CHÙA NGHỆ SĨ GÒ VẤP

3 Logo do day

1 Ngoc Chanh 1MÙA THU HOA KỲ & CANADA

Nhạc sĩ Ngọc Chánh trưởng ban nhạc Shotguns, vừa gửi đến trang nhà loạt ảnh “Mùa Thu” nước Mỹ và Canada .

Theo người phụ trách được biết, nhạc sĩ Ngọc Chánh hiện giờ thường đi chu du khắp nơi để chụp ảnh nghệ thuật.

Ngoài những ảnh giới thiệu trên trang nhà hôm nay, mời các bạn vào forum Ngọc Chánh Shotguns trong mạng Flickr sau đây, còn rất nhiều hình ảnh khác về mùa Thu do nhạc sĩ Ngịc Chánh lưu trữ : https://www.flickr.com/photos/136811897@N04/

10 Mua thu

Nguyễn Việt

Logo bay gio ke

9 Xa bong 1XÀ BÔNG CÔ BA

Xem Video :

https://youtu.be/uW4vqBe3GXE

Cục xà bông nhãn hiệu Cô Ba, và đâu là ý nghĩa của món quà tặng?

Nếu người miền Bắc khâm phục nhà tài phiệt Bạch Thái Bưởi thì ở miền Nam có ông Trương Văn Bền (1883 – 1956), chủ nhân nhãn hiệu Xà bông Cô Ba. Cả hai đều thành công trên thương trường nhưng không hề trải qua trường lớp và dĩ nhiên là không bằng cấp. Điều đó chứng tỏ họ là những con người có đầu óc kinh doanh, tháo vát, nhiều sáng kiến, đóng góp thiết thực vào công cuộc phát triển kinh tế đất nước.

Trương Văn Bền – Wikipedia

Trước khi làm một nhà doanh thương, ông Bền còn là một ông Hội đồng Quản hạt Nam Kỳ. Gia sản đồ sộ của Trương Văn Bền là do công sức của ông làm ra. 9 Xa bong 3Không phải ông Bền làm giàu bằng ruộng đất, ông có một lối đi riêng bằng con đường công nghiệp đáng để làm gương cho những người đi sau.

Là người Việt gốc Hoa, sinh năm 1883 tại Chợ Lớn, ông Trương Văn Bền thuộc một gia đình khá giả. Ông có đi Pháp nhiều lần, nhưng chưa hề học qua một trường chuyên nghiệp nào. Theo bảng lượng giá để đánh thuế của Phủ toàn quyền Đông Dương ở Hà Nội, năm 1941, ông Trương Văn Bền phải đóng thuế cho chính phủ một số tiền lên tới 107.000 đồng, trong khi đó, giá vàng khoảng 60 đồng/lượng.

Là người nhạy cảm trong việc thương mại, nhìn xa thấy rộng, ông Bền biết rõ một tiềm năng kinh tế Việt Nam còn bị lãng quên : cây dừa. Từ năm 1918, ông đã lập xưởng ép dầu dừa (dùng trong kỹ nghệ xà bông, mỹ phẩm) mỗi tháng sản xuất 1.500 tấn. Năm 1932, hãng xà bông Trương Văn Bền được thành lập tại đường Quai de Cambodge (nên hông chợ Kim Biên bây giờ), ban đầu sản xuất 600 tấn xà bông giặt mỗi tháng. Từ khi Xà bông Cô Ba tức xà bông thơm đầu tiên của Việt Nam ra đời, Cô Ba đã đánh bạt xà bông thơm của Pháp, nhập cảng từ Marseille, nhờ phẩm chất tốt, giá thành thấp.

Trong thương trường, ông Bền có chủ trương riêng để tạo uy tín là phải giữ chất lượng tốt và sản phẩm phải hợp với túi tiền người tiêu dùng. Ông nhìn xa thấy rộng, không theo lối chụp giựt, ăn xổi ở thì. Mặc dầu có địa vị cao trong xã hội, nhưng ông Bền không tự mãn. Ông luôn luôn tìm tòi, học hỏi kinh nghiệm mỗi lần có dịp qua Pháp.

9 Xa bong 2Khi máy giặt được phát minh và nhập cảng vào Việt Nam, ông Bền liền sản xuất loại bột giặt để thích ứng ngay. Loại bột giặt Viso của ông Trương Văn Khôi, và bột giặt Việt Nam của hãng xà bông Trương Văn Bền (lúc đó đổi thành Hãng Xà bông Việt nam), có đủ sức cạnh tranh với bột giặt nhập cảng từ Mỹ.

Những người lớn tuổi, không ai không biết đến xà bông “Cô Ba”, có in hình nổi trên cục xà bông thơm hình oval. Ngoài hộp xà bông bằng giấy carton cũng có in hình người đàn bà búi tóc đó.

Nhiều giai thoại kể lại rằng người đàn bà in hình trong cục xà bông thơm và nhãn hiệu đó chính là người vợ thứ của ông Bền. Cái hay của ông Trương Văn Bền là biết áp dụng tâm lý, đưa hình ảnh Cô Ba, người đẹp huyền thoại trong dân gian làm nhãn hiệu cho sản phẩm hàng hoá của mình.

Khi đã định hình được tên tuổi sản phẩm và thị trường tiêu dùng, Trương Văn Bền đặc biệt chú trọng vào quảng cáo, khuếch trương thương hiệu. Trong suốt thời gian dài hầu hết báo chí thời đó đều đăng mục quảng cáo “Dùng xà bông xấu, mục quần áo” hoặc “Người Việt Nam nên xài xà bông Việt Nam” của Hãng Xà bông Trương Văn Bền.

Trong các cuộc triển lãm được mở cửa hàng năm tại các tỉnh và Sài Gòn, bao giờ gian hàng của ông Bền cũng được thiết lập đặc biệt nhất với mô hình một cục xà bông khổng lồ gây được sự chú ý và tò mò đặc biệt của người xem. 9 Xa bong 4Chưa dừng lại ở đó, tại các gian hàng còn có bán xà bông gọi là chào hàng với giá rẻ hơn bên ngoài đến 25%. Trương Văn Bền còn đưa nhãn hiệu xà bông Trương Văn Bền vào những loại hình nghệ thuật dân tộc được người Việt yêu thích như vọng cổ, thơ lục bát đề cao tinh thần dân tộc, lòng yêu nước… khiến cho từ giới bình dân đến trí thức người Việt đều biết đến sản phẩm của ông.

Không chỉ nổi tiếng trong lĩnh vực sản xuất tinh dầu, xà bông, Trương Văn Bền còn nổi tiếng trong kinh doanh lúa gạo, hình ảnh nhà máy xay lúa của Trương Văn Bền.

Với sự ra đời của Hãng Xà bông Trương Văn Bền ở Nam Kỳ năm 1932, Việt Nam hãnh diện được một xưởng công nghệ quy mô, góp phần vào công cuộc phát triển kinh tế trong thời kỳ phôi thai. Các xưởng ép dầu, xưởng làm xà bông, thâu nhận và tạo công ăn việc làm cho trên 200 công nhân. Khi công việc làm ăn phát đạt thêm, ông Bền còn xuất tiền cất một dãy phố 50 căn, gần Ngã Sáu Chợ Lớn, nằm góc đường Armans Rousseau và Général Lizé (trước năm 1975 đổi thành Minh Mạng-Hùng Vương).

Ông Bền có nhiều con trai lẫn gái. Một người con, tôi được nghe nhắc tới là ông Trương Khắc Trí, từng là chủ tịch ban quản trị Việt nam Công Thương Ngân Hàng (lập năm 1953) tại Sài gòn. Người con trai út, ông Trương Khắc Cần, thay cha quản lý Hãng Xà bông Việt nam cho tới năm 1975.

Sau năm 1975, Công ty Trương Văn Bền và Các Con trở thành Nhà máy hợp doanh Xà bông Việt Nam thuộc Bộ Công nghiệp nhẹ. Năm 1995, đơn vị này trở thành công ty Phương Đông thuộc Bộ Công nghiệp. 9 Xa bong 5Tháng 7/1995, công ty Phương Đông liên doanh với tập đoàn Proter & Gamble lập một nhà máy mới ở Sông Bé.

Trong ký sự Một tháng ở Nam Kỳ, nhà văn Phạm Quỳnh có nhắc đến ông Trương Văn Bền: Ông Trương Văn Bền là một nhà công nghiệp to ở Chợ Lớn, năm trước cũng có ra xem hội chợ ở Hà Nội, đem xe hơi ra đón các phái viên Bắc Kỳ về xem nhà máy dầu và nhà máy gạo của ông ở Chợ Lớn. Xem qua cái công cuộc ông gây dựng lên, đã to tát như thế mà chúng tôi thấy hứng khởi trong lòng, mong mỏi cho đồng bào ta ngày một nhiều người như ông, ngõ hầu chiếm được phần to lớn trong trường kinh tế nước nhà và thoát ly được cái ách người Tàu về đường công nghệ thương nghiệp”. (trích Hồi Ức Một Đời Người – Nguyễn Ngọc Chính)9 Xa bong 6

Một số hình ảnh quảng cáo Xà bông cô Ba

H1: Một trong những thành công của ông đó là quảng bá sản phẩm, Trương Văn Bền là thương nhân khôn ngoan, ông luôn đi trước đón đầu.

Nắm được vai trò của quảng cáo trong giới thiệu và bán hàng nên ông luôn đẩy mạnh các phương thức quảng cáo, giới thiệu sản phẩm của mình.

Dòng chữ quảng cáo tiếng Pháp có nội dung “Sử dụng xà phòng này cho người phụ nữ của bạn có vẻ đẹp hoàn hảo” được giăng khắp con phố cho thấy chiến lược kinh doanh của Trương Văn Bền.

9 Xa bong 7

H2: Khắp các ngã tư con phố Sài Gòn trước kia đều có các biển quảng cáo hãng xà bông của nhãn hàng Trương Văn Bền

H3: Nhà máy sản xuất của Công Ty Xà Bông Việt Nam bên hông chợ Kim Biên, Q5

9 Chua nghe si 1NHỜ TRƯỜNG ĐUA PHÚ THỌ

MỚI CÓ CHÙA VÀ NGHĨA TRANG

NGHỆ SĨ GÒ VẤP

Đó là nói về sự hình thành của Hội Nghệ Sĩ Ái Hữu, còn về phần hoạt động của hội thì phải nói rằng có rất nhiều công việc, như tổ chức những buổi hát giúp nghệ sĩ nghèo, hát lấy tiền giúp chi phí các đám tang của nghệ sĩ, có những nghệ sĩ cải lương hát đêm nào lãnh tiền ăn bữa nấy mà còn mắc nợ, khi chết thì không có hòm chôn! Hội cũng đã từng tổ chức hát gây quỹ giúp nhạc sĩ Sáu Lầu, cha đẻ bản vọng cổ, bởi khi về già cuộc sống của ông vô cùng thiếu thốn, bi đát !

Nhưng điều đáng nói, đáng ghi hơn hết là vận động tiền mua đất xây cất Chùa Nghệ Sĩ và Nghĩa Trang Nghệ Sĩ. Tôi hỏi Má Bảy :

– Nghe nói Chùa và nghĩa trang đã do chính Má Bảy vận động tài chánh để tạo dựng, vậy xin Má Bảy cho biết tiền vận động được từ đâu và những ai, những tổ chức nào đã giúp ?

– Ngày nay giới nghệ sĩ cải lương có Chùa Nghệ Sĩ để tu niệm, có nghĩa trang để chôn là nhờ… ngựa chạy đó !

Câu nói kể khá vui, mới nghe thật tức cười, tôi tưởng đâu Má Bảy nói chuyện vui nào đó, hoặc là nghĩa bóng “ngựa chạy đường dài mới biết ngựa hay”, nói lên sự kiên trì, bền bỉ đóng góp lâu dài nên mới có chăng ?

Thế nhưng chuyện “ngựa chạy” đem lại việc có chùa, có nghĩa trang là có thật trăm phần trăm, nhờ những con ngựa “chiến” ở trường đua Phú Thọ, hàng tuần chạy đua giúp vui cho thiên hạ mà Má Bảy có được điều kiện tốt để xây cất Chùa, 9 Chua nghe si 3lập nghĩa trang cho giới nghệ sĩ. Và câu chuyện được tiếp tục như sau :

– Tại sao chuyện ngựa chạy lại dính vô vấn đề, là việc đáng ghi của hội, chắc là có điều gì rất đặc biệt xin Má Bảy nói rõ hơn ?

– Sự thiệt nó là như vậy đó, nhờ có đua ngựa ở trường đua Phú Thọ nên tôi mới có tiền mua miếng đất trên nửa mẫu tây nầy để cất Chùa, lập nghĩa trang, hay nói đúng hơn là nhờ tiền lời đua ngựa của một ngày Chủ Nhật đã giúp tôi mua. Nhưng không phải khi không chẳng có gì hết mà trường đua ngựa nó giúp tôi đâu, cải lương đâu có ăn nhập gì với ngựa đua, mà cũng nhờ có trước có sau mới được, “hòn đất ném đi, hòn chì ném lại” đó !

Trước khi tiếp tục câu hỏi và câu trả lời chi tiết của Má Bảy có liên quan đến trường đua Phú Thọ, chúng tôi xin đề cập sơ qua về một địa điểm vừa giải trí lại vừa có tính cách cờ bạc, mà có lẽ những người miền Nam, đặc biệt là những cư dân từng sinh sống ở Đô Thành Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định nếu chưa từng vào xem cũng có nghe qua.

9 Chua nghe si 2

Thật vậy, trong chúng ta nếu có lần đi qua các con đường Lê Đại Hành, Trần Quốc Toản, Nguyễn Văn Thoại, Lữ Gia sẽ nhìn thấy chạy dọc một bên của các con đường nầy là hàng rào tường bao bọc khu đất rộng hơn cả chục mẫu Tây, đó là trường đua Phú Thọ, tọa lạc tại xã Phú Thọ Hòa, do người Pháp thành lập xây dựng trên cả trăm năm nay, với mục đích dùng làm nơi giải trí cuối tuần của giới hâm mộ đua ngựa.

Ngoài việc coi ngựa chạy giải trí, người ta còn đánh cá xem ngựa nào về nhứt, con nào về nhì, mà lúc bấy giờ việc đánh cá ngựa cũng là giải trí thôi, chớ hông nhắm vào ăn thua.

Những năm cuối thập niên 1940 lực lượng võ trang Bình Xuyên chiếm cứ vùng đất bên kia cầu Chữ Y, tướng Bảy Viễn kiểm soát cả vùng Chợ Lớn, khai thác sòng bạc Kim Chung, Đại Thế Giới và luôn cả trường đua Phú Thọ cũng vào tay lãnh chúa nầy. Do đó mà đến năm 1955 xảy ra chiến tranh giữa lực lượng võ trang Bình Xuyên và quân đội Quốc Gia thì trường đua Phú Thọ đương nhiên bị đóng cửa.

Thời Bình Xuyên còn khai thác trường đua Phú Thọ thì đánh cá ngựa trở thành môn cờ bạc lôi cuốn con người ta, nhiều người tán gia bại sản cũng vì đánh cá ngựa mà 9 Chua nghe si 4tiếng lóng gọi là “bị ngựa đá”!

Trường đua bị đóng cửa khiến cho dân ghiền đi coi ngựa chạy mỗi tuần mất đi môn giải trí độc đáo, dân chuyên đánh cá ngựa cũng mất nơi ăn thua mỗi cuối tuần. Lúc Bình Xuyên bị đánh đuổi ra khỏi vùng Chợ Lớn, bị tiêu diệt tại Rừng Sát rồi mà trường đua cũng vẫn chưa mở cửa trở lại và có chiều hướng bị dẹp luôn, do bởi vấn đề “đánh cá ngựa”, mà chủ trương của chính phủ thời Đệ Nhứt Cộng Hòa là cấm cờ bạc dưới mọi hình thức.

Tiền lời đua ngựa để cất Chùa, lập nghĩa trang

Tình trạng này khổ nhứt là những người có ngựa đua, những con ngựa chiến khác với ngựa rẻ tiền dùng kéo xe thổ mộ, kéo xe cá hằng ngày đậu tại bến chợ Cầu Ông Lãnh, chợ Bình Tây và các chợ trong Đô Thành chờ vận chuyển hàng hóa. Thời đó một con ngựa kéo xe chỉ mua vai ngàn đồng, thì con ngựa đua phải mua mấy chục ngàn, có con trên cả trăm ngàn, nếu có lịch sử từng đua thắng nhiều độ.

Giờ đây trường đua đóng cửa không lẽ đem ngựa đua cho kéo xe thổ mộ, bao nhiêu vốn liếng đổ vào coi như mất hết sao ? Do đó mà sau thời gian cả năm trời cho ngựa nghỉ dưỡng sức dài hạn, các chủ ngựa đua họp lại gián tiếp thành lập “Hội Đua Ngựa Trường Đua Phú Thọ” (chỉ nói thôi chớ hội không có trên giấy tờ), và đi vận động nhiều nơi, vận động với các hội từ thiện như: Viện Mồ Côi, Viện Dưỡng Lão, các Hội Ái Hữu… cùng ký tên trong đơn xin cho trường đua Phú Thọ hoạt động trở lại, 9 Chua nghe si 5và hứa rằng sẽ đặc biệt dành những buổi tiền lời để giúp các hội tự thiện, ái hữu nói trên.

Tôi tiếp tục đặt câu hỏi :

– Có phải là nhờ nhiều tổ chức từ thiện, các hội ái hữu ủng hộ mà Hội Đua Ngựa Trường Đua Phú Thọ đã được cho phép hoạt động trở lại, và riêng Má Bảy thì với danh nghĩa Hội Trưởng Hội Nghệ Sĩ Ái Hữu, Má Bảy đã cũng ký tên vào đơn xin hỗ trợ cho hội đua ngựa lúc bây giờ?

– Đúng như vậy ! Tôi thấy tờ đơn nói rất hợp tình hợp lý nên ký tên ủng hộ, bởi lý luận của Hội Đua Ngựa khá vững chắc, họ viện dẫn rằng trường đua Phú Thọ là nơi giải trí lành mạnh, là nghệ thuật coi giò coi cẳng con ngựa, cũng giống như dân mê đá gà coi dãy coi cựa vậy thôi ! Còn chuyện đánh cá thì chỉ những người nào có máu ham mê cờ bạc thì họ mới đánh cá ăn thua lớn, chớ đa số là đánh cá mua vui, nếu là dân cờ bạc thì ở đâu họ cũng đánh bạc chớ không phải có trường đua ngựa họ mới ăn thua.

Nghe lý luận đó vững quá, tôi hỏi tiếp :

– Vậy đơn xin còn nêu lên vấn đề nào thực tế nữa không, mà được rất nhiều tổ chức ủng hộ, như Hội Nghệ Sĩ Ái Hữu của Má Bảy ?

B Phung Ha 5– Trong đơn xin phép cũng chứng minh hiện nay nhiều nước trên thế giới có đua ngựa, bên Ăng Lê, bên Tây, bên Tàu, bên Mỹ nói chung Âu Châu, Á Châu, Mỹ Châu đều có đua ngựa giải trí, không lẽ chúng ta có sẵn trường đua lại dẹp bỏ đi sao ? Hơn nữa số tiền đánh thuế trường đua Phú Thọ không phải nhỏ !

Cuối cùng thì Má Bảy cho biết trường đua Phú Thọ được phép cho hoạt động trở lại, và năm 1957 bà đã lấy danh nghĩa Hội Nghệ Sĩ Ái Hữu xin Hội Đua Ngựa Trường Đua Phú Thọ một ngày tiền lời để mua đất cất Chùa Nghệ Sĩ và nghĩa trang.

Má Bảy cho biết thêm sau khi Hội Đua Ngựa Trường Đua Phú Thọ đồng ý giúp cho một ngày tiền lời đua ngựa thì công cuộc tìm mua đất cất Chùa, lập nghĩa trang được tiến hành ngay. Thế nhưng, không phải có tiền rồi mua được liền, mà phải trải qua nhiều giai đoạn gian nan, chán chường bỏ ra không biết bao nhiêu thì giờ công sức, bởi nhiều khó khăn phức tạp của vấn đề mà mãi đến cả năm sau Hội mới mua được miếng đất.

– Theo như tôi được biết thì vào thời điểm 1957 đất cát ở vùng Gia Định muốn mua cũng không khó lắm, điển hình là có rất nhiều chùa Phật Giáo được xây cất ở thời gian đó, vậy thì do đâu việc mua đất cất Chùa Nghệ Sĩ phải cả năm sau ?

– Nếu chỉ cất Chùa thôi thì dễ dàng mua đất và cũng dễ xin giấy phép, Thanh Nga 5nhưng đằng nầy Hội Nghệ Sĩ Ái Hữu phải thực hiện hai công việc cùng một lúc là vừa cất Chùa, đồng thời lập nghĩa trang luôn, và cũng do tìm kiếm mua đất thích hợp cho cả hai mục tiêu nên mới gặp khó khăn.

– Để cho giới nghệ sĩ cải lương sau nầy hiểu rõ công lao của người đi trước, xin Má Bảy cho biết một vài khó khăn cụ thể mà lúc bấy giờ Hội đã gặp phải trong vấn đề mua đất?

– Lúc đó ở gần Đô Thành Sài Gòn thì không có đất rộng, nếu có chăng thì giá cả cũng rất đắt, số tiền của Hội có không thể vói tới.

Má Bảy không nói rõ là Hội có bao nhiêu tiền và tôi cũng không hỏi việc đó, mà hỏi việc khác:

– Có phải nếu ở gần Đô Thành hay Thị Xã Gia Định thì không thể xin giấy phép được ?

Như tôi đã nói cất Chùa thì dễ hơn, đất cũng không cần rộng lắm, và giấy phép cũng dễ xin, chớ còn kèm theo nghĩa trang thì việc xin giấy phép là cả một vấn đề, không có xã nào muốn đem thây ma xác chết về chôn ở địa phương mình, thành thử ra khó khăn vô cùng và mất rất nhiều thời gian. Về sau tỉnh Gia Định đồng ý giao đất bên Gò Vấp để Hội Nghệ Sĩ Ái Hữu xây chùa và thành lập nghĩa trang.

Trong nhiều năm qua, khách tham quan từ Bắc, Trung, Nam và nước ngoài đến viếng chùa và nghĩa trang nghệ sĩ rất đông, tất cả đều có nhận xét : “Thật không thể tưởng tượng nổi lại có nhiều thế hệ nghệ sĩ tài danh nổi tiếng trên 70 năm khắp Nam, Trung, Bắc được an nghỉ tại nghĩa trang nghệ sĩ. Mô hình này thật không có nước nào trên thế giới có được. Quả thật là hiếm có!”.

Nghĩa trang Nghệ sĩ đã trở thành biểu tượng của lòng tôn kính người nghệ sĩ cả đời cống hiến cho nghệ thuật. Trong hơn 700 ngôi mộ ở đây có biết bao con người từng có một thời là những gạch nối làm nên thành tựu to lớn cho nghệ thuật sân khấu cải lương, kịch nói miền Nam. Họ hiên ngang chiến đấu, thông qua các tác phẩm, các vai diễn để ca ngợi lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc, góp phần hun đúc tinh thần đấu tranh chống giặc ngoại xâm. Trong số họ có người được tôn trọng như những liệt sĩ đã ngã xuống cho sân khấu dân tộc. Họ có công với đất nước, có công với sự nghiệp sân khấu và trên hết là tấm gương đạo đức đối với thế hệ diễn viên trẻ sau này,A- Doi co luu 2 như nghệ sĩ Năm Châu, Năm Đồ, Ba Vân, Thành Tôn, Út Trà Ôn, Hoàng Giang, Trường Xuân, Thanh Nga, soạn giả Hà Triều- Hoa Phượng, soạn giả Vĩnh Điền, đạo diễn Chi Lăng…

Ở đây còn có những ngôi mộ của các nghệ sĩ tài danh như Minh Phụng, Đức Lợi, Kiều Hoa, Trương Ánh Loan, Hoàng Tuấn, Lương Tuấn, Lê Vũ Cầu, Tô Kiều Lan, Quốc Hòa, Lê Công Tuấn Anh…

Đó là những tên tuổi mà thành công của họ là niềm tự hào của giới nghệ sĩ và khán giả mộ điệu. Nghĩa trang Nghệ sĩ gần như quanh năm là ngày tưởng niệm của nhiều nghệ sĩ. Có tháng gần như ngày nào cũng có giỗ nghệ sĩ tại đây. Ngày đó không chỉ có người thân mà còn có rất đông khán giả mộ điệu khắp nơi tìm về, nghe lại bài vọng cổ, xem lại những tấm ảnh lưu niệm để nhớ về người nghệ sĩ họ yêu mến. Giới diễn viên trẻ từ cải lương, hát bội đến kịch nói, điện ảnh, truyền hình sau này đã tìm đến nghĩa trang và chùa Nghệ sĩ để tìm hiểu và lắng nghe những câu chuyện thấm nhuần đạo lý của người nghệ sĩ đối với cuộc sống.

Yên Huỳnh tổng hợp chuyển tiếp

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: