KỶ VẬT NGHÌN TRÙNG XA CÁCH

NHỮNG KỶ VẬT

NGHÌN TRÙNG XA CÁCH

– Hà Đình Nguyên

Phạm Duy là một trong những nhạc sĩ sáng tác tình khúc hay nhất của âm nhạc Việt Nam. Khi ở vào ngưỡng tuổi U100, nhạc sĩ thừa nhận rằng mình là người nghiện yêu, mỗi tình khúc đều liên quan đến một cuộc tình.

Muốn biết Phạm Duy yêu như thế nào, nên đọc hồi ký Phạm Duy

Điều thú vị là người đưa ra lời khuyên “Muốn biết Phạm Duy yêu như thế nào, những người phụ nữ đó là ai thì nên đọc Hồi ký Phạm Duy” lại chính là ca sĩ Tuấn Ngọc (con rể của nhạc sĩ Phạm Duy). Đó là vào tối ngày 5/10/2011 trong buổi dạ tiệc mừng sinh nhật lần thứ 91 của nhạc sĩ, được tổ chức tại tư thất của ông bà Tổng lãnh sự Hoa Kỳ tại Sài Gòn (ông bà Lê Thành Ân – là người Mỹ gốc Việt) để chào mừng nhạc sĩ James Durst từ Mỹ sang Việt Nam thăm nhạc sĩ Phạm Duy (hai người đã chơi thân với nhau từ năm 1971).

Đêm đó, những người con của nhạc sĩ : Duy Quang, Thái Thảo – Tuấn Ngọc hát, Duy Cường đệm đàn, đã đưa cha mình và khán giả trở về “vùng trời kỷ niệm” của ông qua những tình ca do ông sáng tác. Và dù Duy Quang được trao nhiệm vụ làm “em xi”, nhưng chính Tuấn Ngọc lại là người dẫn dắt để từng bài hát của Phạm Duy “ngấm” vào hồn người.

Đứng trước mặt ông bố vợ chỉ cách hai bước chân, Tuấn Ngọc như thủ thỉ, tâm sự với “người bạn vong niên” bằng một giọng Bắc trầm ấm, đôi khi hóm hỉnh – như khi nói về bài hát Tình kỹ nữ, Tuấn Ngọc nói : “Tôi chưa có kinh nghiệm về cái thú “kỹ nữ” mà bây giờ người ta gọi là…”bia ôm”, nhưng hồi ấy, mới 25 tuổi mà Phạm Duy đã viết ra những câu như thế này “Ta ôm người đẹp trong tay, bên nhau mà lòng xa vắng. Ta nâng niu làn dư âm của khách năm xưa yêu nàng…” thì đó không phải là cái hời hợt của đám thanh niên “ăn bánh, trả tiền” nữa rồi, mà là vượt thoát ra khỏi cái tầm thường. Con nói thế đúng không bố? Phạm Duy chỉ cười rung mái đầu bạc trắng với những lọn tóc xoăn…

Trong tác nghiệp của nghề báo, tôi đã gặp nhạc sĩ Phạm Duy nhiều lần, nhưng ấn tượng nhất lại là đêm đó – và trước khi Tuấn Ngọc cùng vợ (ca sĩ Thái Thảo) song ca Đừng xa nhau anh cũng cho biết bài hát này Phạm Duy đã viết cho người con gái đã làm tặng ông hơn 300 bài thơ, và “Muốn biết người ấy là ai, xin đọc Hồi ký Phạm Duy…”.

Lưới tình chật hẹp

Phạm Duy bước chân vào lĩnh vực ca nhạc khi ở vào lứa tuổi thanh niên, anh là ca sĩ chuyên hát nhạc của Văn Cao trong gánh cải lương của Đức Huy – Charlot Miều đi lưu diễn từ Bắc chí Nam. Năm 1944, gánh hát dừng chân ở Phan Thiết, qua bài hát Buồn tàn thu của Văn Cao, chàng ca sĩ trẻ đã làm quen được với một góa phụ trẻ mang hai dòng máu Việt – Anh, nàng tên là Hélène.

Nàng sống ở đồn điền Suối Kiết (cách tỉnh lỵ không xa) với mẹ già và hai người con: Alice (gái) và Roger (trai). Người chồng vắn số của nàng là một thương gia gốc Hoa, nên những đứa con cũng thuộc diện “đa chủng tộc” (Anh –Việt – Hoa). Giữa chàng du ca và người cô phụ trẻ đã có một cuộc tình mà theo Phạm Duy là “rất nhẹ nhàng và trong sạch… Hai người đều biết có sự yêu mến lẫn nhau nhưng không ai dám lên tiếng yêu đương cả… Chúng tôi chỉ đang mấp mé ở một cuộc tình:. Và rồi “người đẹp Tây lai” này cũng mau chóng biến mất trong ký ức của chàng nghệ sĩ du lãng…

Hơn 10 năm sau, họ bất ngờ gặp lại nhau ở giữa Sài Gòn. Lúc này, đôi bên ai cũng đã có gia đình riêng.Hélène mời Phạm Duy về chơi nhà mình trên đường Trần Hưng Đạo. Phạm Duy ngỡ ngàng khi nhìn thấy Alice.

Cô bé bây giờ đã trở thành thiếu nữ tuổi tròn trăng, giống mẹ như đúc, cặp mắt và khuôn mặt phảng phất những nét “Tây lai”… Dạo ấy, nhạc sĩ Phạm Duy vừa trải qua một cú “sốc” điên đảo bởi 1 vụ “xì căng đan” tình ái (Chuyện “ăn chè Nhà Bè với vợ Phạm Đình Chương : Khánh Ngọc – lời người chuyển tiếp). Nhạc sĩ có cảm giác ai cũng khinh ghét, xa lánh mình… Chỉ có mẹ con Hèléne tỏ ra rất thông cảm với hoàn cảnh của nhạc sĩ.

Thế nên, Phạm Duy hay đến tìm sự an ủi, đồng cảm nơi họ. Thế rồi suốt trong một năm, cứ đến cuối tuần là Phạm Duy lái xe hơi đến đón Alice đi chơi. Cô bé không thích người cha dượng của mình nên cũng ít khi tâm sự với mẹ. Thế là “chú Phạm Duy” trở thành người tri kỷ để Alice trút bầu tâm sự, những sự “hỉ nộ, ái ố” của một cô gái mới qua tuổi dậy thì…

Đặc biệt, Alice thừa hưởng của mẹ năng khiếu thi ca và âm nhạc nhưng có phần vượt trội hơn. Nàng rất thích hát những bản Tình ca, Tình hoài thương, Tình kỹ nữ, Bên cầu biên giới… của Phạm Duy khiến cho “… Cái lưới ái tình chật hẹp tung lên vào năm 1944 mà không chụp vào đầu tôi, hơn mười năm sau vì không tránh né nên tôi chui tọt vào lưới. Một chiều mùa Thu 1957, tôi tỏ tình với Alice và được nàng ban cho một cái ừ lặng lẽ”.

Mối tình cao thượng

Lúc đó tôi có ngay quyết định là mối tình này cũng phải cao thượng như mối tình giữa tôi và Hélène… Đã gần mười năm vì quá mê mải soạn nhạc tình tự quê hương, tôi đã không soạn một bản nhạc tình nào cả… Tôi không ngờ trong một thời gian ngắn, tôi lại gặp được tình yêu.Tôi không lẩn tránh, dù biết không giữ được suốt đời. Cuộc tình khởi sự bằng bài Thương tình ca (1956) : “Dìu nhau đi trên phố vắng. Dìu nhau đi trong ánh sáng. Dắt hồn về giấc mơ vàng, nhẹ nhàng, dìu nhau đi chung một niềm thương…” …

Vì chênh lệch tuổi tác và vì không muốn làm phiền những người xung quanh một lần nữa, tôi quyết định ngay từ đầu rằng đây chỉ là một mối tình giữa hai tâm hồn mà thôi.Tôi cố gắng tránh mọi đụng chạm về xác thịt và tôi hãnh diện để nói rằng nàng vẫn còn là một trinh nữ khi rời xa tôi để lên xa hoa về nhà chồng. Là một nghệ sĩ, tôi cần tình yêu để sáng tác, giống như con người cần khí trời để hít thở. Tôi không cần phải chiếm đoạt, nhất là chiếm đoạt một người con gái còn ít tuổi. Giữa chúng tôi không có sự ràng buộc, trói chặt nhau.

Mỗi cuối tuần gặp nhau, thế là quá đủ… Trong hơn 10 năm (1956 -1968), nhạc tình của tôi đều là những bài viết cho nàng (Ngày đó chúng mình, Đừng xa nhau, Cỏ hồng, Nha Trang ngày về…). Là một người rất yêu thơ, trước khi xa nhau nàng đã viết tới 300 bài thơ để tặng tôi. Nếu chúng tôi gặp nhau thì thường thường là để nói chuyện về thơ hay nhạc. Cũng vì nàng yêu thơ nên nếu có những bài thơ hay (của thời trước hay của thời đó) thì tôi phổ nhạc (Ngậm ngùi, Vần thơ sầu rụng, Hoa rụng ven sông, Kiếp nào có yêu nhau…) hoặc phát triển từ dân ca (Tóc mai sợi ngắn sợ dài, Nụ tầm xuân, Bài ca sao, Đố ai…) để tặng nàng.

Cũng có khi tôi phóng tác thơ nàng thành ca khúc, trong đó có- “Tôi đang mơ giấc mộng dài/Đừng lay tôi nhé cuộc đời chung quanh…” Tạ Tỵ, người viết chuyện đời tôi, cho rằng đó là bài tình ca hoan lạc nhất của đời tôi…” (trích hồi ký).

Kỷ vật – Chỉ chừng đó thôi !

Với người viết, ca khúc Nghìn trùng xa cách là một trong những tình khúc hay nhất của nhạc sĩ Phạm Duy. Trong bài hát có đoạn : “Trả hết về người, chuyện cũ đẹp ngời. Chuyện đôi ta, buồn ít hơn vui. Lời khóc lời cười, chuyện ngắn chuyện dài. Trả hết cho người, cho người đi… Trả hết cho ai, cả những chua cay. Ngày chia tay lặng lẽ mưa bay. Một tiếng “Thương ôi”, gởi đến cho người. Trả nốt đôi môi… gượng cười…”.

Bài hát này, nhạc sĩ là sau khi Alice từ tạ ông để đi lấy chồng sau tết Mậu Thân (1968). Trong bài hát còn nhắc tới những kỷ vật mà nàng đã tặng ông : “Đứng tiễn người vào dĩ vãng nhạt màu, có lũ kỷ niệm trước sau : Vài cánh xương hoa, nằm ép trong thư, rồi cũng tan như bụi mờ. Vạt tóc nâu khô, còn chút thơm tho, thả gió bay đi mịt mù…”. Đã có biết bao nhiêu người hát ca khúc này cả ngàn lần, và chắc rằng hát chỉ là…hát, mấy ai chịu khó tìm hiểu đằng sau của ca từ…

Những kỷ vật, chỉ chừng đó thôi

Người viết đã có được may mắn, chứng kiến những kỷ vật của Alice trong Nghìn trùng xa cách. Đó là những xác lá khô được ép trong tập thơ tình, là lọn tóc màu nâu “rất Tây” mà nàng đã cắt tặng nhạc sĩ trong một ngày sinh nhật của ông (lúc đó ông tưởng mình là… quân vương trong bài thơ Màu thời gian của Đoàn Phú Tứ: “Tóc mây một món chiếc dao vàng / Nghìn trùng e lệ phụng quân vương…”– NV) Hơn 40 năm sau, những kỷ vật này không hề “tan như bụi mờ” hoặc “thả gió bay đi mịt mù” mà nằm trang trọng trong một hộp kính, đủ biết Phạm Duy đã nâng niu, gìn giữ những kỷ niệm với Alice như thế nào…

Trong những ngày tháng đầy biến động đầu năm 1975, một hôm nhạc sĩ ngồi trên ghế đá, cạnh hồ nước trong một ngôi nhà êm đềm ở Phú Nhuận. Thấy nhện sa xuống trước mặt, nghĩ đến lưới tình và bất giác ông nhớ tới Alice.

Từ cảm hứng này ông viết  “Chỉ chừng đó thôi”: “Chỉ chừng một năm trôi là quên lời trăn trối. Ai nuối thương tình ta, chỉ chừng một năm thôi… Chỉ chừng một năm qua là phai mờ hương cũ. Hoa úa tàn trong lòng ta, chỉ cần một năm xa… Cả triệu người yêu nhau, còn ai là không thấu.Len giữa u tình sâu, một vài giọt ơn nhau. Tia sáng Thiên đường cao, rọi vào ngục tim nhau…”. Từ trong lời hát của Chỉ chừng đó thôi, ta cũng có thể tin rằng đấy là một cuộc tình thánh thiện: “… Như Adam ngù ngờ.Yêu Eva khù khờ. Cuộc tình “trinh tiết”đó…”. Sau Chỉ chừng đó thôi, ông thề là sẽ không sáng tác cho cuộc tình cuối của mình một bài hát nào nữa. Và ông đã giữ lời! (trích Truyện tình nghệ sĩ – Hà Đình Nguyên – NXB Trẻ)

– Tuyển tập những bài hát hay nhất của nhạc sĩ Phạm Duy (6:14’)

https://youtu.be/EpMqVT-2q-4

– Những Tình Khúc Phạm Duy (1:49’)

Tuấn Ngọc, Khánh Ly, Vũ Khanh : https://youtu.be/121yHEPo_EY

CÂU CHUYỆN CÓ THẬT TRONG GIỚI

NGHỆ SĨ DƯƠNG CẦM

TÌNH NGƯỜI TỎA SÁNG

TRONG CHIẾN TRANH

NHƯ VÌ SAO LẤP LÁNH TRONG ĐÊM

Chiến tranh đã reo rắc bao đau thương cho nhân loại. Nhưng dường như trong chiến tranh chính nó cũng khiến những phẩm chất tốt đẹp nhất của con người được bộc lộ một cách chân thực nhất.

Đặc biệt trong các cuộc chiến chánh tà, có mấy ai thực sự giữ được sự thiện lương chân chính, dám mạo hiểm sinh mệnh, không màng sống chết, để không dấn thân hay ủng hộ tội ác trong hoàn cảnh cái ác thống trị. Mà phải đợi khi nó qua đi, sự thật được phơi bày và cái ác bị đẩy lùi người ta mới nhận ra sự thật…Vậy mà đã có một câu chuyện thật như thế…

Những giải Oscar danh giá…

The Pianist” – tên phim tiếng Việt được dịch là “Nghệ sĩ dương cầm“, là bộ phim của đạo diễn gốc Ba Lan Roman Polanski, chuyển thể năm 2002 từ hồi ký cùng tên rất nổi tiếng của nghệ sĩ dương cầm người Do Thái Wladyslaw Szpilman. Bộ phim là một lời kể lại chân thực của chính người trong cuộc về thảm họa diệt chủng do phát xít Đức gây ra, đồng thời cũng là phim hay nhất trong sự nghiệp đồ sộ của đạo diễn Roman Polanski về âm nhạc và sức mạnh của nghệ thuật.

Bộ phim đã trở thành một tác phẩm điện ảnh kinh điển và đã nhận được nhiều giải thưởng danh giá nhất trên thế giới: Ba giải Oscar quan trọng nhất: cho kịch bản chuyển thể xuất sắc nhất, diễn viên chính xuất sắc nhất, đạo diễn xuất sắc nhất, và hàng loạt giải thưởng ở khác như Cannes, Cesar…

Nghệ sĩ dương cầm Wladyslaw Szpiman rất nổi tiếng trước chiến tranh với tiếng đàn êm dịu và có sức cuốn hút mãnh liệt. Tuy vậy, tiếng đàn yên bình của anh không được chiến tranh buông tha.Szpiman và gia đình cùng hàng triệu người Do Thái khác bị đưa vào trại tập trung và bị đối xử tàn tệ. Người nghệ sĩ này  phải lao động khổ sai, bị chà đạp quyền sống.

Một phân đoạn nổi tiếng và đắt giá nhất trong bộ phim chính là cảnh nghệ sĩ dương cầm Sziplman đang lẩn trốn trong ngôi biệt thự hoang phế, với tình trạng dở sống dở chết và trong khi mở hộp đậu cuối cùng thì ông bị bắt gặp bởi một viên sĩ quan phát xít Đức. Nhưng thay vì cho ông một viên đạn vào đầu như bao tên phát xít khác thì anh này lại yêu cầu ông chơi đàn khi biết ông là một nghệ sĩ dương cầm.

Với tất cả tình yêu âm nhạc, yêu quê hương đất nước và sự kìm nén trong đau khổ của một người nghệ sĩ chân chính, ông đã “hóa thánh” với một đoạn nhạc cung Đô thứ bản Dạ khúc của Chopin.

Ban đầu là lo lắng, sợ hãi, và cuối cùng là say mê và thanh thản bên phím đàn: sức mạnh kỳ diệu của âm nhạc đã xóa nhòa cái chết và khổ đau…

Szpilman ban đầu đã chơi đàn với tất cả những lo lắng, sợ hãi nhưng cuối cùng lại là sự say mê, thanh thản. Anh đã chọn chơi một bản của Chopin về tình yêu nước của những người dân Ba Lan, những ngón tay điêu luyện lướt trên phim đàn như được chơi lần cuối.

Sau khi nghe tiếng đàn, viên sĩ quan đã say đắm trước tài năng của Szpilman, thậm chí còn mang thức ăn, áo khoác giúp người nghệ sĩ vượt qua mùa đông buốt giá.

Không còn ranh giới về quốc gia, dân tộc, tư tưởng, nhiệm vụ hay bất cứ rào cản nào, trước âm nhạc và nghệ thuật, giữa hai con người xa lạ chỉ còn tình yêu.. Chiến tranh

không thể xóa bỏ những giá trị nhân văn của con người – có lẽ đây là thông điệp đẹp đẽ nhất mà bộ phim mang lại.

Mặc dù bộ phim chuyển thể một cách hết sức chân thực từ cuốn hồi ký của Sziplman, nhưng sự thật là cuốn hồi ký của ông chỉ được xuất bản một lần vào năm 1946 sau khi chiến tranh vừa kết thúc và nó được viết ngay trong thời điểm rất nóng bỏng, nhưng có lẽ chính vậy mà nó bị lãng quên vì có lẽ  nó chứa đựng những sự thật quá đau buồn nên thời điểm nó ra đời người ta không muốn đón nhận nó.

Nỗi đau chiến tranh – người nghệ sĩ dương cầm tuyệt vọng trong thành phố đổ nát hoang tàn…

Đời thực của các nhân vật chính

Và các nhận vật trong cuộc chiến cũng nhanh chóng đi vào quên lãng. Mãi cho tới năm 2002 – hơn 50 năm sau, đạo diễn tài ba Roman Polanski chuyển thể thành phim và sự thật lại triển hiện một cách vô cùng chân thực trên màn ảnh khiến người ta bàng hoàng xúc động bởi nghị lực sống, sức mạnh của ý chí, của tâm hồn nghệ sĩ chân chính, của tình người tỏa sáng một cách rõ nét trong chiến tranh như những vì sao trong đêm tối.

Ngọn hải đăng trong mịt mùng đêm tối….

Nhờ sự thành công vang dội của bộ phim mà thế giới mới biết đến một người anh hùng thầm lặng, một người thiện lương chân chính đã bị quên lãng trong chiến tranh và ông đã trở thành một biểu tượng của lòng tốt và sự quả cảm. Đó chính là viên sĩ quan quân đội Đức quốc xã– Wilhelm Adalbert Hosenfeld, vị cứu tinh của Sziplman.

Khi biết được cuộc chiến diệt chủng ghê tởm mà Hitler đang thực hiện, Honsenfeld đã không màng tới tính mạng của mình và lời thề sai lầm trước đó để giúp những người Do Thái vô tội. Đó là lời thề do bị mê hoặc bởi các lý tưởng cao đẹp dối trá mà Hitler đã vẽ ra để dẫn dụ rất nhiều người Đức lúc đó gia nhập Đảng Quốc Xã và quân đội của ông ta.

Tác giả cuốn “I always see the human being before me”- nhà văn Hermann Vinke nhận xét về ông : “đạo đức và lòng nhân hậu của ông được giữ gìn trọn vẹn trong chiến tranh” và “ông giống như một ngọn hải đăng trong đêm tối”.

Một số những câu trích đoạn trong nhật ký của ông và trong các bức thư gửi cho người thân đã nói lên tư tưởng, sự ăn năn và lòng thương cảm của ông với những nạn nhân của Đức Quốc Xã trong chiến tranh thế giới II:

Khi lần đầu tiên chứng kiến những tù nhân Ba Lan trong tình trạng đói khát và bị ngược đãi, ông đã bị sốc và  viết trong một bức thư cho vợ : “Anh nghĩ mọi người nhìn nhận và thấy rằng anh đang chịu đựng cùng họ. Thật là đau xót khi thấy những con người khốn khổ này, nhưng bọn anh bất lực. Nhưng anh tìm kiếm và giúp đỡ những người anh có thể.”

Ông nói với vợ rằng  ông “đang mặc đồng phục của tội phạm”  ”một người xấu hổ vì là người Đức”.

Năm 1943, sau khi chứng kiến những người Do Thái cuối cùng bị bắn chết hoặc bị bức hại chết ngạt tại các phòng khí gas trong cuộc đàn áp cuộc nổi dậy của người Do Thái ở khu tập trung Warsaw, ông đã viết trong nhật ký : “Những người bị đối xử như động vật này. Với cuộc giết chóc hàng loạt đáng ghê tởm những người Do Thái, chúng ta đã thua trong cuộc chiến này. Chúng ta đã tự khoác lên mình sự nguyền rủa vĩnh cửu và sẽ mãi mãi khoác lên mình sự sỉ nhục hổ thẹn. Chúng ta không có quyền đòi hỏi hỏi sự tha thứ hay thương xót. Tôi cảm thấy xấu hổ khi bước đi trong thành phố này ” – Nhật ký Hosenfeld. 

“Thật không thể tin vào những điều này, mặc dù chúng là sự thật. Ngày hôm qua tôi đã thấy hai trong số những con quái vật (lính S.S của Đức Quốc Xã) trên xe điện. Chúng cầm roi điện khi chúng ra khỏi khu tập trung. Tôi muốn ném những tên súc sinh này xuống dưới gầm xe. Chúng ta thật hèn nhát biết bao, mong muốn được tốt hơn và cho phép tất cả những điều này xảy ra. Vì điều này mà chúng ta và con cháu chúng ta sẽ bị trừng phạt, vì chúng ta cho phép những tội ác này xảy ra, chúng ta là những người hiệp đồng với tội ác”.

“Những con quái vật này nghĩ rằng chúng ta sẽ dành chiến thắng theo cách này. Nhưng chúng ta đã thua cuộc với tội diệt chủng người Do Thái. Chúng ta đã tự mang sự xấu hổ không thể xóa bỏ; một lời nguyền không thể phá giải.Chúng ta không xứng đáng có được lòng thương xót; tất cả chúng ta đều phạm tội.”

Mặc dù cuộc đời xô đẩy Hosenfeld gia nhập đội quân của ma quỷ, nhưng sự lương thiện chân chính của ông đã giúp ông sớm nhận bản chất của tội ác và đã đứng lên để bảo vệ những người vô tội.

Ông đã được thế giới vinh danh, phong tặng danh hiệu cho lòng dũng cảm, sự nhân hậu và tư tưởng tiến bộ của mình. Bộ ngoại giao Israel trao tặng danh hiệu cao quý “Người Dân Ngoại Công Chính” năm 2007 – dành cho những người không phải người Do Thái đã mạo hiểm tính mạng của mình để bảo vệ người Do Thái, được thủ tướng Ba Lan truy phong huân chương Thập chỉ huy Polonia Restituta năm 2009…

Thông điệp mạnh mẽ mà bộ phim với cốt truyện có thật để lại trong lòng người xem, là thông điệp về tình người, về tình yêu và niềm tin vào con người.Âm nhạc và sức mạnh của nghệ thuật khiến nghị lực sống của người nghệ sĩ thêm mãnh liệt.Ngay cả trong những lúc cùng khổ nhất, chính âm nhạc là điều kỳ diệu giúp đẩy lùi chiến tranh, xóa bỏ hận thù, mang con người lại gần nhau.

Chiến tranh dẫu mịt mù tăm tối và tàn ác thế nào cũng không thể xóa bỏ những giá trị nhân văn sáng lấp lánh của con người – có lẽ đây là thông điệp đẹp đẽ nhất mà bộ phim mang lại.

Chúng ta cùng thưởng thức trailer phim, một phân đoạn ngắn được đánh giá là hay nhất, lãng mạn nhất trong bộ phim the Pianist và bản nhạc bất hủ trong phim: Nocture No 20 đô  thứ của nhạc sĩ thiên tài Chopin:

Trailer phim The pianist (2002):

https://mb.dkn.tv/nghe-thuat/ suc-manh-dieu-ky-cua-cau- chuyen-co-that-trong-nghe-si- duong-cam-chinh-am-nhac-giup- xoa-bo-han-thu-dau-kho-va- chien-tranh.html

Phân đoạn phim xuất sắc : Cảnh người nghệ sĩ kiệt quệ vì đói khổ thăng hoa trên phím đàn:  Và trọn vẹn bản nhạc tuyệt diệu Nocture No 20 giọng đô thứ của Chopin: (theo Thiên Kim- Hà Phương Linh)

Phan Tất Đại tổng hợp chuyển tiếp

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

w

Connecting to %s

%d bloggers like this: