CHỢ TRỜI Ở SÀI GÒN NGÀY TRƯỚC

NHỮNG KHẨU PHÁO

THẦN CÔNG CỔ

BẬC NHẤT VIỆT NAM

Được sản xuất vào những năm đầu thế kỷ 19, Cửu vị Thần công được xem là những khẩu pháo sở hữu sức mạnh hỏa lực lớn nhất trong lịch sử Việt Nam.

H1: Cửu vị Thần công hay khẩu pháo thần công có thể coi là một trong những khẩu đại bác cổ nhất và lớn nhất Việt Nam từng chế tạo do các nghệ nhân của nước ta tự tay đúc. Chín khẩu thần công này được đúc từ năm 1803 tới 1804, dưới thời vua Gia Long.

H2: Sau khi đánh bại nhà Tây Sơn và lên ngôi, chính vua Gia Long đã ra lệnh cho các nghệ nhân thời đấy thu thập đồng từ các loại binh khí thừa thãi sau chiến tranh để đúc thành chín khẩu thần công làm vật chứng cho chiến thắng vẻ vang của mình. H3: Mỗi khẩu thần công này có chiều dài 510 cm và nặng tới 17 tấn chưa tính giá đỡ. Tổng cộng, 9 khẩu thần công đã tốn tới 153 tấn đồng nguyên chất, đây là một con số khổng lồ thời bấy giờ khi mà công nghệ luyện kim còn rất sơ khai.

H4: Quá trình đúc Cửu vị Thần công chỉ kéo dài trong chưa đầy một năm, từ năm 1803 tới năm 1804 là hoàn thành. Bên ngoài của các khẩu thần công cùng với bệ đỡ được trạm trổ cực kỳ tinh vi. H5: Thậm chí, trên phần thân súng còn được trạm trổ cả trọng lượng, vị thứ, danh hiệu và cả… cách dùng súng. Mặc dù là một công trình mang tính biểu tượng nhưng việc trạm cả cách dùng súng vào thân súng cho thấy những khẩu thần công này hoàn toàn có thể bắn được.

H6: Chín khẩu thần công này được đặt tên theo thứ tự tên bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông và theo ngũ hành: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. H7: Thời gian đầu khi vừa được đúc xong, Cửu vị Thần công được đặt dưới chân Hoàng Thành, trước cửa Ngọ Môn – kinh thành Huế. Tuy nhiên tới đời vua Khải Định, chúng đã được di dời vào trong kinh thành và chính thức trở thành công trình mang tính biểu tượng như các bảo vật trấn quốc.

H8: Trong quá khứ, Cửu vị Thần công chưa từng được mang ra sử dụng bất cứ một lần nào và chỉ là một loại vũ khí mang tính biểu tượng sức mạnh của nhà Nguyễn. Dưới triều Nguyễn, Cửu vị Thần công thường có quân canh gác và thường được tổ chức cúng lễ rất linh đình. H9: Tới khi Pháp xâm lược Việt Nam, việc cúng bái Cửu vị Thần công bị bãi bỏ chính thức. Tuy nhiên binh lính và người dân sống gần khu vực này vẫn tự mang đồ lên đây cúng tế Cửu vị Thần công vì đây vốn được xem là chính vị thần linh bảo vệ Kinh thành.

H10: Cửu vị Thần công được di dời vào vị trí mới, do phương tiện lạc hậu nên việc di chuyển những khẩu trọng pháo nặng tới 17 tấn này là cả một quá trình gian nan. H11: Ngày nay, Cửu vị Thần công được xem là một bảo vật vô giá của nước ta với tuổi đời đã hơn 200 năm. H12: Hiện tại, Cửu vị Thần công đang được trưng bày cho khách du lịch viếng thăm ngay trong Kinh thành Huế.

CHỢ TRỜI Ở SÀI GÒN

NGÀY TRƯỚC

Sau năm 1954, ngoài Khu Dân Sinh bán buôn đủ loại mặt hàng thượng vàng hạ cám ở gần Cầu Muối, người tuổi trung niên trở lên chắc hẳn còn nhớ khu Chợ Cũ quanh đường Tôn Thất Đạm, Huỳnh Thúc Kháng giữa trung tâm Sài Gòn xuất hiện kiểu chợ trời tự phát trên vỉa hè bày bán một số loại thực phẩm đóng hộp của Mỹ, rượu Tây, thuốc lá và quần áo cũ.

Khoảng thời gian này, người Sài Gòn bắt đầu tiếp cận “hàng hoá Mỹ” một cách rộng rãi hơn nhờ cả triệu người miền Bắc di cư vào Nam sinh sống.

Ông bạn lớn tuổi của tôi nhớ lại cảnh lều bạt tại một khu tiếp nhận người di cư miền Bắc trong trường đua Phú Thọ. Ngoài tiền bạc trợ giúp chi phí sinh hoạt, dân di cư còn được cấp quần áo, thực phẩm vài ba tháng đầu để ổn định cuộc sống mới. Rất nhiều người di cư, chưa quen cách ăn mặc và khẩu vị của đồ ăn đóng hộp đem bán cho mấy đầu nậu thu gom bán lại ra thị trường chợ trời.

Với công việc điều hành tiếp nhận, cấp phát hàng trợ giúp cho bà con di cư, ông bạn tôi thường nhận được nhiều hàng “hiến tặng” mà không cần phải bỏ tiền mua lại những thứ thực phẩm đóng mác “Donated by The People of The USA. Do Not Resale”. (Được sự đóng góp của Nhân dân Hoa Kỳ. Không bán lại”).

Ðồ Mỹ viện trợ phần nhiều là dầu ăn, phô mai, thịt đóng hộp và ba loại kẹo bánh. Nói chung là một ít mặt hàng thiết yếu dùng hằng ngày cho người lớn và trẻ con. Ông nhớ mãi chuyện của nhiều gia đình di cư mang phô mai đến nhà tặng. Thú thật, “ban đầu tôi không dám nhận vì nhiều quá, một vài miếng phô mai thì cứ xem như nghĩa tình, đằng này cả đống phô mai, lại là loại giá trị của Pháp nhưng đối với nhiều người không biết ăn, không sành ăn phô mai Pháp thì coi như món đậu hủ thúi của người Hồng Kông, ngửi mùi đủ phát ớn, làm sao nuốt trôi qua cổ họng”.

“Tôi không hiểu sao trong hàng viện trợ của Mỹ lại có thực phẩm của Pháp nữa. Món phô mai Vieux Boulogne gói giấy bạc vuông vức. Mùi phô mai này khó ngửi nhưng lại là một trong những loại phô mai ngon mà tôi thỉnh thoảng được mấy người bạn Pháp hồi còn làm ở Kho Bạc nhà nước tặng cho. Loại phô mai này làm thủ công bằng sữa bò nguyên chất, ngâm trong bia lên men nhiều ngày. Phô mai Vieux Boulogne nhâm nhi với rượu vang Bordeaux thì rất tuyệt. Tội cho người di cư chưa quen mấy món ăn Tây”.

Thật ra, người Sài Gòn bắt đầu “yêu thích” hàng thực phẩm Mỹ bán ở chợ trời là khoảng thời gian hơn mười năm sau đó. Thời gian này, lính Mỹ vào miền Nam cả nửa triệu quân, để phục vụ miếng ăn thức uống theo khẩu vị quê nhà, các nhà thầu Mỹ thiết lập các cửa hàng PX (Post Exchange) tức là hàng hoá tiêu dùng của Mỹ dành cho quân nhân và viên chức Hoa Kỳ đóng quân ở nhiều vùng, trong đó Sài Gòn có hai cửa hàng lớn.

Một là PX Sài Gòn nằm trên đường Tự Do góc bên hông khách sạn Majestic và cái khác là PX Chợ Lớn nằm trên đường Nguyễn Tri Phương gần góc Ngã Sáu. Hàng hoá bán ra chợ trời phần lớn từ nơi đây.

Chuyện này có lần tôi đã nhắc tới trong bài viết “Hàng PX và đô la đỏ”. Và xin trích lại một bài phóng sự điều tra của ký giả Lederer William J. đăng trên tạp chí Der Spiegel số 44 ngày 28/10/1968 rằng: “Hệ thống cửa hàng PX có trên 5,000 phụ nữ người Việt được nhận vào để bán hàng. Trong tháng 5 năm 1967, chỉ riêng một cửa hàng PX ở Sài Gòn đã mất 65,000 dollar vì ăn cắp vặt. Và đó chỉ là một cửa hàng nhỏ.

Có một thời gian, ban giám đốc cho khám xét những người Việt bán hàng lúc họ tan ca ra về, khiến nhân viên dọa sẽ đình công nếu như việc kiểm tra này không chấm dứt. Trong thời gian thực hiện bài điều tra ở Sài Gòn, tôi đã quan sát thấy bốn lần chiếc xe tải chở đầy thực phẩm từ cửa hàng PX vào kho tiếp liệu của khách sạn Continental như thế nào. Có một lần, một kiện thịt to, có in tên Tướng Westmoreland, được đưa cùng với nước ép cà chua vào cửa kho khách sạn Continental”.

Và đâu chỉ có nhân viên bán hàng, kể cả những người làm nhiệm vụ quản lý người Hàn Quốc hoặc Phi Luật Tân cũng thông báo cho thân nhân của mình những đợt hàng có giá trị mới về để mua bán kiếm lời. Thế là một lô hàng tủ lạnh mới đưa vào cửa hàng ngày hôm qua, vừa mới mở cửa bán sáng nay cho lính Mỹ thì đã bị gom sạch. Ðâu chỉ thế, kể cả một số lính Mỹ cũng tham gia mua hàng mỗi ngày rồi đem ra bán lại cho con buôn thông đồng từ trước.

Cũng trong thời gian này, vài ba công ty nhập cảng hàng điện tử tủ lạnh, tivi, radio, máy hát đĩa than, máy Akai, mở đại lý chuyên bán mặt hàng này trên đường Huỳnh Thúc Kháng. Bên cạnh đó, các gian hàng nhỏ chuyên bán phụ tùng đi kèm, bao da radio, anten truyền hình, loa nhạc, băng từ và các phụ tùng transistor để sửa chữa ra đời góp phần làm nên tên chợ trời điện tử Huỳnh Thúc Kháng bán buôn nhộn nhịp trước năm 1975.

Ðây là nơi lần đầu tiên tôi biết đến một dãy cửa tiệm bán đồ điện tử ở Sài Gòn đông người lui tới. Ba tôi đi dạo một vòng xem giá rồi cuối cùng mua cái tivi trắng đen Panasonic nhỏ nhất. Tivi có cái cửa lùa, bên dưới là bốn cái chân tròn thanh mảnh màu vàng đất trông rất dễ thương. Việc ba tôi mua cái tivi là do một lần đi làm về bắt gặp tôi đứng chen chân trước cửa sổ nhà hàng xóm coi bộ phim cao bồi hấp dẫn đang bắn súng ì xèo.

Ông đứng đằng sau lay vai tôi, lúc đó do say mê xem phim tôi cứ tưởng đứa hàng xóm nào chen lấn, miệng còn lên tiếng cự nự : “Coi thì cứ coi đi, làm gì mà chen với lấn”. Với tuổi học trò cuối cấp tiểu học, được ba dẫn đi chợ hàng điện tử mua cái tivi coi cho thỏa thích đương nhiên tôi rất khoái.

Tôi cũng khoái đứng xem người ta lựa quần áo đổ đống trên vỉa hè đường Tôn Thất Ðạm. Ba tôi bảo đó là chợ trời quần áo cũ của những nước giàu viện trợ cho những nước nghèo. Nhìn những đống quần áo đủ màu đủ kiểu, nhất là những chiếc áo thun còn mới tôi rất thích với ánh mắt thèm muốn có được vài bộ đồ đẹp với chúng bạn. Nhưng ba tôi bảo thà mua vải về may mặc vừa vặn, đẹp hơn. Là đồ của mình, mình mặc chứ không phải mặc đồ của người ta.

Nói đến chợ trời đồ ăn thức uống của Mỹ không phải một số sạp hàng quanh khu Chợ Cũ mà phải nhắc đến chợ trời trên đường Nguyễn Thông. Từ khi học đệ thất, tôi mới biết đến những thứ hàng hoá đa dạng đầy hấp dẫn này. Mỗi chiều tan học tôi đều lội bộ trên con đường tắt ngang đây để xem người ta buôn bán đủ thứ kẹo chewing gum, chocolate, kẹo trái cây và từng đống đồ hộp thịt hay cá chất cao theo hình kim tự tháp.

Từ ngã ba Kỳ Ðồng kéo dài đến cuối đường gần vách tường chắn khu vực ga xe lửa Hoà Hưng, hai bên đông đúc người mua kẻ bán. Có cả đồ ăn của lính Mỹ, bột sy-rô, cacao thậm chí hàng quân tiếp vụ từ mì gói đến xà bông, đường sữa gì cũng có.

Tôi thích nhất là kẹo đậu phộng Hàn quốc, mỗi gói 6 viên, bọc trong giấy dầu, bên trong là giấy bóng, không cần phải lột vì khi bỏ vào miệng nó tan biến đâu mất. Viên kẹo giòn tan thơm đậu phộng rang xay nhuyễn, không cứng như cục kẹo gừng, kẹo kéo, kẹo ú mà mấy năm trước còn hấp dẫn đám trẻ chúng tôi.

Nguồn hàng đồ hộp của Mỹ bày bán trên đường Nguyễn Thông, ngoài hàng PX, còn có khẩu phần đồ ăn cá nhân của lính Mỹ đi trận ở mấy kho tiếp liệu. Tên vắn tắt gọi là hàng MCI (Meal Combat Individual), mỗi thùng có 12 hộp giấy nhỏ, trên mỗi hộp có ghi ký hiệu B-1, B-2 hay B-3 dùng cho bữa ăn sáng trưa chiều tối.

Sau này, tôi mới biết những ký hiệu ghi trên vỏ hộp. Hồi đó, tôi chỉ biết hộp này có ba miếng thịt heo chiên lên ăn khá ngon, thịt bò thì nghe mùi trầu không ngon bằng loại cá khô vuông vắn bằng ba ngón tay ngâm nước lạnh cho mềm chiên lên không khác gì miếng cá phi lê tươi rói.

Khi nghe chuyện đồ ăn của lính Mỹ, mấy người bạn lớn tuổi của tôi gần như rất vui, nhớ lại từng mùi vị của mỗi loại khẩu phần đóng gói. Có ông còn ganh tị, cùng là phận lính chiến, người thì ăn cơm sấy ngâm nước lạnh, hút Bastos xanh; thằng thì ăn bánh mì đồ hộp đủ loại thịt cá, hút Salem phì phèo, nhai kẹo cao su, uống thì cà phê hoà tan, cacao sữa, thậm chí còn có khăn giấy lau miệng, giấy vệ sinh đi cầu.

Chẳng lính nào trên thế giới sang hơn lính Mỹ viễn chinh xứ mình. Ðồ ăn của lính Mỹ đi trận không được bán ra ngoài. Thế nhưng muốn kiếm vài chục thùng đồ ăn MCI cứ đến chợ trời Nguyễn Thông thể nào cũng có. Nguồn hàng này từ đâu? Từ kho tiếp liệu tuồn ra !

SÀI GÒN XƯA :

CÀ PHÊ VỢT PHA BẰNG SIÊU ĐẤT,

HƠN 50 NĂM NÍU GIỮ CHÂN NGƯỜI

Sài Gòn nổi tiếng bởi những quán hàng cà phê trải dài khắp các con phố với đủ thứ đủ loại: Cà phê phin, cà phê sữa, cà phê nội ngoại,… Nhưng trong tất cả những thức đồ ấy, tồn tại một món cà phê xưa cũ từng là kí ức quen thuộc, là hoài niệm thân thương của bao người dân xứ Gia Định, đặc biệt là người Hoa sống tại nơi đây, đó chính là Cà phê vợt.

Từ đầu thế kỷ 20, cà phê được người Sài Gòn đón nhận khá nồng nhiệt. Vào khoảng những năm 1930, khắp địa phương Sài Gòn – Chợ Lớn (Région de Saigon – Cholon) hầu như sáng nào cũng có các quán cà phê đông khách. Theo thời gian, hương cà phê len lỏi và ngấm dần vào thói quen và kí ức của người dân khu phố thị bậc nhất xứ Nam Kỳ này.

Trước khi uống cà phê kiểu Pháp, người Sài Gòn pha cà phê vợt theo kiểu Trung Hoa. Cà phê vợt hay còn được gọi với những cái tên khác như cà phê bít tất hay cà phê kho là một trong những nét văn hóa xưa của cộng đồng người Hoa còn sót lại tại Sài Gòn. Cà phê xay nhuyễn được lọc qua vợt bằng vải the dài như bít tất, ủ trong siêu thuốc bắc để ra hết vị. Thứ nước đầu này được tiếp tục đem kho liu riu trên bếp than.

Đến nay, Sài Gòn có lẽ chỉ còn sót lại 2 quán cà phê vợt kho bằng siêu đất tồn tại đã trên nửa thế kỷ, một ở quận 3 và một ở quận 11. Hương cà phê vợt “kho” trong siêu đất có sự hấp dẫn riêng mà có lẽ không vị cà phê tân thời nào có thể sánh được.

“Chỉ cần ngửi mùi thơm là người ta tự đến”

Quán cà phê vợt tồn tại đã nửa thế kỷ của ông Lưu Nhân Thanh nằm trong hẻm 313 Tân Phước, P. 6, Q.11. Không gian quán nhỏ xinh đậm chất người Hoa nằm trong một con hẻm nhỏ, nhìn vào đây đã thấy một thời xưa cũ và phong cách uống cà phê mộc mạc, bình dân vô cùng..

Người Việt Nam biết cách thưởng thức cà phê một cách đích thực và đúng nghĩa chắc cũng không có nhiều. Trải bao thăng trầm cùng thời gian, sự biến đổi cách uống, cách phục vụ cà phê, ông Thanh vẫn bảo tồn vẹn nguyên phong cách pha cà phê truyền thống.

Ông Thanh pha bằng siêu đất, loại siêu mà người ta chuyên dùng để nấu thuốc bắc. Ông chia sẻ : “Chỉ có giữ nóng bằng cái siêu đất, hương thơm cà phê vợt mới ngon hơn hẳn cà phê đựng trong cái phin bằng kim loại”. Bí quyết của ông là không bao giờ giặt vợt bằng xà phòng vì sẽ làm mất mùi cà phê, chỉ cần rửa bằng nước sạch là đủ. Vợt càng dùng lâu năm, càng đen thì pha cà phê lại càng ngon.

Cà phê pha xong bằng siêu đất mới được ông đổ ra ấm nhôm để bán cho khách. Nước cà phê đầu tiên gọi là nước cốt, đây cũng là lượt cà phê chất lượng nhất của một lần pha. Ấm cà phê cốt được bắc lên một bếp than trước khi rót cho khách.

Khi dùng bạn có thể cho thêm chút đường, khuấy đều rồi bưng tách cà phê lên để nếm thử hương vị cà phê tinh khiết lúc còn nóng. Nhấp một chút rất ít cà phê rồi dùng lưỡi trải mỏng nước cà phê khắp miệng và nuốt nhẹ nhàng.  Sau đó, thở ra từ từ để hương thơm cà phê xông lên từ hốc mũi, vòm mũi và bạn cảm nhận mùi hương cà phê dường như lan tỏa lên đến đỉnh đầu.

Điều đặc biệt cà phê vợt ở đây giá chỉ 5.000 đồng, thêm sữa thì giá 1 ca sẽ là 6.000 đồng. Những khách hàng của ông Thanh hầu hết là những người trung tuổi và cao tuổi. Họ uống như một thói quen hay nói đúng hơn là thỏa cơn ghiền cà phê vợt, nhất là khi kiểu pha chế này đã gần như đang bị mất hút tại Sài Gòn.

Nhiều năm qua quán của ông Thanh cũng chứng kiến nhiều câu chuyện, nhiều cảnh đời trái ngược ngang qua. Nhưng ông vẫn luôn tận tâm phục vụ mọi người bằng một lòng nhiệt huyết và đam mê pha cà phê truyền thống.

Cà phê nguyên chất có hương thơm và hậu vị tinh tế, đậm đà theo cách tao nhã, thanh thoát hoàn toàn khác với mùi thơm nồng của hương liệu, vị đậm và đắng nặng nề, màu nước đen thui và sánh kẹo của các loại hạt ngũ cốc như bắp, đậu rang cháy được tẩm hương liệu nồng độ cao trong quy trình sản phẩm cà phê pha tạp.

Rất nhiều người dân Sài Gòn cũng không thể nào nhớ rằng cà phê vợt có từ thời nào, nhưng ai cũng hiểu rằng quán như của ông Thanh đang góp phần níu giữ “hồn” cà phê vợt và nét văn hoá một thời của người Sài Gòn một thời.

Cheo Leo – Quán cà phê lâu đời nhất Sài Gòn

Ngang qua mấy con hẻm trên đường Bàn Cờ tới Nguyễn Thiện Thuật, quận 3. Thật không khó để tìm được quán cà phê vợt Cheo Leo dù có bị lọt thỏm giữa những ngôi nhà cao tầng san sát, bởi mùi cà phê thơm sực nức cùng tiếng nhạc xưa  đã tự dẫn người tìm đường tìm đến đúng nơi cần tìm.

Cà phê Cheo Leo của cụ cố Vĩnh Ngô được mở bán từ cuối những năm thập niên 30 của thế kỷ trước. “Những ngày đầu nhà tui về đây xung quanh đồng không trống trải, nhà cửa thưa thớt với vài ngọn đèn leo lét, nên cha tui đặt tên quán là Cheo Leo”, cô Hoa người con thứ 6 của cụ cố Vĩnh Ngô kể lại.

Thời đó, Cheo Leo là một trong những quán cà phê nhạc nổi tiếng Sài Gòn, là nơi hẹn hò của những cô cậu học trò trường Chu Văn An, Petrus Ký và đây cũng là nơi thường xuyên lui tới của một vài nghệ sĩ vang bóng một thời Sài Gòn.

Trong suốt 79 năm, hương vị cà phê cùng với cách pha độc đáo vẫn được từ chiếc vợt vẫn được mọi thành viên trong gia đình giữ nguyên.

Cô Hoa chia sẻ : “Lửa rất quan trọng khi luộc cà phê. Nếu để lửa lớn quá cà phê sẽ bị kho ra vị chua, còn nhỏ, cà phê sẽ bị nguội, uống vô không còn mùi vị”.

Lò nung cha chị làm từ cái thùng phuy chèn thêm lớp gạch pha với đường cát vàng hạt lớn. Giữa lò nung có than lửa làm nước sôi, nước sôi già mới đổ vào cái siêu mà người ta thường đun thuốc Bắc. Trong siêu có tấm vải lược, tức cái vợt, bỏ cà phê xay nhuyễn vào đó. Ủ một lúc thì chắt nước cà phê qua cái siêu khác, đặt bên rìa lò nung giữ nóng lâu, hoặc chắt liền vào ly phục vụ khách vừa tới quán.

Một khách ruột của quán tâm sự : “Sanh thời ông Cheo Leo điệu nghệ lắm. Ổng luôn vận quần soọc, cỡi xe Vespa đi chợ Bến Thành mua cà phê chánh hiệu Meilleur Gout, Jean Martin mang dzìa pha vợt. Tới khi Sài Gòn đã hiếm quán cà phê pha vợt, ổng cũng không chịu pha phin, biểu pha bằng cái phin thì cà phê cũng chẳng ngon hơn chút nào, mà nỡ bỏ đi cái cách cà phê pha vợt đã quá thân thương với người Sài Gòn. Tụi tui mến ổng là vậy”.

Khi muốn cảm thụ hương vị của tách cà phê đích thực, sự thư thái trong tâm hồn cùng với những cốc nhựa cà phê ở đây, nhiều người khám phá ra cà phê vợt đem đến cho bạn trải nghiệm thú vị và bổ ích.

oOo

Giữa nhịp sống hiện đại và náo nhiệt, hình ảnh những người già ngồi bên tách cà phê cạnh lò đun nghi ngút khói trở thành một nét duyên thầm trong thế giới ẩm thực và đời sống văn hóa vốn đã lắm phong phú của Sài Gòn.

Ngày nay, cà phê vợt không chỉ là thức uống được người lao động bình dân ưa chuộng, đó đã là niềm khao khát, là thói quen chung của nhiều người thích tĩnh lặng, nhớ hoài cổ và nét trầm mặc của thời gian.

Dù chúng ta có đi rất xa, chúng ta vẫn luôn mong muốn có một điều nào đó để nhớ về. Nhất là về với những kỉ niệm, những nét văn hóa truyền thống rất riêng còn lưu giữ lại, mọi thứ đều góp phần tạo nên một bức tranh muôn màu khiến Sài Gòn trở nên đẹp hơn.

Yên Huỳnh tổng hợp chuyển tiếp

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: