TỪ CHỢ BẾN THÀNH ĐẾN VƯỜN BỜ RÔ

Logo bay gio ke

Tranh Ben ThanhCHUYỆN ÍT NGƯỜI BIẾT

VỀ CHỢ BẾN THÀNH

Chợ Bến Thành có lẽ không ai không biết dù có thể chưa có dịp ghé thăm. Nhưng ngôi chợ này vẫn có nhiều điều có lẽ ít người biết đến như từng có cầu vượt đầu tiên, từng mang tên chợ Quách Thị Trang…

Từ những thập niên đầu thế kỷ 18, trên vùng đất Sài Gòn, phủ Gia Định xưa đã hình thành các khu chợ buôn bán như: chợ Điều Khiển, chợ Tân Kiểng, chợ Nguyễn Thực… Đặc biệt khu chợ Lớn của người Hoa được hình thành trong khoảng năm 1679 đến năm 1731 là một khu vực buôn bán sầm uất thời bấy giờ. Kế đến là chợ Bến Thành nằm trên vàm Bến Nghé – sông Sài Gòn, gần thành Gia Định. Tên gọi chợ Bến Thành bắt nguồn từ vị trí này của chợ.

9-ben-thanh-1Năm 1913, chợ Bến Thành bị giải tỏa, nhà lồng chợ nhường lại cho Tổng nha Ngân khố, nay là Kho bạc Nhà nước nằm trên đường Nguyễn Huệ, quận 1. Khu vực chợ mang tên chợ Cũ nằm ở góc đường Tôn Thất Đạm – Hàm Nghi hiện nay vốn là chợ Bến Thành trước đây.

Tòa Bitexco Financial Tower xây dựng từ năm 2004 đến năm 2014, cao 262m, gồm 68 tầng, là tòa nhà cao nhất ở Sài Gòn hiện nay, tọa lạc ngay vị trí trung tâm chợ Bến Thành cũ (gồm Kho bạc nhà nước phía trước, sau là tòa nhà  Bitexco Financial Tower).

Chợ Bến Thành mới

Chợ Bến Thành mới được xây dựng ở một vị trí rộng rãi hơn, gọi là chợ Bến Thành mới hay chợ mới Sài Gòn. Trước mặt chợ Bến Thành là công trường Quách Thị Trang – trước kia là cái ao sình lầy gọi là Bồ-Rệt (Marais Boresse) do viên xã Tây lúc ấy (tức thị trưởng) tên Eugène Cuniac cho lấp năm 1912 và xây chợ Mới Sài Gòn.

Lúc đầu gọi là bùng binh Cu-nhắc (Rond – point Cuniac) rồi lần lượt đổi tên là công trường Diên Hồng và nay là công trường Quách Thị Trang.

9-ben-thanh-3Cửa chính của chợ Bến Thành là cửa Nam, rất phù hợp với tiêu chí mở cửa chính trong kiến trúc Việt: Lấy vợ hiền hòa, làm nhà hướng Nam. Mặt Bắc chợ mới là đường D’Espagne (nay là đường Lê Thánh Tôn). Mặt Tây chợ mới là đường Schroeder (nay là đường Phan Chu Trinh). Mặt Đông chợ mới là đường Viennot (nay là đường Phan Bội Châu).

Theo văn bản chính thức, tin đăng trên báo Le Nouvellistecochinchinois ngày 31/3/1914 thì dự án xây cất chợ trong quá trình từ năm 1894, nhưng mãi đến năm 1913 mới thực hiện.

Chi phí xây cất chợ Bến Thành mới tổng cộng là 975.000 quan Pháp. Nhà thầu xây dựng chính chợ mới là Công ty hỗn hợp Brossard và Mausin (về sau giải thể, thành Công ty gạch bông Thanh Danh ở đường Cống Quỳnh). Chợ Bến Thành mới xây xong làm lễ khai thị vào lúc 17g ngày 28-3-1914 và diễn ra trong ba ngày 28, 29 và 30/3/1914.

Lễ khai thị chợ Bến Thành mới được các giới hưởng ứng, đặc biệt là người Hoa đang nắm nhiều sạp trong chợ. Lễ khai thị được báo chí thời đó gọi là Tân Vương Hội. Ngày khai thị có khoảng 100.000 người tham dự, có cả dân từ các tỉnh đổ về. Lễ khai thị được tổ chức linh đình, có xe hoa diễu hành và nhiều hoạt động vui chơi, giải trí, mua sắm… Trong đó có cuộc gia đấu quyết tử giữa người và hổ 9-ben-thanh-2mà ai ai cũng phải thán phục !

Chợ Bến Thành có 16 cửa

Chợ Bến Thành có 4 cửa chính và 12 cửa phụ. Từ cửa Nam đến cửa Bắc của chợ dài 136m. Từ cửa Đông đến cửa Tây của chợ dài 96m. Đường chữ thập của chợ rộng 5m. Từ cửa Nam xuống Bắc của chợ có 22 hẻm. Từ cửa Đông xuống cửa Tây có 9 hẻm.

Cửa Nam là mặt tiền (cửa số 1) của chợ Bến Thành hướng ra công trường Quách Thị Trang. Phía Nam chợ Bến Thành ngoài cửa Nam còn có cửa số 2, cửa số 16.

Điểm nổi bật nhất của cửa Nam đó chính là tháp đồng hồ. Tháp đồng hồ có ba mặt. Tháp được xây dựng theo kiến trúc kiểu Pháp. 9-ben-thanh-4Phía dưới tháp đồng hồ, ở mặt tiền, có ba chữ “CHỢ BẾN THÀNH”.

Phần trên của tháp, bên trong trước đây là phòng phát thanh của Đài truyền thanh quận 1 mà tôi là một trong những thành viên từng trực tại đây để đọc những bài phát thanh hằng ngày, cung cấp tin tức và các thông báo cần thiết cho tiểu thương và khách đi chợ sau năm 1975.

Từ những năm 2000, nơi đây trở thành văn phòng ban quản lý chợ, có thiết lập thêm một trang thờ Thần chợ đáp ứng nhu cầu tâm linh của giới tiểu thương ở chợ. Bên dưới tháp là cửa chính vào chợ, gọi là cửa Nam.9-ben-thanh-5 Cửa Bắc (cửa số 9) của chợ Bến Thành nằm trên đường Lê Thánh Tôn.

Cửa Tây (cửa số 5) của chợ Bến Thành nằm trên đường Phan Chu Trinh. Phía Tây chợ Bến Thành ngoài cửa Tây còn có cửa số 3, cửa số 4, cửa số 6, cửa số 7, cửa số 8.

Cửa Đông (cửa số 13) của chợ Bến Thành nằm trên đường Phan Bội Châu. Phía Đông chợ Bến Thành ngoài cửa Đông còn có cửa số 10, cửa số 11, cửa số 12, cửa số 14, cửa số 15. (theo Hng)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

Tr cau hoi 2TỪ VƯỜN ÔNG THƯỢNG

VƯỜN BỜ RÔ ĐẾN…

CÔNG VIÊN TAO ĐÀN

Trải qua nhiều thăng trầm lịch sử, vườn Tao Đàn được người dân Sài Gòn đặt cho những tên gọi thân thương khác nhau vườn Ông Thượng, vườn Bờ Rô…

Năm 1862, sau khi chiếm Sài Gòn – Gia Định, người Pháp tổ chức quy hoạch lại Sài Gòn. Và vùng rừng cây nằm ven Sài Gòn và cánh đồng Mồ Mả hay đồng Mả Ngụy được quy hoạch làm khu vườn cây xanh.

Ranh giới của khu vườn nầy là góc đường Thiên Lý phía Tây (đường Cách Mạng Tháng Tám) và đường Thiên Lý Bắc Nam (đường Nguyễn Thị Minh Khai).

Đến năm 1868, khi bắt đầu xây dựng dinh Độc Lập (hồi ấy gọi là Dinh Norodom hay Dinh Toàn quyền) 9-tao-dan-1thì khu vườn trở thành vườn cây của dinh. Và có lẽ cũng từ khi ấy, người Sài Gòn quen miệng gọi vườn cây của Dinh Norodom là vườn Ông Thượng.

Có nhà nghiên cứu cho rằng sở dĩ có tên Vườn Ông Thượng vì nơi đây từng là nơi Tả Quân Lê Văn Duyệt mở trường đá gà, sân khấu hát bội.

Tuy nhiên, cần nhớ rằng thời Quận công Lê Văn Duyệt làm Tổng trấn đất Gia Định thì dinh thự của ông nằm trong thành Gia Định, ước khoảng khu đất nay là Sở Ngoại vụ TPHCM. Và đất của Vườn Tao Đàn ngày nay nằm ở ngoài thành, ven theo đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa.

Là người lãnh đạo cao nhứt Gia Định – khi đó Gia Định là vùng đất kéo dài từ Bình Thuận đến Cà Mau, ông Lê Văn Duyệt đâu rảnh mà ra ngoại thành “vui chơi” hoài. Nếu có thì cũng tổ chức đâu đó trong thành, chớ mỗi lần ông lớn đi là bầu đoàn thê tử đông đảo rất mất công và tốn kém.

Phần nữa là từ khi ông mất cho đến khi Vườn Tao Đàn hình thành thời gian quá lâu, từ 1832 đến 1868, hơn 30 năm thì hai chữ “ông Thượng” có lẽ không dành cho ngài Tả quân.

Cái tên “Vườn Ông Thượng” có từ cuối thế kỷ 19. Rất có thể tên nầy xuất phát từ khi dinh Độc Lập xây cất xon9-tao-dan-2g trở thành dinh Thống đốc Nam Kỳ và vườn trở thành khu “vườn sau dinh”.

Xưa, dân gian quen gọi nơi cư ngụ hoặc làm việc của các quan lớn là “ông thượng”, “quan thượng”. Ví dụ, Nha nội vụ (Le Directeur de l’interiéur) được gọi một cách bình thường là “dinh quan Thượng lại” hoặc “Lại bộ thượng thơ”.

Xưa Gia Định Báo, tờ báo bằng chữ quốc ngữ đầu tiên của nước ta, được thực hiện và phát hành tại Nha nội vụ và chính tờ báo nầy viết “Ai muốn mua thì tới dinh quan Thượng lại tại Sài Gòn cho người ta biên tên, mua trót năm thì giá 20 francs, mua 6 tháng thì 10 francs, mà mua 3 tháng thì 5 francs”.

Như vậy, ba chữ “Vườn Ông Thượng” có lẽ không hề chỉ một ông quan tây hay ta cụ thể nào mà chỉ là cách “nói trỏng”, nói “xách mé” của dân gian về khu vườn 9-tao-dan-3của thành phố mà coi như là “của riêng” của các quan !

Đây cũng chỉ là ước đoán của chúng tôi rất mong những bực thức giả góp ý thêm.

Năm 1869, người Pháp mở con đường Miss Clavell (nay là đường Huyền Trân Công Chúa) tách khu vườn ra khỏi dinh Độc Lập.

Từ đó, Vườn hoa thành phố hay Vườn ông Thượng nằm gọn giữa bốn con đường Verdun (Lê Văn Duyệt nay là Cách mạng Tháng Tám) – Tabert (Nguyễn Du) – Chasseloup Laubat (Nguyễn Thị Minh Khai) và Miss Clavell chính thức có tên là “jardin de la ville” vườn hoa thành phố.

Trong vườn có một khoảng ở trung tâm được lót gạch, có lẽ vì vậy mà dân chúng lại gọi là Vườn Bờ Rô (préau tiếng Pháp nghĩa là “sân lót gạch”). Tuy nhiên cũng có có nguồn giải thích từ Bờ rô xuất phát từ từ chữ jardin des beaux jeux mà ra.

Đến năm 1955, sau khi người Pháp rút khỏi Việt Nam, vườn được chính quyền Sài Gòn đổi tên thành Vườn Tào Đàn và nay là Công viên Tao Đàn.

Vườn Tao Đàn rộng khoảng hơn 90.000m2 (trước khi xây dựng các cơ sở chung 9-tao-dan-4quanh thì vườn rộng 10 mẩu tây) với nhiều loại cây quí hiếm, lạ. Ví dụ như cây sa la ít được trồng ở các công viên trong thành phố.

Xưa Sài Gòn có đường Amiral Roze, tên một thống đốc Nam Kỳ, từ Lê Lai đến Nguyễn Du lúc đầu tên là Calmette, năm 1920 thì đổi tên thành Amiral Roze. Từ đường Nguyễn Thị Minh Khai đến Kỳ Đồng có con đường đầu tiên mang tên “jardins” (vườn hoa). Giữa hai đường Roze và Jardin có một con đường nối xuyên qua vườn Ông Thượng.

Năm 1955, cả hai đường đều đổi tên, Roze thành Trương công Định, còn Jardin (từ năm 1897 mang tên là Larégnère) thành Đoàn Thị Điểm.

Từ ngày 18/4/1975 cả hai đường trở thành Trương Định nhưng đoạn đi qua vườn Tao Đàn vẫn còn ngăn cách. Đến năm 2003, hai Tr thieu nu 3con đường mới thông nhau thành một.

Sau năm 1975, Vườn Tao Đàn trở thành Công viên Văn Hoá và nơi đây ghi dấu kỷ niệm của biết bao người. Sáng sáng chiều chiều người già người trẻ ra đây để đi dạo, tập thể dục, hẹn hò, ngắm cảnh, hóng mát…

Từ năm 1985, Công viên Văn Hoá Tao Đàn là nơi đầu tiên “mở sân khấu ca nhạc ngoài trời” để biểu diễn phục vụ cho người dân yêu âm nhạc thành phố và người phụ trách sân khấu này là ông Lê Hoàng, nguyên Tổng biên tập báo Tuổi Trẻ.

Ngày nay, Công viên là một địa điểm xanh quen thuộc của người dân thành phố đến đây ngắm cảnh, đi dạo, chơi thể thao, tham gia các hoạt động mỹ thuật, giải trí, hội hoa xuân…(theo Trần Nhật Vy)

Quế Phượng chuyển tiếp

Logo phiem

Tr cuoi 5SÀI GÒN XƯA :

TỪ NHỮNG MẪU NGƯỜI ĐẸP

ĐẾN CÁCH LÀM ĐẸP

Tại Sài Gòn, năm 1963, nhà văn Chu Tử cho ra đời Yêu, một tác phẩm được người đọc tiếp nhận nồng nhiệt [1]. Sự thành công của Yêu một phần không nhỏ là do công của các bài phê bình trên nhật báo và tạp chí Sài Gòn thời đó.

Chu Tử bộc bạch : “Yêu là một truyện mà không có cốt truyện, không có nhân vật, “tung hê” tất cả những qui luật cổ điển về lề lối xây dựng một tiểu thuyết, để cho truyện thoát khỏi mọi gò bó, giả tạo…”.

Dưới đây là chân dung của 4 người đẹp – Uyển, Diễm, Huyền, Tuyết – qua cái nhìn của Chu Tử :

Bốn cô đều đẹp, mỗi đứa đẹp một vẻ riêng biệt, cũng như tính nết họ, chẳng đứa nào giống đứa nào… Uyển hai mươi hai tuổi, đẹp dữ dội, lồ lộ, khêu gợi… Diễm hai mươi tuổi, đẹp kín đáo, mơ màng, đầy sức quyến rũ ngấm ngầm. 10-chu-tuHuyền mười tám tuổi, đẹp kỳ lạ, vì đôi mắt nàng hơi lác (lé).

Phải nhìn kỹ, mới nhận ra đôi mắt nàng lác, nhưng đã nhìn kỹ thì không tránh khỏi bị đôi mắt của Huyền thôi miên. Lạ nhất là gương mặt Huyền không giống cha, không giống mẹ, không giống các chị em, và đôi mắt Huyền ngay từ lúc mới đẻ đã mang một bí mật mà chính Huyền không biết, cho nên Huyền không những ít nói, mà còn hay buồn, thích đi tu… trái hẳn với cô gái út là Tuyết mười sáu tuổi, đẹp một cách Tây Phương, ngổ ngáo, ranh mãnh”.

Tôi nhìn thấy 4 kiều nữ trong Yêu chính là điển hình của những mẫu người đẹp Sài Gòn thập niên 1960. Cả nhân vật đứng tuổi như bà Hằng, người đã “ủng hộ” anh dân quân du kích khi anh vô tình thổ lộ “thèm quá, ủng hộ một tí…”.

Ngày đó, cô Hằng nhắm mắt ‘chiều’ anh bộ đội với một suy nghĩ đơn giản là mình đã ‘…giúp một tay cho kháng chiến thành công…’ cũng là một logic trong cái ‘vô lý’ của Yêu ! Đó cũng là điển hình chân dung người phụ nữ vốn có những lúc phức tạp đến độ khó hiểu nhưng có khi lại ngây thơ, đơn giản đến độ vô lý như bà Hằng của thời kháng chiến !

Đọc Kỹ nghệ lấy Tây (1934) của ‘ông vua phóng sự’ Vũ Trọng Phụng [2] 10-vu-trong-phungngười ta lại khám phá cả một xã hội của những người phụ nữ Việt Nam được mệnh danh là ‘Me Tây’ vào thời kỳ 1930-1940 tại làng Cổ Mễ, Thị Cầu gần Hà Nội. Phần đông họ là những phụ nữ chân quê và vì một lý do nào đó ‘lạc bước’ vào giới Me Tây để trở thành những nhân vật như Bà Cai Bu-Dích, Bà Cẩm, Bà Kiểm Lâm…

Ngôn ngữ Me Tây thật phong phú : “Toa ba mỏ nhá cút xê ăng co xê moi ! Toa kích tê moa săng bảy dề, a lò phi nì phăm, phi nì ma ghi ! A lò, kích !” (Mày không có quyền về ngủ nhà này nữa. Mày bỏ tao đi mà không trả tiền, thế là hết vợ, hết chồng. Thế thì… đi, đi !).

Sang đến Sài Gòn cuối thập niên 1960, khi quân đội Cờ Hoa có mặt tại Việt Nam, lại xuất hiện Me Mỹ. Họ có thể là những cô gái quê nhưng cũng có thể là gái thành thị, và vì hoàn cảnh gia đình nên đã chọn con đường phục vụ trong các quán bar để mưu sinh. Thời đó họ được gọi là Saigon Tea Girl như trong bài Wabash Cannonball 9-nguoi-dep-1do Jerry Campbell và Ed “Pappy” Hufft đã đổi lời thành Saigon Tea

Xem video clip bài hát Wabash Cannonball  do Johnny Cash trình bày :

https://www.youtube.com/watch?v=aZiQ89_s67Q

https://youtu.be/lOagNqCliMU

Những cô gái Saigon Tea cũng là một phần chứng nhân lịch sử của Sài Gòn thời chiến cho dù “background” của họ rất khiêm tốn giữa bối cảnh đất nước nhiễu nhương. Vốn liếng tiếng Anh của họ chỉ vỏn vẹn những câu “broken English” như number one, number ten, OK salem, no star where, papa san, mama san… nhưng đó cũng là những dấu tích của một giai đoạn lịch sử mà Sài Gòn đã trải qua.

oOo

Phương Tây có quan niệm rất thực dụng về nhan sắc của phụ nữ. Họ cho rằng sắc đẹp là tặng phẩm đầu tiên của tạo hóa dành cho phụ nữ nhưng đó cũng là món quà đầu tiên tạo hóa lấy đi theo thời gian.

Nói như vậy có nghĩa nhan sắc sẽ tàn theo tuổi tác. Không một phụ nữ nào có thể níu kéo nhan sắc ở lại với mình cho đến ngày tóc bạc, da mồi. Thế nhưng, cũng có ý kiến cho rằng “không có phụ nữ xấu xí, chỉ có những phụ nữ không biết cách làm cho mình đẹp”.

9-nguoi-dep-2Bằng chứng là ngày xưa những người đẹp Sài Gòn cũng tìm được một lối thoát để kéo dài và giữ gìn nhan sắc: họ nhờ đến giải phẫu thẩm mỹ. Bác sĩ giải phẫu thẩm mỹ đã có mặt tại Sài Gòn từ rất sớm vì nghề “Cosmetic Surgery” hái ra tiền.

Họ dùng đủ mọi thủ thuật để làm đẹp và duy trì nét đẹp cho phụ nữ. Từ những tiểu phẫu như căng da mặt, xâm lông mày, chẻ môi, sửa mũi đến đại phẫu như nâng ngực, bơm mông, lấy bớt chất mỡ trên bụng, thậm chí còn ‘nong ra’ hoặc ‘thu nhỏ’ nơi vốn kín đáo nhất của các bà các cô.

Nghe nói các ông chồng trong cộng đồng người Việt ở nước ngoài ngày nay cũng là nạn nhân của việc làm đẹp. Các bà, các cô đua đòi đi thẩm mỹ viện, thậm chí khi về Việt Nam cũng nhân tiện ‘quá giang’ làm đẹp vì giá cả ở đây rẻ hơn nhiều nếu so với xứ cờ hoa hay xứ kangaroo.

Chỉ có cánh đàn ông là thiệt thòi. Họ làm lụng vất vả để kiếm tiền cho vợ đi sửa sắc đẹp. Khi đến thẩm mỹ viện, các bà thường mang mục đích cao cả là làm đẹp cho chồng nhưng có đến 90% đàn ông có vợ đi sửa sắc đẹp, trong tận cùng đáy lòng, đều không ủng hộ quyết định này.

Họ để vợ đến thẩm mỹ viện chỉ vì ‘cả nể’… Cũng vì đức tính này, Honoré de Balzac mới nói: “Người đàn ông nào có thể điều khiển được phụ nữ thì cũng có thể điều khiển được một quốc gia”. Thế nhưng, vấn đề là mỗi nước chỉ có một người đứng đầu còn lại bao nhiêu đều là… phó thường dân!

Tr Con gai 7Người ta thường chống hàng ‘gian’, hàng ‘giả’. Tuy nhiên, vẫn có ngoại lệ đối với các mặt hàng được gọi là ‘tiêu cực’ này. Đó là những hàng giả mà người sử dụng không bao giờ chống mà lại còn ủng hộ hết mình: chân tay giả được những người cụt tay, cụt chân hoan nghênh, răng giả dùng cho những người ‘hăng-rết’ (hết răng)… Khi tuổi đã xế bóng, các ông các bà có khi phải dùng hàm răng giả, tối tối đánh răng mà miệng vẫn huýt sáo một cách yêu đời.

Riêng đối với phụ nữ, các bà các cô ủng hộ hết mình những ‘mặt hàng’ như lông mi giả, tóc giả. Ngoài ra, nếu ‘vòng số 1’ hơi khiêm tốn thì có áo nịt ngực bên trong độn mousse cho thêm phần khiêu gợi, ‘vòng số 3’ nhỏ quá thì có mông giả tăng cường để ‘bằng chị, bằng em’ khi ra đường.

Người ta nói, muốn kiểm chứng ‘mông thật, mông giả’ rất dễ: cứ cầm cây kim lén chích vào mông một kiều nữ. Hồi xưa người ta đồn mông của Người đẹp Bình Dương Thẩm Thúy Hằng là giả (!!!???).

Cho đến giờ phút này chưa có một tài liệu nào chứng minh Thẩm Thúy Hằng có xài đồ 10-tham-thuy-hanggiả hay không. Tôi còn nhớ, hồi xưa có lần một cây bút nào đó ví cái đầu của ký giả Tô Văn giống như… mông của Thẩm Thúy Hằng (?).

Vĩnh viễn chuyện cặp mông của cô diễn viên này sẽ là một bí mật, chỉ có Thẩm Thúy Hằng và chồng cô, Tiến sĩ Harvard, Tony Nguyễn Xuân Oánh, mới biết đích xác. Mà ông Oánh thì nay đã là người thiên cổ…

Kiểm chứng mông thật hay giả bằng kim chích như nói ở trên sẽ có hai trường hợp xảy ra : hoặc bạn ăn một cái tát nên thân hoặc người đẹp vẫn cười thật tươi với bạn !

Nói đùa vậy thôi chứ đừng ai dại dột làm chuyện này. Giả hay thật là chuyện của phụ nữ, cánh đàn ông chỉ biết chiêm ngưỡng người đẹp. Đơn giản thế thôi !

[1]: Xem thêm về Yêu của Chu Tử tại:

http://vnthuquan.net/truyen/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237ntnnn4ntn31n343tq83a3q3m3237nvn

http://hoanghaithuy.wordpress.com/2009/11/30/chu-tu-chet-va-song/

[2]: Xem thêm về Vũ Trọng Phụng tại:

http://vi.wikipedia.org/wiki/V%C5%A9_Tr%E1%BB%8Dng_Ph%E1%BB%A5ng

Yên Huỳnh chuyển tiếp

Advertisements

2 phản hồi

  1. Xin cho biết về Miếu hay đền hoặc chùa trong khuôn viên vườn Tao Đàn, nơi góc Nguyễn Du và trương công Định.. thờ Phật hay Thánh , Thần..????

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: