NHÀ VĂN HỒ BIỂU CHÁNH

HỒ BIỂU CHÁNH : NHÀ VĂN

TIÊU BIỂU MIỀN NAM ĐẦU THẾ KỶ XX

Vương Trùng Dương

Nhà văn Hồ Biểu Chánh (1884–1958) là một trong những nhà văn tiên phong của dòng văn học Việt Nam nói chung, và miền Nam Việt Nam ở đầu thế kỷ 20. Với khuôn mặt nhà văn lão thành đã đóng góp cho nền văn học nước nhà trong một thế kỷ qua, dĩ nhiên có nhiều bài viết của các nhà phê bình văn học, văn nhân… đề cập đến tác giả và tác phẩm. Có thể nói, hoàn cảnh xã hội và thân phận người dân quê với nhân tình thế thái trong tác phẩm Hồ Biểu Chánh gần một thế kỷ qua vẫn còn thấp thoáng cho đến nay.

Theo GS Phạm Thế Ngũ trong quyển Việt Nam Văn Học Sử Giản Ước Tân Biên: “Đọc Hồ Biểu Chánh ngày nay chúng ta thấy một cái thú khác, cái thú được sống lại một thời tuy cách đây không xa mà có vẻ xưa lắm. Trong các tác phẩm trên và trong vô số tác phẩm về sau nữa, ông đã có công đem cặp mắt lịch lãm, cây viết chu trí, mà ghi lại bức tranh của cả một xã hội đương thời, cái xã hội miền Nam thành hình sau ngày Tây sang giữ mãi nền nếp cho đến những ngày tiền chiến.

Trước hết làm phông cho cái xã hội ấy là đất nước miền Nam, quang cảnh từ tỉnh thành về ruộng rẫy. Trong các tiểu thuyết của ông, những việc ông thuật kể diễn ra rải rác từ núi Bà Đen đến đảo Kim Qui, từ những giồng trảng miền Đông xuống đến những kinh rạch miền Tây, song ông thường ưa hơn khu vực ở giữa, các tỉnh Gò Công, Vĩnh Long, Cần Thơ, các quận Càn Long, Ô Môn, Vũng Liêm, nơi ông từng làm việc quan lâu năm và biết rõ đồng đất, người ngợm.

Nhất là châu thành Sài Gòn – Chợ Lớn hiến cho ông lắm tấn tuồng vân cẩu ly kỳ. Trong những khung cảnh bác tạp ấy, ông đưa ra đủ loại nhân vật, khoác cho một dung mạo, một tính tình, những thói quen và phong tục, thường đều là đánh dấu một thời đại cả”.

Trong lãnh vực văn học, Hồ Biểu Chánh sáng tác nhiều thể loại từ văn xuôi, văn vần, nghiên cứu, phê bình văn học, kịch, tuồng hát và dịch thuật… hơn một trăm tác phẩm. Tiêu biểu như: 64 tiểu thuyết, 12 tập truyện ngắn và truyện kể, 5 tập thơ và truyện thơ, 12 vở hài kịch và ca kịch, 8 tập ký, 28 quyển khảo cứu phê bình.

Xem toàn bộ tác phẩm của nhà văn Hồ Biểu Chánh sau đây (bấm vào đường dân) :Tác phẩm Hồ Biểu Chánh

oOo

Trong  4 quyển Nhà Văn Hiện Đại của Vũ Ngọc Phan, họ Vũ đã dành 8 trang viết về Hồ Biểu Chánh ở quyển I. Vũ Ngọc Phan nhận định :

“Về đường lý tưởng, tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh cũng giống như tiểu thuyết của Hoàng Ngọc Phách, nghĩa là cả hai nhà văn đều lấy luân lý làm gốc, lấy cổ gia đình làm khuôn mẫu, lấy sự trung hậu làm điều cốt yếu trong mọi việc ở đời. Nhưng tiểu thuyết của họ Hồ lại khác tiểu thuyết của họ Hoàng về mấy phương diện. Tiểu thuyết họ Hoàng thiên về tả tình và giọng văn nhiều chỗ ủy mị, cầu kỳ, không tự nhiên; còn tiểu thuyết của họ Hồ thiên về tả việc và lời văn mạnh mẽ, giản dị, nhiều chỗ như lời nói thường.

Thật thế, tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh là tiểu thuyết đầy động tác, việc nọ việc kia đầy dồn dập, gây cho người đọc những cảm tưởng kỳ thú. Nếu đọc tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh mà lại chê là kém mặt tả tình, và tưởng tượng không được dồi dào, thì thật không biết xét nhận…

… Tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh lại là những tiểu thuyết có tính cách bình dân, bình dân cả từ những nhân vật ông chọn đến những lời văn ông viết nữa. Hạng người ông tả là hạng tiểu công chức, tiểu phú hào hay hạng thuyền thợ, hạng dân quê. Những hạng người ấy không phải những hạng người sống về tư tưởng, mọi cách hành vi của họ không có gì là sâu sắc, nên có người đã chê sự quan sát của Hồ Biểu Chánh là cạn hẹp…”

Và họ Vũ kết luận : “Dù sao, nếu đã đọc những tiểu thuyết của các nhà văn tiên phong, từ Nguyễn Bá Học trở lại, ai cũng phải nhận rắng từ Hoàng Ngọc Phách và Hồ Biểu Chánh, tiểu thuyết nước ta mới bắt đầu đến bước vụng vàng, để dân dần đi tới ngày nay là lúc đã có thể chỉa ra nhiều ngả, phân ra nhiều loại” (Vũ Ngọc Phan).

Tác phẩm tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh đã cách nay đến 8, 9 thập niên nhưng được sưu tầm để tái bản và phổ biến trên internet. Qua nhận xét trên của Vũ Ngọc Phan, đơn cử vài tác phẩm tiêu biểu :

– *Ngọn Cỏ Gió Đùa, tác phẩm nầy xuất bản năm 1926, dày 572 trang, cách đây tròn 90 năm. Truyện có 21 chương, phổ biến trên internet Imvn.com. Tác giả tuy dựa vào  tác phẩm Les Misérables của Victor Hugo nhưng nêu ra thực trạng xã hội thời đó thật bi thảm, Lê Văn Đô con nhà nghèo, ở đợ, làm mướn để nuôi mẹ già và gia đình.

Trong lúc mất mùa, đói kém, Đô ăn cắp nồi cháo heo của Bá Hộ để nuôi mẹ và cháu mới sinh, bị bắt và lưu đày 20 năm! Ra tù, Đô sống vất vưởng bên lề xã hội… thời thế đưa đẫy, Đô vào lính trong thời điểm Lê Văn Khôi chống lại triều đình nhà Nguyễn, bao oan nghiệt ập đến con người có tấm lòng hân hậu và cuối cùng vĩnh biệt cuộc đời như “ngọn cỏ gió đùa”.

Theo nhận xét của GS Nguyễn Văn Trung : “Victor Hugo sắp xếp bố cục theo trật tự ưu tiên cho những gì tác giả muốn nhấn mạnh. Mở đầu câu chuyện, Hugo miêu tả cuộc đời giám mục Myriel rồi mới nói tới J. Valjean ngay từ lúc mới được thả, được Myriel đón tiếp rồi sau đó tác giả mới vượt dòng thời gian kể lại lai lịch gốc tích J. Valjean. Hồ Biểu Chánh thì lại kể chuyện đời Lê Văn Đô từ thuở bé, rồi mới bị tù, gặp Hòa Thượng nói về cuộc đời của Hòa Thượng…

Một đặc điểm khác trong truyện Hồ Biểu Chánh cho thấy ông tiếp thu kỹ thuật tiểu thuyết phương Tây hiện đại là ông không dựng nhân vật điển hình. Trong hầu hết các tác phẩm của Hồ Biểu Chánh chúng tôi không thấy ông dựng một mẫu người cố định nào. Ông hội đồng, ông đốc phủ, ông điền chủ không nhất thiết là người xấu, còn người nghèo không nhất thiết là người tốt. Các nhân vật của Hồ Biểu Chánh đều rất sống động và hấp dẫn, tạo nhiều bất ngờ lý thú, không như độc giả đã quen dự định khi đọc các truyện cổ điển ảnh hưởng Trung Hoa”.

Sứ mệnh nhà văn :

*Tiền Bạc Bạc Tiền, ngay cái tực đề cũng cho thấy xã hội trong thời điểm mà “đồng bạc đâm toạc tờ giấy” bởi tệ nạn buôn quan bán chức từ chốn quan quyền đến hôn nhân trong cuộc sống. Truyện có 8 chương, phổ biến trên internet hobieuchanh.com. Trong phần giới thiệu ghi : “Diễn tả  sự xung đột giữa cũ và mới, giữa nhân nghĩa và tham lam của xã hội miền Nam vào thời kỳ bắt đầu tiếp thu lối sống Tây phương. Ông khơi dậy một mối tình thầm kín và tình bạn hữu rất cảm động của ba nhân vật trong hai gia đình rất khác biệt. Hình ảnh kịch cợm, lố bịch của bà Phủ, ông Hội Đồng… dựa vào thế lực và tiền bạc để rồi thao túng, ép gả những cuộc tình đầu ngang trái.

*Con Nhà Nghèo, xuất bản năm 1930, dày 226 trang (truyện nầy có 17 chương, phổ biến trên internet sachhayonline.com). Tác giả nêu lên hình ảnh cao đẹp của thành phần tá điến, tá thổ, sống có tình có nghĩa với nhau, hy sinh cho con để nuôi dưỡng thành người hữu dụng, hiếu thảo.

*Khóc Thầm, xuất bản năm 1935, dày 116 trang (truyện nầy chỉ có 13 chương, phổ biến trên internet isach.info). Chuyện tình bi đát với con gái ông Hội Đồng (nhân vật tử tế) khi gặp người chồng du học từ Pháp về. Chàng trai có học nhưng thủ đoạn và lọc lừa, tìm mọi cách để chiếm đoạt tài sản. Với bản chất lương thiện và không muốn đem chuyện xấu xa tung ra ngoài nên người vợ âm thầm chịu đựng. Chàng trai (Vĩnh Thái) gieo ác nên gặp quả báo và nàng (Thu Hà) quyết tâm xây dựng lại cuộc đời mới sau tháng ngày cam chịu đau khổ.

*Vì Nghiã Vì Tình, tác phẩm nầy xuất hiện trên tờ Phụ Nữ Tân Văn năm 1929, xuất bản năm 1938, sách dày 138 trang (truyện nầy có 19 chương, phổ biến trên internet hobieuchanh.com). Nội dung tác phẩm ở phần kế tiếp theo GS Thanh Lãng.

GS Thanh Lãng viết về Hồ Biểu Chánh đã nêu ra các tác phẩm tiêu biểu :

1/- Ai Làm Được (1922) : Chúng tôi tiếc rằng trong tay không có bản in năm 1912 của cuốn Ai Làm Được mà chỉ có bản đã nhuận sắc năm 1922 cho nên không phê phán được sự khác biệt giữa hai lần in cách nhau 10 năm (1912-1922).

Ai Làm Được là câu truyện của một cô gái con một vị quan phủ, cô Bạch Tuyết nuôi chỉ báo thù cho mẹ. Ông phủ có hai vợ: vợ cả là mẹ Bạch Tuyết bị người vợ lẽ âm mưu bỏ thuốc độc cho chết. Nhờ một người lão bộc thân tín, Bạch Tuyết, tới 12 tuổi mới biết chính người dì ghẻ giết mẹ nàng.

Từ đấy, về phía nàng thì âm thầm tìm mưu cơ để trả thù cho mẹ, còn người dì ghẻ lại hết sức chiều chuộng Bạch Tuyết cốt để đoạt cái gia tài kếch xù mà Bạch Tuyết sẽ được thừa kế của ông ngoại nàng. Nhờ vào mưu tính mà nhất là nhờ vào ông ngoại và người chồng cưới trái ý mẹ ghẻ, Bạch Tuyết đã thoát chết và đem nội vụ ra làm sáng để trả thù được cho mẹ; bà phủ hai bị tù đày.

Câu truyện này có nhiều chỗ mô phỏng giống cuốn Andrẻ Cornelis của P. Bourget. André Cornelis lên 9 tuổi thì được biết cha mình đã bị ám sát mà thủ phạm lại chính là cha dượng. Sau nhiều suy nghĩ và tìm tòi André Cornelis đã đi đến chỗ bắt cha dượng phải thú nhận tội lỗi và đến tội một cách xứng đáng.

2/- Chúa Tàu Kim Qui (1922) : Thủ Nghĩa là vai chính của truyện này. Vì bảo vệ danh tiết cho em gái, Thủ Nghĩa đả thương một tay cường hào. Tên này đút tiền cho quan trên vu cáo Thủ Nghĩa theo đạo Gia Tô, cho nên chàng bị án chung thân. Trong lúc giam ở trong ngục, Thủ Nghĩa gặp một chú khách. Hai bên trở nên thân thiết và trước khi chết, chú khách có chỉ cho Thủ Nghĩa tìm ra đảo Kim Qui.

Sau này thoát đựơc ngục, Thủ Nghĩa biết kho vàng bạc châu báu dấu ở đảo Kim Quy, làm chủ cái kho vàng to tát kia. Chàng cải trang làm khách trú đóng tàu đi buôn bán qua các cửa biển từ Thái Lan qua Hương cảng và Trung Hoa. Từ đó chàng lấy tên là Chúa Tàu Kim Qui kết cục chàng đã tiêu được án cũ, báo oán cho những tên bất nhân và trả ơn cho những người đã làm ơn cho chàng.

Truyện này phỏng theo truyện Monte Crislo của Alexandre Dumas. Đại úy Dantes, là vai chánh của truyện Monte Cristo. Bị tình nghi là có liên lạc với địch, chàng cũng bị bắt và tống ngục. Chàng bị giam 15 năm. Chàng bị giam cùng với một Linh Mục Kỳ Dị. Vị linh mục này, trước khi chết, tỏ cho Dantes biết cái kho báu dấu ở núi Monte Cristo. Lập mưu tự tráo trở với xác chết của vị linh mục, chàng thoát được ngục, tìm đến đảo Monte Cristo làm chủ cả kho vàng vĩ đại. Từ đó chàng trở nên triệu phú và tự nhận tên là Monte Cristo. Nhờ thế chàng báo oán được tất cả các thù địch cũ và gia ân cho các bạn bè.

3/- Vì Nghĩa Vì Tình (1929) : Lý Chánh Tâm và Thái Cẩm Vân lấy nhau sinh được một đứa con trai đặt tên là Lý Chánh Hội. Thằng Hội sinh được mấy tháng thì Lý Chánh Tâm đi du học Pháp. Để vợ con ở nhà với bà nội. Chánh Tâm có người em gái lấy phải người chồng không ra làm sao cho nên sau này đâm ra ngoại tình với người bạn trai của Thái Cẩm Vân. Hai bên hay thư từ cho nhau. Nhưng các thư từ của tình nhân gửi đến thì nàng lại xin đề Thái Cẩm Vân để Thái Cẩm Vân trao cho nàng.

Sống ám muội như vậy trong bốn năm và sinh được một đứa con với người tình. Lý Tố Ngu, tên người đàn bà tội lỗi kia đâm ra hối hận tự tử chết. Giữa lúc đó thì Lý Chánh Tâm ở bên Pháp về, chàng bắt gặp cái thư đề tên Thái Cẩm vân mà trong thư sau tình nhân lại nói đứa con ngoại tình của nhau, vì sự hiểu lầm đó Lý Chánh Tâm tưởng thằng con lên bốn tuổi của chàng là con ngoại tình nên chàng đánh vợ gần chết rồi đưa con cho một đứa kẻ trộm vào nhà ban đêm.

Thế là từ đấy đứa con bị ngờ oan của chàng sống một cuộc đời phiêu lưu trôi dạt, khổ sở, vợ chàng đâm ra điên dại, còn chàng thì bơ vơ mất hồn. Nhờ có bạn giác ngộ cho hai vợ chồng dần dần làm lành và đi tìm được con về.

4/- Cha Con Nghĩa Nặng (1929) : Trần Văn Sửu là một nông dân đơn sơ chất phác lấy thị Lựu làm vợ sinh được thằng Tý và con Quyên. Nhưng Trần Văn Sửu thật thà bao nhiêu thị Lựu giam dâm bấy nhiêu. Được người ta bảo đích xác là vợ thông gian, Trần Văn Sửu gây gổ với vợ và vô ý xô vợ ngã chết. Sợ bị truy tố, Trần Văn Sửu trốn mất và ai cũng tưởng chàng đã chết trôi sông.

Trong suốt mười mấy năm trời thằng Tý và con Quyên được nhà giàu nuôi làm con nuôi và đang sắp gầy dựng gả bán cho chúng vào nơi quyền qúi giàu sang.. Giữa lúc ấy thì Trần Văn Sửu vì nhớ con quá phải lần về thăm con. Hai đứa con gặp được cha sung sướng, không những không sợ liên lụy mà còn cứu cha khỏi án cũ để cha con đoàn tụ vui vẻ,

5/- Chút Phận Linh Đinh (1931) : Lê Hiển Vinh và Đoàn Thu Vân đi du học xa nhà, nhân quen biết nhau rồi yêu nhau kết quả là Thu Vân thất thân với Hiển Vinh. Để cứu vãn danh dự, Hiển Vinh cưới Thu Vân làm vợ, trái ý cha vì thế chàng bị cha từ. Để chuộc tội với cha, hai vợ chồng bàn tính với nhau và Thu Vân để cho chồng đi du học Pháp để lập sự nghiệp. Tàu chở Hiển Vinh qua Pháp bị tàu Đức đánh đắm và báo đưa tin tất cả hành khách bị tử nạn hết.

Thu Vân buồn phiền, bỏ Hà Nội vào Nam định đem trả cháu cho ông nội chúng rồi tự tử chết theo chồng. Nhưng trên con đường Hà Nội vào Nam mấy mẹ con nàng trôi dạt gian nan không sao tả hết.

Nhưng nhờ sự kiên nhẫn, hai mẹ con nàng  gặp được ông nội và được ông nội tha thứ quên lỗi xưa, đồng thời lại gặp cả đứa con lưu lạc muời mấy năm trường. Đang lúc mẹ con, ông cháu vui mừng thì Hiển Vinh mà mọi người tin đã chết đắm tàu xưa đột ngột trở về trong cùng một lúc. Thế là cảnh nhà sum họp vui vẻ.

Phê bình về Hồ Biểu Chánh, trước tiên ta cần ngay có hai nhận định sau đây: cùng với phần đông nghệ sĩ của thế hệ, ông đã đem nhiều cái mới cho thế hệ để làm cho nó có bộ mặt riêng biệt khác những thế hệ khác, nhưng những cái mới ấy là những đặc tính chung cho hầu hết mọi văn nghệ sĩ thuộc thế hệ này; ngoài ra, cùng với một vài mầm non, Hồ Biểu Chánh đã có nhiều khác biệt với thế hệ đương thời và  báo trước sự chớm nở trong bóng tối một thế hệ mới”. (GS Linh mục Thanh Lãng)

Bài viết của Thụy Khuê : “Hồ Biểu Chánh (1885-1958), nhà văn tiên phong xây dựng nền tiểu thuyết  hiện đại Việt Nam” với phần kết :

“Hồ Biểu Chánh là người đầu tiên đã xây dựng nên toàn bộ hệ thống tiểu thuyết hư cấu, hiện thực trong tiếng Việt. Ông đã tạo ra một thế giới nhân vật tưởng tượng y như thật, trong đời sống, khiến Hồ Hữu Tường, thủa trẻ, khi đọc truyện của Hồ Biểu Chánh, đã nhập vào thế giới hư cấu ấy, mà ông gọi là “nhập mộng” và khi đọc xong, ông “tỉnh mộng”, bởi vì ông ra khỏi thế giới hư cấu của tiểu thuyết. Và ông viết về cuốn Tỉnh Mộng của Hồ Biểu Chánh như sau:

“…. Như vậy thì không thể nào ở trong cảnh thực mà có, chỉ ở trong mộng mà thôi. Nhưng tác giả viết rất tự nhiên, nên đọc tiểu thuyết, tôi sống mãi ở trong một cảnh mộng. Đến chừng xem đầu đề tiểu thuyết, tôi thấy đầu đề đó là Tỉnh Mộng. Tới chừng đó tôi hay rằng câu chuyện mà Hồ Biểu Chánh đã thuật lại, đã tạo cho tôi một cảnh mộng. Tôi ở trong cảnh mộng. Rồi bây giờ tôi thấy nó là tiểu thuyết. Đây tôi mới là người tỉnh mộng. Chớ tôi không hiểu những nhân vật tỉnh mộng đó là ai nữa.

Từ ấy, tôi mới có một quan niệm rõ rệt về tiểu thuyết. Té ra một tiểu thuyết hay là một tiểu thuyết tạo cho độc giả một cảnh mộng mà độc giả say mê đi vào cảnh mộng ấy, như vào cảnh thật vậy. Đến chừng đọc xong rồi, thì xếp sách nhìn lại nhan đề, mới hay là mình đã mộng. Như vậy, tôi có thể nói rằng vị giáo sư đầu tiên dạy cho tôi văn chương, dạy bản sắc của văn chương, dạy lý thuyết về văn chương, ấy là Hồ Biểu Chánh. Một tiểu thuyết, với nhan đề của nó, làm cho tôi hiểu rõ định nghiã của tiểu thuyết là gì ?

Những tiếng của Pháp như là Roman, của Anh là Novel, Tàu là Tiểu Thuyết, đều không làm sao giúp tôi hiểu định nghĩa rõ rệt của loại mà trong văn chương gọi là tiểu thuyết cả” ((trích bài Nhập Mộng và Tỉnh Mộng của Hồ Hữu Tường, Văn số 80, tưởng niệm Hồ Biểu Chánh, ra ngày 15/4/1967, trang 34).

Không chỉ có Hồ Hữu Tường mà Dương Nghiễm Mậu, cũng đã nhìn thấy ở Hồ Biểu Chánh một bậc thày khai phá, mở cửa cho ông vào thế giới tiểu thuyết, vào miền Nam, quê hương thứ hai của ông, Dương Nghiễm Mậu viết :

“Tôi đã đọc tiểu thuyết của ông cách đây mười mấy năm trời, khi còn theo học những lớp đầu tiên bậc trung học ở Hà Nội (…) Rồi trong nhiều hoàn cảnh khác, tôi lần lượt đọc những tiểu thuyết của ông. Sau này, có một thời gian tôi đã dành thì giờ để đọc lại những gì đã đọc, đọc những gì chưa đọc với mục đích tìm hiểu, những khởi đầu của nền văn học ta, tìm hiểu những đặc tính miền Nam, quê hương thứ hai tôi yêu dấu. Quê hương miền Nam, con người, văn chương mở ra cho tôi những bàng hoàng không ít. Cuộc sống nơi những vùng sình lầy hoang vu, trong kinh rạch quyến rũ tôi, tôi không bỏ một cơ hội nào để tới những nơi đó. (…)

Cũng vì thế bài viết (này) như  một nhớ ơn, nhớ ơn những người đã để lại cho chúng ta những di sản lớn…” (trích bài Từ đó đến nay của Dương Nghiễm Mậu, Văn số 80, trang 57).

Những lời trên đây của hai nhà văn Hồ Hữu Tường và Dương Nghiễm Mậu đã xoá được gần một thế kỷ thành kiến và đánh giá sai lầm về Hồ Biểu Chánh, nhà văn tiên phong đã đưa văn học Việt Nam vào thế giới hư cấu của tiểu thuyết hiện đại”. (Thụy Khuê)

oOo

Trước thế kỷ XX, các tác phẩm viết bằng văn vần chữ Nôm như Hoa Tiên, Truyện Kiều, Lục Văn Tiên… Trong thời kỳ đầu của Văn Học Chữ Quốc Ngữ qua các tác phẩm dịch thuật như Thủy Hử, Tây Du, Phong Thần, Tam Quốc Chí, Thuyết Đường Diễn Nghĩa… rồi sau đó với Tây Sương Ký, Song Phụng Kỳ Duyên, Tái Sanh Duyên, Đông Châu Liệt Quốc…

Năm 1913 tờ Đông Dương tạp chí ra đời, Nguyễn Văn Vĩnh làm chủ bút. Theo GS Thanh Lãng: “Có nghĩa là Đông Dương tạp chí đã làm xoay chiều văn học, đã đưa cái mới vào văn học, làm cho hai thế hệ trước và sau khác hẳn nhau…”. Đông Dương tạp chí quy tụ nhiều cây bút, nhân sĩ giữa Nho học và Tây học nhằm truyền bá phong trào viết văn với chữ Quốc Ngữ.

Nguyễn Văn Vĩnh đã dịch tác tác phẩm trong văn học Pháp ra chữ Quốc Ngữ như: Manon Lescaut của Abbé Prévost thành Mai Nương Lệ Cốt, Les Trois Mouquetaires của Alexandre Dumas thành Ba Người Ngự Lâm Pháo Thủ, Les Misérables của Victor Hugo thành Những Người Khốn Khổ, La Peau de Chagrin của Honoré de Balzac thành Miếng Da Lừa…

Hồ Biểu Chánh không dịch từ các tác phẩm ngoại quốc và cũng không phóng tác mà dựa vào tinh thần nội dung để sáng tác trong bối cảnh xã hội đương thời: Ai Làm Được (André Cornréolis của Paul Bourget), Chúa Tàu Kim Quy (Le Conte de Monte Cristo0 của A. Dumas), Cay Đắng Mùi Đời (Sans Famille của Hector Malot), Chút Phận Linh Đinh (En Famille của Hector Malot), Ngọn Cỏ Gió Đùa (Les Misérables của Victor Hugo), Vì Nghĩa Vì Tình (Fanfan et Claudinet của P. Decourcell), Người Thất Chí (Crimes et Châtiment của Fédor Mikhaïlovitch Dostoievski)…

Năm 1925, tác phẩm Quả Dưa Đỏ của Vũ Trọng Phụng (dựa vào truyện cổ tích trong Lĩnh Nam Trích Quái) được giải thương văn chương của Hội Khai Trí Tiến Đức… đánh dấu giai đoạn trưởng thành của “tiểu thuyết hiện đại”.

Trong tác phẩm Hồ Biểu Chánh, ngoài cách hành văn đơn thuần, giản dị như lời trò chuyện, xử dụng ngôn ngữ đặc thù miền Nam để phổ biến cả nước. Các nhà văn miền Nam sau nầy như Mộng Huê Lầu (Lê Hoằng Mưu), Phú Đức (Nguyễn Đức Nhuận), Phi Vân (Lâm Thế Nhơn), Hồ Hữu Tường, Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, Lê Xuyên, Bà Tùng Long… cho đến những thập niên qua ở hải ngoại như Hồ Trường An, Nguyễn Đức Lập… khi đọc cảm nhận được văn phong và ngôn ngữ miền Nam.

Nhà văn tiền bối Hồ Biểu Chánh đã có công đóng góp trên văn đàn Việt Nam qua nhiều tác phẩm với nhiều thể loại, được coi là “ngọn đuốc soi đường” cho thế hệ kế tiếp ở miền Nam VN. (theo Vương Trùng Dương)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: