NHỮNG MỐI TÌNH ĐÀO KÉP CẢI LƯƠNG

Logo Van nghe

Tr cai luong3 MI TÌNH ĐAU KH

CỦA ĐÀO KÉP CẢI LƯƠNG

– Trúc Giang MN

Nghệ thuật cải lương là bản sắc văn hóa độc đáo của người Miền Nam Việt Nam. Được sanh ra và trưởng thành ở các tỉnh Hậu Giang như Bạc Liêu, Mỹ Tho, Vĩnh Long, Cần Thơ, Sa Đéc… Ông tổ của nghệ thuật cải lương là Tống Hữu Định, người Vĩnh Long. Người sáng tác bản vọng cổ đầu tiên là ông Cao Văn Lầu ở Bạc Liêu. Bản vọng cổ đầu tiên tên là Dạ Cổ Hoài Lang, sau đổi thành vọng cổ.

Nghệ thuật sân khấu cải lương đã đi vào lòng người Nam Bộ tạo thế đứng lừng lẫy một thời. Những đào kép tài sắc là thần tượng của người hâm mộ cải lương. Nhiều mối tình đặc biệt của họ cũng được nhắc đến và lưu truyền trong dân gian. Những cuộc tình đặc biệt của nghệ sĩ sân khấu cải lương như Kim Cương – Bùi Giáng, Phùng Há – Năm Châu, Văn Chung – Thanh Hương còn ghi đậm dấu ấn trong lòng người Miền Nam.

Ngày nay, cải lương đang trên đà xuống dốc, bị đe dọa tự hủy diệt, như số phận của hát bội.

4 Kim cuong 11/- “CHUYỆN TÌNH”

KIM CƯƠNG – \BÙI GIÁNG

Trong hồi ký, Kim Cương thuật lại : Tôi gặp ông lần đầu lúc 19 tuổi, thời còn theo đoàn cải lương của má. Thật ra, ông chú ý đến tôi trong đám cưới của đôi bạn Hạnh – Thùy.

Một hôm Thùy bảo tôi : “Có một ông giáo sư Đại học Văn khoa, đi học ở Đức về, ái mộ chị lắm, muốn đến nhà thăm chị”. Tôi trả lời : “Ừ, thì mời ổng tới”.

Hóa ra là ông, lúc ấy đang dạy học, cũng áo quần tươm tất chứ chưa có bất cần đời như sau này. Ông thường lui tới nhà tôi chơi, vài lần mời tôi đi uống cà phê nhưng nhất định phải đi bằng xe đạp do ông chở, chứ không chịu đi bằng bất cứ phương tiện nào khác.

Một hôm ông trịnh trọng cầu hôn tôi. Tôi thấy thái độ của ông không được bình thường nên tôi đều né tránh. Vài lần sau, ông thở dài nói với tôi : “Thôi, chắc cô không ưng tôi vì tôi lớn tuổi hơn cô, vậy cô hứa với tôi là sẽ ưng thằng cháu của tôi nhé. Nó trẻ, lại đẹp trai, học giỏi”.

Tôi ngần ngừ : “Thưa ông, chuyện tình cảm đâu có nói trước được. Tôi không dám hứa hẹn gì đâu, để chừng nào gặp nhau hẵn hay…”. Tưởng ông nói chơi, ai dè làm thiệt. Ông đùng đùng dắt ngay đứa cháu tới, mà đứa cháu đó chỉ… mới 8 tuổi.

9 Kim Cuong 2Thời gian qua, thỉnh thoảng ông vẫn ghé thăm tôi. Mặc kệ tôi đang yêu ai, đang thất tình ra sao, thậm chí đang sống chồng vợ với người nào, ông đều không quan tâm.

Hồn nhiên, bản năng và vô điều kiện

Trong những lúc ông điên nhất, quên nhất, không còn lưu lại một chút gì trong trí nhớ, kể cả thơ ca và kiến thức, nhưng tên tôi vẫn được ông gìn giữ. Tên tôi được ông gọi đi gọi lại bất cứ khi vui khi buồn, bất cứ khi hạnh phúc, khi đau đớn. Chưa một lần nào ông sàm sỡ bằng hành động hay lời nói. Xưng hô vẫn cứ tôi và cô một cách nghiêm túc và chững chạc. Một tình cảm xuất phát thật hồn nhiên, bản năng và vô điều kiện.

Trong đầu ông hình như chỉ có một số điện thoại duy nhất, một địa chỉ duy nhất – đó là địa chỉ và số điện thoại nhà của tôi.

Nhiều lần ông đứng giữa đường dang tay làm “chim bay, cò bay” la hét làm kẹt xe, công an tới bắt, hỏi cách gì ông cũng chỉ nói một câu : “Mẫu thân của tôi là Kim Cương, ở số… đường Hoàng Diệu, điện thoại 844…”. Thế là công an réo gọi tôi để đi lãnh ông ra. Chuyện đó xảy ra không biết bao nhiêu lần. Có khi ông té bị thương, người ta chở vô bịnh viện, ông cũng chỉ “khai báo” y như vậy.

Bịnh viện lại réo tôi đến. Hoặc những lúc ông lên cơn, có khi vô quậy cả đám cưới nhà người ta, 9 Kim Cuong 3tôi bị người ta gọi điện đến đưa ông về.

Thậm chí có một buổi, ông xuất hiện trước nhà với tóc tai mặt mũi đầy máu vì mới bị ai đó đánh. Tôi hoảng hốt gọi xích lô cho ông đi cấp cứu nhưng ông không chịu.

Ông nói : “Chừng nào cô chịu đi chung trên một chiếc xích lô với tôi thì tôi mới đi”. Tôi đành phải gọi một chiếc xích lô đi cùng ông, vừa ngồi xe vừa nghe ông nói chuyện trên trời dưới đất không một cảm giác đau đớn nào. Những lúc tỉnh táo, ông nói với tôi : “Cô nhơn hậu lắm cô mới chịu nói chuyện với tôi tới giờ này!”.

Như là một định mệnh

Kim Cương đã chiếm một vị trí quan trọng trong cuộc đời cũng như trong sự nghiệp sáng tác thơ ca của Bùi Giáng. Câu chuyện tình đơn phương này có một cái gì đó như định mệnh, như một biểu tượng đẹp, buồn và xót xa. Đối với Bùi Giáng, Kim Cương là “thiên hạ đệ nhất mỹ nhân”. Và chàng thi sĩ trung niên đã yêu Kim Cương bằng một tình yêu lạ lùng, cảm động.

Bài thơ cuối cùng

Trước khi ra đi, ông còn để lại một lời nhắn nhủ viết trong cuốn sổ tay tại nhà Kim Cương: “Kiếp sau gặp lại nhau, anh Bùi Giáng chỉ mong được Kim Cương chấp thuận cho phép anh Bùi được làm đầy tớ trung thành tuyệt đối của Kim Cương”. Và 7 Bui giang 3một bài thơ :

Vô ngần tao ngộ đầu tiên

Em bao giờ biết anh phiền ưu sao

Yêu em từ những kiếp nào

Về sau cũng niệm nguyên màu ban sơ.

Nghệ sĩ Kim Cương đối với Bùi Giáng

Kim Cương cho biết : “Tôi rất trân trọng tài năng của ông nhưng phải nói thật, là ông điên rất nặng, nhưng là cái điên trí tuệ, nói ra nhiều câu cực kỳ sâu sắc. Suốt 40 năm ông đối với tôi như một người yêu đơn phương, nhưng ngược lại tôi đối với ông như một chỗ dựa tinh thần. Bất cứ lúc nào, nghe ông đau ốm hay bị công an bắt, bị người ta đánh là tôi có mặt”.

Tháng 8 năm 1998, Bùi Giáng bị té gây chấn thương sọ não. Ngày 7/10/1998 qua đời tại Sài Gòn.

Bên linh cửu của Bùi Giáng, Kim Cương thưa rằng : “Tôi xin cám ơn anh ba điều. Một là cám ơn anh đã để lại cho đời những tác phẩm văn chương độc đáo. Thứ hai là cám ơn anh đã dành cho tôi một tình yêu suốt 40 năm không suy suyển, không so đo tính toán. Thứ ba là cám ơn anh đã cho tôi một bài học rằng dù bất cứ ai, dẫu điên hay tỉnh, giàu hay nghèo đều phải có một tình yêu để nương tựa”.

Đối với ông, tôi nâng niu trong lòng một ân tình sâu thẳm, rất trang trọng dành riêng cho ông.

Vài nét về thi sĩ Bùi Giáng

1). Tiểu sử : Trong cuốn Văn Nhân & Tình Sử của nhà văn, nhà báo Vương T9 Kim Cuong 4rùng Dương, xuất bản năm 2015, “Tiểu sử tự ghi của Bùi Giáng” như sau :

Năm 1926. Được bà mẹ đẻ ra đời. Năm 1928. Bị té bể trán. Vết thẹo còn nguyên, kỷ niệm 2 năm trời chết đi sống lại. Năm 1933. Bắt đầu đi học ABC. Năm 1940. Về Quảng Nam chăn bò. Năm 1955. Ở Sài Gòn. Khỏi sự viết về Nguyễn Du. Vài nhận xét về Truyện Kiều, Bà Huyện Thanh Quan, Chinh Phụ Ngâm…

Từ năm 1962. Những tập thơ Mưa Nguồn và nhiều bài thơ khác. Năm 1965. Cháy nhà. Mất trụi bản thảo. Năm 1969. Dịch Martin Heidegger và nhiều tác phẩm ngoại quốc khác.

Năm 1969. Bắt đầu điên rực rỡ. Từ năm 1970. Lang thang du hành Lục Tỉnh. Gái Châu Đốc. Gái Chợ Lớn khiến bị bịnh lậu….

2). Sự nghiệp văn chương : Bùi Giáng đã để lại cho đời những tác phẩm văn học với số lượng đáng kể. 9 Kim Cuong 6Về sách giáo khoa, luận đề, sách dịch, sáng tác, biên khảo và tùy bút…

Vài nét về Kim Cương

Nguyễn Thị Kim Cương sinh ngày 25/1/1937 tại Sài Gòn. Thân phụ là Nguyễn Phước Cương, bầu gánh Đại Phước Cương. Mẹ là nghệ sĩ Bảy Nam. Kim Cương là cháu nội của vua Thành Thái. Nguyễn Phước hay Nguyễn Phúc là dòng dõi hoàng triều Nhà Nguyễn. Năm 1923, Vua Minh Mạng làm bài thơ 20 chữ gọi là Đế Hệ Thi, dùng để làm những chữ lót khi đặt tên cho con cháu các thế hệ sau.

“Miên, Hồng, Ưng, Bửu, Vĩnh

Bảo, Quý, Định, Long, Trung

Hiên, Năng, Kham, Kê, Thuật

Thê, Thoại, Quốc, Gia, Xương.

Gia Long : Nguyễn Phúc Ánh. Minh Mạng: Nguyễn Phúc Đảm. Thiệu Trị: Nguyễn Phúc Miên Tông, Tự Đức: Nguyễn Phúc Hồng Nhậm, Bảo Đại: Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy, Vua Hàm Nghi: Nguyễn Phúc Ưng Lịch, Vua 9 Kim Cuong 5Khải Định: Nguyễn Phước (Phúc) Bửu Đảo.

Kim Cương sinh ra trong gia đình nghệ thuật. Bà cố, bà nội, cha đều làm bầu gánh hát. Bên mẹ có 11 người cậu, dì. Bốn người nổi tiếng là Năm Phỉ, Bảy Nam, Chín Bia, Mười Truyền. Năm Phỉ là dì của Kim Cương.

Giữa thập niên 1950, ký giả Nguyễn Ang Ca đặt biệt hiệu “Kỳ Nữ” cho Kim Cương. Từ đó dân chúng biết đến danh hiệu Kỳ Nữ Kim Cương. Sau 1975, Kim Cương là Ủy viên của Ủy Ban Trung ương Mặt Trận Tổ Quốc khóa VII nhiệm kỳ 2009-2014.

Cựu Trung tướng VNCH, Nguyễn Hữu Có, cũng được bầu vào MTTQ/VN khóa nầy.

Kim Cương được phong tặng Nghệ Sĩ Ưu Tú (NSƯT), rồi Nghệ Sĩ Nhân Dân (NSND) (2011).

Đọc thêm về mối tình điên : Một chuyện tình kỳ lạ nhất

9 Phung Ha 12/- 60 NĂM MỐI TÌNH DANG DỞ,

PHÙNG HÁ – NĂM CHÂU

Tuổi thơ gian khổ

Phùng Há tên thật là Trương Phụng Hảo (30/4/1911 – 5/7/2009), người làng Điều Hoà, quận Châu Thành tỉnh Mỹ Tho. Bà là mẹ kế của Tướng Nguyễn Khánh. Thân phụ là người Hoa tên là Trương Nhân Trưởng gốc ở Hạc San, tỉnh Quảng Đông, Trung Hoa. Thân mẫu là Lê Thị Mai, người Mỹ Tho. Cô Bảy Phùng Há là biểu tượng đáng tôn kính của ngành sân khấu cải lương Việt Nam. Có công lớn trong việc phát triển nghệ thuật nầy. Nhưng cuộc đời lắm nổi gian truân.

Phùng Há kể lại, cha tôi là người Tàu, đến Việt Nam làm ăn rất phát đạt. Theo tập tục của dòng họ, cha tôi là con trai trưởng cho nên mỗi khi má tôi sanh hạ đứa con nào, khi vừa biết nói bập bẹ cũng phải đưa về Quảng Đông cho bà vợ lớn nuôi dưỡng, cho học chữ Hán để nối dõi tông đường. Các anh chị tôi đều được về Quảng Đông, nhiều người ở luôn bên đó.

Năm tôi 5 tuổi, cha tôi mất. Năm tôi 11 tuổi, nhà chồng buộc mẹ tôi dẫn con về Quảng Đông. Chịu không nổi tập quán và thái độ của người vợ lớn, mẹ tôi dẫn tôi trốn về VN. Người anh cả của tôi đoạt gia tài nên mẹ con tôi về ở nhà bà ngoại  làng Điều Hòa, Mỹ Tho. Bà ngoại tôi đau bịnh luôn, không có tiền thuốc men nên bị mù.9 Phung Ha 2 Tôi phải đi mò mương, lội rạch để bắt cá và tép về cho mẹ ăn.

Năm 13 tuổi, bà dì Tư trong xóm thương tình nên dẫn tôi đến lò gạch của ông Bang Hoạch xin cho tôi in ngói. Cứ 100 viên thì được 3 xu. Tôi làm không quen. Buồn ngủ quá nên tôi vừa làm vừa hát nghêu ngao cho đỡ buồn ngủ. Không ngờ mọi người xung quanh thích quá. Họ biểu tôi ca cho họ nghe và họ giúp tôi in gạch để có tiền nuôi mẹ.

Trở thành đào hát

Ông bầu Hai Cu, chủ tiệm vàng ở Mỹ Tho lập gánh Tái Đồng Ban. Nghe nói ở lò gạch có con nhỏ xẩm lai hát hay nên đích thân đến gặp. Ông bảo nếu tôi chịu về đoàn hát thì mỗi đêm diễn thì được tiền lương 8 cắc (80 xu). Cơm ngày hai bữa. Ông còn cho tôi mượn 50 đồng để lo thuốc thang cho bà ngoại và mẹ.

Ở gánh hát, anh Tư Chơi (Huỳnh Thủ Trung) dạy tôi ca. Anh Năm Mạnh (Thầy tuồng) và anh Năm Châu dạy tôi diễn hát. Sau nầy được biết vì chị Năm Phỉ không về được gánh Tái Đồng Ban cho nên ông bầu Hai Cu mới đi tìm người về hát chung với anh Năm Châu. Tôi may mắn được thế chị Năm Phỉ.

Năm 1925, Phùng Há là gái mới lớn, có giọng ca hay, học ca học hát đều mau giỏi, nhờ anh Năm Châu dốc sức chỉ dạy nên trong một thời gian ngắn cô Bảy Phùng Há nắm được vai đào chánh, đóng cặp với Năm Châu.

9 Phung Ha 3Phùng Há kết hôn với thầy đờn Tư Chơi

Mối tình giữa Phùng Há và Năm Châu vừa chớm nở thì bất ngờ Tư Chơi tuyên bố kết hôn với Phùng Há. Phùng Há 15 tuổi. Năm Châu thất tình rời gánh ra đi. Nghe đâu ra Hà Nội. Sống với Tư Chơi có một con gái tên Bửu Chánh, rồi chia tay năm 1929, vì cô chịu không nổi ông chồng suốt ngày ngồi trong quán rượu, ghen tương và đánh đập cô. Nhất là Tư Chơi bắt đầu theo đuổi đào Kim Thoa, vừa hát hay vừa đẹp nên bỏ mặc người vợ trẻ Phùng Há. Bửu Chánh được gởi về bà ngoại ở Mỹ Tho nuôi dưỡng.

Được tin Phùng Há thôi chồng và chuyển sang đoàn Trần Đắc, Năm Châu trở về hy vọng nối lại tình xưa nhưng một lần nữa thuyền tình lỡ chuyến vì Phùng Há đã trở thành vợ của Bạch Công Tử, và làm bầu gánh Huỳnh Kỳ năm 18 tuổi.

Cuộc hôn nhân bi thảm của Phùng Há và Bạch Công Tử

Phước George được gọi là Bạch Công Tử ở Mỹ Tho, đối với Hắc Công Tử hay Công Tử Bạc Liêu tên Trần Trinh Huy ở Bạc Liêu. Phước George là con của Đốc phủ sứ Lê Công Sủng, làm quận trưởng quận châu thành tỉnh Mỹ Tho.

Năm 1909, sang Pháp du học. Ông mê cải lương nên học về ngành sân khấu. Năm 1932 về nước, lập đoàn cải lương Huỳnh Kỳ do Phùng Há làm chủ và bầu gánh. Phước George cưới Phùng Há khi đó. Gánh Huỳnh Kỳ là một đại bang, bề thế rất lớn không thua gì gánh hát của Thầy Năm Tú đang nổi tiếng ở Nam Kỳ Lục tỉnh thời đó. Huỳnh Kỳ gồm những đào kép trứ danh như Phùng Há, Năm Phỉ, Ba Vân, Tám Du, Năm Thiện, Ba Thâu, Ba Đồng, Chín Móm, Hai Nữ, Tư Bé, Tư Hélène…

9 Phung Ha 5Phước George xây một rạp hát bên cạnh nhà để trình diễn thường xuyên, đó là rạp Huỳnh Kỳ nằm trên đường Đinh Bộ Lĩnh, con đường chạy xuống Chợ Gạo, Gò Công.

Cuộc tình hạnh phúc kéo dài 7 năm. Hai đứa con ra đời. Con trai tên Paul Lộc, con gái Suzane.

Do khủng hoảng kinh tế thế giới năm 1933 và do Bạch công tử vung tiền qua cửa sổ cho nên gánh Huỳnh Kỳ suy sụp, đào kép lần lượt bỏ gánh ra đi. Cô Bảy Phùng Há đau khổ ôm hai đứa con bịnh nặng đi tìm chồng và bắt gặp Phước George đang sống với một phụ nữ xinh đẹp nổi tiếng là Marie Anne Nhị (Tư Nhị) tại khách sạn Minh Tân, Mỹ Tho.

Bạch Công tử trách mắng vợ và xua đuổi ba mẹ con Phùng Há. Trở về, không tiền chạy thuốc men cho con nên hai đứa con lần lượt chết trên tay của cô.

Phùng Há vẫn còn yêu Năm Châu

Nhắc tới Năm Châu, cô Bảy Phùng Há tâm sự : “Ngày đó khi tôi lấy chồng, ảnh (Năm Châu) đột ngột rời gánh hát, nghe đâu đi Hà Nội một thời gian. Ng PhuongTôi quyết định lấy chồng để cả hai chúng tôi có thể dứt khoát. Người ta đưa cho tôi lá thư ảnh gởi trước khi đi, không một lời từ biệt. Lá thư đó là 12 câu vọng cổ, là tất cả tâm tình của ảnh… Trong từng câu, từng lời, tôi hiểu ảnh rất buồn bực, thất vọng và trách móc tôi rất nhiều. Nhưng cho dù có hiểu nhau, thương nhau đến mấy, cũng bằng không thôi, số phần đã như vậy rồi”

Soạn giả Nguyễn Phương thuật lại. “Ngày anh Năm Châu mất (5/1977), cô Bảy hay tin, chạy vào nhà thương, vấp té liên hồi. Chúng tôi phải chạy ra đỡ, dìu cô vô. Cô khóc, nắm vai anh Năm Châu lay gọi, như muốn vực anh Năm dậy : “Khoan, anh khoan đi. Anh có nghe không ? Anh phải nghe tôi nói rồi mới yên lòng ra đi được. Tôi biết anh vẫn còn uất hận trong lòng. Sở dĩ tôi làm vậy… là vì anh, vì thương anh, thương vợ con anh. Giờ này… tới giờ phút này, tôi vẫn yêu anh”.

Cô Bảy khóc ngất, nói như mê sảng với người tình xưa mà không nhớ là xung quanh cô lúc đó có rất nhiều người, có cả chị Kim Cúc là người vợ đương thời của anh Năm Châu. Chị Kim Cúc vỗ về cô Bảy: “Chị Bảy, trước khi xuôi tay nhắm mắt, ảnh còn gọi tên chị, hỏi chị ở đâu…”. Kim Cúc không thể nói nhiều hơn nữa, vì cô Bảy đã ôm chị mà khóc ngất. Phải có những tâm hồn đồng điệu mới giữ được mối tình hàng nửa thế kỷ chưa phai. Phải có tâm hồn cao cả mới biết yêu và nén hờn ghen, 9 Phung Ha 4chia sẻ nhau nỗi đau và an ủi cả người tình địch của mình như chị Kim Cúc đã làm.

Anh Năm Châu nằm đó, xuôi tay nhắm mắt nhưng chắc còn nghe được lời nói tự đáy lòng của cô Bảy Phùng Há, để yên lòng ra đi vĩnh viễn vì điều anh mong mỏi là Tình Yêu và Nghệ Thuật đã kết tinh thành một khối ngọc trong sáng vô ngần”

3/- VĂN CHUNG – THANH HƯƠNG : CƯỜI CHO QUÊN CAY ĐẮNG

Văn Chung ca vọng cổ mùi

Cuộc hôn nhân của Văn Chung với “Đệ nhất đào thương Thanh Hương” đổ vỡ khi cô đào diễn cặp với kép Hùng Minh. Văn Chung bèn chuyển sang diễn hài, mượn tiếng cười để vượt qua nổi đau.

9 Văn Chung 1Năm 1952, Văn Chung và Thanh Hương, con gái của Năm Châu (Nguyễn Thành Châu) và danh ca Tư Sạng. Cả hai cùng hát chung trên đài Pháp Á. Hai người yêu nhau rồi kết hôn. Sau đó, Văn Chung được cha vợ là Năm Châu thu nhận vào Đoàn Việt Kịch Năm Châu. Thoạt tiên Văn Chung chỉ giữ những vai phụ. Năm 1955, Văn Chung và Thanh Hương về Đoàn Thanh Minh. Thời gian nầy được báo chí khen ngợi. Năm 1957, Văn Chung và Thanh Hương về Đoàn Kim Chưởng. Cả hai đều được nổi tiếng.

Thanh Hương sanh đứa con đầu lòng. Năm 1960 vợ chồng ra lập gánh hát riêng Thanh Hương – Văn Chung. Năm 1961 khi hát ở Hậu Giang, kép Hùng Minh diễn cặp với Thanh Hương mùi mẫn quá dẫn đến việc hôn nhân đổ vỡ. Gánh hát tan đàn xẻ nghé.

Thanh Hương gởi con gái cho người chị thứ ba của Năm Châu nuôi dưỡng rồi bỏ đi, cùng với Hùng Minh lập ra gánh Thanh Hương.- Hùng Minh

Ngậm đắng nuốt cay, Văn Chung trở về Sài Gòn gia nhập Đoàn Dạ Lý Hương. Lúc đó hai kép trẻ là Hùng Cường, Dũng Thanh Lâm đang nổi danh chiếm lĩnh sân khấu. Để giúp cho Văn Chung tìm được một chỗ đứng bên hai kép chánh nầy trên cùng một sân khấu, soạn giả Nguyễn Phương đề nghị Văn Chung diễn một vai hài trong tuồng Tiền Rừng Bạc Biển do ông sáng tác.

Chuyển sang diễn hài. Cười cho quên cay đắng

Từ đó Văn Chung chuyển từ vọng cổ mùi sang diễn hài. Và rất ăn khách. Văn Chung tâm sự : “Khi chuyển sang diễn hài tôi muốn đời mình lạc quan hơn, xóa đi những niềm đau riêng. Có lúc tôi hận đời đen bạc. Cuộc hôn nhân hạnh phúc bổng chốc như đàn lạc điệu. Mỗi đêm tôi mang tiếng cười cho khán giả để giúp mình thêm trẻ trung, yêu đời”.

Văn Chung nổi tiếng với giọng cười dê, be he. Văn Chung tên thật là Quách Văn Chung, sinh năm 1933. Học cổ nhạc với nhạc sĩ Bảy Quới. Có giọng ca vọng cổ rất mùi.

9 Văn Chung 2

Thanh Hương mất năm 1974 sau một cơn sanh khó. Con gái của Văn Chung – Thanh Hương được nghệ sĩ Kim Chưởng trực tiếp truyền nghề và đặt nghệ danh là Hương Chung Thủy. Hương là tên mẹ, Thanh Hương. Chung là tên cha, và Thủy là tên trong khai sanh.

Cuối năm 1960, Văn Chung kết hôn với con gái của nhà xuất nhập cảng vỏ xe hơi, hãng Võ Bình Tây. Cuộc tình nồng ấm suốt 40 năm qua cho tới sau nầy. (theo Trúc Giang – Minnesota ngày 21-6-2016)

Yên Huỳnh tổng hợp chuyển tiếp

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: