CHUYỆN THỦ HUỒN & SÔNG NHÀ BÈ

logo-bay-gio-ke

10-nha-be-1SỰ TÍCH SÔNG NHÀ BÈ

TỨC TRUYN THỦ HUN

Ngày xưa ở đất Gia định (thuộc đất Biên Hòa và Quận Bình Thạnh ngày nay) có một người tên là Thủ Huồn (1). Hắn xuất thân làm thơ lại. Trong hơn hai mươi năm luồn lọt trong các nha các ti, hắn đã làm cho bao nhiêu gia đình tan nát, bao nhiêu người bị oan uổng; do đó hắn đã vơ vét được bao nhiêu là tiền của.

Vợ hắn chết sớm lại không có con cho nên tiền bạc của hắn không biết tiêu đâu cho hết. Ngoài số chôn cất, hắn đem tiền tậu ruộng làm nhà. Ruộng của hắn cò bay thẳng cánh, mỗi mùa thu hoạch kể hàng ngàn “giạ” lúa.

Khi thấy cuộc sống quá sung túc, hắn mới thôi việc về nhà, sống một cuộc đời trưởng giả.

Một hôm, có người mách cho Thủ Huồn biết chợ Mạnh-ma ở Quảng Yên là chỗ người sống và người chết có thể gặp nhau. Muốn gặp người chết, người sống phải chờ đến mồng một tháng 6 ÂL, mang một món hàng vào chợ hồi nửa đêm mà đi tìm. Thủ Huồn là người rất yêu vợ. Tuy vợ chết đã ngoài mười năm nhưng hắn vẫn không lúc nào quên. Hắn bèn giao nhà lại cho người bà con rồi làm một chuyến du lịch ra miền Trung, mong gặp lại mặt vợ cho thỏa lòng thương nhớ bấy lâu.

Khi gặp vợ, Thủ Huồn không dám hỏi vì thấy vợ ăn mặc rất đài các. Sau cùng người đàn bà ấy cũng nhận ra được. Thủ Huồn mừng quá vội dắt vợ ra một chỗ kể cho vợ nghe cảnh sống của mình từ lúc âm dương cách biệt. Rồi hắn hỏi vợ:

– Mình lâu nay làm gì ?

– Tôi làm vú nuôi trong cung vua. Cuộc đời của tôi không có gì đáng phàn nàn. Tôi có một gian nhà riêng trong hoàng cung, cái ăn cái mặc được chu cấp đầy đủ.

Hắn nói :

– Tôi nhớ mình quá. Tôi muốn theo mình xuống dưới ấy ít lâu có được không ?

10-nha-be-2– Đi được. Nhưng chỉ trong vài ngày là cùng, nếu quá hạn sẽ nguy hiểm.

Thủ Huồn và vợ cùng đi. Qua mấy dặm đường tối mịt, chả mấy chốc đã đến cõi âm. Hắn rùng mình khi lọt qua bao nhiêu cổng trước lúc vào thành nội, qua những tên quỷ gác cổng có những bộ mặt gớm ghiếc. Nhờ có vợ nên chỗ nào cũng vào được trót lọt. Đến một gian nhà thấp, vợ bảo chồng :

– Đây là nhà bếp, đằng kia là nhà ngục, trước mặt là cung hoàng hậu, chỗ tôi túc trực hàng ngày. Qua khỏi đấy là cung vua. Cứ ẩn tạm trong buồng vắng này vì không thể lên buồng tôi trên kia được. Tôi sẽ kiếm cách cho chàng đi xem một vài chỗ, nhưng rồi phải về ngay.

Chiều hôm đó người vợ về trao cho Thủ Huồn một mảnh giấy phép và nói :

– Chỉ có cung vua và cung hoàng hậu thì đừng có vào còn mọi nơi khác chàng cứ đi xem cho thỏa thích.

Hắn lượn mấy vòng xung quanh nhà bếp rồi tiện chân đến nhà ngục. Chưa lọt khỏi cổng mà những tiếng kêu khóc, tiếng la hét ở phía trong làm cho hắn bồn chồn. Qua mấy phòng chuyên mổ bụng, móc mắt, cắt tay, v.v… hắn thấy đây quả là nơi hành hạ tội nhân kinh khủng, đúng như lời đồn ở trên trần thế.

Sau cái bàn xẻo thịt là cả một kho gông. Trong đó có một cái gông đặc biệt: nó vừa to vừa dài, làm bằng những thanh gỗ nặng như sắt. Thủ Huồn lân la hỏi người cai ngục :

– Thứ gông này để làm gì ?

– Để chờ một thằng ác nghiệt ở trần xuống đây. Bao nhiêu những cái gông trong này đều đã có chủ cả. Cứ xem gông10-nha-be-3 to hay nhỏ thì biết tội ác của nó.

Thủ Huồn lại hỏi :

– Thế cái thằng sẽ đeo cái gông vừa to vừa dài đó là ai ?

Lão cai ngục thủng thỉnh giở một cuốn sách vừa to vừa dày chỉ vào một hàng chữ, đọc : “Hắn là Võ Thủ Hoằng tức là Thủ Huồn”. Rồi nói tiếp :

– Thằng cha đó ở Đại-nam quốc, Gia-định tỉnh, Phúc-chính huyện…

Nghe nói thế, Thủ Huồn giật mình mặt xám ngắt. Nhưng hắn vẫn giữ được vẻ bình tĩnh. Hắn hỏi thêm :

– Thế nào ? Hắn có tội gì ?

Lão cai ngục mắt vẫn không rời quyển sách.

– Khi làm thơ lại hắn bẻ mặt ra trái làm bao nhiêu việc oan khốc đến nỗi tội ác của hắn đen kín cả mấy trang giấy đây. Này nghe tôi đọc này : năm Ất sửu hắn sửa hai chữ “ngộ sát” thành “cố sát” làm cho hai mẹ con thị Nhân bị chết để cho người anh họ chiếm đoạt gia tài. Việc này Thủ Huồn được mười nén vàng và mười nén bạc, một trăm quan tiền. Cũng năm đó, hắn làm cho ông Ngô Lai ở thôn Bình-ca bị hai mươi năm tội đồ chỉ vì trong nhà có cái áo vải vàng, để đoạt không của ông ta mười hai mẫu ruộng. Năm…

Thủ Huồn tái mặt, không ngờ mỗi một cái cất tay động chân của mình trên kia, dưới này đều rõ mồn một. Hắn ngắt lời đánh trống lảng.

– Thế vợ hắn có cùng đeo gông không hở ông ?

– Ồ ! Ai làm người ấy chịu chứ ! Vợ hắn nghe đâu là người tốt đã xuống đây rồi.

Thủ Huồn lại hỏi gặng :

– Ví thử hắn muốn hối cải thì phải làm thế nào ?

10-nha-be-4Lão cai ngục hạ sách xuống bàn, đáp :

– Đã vay thì phải trả ! Nếu hắn muốn thì phải đem những thứ của cải cướp giật được đó bố thí và cúng lễ cho hết đi.

Từ biệt lão cai ngục và những hình cụ khủng khiếp, Thủ Huồn không còn bụng dạ nào để đi xem nơi khác nữa. Vợ thấy chồng đòi về, lại đưa chồng ra khỏi hoàng cung của Diêm vương và ra khỏi mấy dặm đường tối tăm mù mịt. Lúc sắp chia tay hắn bảo vợ :

– Tôi về trang trải công nợ có lẽ ba năm nữa tôi lại xuống. Mình nhớ lên chợ đón nghe !

Về tới Gia-định. Thủ Huồn mạnh tay bố thí. Hắn tập hợp những người nghèo khó trong vùng lại, phát cho họ tiền, lúa. Hắn đem ruộng đất của mình cúng cho làng, cho chùa, chia cho họ hàng thôn xóm. Hắn mời hầu hết sư, sãi các chùa gần vùng tới nhà mình cúng cơm, tốn kém kể tiền vạn.

Người ta lấy làm lạ không hiểu tại sao một tay riết róng như hắn bây giờ trở nên hào phóng một cách lạ thường. Ai xin gì được nấy. Có những người trước chửi hắn bây giờ lại đâm ra thương hại hắn. Nhiều người bảo nhau :

10-nha-be-5– “Thứ của vô nhân bất nghĩa ấy không trước thì sau thể nào cũng đội nón ra đi mà thôi !” hay là :

– “Có lẽ hắn không con, biết để của cũng chả làm gì nên tự làm cho vợi bớt”.

Thủ Huồn có nghe rất nhiều lời đàm tiếu về mình, nhưng hắn chẳng nói gì sất, cứ việc quẳng của không tiếc tay. Cứ như thế sau ba năm, Thủ Huồn tính ra đã phá tán được ba phần tư cơ nghiệp. Nhớ lại lời hẹn, hắn lại khăn gói ra Bắc tìm đến chợ Mạnh-ma. Ở đây, hắn dỗ khéo được vợ cho hắn xuống thăm cõi âm một lần nữa.

Khi trở lại nhà ngục. Thủ Huồn thấy quang cảnh vẫn như cũ. Lão cai ngục vẫn là lão cai ngục ba năm về trước. Cách bố trí y hệt như xưa : cũng có nơi mổ bụng, nơi móc mắt, cắt tay,… Duy chỗ để gông thì có ít nhiều thay đổi. Bên cạnh những cái vẫn còn nguyên hình như xưa thì lại có những cái trước bé nay đã lớn lên, có cái trước lớn, nay nhỏ hẳn đi. Đặc biệt cái gông mà Thủ Huồn chú ý nhất thì bây giờ đã rút ngắn lại tuy vẫn còn to và dài hơn các thứ gông thường một tý. Hắn lân la hỏi lão cai ngục :

– Cái gông để ở nơi này trước kia tôi nhớ hình như to lắm thì phải.

– Đúng đấy ! Lão đáp. Có lẽ gần đây ở trên dương thế thằng cha ấy đã biết chuộc lỗi nên nó đã nhỏ lại. Nếu hắn gắng hơn nữa, thì rồi sẽ có phúc lớn.

10-nha-be-6Thủ Huồn lại lên đất, trở về Gia-định. Hắn lại làm tiếp công việc bố thí và cúng dàng. Lần này hắn bán hết tất cả những gì còn sót lại, kể cả nhà của của mình. Hắn đến Biên-hòa dựng một ngôi chùa lớn để cúng Phật. Hắn xuôi sông Đồng-nai để làm một việc nghĩa cuối cùng. Hồi đó ở ngã ba sông Đồng-nai và sông Gia-định việc đi lại rất bất tiện. Cũng vì thế mà bên kia sông Đồng-nai người ta còn ngần ngại chưa dám di cư sang để sinh cơ lập nghiệp.

Thủ Huồn liền quyết định ở lại đây. Hắn kết một cái bè lớn, trên bè có nhà ở, có đủ chỗ nghỉ, có sẵn nồi niêu, đồ dùng và tiền gạo. Những thứ ấy hắn dùng để tiếp rước những người qua lại, nhất là những người nghèo khó. Hắn cho họ trú ngụ tại bè của mình kẻ năm ba ngày, người một đôi tháng mà không lấy tiền. Hắn làm công việc đó mãi cho đến ngày xuống âm phủ thật sự.

oOo

Sau đó khá lâu, có lần một ông vua tên là Đạo Quang bên Trung-quốc lúc mới lên ngôi có cho sứ sang Việt-nam hỏi lai lịch một người ở Gia-định. Số là khi nhà vua mới sinh, người ta thấy trong lòng bàn tay vua có mấy chữ: “Đại-nam, Gia-định, Thủ Hoằng”, nên nhà vua cần biết rõ gốc gác Thủ Hoằng là ai. Sau khi sứ giả cho biết rõ lai lịch Thủ Huồn, vua Trung-quốc có cúng vào ngôi chùa Biên-hòa ba pho tượng vàng. 10-nha-be-7Do việc đó người ta bảo Thủ Huồn nhờ thành thực hối lỗi, chẳng những làm tiêu mất cái gông chờ hắn ở cõi âm, mà còn được Diêm vương cho đi đầu thai làm vua Trung-quốc.

Ngày nay, một ngôi chùa ở Biên-hòa còn mang tên là chùa Thủ Huồn: chỗ ngã ba sông Đồng-nai và Gia-định còn gọi là sông Nhà-bè để kỷ niệm lòng tốt của Thủ Huồn đối với khách hộ hành Nam Bắc qua con sông đó [2].

Có câu tục ngữ:

Nhà bè nước chảy phân hai,

Ai về Gia-định Đồng-nai thì về.

Khảo dỊ

Truyện trên giống với truyện Người đi dạo âm phủ cũng do Jê-ni-bren (Génibrel) sưu tập :

Có hai vợ chồng một người ở Nam-định, nhà giàu có lớn. Họ sinh được một cô con gái rất xinh và khôn ngoan tên là Trần Thị Xuân. Đặc biệt là mỗi bàn tay có sáu ngón. Không may năm nàng mười ba tuổi thì bị lên đậu trời mà chết. Thương nhớ con gái, hai vợ chồng không thiết làm ăn gì nữa.

Nghe nói ở Quảng-yên có chợ Mạnh-ma, ở đấy dương gian và âm phủ có thể gặp nhau được, hai vợ chồng bèn tìm đến, mong được gặp con. Họ có mang theo một cái quả bằng bạc sắm cho cô gái lúc còn sống.

Nhằm ngày mồng một tháng Sáu họ đến chợ giả bày hàng ra bán. Lát sau, người con gái đến hàng mua trầu, trông thấy cái quả của mình liền hỏi chuyện. Cha mẹ nhận ra con nhờ có bàn tay sáu ngón của cô và được con mời đi dạo cảnh âm phủ.

Chồng của cô là một viện quan giám thành, đưa cha mẹ vợ đi coi các cửa ngục. Khi đến cửa thứ nhất, hai vợ chồng thất kinh thấy tên tuổi của họ có yết ở cửa ngục. Họ vờ hỏi chàng rể tại sao có tên yết ở cửa, thì hắn bảo :

10-nha-be-8– “Hai người đó ở dương gian cho người ta vay nợ một lớp vốn năm bảy lớp lời làm cho người ta phải bán vợ đợ con nên yết lên để chờ làm tội”.

Hai vợ chồng lại hỏi :

– “Vậy chúng nó muốn khỏi tội thì phải làm thế nào ?”

– “Phải làm chay bố thí cho hết của đó, mới mong khỏi được”.

Trở về làng cũ hai vợ chồng dốc của cải ra đón sư làm chay và mạnh tay bố thí. Sau khi hết của họ lại lần mò ra chợ Mạnh-ma tìm con gái và định đòi xuống âm phủ xem thế nào. Nhưng cô gái vừa gặp cha mẹ đã bảo :

– “Cha mẹ đã sạch tội rồi, không còn thấy tên ở cửa ngục nữa. Vậy chả cần xuống làm gì”.

Cả hai truyện trên có lẽ chịu ảnh hưởng từ một số Phật thoại ngoại lai trong đó có truyện Mục Liên thăm mẹ ở địa ngục khá phổ biến ở Việt-nam. Phần cuối truyện Thủ Huồn tương tự với Sự tích sư ông Huyền Chân Truyện bà Hiếu.

Sự tích sư ông Huyền Chân : Xưa, ở chùa Quang Minh, xã Hậu-bổng (Hải-dương) có một hòa thượng nổi tiếng chân tu. Lúc về già, Phật Di-đà hiện lên báo mộng rằng :

– “Nhà người có công với đạo Phật, kiếp sau sẽ cho giáng sinh làm vua Trung-quốc”. Khi hòa thượng chết, nguoi-xua-1đệ tử vâng lời thầy viết vào vai mấy chữ “Hòa thượng Huyền Chân chùa Quang Minh“.

Về sau có lần sứ bộ Việt Nam sang Trung Quốc. Khi yết kiến, chánh sứ Nguyễn Tự Cường được vua Minh Hy Tông cho biết là mình sinh ra trên vai có mấy chữ, rửa mấy cũng không sạch, không biết đầu đuôi vì sao. Nguyễn Tự Cường về dò hỏi mới biết câu chuyện sư Huyền Chân, vội mang nước giếng chùa Quang Minh sang cho vua Trung-quốc. Kết quả, nước rửa đến đâu chữ mất đến đấy [3].

Truyện bà Hiếu : Ở làng Linh Chiểu Đông (Gia-định) có người đàn bà tên là Hiếu nhà giàu, không có con cái. Bà bèn lập chùa Hòa Nghiêm bao vây một khoảng đất rộng để cho kẻ nghèo chôn cất làm phúc. Nhờ có công đức đó nên khi chết được đầu thai làm con gái vua Trung Quốc. Công chúa khi đẻ ra có chữ son “Gia-định, Linh-chiểu Đông, chùa Hoa-nghiêm” vua Trung-quốc cho là sự lạ, gửi giấy sang hỏi bên ta. Sau đó vua sai cúng vàng bạc vào chùa và xin đưa bài vị sang để thờ. Làng không chịu, chỉ làm một bài vị khác đưa sang cho vua Trung Quốc [4].

[1] Theo Trương Quốc Dụng trong Thoái thực ký văn.

[2] Theo Jê-ni-bren (Génibrel), sách đã dẫn, và tham khảo Thơ ông Thủ Huồn của Nguyễn Hữu Rằng.

[3] Theo Vũ Phương Đề. Công dư tiệp ký.

[4] Theo Lăng-đờ (Landes). Sách đã dẫn.

9-mon-nam-bo-1Xuân Mai chuyển tiếp

MÓN ĂN NAM BỘ

ĐONG ĐẦY Ý NGHĨA

Khi Tết Nguyên Đán đến, người dân Nam Bộ náo nức, tưng bừng chuẩn bị mọi thứ để đón chào năm mới, nhất là mâm cỗ Tết để cúng ông bà, tổ tiên. Mâm cỗ Tết Nam Bộ với các món ăn truyền thống, giản đơn mà đong đầy ý nghĩa.

1/- Thịt kho rệu : Tết đến, món thịt kho rệu là món chủ lực trong mâm cỗ cúng tổ tiên của người Nam Bộ. Món này còn có tên gọi khác là thịt kho hột vịt hay thịt kho tàu. Mới nghe “thịt kho tàu” tưởng chừng đây là món ăn có nguồn gốc từ Trung Quốc. Nhưng thật ra đây là món thuần Việt vì nhà văn Nam Bộ – Bình Nguyên Lộc từng giải thích rằng chữ “tàu” có nghĩa là “lạt” hay “nhạt”.

Thịt kho rệu là món ăn đơn giản, dễ làm, nhưng cũng có những bí quyết riêng để món ăn thơm ngon, đậm vị.9-mon-nam-bo-2a Để làm món ăn này, các mẹ, các chị thường lựa chọn thịt ba rọi hay thịt đùi rồi cắt thành miếng cỡ nửa bàn tay xòe, có người kỹ tính còn dùng dây lạt để cột ngang từng miếng thịt lại trước khi ướp để lúc nấu thịt không bị bung và bở, trông miếng thịt đẹp hơn. Những miếng thịt được ướp với các gia vị như đường, muối, tỏi và không thể thiếu ớt sừng trâu đập giập. Muốn miếng thịt trong thì đem phơi nắng một lúc, sau đó chấy tỏi mỡ cho thơm rồi cho thịt vào, nhanh tay trộn đều để miếng thịt săn lại. Còn trứng vịt luộc chín, để khi gỡ vỏ không bị dính tròng trắng mà vẫn còn nguyên vẹn thì người ta sẽ ngâm trứng vịt trong nước lạnh khoảng 10 phút.

Nước nấu thịt phải là nước dừa xiêm mới “đúng điệu”. Cho nước dừa xiêm vào nồi nấu sôi thì thả ít tỏi vào. Khi nghe mùi thơm của tỏi tỏa ra thơm lựng thì đó là lúc thả thịt vào kho với lửa lớn chừng 20 phút. Lúc đó, với kinh nghiệm của mình, các mẹ, các chị sẽ hạ lửa nhỏ xuống cho nước sôi liu riu. Canh khoảng một lúc nữa thì cho hột vịt vào tiếp tục kho đến khi nào miếng thịt mềm, 9-mon-nam-bo-2bnước kho thịt không cần nước màu cũng chuyển sang màu cánh gián.

Thịt kho rệu của người Nam Bộ đúng như tên gọi phải “rệu, rục” mới ngon. Miếng thịt có sự hòa quyện đủ sắc màu hương vị: màu đỏ au của thịt nạc, màu nâu nâu của trứng vịt và da hầm nhừ, sắc trong của mỡ sóng sánh trong màu vàng ươm của nước. Không thiếu vị ngọt bùi thanh khiết của nước dừa xiêm, cái vị thanh thanh của đường lẫn mằn mặn của nước mắm.

Món thịt có nạc có mỡ lại béo ngậy màu sắc ấm áp thể hiện mong muốn một năm mới đủ đầy, sung túc. Ngoài ra, tính hào sảng, cởi mở của người Nam Bộ cũng thể hiện rất rõ qua món ăn này. Vì món dễ nấu, nên Tết đến, các nhà thường hùn nhau nấu chung rồi chia phần cho nhau vừa vui, vừa ý nghĩa.

2/- Khổ qua dồn thịt : Khổ qua (mướp đắng) được người dân miệt vườn Nam Bộ chế biến thành món ăn giản đơn hàng ngày trong bữa cơm gia đình. 9-mon-nam-bo-3Thế nhưng, khi Tết đến xuân về, món khổ qua dồn thịt là món ăn không thể thiếu. Người Nam Bộ quan niệm “khổ qua” không chỉ là tên một loại trái mà còn có nghĩa là những phiền não, đau khổ của năm cũ sẽ qua hết, năm mới sẽ được nhiều vui sướng, may mắn cho gia đình.

Để làm món khổ qua dồn thịt, việc quan trọng đầu tiên là phải chọn những trái khổ qua có màu xanh đậm, suôn dài đều nhau vì dễ lấy ruột ra và dồn thịt vào. Các mẹ, các chị không chọn trái quá mập vì khi dồn sẽ hao thịt mà khi chín khó cắt khúc cho đều không đẹp mắt. Trái khổ qua đem dạt chéo một đầu, dùng muỗng lấy hết ruột ra ngoài rồi ngâm nước lạnh để khi hầm khổ qua vẫn giữ được màu xanh mướt đẹp mắt. Tùy theo sở thích của từng người, nhân khổ qua có nhiều loại. Nhưng phổ biến nhất là trộn thịt cá thát lát với thịt heo rồi xay nhuyễn như thế nhân sẽ dai, giòn, ngon. Sau đó, phết nhân cho dẻo, rồi khéo léo dồn nhân vào ruột trái khổ qua sao cho vừa khít, nhưng không làm nứt vỏ. Để khi hầm khổ qua không bị nứt vỏ thì dùng hành lá hay dây lạt buộc chặt trái lại.

Nước hầm khổ qua phải là nước dừa xiêm ninh với xương ống để nước thật ngọt. Khi nước sôi thì thả khổ qua vào, để lửa lớn cho nước sôi bùng lên thì vớt bọt cho nước hầm trong. Để lửa riu riu cho đến khi nồi khổ qua hầm chín vừa ăn thì múc ra tô. Ngày Tết, bên cạnh những món dầu mỡ, thịt cá, người Nam Bộ đổi vị bằng món khổ qua hầm đăng đắng mát tận ruột gan để đón năm mới mọi sự “khổ” đều “qua” hết cả.

9-mon-nam-bo-4a3/- Bánh tét : Cũng như bánh chưng miền Bắc, bánh tét là món ăn truyền thống ngày tết trong mâm cỗ Nam Bộ. Bánh tét thường được gói vào khoảng 28 đến 29 Tết để kịp ngày 30 Tết có bánh để rước ông bà. Để kịp gói bánh tét, người gói phải chuẩn bị các nguyên vật liệu trước đó khoảng một tuần, từ gạo nếp gói bánh đến lá chuối phải róc ra phơi sẵn cho héo, dây buộc bánh phải là dây lạt.

Tùy theo ý thích của mỗi nhà mà nhân bánh có thể là nhân ngọt hoặc nhân mận như: chuối chín, đậu, thịt mỡ… Ngoài ra, trong phần nếp, người ta còn trộn thêm đậu đỏ hay đậu đen cho bắt mắt. Đến ngày gói bánh, mọi người trong nhà sẽ tụ họp, phân chia công việc cụ thể: người khéo tay thì xào nếp, làm nhân, trẻ con có thể phụ lau lá chuối… không khí vui vẻ, náo nhiệt, chuyện trò rôm rả suốt cả ngày.

9-mon-nam-bo-4bVới người Nam Bộ, bánh tét không chỉ là món ăn mà ẩn chứa nhiều ý nghĩa nhân sinh. Những lớp lá bao bọc quanh nhân bánh như: người mẹ bao bọc, chăm lo cho đàn con thân yêu… Đặc biệt, hình ảnh màu xanh của đồng quê sông nước, những sản vật của thiên nhiên Nam Bộ đều thể hiện qua đòn bánh tét xanh nhân vàng gợi lên niềm mơ ước “an cư lạc nghiệp” của tổ tiên từ ngàn đời xưa.

Cũng như bánh chưng miền Bắc, bánh tét Nam Bộ tuy giản đơn, nhưng đề cao sự lao động của con người, sự hòa hợp giữa con người với thiên nhiên, sự giao hòa giữa trời đất và tấm lòng thành kính hướng về tổ tiên.

9-mon-nam-bo-5a4/- Lạp xưởng : Ngày Tết Nam Bộ trên mâm cỗ cũng không thể thiếu món lạp xưởng. Cách làm món lạp xưởng khá kỳ công trải qua nhiều công đoạn, với nguyên liệu chủ yếu là ruột heo và thịt heo.

Bằng kinh nghiệm của bản thân, các mẹ, các chị lựa ruột heo tươi, ruột không quá già cũng không quá non. Ruột đem về cạo rửa thật sạch, để ráo rồi đem phơi. Còn thịt heo nên chọn phần thịt nạc đùi heo đem về khéo léo lóc bỏ hết gân, mỡ rồi cùng nhau xắt nhỏ còn nếu muốn nhanh hơn thì đem xay nhưng cũng chỉ xay vừa chứ không quá nhuyễn vì nhuyễn quá lạp xưởng sẽ không dai.

Để tăng hương vị đậm đà cho lạp xưởng, phần thịt sẽ trộn thêm với mỡ theo tỉ lệ hợp lý rồi ướp với muối, đường, bột ngọt, tỏi và nhất định phải có tiêu hột và rưới thêm ít rượu trắng vào. Chờ một lúc cho gia vị ngấm đều thì đem hỗn hợp thịt đó dồn vào ruột heo khô, khéo léo dùng dây cột thành từng 9-mon-nam-bo-5bđoạn nhỏ rồi đem phơi ngoài nắng, theo thời gian sẽ lên men và dần dần ửng đỏ trong rất đẹp.

Lạp xưởng là món ngon, góp thêm hương vị đậm đà cho ngày Tết. Món này lại dễ chế biến, chỉ cần đem luộc chín rồi chiên lại cho vàng là có thể ăn ngay. Thưởng thức lạp xưởng, bạn sẽ cảm nhận được sự hòa quyện của vị ngọt đong đầy của thịt mỡ với hương thơm của gia vị đâu đó chút vị cay cay, thơm lừng của tiêu. Ăn lạp xưởng thường kèm với củ kiệu, dưa chua, rau ngò… thì ăn hoài cũng không ngán. (theo Nhất Huỳnh)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: