HOÀI NIỆM XE ĐÒ MIỀN NAM

Logo bay gio ke

7 Tr xe busXe không chạy trên sông

sao gọi xe đò ?

HOÀI NIỆM XE ĐÒ

Có lần tôi hỏi nhà văn Sơn Nam khi gặp ông ở quán cà phê vỉa hè trước Nhà Văn hóa quận Gò Vấp cách nay hai mươi năm. Trong chiếc áo sơ mi cụt tay, khuôn mặt ốm nhăn nheo màu bánh ít, mắt đăm chiêu sau cặp kiếng dày, ông thủng thỉnh trả lời theo kiến giải của mình.

Đồng bằng Nam bộ sông nước chằng chịt, ngày xưa phương tiện đi lại chủ yếu bằng đò ghe, cho đến thập niên ba mươi, người Pháp thành lập vài hãng xe chở khách đi miền Tây. Thời ấy đường bộ chưa phát triển, xe đến bến khách phải chuyển tiếp bằng đò ghe nên người ta gọi là xe đò cho tiện.

Nghe vậy thôi, sau này tôi tìm hiểu thêm chút ít, biết rằng người Bắc gọi xe đò là xe khách hoặc xe ca, còn người Trung lại gọi xe đò giống như người Nam. Một số người giải thích vì hầu hết các chủ nhà xe đi miền Trung là người Sài Gòn nên “xe đò” trở thành phương ngữ chung cho tiện. Son Nam 1Và rồi câu chuyện sôi nổi hơn khi nhà văn nhắc tới kỷ niệm thời học sinh trung học từng đi xe đò từ Rạch Giá về Cần Thơ mà ông có nhắc lại trong tập “Hồi ký Sơn Nam” :

“…Tiền xe từ Rạch Giá đến Cần Thơ là một đồng hai (120km) nhưng nhỏ tuổi như tôi chỉ tốn có 6 cắc. Tôi lên xe ngồi để người phụ xế sắp đặt chỗ ngồi cho gọn, khép nép, chung quanh xe là nhiều người rao hàng để hành khách ăn buổi sáng vì buổi trưa mới đến bến Cần Thơ. Tôi còn nhỏ, ba tôi cho riêng tôi 2 cắc, rất tủi thân vì trong khi ấy gia đình khá giả dám trả 1 đồng hai (hai chỗ dành cho trẻ con rộng rãi hơn) lại dành cho con một cái bánh bao to để ăn dọc đường. Xe khách bóp kèn inh ỏi, chạy vòng quanh để tìm kiếm khách…”.

Nhưng điều thú vị nhất là ông kể hồi thời kỳ đầu xe đò do người Pháp làm chủ toàn là loại xe nhỏ chở khách chừng hơn hai mươi người. Nhưng chỉ một thập niên sau, người Việt mình giàu có tham gia mở công ty lập hãng, nhập cảng máy, 9 Xe do 1khung gầm từ châu Âu châu Mỹ, đóng thùng thành xe đò loại lớn chở hơn năm chục hành khách, cạnh tranh ác liệt trong giai đoạn đường bộ được mở rộng và phát triển ở các tỉnh miền Tây và Ðông Nam Bộ.

Giao thông kết nối khắp nơi, nhu cầu đi lại của người dân càng nhiều, tạo thành thời vàng son của xe đò. Chiến tranh Ðông Dương nổ ra, Nhật vào chiếm miền Nam, xăng dầu khan hiếm, bị giám sát chặt chẽ, ngành xe đò suy giảm, một số hãng xe hoạt động cầm chừng và phải thay đổi nhiên liệu cho xe hoạt động.

Ông Sơn Nam kể : “Xe ô tô chở khách phải dùng “ga”, hiểu là than củi tràm, bỏ vào cái thùng tròn đặt bên hông xe phía sau. Trước khi cho xe nổ máy thì quạt cho than tràm cháy, hơi ga ấy bị đốt, gây sức ép cho máy xe chạy, gọi “Autogène”, theo mô hình của Kỹ sư Thịnh Hưng Ngẫu chế tạo ở Sài Gòn”.

Hình ảnh chiếc xe đò nhỏ chạy bằng than đốt trong cái thùng phía sau xe được lặp lại từ năm 1975 đến 1985, chắc người Sài Gòn tuổi trung niên trở lên đều biết rõ. Tôi từng đi loại xe sử dụng nhiên liệu này, mỗi lần chui vào cửa xe phía sau là đều phải cẩn thận với cái thùng than cháy nóng được treo dính ở đuôi xe. Thường thì người ta chỉ cải tiến 9 Xe do 2xe đò lỡ – tức là loại xe Renault cũ xì từ giữa thập niên 50.

Tuy giới lái xe gọi đó là xe đò hỏa tiễn nhưng nó chạy chậm hơn xe chạy xăng hoặc dầu. Có lúc xe chạy ì à ì ạch khi than cháy không hết, lơ xe phải dùng thanh sắt mở lò đốt cời than. Hoặc thỉnh thoảng gặp đường vồng xóc, than văng ra khỏi cửa thông không khí, rớt xuống đường cháy đỏ rực. Vô phúc cho chiếc xe đạp nào chạy phía sau tránh không kịp, cán phải cháy lốp xe.

Xe đò hỏa tiễn chạy những đường ngắn như Sài Gòn – Long Khánh, Chợ Lớn – Cần Giuộc – Gò Công, Sài Gòn – Long An, còn xe đò dài vẫn chạy bằng xăng dầu, nhưng không còn nhiều như trước.

Trên mui phía đầu xe thường có thùng phuy nước dùng để làm nguội máy, kế tiếp là nơi chở hàng hóa, xe gắn máy, xe đạp cho khách buôn chuyến và khách đi tỉnh xa.

Tôi còn nhớ mãi lần đầu được đi xe lô về quê bên ngoại ở Càn Long, Trà Vinh. Năm đó tôi chín tuổi, đi cùng với người anh bà con. Xe lô có bãi xe ở Bến Bạch Ðằng và Bến Chương Dương. Bãi xe lô hay nhiều bãi bến xe đò khác khắp nơi trong thành phố Sài Gòn – Chợ Lớn đều nằm hai dãy dọc theo đường phố. Phòng vé là một cái quầy hay cái bàn gắn tấm biển to đề tên từng hãng xe, chạy lộ trình nào. Riêng xe lô không cần bán vé, khách đến bãi xe còn chỗ trống cứ lên, đủ người thì bác tài chạy. Loại xe này gọi đúng tên là “Location”, sơn màu đen, 9 Xe do 3kiểu xe ô tô chở chừng bảy tám người nhưng bác tài cố nhét thêm hành khách.

Xe lô chạy nhanh hơn xe đò vì không bắt khách dọc đường, không lên xuống hàng hóa cồng kềnh, lại có khi qua cầu tạm không cần bắt hành khách xuống cuốc bộ. Ðể gió lùa vào cho hỉ hả đám hành khách ngồi chật cứng như nêm, lại thêm giỏ xách túi bị, va li lỉnh kỉnh, bác tài mở cửa sau bung lên cột chặt lại, người ngồi phía sau ngó ra phố phường. Xe chạy ra khỏi Phú Lâm, nhìn cảnh đồng lúa xanh tươi hai bên đường, lòng cảm thấy phơi phới mặc dầu lâu lâu tôi phải nhấc mông trở cẳng vì bị ngồi bó gối.

Nói là đi xe lô thì hành khách không cần xuống bộ qua cầu tạm, chứ lần đó tôi vẫn phải xuống cuốc bộ như bao chuyến xe đò khác. Tôi mới ca cẩm, xe lô cái nỗi gì, có mà “lô ca chân” theo lời hát của một tuồng cải lương trên truyền hình. Sau năm 1968, cuộc chiến ngày càng ác liệt, cầu đường nhiều nơi bị “mấy ổng” gài mìn phá hủy, có nơi phải dựng cầu tạm, đầu cầu có đặt trạm kiểm soát của quân cảnh hay cảnh sát.

Ðường về Trà Vinh chỉ hơn 160 cây số mà qua mấy chục cây cầu, lại phải chờ phà Mỹ Thuận. 9 Xe do 4Ði xe lô cho được nhanh mà về đến nơi phải mất năm sáu tiếng đồng hồ, huống hồ chi hành khách đi miệt Hậu Giang, Cà Mau xuống ở bến xe còn phải đón đò về nhà ở vùng U Minh, Miệt Thứ mất cả ngày đường. Chỉ có xe thư tức là xe đò làm nhiệm vụ giao nhận thư từ bưu phẩm chuyển cho bưu điện tỉnh mới được ưu tiên, không phải lụy phà hay bị cảnh sát xét hỏi.

Bây giờ xe đò tiến bộ hơn nhiều, xe có máy lạnh, ghế nằm thoải mái cho khách đường xa, duy chỉ không có phòng vệ sinh trong xe, lại còn tặng thêm nước uống, khăn ướt lau mặt. Xe chạy nhanh nhờ có cầu qua hai con sông Tiền và sông Hậu, tôi ngồi xe Mai Linh chạy một lèo về tới chợ Cà Mau chỉ mất sáu tiếng đồng hồ. Nếu không kể đến loại xe dù bắt khách dọc đường, thì xe đò là phương tiện đi đường xa tương đối rẻ tiền.

Trước năm 1975, Xa cảng miền Tây là bến tập trung các xe đò về các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, bên cạnh đó lại có bến xe Chợ Lớn đi về Cần Giuộc, Gò Công, Lý Nhơn, về sau bến xe này gộp lại với Xa cảng miền Tây mở rộng thành Bến xe miền Tây nằm trên đường Kinh Dương Vương quận Bình Tân.

9 Xe do 5Còn bến Miền Ðông dành cho xe đi các tỉnh miền Trung và phía Bắc trên đường Petrus Ký trước kia thì gộp lại với hai bến xe nhỏ là Nguyễn Cư Trinh đi lộ trình cao nguyên và Nguyễn Thái Học đi Long Hải – Vũng Tàu – Phan Thiết, rồi sau đó vài năm chuyển về bến xe Văn Thánh, và cuối cùng yên vị tại Bến xe miền Ðông trên đường Ðinh Bộ Lĩnh hiện nay.

Nhưng nghe đâu hai bến xe này sẽ phải dời ra xã Tân Túc huyện Bình Chánh và Suối Tiên Q. 9 để có diện tích rộng hơn, đáp ứng được cho nhu cầu ngày càng tăng. Sẽ thiếu sót nếu không nhắc đến Bến xe An Sương, bến này đúng ra có xe đi Tây Ninh – Bình Phước – Bù Ðăng, 9 Xe do 6Bù Ðốp vùng Tây Trường Sơn, nhưng cũng có xe đi vài tỉnh thành của cả ba miền, do hai bến xe miền Ðông và miền Tây nhỏ hẹp.

Ai cũng có kỷ niệm lần đầu đi xe đò. Mỗi chuyến xe chuyên chở nỗi niềm hoài niệm. Có người nhớ chuyện tiền vé như nhà văn Sơn Nam. Có người lòng phơi phới nhìn thấy phong cảnh đồng lúa xanh tươi chạy dài bên quốc lộ như tôi. Cũng có người nhớ mùi mồ hôi, mùi xăng dầu giữa nắng gió miền Trung. Nhớ bến bãi ồn ào í ới ngày xưa. Và cũng có người tuổi đời chồng chất, nhớ cảnh xuống xe qua cầu xe lửa Bến Lức, Tân An thuở xa lắc xa lơ.

Yên Huỳnh chuyển tiếp

9 Ba Nha 1BÁ NHA VÀ TỬ KỲ 

Tiếng đàn đang réo rắt bỗng trầm hẳn xuống. Gió rừng thổi mạnh, mây đen kéo lại, u ám bầu trời, hồi lâu mới tan…

Bá Nha và Tử Kỳ là hai người bạn tri âm thời Xuân Thu Chiến Quốc, Bá Nha làm quan Thượng Đại Phu nước Tấn. Bá Nha nổi tiếng là một người phong lưu, có ngón đàn tuyệt diệu nhất đời và không bao giờ rời cây đàn Dao cầm yêu quí của mình. Có người tán dương tiếng đàn của Bá Nha rằng “Bá Nha chơi đàn thì cá cũng phải ngoi lên nghe, ngựa cũng phải dừng ăn”.

Dao cầm được làm từ phần gỗ tốt nhất của cây ngô đồng. Khi xưa vua Phục Hy thấy 5 vì sao rơi vào cây ngô đồng, rồi có chim phượng hoàng đến đậu. Biết là gỗ quí, hấp thụ tinh hoa trời đất, nên vua bảo thợ khéo lấy gỗ chế làm nhạc khí, gọi là Dao cầm, theo nhạc khí ở Cung Dao Trì.

Tử Kỳ họ Chung, là một danh sĩ ẩn dật làm nghề đốn củi để báo hiếu cha mẹ già nua, nhà ở gần núi Mã Yên, cửa sông Hán Dương.

Năm đó, Bá Nha phụng chỉ vua Tấn đi sứ qua nước Sở. Trên đường về, khi thuyền đến cửa sông Hán Dương, vào đêm Trung thu trăng sáng, phong cảnh hữu tình, Bá Nha cho dừng thuyền dưới chân núi Mã Yên để thưởng ngoạn. Lòng thấy hứng thú, muốn chơi một vài khúc đàn, 9 Ba Nha 2Bá Nha sai quan hầu lấy chiếc lưu ra, đốt hương trầm, xông cây Dao cầm đặt trên án. Bá Nha trịnh trọng nâng cây đàn, vặn trục so dây, sau đó thả hồn phiêu bồng trong khúc nhạc réo rắt, âm thanh bay quyện vào làn khói trầm… Bá Nha đàn chưa xong một bài, bỗng nhiên cây Dao cầm đứt một dây.

Bá Nha giật mình nghĩ thầm, dây đàn bỗng nhiên đứt thế này ắt có người nào đó đang nghe lén tiếng đàn, ông bèn sai quân hầu lên bờ tìm xem, có ai là người nghe đàn mà không lộ mặt. Quân hầu tuân lệnh lên bờ, thì bỗng có người từ trên bờ lên tiếng:

– Xin đại nhân thứ lỗi cho. Tiểu dân này đi kiếm củi về muộn, đi ngang qua đây, nghe tiếng đàn tuyệt diệu quá nên không đành cất bước đi.

Bá Nha cười lớn bảo:

– Người tiều phu nào dám nói hai tiếng nghe đàn với ta ?

Tiếng nói từ trên núi đáp lại:

– Đại nhân nói vậy, kẻ hèn này trộm nghĩ là không đúng. Đại nhân không nhớ câu nói của người xưa “Trong một ấp có mười nhà, ắt có người trung tín”. Hễ trong nhà có quân tử thì ngoài cửa ắt có người quân tử đến… Nếu đại nhân khinh chốn quê mùa này không có người biết nghe đàn, thì cũng không nên gảy lên khúc đàn tuyệt diệu làm gì.

Bá Nha có vẻ ngượng khi nghe câu nói của người tiều phu. Biết mình lỡ lời, ông liền tiến sát đến mũi thuyền, dịu giọng nói:

– Người quân tử ở trên bờ, nếu thực biết nghe đàn, có biết ta vừa gảy khúc nhạc gì không ?

9 Qua cap 3– Khúc nhạc đại nhân vừa tấu, đó là bản Đức Khổng Tử khóc thầy Nhan Hồi, phổ vào tiếng đàn, lời rằng :

Nhan Hồi mất sớm thật đau thương

Tư tưởng dạy người tóc bạc sương

Ngõ hẹp, nước bầu, cơm giỏ hẩm

Hồi nãy, đại nhân đang đàn thì đứt dây, nên còn thiếu câu tiếp theo là :

Danh hiền lưu mãi cõi trần dương.

Tử Kỳ quả thật là một người tinh thông âm nhạc, tinh tường về Dao cầm, lại thấu rõ tấm lòng Bá Nha qua tiếng đàn. Bá Nhân liền trịnh trọng mời Tử Kỳ lên thuyền của mình. Trong đêm thanh vắng, Bá Nha đàn khúc Cao sơn Lưu thủy, Tử Kỳ nói đều hiểu rõ được lòng Bá Nha lúc cao vời vợi, chí tại non cao, lúc thì mênh mông như trời nước bao la, ý như nước chảy. Bá Nha vô cùng bái phục và xin kết nghĩa anh em. Trước khi chia tay, hai người hẹn năm sau gặp lại cũng tại chốn này.

Mùa thu năm sau, khi Bá Nha trở lại Mã Yên thì Tử Kỳ mới chết vì bệnh, mộ còn chưa xanh cỏ. Chung lão, cha của Tử Kỳ đưa Bá Nha đến mộ. Bên mộ của Tử Kỳ, Bá Nha lạy mà khóc nức nở rằng “Hiền đệ ơi, lúc sống thông thái tuyệt vời, nay chết, 9 Ba Nha 3khí thiêng còn phảng phất. Xin chứng giám cho ngu huynh một lạy, ngàn thu vĩnh biệt”.

Lạy xong, Bá Nha gọi đem Dao cầm tới, đặt lên phiến đá trước mộ, ngồi xếp bằng trên mặt đất một cách nghiêm trang, rồi so dây tấu khúc Thiên thu trương hận, tiễn người bạn tri âm tài hoa nhưng yểu mạng. Tiếng đàn đang réo rắt bỗng trầm hẳn xuống. Gió rừng thổi mạnh, mây đen kéo lại, u ám bầu trời, hồi lâu mới tan. Bá Nha ngưng đàn. Gió ngừng rít, trời trong sáng trở lại, chim ai oán lặng tiếng. Bá Nha nhìn Chung lão thưa rằng :

– Tử Kỳ đã về đây chứng giám cho lòng thành của tiểu sinh. Cháu vừa đàn khúc đoản ca để viếng người tri âm tài hoa mệnh yểu, và xin đọc thành thơ đoản ca này :

9 Ba Nha 4Từ nhớ đến mùa thu năm trước

Bến trường giang gặp bạn cố nhân

Năm nay lại đến Giang Tân

Dòng sông lạnh ngắt cố nhân đâu rồi

Buồn chỉ thấy nấm mồ bên núi

Cõi ngàn năm chia cắt đau long

Ôi thương tâm, ôi thương tâm

Sụt sùi lai láng bao hàng lệ rơi

Mây sầu thấp thoáng chân trời

Đêm vui đổi lấy một đời khổ đau

Tử Kỳ ơi, Tử Kỳ ơi!

Ngàn vàng không chuộc được bầu tâm can

Thôi từ nay, thôi phím đàn

Ngàn thu thôi hết mơ về cố nhân…

Lời thơ vừa dứt, Bá Nha vái cây Dao cầm một vái, tay nâng Dao cầm lên cao, đập mạnh xuống tảng đá. Dao cầm vỡ tan nát, tung từng mảnh, trụ ngọc, phím vàng rơi lả tả.

Chung lão không kịp ngăn, kinh hoảng hỏi rằng:

– Sao đại nhân lại đập vỡ cây đàn quí giá này ?

Thay boi 4Bá Nha đáp lời bằng bài thơ tứ tuyệt :

Đập nát Dao cầm đau xót phượng

Tử Kỳ không có đàn cho ai

Bốn phương trời đất bao bè bạn

Tìm được tri âm khó lắm thay.

Đinh Mỹ Chơn chuyển tiếp

Logo van de

Tr cuoi 5SÁU LOẠI BỆNH

KHÔNG CÓ THUỐC CHỮA

Những thần y nổi tiếng trong lịch sử như Hoa Đà, Biển Thước là những người có công năng đặc dị, khám chữa bệnh một cách thần kỳ. Bởi vậy, có 6 loại bệnh mà các vị thần y này nhìn thấu nguyên nhân sâu xa của nó, và cho rằng không thể chữa trị được. Vậy đó là những loại bệnh gì

Các danh y thời xưa đều chú trọng đạo đức, tu luyện thuận theo đạo lý của đất trời và do đó thường có công năng đặc dị, khám chữa bệnh một cách thần kỳ. Ví như Hoa Đà thấy trong não Tào Tháo có khối u, Biển Thước nhìn thấu thân người mà mô tả các kinh mạch trong cơ thể, xây dựng phương pháp chẩn bệnh bằng bắt mạch. Ấy vậy nhưng vẫn có 6 loại bệnh không thể chữa được

7 Bien ThuocBiển Thước đã trở thành đại phu kiệt xuất như thế nào ?

Theo “Sử ký”, Biển Thước là một đại phu có thể điều trị nhiều loại bệnh khác nhau, không những vậy, ông còn nói có 6 loại bệnh ông không thể chữa được. 6 loại bệnh ông nói không thể chữa được đó, là bởi vì ngay từ thời kỳ đầu của bệnh ông đã biết bệnh sẽ tiến triển như thế nào, vì sao ông lại biết được như vậy ?

Biển Thước tên thật là Tần Hoãn, tự Việt Nhân, vốn người Châu Mạc, Bột Hải (nay là huyện Nhiệm Khâu, tỉnh Hà Bắc – thời Chiến quốc thuộc nước Triệu). Ông sinh khoảng năm 401 trước công nguyên, mất năm 310 trước Công nguyên, thọ hơn 90 tuổi.

Thời còn trẻ, Biển Thước vốn là người quản lý ở một quán trọ. Lúc đó có một lương y biệt danh là Trường Tang Quân đã rất cao tuổi, nhưng khí phách không phải như người phàm trần, thường trọ tại quán của ông. Ông thấy vị khách rất đặc biệt, nên rất 9 Benh kho tri 1cung kính tôn trọng vị lương y này, phục vụ rất chu đáo. Danh y này đã nhiều tuổi, khi gặp được Biển Thước, ông cảm thấy đây là một chàng thanh niên có tư cách rất tốt, cung kính lễ phép, nên âm thầm quan sát Biển Thước.

Danh y đã quan sát Biển Thước mười mấy năm, sau đó nhận ra, đây chẳng phải người thường, ắt là có Đạo trong tâm, vì vậy có một hôm, ông gọi Biển Thước tới nói chuyện. Lão nhân nói, ông có một phương thuốc bí truyền, nhưng giờ đã cao tuổi, muốn truyền lại những thứ này cho Biển Thước, và yêu cầu Biển Thước không được lấy bất cứ lý do gì để từ chối.

Biển Thước nói, tôi tôn trọng lão và đồng ý nghe theo lời lão. Sau khi Biển Thước đồng ý, lão nhân đưa cho Biển Thước một cuốn sách, và một bọc thuốc. Ông nói Biển Thước hãy cầm lấy gói thuốc này, uống cùng với nước mưa hứng từ trên trời xuống, 3 ngày sau khi uống, anh sẽ biết được rất nhiều sự việc.

Biển Thước uống thuốc theo lời chỉ dẫn. Ba ngày sau, ông có thể nhìn xuyên qua các vật thể. Sau khi nghiên cứu các cuốn sách y thuật, ông sớm có thể sử dụng khả năng nhìn xuyên thấu và kiến thức về bệnh tật của mình để chẩn đoán và trị bệnh cho người khác.

9 Benh kho tri 2Nhưng có một vấn đề rằng nếu người thường biết Biển Thước có thể nhìn thấy và dự đoán tương lai thì sẽ muốn lợi dụng ông. Cũng giống như con người hiện đại ngày nay, nếu biết ai có năng lực đó, thì trên phố bày bán vé số, tờ nào giải nhất sẽ gặng hỏi bằng được để mua. Do vậy Biển Thước đã phát minh ra phương pháp bắt mạch để xem bệnh, dùng công năng đặc biệt của mình tìm hiểu thân thể người và các kinh lạc, xem bộ phận nào trong cơ thể có bệnh, rồi viết thành một cuốn sách tên là “Nạn Kinh”.

Cho đến ngày nay “Nạn Kinh” vẫn là một cuốn sách chỉ đạo, hướng dẫn của các bác sĩ y học cổ truyền Trung Hoa, căn cứ vào những ghi chép Biển Thước, để xem mạch bốc thuốc cho bệnh nhân. Không chỉ vậy, cuốn sách còn đề cập tới phương pháp “xem khí sắc”. Ông đúc kết mối liên hệ giữa các bệnh lý trong nội tạng và biểu hiện khí sắc khuôn mặt, từ đó chẩn bệnh thông qua khí sắc và bắt mạch.

6 loại bệnh không thể trị

Biển Thước đã từng nói, có 6 loại bệnh ông không thể điều trị. Khi các đại phu điều trị khỏi bệnh của bạn, đó là bởi vì  họ có thể nhìn thấy nguồn gốc phát sinh và diễn biến tương lai của bệnh. Nếu nói theo Pháp lý của Phật gia, đây gọi là công năng Túc mệnh thông, có thể nhìn thấy quá khứ, hiện tại, và tương lai của một người, sau khi thăm khám xong, có thể điều trị khỏi được thì sẽ điều trị.

9 Benh kho tri 3Ông nói tất cả những bệnh mà một đại phu khám thấy không điều trị được là bởi vì bản thân người đó không tốt, hoặc đại phu đó không tốt, nên mới tạo thành có một số loại bệnh không thể điều trị được, những bệnh đó là:

Bệnh thứ nhất, là bệnh kiêu ngạo bất chấp luân lý, tự cao tự đại, căn bản không thể nói lý với họ, với loại bệnh không biết lý lẽ phải trái thì không thể chữa được.

Bệnh thứ hai, là bệnh coi nhẹ mạng người hơn tài sản, không chú trọng tới sức khỏe tính mạng của bản thân, nhưng lại rất coi trọng tài sản, đồ của mình không dễ mà đưa cho ai khác, đây gọi là bệnh keo kiệt. Đối với người mắc chứng bệnh keo kiệt này cũng khó điều trị.

Bệnh thứ ba, loại bệnh này thường gặp ở người hiện đại ngày nay, là kiểu người bảo thủ, nếu bảo họ mặc thêm áo kẻo lạnh, họ sẽ không mặc thêm; bảo họ không nên ăn đồ nhiều dầu mỡ, họ vẫn ăn; bảo họ nên hạn chế ăn các loại thịt động vật, họ vẫn ăn các loại thịt mỡ; bảo họ không nên ăn đồ lạnh thì trong tủ lạnh của họ đều là đồ đông lạnh, họ không thể hoàn toàn làm theo lời bác sĩ. Nên với những kiểu người này bệnh của họ cũng không thể chữa được.9 Qua cap 2

Bệnh thứ tư, là bệnh đồng tính. Khí huyết nội tạng không ổn định, chính là triệu chứng âm dương trong cơ thể rối loạn, người có bệnh này khí huyết lục phủ ngũ tạng không ổn định. Với người bị mắc bệnh này cũng không thể chữa khỏi.

Bệnh thứ năm, là bệnh ở nhóm người khí huyết hư nhược đến mức cao độ, không thể uống thuốc, thì cũng không thể chữa khỏi được.

Bệnh thứ sáu, là chứng bệnh hiện nay xuất hiện rất nhiều, chính là tin vào thầy phù thủy không tin vào y học, tin vào những lời nói loạn bậy của những người canh giữ đền miếu, cho rằng chỉ cần vẽ một vài biểu tượng là có thể điều trị khỏi bệnh của họ; chính là kiểu người tin tưởng vào thầy phù thủy mà không tin vào những lý luận của y học, kiểu người này cũng không thể chữa được bệnh của họ.

Ông nói, một người bệnh rơi vào bất kỳ một trường hợp nào trong số này, thì bệnh của họ đều không thể trị được. (theo Đại Kỷ Nguyên)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: