LỊCH SỬ LĂNG CHA CẢ

Logo nhan vat 1

9 Lang Cha Ca 1LỊCH SỬ LĂNG CHA CẢ

VÀ ĐỨC CHA BÁ ĐA LỘC

Đây là một địa danh vùng Sài Gòn – Gia Định nay không còn nữa thay vào đó là một vòng xoay lớn; đã biến đổi khung cảnh nếu một người nào đó đã từng biết nơi đây và quay trở lại sẽ không còn nhận ra nữa.

Tôi viết bài này để nói về những di tích ngày nay đã còn trong ký ức của người dân Sài Gòn – Gia Định. Hồi còn nhỏ khi nói tới Lăng Cha Cả tôi mường tượng ông là người Việt và tại sao lăng của ông không kết cấu theo đạo Thiên chúa mà lại giống một ngôi đình. Đến khi học sử và tìm hiểu thêm tôi mới rõ về thân thế của ông.

Lăng Cha Cả thời đó nằm ở rìa của phi trường Tân Sơn Nhất; vào những năm đầu của thập niên 60 khi tình hình an ninh cho sân bay chưa có gì vẫn là không gian thoáng nhưng đến năm 1965 thì an ninh không còn bảo đảm toàn bộ khu này chạy dài tới cổng chính sân bay và những rìa khác đều được cách ly bằng những điểm gác và dây kẽm gai được canh phòng cẩn mật.

Sau đây là phần nói về thân thế của Linh mục Pierre Joseph Georges Pigneau mà tôi sưu tầm trên mạng trong trang historicvietnam.com do Tim Doling viết:

1/. Tiểu sử: Pierre Joseph Georges Pigneau của Behaine (tiếng Việt gọi là Bá Đa Lộc), sinh tại Origny Thiérache ở Aisne (Pháp) 9 Lang Cha Ca 2ngày 02 tháng 11 năm 1741 và chết ở Việt Nam ngày 09 tháng 10 năm 1799, là một linh mục truyền giáo người Pháp thuộc hội truyền giáo nước ngoài Paris. Ông là đức Giám mục ở Nam kỳ, ông cũng là nhà ngoại giao Pháp. Ông đã đóng góp rất lớn cho sự tham gia của  Pháp ở Nam Kỳ.

Ông là anh cả của một gia đình có mười chín con, ông theo học tại Laon, sau đó ở Paris tại chủng viện Trente Trois. Ông vào Đại Chủng viện của hội truyền giáo nước ngoài Paris năm 1765.

Ông lên tàu đi làm nhiệm vụ ở châu Á vào ngày 09 Tháng chín 1765. Trước đó ông giảng dạy tại trường của hội truyền giáo nước ngoài lập ra tạm thời tại Hòn Đất năm 1767.

Hai năm sau đó ông trở thành cha cả của trường. Nhưng những năm này vùng Hà Tiên Cam bốt hay bị loạn lạc giặc giã nên các học sinh chủng viện khoảng 40 người được di tản qua Pondichéry Ấn Độ năm 1770 và lập thành chủng viện mới ở đó.

Cũng chính ở Pondichéry năm 1772, mới 31 tuổi, Pierre Pigneaux được phong làm Giám mục d’Adran bởi Giáo hoàng Clement XIV, ông trở thành vị Đại Diện Tông Tòa Nam Kỳ sau cái chết của Đức Giám mục Piguel ngày 21 tháng sáu năm 1771. Piguel được phong thánh ở Madras, 24 tháng 2 năm 1774., kế nghiệp giám mục phụ trách giáo phận Đàng Trong. Pierre Pigneaux gặp Nguyễn Ánh khoảng 1775, phò Nguyễn Ánh trong 24 năm trời.

9 Lang Cha Ca 3Ông chuyển đến Hà Tiên cùng ba linh mục khác vào năm 1775 trong một vùng ở đồng bằng sông Cửu Long có bốn ngàn Kitô hữu. Tại đây ông gặp hai linh mục của hội truyền giáo nước ngoài. Vùng này đang trong cuộc nội chiến gây ra bởi quân Tây Sơn từ 1775 sau đó là Nguyễn Ánh tương lai là Vua Gia Long, đang tập hợp bao gồm chủ yếu là lính người Hoa đến từ Hà Tiên, để lấy lại ngai vàng của mình. Trong năm 1778, cướp biển Cam Bốt tấn công đội truyền giáo, đốt nhà thờ và giết chết nhiều người Kitô hữu. Pigneau nương náu với Bắc chủng viện Sài Gòn, Còn Nguyễn Ánh thì nương náu tại Biên Hòa. Ông trở thành một người bạn thân bảo trợ ngai vàng của đế quốc An Nam.

Nhưng vào năm 1782 quân Tây Sơn chiếm Sài Gòn, giết chết hàng ngàn người. Pigneau phải trốn sang Cam Bốt và sau đó tới đảo Pulo Way Phú Quốc) trong vài tháng. Sau đó, ông đã tìm thấy Nguyễn Anh trong tình trạng tán loạn, thiếu tất cả mọi thứ, thậm chí thực phẩm cho quân đội của mình. Do đó các giám mục chia sẻ thức ăn cuối cùng của mình với họ, và đã cứu sống họ.

Trong lúc đó chớp thời cơ quân Anh cũng như quân Hà Lan ở Batavia chuẩn bị thương lượng việc giúp đỡ cho Nguyễn Ánh, giám mục Pigneau Behaine liền đề nghị một sự hỗ trợ từ phía Pháp. Ông cũng nhận ra rằng Tây Sơn là kẻ thù không đội trời chung của Kitô giáo. Phụ tá của ông Labartette đã viết : 9 Lang Cha Ca 4“Thiên chúa giáo đối với quân Tây Sơn là không thể tồn tại. Nếu triều đại của họ kéo dài, chúng tôi gặp khó khăn lớn trong việc thoát khỏi bàn tay của họ. Họ đã thực sự đã ban hành sắc lệnh đàn áp ở miền đông Nam Kỳ”.

Nguyễn Anh liên minh với vua Xiêm La và bị bại trận. Ông liền gởi chiếc ấn và con trai của mình là hoàng tử Nguyễn Phúc Cảnh lúc đó mới năm tuổi rưỡi cho Pigneau. Pigneau tới Lorient qua ngả Pondicherry vào tháng Hai năm 1787.Các bộ trưởng của cung điện Versaille chưa thật dự nhất trí với đề nghị này chỉ có mình Đức Tổng Giám mục Dillon đầy quyền lực thì nhất trí. Louis XVI cuối cùng đã tiếp kiến giám mục Adran vào đầu tháng 5 năm 1787 và đưa ra một thỏa thuận về nguyên tắc.

Ngày 28 tháng 11 năm 1787, một hiệp ước được ký kết giữa Pháp và đế quốc An Nam tại Versailles bởi bá tước de Vergennes và bá tước de Montmorin đại diện cho vua Louis XVI, và một bên là Nguyễn Phúc Cảnh con tra icủa Gia Long do Giám mục Pigneau Behaine đại diện bảo trợ. Nước Pháp cam kết giúp đỡ Nguyễn Ánh lên ngôi, thay vào đó Pháp nhận được cảng Tourane, đảo Pulo Condor và đặc biệt là thương mại độc quyền với Pháp. Pigneau trở về ngày 27 Tháng 12 năm 1787 với hoàng tử trẻ tuổi và tám nhà truyền giáo.

Tuy nhiên Nguyễn Ánh không nhận được sự trợ giúp về người vì hiệp ước không được thi hành. 9 Lang Cha Ca 5Vì vậy Giám mục Pigneau Behaine đã tự quyên góp tiền từ các thương gia có ý định đặt cơ sở buôn bán ở Đại Việt cùng với số tiền 15.000 franc Pháp của gia đình mình cho, đem mua súng đạn và tàu chiến và tuyển ba trăm năm mươ ithủy thủ và hai mươi tình nguyện viên sĩ quan hải quân, trong đó bao gồm Olivierde Puymanel, Jean – Baptiste Chaigneau, Philippe Vannier và Jean – Marie Dayot. Những người hợp thành quân đội của Nguyễn Ánh và xây dựng thành lũy ở Vauban một trong những thành lũy lớn nhất ở Sài Gòn.

Tháng 7 năm 1789, Pigneau Behaine cùng Nguyễn Phúc Cảnh về đến Gia Định. Trớ trêu thay, cũng trong tháng đó, nhân dân Pháp đã làm cuộc cách mạng lật đổ triều đại phong kiến Louis. Giám mục Pigneau Behaine chết ngày 09 Tháng 10 năm 1799 trong cuộc bao vây và ngay trước khi cuộc chinh phục của pháo đài Quy Nhơn thành trì cuối cùng của quân Tây Sơn. được đưa về Gia Định vào ngày 16 tháng 10, thi hài của Pigneau đã được đặt trong Dinh Tân Xá và đã nằm trong trạng thái như 9 Lang Cha Ca 6vậy trong một tháng.

Một kiến trúc sư người Pháp tên là Barthélemy được giao nhiệm vụ xây dựng theo phong cách triều Nguyễn lăng mộ ở làng Tân Sơn, trong khi Thái tử Cảnh đã được giao phó sắp xếp chi tiết cho lễ tang. Mặc dù các chiến dịch đang diễn ra tại Quy Nhơn, chúa Nguyễn Phúc Ánh tự thực hiện một chuyến để xuôi nam đến Gia Định để tham dự tang lễ của Pigneau vào ngày 16 Tháng Mười Hai 1799.

Petrus Ký mô tả cách thức rước từ Dinh Tân Xá đến lăng mới xây dựng vào khoảng hai giờ sáng ngày 16 tháng 12 năm 1799.

“Một thánh giá lớn, làm từ những chiếc đèn lồng khéo léo sắp xếp ở đầu đám rước, theo sau là một kiệu điêu khắc công phu màu đỏ và vàng,  9 Lang Cha Ca 7trên cao là một bục trang trí công phu và có bốn người khiêng.”Đầu tiên đặt một tấm bia mang các nhân vật 皇 天 主 宰  (Huang tiān zhǔ zǎi hoặc Hoàng thiên chúa tể, có nghĩa là “Sovereig Lord of Heaven”) bằng những chữ vàng. Thứ hai chứa một hình ảnh của St Paul và một hình ảnh thứ ba của St Peter, người bảo trợ của các giám mục Adran. Thứ tư chứa đựng hình ảnh của các thiên thần hộ mệnh và thứ năm là một hình ảnh của Đức Trinh Nữ Maria.

Sau đó hình mẫu  đo khoảng 15 feet chiều dài và được làm từ vải gấm hoa,trên đó có thêu chữ vàng các danh hiệu của giám mục Adran do vua nước Pháp và Chúa của Đàng Trong [Nguyễn Phúc Ánh], cũng như những người của văn phòng giám mục của Ngài tặng. Sau đến các phù hiệu của các vị giám mục, thập giá được đặt ở phía trước của chiếc xe tang. Ở hai bên của kiệu là những người Kitô giáo và giáo sĩ từmọi nhà thờ ở Nam Kỳ.

Xe tang chở thi thể  giám mục là dài khoảng 20 feet chiều dài, chở 80 người đàn ông tuyển chọn, và được bao phủ bởi một mái vòm vàng thêu.” Trên đó đặt “quan tàitráng lệ … .. phủ bằng vải gấm hoa đẹp và được bao quanh bởi 25 ngọn nến thắp sáng lớn. ” 

9 Lang Cha Ca 8

Xem thêm về Dinh Tân Xá tại đây:

http://madeinsaigon.vn/bai-viet/dinh-tan-xa-ngoi-nha-co-nhat-sai-gon1436112609429.html

Xem thêm lịch sử nhà thờ Đức Bà tại đây:

http://madeinsaigon.vn/bai-viet/vuong-cung-thanh-duong-o-sai-gon1433340484153.html

9 Lang Cha Ca 92/. Cuốn tự điển Việt – Latinh của Pierre Pigneaux : Ngoài công việc là nhà truyền giáo, phò vua Gia Long, ông còn có một công trình đóng góp cho tiếng Việt quan trọng là đã có công soạn cuốn tự điển tiếng Việt mang tên Dictionarium Anamitico Latinum vào năm 1773 và được Jean-Louis Taberd xuất bản năm 1838, chú bằng chữ Latin, chữ Quốc Ngữ, chữ Nôm và chữ Nho. Cuốn tự điển này nguyên bản nay còn giữ ở Thư khố Hội Truyền giáo Ngoại quốc tại Paris. Cuốn từ điển Việt-LaTinh làm trong thời gian Pigneaux ở Pondichéry, nghĩa là chỉ 5 năm sau khi Pigneaux tiếp xúc với Việt Nam.

Như vậy Pigneaux phải có một sức làm việc, một óc tổ chức và một khiếu về ngôn ngữ có tầm cỡ. Pigneaux lại được một nhóm người phụ trợ đắc lực, như nhà nho Trần Văn Học (Việt Nam), Mạn Hoè (người Pháp, tên Manuel), Nguyễn Văn Chấn (người Pháp, tên Dayot), Nguyễn Văn Thắng (người Pháp, tên Vannier), Gia Đô Bi 9 Lang Cha Ca 10(gốc Tây Ban Nha), Ma Nộ Y (người Tây Ban Nha)…

Hài cốt của Giám mục Pigneau Behaine được thờ ở Lăng Cha Cả cho đến hết thời nhà Nguyễn sang chính thể Việt Nam Cộng hòa. Năm 1983 chính phủ Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam cải táng mộ phần, san bằng khu lăng cổ và trao di cốt lại cho lãnh sự Pháp đem hồi hương. Di cốt khi về lại Pháp được đem chôn trong nhà thờ Séminaire des Missions Etrangères, rue du Bac tại quận XV Paris. (nguồn: ThaoLQĐ)

Hai Điếu chuyển tiếp

Logo vannghe

9 Thuyen vien xu 1THUYỀN VIỄN XỨ

Ca khúc “Thuyền Viễn Xứ” do Lệ Thu trình bày :

https://youtu.be/MInJX7k-AXk

Bài viết cho biết lai lịch của bản nhạc nổi tiếng Thuyền Viễn Xứ và chân dung của co-owner là nữ sĩ trẻ Huyền Chi thời bấy giờ. Bài thơ thật hay, thanh thoát đượm nỗi buồn man mác của kẻ giong thuyền ra khơi, trên sông bao la biết đâu là bến bờ, rộn ràng niềm nhớ cố hương…. Nếu không thì chỉ biết bài hát là của nhạc sĩ Phạm Duy. (H. Thanh)

Trong những ca khúc đầy tâm trạng hoài hương, mang nỗi buồn man mác như: Làng tôi (Chung Quân), Hướng về Hà Nội (Hoàng Dương), Quê mẹ (Thu Hồ), Làng tôi (Văn Cao), Ngày về (Hoàng Giác)… thì Thuyền viễn xứ của Phạm Duy dù có buồn nhưng giai điệu khác hẳn: lạ hơn, sang trọng hơn…

Bạn thân của tôi, nhà báo Trần Thanh Bình, có một giọng hát khá tốt cho nên trong những lúc ngà ngà cuộc bia thường được đề nghị hát giúp vui (không đề nghị… cũng hát), và hầu như lúc nào anh cũng cất lên: “Chiều nay sương khói lên khơi. Thùy dương rũ bến tơi bời. Làn mây hồng pha ráng trời. Sóng Đà Giang thuyền qua xứ người. Thuyền ơi, viễn xứ xa xưa. 9 Thuyen vien xu 2Một lần qua dạt bến lau thưa. Hò ơi, giọng hát thiên thu. Suối nguồn xa vắng, chiều mưa ngàn về…”(Thuyền viễn xứ). Giọng hát nghiệp dư của Trần Thanh Bình chỉ cỡ đó, nhưng cũng đủ làm xuyến xao tâm hồn người nghe, nói chi được thưởng thức tiếng hát của những danh ca như Thái Thanh, Sĩ Phú.

Bài thơ của một cô gái

Thế nhưng, nhiều người chỉ biết Thuyền viễn xứ là của Phạm Duy chứ chẳng mấy ai để ý rằng đây là một ca khúc phổ nhạc, dù trên bìa bản nhạc (thời đó, từ đầu thập niên 1940 cho đến 1954 trong toàn quốc, cả Cao Miên, và từ 1954 đến 1975 ở miền Nam, những bản nhạc được xuất bản dưới hình thức in rời bằng giấy cứng khổ lớn in 2 mặt, gấp lại ở giữa), Thuyền viễn xứ được cả hai nhà xuất bản Tinh Hoa và Á Châu ấn hành đều ghi rõ: nhạc : Phạm Duy, thơ: Huyền Chi.

Huyền Chi là bút danh của Hồ Thị Ngọc Bút, sinh năm 1934 tại Từ Sơn (Bắc Ninh), theo gia đình vào Nam từ trước năm 1954. Lúc mới vào Nam (1948-1949), cô ở với chị gái tại Đà Lạt, sau đó về Sài Gòn (1950) vừa đi học vừa phụ mẹ trông nom sạp vải ở chợ Bến Thành. Bài thơ Thuyền viễn xứ là một trong 22 bài thơ nằm trong tập thơ Cởi mở của Huyền Chi xuất bản năm 1952, trong thời gian cô sinh hoạt với một nhóm văn nghệ sĩ trẻ và làm thư ký tòa soạn chuyên trách mục thơ cho Tạp chí Phụ Nữ của bà Nguyễn Thị Lan Phương. Và đây là nguyên văn bài thơ Thuyền viễn xứ, mà tác giả là một cô gái 18 tuổi:

9 Thuyen vien xu 4Ra khơi sương khói một chiều

Thùy dương rũ bến tiêu điều ven sông

Lơ thơ rớt nhẹ men lòng

Mây trời pha ráng lụa hồng giăng ngang

Có thuyền viễn xứ Đà Giang

Một lần dạt bến qua ngàn lau thưa

Hò ơi! Câu hát ngàn xưa

Ngân lên trong một chiều mưa xứ người

Đường về cố lý xa xôi

Nhịp sầu lỡ bước, tiếng đời hoang mang

Sau mùa mưa gió phũ phàng

Bến sông quay lại, hướng làng nẻo xa

Lệ nhòa như nước sông Đà

Mái đầu sương tuyết lòng già mong con

9 Thuyen vien xu 5Chiều nay trời nhẹ xuống hồn

Bao nhiêu sương khói chập chờn lên khơi

Hai bờ sông cách biệt rồi

Tần Yên đã nổi bốn trời đao binh

Ngàn câu hát buổi quân hành

Dặm trường vó ngựa đăng trình nẻo xưa

9 Thuyen vien xu 6Biết bao thương nhớ cho vừa

Gửi về phương ấy mịt mờ quê hương

Chiều nay trên bến muôn phương

Có thuyền viễn xứ lên đường… lại đi…

Duyên văn nghệ

Tuy lời thơ có vẻ… cổ phong (vốn là chuẩn mực vào thời đó) nhưng vẫn toát lên một nỗi buồn man mác. Bố cục bài thơ cũng rất “chắc tay”, hồn thơ tinh tế. Tập thơ vừa in xong tại nhà in Sống Chung trên đường Trần Hưng Đạo thì tình cờ Huyền Chi gặp nhạc sĩ Phạm Duy khi ông đến thăm bà Đào (chủ nhà in). Cô ký tặng nhạc sĩ tập thơ Cởi mở. Cũng nghĩ là chút duyên văn nghệ thế thôi, bởi đó là lần gặp gỡ duy nhất giữa hai người. Vậy mà người được tặng tập thơ đã chọn một bài thơ lục bát rất… truyền thống trong tập thơ ấy để phổ thành ca khúc. Điều đáng nói là nhạc sĩ Phạm Duy đã trổ tài “phù thủy” khiến trong ca khúc phổ thơ của ông, khó ai tìm thấy bóng dáng của thể loại lục bát. Đã vậy, đoạn giữa được chuyển qua âm giai trưởng nghe vừa xa vắng, vừa rạo rực mênh mang: “Nhìn về đường cố lý, cố lý xa xôi. Đời nhịp sầu lỡ bước, Bước hoang mang rồi. Quay lại hướng làng, Đà Giang lệ ướt nồng. 9 Pham Duy 3Mẹ già ngồi im bóng. Mái tuyết sương mong con bạc lòng…”

Trong quyển Hồi ký Phạm Duy (tập 3, ấn bản 2008), tác giả viết : “Gần hai năm đã trôi qua kể từ khi tôi bỏ vùng quê vào Hà Nội, rời miền Bắc vào miền Nam, lo ổn định nơi ăn chốn ở và thu xếp công kia việc nọ ở Sài Gòn… Vào thời điểm này (trước cuộc di cư 1954), Huyền Chi, một cô em bán vải ở chợ Bến Thành đưa cho tôi phổ nhạc bài thơ nhan đề Thuyền viễn xứ. Bài thơ này nói lên tâm trạng một người Bắc Việt phải rời bỏ bến Đà Giang để vào sinh sống tại miền Nam. Phổ nhạc xong bài thơ nhớ miền viễn xứ, trong tôi lại nổi dậy sự viễn mơ của bài Bên cầu biên giới năm xưa, tôi bèn soạn bài Viễn du…”.

Huyền Chi lập gia đình với giáo sư Trần Phụng Tường vào năm 1954, và theo chồng ra Phan Thiết, nơi ông đang dạy Pháp văn ở Trường trung học Phan Bội Châu. Ở đây bà mở hiệu sách Bút Hoa và dạy Anh văn.

Nguyễn Phước Thị Liên, một cựu học sinh của Trường trung học Phan Bội Châu, đã “vẽ lại” chân dung của Huyền Chi như sau : “Huyền Chi là một phụ nữ đẹp, tài sắc vẹn toàn. Cô có nước da trắng khỏe, dáng người cao, gương mặt tươi, miệng cười hiền hậu dễ mến, tà áo dài màu thiên thanh đài các trong những chiều lộng gió, 9 Thuyen vien xu 3khi thầy cô sánh vai giữa thành phố Phan Thiết, đã làm xao xuyến bao tâm hồn nữ sinh lúc bấy giờ…” (Kiến Thức Ngày Nay số 768 tháng 12/2011).

Sau 1975, gia đình bà Huyền Chi chuyển vào Sài Gòn. Bà hiện vẫn còn sống tại đây, còn chồng bà – ông Trần Phụng Tường mất năm 2010. Trong 7 người con của hai ông bà có 4 người hiện ở Việt Nam, 3 người ở nước ngoài. Chắc chắn những người con ở xa quê này cũng sẽ có tâm trạng như mẹ của mình vào hơn nửa thế kỷ trước, khi: “Chiều nay gửi tới quê xưa. Biết là bao thương nhớ cho vừa. Trời cao chìm rơi xuống đời. Biết là bao sầu trên xứ người. Mịt mờ sương khói lên hương. Lũ thùy dương rủ bóng ven sông. Chiều nay trên bến muôn phương. Có thuyền viễn xứ nhổ neo lên đường…” (Thuyền viễn xứ). (theo Hà Đình Nnguyên)

Phan Tất Đại chuyển tiếp

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: