100 NĂM TẠP CHÍ NAM PHONG

100 NĂM TẠP CHÍ NAM PHONG :

Khát vọng giáo dục quốc dân

của lớp trí thức thời đầu thế kỷ XX

Năm 2017 đánh dấu tròn 100 năm tạp chí Nam Phong ra mắt quốc dân. Số báo đầu tiên của Nam Phong được phát hành vào ngày 01/07/1917 và số cuối cùng vào ngày 16/12/1934, chấm dứt 210 số báo tiếng Việt, 210 phụ trương tiếng Pháp và 210 phụ trương tiếng Hán sau hơn 18 năm tồn tại.

Vào năm cuối cùng này, tờ báo chuyển từ nguyệt san sang bán nguyệt san với một nỗ lực mạnh mẽ đổi mới, như Hán Thu Nguyễn Tiến Lãng viết trong số báo 199 kỷ niệm mười tám năm ra số đầu : «Tôi muốn từ nay Nam Phong không phải là một bà lão, Nam Phong lại là một cô thiếu nữ hây hây».

Trả lời RFI tiếng Việt, nhà nghiên cứu Thủy Chi tại Hà Nội, nhận xét : Ám chỉ một bà lão ở tuổi 18 của một tờ báo mang nhiều ý nghĩa. Trước hết, nó gắn với hiện tượng thường gặp trong làng báo chí đương thời: việc đình bản và tục bản của các tờ báo trong một thị trường báo chí thuộc địa rất hẹp và nhỏ. Thứ hai, báo chí Việt Nam cho tới những năm 1930 đã chứng kiến một sự lột xác ngoạn mục, mà ví dụ là việc Phong Hóa với khẩu hiệu trẻ trung đã thay thế «vị trí rất cao trong văn giới, chính giới» của Nam Phong.

Dĩ nhiên Nam Phong sống thọ như thế một phần quan trọng là nhờ ở vai trò ở hậu trường của người Pháp với một ý định chính trị thực dân cáo già rất rõ ràng. Đó là nhằm loại trừ ảnh hưởng nước Đức, vốn được truyền bá gián tiếp qua phong trào Tân Thư, qua tên tuổi Lương Khải Siêu. Nam Phong không chỉ nhận được khoản trợ cấp để có thể ra báo một cách đầy đặn, mà còn được chính quyền thực dân hỗ trợ «tạo nên công chúng».

Hồi ký của Hồ Hữu Tường cho biết ông cậu bà con của mình làm Hội Đồng «bị nhà nước ép mua dài hạn tạp chí nầy». Song mọi việc nhanh chóng vượt khỏi những điều mà Louis Marty dự tính ban đầu khiến ta phải thừa nhận rằng Nam Phong tồn tại thực sự trong làng báo chí Việt Nam với tư cách một tờ báo lớn không thể chỉ là nhờ ý định chủ quan của giới thực dân mà còn chính ở những người trực tiếp chèo lái nó. Một trong số những công trạng quan trọng nhất cần kể đến là khát vọng giáo dục quốc dân của lớp trí thức.

Trong lời mở đầu cho số 1 Nam Phong, Phạm Quỳnh đã đặt ra một vấn đề quan trọng về vai trò học vấn : «Ông cha ta đã đề tạo ra cái tổ quốc ta, đã chung đúc thành cái quốc hồn ta, không ngờ rằng ngoài nước ta còn có nhiều nước khác, ngoài học vấn đạo đức của ta còn có nhiều học vấn đạo đức khác nữa mà có ngày ta không thể biết hết được. Ngày ấy nay đã đến.Người nước ta nay đã mở mắt tỉnh giấc mộng trăm năm, mở cái mắt mơ màng ra mà nhìn cái thế giới mới.Trông thấy những cảnh tượng lạ lùng mà kinh mà sợ […] Sống trong thời đại này tất phải có một phần trong sự hoạt động ấy».

Phạm Quỳnh như thế đã tóm tắt điểm chủ yếu nhất mà một trí thức Việt Nam đương thời phải đối mặt.Đó là tình thế «toàn cầu hóa» một cách bất đắc dĩ.Nhận thức của ông với tư cách một trí thức Tây học không chỉ bao gồm việc nhận ra «kẻ khác» mà còn hiểu rằng giờ đây ta phải sống cùng kẻ khác thì mới có cơ hội tồn tại trong thời mới.

Để tồn tại được cùng kẻ khác, giáo dục là một trong những cách mà thế hệ trí thức 1907 thực hiện nhằm gìn giữ những giá trị quá khứ. Thế mà chi phí giáo dục theo lối mới rất đáng kể đối với một gia đình thường thường bậc trung ở ngay Hà Nội khi đó. Vào thời điểm này, từng có Đông Kinh Nghĩa Thục tham gia giáo dục quốc dân rồi nhanh chóng bị chính quyền thuộc địa đàn áp và giải tán. Đồng hành cùng với họ là Đông Dương tạp chí do Nguyễn Văn Vĩnh làm chủ bút với những bài viết về học vấn Tây phương, nhưng cuối cùng bị đình bản.

Giáo dục quốc dân qua tạp chí

Với phụ đề «l’Information française» (Cơ quan thông tin của Pháp) trên măng sét, tạp chí Nam Phong lại có phụ đề khác bằng tiếng Việt Văn học Khoa học tạp chí. Các đề mục đặc biệt có liên quan tới giáo dục do các nhà tân nho như Phan Kế Bính và Nguyễn Đỗ Mục, hoặc các trí thức Tây học Phạm Quỳnh, Phạm Duy Tốn đảm trách và được duy trì suốt trong suốt thời kỳ ra báo : Luận thuyết, Văn học bình luận, triết học bình luận, Khoa học bình luận, Văn tuyển, Tạp trở, Thời đàm, tiểu thuyết.

Bằng việc thiết kế như vậy, Nam Phong tự nhiệm về giáo dục như Đông Dương tạp chí từng làm.Cũng trong số đầu tiên, bức ảnh Albert Sarraut được chú thích là người thành lập Đại học Đông Dương chứ không phải bằng chức danh quan toàn quyền. Rõ ràng, tạp chí Nam Phong là một cách thức giáo dục dành cho quốc dân mà Phạm Quỳnh muốn theo đuổi. Với cách học qua tạp chí như thế, học không chỉ là lên lớp để lấy bằng, mà còn học để lấy tri thức như ông viết: «đương buổi bây giờ không cần cấp bằng gây lấy một cái cao đẳng học thức để thay cái học thức cũ đã gần mất».

Theo bà Phạm Thị Ngoạn, trong nghiên cứu của mình, hoàn toàn có lý khi gọi Phạm Quỳnh cùng các bạn đồng chí là những « giáo sư » trong một trường học mở theo lối mới để đáp ứng một nhu cầu học mới. Trong hoạt động của kiểu trường học không có trụ sở này, giáo sư không giao bài cho học sinh, không sửa bài, mà chỉ muốn «tâm tình với bạn đọc như với bạn cố tri», nhận những câu trả lời từ bạn đọc để từ đó có những bài viết thể hiện được.

Tính chất trường học góp phần tạo nên tính điển phạm ở cả khía cạnh kiến thức lẫn hành vi của cuộc đời. Điều ấy còn tương ứng với một kỳ vọng khác của Phạm Quỳnh khi ông viết: «Nước cốt ở dân, dân chủ ở một bọn người gọi là «thượng-lưu», hay bọn «thức giả xã hội», như nhà có nóc vậy. Nhà không có nóc thì ở sao.Nước không có một bọn thượng-lưu trí-thức để giữ-gìn cái cốt-cách trong nước, thì sao gọi là một nước được?Có nhà danh-sĩ Pháp đã nói rằngNước Pháp sở-dĩ là nước Pháp, cũng chỉ nhờ bởi bốn năm mươi người đại-trí.Nếu không có bọn ấy thì nước Pháp không còn là nước Pháp nữa ».

Chi tiết « bọn bốn mươi người đại trí » của Hàn Lâm Viện Pháp, mà Phạm Quỳnh thường xuyên cho in lại trên Nam Phong những bài viết của các thành viên hoặc của các giáo sư đại học Paris, hàm ý tham vọng xây dựng một lớp trí thức mới mẫu mực, tinh túy cho thời đại mới.

Vậy ai là những thành viên có thể tham gia vào nhóm bốn mươi người Việt đó? Hẳn nhiên trước hết chính là những ai từng bỉnh bút cho Nam Phong giai đoạn đầu như Nguyễn Bá Trác, Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Bá Học, Nguyễn Đôn Phục và Nguyễn Mạnh Bổng. Họ tất thảy đều có hai yếu tố rất quan trọng đối với giới trí thức Việt Nam đương thời: uy tín và tuổi tác.

Phạm Quỳnh cùng tờ báo của mình không chỉ hoàn thành một vai trò nhà báo đưa tin như cái măng-sét đã ghi ban đầu, mà còn có tham vọng giữ một tiếng nói chính thức về mặt học thuật đương thời trên trường trí thức mới đương thành lập. Dù tiếng nói đó đôi lúc trở nên học phiệt như Phan Khôi sau này từng lên tiếng, nhưng người ta không thể không ghi nhận một kỳ vọng lớn lao ấy của Phạm Quỳnh về lớp «thượng lưu trí thức để giữ gìn cốt cách trong nước, để bồi dưỡng cái quốc-túy».

Phong Hóa vào những năm 1930 sẽ chấm hết sự tồn tại Nam Phong bằng giọng hài hước khi nhại lại câu «Thứ nhất sừ Uỳnh thứ nhì sừ Ĩnh». Nhưng chắc chắn lớp trí thức tư sản như Nhất Linh, Khái Hưng đã được thừa hưởng rất nhiều từ cái khát vọng thượng lưu trí thức của Phạm Quỳnh như một nền tảng của trường trí thức thời hiện đại.

Phan Tất Đại chuyển tiếp

KHÁM PHÁ NGHỆ THUẬT

TRANH GƯƠNG XỨ HUẾ

DI SẢN QUÝ GIÁ THỜI NGUYỄN

Chúng ta đã được chiêm ngưỡng nhiều bức họa được vẽ trên các chất liệu như: giấy, lụa, sành, sứ… Nhưng có một loại tranh đặc biệt độc đáo, nó được vẽ trên kính, mà người Huế gọi nó là tranh gương. Dòng tranh này có giá trị nghệ thuật đặc sắc cần được bảo tồn và lưu truyền.

Đến nay, các bức tranh gương có giá trị đều do triều Nguyễn để lại và đang được trưng bày tại Bảo tàng cổ vật cung đình Huế (16 bức) và các cung điện, lăng tẩm ở Huế như cung Diên Thọ (điện chính), lăng Minh Mạng (điện Sùng Ân), lăng Thiệu Trị (điện Biểu Đức), lăng Tự Đức (điện Hòa Khiêm, điện Lương Khiêm), lăng Đồng Khánh (điện Ngưng Hy) và điện Huệ Nam (điện Hòn Chén).

Xuất xứ của dòng tranh gương vẫn còn nhiều thắc mắc

Có rất nhiều người nghiên cứu về xuất xứ của loại nghệ thuật độc đáo này. Phần đa ý kiến cho rằng, tranh gương cố đô Huế có xuất xứ từ Trung Quốc. Nguyên là vua Thiệu Trị (1841-1847) có tập thơ “Thần kinh nhị thập cảnh” vịnh 20 cảnh đẹp của đất Huế, đã gởi các bài thơ này qua Trung Quốc đặt vẽ. Dựa trên nguồn cảm hứng này, các nghệ nhân Trung Quốc thời đó đã khắc họa 20 bức tranh theo 20 khung cảnh trong tập thơ. Mỗi bài thơ này được thể hiện thành một bức tranh gương, sau đó mới mang trở về kinh đô Huế, treo tại các miến điện.

Nét độc đáo của tranh gương triều Nguyễn- cung đình Huế

Nếu ai đã từng tới Huế, thì không khỏi ngỡ ngàng và yêu thích những bức tranh gương đang được trưng bày tại đây. Một loại thể hiện nghệ thuật trên chất liệu mới lạ đã có từ trăm năm nay.

Tranh gương cung đình Huế là một loại hình tranh mang bản sắc riêng của Huế bởi xuất xứ, cách thể hiện cùng chất liệu độc đáo. Tranh gương được đóng trong những khung gỗ chạm thếp vàng, khá cầu kỳ, thực sự là những bức tranh độc lập.

Chủ đề của tranh gương cung đình Huế về cơ bản có 3 loại chính. Loại tranh cao cấp “thi họa” hay tranh thơ ngự chế chủ yếu mô tả và ca ngợi 20 cảnh đẹp được vua Thiệu Trị xếp hạng, tranh minh họa các bài thơ đề vịnh các mùa trong năm, vịnh các cảnh mà vua bất chợt tức cảnh đề thi…

Loại tranh thứ hai không đề thơ nhưng có đề rõ chủ đề là loại tranh minh họa cho các điển tích trong lịch sử Trung Hoa.

Loại tranh thứ ba là tranh vẽ tĩnh vật. Với người thưởng lãm hay du khách, những bức tranh này có thể chỉ đơn thuần là cảnh đẹp của thiên nhiên, của non nước hữu tình, nhưng với những nhà nghiên cứu, bên cạnh giá trị nghệ thuật, mỗi bức tranh gương chính là giai thoại lịch sử quan trọng để phục dựng, trùng tu các di tích có liên quan.

Chất liệu để vẽ loại tranh này là bột màu pha keo, hoặc sơn, được vẽ hoặc khảm xà cừ vào mặt sau của gương theo kiểu vẽ âm bản để nhìn mặt trước thành dương bản.

Kỹ thuật vẽ ngược chiều đòi hỏi họa sĩ, nghệ nhân phải hết sức tài hoa, khéo léo và có trí tưởng tượng cực kỳ phong phú mới có thể thực hiện được.

Do kỹ thuật phức tạp, sự tư duy về mặt hình tượng là rất riêng. Người vẽ phải tưởng tượng phía bên kia (mặt trái) để nhìn xuyên từ kính qua (mặt phải) đòi hỏi dự phối hợp giữa tư duy, kỹ thuật, chất liệu và đặc trưng phản ánh. Tất cả tạo nên nét riêng, độc đáo, tinh tế của tranh gương và đó cũng chính là những đặc trưng mà không có loại hình mỹ thuật nào của Huế có được

Đặc biệt trong đề tài, màu sắc của tranh gương dường như là ngôn ngữ của một mảng nghệ thuật riêng biệt, không nhất quán. Tại lăng Tự Đức, điện Hòa Khiêm, cung An Định hiện lưu giữ được những tranh gương tuyệt đẹp, mỗi bức có chiều rộng khoảng 9 tấc, cao 6 tấc. Bức tranh được lồng trong một khung thếp vàng, chạm nổi những vòng hoa, trái, lá… Theo một số tài liệu, khi sơn thếp vàng dùng trong tranh là vàng thật, bằng một chất kết dính đặc biệt, không làm phai màu của vàng và giữ được độ óng ánh của màu kim loại này. Do đó, trải qua thăng trầm thời gian, những bức tranh vẫn rực rỡ, tươi tắn như mới, có độ phát quang, lan tỏa giữa các màu.

Quá trình khôi phục dòng tranh đặc sắc này cần thời gian nghiên cứu và sự bền bỉ

Có một vài ý kiến cho rằng, lí do mà dòng tranh mang giá trị nghệ thuật lớn như thế này gần như không còn phát triển tại Huế là vì nó được truyền từ Trung Quốc, trải qua năm tháng lịch sử mà bị thất truyền.

Do kĩ thuật vẽ loại hình tranh gương này rất đặc biệt, bức họa được vẽ theo dạng vẽ ngược, tức là cái gì kết thúc sau phải vẽ trước, nên càng đòi hỏi sự tài hoa và truyền dạy.

Chính vì vậy mà sau  2 năm mày mò tìm hiểu, thử nghiệm, hiện nay họa sĩ Dương Văn Kính đã có thể tạo nên những sản phẩm tranh gương trang trí khổ nhỏ về chủ đề phong cảnh, tranh dân gian làng Sình, tranh Đông Hồ và sen Huế để quảng bá du lịch, tạo sản phẩm lưu niệm mới cho du khách khi đến cố đô Huế. Anh mạnh dạn dùng màu chuyên dụng cho tranh gương của Pháp, loại màu này cho phép nhìn bức tranh 2 mặt gần như nhau chứ không chỉ một mặt như tranh gương trước đây.

Tranh gương xứ Huế dẫu trải qua những năm tháng của lịch sử, nhưng màu sắc và tuổi thọ của nó như thách thức với thời gian. Nó tạo lên một nét rất riêng của Huế.

Quá trình phát triển của xã hội cuốn theo các trào lưu tư tưởng nghệ thuật mới, có những dòng tư tưởng được coi là biến dị về phong cách nghệ thuật cũng như ý tứ nghệ thuật, cái mà ngày nay người ta gọi đó là nghệ thuật đôi khi là sự phản cảm thì sức hút của nó tới công chúng chỉ là một giai đoạn thời gian ngắn ngủi, nhưng với những kiệt tác nghệ thuật cổ xưa thì sức hấp dẫn của nó chưa bao giờ là nguội.

Nó không chỉ là giá trị tinh thần của dân tộc mà hơn thế, chính là tinh hoa trí tuệ của người xưa. Cái mà cho đến ngày nay, thế hệ đời sau vẫn mãi phải kiếm tìm để có được. Bảo tồn giá trị xưa chính là bảo tồn và di lưu truyền thống, tìm về văn hóa nghệ thuật nguồn cội. (theo Tịnh Tâm)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

NHỮNG TRUYỆN THẬT NGẮN

ĐẦY CẢM ĐỘNG

Lời con trẻ

Sau khi ly hôn, người chồng dọn đồ đạc ra khỏi nhà. Đứa con gái nhỏ hỏi mẹ :

– Sao mẹ đuổi bố ?

– Tại bố hư !

Để nó khỏi vặn vẹo hỏi lôi thôi, người mẹ mua cho cái bánh. Thằng anh từ đâu phóng tới bẻ của em miếng bánh, bỏ ngay vào mồm. Con bé khóc ré bắt đền. Người mẹ dỗ dành:

– Anh này hư quá ! Thôi con nín đi, bỏ qua cho anh một lần.

Đứa con phụng phịu:

– Thế mẹ có bỏ qua cho bố đâu !

Người mẹ nhìn xa xăm:

– Ừ, ra mẹ cũng hư!

Em tôi

Bám đất Sài Gòn sau 3 năm ra trường, tôi vẫn không xin được việc. Vài cua dạy kèm cũng chẳng đủ trang trải, lại phải nhờ nguồn “trợ cấp” ở quê. Vừa rồi, đau ruột thừa, nằm viện. Mẹ vượt ngàn cây số vào thăm. Ngày về, dúi vào tay tôi chỉ vàng, bảo : “Của cái Lan, nó dặn con dùng để hồi sức, viện phí và tiền gởi vào cho con trước đây cũng một tay nó cả. Tội nghiệp ! Dạy thêm tít mù, còn nuôi thêm cả lợn”.

… Nhớ ngày Lan trượt đại học, thư về tôi mắng chẳng tiếc lời… Cầm món quà của em, tôi chỉ còn biết nuốt nước mắt vào trong.

Ngày xưa

Thuở nhỏ, nhà tôi nghèo lắm. Mỗi chiều, anh em tôi thường tụ lại bên nồi cơm độn khoai sắn, ríu rít như đàn chim về tổ. Thiếu thốn, nhưng chúng tôi nhường nhau phần thức ăn ngon nhất, mẹ tôi rất vui lòng.

Khi chúng tôi khôn lớn, có gia đình riêng, ai cũng khá giả. Hôm giỗ ba, có mặt đông đủ, anh Hai tôi phàn nàn với mẹ cây xoài của anh Ba mọc chồm qua sân nhà anh. Chị Ba trách anh Tư đào ao lấn qua phần đất của chị hai tấc. Mẹ tôi trầm ngâm : “Mẹ ước gì được trở lại thời nghèo khó ngày xưa…”

Mẹ tôi

Chiến tranh ác liệt. Bố ra chiến trường. Mẹ cô độc dắt con lánh nạn khắp nơi.
Hòa bình. Bố không trở về. Mẹ khóc hằng đêm.

Năm năm sau, mẹ mới quyết định lập bàn thờ với bức di ảnh của bố. Một mình mẹ vất vả nuôi con. Vậy mà căn bệnh ung thư quái ác lại cướp mất mẹ.

Hôm bức ảnh mẹ được đưa lên bàn thờ bên cạnh bố, bất ngờ bố trở về ! Tất cả chợt vỡ òa…. Bức ảnh bố được hạ xuống. Trên bàn thờ… mẹ lại một mình.

Mẹ ghẻ

Cô tôi muộn chồng vì quá dữ dằn, ruột thịt cũng chẳng ai muốn gần, đành lấy dượng, đã góa vợ.

6 tuổi, Lộc về với mẹ ghẻ, làm đủ việc mà vết roi mới chồng lên dấu đòn cũ… Lộc 15 tuổi, dượng chết. Đinh ninh Lộc bỏ đi, nên ngày mở cửa mả, cô đuổi khéo :

– Có muốn về với bà ngoại mày không ?

Lộc cúi đầu, nói trong nước mắt :

– Con đi rồi, mẹ ở với ai ?

Sau câu nói ấy, dường như bà mẹ ghẻ thì ở lại với nấm mồ, còn cô tôi về, đi chùa, ăn chay. Lộc trở thành cậu ấm – rồi trở thành thạc sĩ, mẹ con thân thương như một phép màu.

Lòng mẹ

Nhà nghèo, chạy vạy mãi mới được xuất hợp tác lao động, Thanh coi đó như cách duy nhứt để giúp đỡ gia đình. Nhưng ảo mộng chóng tan. Xứ người chẳng phải là thiên đường. Thanh chỉ còn biết làm quần quật và dành dụm từng đồng.

Để nhà khỏi buồn, trong thư Thanh tô vẽ về một cuộc sống chỉ có trong mơ.
Ngày về, mọi người mừng rỡ nhận quà, Thanh lại tiếp tục nói về cuộc sống trong mơ. Đêm. Chỉ có Mẹ. Hết nắn tay, nắn chân Thanh rồi Mẹ lại sụt sùi. Thanh nghẹn ngào khi nghe Mẹ nói : “Dối Mẹ làm gì ! Giơ xương thế kia thì làm sao mà sung sướng được hở con !”

Quế Phượng chuyển tiếp

Say vì vợ

Một người đàn ông đến quầy bar và yêu cầu một ly rượu.​ Khi vừa uống hết ly rượu, ông ta khẽ liếc vào túi áo mình rồi mới bắt đầu gọi thêm một ly rượu khác. Cứ như thế, người đàn ông luôn nhìn vào túi áo trước khi gọi rượu. Quá ngạc nhiên, người phục vụ hỏi :​

– Tôi có thể phục vụ cho ông cả đêm, nhưng tại sao trước khi gọi ông cứ phải nhìn vào túi áo mình thế ?

Người đàn ông cười lớn;

– Đó là phương pháp giúp tôi xác định mình còn tỉnh táo hay không ấy mà.

Người phục vụ ngạc nhiên :

– Làm sao có thể chứ.

– Bên trong túi áo là một bức ảnh của vợ tôi, khi tôi bắt đầu nhìn thấy cô ấy xinh đẹp thì đó chính là lúc tôi nên về nhà rồi đấy anh bạn ạ

Thế mà điên được sao ?

– Lão chồng làm mình tức điên được.

– Sao thế ?

– Mình xin lão 500usd đi thẩm mỹ viện.

– Đúng là lão keo thiệt mà, có 500usd mà không cho hả ?

– Lão nhìn mình từ đầu đến chân, rút ví đưa mình hẳn 5.000usd mình mới điên đấy chứ.

!!!!????

Đồ ngu

Rời rạp hát, Tèo dìu nàng lên xe bus… Xe chạy chưa tiêu một lít xăng thì Tèo lại táy máy … đặt tay lên đùi váy ngắn của nàng rồi từ từ run run nhích cao lên … cao lên. Thấy nàng ngồi im không phản đối… Tèo háo hức lướt tay thẳng vào… nguồn gốc của nhân loại …

– ĐỪNG, “nàng quát và Tèo mất cả hồn vía rút tay về… có cái gì chợt… tiu ngĩu”
– Chời ơi..! Bảo đừng nhấc tay lên, để yên đấy ! Sao mà ngu thế không biết; “nàng .!!!”

Dung Dung chuyển tiếp

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: