’ trong nghĩa con sen, là đứa ở, con ở […] Còn nếu ứng dụng vào văn chương, nghệ thuật thì ám chỉ khẩu vị thấp hèn, ít có giá trị.”.

Lối giải thích từ “sen” biến thành “sến” có thể tạm chấp nhận nhưng kể cũng lạ khi giáo sư Hạo theo chuyên ngành ngôn ngữ học lại dùng cụm từ “khẩu vị thấp hèn”. Thường khi nói đến “khẩu vị” người ta liên tưởng đến cái “gu” trong ăn uống chứ làm sao lại có được “khẩu vị” trong văn chương, nghệ thuật ?

Có một cách giải thích khác, không mang tính học thuật như giáo sư Cao Xuân Hạo, mà lại dựa vào thực tế hồi đầu thập niên 60 tại Sài Gòn. Đó là thời thịnh hành của bộ phim Anh em nhà Karamazov (The Brothers Karamazov), chuyển thể từ tiểu thuyết cùng tên của nhà văn Nga, Fyodor Dostoyevsky.

Trong phim có cảnh một vũ nữ hộp đêm vừa múa vừa hát bài Mambo Italiano theo điệu mambo – cha cha cha. Cô vũ nữ mặc y phục “nghèo nàn”, thân hình bốc lửa, tóc tai rũ rượi, gào thét và rên rỉ, quằn quại và khiêu khích… Diễn viên đóng vai vũ nữ ấy là Maria Schell trước đó chưa hề nổi tiếng nhưng nhờ màn múa đầy ấn tượng này, tên cô được quảng cáo ngang hàng với tài tử Yul Brynner của Hollywood.

https://youtu.be/kbIWfH46PeA?list=PLQWeL_0VczG3wfOyhGDN0zUR_Oho_A7ln

9-sen-sang-2bPhim chiếu tại các rạp ở Sài Gòn cả tháng vẫn chưa hết người xem, sau đó bắt đầu xuất hiện những người ái mộ Maria Schell. Người ta nói, cái tên Maria Schell được Việt hóa thành “Mari Sến”.

Tôi không tin là như vậy. Sến xuất hiện trong ngôn ngữ Sài Gòn ngay sau khi có cuộc di cư vĩ đại của người miền Bắc vào Nam năm 1954, nghĩa là trước khi phim anh em nhà Karamazov đến Sài Gòn. Trước 1954, người miền Bắc dùng từ “con sen” để chỉ người giúp việc trong khi miền Nam gọi là “ở đợ” và ngày nay còn được gọi là “Ô-Sin”.

“Sen” thường là những cô gái quê, con nhà nghèo, ít học, phải ra Hà Nội để kiếm sống bằng nghề giúp việc nhà. Sau 1954, “Sen” cũng di cư vào Nam. Ở Sài Gòn khi đó nước máy chưa được đưa tới từng nhà nên chiều chiều các cô sen lại tụ tập quanh máy nước (fontaine) để hứng nước gánh về nhà, từ đó lại đẻ thêm cái tên “Mari-Phông-tên”.

Và Mari Sến hay Mari Phông-ten cũng đã đi vào thơ văn. Một nhà thơ nào đó đã không hết lời ca tụng người em… Sến :

Em phải là người em Sến không

Sao môi em đỏ, ngực em phồng

Thân hình ngào ngạt mùi son phấn

Anh muốn gì em, em biết không ?

Cũng có giải thích đại loại như Sến bắt nguồn từ tiếng Anh “sentimental”, có nghĩa là đa cảm, ủy mị… 9-sen-sang-2Tôi không tin là như vậy vì sentimental hoàn toàn không hàm ý miệt thị, chê bai còn Sến của ta lại mang đậm nét mỉa mai, châm biếm. Nói theo nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Phan : “sến” là biểu hiện những dạng thị hiếu thẩm mỹ dưới mức trung bình.

Cứ như thế, chữ “sến” bị lạm dụng trong ngôn ngữ hàng ngày để gán cho những gì thuộc loại “hạ cấp” theo suy nghĩ của người sử dụng từ ngữ. Nổi bật nhất trong lãnh vực âm nhạc là “trường phái” nhạc… sến khởi đầu từ thập niên 60 với tiết điệu boléro, rumba… Những nhạc sĩ tiêu biểu của trường phái này có thể kể đến Lam Phương, Hồ Đình Phương, Vinh Sử, Thanh Sơn…

Theo nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9, điệu bolero mang âm hưởng bình dị của dân ca Nam Bộ : “Phần đông ca sĩ, nhạc sĩ là người miền Nam nên hát và viết bài hát mang chất dân ca bình dân của người Nam. Họ viết nhạc phần đông ở giọng thứ, khi hát với bolero, nó đúng cái nhịp của người miền Nam. Dân ca miền Nam rất hợp bolero. Bên tân cổ giao duyên, phần đông hát vọng cổ xong đều chuyển qua bolero. Hai cái đó dính liền, pha với nhau. Từ đó có âm hưởng bolero trong âm nhạc Việt Nam”.

Bình luận về điệu bolero của Nguyễn Ánh 9, một nhạc sĩ người miền Nam, lại gợi đến một ý cho rằng những người Bắc di cư năm 1954 không thích nhạc phẩm do người Nam sáng tác, họ cũng không quen với cách phát âm của các ca sĩ người miền Nam khi hát. Ngoài ra, họ lại sợ cạnh tranh với nhạc tiền chiến của những nhạc sĩ người miền Bắc nên mới đặt ra danh từ “Nhạc Sến” với ý chê bai.

9-sen-sang-3-nguyen-anhNhà thơ Hữu Loan, người miền Bắc, làm bài thơ Mầu tím hoa sim rất nổi tiếng nói về một cô gái lấy chồng đi bộ đội, chồng không chết mà cô ta chết. Một chuyện tình rất lâm ly vào thời kháng chiến với kết cuộc :

Nhưng không chết người trai khói lửa

Mà chết người em gái nhỏ hậu phương.

Bài thơ này được phổ nhạc thành 2 nhạc phẩm: Những đồi hoa sim của Dzũng Chinh (nguời miền Nam) và Áo anh sứt chỉ đường tà, của Phạm Duy, người Bắc. Áo anh sứt chỉ đường tà với âm điệu lên xuống, luyến láy, rất khó hát và hình như chỉ những giọng ca điêu luyện của Vũ Khanh, Sĩ Phú, Duy Quang, Duy Trác, Elvis Phương mới thành công còn Những đồi hoa sim thì ca sĩ nào cũng có thể hát được, từ Phương Dung, Tuấn Vũ cho đến Thanh Tuyền, Như Quỳnh…

Trong trường hợp này, nếu làm một cuộc khảo sát bỏ túi về sự lựa chọn giữa “nhạc sến” và “nhạc sang”, ta sẽ có ngay kết quả: Những đồi hoa sim là “nhạc sến”. Nhưng thiết nghĩ, đó là sự lựa chọn mang tính cách “địa phương” của những người có gốc từ miền Bắc di cư vào Nam năm 1954.

Sự khác biệt về cá tính giữa người Nam và người Bắc nói riêng và giữa hai miền Nam-Bắc nói chung là người miền Nam thì bình dị, thường nói “huỵch tẹt” ý nghĩ của mình, trong khi Bắc Kỳ thì lại khách sáo, ưa nàu mè… trong lòng muốn lắm nhưng ngoài mặt cứ giả vờ như không.

Lời ca của dòng nhạc bolero miền Nam rất bình dân, mộc mạc, dễ nhớ và cũng dễ hát. Đó là những lời chân thực từ trái tim, chẳng hạn như trong bài Duyên kiếp của Lam Phương, cô gái cất tiếng hát “Anh ơi nếu mộng không thành thì sao ? Non cao, biển rộng biết đâu mà tìm…” hoặc bài Quen nhau trên đường về của Thăng Long có 9-sen-sang-4câu “Chiều nay có phải anh ra miền Trung, về thăm quê mẹ cho em về cùng…”.

Rõ ràng là nhạc sến không có triết lí cao siêu, mà toàn là những câu, những chữ mà ngay cả anh xích lô và chị “buôn thúng bán mẹt” ngoài chợ có thể hiểu được vì đó là những lời… “nghĩ sao nói vậy”: “Tại anh đó nên duyên mình dở dang, em nào mộng mơ quyền quý cao sang…” hoặc “Tôi với nàng hai đứa nguyện yêu nhau. Tha thiết từ đây cho đến ngày bạc đầu…”.

Theo nhiều người, ca khúc Người yêu cô đơn của Đài Phương Trang là một bản nhạc “đặc sệt” chất sến. Nghe Chế Linh than thở, rên rỉ khiến có người nghe phải… rùng mình, rợn tóc gáy, nổi da gà:

“Đời tôi cô đơn nên yêu ai cũng cô đơn / Đời tôi cô đơn nên yêu ai cũng không thành / Đời tôi cô đơn nên yêu ai cũng dở dang / Yêu ai cũng lỡ làng dù rằng tôi chẳng lỗi chi… Trời cho tôi cô đơn bao nhiêu lần nữa đây / Tôi không hề trách đời hay giận đời mau đổi thay”

9-sen-sang-5– Người yêu cô đơn – Tuấn Vũ

https://youtu.be/HEOH2UEiTqA

– Tuyển tập Chế Linh – 4:00’ :

https://youtu.be/M9INuAmNo8M

– Người yêu cô đơn, Chế Linh :

http://mp3.zing.vn/bai-hat/Nguoi-Yeu-Co-Don-Che-Linh/ZWZABOW7.html

– Người yêu cô đơn, Ken Nguyễn :

http://mp3.zing.vn/bai-hat/Nguoi-Yeu-Co-Don-Remix-Ken-Nguyen/ZW6W9969.html

9-sen-sang-6-tuan-vuCũng trong Người yêu cô đơn được remix với tiết tấu nhanh hơn pha trộn những đoạn “nói lối” theo kiểu rap, ca sĩ Ken Nguyễn đã khiến bài hát bớt đi chất sến và dĩ nhiên là được nhiều người chấp nhận.

Thế cho nên, sến hay không là còn tùy cách trình diễn của người hát chứ không phải “một khi bản nhạc đã sến thì ai hát cũng vẫn là sến”!  

Ở một thái cực tương phản, cái gọi là nhạc “sang” lại dùng những ca từ mà chính những người “trí thức” cũng không hiểu hết những gì mình hát.  Mấy ai đã cảm nhận hết những câu hát đại loại như “Ta thấy em trong tiền kiếp với mặt trời lẻ loi” hoặc “Ôm lòng đêm, nhìn vầng trăng mới về, nhớ chân giang hồ. Ôi phù du, từng tuổi xuân đã già, một ngày kia đến bờ, đời người như gió qua”.

Tôi nghĩ, ngay chính bản thân người nhạc sĩ khi viết những lời như trên sẽ lúng túng khi có người cắc cớ nhờ giải thích cho rõ!

Phạm Duy với ca khúc Giết người trong mộng là một trường hợp khác hẳn. Từ bài thơ Hành khất của Hàn Mặc Tử ông đã phổ nhạc thành một bài hát mang sắc thái “sắt máu”, lập đi lập lại những động thái “giết người”, “giết người đi”… để “trả thù duyên kiếp phũ phàng” và để trừng phạt kẻ “quên tình nghĩa phu thê”.

Làm sao giết được người trong mộng

Để trả thù duyên kiếp phụ phàng ?

Có lẽ không ai coi Giết người trong mộng là nhạc sến nhưng nhiều người vẫn không thoải mái khi phải hát những câu giết chóc từ đầu đến cuối bài hát. ca-nhac-2Bảo Giết người trong mộng là nhạc sang lại càng không đúng vì nó thiếu tư tưởng “hàn lâm” của một bản nhạc sang trọng.

Cũng cần phải nói thêm, miền Nam trước đây có tới hai dòng nhạc chính. Đầu tiên là Nhạc Vàng và tiếp đến là Nhạc Sến. Vào đầu thập niên 60, nhạc sĩ Phó Quốc Lân cho ra mắt ban Nhạc Vàng trên đài truyền hình Sài Gòn, ông cũng là tác giả những bản nhạc như Xuân ly hương, Hương lúa miền Nam, Mong ngày anh về, Vui khúc tương phùng…

Những hãng phát hành băng và đĩa nhạc cũng cho ra nhiều sản phẩm với tên gọi “Nhạc Vàng” như Hương Giang, Dạ Lan của nhạc sĩ Anh Bằng, và Shotguns của Ngọc Chánh. Tại miền Nam, nhạc vàng khi đó được hiểu là thể loại nhạc tình êm dịu, có tình yêu quê hương, tình yêu lứa đôi hoặc có nỗi lòng riêng tư của người lính chiến.

Những tác giả với tên tuổi gắn bó với Nhạc Vàng phải kể đến Phạm Duy, Văn Phụng, Anh Bằng, Nguyễn Văn Đông… và thế hệ nhạc sĩ kế tiếp là Trịnh Công Sơn, Ngô Thụy Miên, Từ Công Phụng, Trần Thiện Thanh…  Đó cũng là thời của các ca sĩ như Thái Thanh, Thanh Thúy, Hoàng Oanh, Khánh Ly, Hà Thanh, Thanh Tuyền, Chế Linh, Duy Khánh, Tuấn Vũ, Hương Lan, Giao Linh, Thanh Lan, Hùng Cường và Mai Lệ Huyền…

Thời của Nhạc Vàng nổi bật với những ca khúc đã đi sâu vào tâm thức người miền Nam như Giọt mưa trên lá (Phạm Duy), Khúc ca ngày mùa (Lam Phương), Hoài thu (Văn Trí), Xóm đêm (Phạm Đình Chương), Ai lên xứ hoa đào (Hoàng Nguyên), Nắng chiều (Lê Trọng Nguyễn), Đường xưa lối cũ (Hoàng Thi Thơ), Nửa đêm ngoài phố (Trúc Phương), Thương hoài ngàn năm (Phạm Mạnh Cương), Nắng lên xóm nghèo bac-ky-2(Phạm Thế Mỹ)…

Ở Miền Bắc, dưới chế độ Xã hội Chủ nghĩa, từ thập niên 1950 đã du nhập khái niệm “nhạc màu vàng” từ Trung Hoa và bị coi “là thứ âm nhạc lãng mạn, bi quan, hoặc khêu gợi tình dục và những khát vọng thấp hèn”. Phong trào bài trừ “nhạc màu vàng” dưới thời Mao Trạch Đông cũng lan sang miền Bắc nên dòng nhạc tiền chiến thịnh hành trước năm 1954 cũng phải câm nín vì bị cấm.

Sau khi Sài Gòn sụp đổ, nhạc vàng gần như biến mất và thay vào đó là… nhạc “đỏ” của cách mạng. Thật ra thì nhạc vàng vẫn sống trong lòng người Sài Gòn qua những khúc hát nghêu ngao từ cửa miệng người dân, hoặc nghe trộm qua BBC, VOA hoặc nghe lén qua băng cassette còn sót lại sau chiến dịch “bài trừ văn hóa đồi trụy”.

Mãi đến khi bắt đầu thời kỳ Đổi Mới thì các loại nhạc vàng, nhạc sến mới dần dà được chính quyền “xét lại” và cho phổ biến một cách hạn chế, tùy theo tác giả và tác phẩm.  Năm 1986, lần đầu tiên nhà nước cho ra danh mục 36 tác phẩm âm nhạc của Miền Nam trước kia nay được phép công khai trình diễn. Danh sách này sang thập niên 1990 thì bỏ, thay vào đó là danh sách nhạc cấm có liên quan đến người lính Việt Nam Cộng hòa.

Cơ quan văn hóa đề nghị cổ xúy nhạc xanh, tức nhạc trẻ của thời đại Đổi Mới, nhưng xem ra không thành công. Trong khi đó, số người nghe nhạc vàng ngày càng đông, không chỉ ở phía nam vĩ tuyến 17, ở hải ngọai mà cả ở miền Bắc, thậm chí còn theo chân người Việt đi lao động ở Liên Xô và Đông Âu vào thập niên 1980.

dan-ong-1Sang thế kỷ 21, những nhà kinh doanh và tổ chức ca nhạc trong nước đã thực hiện nhiều buổi trình diễn nhạc vàng, họ đưa ca sĩ từ hải ngoại về hát. Vào tháng 8/2010 hai ca sĩ mà tên tuổi gắn liền với nhạc sến là Hương Lan và Tuấn Vũ đã trình diễn những bản nhạc vàng ở Nhà hát Lớn Hà Nội suốt nửa tháng trời với giá vé lên đến 1,7 triệu mà mỗi suất vẫn kín chỗ.

Trong một bài phỏng vấn, “Vua Nhạc Sến” Vinh Sử đã lên tiếng : “Với tôi, không hề có “nhạc sến” mà chỉ có nhạc hay và nhạc dở mà thôi (đương nhiên nhạc hay mới có giá trị). Nếu từ “nhạc sến” là dùng để chỉ dòng nhạc dành cho giới bình dân thì tôi chịu lắm và tôi rất tự hào khi được rộng rãi quần chúng hát nhạc của mình”.

Theo nhạc sĩ Vinh Sử, ở Sài Gòn trước 1975, giới làm nhạc rất dễ kiếm tiền. Tiền tác quyền một bản nhạc có khi mua được cả một chiếc xe hơi, nhạc sĩ lại được “đặt hàng” tới tấp, do vậy mới nảy sinh ra loại “nhạc thị trường” được viết theo kiểu “mỳ ăn liền”. Đó chính là thời kỳ Vinh Sử tung ra các ca khúc như Nhẫn cỏ cho em, Yêu người chung vách, Trả nhẫn kim cương

Sau 1975, nhạc của Vinh Sử có “e” (air) nhạc dân gian, mang âm hưởng cổ nhạc, chẳng hạn như Tình ngoại, Bằng lòng đi em, 9-sen-sang-7-vinh-suĐể tóc nàng ngủ yên, Qua ngõ nhà em, Làm dâu xứ lạ, Nhành cây trứng cá… Vinh Sử than thở : “Cái đẹp của quê hương mình sao mình lại không ngợi ca, tôn vinh mà lại dè bỉu là… “sến”? […] Tôi đã từng nói : “Bao giờ nước mình giàu, không còn người đạp xích lô, thợ hồ, ô sin… lúc đó tôi sẽ viết… nhạc sang !”

Có người lại quả quyết nhạc sến được khai thác từ cổ nhạc. Điều này tôi nghĩ không chính xác vì cổ nhạc, chẳng hạn như vọng cổ, viết theo ngũ cung (hò, xự, xang, xê, cống), còn tân nhạc nói chung và điệu boléro nói riêng có đến 7 nốt (do, re, mi, fa, sol, la, si). Phải chăng kết luận như thế vì sự lầm lẫn khi nghe những bài “tân cổ giao duyên” nên cứ tưởng là phần tân nhạc lấy từ cổ nhạc (?).

Nếu nhạc sĩ Vinh Sử được phong tặng là “Vua Nhạc Sến” thì ngôi vị “Nữ Hoàng Nhạc Sến” chắc phải dành cho ca sĩ Hương Lan, con gái của kép cải lương Hữu Phước (3).

Hương Lan vào nghề hát từ ngày hãy còn là “Em bé Hương Lan” và đã được rất đông người ngưỡng mộ với chất giọng miền Nam mượt mà, mùi mẫm. Tuy nhiên, cũng có những người không thích vì họ cho là cô chuyên hát dòng nhạc sến. Ca sĩ Hương Lan khẳng định:

“Âm nhạc có nhiều dòng khác nhau: nhạc dân ca, nhạc trữ tình…, nhưng không có dòng nhạc sến. Tôi không biết những người hay dùng từ sến để chê một bài nào đó, họ có hiểu “sến” là gì hay không; hay cái gì không thích thì đều cho là “sến”.

9-sen-sang-8-ca-siCũng theo Hương Lan, “cải lương” là một loại hình nghệ thuật thì làm sao người ta có thể tùy tiện sử dụng “cải lương” như một tính từ mỗi khi muốn chê cái gì đó, chẳng hạn như “văn chương cải lương”, “ăn nói cải lương”… với ý dè bỉu, coi thường bộ môn nghệ thuật dân gian vốn có từ lâu của người Việt nói chung và người miền Nam nói riêng. Hương Lan thẳng thừng tuyên bố :

“Tôi xem đó là sự chọc ghẹo, coi thường và nhục mạ rất tệ hại, nếu không nói là vô văn hóa. Nhưng đó là khán giả chê. Đáng buồn hơn, ngay cả người trong giới [ca nhạc] cũng nói như vậy. Các em [ca sĩ] dù có nổi tiếng đến đâu, hát nhạc sang thế nào thì cũng đừng nên coi thường các loại nhạc khác”.

Có khoảng hơn 2.000 bài hát được sáng tác dưới thời Đệ nhất và Đệ nhị Cộng Hòa tại miền Nam từ năm 1954 đến 1975. Điều rõ ràng là không thể phân biệt được bài nào thuộc loại sến, bài nào thuộc loại không sến chứ chưa nói gì đến loại nhạc sang trọng theo kiểu hàn lâm.

9-sen-sang-9-ca-siThiết nghĩ, sến hay sang còn tùy vào nhiều yếu tố bao gồm nhạc điệu, lời ca và kỹ thuật trình diễn. Ba yếu tố đó có tầm ảnh hưởng lẫn nhau vì không phải cứ điệu bolero hay rumba là bài hát trở thành sến, ca từ không phải cứ mộc mạc là thuộc dòng nhạc sến và người hát nếu chú ý đến phong cách biểu diễn cũng có thể biến một bản nhạc cứ tưởng như thuộc loại sến trở thành một ca khúc được người nghe chấp nhận.  (theo Nguyễn Ngọc Chính – Hồi ức một đời người)

Chú thích :

(1) Họa sĩ Lê Trung sinh năm 1919 tại Châu Đốc. Ông là cựu sinh viên trường Mỹ nghệ Gia Định và trường Mỹ thuật Hà Nội. Lê Trung chuyên về chân dung, phong cảnh, tĩnh vật trên phấn màu và thủy họa.

(2) Cao Xuân Hạo (1930-2007) là một nhà ngôn ngữ học người Việt với nhiều đóng góp trong việc định hình phương pháp phân tích cấu trúc câu tiếng Việt. Ngoài ra, ông còn là một dịch giả, giáo sư văn chương uyên bác.

Từ nhỏ, ông đã nổi tiếng với giai thoại tự học nghe, nói và viết thành thạo tiếng Pháp chỉ từ việc chơi với một người bạn Pháp. Ông từng làm giảng viên ngôn ngữ học, khi đó ông đảm nhận phần lớn công việc dịch sách và hiệu đính các sách dịch tại bộ môn ngôn ngữ học, tại Đại học Tổng hợp Hà Nội.

9-sen-sang-10Ông nổi tiếng cả với tư cách nhà ngôn ngữ học và dịch giả, và là thành viên Hội Nhà văn Việt Nam. Giáo sư Cao Xuân Hạo từ trần ngày 16/10/2007 tại Sài Gòn sau hai tuần nằm bệnh từ một cơn đột quỵ.

Tác phẩm của Cao Xuân Hạo về ngôn ngữ học – Tiếng Việt – Mấy vấn đề ngữ âm, ngữ pháp và ngữ nghĩa. (Nhà xuất bản Giáo dục, 1998). –  Tiếng Việt – Văn Việt – Người Việt (Nhà xuất bản Trẻ, 2001) – Tiếng Việt sơ thảo ngữ pháp chức năng. (Nhà xuất bản Khoa học xã hội và Công ty văn hóa Phương Nam, 2006).

Truyện dịch: · Người con gái viên đại uý (truyện 1959). · Chiến tranh và hòa bình (tiểu thuyết 1962).· Truyện ngắn Goócki (1966).· Con đường đau khổ (tiểu thuyết 1973). · Tội ác và hình phạt (tiểu thuyết – xuất bản năm 1983 với tên Tội ác và trừng phạt do BTV tự ý sửa). ·Đèn không hắt bóng (1986). – Papillon (1988).· Nô tỳ Isaura (tiểu thuyết 19??).

(3) Đoạn này người viết Nguyễn Ngọc Chính – có nhận định hơi khập khiểng. Nếu nói hát nhạc sến hay thì p\hải kể đến Hùng Cường và Thanh Tuyền, còn Hương Lan là kẻ “hậu sanh” chỉ nổi vào thập niên 1990 ở Hải ngoại. (admin)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

TÍNH CÁCH NGƯỜI SÀI GÒN

logo-khoi-hai

9-o-ga-1CÁI Ổ GÀ …

CTNB bước ra thang máy, quẹo phải quẹo trái, dừng lại trước một căn hộ cao cấp, khẽ đưa tay bấm chuông, cánh cửa mở, chàng ta chợt sững sờ bối rối trước sắc đẹp bốc lửa của một người phụ nữ trạc tứ tuần :

– Ô, xin lỗi cô, có lẽ tôi lầm nhà, tôi có hẹn với cô Marie Sen

Người phụ nữ nhoẻn miệng cười duyên dáng :

– Tôi là cô Sen đây, mời ông vào …

Sau khi mời khách ngồi vào ghế, cô Sen loay hoay pha cà phê mời khách, CTNB có dịp quan sát cô thầy bốc quẻ tử vi nổi tiếng do bạn bè giới thiệu, chàng ta đi xem quẻ bói đầu năm ấy mà. Cô Sen nổi danh tài bốc quẻ ra sao thì chưa biết nhưng riêng về sắc đẹp và hình dáng thì không chê vào đâu được dù tuổi cô đã trạc tứ tuần, cái tuổi như quả xoài chín cây vàng ánh thơm phức chực rụng.

Cô Sen rất khéo trang điểm từng chi tiết, không tìm ra khuyết điểm, đôi môi dày he hé vừa đủ đầy sức quyến rũ mời mọc dễ làm siêu lòng người đối diện, đôi mông đầy đặn nhè nhẹ đong đưa theo bước đi uyển chuyển, cô lại ăn mặc rất khéo, chiếc áo hở ngực không kín đáo cũng không hở hang, vừa đủ để khoe bộ ngực đầy nhựa sống để gây sự tò mò những đôi mắt háo hức của đàn ông, ngay cả chiếc váy cũng không dài không ngắn, cả một trời nghệ thuật để thu hút cái nhìn của nam giới…

9-o-ga-2Chìm đắm trước vẻ đẹp, CTNB chợt giật mình vì tiếng thỏ thẻ của cô Sen :

– Xin mời ông dùng cà phê ạ, tôi có thể giúp gì cho ông ?

CTNB khẽ mỉm cười :

– Tôi nghe bạn bè giới thiệu rất nhiều về cô, tôi tìm đến cô để nhờ bốc quẻ đầu năm xem tương lai như thế nào ạ.

Cô Sen chăm chú nhìn CTNB một lúc lâu rồi nhoẻn miệng cười :

– Không cần bốc quẻ ông ạ, nhìn dung mạo và tướng ông tôi biết tương lai ông sẽ lên.
Câu trả lời hai nghĩa ấy làm CTNB bật cười :

– Lên gì thưa cô ? Tuổi tôi vừa về hưu, tương lai công danh sự nghiệp đã xếp lại, còn gì để lên ?

Cô Sen giải thích :

– Không, ông đã nghĩ sai, ông sẽ lên, ông là con ngựa hoang, chính công ăn việc làm 9-o-ga-3là sợi dây cương đã kềm hãm ông trong suốt thời gian qua làm ông không còn thời giờ để phát triển, nay ngựa đã tháo cương, con đường rộng mở trước mặt.

Trong lúc CTNB nhíu mày suy nghĩ, cô Sen chợt nghiêm giọng :

– Nhưng trên khuôn mặt ông, có một điểm nó phá, nói theo bói toán là khắc số, đó là đôi mắt, ông có đôi mắt rất gian, nó cứ láo liên.

CTNB chợt đỏ mặt :

– Vâng, có lẽ cô nói đúng, nhưng đôi mắt tôi thay đổi, trước kia nó rất bình thường, từ lúc tôi về VN lái xe nó cứ láo liên cô ạ không thì xe nó tông cho bỏ mạng, phải nhìn trước, nhìn trái, khổ thân nhất lại nhìn phải vì đám xe chạy ngược chiều, nó khổ vậy cô ạ .Vui ve

Cô Sen hóm hỉnh :

– Thì ra thế, nhìn trước, nhìn trái, nhìn phải thì đúng đi nhưng láo liên nhìn xuống phần dưới thì ông giải thích thế nào ạ ?

CTNB càng đỏ mặt, nhẹ móc túi lấy đôi kính mát đeo vào che đôi mắt, cười gượng :

– Thì cũng cái vụ lái xe cô ạ, phải nhìn xuống dưới để tránh ổ gà không thì té bể mặt, đường xá VN cô thừa hiểu mà … (theo DH – CTNB)

Hai Điếu ĐĐ chuyển tiếp

9-ho-tu-than-1HỐ TỬ THẦN VÀ CÁI Ổ GÀ

Hình ảnh video clip hố tử thần :

https://youtu.be/7XpjimK84Ic

Hôm qua giờ bà con trầm trồ ngưỡng mộ mấy ông Nhựt Bổn quá xá. Cái hố tử thần tổ chảng trên đường, ống nước bể chạy lênh láng, vậy mà chỉ có vài ngày mấy ổng đã vá phẳng phiu đẹp không tì vết !

Còn ở mình… Cái hố tử thần ở bờ kinh Nhiêu Lộc chừng 10m2 sụp hồi đầu tháng 8 đến giờ qua lại vẫn “công trình đang thi công” !

– Bì sao được với người Nhật. Họ có công nghệ cao, máy móc tốt, tài chính mạnh. Đến người Anh thấy người Nhật vá hố mà còn phải khóc thét vì không thể theo kịp kia mà !

– Ừ, vậy chuyện đó bỏ qua. Nhưng rất hay là ông thị trưởng nơi có hố tử thần đã lên tiếng xin lỗi người dân “về sự bất tiện” bất khả kháng mà người dân phải chịu đựng trong những ngày sụp hầm. Chỉ một câu nói thôi nhưng làm người dân mát lòng mát dạ.9-ho-tu-than-2

– Tưởng gì ! Một câu nói thì ai làm hổng được. Chẳng qua là ông này quá… tình cảm nên ổng thể hiện văn hóa, thế thôi ! Sao bằng xứ mình…

– Xứ mình thì sao ?

– Có gia đình nọ ở một tỉnh phía Bắc thấy đường trước nhà ổ gà ổ voi nhiều ngày, sợ bà con đi lại nguy hiểm nên mua ximăng về tô láng lại. Sau đó một vài ông cơ quan chức năng đến nhà…

– Rồi sao ?

– Vô mạng gõ cái clip đó lên mà coi : mấy ổng tới nhà hù dọa, nói làm vậy là… sai quy trình ! (theo Bút Bi)