FRANCISCO DE PINA CHA ĐẺ CHỮ QUỐC NGỮ

Logo bay gio ke

9 Quoc ngu 1ALEXANDRE DE RHODES

KHÔNG PHẢI LÀ “CHA ĐẺ”

CHỮ QUỐC NGỮ ?

Tại hội thảo “Dinh trấn Thanh Chiêm và chữ quốc ngữ” do UBND tỉnh Quảng Nam tổ chức ngày 24/8/16 ở huyện Điện Bàn, nhiều ý kiến cho rằng giáo sĩ Francisco de Pina là người đặt nền tảng cho việc ra đời của chữ quốc ngữ. Hội thảo thu hút hàng trăm nhà khoa học, sử học, chuyên gia trên khắp cả nước tham dự.

Tại hội thảo, ông Thanh phó chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam, cho biết những nghiên cứu của các nhà khoa học suốt gần 15 năm qua đã đưa ra những kết luận khoa học có giá trị về vai trò, công lao của Francisco de Pina (người Bồ Đào Nha) và Alexandre de Rhodes (người Pháp) trong sáng tạo, hoàn thiện chữ quốc ngữ vào đầu thế kỷ 17.

Theo tiến sĩ Trần Đức Anh Sơn phó viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế xã hội Đà Nẵng, hội thảo thu hút 69 tham luận là những nghiên cứu khoa học đầy tâm huyết, giàu sức thuyết phục. Trong đó nhiều nghiên cứu khẳng định vai trò tiên phong của giáo sĩ Francisco de Pina trong việc sáng tạo chữ quốc ngữ và giáo sĩ Alexandre de Rhodes là người có công hoàn thiện chữ quốc ngữ thông qua việc tu chỉnh, biên soạn và xuất bản hai cuốn sách quan trọng là Từ điển Việt – Bồ – La và Phép giảng tám ngày vào năm 1651.

Nhà sử học Dương Trung Quốc cho biết có lẽ một thời gian rất dài chúng ta nhắc đến Alexandre de Rhodes có vai trò hết sức quan trọng trong sự đóng góp phát triển chữ quốc ngữ, và quan trọng là di cảo ông để lại. Quả thật trong điều kiện tư liệu lúc đó, ông Rhodes là người đóng góp rất lớn.9 Quoc ngu 3

Nhưng sau này khi chúng ta có điều kiện nghiên cứu nhiều hơn, những công trình đã tiếp cận các nguồn tư liệu rất khó tiếp cận thì mới thấy được ông Francisco de Pina là người không những đi trước mà còn để lại nhiều dấu ấn, bằng chứng lịch sử để thấy ông là người sớm nhất, giỏi tiếng Việt nhất thời điểm ấy. Vì thế chúng ta tôn vinh một cách công bằng nhưng không phải vì thế mà hạ thấp người này, nâng cao người khác.

“Nhưng ngay chính trong sách ông Alexandre de Rhodes viết cũng nói rất rõ là viết từ điển dựa vào thành quả của những người đi trước. Điều đó cho thấy sự hình thành, phát triển chữ quốc ngữ có sự đóng góp của nhiều thế hệ, là cả một quá trình, từ chỗ ý tưởng đầu tiên đến thử nghiệm đầu tiên, rồi có cả một công trình đi vào đời sống” – ông Dương Trung Quốc nhấn mạnh.

Theo thông tin tại hội thảo, năm 1617 giáo sĩ Francisco de Pina được cử vào xứ Đàng Trong giúp đỡ Nhật kiều công giáo ở Hội An. Sau đó giáo sĩ chú tâm nghiên cứu, sáng tạo chữ quốc ngữ. Và tại Thanh Chiêm, nơi được Chúa Tiên Nguyễn Hoàng chọn làm dinh trấn của Quảng Nam, đã ra đời trường dạy quốc ngữ đầu tiên.

Thanh Chiêm và chữ Quốc ngữ

Dựa vào bức thư do chính tay Thụy Quốc Công Nguyễn Phúc Nguyên gửi cho Nhật Bản năm 1601 và các sử liệu, ta có thể dựng được quá trình hình thành Dinh trấn Thanh Chiêm ở Quảng Nam như sau :

– Năm 1570, do Nguyễn Bá Quýnh từ trấn thủ Quảng Nam được vua Lê triệu đến trấn thủ Nghệ An, Đoan Quận Công Nguyễn Hoàng từ chức vụ trấn thủ Thuận Hóa, được kiêm lãnh hai xứ Thuận Hóa – Quảng Nam “đeo ấn tổng trấn tướng quân”, nhưng ông chưa bao giờ vào Quảng Nam xem xét tình hình cuộc sống dân cư, mà chỉ “giao cho tùy tướng là Dũng Quận Công lưu thủ Quảng Nam để thu phục dân chúng”.

9 Quoc ngu 7– Năm 1592, Đoan Quốc Công cùng Hầu tước Nguyễn Phúc Nguyên ra Đông Đô giúp vua Lê đánh nhà Mạc, có công, nên Hầu tước Nguyễn Phúc Nguyên được thăng một bậc thành Thụy Quận Công.

– Năm 1600, vua Lê trao chức Đô thống Nguyên soái, trấn thủ Quảng Nam cho Nguyễn Phúc Nguyên tại Đoan Môn. Sau khi nhận ấn tín, hai cha con Nguyễn Hoàng, Nguyễn Phúc Nguyên bỏ về Nam. Cũng trong năm này, để đi trước một bước giúp con mình, Nguyễn Hoàng vào Quảng Nam xem xét tình hình và chọn nơi xây dựng kho tàng, chứa lương tiền… Đó là tiền thân của Dinh trấn Thanh Chiêm.

– Năm 1601, Thụy Quốc Công Nguyễn Phúc Nguyên chính thức vào trấn thủ Quảng Nam, đặt dinh quân đội, khu hành chính… ở nơi cha mình đã xây dựng, và phát triển thành Dinh trấn Thanh Chiêm…

Công đầu thuộc về Francisco de Pina

Francisco de Pina đặt chân đến Quảng Nam từ năm 1617, nhưng đến năm 1923 ông mới ổn định cư sở làm việc tại Thanh Chiêm, thủ phủ tỉnh Quảng Nam thời đó. Điều này, cho ta xác định việc ông được thụ phong linh mục cũng là vào thời điểm này, tức là năm 1623 như linh mục Đỗ Quang Chính nhận định.

Nếu vậy, thì chính thời điểm này, Francisco de Pina mới có đủ điều kiện và thời gian hệ thống hóa, biên soạn lại những gì mà ông đã thu thập được trước đó để sáng tạo ra chữ Quốc ngữ tại cư sở Thanh Chiêm và cũng tại Thanh Chiêm, Francisco de Pina viết bức thư gửi cho Cha bề trên ở Ma Cao Jéromino Rodriguez báo cáo việc ông đã biên soạn được một chuyên luận nhỏ về từ vựng và các thanh của ngôn ngữ này (tiếng Việt) 9 Quoc ngu 4và ông đang bắt tay viết về ngữ pháp…

Dĩ nhiên, lá thư ấy chỉ được gửi đi theo con đường duy nhất là từ Hội An, theo các thương thuyền về Ma Cao, chứ không hẳn Francisco de Pina viết tại Hội An.

Theo nghiên cứu của Roland Jacques, cũng như một số nhà nghiên cứu khác, cho rằng: chính các vị giáo sư người Bồ Đào Nha hồi ấy trong Hội dòng Tên hoạt động sớm và tích cực có sự hỗ trợ của con chiên người Nhật và người Hoa tại Quảng Nam, nên trong giao thiệp, tiếng Bồ Đào Nha rất có ảnh hưởng đối với việc sáng tạo chữ Quốc ngữ (lúc ban đầu chưa tiếp xúc với giáo sĩ Pháp, chưa có sự liên hệ nào với chữ Latinh).

Và trên thực tế, chữ Quốc ngữ đầu tiên của Việt Nam hồi đó có nhiều chữ viết dùng theo chữ viết của Bồ, mà ta có thể nghiệm thấy rõ trong chứng minh của nhiều nhà nghiên cứu.

Sau ngày bị nạn tại biển Hội An (15.12.1625) tất cả công trình nghiên cứu chữ Quốc ngữ của Francisco de Pina, là những tài liệu được tập trung vào tay Alexandre de Rhodes, giúp cho Rhodes sử dụng cùng với những tài liệu của các giáo sĩ dòng Tên khác của thời đó viết nên Tự điển Annam – Lusitan – La Tinh năm 1651.

Vậy là đã quá rõ để ngày này chúng ta tôn vinh: “cái nôi” khai sinh ra chữ Quốc ngữ là thủ phủ Thanh Chiêm – tỉnh Quảng Nam và tôn vinh vị thủy tổ phát minh ra chữ Quốc ngữ là người Bồ Đào Nha có tên là: Francisco de Pina.

Có điều đặc biệt người viết bài này ghi nhận được giữa câu chuyện trao đổi với linh mục Roland Jacques trong một lần gặp gỡ, có đến mấy lần ông nhấn mạnh rằng: chữ Quốc ngữ của ta có được là nhờ công đầu tiên của giáo sĩ Francisco de Pina, người Bồ Đào Nha sáng tạo, còn Alexandre de Rhodes có công bồi đắp, 9 Quoc ngu 5hoàn thiện – đó cũng là công đáng kể.

Ảnh hưởng của người Nhật

Thực ra, Pina nhờ người Việt đọc chữ Hán và nói phát âm của nó để ghi phiên âm tiếng Việt. Tiếp theo, Pina nhờ người Nhật đọc chữ Hán để nghe ý nghĩa của nó bằng tiếng Latinh. Lúc đó, người Nhật không biết tiếng Bồ Đào Nha nên dịch sang tiếng Latinh. Pina hiểu được nghĩa của từ rồi viết (dịch) sang tiếng Bồ Đào Nha. Làm như vậy, các nhà truyền giáo người châu Âu mới hiểu được từ vựng tiếng Việt một cách chính xác.

Chính vì thế, đằng sau lý do Pina trở thành người nói giỏi tiếng Việt đầu tiên trong các nhà truyền đạo Kitô (ở Đàng Trong) là có sự hỗ trợ của người Nhật. Nếu không có sự hỗ trợ người Nhật thì việc ký âm tiếng Việt bằng chữ Latinh sẽ ra đời muộn hơn so với thực tế đã diễn ra trong lịch sử.

Vậy tại sao Pina biết được chỗ cách trong danh từ 2 âm tiết ? Theo tôi hiểu, ông đã dựa vào chữ Hán, và học hỏi cách phiên âm và ý nghĩa của từ. Hiểu rõ các từ rồi thì có thể quay lại cấu thành các từ để xác định rõ chỗ tách biệt giữa từ với từ. Công việc này chắc hẳn có sự tham gia của người Nhật. Vì người Nhật biết chữ Hán. 9 Quoc ngu 6Sau khi tách từ, ông dùng cách phiên âm tiếng Nhật Bản và tiếng Trung Hoa, ký âm bằng chữ Latinh và dựa vào kiến thức hệ thống âm vần tiếng Trung Hoa để xác định được nguyên âm, phụ âm và thanh điệu của tiếng Việt. Như vậy, hệ thống phiên âm tiếng Việt bằng ký tự Latinh sẽ hoàn thành. Lúc bây giờ, kiến thức phiên âm tiếng Nhật Bản và tiếng Trung Hoa bằng chữ Latinh đã không xa lạ đối với các nhà truyền đạo Kitô.

Như vậy, chúng ta không thể phủ nhận được việc người Nhật Bản có liên quan sâu sắc đến quá trình thiết lập hệ thống phiên âm tiếng Việt bằng ký tự Latinh.

Học viện Việt Ngữ học đầu tiên trên thế giới

Nhờ quan hệ tốt với thế tử Nguyễn Phúc Kỳ ở Dinh trấn Thanh Chiêm, nên Pina đã lập một trú sở mới ở đây vào khoảng cuối năm 1624, đầu năm 1625 và đến tháng 5 năm 1625, Pina chính thức trở thành Cha bề trên quản nhiệm trú sở truyền giáo Thanh Chiêm (Residentia Dinh Ciam), trú sở quan trọng nhất tại Đàng Trong vì nó ở ngay cạnh dinh trấn Quảng Nam, thủ phủ thứ hai của xứ này do thế tử Nguyễn Phúc Kỳ 9 Quoc ngu 2đứng đầu.

Không chỉ có hoạt động nghiên cứu và sáng tạo chữ Quốc ngữ, tại trú sở Thanh Chiêm, Pina vừa là thầy dạy tiếng Latinh cho các thầy giảng người Việt vừa là giáo sư Việt ngữ cho hai giáo sĩ dưới quyền mới đến hồi cuối năm 1624 là Antônio de Pina Fontes và Đắc Lộ (Alexandre de Rhodes), người mà sau này được thực dân Pháp tôn vinh, một cách có dụng ý, như là ông tổ của chữ Quốc ngữ. Nói không ngoa, trú sở Thanh Chiêm là Học viện Việt ngữ học đầu tiên trên thế giới, mà Pina có tư cách là vị Giám đốc khai lập và Đắc Lộ là vị Giám đốc kế nhiệm.

Đối với công việc nghiên cứu tiếng Việt, đọc lại những lời của giáo sĩ Đắc Lộ, ta có thể thấy ông chưa bao giờ tự nhận mình là người đầu tiên sáng tạo ra chữ Quốc ngữ như những gì mà linh mục Léopold Cadière về sau xưng tụng. Tuy không phải là người đầu tiên sáng tạo ra chữ Quốc ngữ, nhưng Đắc Lộ lại là người có công trong việc biên tập, chỉnh lý, tu sửa một thứ chữ đang thời kỳ phôi thai.Ghi chep

Công việc biên tập ấy không hề đơn giản chút nào, mà thực sự là công trình khoa học sáng chói của Đắc Lộ. Có thể, Đắc Lộ không giỏi chữ Quốc ngữ như các linh mục Pina, Amaral hay Barbosa, nhưng ông may mắn hơn các giáo sĩ khác là sách của ông đã được xuất bản và tồn tại cho đến ngày hôm nay. Do đó, công lao của Đắc Lộ cũng đáng được tôn vinh, mặc dù ông không giữ địa vị công đầu. (nguồn báo Quảng Nam)

Nguyễn Văn Danh chuyển tiếp

9 Con De Tham 1CON GÁI CỤ ĐỀ THÁM

HÙM XÁM YÊN THẾ !

Giai thoại con gái…. Đề Thám…

Hoàng Hoa Thám để lại một người con gái Hoàng Thị Thế với số phận khác thường. Bà sinh 31-3-1901 tại Phồn Xương, được đính hôn với hoàng tử của hoàng đế Trung Hoa lúc lên 3. Tháng 6-1909, bà bị người Pháp phục kích bắt trong núi rừng Yên Thế.

Bà được toàn quyền Pháp Albert Sarraut nhận làm con nuôi, sang Pháp năm 1917, theo học trường nội trú Jeanne D’Arc ở Biarritz, lấy tên là Marie Beatrice Destham.

Về Bắc Kỳ, bà làm thủ thư tòa Thống sứ Hà Nội, sống từ 1925 đến 1927 với em trai Hoàng Văn Vi tại phố Hàm Long. Trở lại Paris, bà được Albert Sarraut giới thiệu như bà là công chúa. Bà tự xưng là công chúa Hoàng Thị Thế – công chúa Trung Hoa, năm 1930 đóng bộ phim Lá Thư, dựa theo truyện ngắn của William Somerset Maugham, sau đó là bộ phim “La Donna Bianca”. Năm 1935, bà đóng phim “Bí mật của lục bảo” của Maurice de Canonge.

9 Con De Tham 2

Năm 1959, bà được Ngô Đình Diệm mời về Sài Gòn nhưng khộng kết quả. Năm 1961, bà sống tại nhà 16 đường Boulboone ở Toulouse. Ít lâu sau, chính phủ Việt Nam đề nghị bà phụ trách một hiệu sách Pháp ở Bắc Giang.A Vui quaNăm 1974, bà về Hà Nội và sống tại phòng 31 khu tập thể Văn Chương.

Bà qua đời ngày 9-12-1988. Bà được chôn tại Phồng Xương, Yên Thế, Bắc Giang. Bà có một chồng, ly hôn năm 1940 và một con trai Jean Marie Albert Ảthur. (theo Andrew sưu tầm)

Hai Điếu ĐĐ chuyển tiếp

9 Banh mi 1BÁNH MÌ VÀ

HƠN 14.000 NĂM LỊCH SỬ

Hương vị chiếc bánh mì pa-tê kẹp thịt đậm đà, chua chua ngọt ngọt của Việt Nam trở thành một thương hiệu nổi tiếng khắp năm châu. Hình ảnh người đàn ông đội chiếc mũ bê-rê với chiếc bánh mì dài kẹp tay cũng là một trong những đặc trưng của nước Pháp. Nhiều người cho rằng bánh mì có nguồn gốc từ châu Âu và được du nhập ra khắp thế giới. Nhưng không, bánh mì bắt nguồn từ Ai Cập, xuất hiện khoảng 12.000 năm trước Công Nguyên (TCN) và có nhiều hình dạng khác nhau từ khoảng 3.500 năm TCN.

Vào thời kỳ đồ đá mới : 53’) nhờ nắm được kỹ thuật lên men, được đánh giá là một trong những kỳ tích văn hóa của nhân loại, người Ai Cập sống bên bờ sông Nil đã phát minh ra bánh mì, khởi nguồn của món ăn cơ bản.

Phát hiện trên được nhà sử học người Pháp Adrien Berthelot, hướng dẫn viên tại khu vực thời cổ đại trong bảo tàng Louvre, giải thích với nhật báo công giáo La Croix (25/07/2016). Ông nói : «Người Ai Cập ghi chép lại tất cả trên giấy cói và khắc lên đá những thời điểm quan trọng của cuộc sống hàng ngày. Những hành động được cho là kéo dài và lặp đi lặp lại ngay cả bên kia thế giới».

Và những ký tự tượng hình Ai Cập cổ cho thấy bánh mì chiếm một vị trí quan trọng trong cuộc sống hàng ngày. 9 Banh mi 2Vẫn theo nhà sử học, «Sự chuyển đổi lúa mì thành bánh xảy ra vào thời kỳ trái đất ấm lên. Quá trình định cư và phát triển trồng trọt được nhận thấy tại nhiều địa điểm trên khắp hành tinh và diễn ra trong cùng một khoảng thời gian. Nước là yếu tố cần thiết để làm hoạt động chu trình sản xuất. Sông Nil, với những trận lũ lụt và sình lầy mầu mỡ, đã mở ra con đường này cho người Ai Cập. Vùng Lưỡng Hà (Mesopotamia) là khu vực lý tưởng. Herodote từng nói rằng Ai Cập là một món quà của sông Nil. Một ốc đảo trải dài đến 2.000 km, trở thành khu vực trồng ngũ cốc quan trọng và là điểm khởi đầu của vựa trồng lúa mì của người La Mã».

Người Ai Cập tin có được loại ngũ cốc này là nhờ thần Osiris, người cai quản linh hồn người chết. Thần Osiris là người phán xét những ai xứng đáng được sống vĩnh cửu hay bị đầy ải vào địa ngục tối tăm. Để giữ trọn lời hứa ân sủng, người chết có công được phép trở thành người phục vụ tang lễ với nhiệm vụ là reo hạt và thu hoạch để đảm bảo phần bánh mì của thần Osiris.

Tại bảo tàng Louvre, người ta thấy nhiều bức tượng nhỏ mang túi lúa mì nặng trên lưng. Trên bàn thờ lễ, người ta thấy những chiếc bánh lớn được khắc trong đá. Đó là những chiếc bánh mì mà lời cầu nguyện của người sống biến chúng thành bánh thật cho người chết. Và trên thành những công trình tang lễ, như kim tự tháp hay lăng tẩm, người dân ở thế giới bên kia vẫn có thể tìm được nhiều công thức làm bánh khác nhau.

Theo những ghi chép bằng chữ tượng hình Ai Cập, có đến 19 loại bánh mì với cách và thời gian làm chín khác nhau : như đổ khuôn hay nướng trực tiếp trên đá… Nhà sử học Alexandre Burtard cho biết : «Phương thức bảo tồn đặc biệt những di sản khảo cổ tại hoang mạc Ai Cập đã cho phép phát hiện ra được những loại bánh mì có từ nhiều thiên niên kỷ, trong đó nhiều mẫu được bảo quản tại bảo tàng Louvre».

Ông Jean-Philippe de Tonnac, đồng phụ trách cuốn Từ điển Phổ thông về Bánh mì 9 Banh mi 3(Dictionnaire universel du pain) nhận xét : « Người ta giết một con vật, người ta ăn nó, sau đó chẳng còn gì. Ngược lại, sau vụ thu hoạch, người ta có thể có thức ăn trong vòng một năm. Hơn nữa, người ta còn có thể bảo quản thóc thu hoạch được để cấy vào năm sau. Thế giới Lưỡng Hà là nơi thí nghiệm những kinh nghiệm đầu tiên của ngành nông nghiệp. Văn học xứ Xu-me (miền nam Lưỡng Hà) mang dấu ấn những sản phẩm bánh mì đầu tiên ».

Men bánh mì, phát minh hóa học kì diệu

Chỉ cần bốn thành phần cơ bản là có thể làm ra được bánh mì : bột, nước, muối và men nở nổi tiếng. Đó là một loại bột mà quá trình lên men, dù đã được phân tích kỹ về mặt khoa học, vẫn là một điều thu hút những người nhào bột và nhìn thấy bánh nở phồng trước khi ngọn lửa làm nó rắn lại.

Một trong những thắc mắc của các nhà khảo cổ và sử gia là bằng cách nào người Ai Cập lại có thể kiểm soát được quá trình làm bánh mì cần độ chính xác và khéo léo. Và có phải họ là người đã phát minh ra men bánh mì ?

Nhà sử học nổi tiếng về lương thực, Steven Kaplan, cho biết : «Dường như họ tình cờ tìm ra phương pháp này. Đó là loại bột có thể gồm đại mạch và nước, sau đó được ủ, rồi lên men, cuối cùng có thể được nấu chín. Kết quả là một hình thù lạ lẫm, nhưng không phải để vất «đồ thối rữa» đó đi giống như một điềm xấu. Đây mới chỉ là bước đầu của giai đoạn lên men, điều bí ẩn được chứng minh khoa học mà vẫn thần kỳ».

Còn nhà sử học Alexandre Burtard lại thiên về sự hiểu biết và nắm vững kỹ thuật : «Thường bánh mì có nguồn gốc từ cháo ngũ cốc. Quá trình nấu chín giúp nó được bảo quản mà không bị thiu. Sau này, nhờ nắm vững quy trình nướng chín nên một nghề mới xuất hiện : nghề làm bánh mì».

Homer từng đánh giá người văn minh khác với người hoang dã nhờ đặc điểm «ăn bánh mì». 9 Banh mi 4Còn trong cuốn Lịch sử bánh mì từ 6.000 năm, Heinrich Eduard viết : «Bánh mì chế ngự tinh thần và vật chất của thế giới cổ đại, từ người Ai Cập đã phát minh ra và biến bánh mì thành nền tảng của đời sống kinh tế của họ, cho đến khi người Do Thái biến bánh mì thành điểm xuất phát của pháp chế tôn giáo và xã hội. Sau đó là người Hy Lạp đã biết sáng tạo ra những huyền thoại sâu sắc và trang trọng nhất về những bí ẩn của thành Eleusis. Cuối cùng là người La Mã đã biến bánh mì thành một vấn đề chính trị. Cho tới ngày Chúa Jesus nói : « Hãy ăn đi ! Ta là bánh hằng sống ! »

Bánh mì dài (baguette), một đặc trưng của Pháp.

Xuất phát từ Ai Cập, bánh mì đến Hy Lạp, Roma và phương tây để trở thành một loại lương thực cơ bản, là thành phần tham khảo và điều hòa xã hội.

Trong số chiến lợi phẩm từ các cuộc trường chinh của Alexandre Đại Đế (356-323 trước Công Nguyên), người Hy Lạp đã chiếm được phát minh của người Ai Cập : đó là bánh mì. Bằng cách cải tiến nó và thêm vào các hương vị như hồi hay mật ong, họ đã đưa bánh mì vào kỷ nguyên của ẩm thực với 72 loại khác nhau.

Sau này, những nô lệ Hy Lạp phục vụ người La Mã đã dạy lại cho họ nghệ thuật làm bánh này. Những thợ làm bánh mì đầu tiên được gọi là « depistores » (những người dùng chày để giã bột). Đây là công việc cha truyền con nối mà người con trai không thể từ chối, nếu không sẽ bị phạt nặng. 9 Banh mi 5Dần dần, họ đảm trách một « nhiệm vụ chung » và được xếp vào hàng công chức.

Khách hàng có thể mua được các loại bánh mì đủ hình dạng khác nhau, kể cả loại bánh mì đặc biệt ăn kèm lúc thưởng thức hải sản. Đế chế La Mã đảm bảo ổn định xã hội bằng cách phân phát « bánh mì và trò giải trí ».

Một trăm năm trước Công Nguyên, người La Mã đã lắp đặt cối xay bằng nước để hoạt động các thớt cối xay. Và phải đến hơn 4 thế kỷ sau đó, người Gaulois (Pháp) mới biết đến phát minh này.

Tại Pháp, quy định đầu tiên về bánh mì xuất hiện vào năm 630, dưới thời vua Dagobert : Các tiệm bánh mì phải nằm gần hoàng gia, các thành trì và tu viện. Những người làm bánh mì được gọi là « talemelier ». Từ này có bắt nguồn từ « tamis » (cái rây) được dùng để sàng bột.

Vào thế kỷ XI, bánh mì là một trong những loại lương thực chính. Được Cơ Đốc Giáo khuyến khích sản xuất và phân phối, nó trở thành nguồn thu nhập chính của giáo hội. Phần lớn nông dân tự làm bánh và chỉ trả một khoản phí để xay hạt và một khoản khác để được quyền sử dụng lò nướng chung, từ đó xuất hiện loại bánh mì đen.

Từ «boulanger» bắt nguồn từ vùng Picardie, có nguồn gốc từ «boulenc» (những người làm bánh mì tròn). Từ này trở nên phổ biến trong ngôn ngữ đời thường vào khoảng giữa thế kỷ XIII. Theo ngôn ngữ latin trung đại, «boulengarius» biến thành «bolengier» trong tiếng Pháp trước khi cố định thành Bo tay 1«boulanger» như hiện nay.

Chỉ dụ ngày 19/01/1322 cho phép người làm bánh mì làm việc buổi đêm. «Bánh mì trắng» được cho thêm bọt bia làm bột nở (cách làm được thừa hưởng từ người Gaulois) được dành cho giới quý tộc và tư sản. Còn ở nông thôn, người nông dân làm «bánh mì đen» từ các loại ngũ cốc họ có trong tay nên có hình dạng thô hơn.

Ngày nay, bánh mì được dùng làm thước đo biểu tượng chỉ ra những dấu hiệu đầu tiên về tình cảnh đói kém hay giá cả tăng vọt. Như Lionel Poilâne từng viết : «Kể về lịch sử bánh mì, là kể một chút về lịch sử của loài người». (theo Thế Hằng)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: