THIÊN ĐỊA HỘI Ở NAM KỲ

Tr Chu chetTHIÊN ĐỊA HỘI

VÀ NHỮNG CUỘC BẠO LOẠN

Ở NAM KỲ

Mặc dù đánh giá Thiên Địa hội tại Nam Kỳ chưa đến nỗi nguy hiểm như ở Trung Quốc, nhưng người Pháp thỉnh thoảng cũng tổ chức các cuộc ruồng bố và trục xuất những Hoa kiều không đăng ký trong sổ bộ.

Tuy vậy, Thiên Địa hội vẫn không ngừng phát triển. Tháng 5/1882, ở tổng Định Chí, tỉnh Sóc Trăng, tất cả người Hoa, người Minh Hương và người Việt ở 18 làng trong tổng đều theo Thiên Địa hội. Ở Cần Thơ, làng nào cũng có Thiên Địa hội mà người đứng ra tổ chức là những người Hoa từ Chợ Lớn về.

Những thế lực ngầm

Như chúng tôi đã nói, ở 6 tỉnh miền Tây Nam Bộ (lục tỉnh), tỉnh nào cũng có Thiên Địa hội 9 Thien dia hoi 1nhưng gây được ảnh hưởng lớn nhất vẫn là tại Long Xuyên với hai nhóm là Nghĩa Hưng và Nghĩa Hòa.

Nhóm Nghĩa Hưng hoạt động dưới lớp vỏ bọc thương mại, gọi là Nghĩa Hưng công ty, chuyên vận chuyển lúa gạo, hàng hóa gia dụng bằng những chiếc ghe bầu. Ở cái vành gỗ đầu tiên ngay trước nóc mui ghe, họ cho sơn màu xanh. Vì vậy, dân Long Xuyên thường gọi họ là nhóm “kèo xanh”. Bên cạnh đó, họ còn có một số nhà máy xay lúa và một đội ngũ chuyên đi đến những làng mạc xa xôi, thu mua lúa gạo. Ở đâu xuất hiện nhóm thu mua này là ở đó, những thương buôn khác phải tránh xa.

Những người lãnh đạo nhóm “kèo xanh” hầu hết là người Hoa gốc Phúc Kiến. Thời hưng thịnh nhất, nhóm “kèo xanh” có khoảng 60 chiếc ghe bầu, tải trọng mỗi ghe từ 5 đến 8 tấn với nhân lực hơn 1.000 người, kể cả công nhân bốc vác. Gắn động cơ thủy của hãng MEMEs, Pháp, đội ghe Nghĩa Hưng hoạt động khắp lục tỉnh, lên Sài Gòn, đi Biên Hòa và sang cả Phnôm Pênh, Campuchia. Ở Cần Thơ, Nghĩa Hưng có một chi nhánh gọi là Nhơn Hưng còn tại Sài Gòn, chi nhánh là Đông Hưng.

Nhóm thứ hai xưng tên Hòa Xuân – dân Long Xuyên gọi là nhóm “kèo đỏ”. Về thực chất thì nhóm “kèo đỏ” tách ra từ nhóm “kèo xanh”, phần lớn vẫn là người Phúc Kiến. 9 Thien dia hoi 2Bởi vậy nên ngoài cái vành mui ghe thứ nhất sơn màu xanh thì vành thứ hai họ sơn màu đỏ.

Cũng như “kèo xanh”, “kèo đỏ” hoạt động trong lĩnh vực vận tải đường sông nhưng đội ghe của họ ít hơn “kèo xanh”, chỉ có chừng 35 đến 40 ghe, nhân lực khoảng 600 người nhưng ngược lại, một số “hội kín” ủng hộ họ vì họ thường giúp những người bị mật thám Pháp truy nã, ẩn trốn trong ghe dưới dạng làm công.

Thực lực không bằng “kèo xanh, kèo đỏ” nhưng lại nổi danh là nhóm “kèo vàng”, tên chính thức là Nghĩa Hòa gồm đa số người Hoa gốc Triều Châu và một số ít là người Minh Hương (là những người theo nhà Minh, khi bị Mãn Thanh cai trị đã bỏ xứ chạy sang Việt Nam rồi thành lập một cộng đồng gọi là Minh Hương). Cũng hoạt động dưới lớp vỏ thuyền buôn nhưng “kèo vàng” chuyên về tổ chức cờ bạc với những sòng me, tài xỉu, xập xám.

Những sòng bạc này mọc lên ở khắp nơi: Từ một manh chiếu trải xuống đất bên cạnh chợ Mỹ Luông chuyên đánh tài xỉu đến những sòng mạt chược lênh đênh trên những chiếc ghe bầu hoặc trong những ngôi nhà cửa nẻo kín mít. Theo ước tính vào đầu thế kỷ XX, hội viên chính thức của nhóm “kèo vàng” chỉ khoảng 300 người nhưng nó chi phối hệ thống cờ bạc từ Cần Thơ xuống Sóc Trăng, từ Bạc Liêu, qua Long Xuyên về Rạch Giá.

Trong một báo cáo viết năm 1879 của Sở Mật thám Nam Kỳ gửi Toàn quyền Đông Dương, họ đã báo động như sau : “Tỉnh Long Xuyên gồm 60 làng nhưng chỉ 5 làng là chưa xác định được có hội kín hoặc có người dân theo “kèo xanh”, “kèo đỏ” hay không. Số còn lại thì 35 làng chịu ảnh hưởng rất nặng của hai nhóm này, 17 làng chịu ảnh hưởng tương đối. Cũng trong 60 làng thì 52 làng có người của “kèo vàng”, chuyên tổ chức đánh bạc bằng nhiều hình thức, lôi kéo hàng nghìn con bạc tham gia.

9 Thien dia hoi 5Trong số 12.484 dân Triều Châu ở toàn cõi Nam Kỳ – trừ Sài Gòn, Chợ Lớn – thì chỉ riêng tỉnh Sóc Trăng và một phần của Bạc Liêu, tổng số người Triều Châu là 5.300 người – nghĩa là gần một nửa. Ngoài ra, còn có khoảng 6.000 người Triều Châu khác không chịu đăng ký, ghi tên vào sổ bộ…”.

Mặc dù sáng lập và xây dựng tổ chức, nhưng là thiểu số nên người Hoa chỉ nắm vai trò lãnh đạo, vạch kế hoạch cho mọi hoạt động của nhóm mình, còn đa số hội viên hoặc những thủ lĩnh cấp thấp là người Việt. Ngay từ năm 1877, mật thám Pháp đã nhận ra sự hoạt động của Thiên Địa hội nhưng thời điểm ấy, họ cho rằng Nghĩa Hưng, Hòa Xuân, Nghĩa Hòa lập ra chẳng qua là để cạnh tranh trong lĩnh vực làm ăn, cờ bạc.

Báo cáo của mật thám Long Xuyên viết : “Sự liên kết giữa người Việt và Hoa kiều nhất định sẽ có hại cho nhà nước thuộc địa, tuy hiện nay chưa thành vấn đề lớn nhưng trong tương lai sự liên kết ấy sẽ mạnh hơn vì có sự thông đồng ngấm ngầm giữa Hoa kiều chủ chứa sòng bạc và bọn công chức An Nam ăn hối lộ…”.

Kéo xanh, kéo vàng đại chiến

Tuy nhiên, từ năm 1880 trở đi, tình hình trở nên biến động khác thường. Nhiều làng xóm liên tục xảy ra những vụ cháy nhà, chặt phá vườn cây ăn trái, đánh bả chó, cắt chân trâu, bò… mà nạn nhân nếu không phải là hội viên của nhóm “kèo xanh” thì cũng là người của “kèo vàng”.

Tháng 9/1880, tại Sóc Trăng, lần đầu tiên “kèo xanh”, “kèo vàng” dàn quân đánh nhau công khai giữa ban ngày. Tổng cộng hai bên có khoảng 60 người, hầu hết là người Hoa giỏi võ,9 Ly long than 3 trang bị gậy gộc chứ không dùng đao kiếm vì không muốn rắc rối với chính quyền thuộc địa, chưa kể hàng trăm người khác của cả hai bên đi theo để cổ vũ tinh thần. Kết quả có 3 người bị thương nặng phải đưa lên Chợ Lớn điều trị.

Khi trận giao tranh xảy ra, theo lệnh của viên chủ tỉnh, hương chức làng và lính mã tà không can thiệp, cũng như không xuất hiện để giải tán hay bắt bớ. Đến tháng 11, hai bên lại đánh nhau nhưng trận đụng độ có quy mô lớn nhất xảy ra vào ngày 17/12/1880. Hơn 400 người thuộc Nghĩa Hưng, Nghĩa Hòa lao vào hỗn chiến ngay trên đường phố cạnh chợ Sóc Trăng. Lần này, theo đề nghị của chủ tỉnh, Thống đốc Nam Kỳ chấp thuận xử phạt, nhưng chỉ phạt bằng tiền.

Nguyên nhân của những xung đột này bắt nguồn từ thời xa xưa, giữa người Hoa gốc Phúc Kiến và người Hoa gốc Triều Châu. Đến khi nhóm Nghĩa Hòa mở ra những sòng bạc, nó đã lôi cuốn không ít “phu thuyền” – là người làm công trên ghe bầu của nhóm Nghĩa Hưng lao vào cuộc đỏ đen, mà thói cờ bạc thì thua nhiều hơn thắng. Để gỡ gạc, “phu thuyền” Nghĩa Hưng ngoài sự chểnh mảng trong công việc, có người còn ăn cắp lúa đem bán lấy tiền. Sau nhiều lần phát tín hiệu cảnh báo nhưng nhóm Nghĩa Hòa vẫn làm lơ, nhóm Nghĩa Hưng quyết định một còn một mất.

Và sở dĩ nổ ra những trận chiến bởi nhóm Nghĩa Hưng xưa nay vẫn thiên về hoạt động chính trị. Dựa vào khẩu hiệu “phản Pháp phục Nam”,  những người cầm đầu Nghĩa Hưng toan tính lật đổ chính quyền thuộc địa để thay thế bằng một nền quân chủ phong kiến trong lúc nhóm Nghĩa Hòa lại chủ trương làm ăn kinh tế thông qua cờ bạc, thuốc phiện. Bên cạnh đó, cũng do đa số nông dân, thợ thuyền người Việt ít học, không phân biệt nổi đâu là “kèo xanh”,9 Ly long than 5 đâu là “kèo vàng”, mà họ chỉ gọi chung là “hội kín” khiến thanh danh của Nghĩa Hưng ít nhiều tổn hại nên họ phải đánh để phân định “chính”, “tà”!

Mặc dù đánh giá Thiên Địa hội tại Nam Kỳ chưa đến nỗi nguy hiểm như ở Trung Quốc, nhưng người Pháp thỉnh thoảng cũng tổ chức những cuộc ruồng bố và trục xuất những Hoa kiều không đăng ký trong sổ bộ. Tuy vậy, Thiên Địa hội vẫn không ngừng phát triển. Tháng 5/1882, ở tổng Định Chí, tỉnh Sóc Trăng, tất cả người Hoa, người Minh Hương và người Việt ở 18 làng trong tổng đều theo Thiên Địa hội. Ở Cần Thơ, làng nào cũng có Thiên Địa hội mà người đứng ra tổ chức là những người Hoa từ Chợ Lớn về. Chỉ đến khi một “lính kín” phát hiện ra rằng trong một buổi lễ kết nạp hội viên mới, có lời thề “sẽ khởi loạn” thì chính quyền thuộc địa mới thật sự lưu tâm.

Đầu tháng 7/1882, tại một bãi đất hoang vu sát biển thuộc tổng Thạnh Hòa – nay là tỉnh Bạc Liêu, một “lính kín” báo về, rằng một số Hoa kiều dựng lên những căn chòi nằm rải rác, canh gác cẩn mật. Hằng ngày, thường xuyên có chừng 300 đến 400 người lui tới họp hành bàn bạc.

Hai ngày sau đó, một cuộc càn quét được chính quyền thuộc địa tung ra với 12 mật thám, 50 lính mã tà dưới sự chỉ huy của một cai tổng. Nhóm người Hoa chống cự kịch liệt bằng gậy gộc nhưng tre, gỗ làm sao đấu nổi súng đạn. Kết quả 76 người Hoa bị bắt, tất cả đều là dân Triều Châu, trong đó có 19 người bị bắt quả tang đang nấu thuốc phiện lậu cùng một số tài liệu liên quan đến Thiên Địa hội. Qua khai thác, họ nói rằng 9 Ly long than 9tất cả mọi hoạt động của họ đều theo sự chỉ đạo từ Chợ Lớn nhưng ai là người trực tiếp chỉ đạo thì họ không biết vì chỉ liên lạc bằng thư.

Ngay lập tức, vùng Sài Gòn, Chợ Lớn bị bố ráp theo lệnh của Thống đốc Nam Kỳ. Tại hai căn nhà liên kế số 127, 129 đường Lareynière, người Pháp thu được nhiều tài liệu quan trọng, chứng minh đây là cơ quan đầu não của Thiên Địa hội. 7 người Hoa gốc Triều Châu bị trục xuất về nước.

Hội Tam Hoàng dưới thời Việt Nam Cộng hòa

Năm 1954, sau Hiệp định Geneve chia đôi đất nước, miền Nam Việt Nam nằm dưới sự cai trị của chính quyền gia đình trị Ngô Đình Diệm. Không khó để nhận ra sự lũng đoạn kinh tế của một nhóm người Hoa có liên quan đến Thiên Địa hội – mà lúc này đã đổi tên thành Hội Tam Hoàng.

Dưới sự cố vấn của Ngô Đình Nhu, tháng 9/1956, Ngô Đình Diệm ban hành đạo luật số 53, cấm người nước ngoài (mà thực chất là cấm người Hoa) làm 11 nghề, gồm: buôn bán lúa gạo, in ấn, buôn bán dầu hỏa, than đá, vận tải hành khách… Bên cạnh đó, ông ta ra lệnh cho tất cả mọi người Hoa, nếu ai không nhập quốc tịch Việt thì sẽ bị trục xuất.

Theo một báo cáo của Bộ Nội vụ Việt Nam Cộng hòa, tính đến cuối năm 1961, 9 Ly long than 8hơn 1 triệu người Hoa sống ở miền Nam chỉ còn chừng 2.000 người là không chịu đổi quốc tịch, phần lớn là những người đã già. Báo cáo này viết : “Họ – nghĩa là những người Hoa không nhập tịch – đều lớn tuổi, ốm đau bệnh hoạn, sống nay chết mai nên xét thấy không cần thiết phải trục xuất họ”…

Tin vào báo cáo nên anh em Diệm, Nhu không biết rằng trong số những ông già “cận địa viễn thiên” ấy, có người là lãnh đạo tối cao của Hội Tam Hoàng ở miền Nam. Duy nhất chỉ có một nhân vật nhìn ra mối nguy hiểm tiềm tàng này : Đó là Ngô Đình Cẩn.

Là em út trong dòng họ Ngô, Cẩn tuy ít học nhưng lại được trời phú cho một khả năng đặc biệt về những hoạt động ngầm. Bằng cách lập ra “Đoàn công tác đặc biệt miền Trung” do Dương Văn Hiếu và Nguyễn Tư Thái (biệt danh Thái “đen”) cầm đầu với mục tiêu “săn lùng và tiêu diệt Cộng sản nằm vùng”, Cẩn ra lệnh “làm thịt” luôn những người Hoa theo Hội Tam Hoàng bằng cách vu cho họ là tình báo Trung Quốc. Quá sợ hãi, nhiều người Hoa giàu có ở Huế, ở Đà Nẵng bỏ của chạy lấy thân. Họ vào Sài Gòn, xuống Bạc Liêu, Sóc Trăng… làm lại cơ nghiệp từ đầu và đó cũng là nguyên nhân vì sao đến nay, so với các địa phương khác ở miền Nam thì Huế là nơi có số lượng người Hoa ít nhất.

9 Ly long than 10Trước những biến động ấy, Tam Hoàng ở miền Nam hầu như tê liệt. Nếu như trước kia, Tam Hoàng Chợ Lớn được coi như trung tâm quyền lực đen thứ hai trên thế giới, chỉ sau Singapore còn xếp thứ ba là Hồng Kông thì năm 1960, Tam Hoàng Chợ Lớn xem như biến mất trên bản đồ “hội kín”. Thay vào đó, một tổ chức nhỏ hơn, thực lực kém hơn nhưng vẫn do người Hoa sáng lập và điều khiển là “Thanh bang” ngoi lên, tiếp thu và phát triển những ngành nghề kinh tế mà trước đó, nó vốn nằm trong tay các thành viên của Hội Tam Hoàng…

Tam Hoàng tái xuất

Trở lại chuyện Tam Hoàng ở miền Nam thời Việt Nam Cộng hòa, mặc dù “Đoàn công tác đặc biệt miền Trung” của Ngô Đình Cẩn lợi dụng việc “triệt hạ cơ sở Cộng sản nằm vùng” để “làm thịt” luôn Hội Tam Hoàng nhưng từ năm 1958, khi Ngô Đình Nhu quyết định phục hồi việc mua bán thuốc phiện để có tiền nuôi dưỡng phong trào “Cần lao nhân vị” do ông ta đẻ ra, cũng như đàn áp những cuộc khởi nghĩa và các nhóm đối lập thì Nhu không thể không bắt tay với Tam Hoàng mặc dù trước đó – tháng 5/1955 – Ngô Đình Diệm đã đích thân phát động phong trào bài trừ thuốc phiện dưới hình thức đóng cửa những tiệm hút, tổ chức một buổi lễ công khai đốt bàn đèn cùng các dụng cụ phục vụ việc hút xách.

Bằng cách cho một người thân tín bí mật tiếp xúc với Mã Tuyên nhân vật đứng đầu 5 bang hội người Hoa ở Chợ Lớn đồng thời cũng là một chỉ huy cao cấp của Tam Hoàng miền Nam rồi tiếp theo, đích thân Nhu Mã Tuyên. Sau nhiều cuộc bàn bạc, thương lượng thì chỉ một thời gian ngắn, khoảng 2.500 tiệm hút thuốc phiện ở Chợ Lớn đã mở cửa trở lại. 9 Thien dia hoi 6Để cung cấp thuốc phiện cho những tiệm hút ấy, Nhu mở hai tuyến vận chuyển từ Lào về Sài Gòn thông qua Hãng Hàng không thuê bao Air Laos Commerciale.

Tháng 11/1963, chế độ Ngô Đình Diệm bị lật đổ sau một cuộc đảo chính, anh em Diệm, Nhu bị giết dù đã được Tam Hoàng Chợ Lớn che chở. Tuy không có một văn bản chính thức nào từ “Hội đồng Quân nhân cách mạng” – là nhóm sĩ quan, tướng lĩnh Sài Gòn chủ mưu đảo chính nhưng cộng đồng người Hoa ở miền Nam xem như đạo luật 53 – cấm người Hoa làm 11 nghề – hết hiệu lực.

Và thế là các hiệu buôn, nhà in, các công ty xuất nhập khẩu máy móc nông ngư cụ, các “chành” lúa gạo, hãng xe đò do người Hoa làm chủ ồ ạt ra đời. Lúc này, do chiến tranh và những cuộc đảo chính, phản đảo chính, chỉnh lý giữa những người cầm đầu chế độ Sài Gòn liên tục xảy ra nên có vẻ như Tam Hoàng Chợ Lớn không còn quan tâm đến chính trị nữa mà chuyển sang làm ăn kinh tế bằng cách móc ngoặc với những tướng lĩnh, những bộ trưởng và các tỉnh trưởng, quận trưởng ở những khu vực sầm uất để được thắng thầu nhiều hạng mục béo bở.

Một trong những cú làm ăn ngoạn mục nhất của Tam Hoàng Chợ Lớn là năm 1966 – một năm sau khi thiếu tướng Vĩnh Lộc lên nắm quyền Tư lệnh Quân đoàn 2, thì Lý B, một trong những trùm Tam Hoàng Chợ Lớn tìm cách tiếp cận với ông ta. Sau khi gặp mặt, Lý B, đặt thẳng vấn đề với tướng Vĩnh Lộc rằng “xin mua lại tất cả những vỏ đạn đại bác 105mm bằng đồng của quân đội sau khi đã bắn xong”, với một giá rất “thoáng”.

Thời điểm này, tất cả mọi loại chiến cụ sử dụng trong quân đội Việt Nam Cộng hòa đều do người Mỹ cung cấp. Theo một điều khoản trong chương trình viện trợ, vỏ đạn đại bác 105mm sau khi bắn phải được thu lượm lại để gửi về Mỹ tái chế, và Bộ Tư lệnh quân viễn chinh Mỹ ở miền Nam Việt Nam (MACV) kiểm soát rất gắt gao về số lượng đạn đã cấp phát cũng như số vỏ đạn thu về.

Sau nhiều ngày suy nghĩ, Vĩnh Lộc cùng các quân sư nảy ra một kế : Ông ta ra lệnh cho phần lớn những căn cứ pháo binh đóng ở những tiền đồn, những chi khu hẻo lánh, mỗi đêm mỗi khẩu đại bác 105mm phải bắn ít nhất 20 quả đạn, bắn đi đâu cũng được rồi cứ vài hôm, xe quân sự lại đến, chở đống vỏ đạn ấy về Pleiku. Tại đây, các “xì thẩu” người Hoa đã lập sẵn một xưởng nấu đồng, biến đống vỏ đạn thành những thỏi đồng bóng loáng. Số đồng này ngoài việc cung cấp cho những nhà sản xuất lư hương, chân đèn,9 Thien dia hoi 4 các xưởng cơ khí, các cơ sở chế tạo khuôn mẫu trong nước, còn thì… xuất khẩu sang Hồng Kông, Đài Loan!

Giải thích với các cố vấn Mỹ về việc đêm nào cũng bắn, dẫn đến số lượng đạn 105mm cung cấp cho Quân đoàn 2 trong năm 1967 bằng gần một nửa so với số đạn mà Quân đoàn 1, Quân đoàn 3 và Quân đoàn 4 sử dụng nhưng không thu lại được vỏ đạn, Vĩnh Lộc nói rằng ông ta thực hiện kế hoạch “bắn quấy rối” – nghĩa là bắn hú họa vào những vùng nghi có Quân Giải phóng đang hoạt động, vừa để làm mất tinh thần đối phương, vừa để đối phương biết rằng quân đội Việt Nam Cộng hòa luôn theo sát mọi hành tung của họ. Sau đó, các căn cứ pháo binh bị Quân Giải phóng tập kích nên lính bỏ chạy, vỏ đạn cũng mất luôn !

Cùng với việc mua vỏ đạn của Lý B, ở Chợ Lớn bắt đầu xuất hiện thêm nhiều ông “vua không ngai” người Hoa như Lâm Huê H., “vua tín dụng và hàng phế liệu chiến tranh”, Mã H., “vua lúa gạo”, Lý Long T., “vua dệt vải, sắt thép”, Tạ V., “vua xuất nhập khẩu”, Lý B., “vua hàng PX, hàng viện trợ, đôla đỏ” (là hàng miễn thuế chỉ bán cho lính Mỹ và loại tiền chỉ có giá trị chi tiêu trong quân đội Mỹ), Lâm N., “vua lính ma, lính kiểng” (nghĩa là chạy cho con em người Hoa khỏi đi lính nhưng vẫn có tên trong danh sách, hoặc nếu phải đi lính thì cũng chỉ làm công việc văn phòng ở thành phố, thị xã chứ không phải ra mặt trận), tất cả đều có quan hệ mật thiết với Hội Tam Hoàng.

Trong đó, “vua bột ngọt” Trần T., gốc Triều Châu là một trong những thủ lĩnh cao cấp của Tam Hoàng, quản lý tài chính. Với tiềm lực rất mạnh, các ông “vua không ngai” 9 Thien dia hoi 3nắm trong tay 70% các ngành kinh tế xương sống của miền Nam. Nhiều người đồn rằng Tín Mã Nàm (hay còn gọi là “Nàm chảy”), một tay anh chị người Hoa khét tiếng trong giới xã hội đen ở Chợ Lớn cũng là người của Tam Hoàng nhưng thực tế thì “Nàm chảy” chỉ là một gã du đãng, kéo bè kết cánh để bảo kê vũ trường, động mại dâm.

Theo báo cáo của Biệt đội Hình cảnh – Tổng nha Cảnh sát quốc gia Sài Gòn gửi Phòng Cảnh sát Đặc biệt đặc trách Hoa vụ, thì : “Không có dấu hiệu cho thấy Lý Nam (tức Nàm) có dính líu đến Hội Tam Hoàng”. Hơn nữa, để bảo vệ công việc làm ăn, các “xì thẩu” người Hoa lúc ấy rất ngại đổ máu. Qua sự giao du mật thiết với các nhân vật chóp bu của chế độ Sài Gòn bằng tiền hối lộ, họ có đủ cách để khiến đối thủ thân bại danh liệt chứ mắc mớ gì mà phải đâm chém cho rùm beng.

Cố đấm ăn xôi

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Tam Hoàng Chợ Lớn ngoại trừ một số nhanh chân chạy ra nước ngoài thì số còn lại nằm im thở khẽ, theo dõi tình hình. Khi ấy, tại một cuộc họp bí mật với những người đứng đầu các bang hội người Hoa ở Chợ Lớn, Trần T. – một trong những thủ lĩnh cao cấp của Tam Hoàng, phụ trách việc quản lý tài chính, đã phát biểu : “Dù họ là ai chăng nữa (ý nói chính quyền cách mạng) thì họ cũng phải ăn, phải uống, phải mặc, phải thụ hưởng những tiện nghi vật chất. Vì thế, trước mắt chúng ta không nên manh động vì chỉ một thời gian ngắn nữa thôi, tất cả sẽ trở lại như cũ”.

Nhưng Trần T. đã nhầm. Khi chiến dịch cải tạo tư sản thương nghiệp, cải tạo tư sản mại bản diễn ra và nhất là thời gian trước cuộc chiến tranh biên giới 1979, nhiều người Hoa – trong số đó có hội viên Tam Hoàng trở về Trung Quốc rồi đi đến các quốc gia khác. Quyền lực của Tam Hoàng dần dà chuyển sang Hồng Kông. Đến khi Hồng Kông được người Anh trao trả cho Trung Quốc, Tam Hoàng chuyển sang Đài Loan, sang Malaysia, Canada, sang Mỹ…

Suốt 20 năm, từ 1975 đến 1995, ba từ Hội Tam Hoàng mờ dần trong ký ức của những người Hoa sống tại Sài G n cũng như các tỉnh Sóc Trăng, Trà Vinh, Bạc Liêu, An Giang… (theo An Ninh Thế Giớ)

Xem thêm : Lý Long Thân ông vua không ngai trong Chợ Lớn. Bấm vào đường dẫn sau đây, bài trong trang “Một thời Sài Gòn” post ngày 19/6/2013 :

Vua không ngai Chợ Lớn

9 Trum IS 1CÔ GÁI 16 TUỔI

KỂ CHUYỆN PHỤC VỤ

TRÙM IS AL-BAGHDADI

Cô Zeinat, 16 tuổi, kể lại chi tiết cuộc sống địa ngục trong dinh thự của trùm khủng bố IS Abu Bakr al-Baghdadi khi cô phải phục vụ.

Giống như hàng nghìn phụ nữ Yazidi, Zeinat bị khủng bố Nhà nước Hồi giáo (IS) bắt giữ ở núi Sinjar tại Iraq và trở thành nô lệ.

Trong cuộc phỏng vấn độc quyền của hãng tin CNN, Zeinat, 16 tuổi, kể lại chi tiết cuộc sống địa ngục trong dinh thự của trùm khủng bố Baghdadi sau khi bị bắt hồi năm 2013. “Hắn ta đối xử với chúng tôi vô cùng tàn tệ” – Zeinat khóc nức nở. Baghdadi luôn nói với Zeinat và các nô lệ khác rằng : “Hãy quên cha và anh của chúng mày đi. Bọn tao đã giết chúng rồi. Cũng quên mẹ và chị gái của chúng mày, vì bọn tao đã bán chúng rồi”.

Sau khi bị bắt, Zeinat và tám cô gái trẻ khác bị đưa đến Raqqa 9 Trum IS 2(Syria), “thủ đô” của IS. Khi đó cô bé không hề biết Baghdadi chính là thủ lĩnh tối cao của IS. Ngay khi đến Raqqa, Zeinat bị ép phải xem một đoạn video chiếu cảnh một số tay súng IS chặt đầu con tin nước ngoài. Chúng dọa sẽ chặt đầu cô nếu cô không chịu cải sang đạo Hồi.

“Hắn chiếu video bằng máy vi tính rồi dọa nếu chúng tôi không cải sang đạo Hồi, hắn sẽ chặt đầu chúng tôi” – Zeinat kể. Các cô gái có hai lựa chọn : “Cải sang đạo Hồi hay là chết”.

Tìm đường trốn chạy

Gia đình của Baghdadi liên tục chuyển từ nhà này sang nhà khác, từ thị trấn này sang thị trấn khác để đảm bảo an toàn. Ngày Zeinat đến Raqqa một vụ không kích phá hủy toàn bộ ngôi nhà bên cạnh dinh thự của Baghdadi. Zeinat kể cô và các nô lệ khác thường xuyên bị Baghdadi đánh đập một cách tàn bạo. Hắn luôn nhấn mạnh rằng các cô chỉ là “đồ vật sở hữu” của hắn. Zenat cũng liên tục bị ba bà vợ và sáu người con của Baghdadi hành hạ dù hàng ngày phải nai lưng lau dọn nhà cửa, nấu ăn và chăm sóc cho họ.

Quá sức chịu đựng, Zeinat quyết định bỏ trốn. Một lần, cô và một số nô lệ khác ăn trộm được chìa khóa ngôi nhà gia đình Baghdadi ở.9 Trum IS 3 “Chúng tôi lấy được chìa khóa và mở cửa rồi bỏ chạy. Chúng tôi thấy một ngôi nhà bên ngoài Aleppo. Ở đó có một người phụ nữ Ả Rập. Bà ta bảo sẽ giúp chúng tôi trốn sang Iraq, nhưng rồi lại gọi điện báo cho IS” – Zeinat phẫn uất.

Baghdadi và đàn em trừng phạt Zeinat cùng những nô lệ bỏ trốn không thương tiếc. “Chúng đánh mọi chỗ trên cơ thể chúng tôi. Thân thể chúng tôi thâm tím hoàn toàn. Chúng đánh chúng tôi bằng dây điện, thắt lưng và gậy gỗ. Baghdadi đánh tôi bằng thắt lưng và vòi phun nước. Hắn còn tát vào mặt tôi khiến mũi tôi chảy máu” – Zeinat kể.

Baghdadi nói với Zeinat và các nô lệ khác: “Tao đánh chúng mày vì chúng mày dám bỏ trốn. Tao muốn chúng mày cải đạo. IS sở hữu chúng mày”. Ở Raqqa, Zeinat gặp con tin người Mỹ Kayla Mueller. Khi đó cô bị biệt giam vì tội bỏ trốn.

Baghdadi không dùng điện thoại

“Khi bị đưa vào phòng giam, tôi găp Kayla. Tôi nghĩ cô ấy là người Yazidi nên nói chuyện với cô ấy bằng tiếng Kurd, nhưng cô ấy không hiểu, 9 Trum IS 4do đó tôi nói bằng tiếng Arabic” – Zeinat kể. Hai người bị giam chung trong vài tuần. Khi đó Mueller kể với Zeinat rằng cô bị Baghdadi cưỡng hiếp. Mueller bị bắt cóc ở Syria năm 2013 và bị IS hành quyết hồi tháng 2/2015.

Zeinat cho biết cô cố thuyết phục Mueller bỏ trốn cùng cô nhưng vô hiệu. “Khi nghe Kayla kể, tôi muốn tiếp tục bỏ trốn và rủ cô ấy, nhưng Kayla từ chối. Cô ấy kể về một nhà báo Mỹ bị chặt đầu và lo sợ nếu trốn cô ấy cũng sẽ bị hành quyết. Nhưng tôi chứng kiến nỗi đau của cô ấy và quyết tâm trốn” – Zeinat nói.

Theo Zeinat, Baghdadi đối xử với Mueller như “vợ”, bắt cô mang trang phục truyền thống của đạo Hồi và không cho người đàn ông nào khác được thấy mặt cô. Zeinat cho biết thủ lĩnh tối cao của IS thường làm việc tới nửa đêm và chỉ thức dậy lúc 10g sáng. Có nhiều lần hắn đi vắng bốn hoặc năm ngày mới về.

Bình thường hắn không mặc trang phục Hồi giáo truyền thống. Baghdadi hoàn toàn không sử dụng điện thoại di động vì sợ bị tình báo phương Tây lần ra dấu vết. “Hắn luôn lo sợ sẽ bị máy bay kẻ thù phát hiện. Hắn chỉ liên lạc với những người khác bằng cách nhờ người thân tín gửi thư” – Zeinat kể.

Thoát chết

Dù bị đánh đập, tra tấn và đe dọa, Zeinat vẫn quyết tâm bỏ trốn. Một đêm, cô phát hiện cửa sổ phòng nô lệ bị sút đôi chút. Zeinat và các cô cố gắng đẩy cửa và bò ra ngoài. Họ chạy như điên trong màn đêm đen tối. “Chúng tôi không biết phải đi đâu, chỉ vừa chạy tứ tung vừa cầu nguyện” – Zeinat kể. Sau nhiều giờ, họ đến được một ngôi làng nhỏ.

Họ gặp một gia đình và kể lại cảnh cùng khổ của mình, nhờ giúp đỡ. Hai người đàn ông dùng xe máy chở họ đi trốn. “Chúng tôi được cho mặc trang phục đạo Hồi, che kín mặt. Họ lái xe chở chúng tôi qua nhiều cánh đồng và đường nhỏ để tránh bị phát hiện” – Zeinat kể. Và cuối cùng họ đã thoát khỏi cuộc sống địa ngục.

Trở lại Iraq, Zeinat đoàn tụ với mẹ và một số anh chị em họ. Nhưng ba chị em gái của cô vẫn đang bị IS giam cầm, cha cô mất tích và có thể đã giết hại. Cô hi vọng những thông tin mình cung cấp có thể giúp bắt giữ Baghdadi. “Tôi hi vọng họ sẽ sớm giết hắn. Hắn là kẻ giết người, tàn phá các gia đình, cưỡng hiếp các cô gái. Tôi muốn cả thế giới biết hắn ác độc đến mức nào” – Zeinat nhấn mạnh.

Dung Dung tổng hợp chuyển tiếp

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: