CHUYỆN SÀI GÒN THẾ KỶ 19

Logo bay gio ke

9 Giang ho 2GÃ GIANG HỒ CÓ

‘KIM BÀI MIỄN TỬ’

ĐƯỢC THỜ Ở SÀI GÒN

Công tử Hai Miêng, giang hồ ngang tàng nhất Sài Gòn hơn 120 năm trước, được dân chúng xem như anh hùng và là hình tượng trượng nghĩa đất Nam Kỳ xưa.

Rộng hơn 1.500 m2, đình Nhơn Hòa trên đường Cô Giang, phường Cầu Ông Lãnh, quận 1 (đối diện chợ Cầu Muối) là nơi thờ Thành Hoàng, các vị Tiền Hiền, Hậu Vãng…

\Ngoài việc thờ tự những người có công khai lập vùng đất, đình cũng hương khói cho bài vị sơn son thiếp vàng, chạm trổ rồng phượng của Huỳnh Công Miêng (1862-1899). Tương truyền, ông là gã giang hồ ngang tàng, giỏi võ và là hình tượng anh hùng xứ Nam Bộ cách nay hơn 120 năm. Người dân thường gọi ông với cái tên thân mật: cậu Hai Miêng.

Huỳnh Công Miêng là con lãnh binh Huỳnh Công Tấn – tay sai đắc lực của thực dân Pháp trong việc đàn áp các nghĩa quân. Dân xứ Nam Kỳ thời đó coi lãnh binh Tấn như cái gai trong mắt. Gia đình có thế lực, nhiều tiền của, năm Hai Miêng 17 tuổi được cha đưa sang Pháp học trường La Seyne gần Toulouse. Học 4 năm, không đỗ bằng cấp gì nhưng nói trôi chảy tiếng Pháp nên cậu Hai về nước được làm thông ngôn, sau làm tri huyện – quan đứng đầu trong huyện.

Tiếp đó, Pháp cho cậu phục vụ dưới trướng Tổng đốc Trần Bá Lộc với mong muốn Huỳnh Công Miêng giống cha đàn áp những người Việt chống đối sự cai trị. Khi Bá Lộc đem quân ra Khánh Hòa dẹp khởi nghĩa Mai Xuân Thưởng, Hai Miêng cũng đi theo.

Vốn hay bênh vực kẻ yếu, ghét cường hào ác bá nên khi chứng kiến tổng đốc bắt mẹ Mai Xuân Thưởng để người này ra hàng, Hai trả chức cho Pháp, chọn cuộc sống giang hồ ngồi ghe chu du khắp Nam Kỳ lục tỉnh. Thừa hưởng gia tài đồ sộ của cha để lại, Hai Miêng phá phách, 9 Giang ho 1coi tiền như rác. Hằng ngày cậu đi đá gà, uống rượu, hối me (một hình thức cờ bạc)…

Công tử Hai Miêng được giang hồ gọi là “miễn tử lưu linh” bởi cậu được miễn sưu thuế, đi đâu mặc tình không ai được phép “hỏi giấy”… Vang danh khắp nơi, từ dân thường đến quan lại đều tỏ ra e ngại công tử chịu chơi này.

Cậu Hai như bao gã giang hồ khác thích võ nghệ, luyện côn quyền, múa kiếm và rất thông thạo các món ấy. Lúc đi đánh bạc ở Đồng Tháp ngang qua vườn xoài, cậu hỏi mua. Chủ nhà nói chờ để lấy cây sào tới hái, công tử chỉ cười rồi nhún mình phóng lên cây vặt liền mấy quả chín.

Cuối thế kỷ 19, người Nam Kỳ trong các hội hè thường kể nhiều giai thoại về cậu Hai Miêng, trong đó có chuyện Pháp cho đào ao giữa trường đua ngựa bắt dân phu tỉnh Gò Công phục dịch. Một lần Hai Miêng đi ngang qua đã nổi nóng khi thấy dân phu làm việc nặng nhọc còn bị đánh. Cậu xông vào nắm đầu tên cai mã tà đấm đá, những tên còn lại đều bị bạt tai. Nhóm này bị công tử giang hồ bắt đội đất thay dân chạy lên chạy xuống. Sẵn roi, cậu thẳng tay quất, dân phu Gò Công được dịp hả hê.

9 Giang ho 3Từ đó họ bớt bị hà hiếp. Ở Bạc Liêu thời ấy dân chúng rất ngán hai địa chủ tên Thời và Vận. Trong đó, ông Thời có con gái tên Hai Sáng rất hung ác, xem dân như cỏ rác nên không ai dám nói đụng đến tên cô. Các từ “buổi sáng”, “hồi sáng mai” đều phải đổi sang “buổi sớm”, “sớm mơi”… Hay chuyện, một lần đi thuyền ngang nhà địa chủ Thời, cậu Hai Miêng tức khí bắt cô Hai Sáng trói trên cột buồm.

Nghe danh cậu Hai, ông Thời phải lần mò xuống thuyền xin tha và chuộc con gái bằng cả bao tiền. Từ đó, cả ông này và chủ Vận đều bớt hống hách với dân làng. Ngay cả với người Pháp, Hai Miêng cũng ương ngạnh, không khuất phục. Những lúc túng tiền cậu ghé dinh tham biện, chủ tỉnh “mượn đỡ” để xài. Nể tình cha cậu, các quan Tây cũng giúp đỡ ít nhiều, có người thành quen nên khi thấy mặt cậu Hai, bảo : “Tiền dưới kho cậu xuống mà lấy”.

Khác với cha, cậu Hai Miêng ăn ở rất rộng rãi với mọi người, hay chia sẻ tiền của với anh em, bè bạn và những kẻ dưới tay. Vì điều này, du côn khắp xứ đều kiêng nể, kính phục, cậu tới đâu cũng được dân ủng hộ, thương mến.

Tại Gò Công và vùng Sài Gòn Chợ Lớn, nhiều thơ và bài vè về Hai Miêng xuất hiện và lưu truyền khá phổ biến. Dân gian coi gã giang hồ ngang dọc đầy khí khái 9 Giang ho 5là hình tượng tự do tự tại mà người dân hướng đến giữa thời buổi nhiễu nhương.

“Nam Kỳ có cậu Hai Miêng,

con quan lớn Tấn ở miền Gò Công. 

Cậu Hai là bực anh hùng,

ăn chơi đúng bực anh hùng liệt oanh ! 

Nam Kỳ lục tỉnh nổi danh…”

Cuộc đời lừng lẫy giang hồ, lấy bài bạc làm tiêu khiển nhưng cuộc đời Hai Miêng cũng kết thúc vì nó. Năm 1899, cậu Hai đánh bài với giang hồ Kèo Vàng (người Hoa) ở bến Bình Đông. Bị thua khá nhiều, cậu Hai cay cú đập bàn đòi lại tiền. Một cuộc “tả lùi thùi” (đả lôi đài) không công bằng xảy ra sau đó khiến công tử giỏi võ và có “kim bài miễn tử” bị chục người đánh tơi tả. Bị ném ra đường, Hai Miêng “dính” thêm trận phục kích của 40 tay đâm thuê chém mướn do “cô Hai Sáng” từ Bạc Liêu thuê để trả thù.9 Giang ho 4 Chúng sẵn dao xắt chuối tập kích khiến cậu Hai Miêng phải bỏ mạng – chấm dứt cuộc đời khảng khái, đầy giai thoại ở tuổi 38.

Dân khu vực quanh vùng Cầu Muối vì tôn kính gã giang hồ trượng nghĩa đã đưa bài vị cậu vào thờ cúng ngay trong ngôi đình của làng. Hình tượng Hai Miêng cũng là khởi đầu cho tính cách người Sài Gòn hào hiệp, sẵn lòng giúp đỡ người khốn khó. (theo VnExpress)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

6 Bay Vien 2BẢY VIỄN

TỪ TƯỚNG CƯỚP TRỞ THÀNH

NGƯỜI ĐỨNG ĐẦU SÀI GÒN XƯA

Chuyên cướp ngân hàng, tiệm vàng, Bảy Viễn 3 lần vượt ngục Côn Đảo trước khi quy hàng Pháp để leo đến chức Tổng trấn Sài Gòn và là em kết nghĩa của vua Bảo Đại.

Trong giới giang hồ Sài Gòn xưa, cậu Hai Miêng, Đại Cathay, Huỳnh Tỳ… được nhiều người nhắc đến nhưng người thành công nhất về địa vị, sự giàu có là Bảy Viễn. Dần thoát khỏi việc cướp bóc, đâm chém, Bảy Viễn vươn lên thành người nắm quyền lực một vùng rộng lớn, dùng tiền kiếm được để “buôn vua”, thăng tiến trong sự nghiệp.

Bảy Viễn tên thật là Lê Văn Viễn, sinh năm 1904 tại khu vực quận 8 ngày nay trong một gia đình gốc Hoa. Ngày Bảy Viễn ra đời, Nam bộ hứng trận bão lớn nhất lịch sử làm chết cả nghìn người. Học hết lớp trường làng, Viễn đi bụi, học võ, xăm kín người. 17 tuổi, nam thanh niên cướp xe đạp (tài sản giá trị rất lớn bấy giờ) và bị án 20 ngày tù.

Trong cuốn Người Bình Xuyên của Nguyên Hùng, khi trưởng thành, Bảy Viễn là tướng cướp nổi đình nổi đám khiến giới doanh nhân, 6 Bay Vien 3tiệm vàng không chỉ ở Sài Gòn mà cả Nam Bộ khiếp sợ. Năm 1936, Viễn cướp tiệm vàng ở Giồng Ông Tố, lấy được 6.000 đồng (tương đương với 600 tấn gạo). Sau đó bị bắt và kết án 12 năm ở Côn Đảo.

Ngục Côn Đảo nổi tiếng canh gác nghiêm ngặt, lại cách đất liền 120 hải lý nên việc vượt ngục khó như lên trời. Nhờ võ nghệ cao, Bảy Viễn thường xuyên ra mặt bảo vệ tù nhân khi bị đánh đập nên rất được nể phục.

Thời đó, chúa ngục có cô vợ rất xinh, Bảy Viễn nhờ chất giang hồ ngang tàng đã tán đổ cô này, nhờ chuẩn bị phương tiện đóng bè vượt ngục. Được bạn tù giúp đỡ, đợi mùa gió về đất liền, ông và 5 bạn tù nữa thả bè hướng vào bờ. Ròng rã nhiều ngày, hết lương thực họ uống cả nước tiểu, ăn cá sống để cầm hơi.

Về đất liền, Bảy Viễn cướp nhiều tiệm vàng, đột nhập các xưởng gỗ trộm tiền lại phải quay ra Côn Đảo thêm 2 lần nữa nhưng đều trốn. Lịch sử trăm năm của trại tù có hơn 10 cuộc vượt ngục thành công thì Bảy Viễn đã chiếm 3 cuộc.

Năm 1945, tướng cướp lừng danh đất Sài Gòn đưa chiến hữu, đàn em gia nhập lực lượng Bình Xuyên của Dương Văn Dương (Ba Dương) – theo cách mạng chống Pháp. Giai đoạn này cũng ghi nhận việc Bảy Viễn lấy vợ theo kiểu rất ngang tàng. Biết ông Hội đồng Đống có cô con gái xinh đẹp, 9 Bay vien 5Viễn bỏ khẩu súng Colt rất quý thời đó vào hộp tặng rồi bắn tin muốn làm rể. Biết tiếng tăm tướng cướp lừng lẫy, ông Đống bấm bụng gả con.

Sau khi Ba Dương hy sinh trong trận chống càn ở Bến Tre, Bảy Viễn muốn giành chức Tư lệnh Bình Xuyên nhưng một số chỉ huy không tán thành. Xung đột xảy ra, Viễn mang khoảng 200 đàn em đầu hàng Pháp và được gắn lon đại tá. Được giao nhiệm vụ mở tuyến đường Sài Gòn đi Vũng Tàu, Viễn hoàn thành sau 3 năm và được nâng lon lên thiếu tướng.

Muốn leo cao trên con đường chính trị, Bảy Viễn thiết lập quan hệ thân thiết với Bảo Đại, nạp cho ông vua này hàng triệu đồng tiền Đông Dương và nửa triệu đôla. Năm 1952, Bảo Đại bổ nhiệm Bảy Viễn vào chức Đô trưởng Cảnh sát Sài Gòn. Sau đó, ông ta được giao chức Tổng trấn Sài Gòn – Gia Định nắm mọi quyền hành ở Sài Gòn xưa.

9 Bay Vien 1Thời đó, Sài Gòn có hai sòng bài lớn nhất Đông Nam Á là Đại Thế Giới và Kim Chung. Hai điểm này do một hoa kiều có thế lực ở Ma Cao điều hành, thu nhập rất lớn. Bảy Viễn cho người ném lựu đạn vào casino làm chết, bị thương hàng chục người, cho đàn em bắt cóc, khủng bố những khách sộp rồi giành quyền làm chủ.

Bảy Viễn còn bảo kê cho mại dâm hoạt động công khai ở khu vực Bình Khang (quận 10) hay Ngã Năm Chuồng Chó (Gò Vấp)… Tiền kiếm được, mỗi tháng ông ta trợ cấp cho Bảo Đại 250.000 đồng tiền Đông Dương. Ông vua vốn tiêu xài hoang phí, ít ngân sách đã nhận Bảy Viễn làm em nuôi.

Sau năm 1954 Pháp thất thế, người Mỹ dần bước vào thay thế và nắm chính trường miền Nam. Họ đưa Ngô Đình Diệm lên làm Thủ tướng trong chính phủ của Bảo Đại. Dưới sự giúp đỡ của người Mỹ, Diệm nhanh chóng thâu tóm quyền lực, lôi kéo nhiều tướng lĩnh quân đội về phía mình.

Trong cuốn sách tiếng Pháp BayVien, Le Maître de Cholon (Bảy Viễn, ông trùm Chợ Lớn), phóng viên Pierre Darcourt viết rằng, sự phát triển của Ngô Đình Diệm là mối đe dọa với Bảy Viễn. Sau khi thảo luận với anh nuôi Bảo Đại, Viễn sẽ sử dụng quân đội lật đổ Diệm rồi lên làm Thủ tướng. 9 Bay vien 6Tuy nhiên, kế hoạch này thất bại, Viễn sau đó thua xiểng liểng phải chạy vào Rừng Sát.

Cuối năm 1955, lực lượng của Bảy Viễn gần như tan nát, trốn khắp nơi. Sau khi ra Vũng Tàu, ông lên máy bay sang Pháp sống lưu vong. 3 người vợ của Bảy Viễn cũng được đưa sang đoàn tụ với chồng.

Những câu chuyện về Bảy Viễn trở thành giai thoại, nhất là về kho vàng ông chôn cất trước khi trốn chạy. Sau này, nhiều người đã săn tìm kho vàng nhưng kết cục vẫn chưa rõ. Năm 1971, ông qua đời tại Pháp.

Cuộc đời Bảy Viễn và đội quân Bình Xuyên từng được đạo diễn Phương Nam tái hiện bằng bộ phim 60 tập Dưới cờ đại nghĩa. Trong đó, diễn viên thủ vai Bảy Viễn đã để lại cho người xem về một nhân vật có diễn biến tâm lý phức tạp; thiện, ác khó xác định.  (theo Sơn Hòa)

Xem thêm : Bảy Viễn : cuộc đời ngang dọc trên trang Một thời Sài gòn ngày 15/3/2012

9 Huyen si 1MỘT PHÚ HỘ SÀI GÒN

GIÀU HƠN VUA BẢO ĐẠI

Ngoài việc dành 1/7 tài sản xây nhà thờ, gia đình Huyện Sỹ còn cho cháu ngoại Nam Phương hoàng hậu của hồi môn 20.000 lượng vàng khi về làm vợ vua Bảo Đại.

Tại góc đường Tôn Thất Tùng – Nguyễn Trãi, quận 1, nhà thờ giáo xứ họ Chợ Đũi mỗi ngày đón hàng trăm người đi lễ, tham quan. Trải qua hơn trăm năm, người Sài Gòn vẫn quen gọi đây là Nhà thờ Huyện Sỹ như để tưởng nhớ người đã bỏ 1/7 gia sản ra xây dựng. Huyện Sỹ cũng là người đứng đầu nhóm tứ đại phú hộ Sài Gòn xưa với câu ví von “nhất Sỹ, nhì Phương, tam Xường, tứ Hỏa”.

Huyện Sỹ tên thật là Lê Nhứt Sỹ (1841 – 1900), sinh tại Cầu Kho (Sài Gòn) nhưng gốc ở Tân An (Long An) trong một gia đình theo đạo Công giáo. Ngay lúc nhỏ, ông được các tu sĩ người Pháp đưa đi du học ở Malaysia. Tại đây, Huyện Sỹ được học ngôn ngữ Latinh Pháp, Hán và chữ quốc ngữ. Thời gian này, ông đổi tên thành Lê Phát Đạt, do tên cũ trùng với tên người thầy dạy.

Sau chuyến du học về nước, ông được chính phủ Pháp bổ nhiệm làm thông ngôn. Từ năm 1880, ông làm Ủy viên Hội đồng Quản hạt Nam Kỳ, sau phong hàm lên cấp Huyện. 9 Huyen si 2Do người dân vẫn gọi ông bằng tên cúng cơm, vì vậy mà cái tên Huyện Sỹ xuất hiện từ lúc này.

Về con đường giàu có của Lê Phát Đạt, học giả Vương Hồng Sển trong cuốn Sài Gòn năm xưa cho rằng, sự “lên hương” của ông chẳng qua vì ăn may. “Tương truyền buổi đầu, Tây mới qua, dân cư tản mác. Pháp phát mại ruộng đất vô thừa nhận, giá bán rẻ mạt mà vẫn không có người đấu giá”.

“Hồi Tây qua, nghe nói lại, những chủ cũ đều đồng hè bỏ đất, không nhìn nhận, vì nhận sợ triều đình Huế khép tội theo Pháp. Vả lại, cũng ước ao một ngày kia Tây bại trận rút lui. Chừng đó ai về chỗ nấy, hấp tấp làm chi cho mang tội”, học giả Vương Hồng Sến giải thích thêm.

Người Pháp khi đó nài ép, Huyện Sỹ bất đắc dĩ phải chạy vạy mượn tiền khắp nơi mua đất. Nào ngờ vận đỏ, ruộng trúng mùa liên tiếp mấy năm liền, ông trở nên giàu có, tiền vàng không biết để đâu cho hết.

Ở miền Tây, ruộng đất của Lê Phát Đạt được ví như “cò bay mỏi cánh không hết”. Những vùng đất trù phú ở Gò Công, Long An, Tiền Giang kéo dài đến tận biên giới Campuchia đều do ông nắm giữ. Tại miệt sông nước, phú hộ Đạt cũng xây ngôi biệt thự ven sông như cung điện án ngữ một vùng. Tương truyền, biệt thự này nằm trên thế đất hình rồng nên càng khiến cơ nghiệp của ông phát triển.

9 Huyen si 3

Tại Sài Gòn, gia đình Huyện Sỹ cũng sở hữu nhiều mảnh đất đắc địa ở trung tâm. Mảnh đất rộng hơn hecta dành xây nhà thờ Chợ Đũi là một trong số đó. Ngoài ra, ông có rất nhiều đất ở khu Gò Vấp, nơi con trai ông sau này dùng một phần xây nhà thờ Hạnh Thông Tây.

Bỗng chốc phất thành đại gia hạng nhất đất Việt đương thời nhưng vợ chồng Huyện Sỹ không tiêu xài hoang phí, gia đình có cuộc sống đơn giản. Toàn bộ gia sản được tập trung phát triển nông nghiệp và truyền bá đạo Công giáo. Để nhắc nhở gia đình, trong nhà ông treo câu đối : “Cần dữ kiệm, trị gia thượng sách. Nhẫn nhi hòa, xử thế lương đồ”.

Con cháu Huyện Sỹ đều được giáo dục và học hành thành tài, không ăn chơi, tiêu xài như con cái những gia đình đại gia khác. Họ chuyên tâm học hành rồi phụ vợ chồng ông cai quản đất đai. Sau này, con Huyện Sỹ đều là đại điền chủ có rất nhiều đất đai ở Tân An, Đức Hòa, Đức Huệ và vùng Đồng Tháp Mười (nay thuộc vùng Long An).

9 Huyen si 4Trong đó, trưởng nam của Huyện Sỹ là Lê Phát An được vua Bảo Đại phong tước An Định Vương. Thời Nhà Nguyễn, Vương là tước vị cao nhất trong 20 bậc tôn tước phong cho hoàng tộc và chỉ dành cho người có công trạng, bình thường kể cả các Hoàng tử đều chỉ phong Công tước. Ông Lê Phát An là người duy nhất trong lịch sử Nam Kỳ không “hoàng thân quốc thích” nhưng được lên ngôi vị cao quý nhất của triều đình.

Trong số con cháu của Huyện Sỹ, người nổi tiếng nhất phải kể đến Nguyễn Hữu Thị Lan (1914 – 1963), tức Nam Phương hoàng hậu – vợ vua Bảo Đại, vị vua cuối cùng của triều đại phong kiến Việt Nam. Tương truyền, khi gả cho vua, gia đình Huyện Sỹ đã hồi môn cho cháu ngoại hơn 20.000 lượng vàng. Vua Bảo Đại ngày trước cũng nổi tiếng tiêu xài hoang phí, ngân sách cạn đáy nên nhiều phen phải nhờ vả gia đình bên vợ.

Năm 1900, trong quá trình chuẩn bị xây dựng nhà thờ giáo họ Chợ Đũi, phú hộ Huyện Sỹ qua đời. Trong di chúc, ông dành 1/7 tài sản của mình để xây nhà thờ. Sau đó, các con tiếp tục di nguyện, nhà thờ được khởi công năm 1902 theo thiết kế của linh mục Bouttier. Ba năm sau, nhà thờ được khánh thành.

Nhà thờ dài 40 m, chia làm 4 gian, rộng 18 m. Thiết kế ban đầu của nhà thờ Huyện Sỹ gồm 5 gian, tức khoảng 50 m. Nhưng thời gian đó, nhà thờ tạm Chí Hòa bị hư hại trầm trọng nên giới chức đã xin cắt bớt một gian, 9 Huyen si 6dùng số tiền đó để xây nhà thờ Chí Hòa. Vì vậy, trước đây ở gần nhà thờ Chí Hòa (phường 7, quận Tân Bình) có một con đường mang tên Lê Phát Đạt. Khoảng năm 2000, con đường này đổi tên thành đường Đăng Lộ.

Nhà thờ Huyện Sỹ dùng đá granite Biên Hòa để ốp mặt tiền và các cột chính điện, theo phong cách kiến trúc Gothic (kiến trúc kiểu vòm nhọn). Năm 1920, vợ ông là bà Huỳnh Thị Tài mất, con cháu đưa hai ông bà chôn ở gian chái sau cung thánh của nhà thờ Huyện sỹ.

Trên mộ là tượng toàn thân ông Huyện Sỹ kê đầu trên hai chiếc gối bằng đá cẩm thạch được điêu khắc tinh xảo, đầu chít khăn đóng quay về cung thánh nhà thờ, mình mặc áo dài gấm hoa văn tinh xảo, hai tay đan vào nhau trước ngực, chân đi giày.

Ngoài nhà thờ Chợ Đũi, Chí Hòa, sau này kỹ sư Lê Phát Thanh (con Huyện Sỹ) cũng xây nhà thờ Hạnh Thông Tây nổi tiếng ở quận Gò Vấp hiện nay. (theo Sơn Hòa)

9 Tong doc 1QUAN TỔNG ĐỐC TRỞ THÀNH

ĐỆ NHỊ PHÚ HỘ SÀI GÒN XƯA

Độ giàu có của vợ chồng Tổng đốc Phương được lưu lại rằng, họ có riêng một đội đếm tiền được sắp xếp bí mật trong căn phòng phía sau nhà.

Trong tứ đại phú hộ Sài Gòn xưa, Đỗ Hữu Phương (1841-1914) chỉ xếp hàng thứ 2 sau Huyện Sỹ – Lê Phát Đạt. Nhưng về danh tiếng, lời đồn đoán và cả vai vế trong xã hội, khắp Nam Kỳ lục tỉnh không ai sánh bằng ông.

Từ một quan nhỏ dần tiến thân lên Tổng đốc, người này sử dụng khéo léo “quyền lực” trong tay đứng ra móc nối giới thương gia Hoa kiều và quan chức Pháp làm ăn, thu cả “núi tiền” cho bản thân.

Đỗ Hữu Phương xuất thân trong gia đình có cha là bá hộ Khiêm. Trước khi Pháp chiếm đóng Nam kỳ, gia đình ông cai quản một vùng rộng lớn phía Bắc Sài Gòn mà nhiều nhất là khu vực Bà Điểm ngày nay. Đất trồng lúa, vườn cây ăn trái ngút ngàn. Tại khu vực quận 5 bây giờ, gia đình sở hữu hàng trăm căn nhà mặt tiền để cho thuê kinh doanh, sinh sống.

Đương thời, Phương là một thanh niên có tầm hiểu biết, giỏi ngoại ngữ có kiến thức văn hóa. Tuy con bá hộ “giàu nứt đổ vách” nhưng không như các công tử khác chỉ biết tiêu tiền, đe nẹt người khác, Phương nhờ người giới thiệu và được giới cầm quyền Pháp giao cho chức quan nhỏ rồi tiến chức từ đó.9 Tong doc 2Theo từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, Đỗ Hữu Phương được Pháp thưởng Tam đẳng bội tinh, triều đình Huế phong hàm Tổng đốc.

Ông nhiều lần sang Pháp rồi nằm trong nhóm đại diện người Đông Dương tham gia hội chợ. Tiếp xúc nhiều với người Pháp, Tổng đốc Phương có cách sống, suy nghĩ và mau chóng coi văn hóa Pháp như nét riêng của mình. Ông lúc nào cũng mặt đồ tây, gọn gàng, lịch thiệp, tiếp khách, trò chuyện tại các tụ điểm sang trọng. Điều này khác so với những phú hộ vốn khăn đóng, áo dài thời bấy giờ. Người Pháp và bạn bè nhận xét ông “Tây hơn cả người Tây”.

Khôn khéo tột độ, kiếm tiền giỏi nhưng người giúp Tổng đốc Phương vươn lên vị thế giàu nhất nhì Sài Gòn là nhờ vào vợ. Bà này họ Trần, con một quan lại lớn trong triều đình nhà Nguyễn. Bố vợ trước làm quan xứ Quảng Nam nhưng sau này đã chuyển vào Nam Kỳ làm Tri phủ. Sau khi cưới, vợ chồng ông Phương sinh sống trong một căn nhà lớn nhất nhì Sài Gòn khi đó.

Vợ Tổng đốc sống trong nhung lụa, giàu sang nhưng không vì thế mà đàn đúm như những quý bà trong giới thượng lưu. Chồng lo ngoại giao, thu vén bên ngoài, mọi chuyện còn lại người vợ cáng đáng hết. Bà nổi tiếng đảm đang, tháo vát ở đất Sài Gòn 9 Tong doc 3xưa.

Gia đình có hơn 2.200 hecta đất, đến mùa vụ, người đàn bà họ Trần lo tất tần tật mọi việc từ tính toán thu chi rồi sắp xếp nhân công. Với hệ thống mua bán kinh doanh lên đến hàng nghìn cơ sở, bà lo việc kết nối các tiểu thương, xây dựng hệ thống buôn bán riêng biệt. Thời đó, gia đình ông Phương còn chi phối được một phần giao dịch thông thương tại các bến cảng Sài Gòn.

Ruộng đất nhiều làm không xuể, bà vợ cho các tá điền thuê lại. Đến mùa thu hoạch, phu nhân Tổng đốc phải đốc thúc việc nộp tô, thuế. Việc này cũng mang lại nguồn thu cực lớn. Thóc lúa trong nhà ông Phương chất thành núi để la liệt ở các nơi, quản lý không xuể. Giải quyết chuyện này, người vợ đã khéo bán sang tay với giá hời để vừa thu tiền, vừa tránh được thất thoát không đáng có.

Học giả Vương Hồng Sển khi viết về Đỗ Hữu Phương trong cuốn Sài Gòn năm xưa đa phần chê bai việc theo Pháp đánh nghĩa quân nhưng đối với người đàn bà họ Trần này ông hạ bút ra chiều cung kính. “Sự nghiệp của ông Phương trở nên đồ sộ nhất nhì trong xứ, phần lớn do tay phu nhân Trần thị gây dựng. Bà giỏi tài đảm đang nội trợ, một tay quán xuyến trong ngoài làm của đẻ thêm ra mãi, lại được trường thọ, mất sau chồng…”.9 Tong doc 4

Về độ giàu có của vợ chồng phú hộ Phương, điển tích kể rằng họ có riêng một đội đếm tiền được sắp xếp bí mật trong căn phòng phía sau nhà. Khi đến mùa vụ hoặc dịp thu tiền của thương lái, tiểu thương, những người này ăn ngủ tại chỗ để đếm tiền. Số tiền được họ bó buộc chặt rồi cất vào căn phòng kín kiên cố và khóa nhiều lớp. Chùm chìa khóa của căn phòng chỉ có vợ ông Phương được giữ và nó gần như là vật bất ly thân đối với bà, thậm chí lúc đi ngủ cũng nắm chặt trong tay…

Chính bà vợ của Tổng đốc Phương đã bỏ tiền ra xây trường Collège de Jeunes files Indigènes, tức trường Áo tím (Gia Long) mà bây giờ mang tên trường Nguyễn Thị Minh Khai (đường Điện Biên Phủ, quận 3).

Năm 1914, Đỗ Hữu Phương mất, học giả Vương Hồng Sển viết rằng đám tang của vị Tổng đốc được tổ chức rất trọng thể. “Thi hài của Đỗ Hữu Phương được tại thế nửa tháng mới chôn. Hàng ngày có hàng trăm khách viếng. Tang gia cho mổ trâu, bò, heo liên miên cúng và đãi khách”, sách Sài Gòn năm xưa nêu. Trước năm 1975, Sài Gòn có đường Tổng đốc Phương ở quận 5, sau này đổi thành đường Châu Văn Liêm.

Vợ chồng ông Phương có 6 người con nhưng nổi tiếng nhất là 2 con trai phục vụ trong binh đoàn lính Lê dương của Pháp. Trong đó, Đỗ Hữu Vị nổi tiếng hơn cả khi có nhiều tài liệu cho rằng ông này là phi công đầu tiên của Việt Nam và Đông Nam Á. Đỗ Hữu Vị khi phục vụ quân đội Pháp mang quân hàm đại úy, tham gia thế chiến thứ nhất và tử trận tại Bắc Phi năm 1916 (hai năm sau ngày Phương Tổng đốc mất).

9 Tong doc 5Sau này, một con đường gần nơi Đỗ Hữu Vị tử trận mang tên ông, người này cũng được chính quyền thuộc địa Pháp cho in trong con tem lưu hành ở Đông Dương. Đỗ Hữu Vị từng có câu nói nổi tiếng “Tôi mang hai quốc tịch Pháp và Việt nên mọi nỗ lực của tôi đều gấp đôi người khác”.

Anh trai Vị là Đỗ Hữu Chấn cũng phục vụ trong quân đội Pháp, lên đến hàm đại tá. Tuy nhiên, người anh này thường giấu mình, ít thông tin hơn ông em. Ông Chấn cũng là người mang hài cốt Đỗ Hữu Vị từ Bắc Phi về Việt Nam chôn cất. (theo Sơn Hòa)

Lan Hương chuyển tiếp

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: