ĐẾN QUÁN CÀ PHÊ “BÍT TẤT”

Logo Phong su

9 Cafe vo 1QUÁN CÁ PHÊ “BÍT TẤT”…

Ở BÀN CỜ

Sài Gòn ngày xửa ngày xưa có hai mùa mưa, nắng đan xen, nhưng bây giờ có đến ba mùa lận. Mùa mưa thì người ta trông chờ nắng ấm, mùa nắng thì người ta hóng mưa rào.

Còn mùa thứ ba là mùa chả ai thèm, không ai kêu đến, đến rồi thì tất cả đều phải từ tránh né, xua đuổi đến bất lực vì muốn xua đi cũng không thể xua được, nó đã ám vào từng hơi thở.

Và cũng không ai biết tự bao giờ, Sài Gòn không phải Sài Gòn “ngày xửa ngày xưa” nữa, Sài Gòn đã bị trở thành Sài Gòn của “ngày nảy ngày nay” rồi. Sài Gòn của ba mùa: mùa mưa, mùa nắng, mùa kịch độc !

Từ đó, có nghĩa là từ lúc “không biết tự bao giờ” đó. Tất cả mọi thứ thị dân chạm vào đều có thể là chất độc, chứa chất cấm, là “đồ Trung Quốc”. Ba chữ “đồ Trung Quốc” bây giờ cũng không còn nghĩa vụ chỉ ra nơi xuất xứ của một món hàng nữa mà nó là một cách, một cụm từ dùng để “vạch trần”.

9 Cafe vo 2Hầu hết người Sài Gòn khi nói về thứ gì đó bẩn, độc, hại đáng bỏ đi hoặc cực chẳng đã PHẢI DÙNG ÐỠ. Ði mua rau, trái cây, đồ gia dụng, đồ điện tử, thậm chí đi ra/vào thẩm mỹ viện người ta cũng hỏi : – Phải “đồ Trung Quốc” không ? Lúc quởn, đi ăn, uống cà phê đôi khi cũng len lén lật đít chén, đít ly lên coi thử xuất xứ. Dẫu biết chẳng để làm gì hay thay đổi được điều chi nhưng không biết từ bao giờ người Sài Gòn “bị nhiễm” thói quen này. Thấy hàng chữ “made in China” là nổi da gà.

(Cũng nhờ vậy) mà từ đó Sài Gòn lại hình thành xu hướng mới, xu hướng “quay về thời xưa”. Không chỉ những người già bồi hồi ngồi nhắc hoài niệm :

– Ðồ hồi xưa bền lắm, toàn của Pháp, Mỹ không, xài kỹ là dùng được mấy đời !

– Mấy thứ dỏm này giờ mắc mỏ chứ hồi xưa quẳng chó nhai…

9 Cafe vo 3

Mà còn có cả tầng tầng, lớp lớp người trẻ tìm về những “ngày xửa ngày xưa” để tìm hiểu, để làm sống lại những hoài niệm của người già. Từ khóa “vintage” chưa bao giờ ngưng “hot” ở các trang mạng xã hội. Các quán cà phê, nhà hàng cũng chạy hối hả theo phong cách này để thu hút khách, những cái “ngày xửa ngày xưa” trong “ngày nảy ngày nay” mọc ra nhan nhản khắp mọi ngóc ngách của Sài Gòn.

Nhưng rất ít người biết, có một Sài Gòn “ngày xửa ngày xưa” chính cống đang âm thầm sống gần 80 năm giữa những Sài Gòn “ngày nảy ngày nay” giả cổ vài ba năm tuổi. Ðó là một nơi khó tìm ra “ba cái đồ Trung Quốc” vì từ cây vợt lược cà phê cũng có tuổi đời cao hơn cô chủ quán.

Bạn không đọc nhầm đâu, cà phê ở quán này đặc biệt không pha bằng phin, bằng máy9 Cafe vo 4 hoặc tổ chức cho khách hàng nhìn thấy tận mắt một dây chuyền rang, xay, pha chế để thu hút khách kiểu “công nghiệp hóa” như bây giờ. Cà phê ở đây được xay ra, pha trong cái vợt và siêu đất cùng với nước đun sôi (nước này sau khi hứng ra từ vòi đã được trữ trong lu sành ba, bốn ngày cho lóng cặn và tinh khiết hơn, bay mùi thuốc khử trùng), sau vài lần lọc cà phê qua mấy cái vợt để chắc lọc hết tinh túy và “cốt” thì thành phẩm được bỏ vào siêu đất và ủ trên bếp than hồng đến khi được đưa lên tận… răng khách hàng.

Cách pha chế thủ công này rất độc đáo, phổ biến ngày xưa nhưng bây giờ ở Sài Gòn chỉ còn 3 quán cà phê còn thực hiện. Nhưng tôi đã đi và thấy rằng, ở các quán khác chỉ làm qua loa chứ không bài bản và “đúng quy trình” như ở đây.

“Con có người giới thiệu hay đọc ở đâu mà biết quán vậy ? Hay coi Youtube ? Bữa có đứa sinh viên Sân khấu điện ảnh chọn quán để quay phim tài liệu, làm bài tập luôn đó”.

9 Cafe vo 5

“Quán mình có nhiều điều đặc biệt lắm con : một là nó xưa, có từ 1938 rồi, nhiều khách không cho sửa quán, họ bảo khi sửa xong rồi nó hết cái xưa cũ để hoài niệm mất, để vậy luôn; hai là cafe nguyên chất, nhiều người sành uống là ghiền lắm, cô lựa từng hạt cà phê mà con; ba là nhạc, cô lựa nhạc kỹ lắm, toàn nhạc xưa thôi. Cuối cùng là ở đây cái gì cũng… bền :  khách ở đây toàn khách quen hàng chục năm, có gia đình mấy đời chỉ uống cà phê quán cô không đó con, bởi ai mới tới cô nhìn biết hết. Mà chỗ cung cấp cafe cho quán cũng 3 đời rồi….”

“Cô gốc Huế đó nghen, đáng ra cô là “Công Huyền Tôn Nữ…”  mà sinh ở trong Nam nên là người trong này luôn rồi.”

Cô Sương, là chủ quán kiêm nhân viên phục vụ duy nhất của quán cười phóng khoáng, nói chuyện duyên dáng với tất cả các vị khách, hầu như ai mới vô quán cũng đều được nghe cô giới thiệu những câu tương tự như vậy. “Trước 1975, Cheo Leo nằm gần trường Petrus Ký (nay là trường Lê Hồng Phong), học sinh trường Chu Văn An, Kiến Thiết, cũng thường là khách của quán. 9 Cafe vo 8Mấy ông khách ngồi đồng ở đây ngày xưa cũng là những công chức nhà nước, cảnh sát, sĩ quan vì nơi đây gần với ty cảnh sát cũ”.

Gần một kios cũ trong khu chợ Bàn Cờ, góc ngã tư đông đúc lại có mấy chú xe ôm dàn xe phía trước nên rất khó để bạn tìm thấy quán “cafe cũ xì” này. Nhưng không sao, nó quá nổi tiếng nên bạn có thể hỏi thăm, người Sài Gòn luôn sẵn sàng trả lời, có khi còn… nắm tay dắt bạn đến trước cửa quán.

“Giờ vàng” của quán là tầm 6, 7 giờ, lúc ấy khách đông nhất. Bạn sẽ dễ nhầm nơi đây đang… họp tổ dân phố. Cả trẻ lẫn già ngồi với nhau chung bàn, không hề có khoảng cách vì… quán khá nhỏ và chật. Không gian quán nhỏ nên quán chỉ có chừng bốn năm cái bàn, lại nằm trong hẻm nên xe khách phải dựng hai bên nhà trong xóm, có hôm cô hàng xóm (của chủ quán) đứng ra bảo :

–  Con cứ “dô” uống đi, cô ngó xe cho !

Khách đến cứ chỗ trống mà ngồi vào chẳng cần biết quen hay lạ, già hay trẻ. Ðúng kiểu cà phê cóc Sài Gòn.

“Ghiền Cheo Leo không chỉ vì vị cà phê độc đáo mà còn vì những dư vị xưa cũ ở đây thể hiện trong từng vết đen bám trên tường, cái kệ sách do ông chủ ngày xưa đóng, cái ghế cái bàn bạc màu cùng tháng năm, và nhất là những bản nhạc theo chủ đề được cô chủ lựa chọn kỹ lưỡng.

Ðến Cheo Leo khoái nhất là “tám” với cô chủ quán. Hầu như chuyện gì trên trời dưới đất, trong nhà ngoài đời, chuyện xưa chuyện nay gì cổ cũng “tiếp’ mình được hết. Có hôm trời mưa ngồi trong quán uống cà phê, nghe nhạc chủ đề mưa rồi trò chuyện với cổ mà thấy cuộc đời trôi nhẹ như hương cà phê vậy.”  Ðây là một tâm sự của vị khách ruột trẻ tuổi thường xuyên đến quán.

9 Cafe vo 6

“Nói chung nghỉ làm rồi thì thay bà chị bán cho vui, duy trì truyền thống gia đình chứ cũng không đủ đâu vô đâu hết. Ðược cái quán này quán nhà không phải trả tiền thuê mướn gì cả. Bỏ qua vấn đề kinh tế mình bán là vì vui”. Cô chủ quán cười đon đả, nói như vậy. Thật ra với 8000 VNĐ cho một ly cà phê đá, khách hàng là người “lời” nhất ở đây chứ không phải chủ quán. Vì vừa được nghe những bản nhạc hay, những câu chuyện rất lịch sử thuộc về Sài Gòn “ngày xửa ngày xưa”, được nói chuyện với cô chủ và học lén “bí kíp” pha cà phê “kho” lâu đời… Cái lời nhất là, ta hiểu thế nào là “hồn Sài Gòn”.

Nó không nằm ở những làn khói thuốc bay ra từ ly cà phê đặc quánh, không nằm trong những vết sẹo thời gian trên cái tường vôi nứt nẻ, cái trần nhà ám đen mùi cà phê thoang thoảng… hồn Sài Gòn nằm trong những lời nói hòa hợp đủ giọng điệu các vùng miền, tầng lớp, tuổi tác.

9 Cafe vo 7

Từng câu đùa duyên từng tiếng chửi thề. Hồn Sài Gòn nằm trong tim những người thương yêu và nhung nhớ về nó, trong cái quán nhỏ Cheo Leo giữa thành phố đổi tên này.Ngoài uống tại chỗ, quán còn thiết kế cả bao bì “take away” cho khách mang về. Cô chủ cũng rất “cập nhật thông tin” nên luôn xin addfriend facebook những vị khách của mình để “quảng cáo”, nhờ đó mà quán ngày càng đông khách trẻ, kể cả khách ngoại quốc cũng biết đến nơi này như một nơi phải đến khi ghé Sài Gòn.

Các tờ báo lớn trong và ngoài nước cũng từng viết về nơi này như một “bảo tàng lịch sử”. Cả về con người lẫn hiện vật vì cô Sương còn giữ rất nhiều thứ “ngày xửa ngày xưa” để lại.

Tay cầm miếng giò-cháo-quẩy chấm vào ly bạc sỉu (cũng là “đặc sản” của quán, món này cũng xuất xứ từ các quán cà phê vợt xưa, người ta cho sữa vào ly đã trụng sôi, cho một ít cà phê vào và cuối cùng cho nước sôi lên), miệng vừa nhâm nhi thưởng thức vị béo của sữa và bánh, mùi thơm của cà phê, tôi cùng các “bô lão”  vểnh tai nghe văng vẳng lời bài hát của cố nhạc sĩ Anh Bằng và nhà thơ Phan Thành Tài :

“Anh còn nợ em / Chim về núi nhạn / Trời mờ mưa đêm /Trời mờ mưa đêm”

Bỗng có một bạn trẻ “gào” lên :

Lucky-Luke“Anh còn nợ em / Nguyên nhân cá chết /Nguyên nhân cá chết / Anh còn nợ em…”

Một bạn khác tiếp lời :

“Anh còn nợ em /Tàu bay đã rớt /Tàu bay đã rớt /Anh còn nợ em…”

Cả quán cười rần rần, hồn Sài Gòn ở đó chứ ở đâu ? (theo Du Uyên)

Logo nhan vat

9 Dg Nghiem Mau 1NHÀ VĂN DƯƠNG NGHIỄM MẬU

VỪA QUA ĐỜI Ở SÀI GÒN

(1936 – 2016)

Nhà văn Dương Nghiễm Mậu đã đột ngột qua đời lúc 21g35 ngày 2/8 sau một cơn nhồi máu cơ tim, cộng với một khối u lớn ở gan – thông tin từ người nhà cho biết. Nhiều bạn văn trong và ngoài nước khi hay tin đều ngỡ ngàng bởi trước đó nhà văn Dương Nghiễm Mậu vẫn khỏe mặc dù năm nay đã bước sang tuổi 80.

Văn đàn Việt Nam biết đến Nhà văn Dương Nghiễm Mậu từ năm 1955, ông tên thật là Phí Ích Nghiễm, sinh ngày 19/11/1936 tại làng Mậu Hòa, huyện Đan Phượng, phủ Hoài Đức (nay thuộc Hà Nội).

Trước 1975, Dương Nghiễm Mậu có khoảng 16 tập sách được xuất bản. Ông cũng tham gia chủ trương nhà xuất bản Văn xã, làm báo Văn nghệ, cộng tác với các báo: Sáng tạo, Thế kỷ 20, Tia sáng, Văn, Văn học, Bách khoa, Giao điểm…

Một người bạn văn của là nhà văn, họa sĩ Tạ Tỵ, đã nhận xét về ông rằng: “Dương Nghiễm Mậu, tuy không có quyền chọn lựa hướng đi nhưng cũng chẳng sẵn sàng làm một dòng nước nhỏ, nên chấp nhận sự có mặt của mình trước cuộc sống với một thế đứng riêng biệt”.

9 Dg Nghiem Mau 3Năm 2007, công ty Phương Nam và NXB Văn Nghệ tái bản bốn tập truyện của ông gồm : Nhan sắc, Đôi mắt trên trời, Tiếng sáo người em út, Cũng đành. Sau 1975, nhà văn Dương Nghiễm Mậu ở lại Sài Gòn, sinh nhai bằng nghề làm tranh sơn mài cho đến cuối đời. (theo Tuổi Trẻ online)

oOo

Nhắc đến nhà văn Dương Nghiễm Mậu (19/11/1936 – 2/8/2016) không thể không nói đến đóng góp nói chung của giới văn sĩ Bắc di cư mà nếu liệt kê ra phải mất đến nhiều trang. Thành công của họ dĩ nhiên là từ tài năng nhưng có một điều không thể phủ nhận là tài năng họ đã đơm thành hoa, kết thành trái là còn nhờ nhiều đến không khí sáng tác tự do. Khi từ Bắc đặt chân vào Nam năm 1954, họ không bị nghi kỵ hoặc kỳ thị gì. Chính quyền cụ Diệm không có chính sách kiểm duyệt họ hay kiểm duyệt văn hóa nói chung. Trong “Tổng quan văn học miền Nam”, nhà văn Võ Phiến viết:

“Giới trí thức giới nghệ sĩ vốn thận trọng và thường xa cách chính quyền, thế mà vào những năm đầu sau hiệp định Genève họ cũng mất cái dè dặt cố hữu. Doãn Quốc Sỹ nói chuyện với Nguyễn Ngu Í về cái lúc ông mới từ Bắc di cư vào, viết kịch “Một mùa xuân tin tưởng” đăng trên báo Lửa Việt của sinh viên hồi 1955: “Thời ở chẳng yên, mà lại là thời cảm động nhất, tin tưởng ở Cách mạng; lúc bấy giờ, gặp các ông bộ trưởng, đổng lý văn phòng, là anh anh tôi tôi thân mật với nhau, không chút ngượng ngùng”.

“Chính cái “thân mật, không chút ngượng ngùng” thuở ấy đã đưa một nhóm học trò trung học lên đài danh vọng, đã biến mấy cậu bé mới từ Bắc di cư vào thành những nhà văn nổi tiếng một thời : Lê Tất Điều, Trần Dạ Từ v.v… Họ bắt đầu cuộc đời cầm bút bằng cách xúm xít nhau làm báo Văn Nghệ Học Sinh của Lê Bá Thảng, tức tờ báo của Bộ Thông tin… Rõ ràng chính quyền lúc bấy giờ là một chính quyền được mến yêu, và lãnh tụ là một nhân vật được tin tưởng.

9 Dg Nghiem Mau 4

Một thi sĩ đại danh nhân Vũ Hoàng Chương lúc này cũng không cần dè dặt nữa. Ông Vũ, nhân dịp Miền Nam bỏ phiếu trong cuộc trưng cầu dân ý về việc truất phế Bảo Đại, trao quyền cho Ngô Đình Diệm, đã không ngần ngại viết những lời say sưa trong Hoa đăng: “Lá phiếu trưng cầu một hiển linh, Phá tan bạo ngược với vô hình”…

“Không còn chuyện trùm chăn, chuyện lẩn tránh chính quyền nữa. Họ tích cực tham gia xây dựng quê hương trên những lãnh vực chuyên môn khác nhau. Riêng về văn hóa, những vị hồi hương vào độ ấy như Nguyễn Văn Trung, Trịnh Viết Thành, Nguyễn Khắc Hoạch, Trần Bích Lan v.v… 9 Dg Nghiem Mau 5đã có những đóng góp đáng kể. Người Bắc di cư, cái khối người bỏ đất Bắc vào Nam, thoạt tiên rất dễ ghét đối với người miền Nam, dần dần họ đổi kiểu nón đội trên đầu, họ thay kiểu guốc mang dưới chân như dân Sài Gòn, họ làm vang tiếng giày dép trong đêm giao thừa Sài Gòn, họ thêm thắt lung tung vào bữa ăn sáng bữa nhậu khuya của người Sài Gòn.

Họ góp phần quan trọng vào việc chuyển hướng chính trị trong quần chúng miền Nam. Rồi chúng ta sẽ thấy vai trò của họ trong văn học nghệ thuật thời kỳ này không kém quan trọng chút nào”…

Một trong những người đóng góp vào văn hóa nghệ thuật thời kỳ đó dĩ nhiên có Dương Nghiễm Mậu. Trong “Mười gương mặt văn nghệ hôm nay” (1972), tác giả Tạ Tỵ giới thiệu nhà văn Dương Nghiễm Mậu như sau : “Dương Nghiễm Mậu xuất hiện trên văn đàn miền Nam cách đây ngoài 10 năm, như một chứng tích. Cái chứng tích đó là nỗi bơ vơ của tuổi trẻ, của một thế hệ tuổi trẻ đang sống giữa cuộc sống không thuộc về mình. Cái tuổi trẻ nào đó được tô hồng trong những dạ hội, dưới mái đại học, hay rong chơi quanh năm với bốn mùa tình tự, đều ở ngoài tầm tay của Dương Nghiễm Mậu. Cuộc sống đối với Mậu là cái gì quá khe khắt, quá cứng rắn và từ đó mỗi suy nghĩ, mỗi hành động hình như, ít nhiều gì cũng để chống đối cuộc đời. Những xấu xa, ti tiện, lòng ganh ghét và đố kị thấp hèn, trộn lẫn với tình thương yêu con người làm giọng văn của Dương Nghiễm Mậu vừa phẫn nộ vừa chua xót”…

9 Dg Nghiem Mau 2Sau 1975, Dương Nghiễm Mậu đi “cải tạo”. Năm 2007, vài quyển truyện của ông được nhà sách Phương Nam phát hành. Không hiểu vì lý do gì mà nhà văn Vũ Hạnh, nhân dịp đó, đã “đập” Dương Nghiễm Mậu bằng một bài cay cú trên báo SGGP (22-4-2007) :

– “Sách của Dương Nghiễm Mậu thì nổi bật tính phản động tha hóa lớp trẻ hầu đưa đẩy họ vào sự chống phá cách mạng, chống lại sự nghiệp giải phóng đất nước khỏi sự thống trị của bọn đế quốc xâm lược…

Vì những lẽ đó, rất nhiều bức xúc, phẫn nộ của các bạn đọc khi thấy Công ty Phương Nam ấn hành sách của ông Dương Nghiễm Mậu….”

Quý anh chị muốn đọc lại truyện Dương Nghiễm Mậu thì có thể vào trang này:

http://vietmessenger.com/books/?author=duongnghiemmau

Yên Huỳnh tổng hợp chuyển tiếp

Logo van de

9 Tr Van Khe 1KHẨU KHÍ CỦA

CỐ GS TRẦN VĂN KHÊ !

Tình cờ đọc trên mạng trang của Văn Nghệ Công An có bài viết về câu chuyện đối đáp của cố giáo sư Trần Văn Khê rất ý nghĩa và đầy khí phách Việt nên Anh Tri mạo muội xin phép tác giả cho chia sẻ cùng bà con. … Niềm kiêu hãnh người Việt

Có một câu chuyện mang rất nhiều cảm hứng đã được Giáo sư kể đi kể lại cho các học trò. Câu chuyện ấy cũng được ông ghi lại trong cuốn hồi ký, kể về cuộc tranh luận bên lề buổi sinh hoạt của Hội Truyền bá Tanka Nhật Bản tại Paris vào năm 1964. Tham dự hầu hết là người Nhật và Pháp, duy chỉ có Giáo sư là người Việt. Diễn giả của buổi sinh hoạt ấy là một cựu Đề đốc Thủy sư người Pháp.

Vị này khởi đầu buổi nói chuyện với sự so sánh : “Thưa quý vị, tôi là Thủy sư đề đốc, đã sống ở Việt Nam 20 năm mà không thấy một áng văn nào đáng kể. Nhưng khi sang nước Nhật, chỉ trong vòng một, hai năm mà tôi đã thấy cả một rừng văn học. Và trong khu rừng ấy, trong đó Tanka là một đóa hoa tuyệt đẹp.

Trong thơ Tanka, chỉ cần nói một ngọn núi, một con sông mà tả được bao nhiêu tình cảm. Chỉ 31 âm tiết mà nói bao nhiêu chuyện sâu sắc, đậm đà. Nội hai điều đó thôi đã thấy các nước khác không dễ có được”.

Giáo sư Trần Văn Khê vô cùng bức xúc. Sau khi buổi nói chuyện bước vào phần giao lưu, 9 Tr Van Khe 2cử tọa hỏi còn ai đặt câu hỏi nữa hay không, Giáo sư đã đứng dậy xin phép phát biểu. Rào trước đón sau để không bị ai bắt bẻ, Giáo sư nói với một thái độ hết sức khiêm cung : “Tôi không phải là người nghiên cứu văn học, tôi là Giáo sư nghiên cứu âm nhạc, là thành viên hội đồng quốc tế âm nhạc của UNESCO.

Trong lời mở đầu phần nói chuyện, ông Thủy sư Đề đốc nói rằng đã ở Việt Nam hai mươi năm mà không thấy áng văn nào đáng kể. Tôi là người Việt, khi nghe câu đó tôi đã rất ngạc nhiên. Thưa ngài, chẳng biết khi ngài qua nước Việt, ngài chơi với ai mà chẳng biết một áng văn nào của Việt Nam ? Có lẽ ngài chỉ chơi với những người quan tâm đến chuyện ăn uống, chơi bời, hút sách… thì làm sao biết được đến văn chương ?

Phải chi ngài chơi với Giáo sư Emile Gaspardone thì ngài sẽ biết đến một thư mục gồm trên 1.500 sách báo về văn chương Việt Nam, in trên Tạp chí Viễn Đông bác cổ của Pháp số 1 năm 1934. Hay nếu ngài gặp ông Maurice Durand thì ngài sẽ có dịp đọc qua hàng ngàn câu ca dao Việt Nam mà ông Durand đã cất công sưu tập…

Ông còn hiểu biết về nghệ thuật chầu văn, ông còn xuất bản sách ghi lại các sinh hoạt văn hóa của người Việt Nam. Nếu ngài làm bạn với những người như thế, ngài sẽ biết rằng nước tôi không chỉ có một, mà có đến hàng ngàn áng văn kiệt tác. 9 Tr Van Khe 4Tôi không biết ngài đối xử với người Việt Nam thế nào, nhưng người nước tôi thường rất hiếu khách, sẵn sàng nói cái hay trong văn hóa của mình cho người khác nghe.

Nhưng người Việt chúng tôi cũng “chọn mặt gửi vàng”, với những người phách lối có khi chúng tôi không tiếp chuyện. Việc ngài không biết về áng văn nào của Việt Nam cho thấy ngài giao du với những người Pháp như thế nào, ngài đối xử với người Việt ra sao. Tôi rất tiếc vì điều đó. Vậy mà ông còn dùng đại ngôn trong lời mở đầu”.

Rồi để so sánh với Tanka, Giáo sư đưa ra những câu thơ như : “Núi cao chi lắm núi ơi / Núi che mặt trời, không thấy người yêu” hay “Đêm qua mận mới hỏi đào / Vườn hồng đã có ai vào hay chưa” để đối chiếu: tức là cũng dùng núi non, hoa lá để nói thay tâm sự của mình. Còn về âm tiết, Giáo sư kể lại câu chuyện về Mạc Đĩnh Chi thời nhà Trần đi sứ sang nhà Nguyên (Trung Quốc). Lúc ấy bà hậu phi của vua Nguyên vừa mất, họ muốn thử tài sứ giả nên mời ông làm một bài điếu văn, đề bài là phải có bốn chữ “nhất”. Đại sứ không hốt hoảng mà ứng tác liền :

9 Tr Van Khe 3“Thanh thiên nhất đóa vă

Hồng lô nhất điểm tuyết

Thượng uyển nhất chi hoa

Dao trì nhất phiến nguyệt

Y ! Vân tán, tuyết tiêu, hoa tàn, nguyệt khuyết !

Nghĩa là :

Một đám mây giữa trời xanh

Một bông tuyết trong lò lử

Một bông hoa giữa vườn thượng uyển

Một vầng trăng trên mặt nước ao

Than ôi ! Mây tản, tuyết tan, hoa tàn, trăng khuyết !

Tất cả chỉ 29 âm chứ không phải 31 âm để nói việc người vừa mất đẹp và cao quý như thế nào.

Khi Giáo sư Trần Văn Khê dịch và giải nghĩa những câu thơ này thì khán giả vỗ tay nhiệt liệt. Đã vậy, Giáo sư còn thòng thêm một câu : “Tất cả những điều trên tôi biết được là nhờ học ở trường trung học” để cho thấy văn học Việt Nam “thâm hậu” như thế nào. Ông Thủy sư Đề đốc đỏ mặt và phải xin lỗi Giáo sư Trần Văn Khê lẫn người Việt Nam ngay trong chương trình. Kết thúc buổi nói chuyện, ông Thủy sư lại đến gặp riêng Giáo sư và ngỏ ý mời ông đến nhà dùng cơm để được nghe nhiều hơn về văn hóa Việt Nam.

Giáo sư tế nhị từ chối, còn nói người Việt không mạo muội đến dùng cơm ở nhà người lạ. Vị Thủy sư Đề đốc nói : “Vậy là ông chưa tha thứ cho tôi”.Rat tot 2 Giáo sư lại nói: “Có một câu mà tôi không thể dùng tiếng Pháp mà phải dùng tiếng Anh. Đó là: I forgive, but I cannot yet forget (Tạm dịch: Tôi tha thứ, nhưng tôi chưa thể quên)”.

Câu chuyện nhiều cảm hứng ấy sẽ có sức mạnh an ủi lớn nếu chúng ta đặt cạnh tâm trạng xấu hổ của không ít người Việt Nam vì trót sinh ra làm một người Việt Nam. Chúng ta cần nhiều hơn những người như Giáo sư Trần Văn Khê để có thể “cứu vãn danh dự” cho một quốc gia đang mang quá nhiều mặc cảm.

Lan Hương chuyển tiếp

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: