NGHỀ XƯA Ở VIỆT NAM

Logo bay gio ke

NGHỀ NGHIỆP XƯA

Ở VIỆT NAM QUA ẢNH

Những thước ảnh quý giá này đang được lưu truyền rất nhiều trên mạng xã hội, giúp cho giới trẻ Việt Nam hiểu rõ hơn về nghề nghiệp ngày xưa của ông cha. Phần lớn các tấm hình này đã được chụp từ cuối thế kỷ thứ 19 hay đầu thế kỷ thứ 20. Chúng hầu hết đã thuộc về lịch sử, không còn bản quyền và được lưu trữ tại nhiều nơi ở nước Pháp như trong lưu trữ của mỗi cục, bộ của chính quyền Pháp, ở Thư Viện Quốc Gia Pháp, ở Sở Ðịa chính Paris và nhiều nhất là ở Trung tâm dữ liệu thuộc địa ở Aix-en-Provence.

9 Nghe xua 1

H1: Một quán bán đồ ăn dạo. H2: Những sạp đồ gốm ở ven đường tại Hà Nội xưa. Gốm được bày bán chủ yếu là bình, chậu hoa, chum, chĩnh,… H3: Gánh trầu cau bán dạo.

Ăn trầu là một tục lâu đời của người Việt, có từ thời Hùng Vương. Hình ảnh phụ nữ Việt với bộ răng đen nhánh đã gắn liền với lịch sử của dân tộc. Nhai trầu vừa giúp thơm miệng, vừa là một biện pháp để bảo vệ răng của người xưa.

9 Nghe xua 2

H4: Hớt tóc dạo ở Sài Gòn xưa. H5: Thợ mộc đang xẻ gỗ ở một xưởng mộc. H6: Một thiếu phụ bên khung dệt.

9 Nghe xua 3

H7: Lấy ráy tai dạo tại Hà Nội. Chỉ cần một que sắt và một chiếc ghế đẩu, người đàn ông này đã có thể hành nghề. H8: Một người làm nghề thu tiền với cuốn sổ ghi chép trên tay. H9: Ảnh chụp những người thợ trong một xưởng làm giấy. Thời xưa, giấy được làm từ vỏ cây, ngâm, giã, ép,… qua nhiều công đoạn.

9 Nghe xua 4H10: Người thợ săn tại Nam Kỳ xưa với vũ khí tự chế.

H11: Một gánh phở rong. Người bán hàng gánh cả bếp lò, nồi nước sôi đi khắp nơi.

H12: Một họa sĩ ở làng tranh dân gian Hàng Trống. H13: Xưởng thợ rèn làm từ căn nhà tranh.

9 Nghe xua 5

H14: Dàn nhạc biểu diễn ở Nam Kỳ… H15: … và ở Hà Nội xưa. H16: Ảnh chụp một đoàn xe chở thư từ Sài Gòn về Cần Thơ.

9 Nghe xua 6

H17: Một xe đưa thư chuyến từ Sài Gòn về Tây Ninh. H18: Trái với hình ảnh hiện đại bên trên, một đoàn vận chuyển thư và bưu chính bằng chân. H19: Họ nghỉ đêm trong rừng ở một chỗ trú chân giản đơn.

9 Nghe xua 7

H20: Một phụ nữ hành nghề thầy bói ở chợ. Bức ảnh được chụp vào năm 1921.

Ngày xưa, có rất nhiều người mù hành nghề thầy bói, họ thường đeo kính đen hoặc dùng mạng che mặt.

H21: Một cửa hàng ở phố Hàng Thiếc, Hà Nội. H22: Cửa hàng bán đồ đồng thau ở Bắc Kỳ xưa, với đủ loại vật dụng: lư hương, mâm, nồi, chảo, ấm,…

9 Nghe xua 8

H23: Nghề đan nón rơm.

Những thước ảnh quý giá này đang được lưu truyền rất nhiều trên mạng xã hội, giúp cho giới trẻ Việt Nam hiểu rõ hơn về nghề nghiệp ngày xưa của ông cha. Phần lớn các tấm hình này đã được chụp từ cuối thế kỷ thứ 19 hay đầu thế kỷ thứ 20. Chúng hầu hết đã thuộc về lịch sử, không còn bản quyền và được lưu trữ tại nhiều nơi ở nước Pháp như trong lưu trữ của mỗi cục, bộ của chính quyền Pháp, ở Thư Viện Quốc Gia Pháp, ở Sở Ðịa chính Paris và nhiều nhất là ở Trung tâm dữ liệu thuộc địa ở Aix-en-Provence.

H24: Thợ khảm tại Bắc Kỳ ngày xưa. H25: Thợ làm mành.

Ngày xưa, mành được sử dụng để ngăn nắng mưa, gió bụi, chống côn trùng. Mành thường được làm từ tre, trúc, cỏ lau,…

9 Nghe xua 9

H26: Một cửa hiệu sửa và bán giầy dép làm thủ công. H27: Lớp dạy nghề khảm ở trường dạy nghề Hà Nội xưa. H28: Một người đàn ông đan phên trên phố Hàng Mành. Phên được đan từ tre, nứa, thường được dùng để ngăn phòng, hoặc che cửa,…

9 Nghe xua 10

H29: Một cụ già làm nghề in tranh.

Ở các làng tranh dân gian, người ta dùng các bản in có sẵn để tạo nên các bức tranh. Thợ in phải in từng loại màu, phơi khô rồi mới tiếp tục in màu khác. Khi in phải ấn bản in đều tay, để màu đều, không bị loang làm mờ đường nét.

9 Nghe xua 11H30: Một nhà làm lọng. Nghề làm lọng của nước ta bắt đầu từ thời nhà Lê. Lọng là dụng cụ thường dùng cho các quan lại và vua chúa hoặc được sử dụng trong đình, chùa,… H31: Ảnh được chụp ở một xưởng thuộc da. Những người thợ đang làm công đoạn phơi da.

H32: Một cửa hàng bán cân tiểu ly. Ngày xưa, người ta thường dùng loại cân tiểu ly đơn giản, được làm thủ công. Một đầu là đĩa cân, một đầu là cán khắc vạch nhỏ với quả cân. Loại cân này khó đọc và cho sai số khá cao. H33: Diễn viên Hồ Quảng trong đoàn ca kịch của người Hoa tại Sài Gòn. Thời xưa, ca kịch thường được diễn ở các sân khấu đất lưu động. H34: Nghề làm bánh đa.

9 Nghe xua 12

H35: Nghề phơi tằm. Tằm được nuôi để nhả tơ, dùng dệt vải may quần áo. H36: Hai người phụ nữ đang phơi gạch. H37: Phu kéo xe.

Ngày xưa, ở Đông Dương, những chiếc xe kéo có mặt tại Hà Nội vào năm 1883 do được đem từ Nhật qua. Sau đó gần 15 năm, xe kéo mới có mặt tại Sài Gòn.

9 Nghe xua 13

H38: Một quán nước nhỏ tại Hà Nội, H39: Thợ vẽ và thợ thêu ở Bắc Kỳ xưa. H40: Xưởng làm đồ bạc hiệu Tiến Bảo tại phố Hàng Bạc. Ngày xưa, đồ trang sức được làm thủ công, rất tỉ mỉ, tinh xảo. (sưu tầm từ Internet)

9 Bao Dai 1ÔNG VUA CUỐI CÙNG VN: 

KẾT THÚC KHÔNG CÓ HẬU

Một nhà báo Pháp có mặt tại lễ đăng quang của Bảo Đại đã mô tả, ông vua nhỏ được trang sức xúng xính “như một hộp đựng bảo vật”. Bảo Đại là ông vua thứ 13 triều Nguyễn, thuộc hệ chữ Vĩnh (Vĩnh Thụy). Đến khi thoái vị không chỉ kết thúc triều Nguyễn mà còn kết thúc chế độ phong kiến kéo dài hàng ngàn năm trong lịch sử của nước ta.

Học làm vua ở Pháp

Vĩnh Thụy sinh năm 1913, được coi là con vua Khải Định, mặc dù chuyện này còn có nhiều nghi vấn. Chính phủ bảo hộ giao cho viên cựu khâm sứ Pháp Charles nhận làm con nuôi. Năm 1922, vua Khải Định sang Pháp dự đấu xảo đem hoàng tử con sang Paris. Sau khi kết thúc chuyến thăm Pháp, Khải Định trở về nước, để con ở lại nhà Charles cho ăn học.

Năm 1925, Khải Định ốm chết, khi ấy Vĩnh Thụy 13 tuổi, được đưa trở về nước chịu tang và lên ngôi vua, lấy niên hiệu là Bảo Đại. Lễ đăng quang diễn ra tại điện Thái Hòa, kinh thành Huế, trước sự chứng kiến của viên Toàn quyền Alexandre Varenne, Khâm sứ Pierre Pasquier và cha nuôi Charles. Một nhà báo Pháp có mặt hôm ấy đã mô tả, ông vua nhỏ được trang sức xúng xính “như một hộp đựng bảo vật”.

Sau đó, Bảo Đại giao toàn bộ việc nước cho chính phủ bảo hộ Pháp, còn việc triều chính thì có một Hội đồng Phụ chính đảm nhiệm. Bảo Đại tiếp tục sang Pháp để được đào tạo “học làm vua”. Nước Pháp đã hoàn thành việc xâm chiếm cả ba cõi Đông Dương, chia nước ta thành ba kỳ với chế độ khác nhau, cùng với Lào và Campuchia gộp lại là Liên bang Đông Dương.Nam Phuong 4 Phủ Toàn quyền Đông Dương đóng tại Hà Nội. Nhưng nhân dân ta vẫn không ngừng nổi dậy chống ách nô lệ. Tên cai thầu ác ôn Bazin mộ phu đi Tân Thế giới bị ám sát. Cuộc khởi nghĩa Yên Bái của Việt Nam Quốc dân Đảng nổ ra và bị thảm sát. Toàn quyền Paul Doumer cũng bị ám sát…

Những cải cách mang tính hình thức

Năm 1932, Bảo Đại vừa 19 tuổi được đưa về nước. Trên con tàu d’Artagnan, nhà vua trẻ gặp một cô tiểu thư xinh đẹp. Đó là Nguyễn Hữu Thị Lan, con gái một đại phú gia ở Nam Kỳ. Nàng được đi du học và cũng vừa tốt nghiệp trung học trở về nước. Không biết tình cờ hay có sự bố trí khéo léo của quan thầy Pháp, chuyến đi này đã tạo nên mối duyên tình giữa hai người. Và hai năm sau Bảo Đại đã làm lễ kết hôn với cô tiểu thư này.

Ngồi trên ngai vàng, ông vua trẻ Tây học cũng muốn bắt chước phương Tây để đưa ra một số cải cách trong triều, nhưng không được vượt ra khỏi khuôn khổ những gì “nước mẹ” Đại Pháp cho phép. Ông cho hàng loạt những cựu thần Hán học có tuổi và phần nào vẫn còn lòng ái quốc về hưu, thay thế bằng những người trẻ “tân tiến” như Phạm Quỳnh, Nguyễn Tiến Lãng…

Bảo Đại đã đưa ra một số thay đổi mang tính hình thức, như các quan trong triều không phải quỳ lạy trước mặt vua. Những vị tân quan có thể ăn mặc âu phục, không phải mặc khăn đóng áo dài. Mạnh dạn nhất là ông ta dám bất chấp Thái hậu và triều đình, lấy Nguyễn Hữu Thị Lan là người theo đạo Thiên chúa làm vợ. 6 Bao DaiKhông những thế, lại tấn phong cho làm Hoàng hậu Nam Phương. Bởi triều đình nhà Nguyễn có quy định chỉ truy phong hoàng hậu khi đã qua đời.

Đây là lần đầu tiên trong lịch sử triều Nguyễn, Nam Phương được phá cách phong hoàng hậu ngay sau khi kết hôn. Nhà vua cũng chỉ lập một hoàng hậu duy nhất, chứ không tuyển hàng trăm cung tần mỹ nữ như các vị “tiên đế” (tuy nhiên, ông vua này cũng có rất nhiều “người tình”).

Câu tuyên bố nổi tiếng lúc thoái vị

Những cải cách của Bảo Đại chỉ mang tính hình thức, còn việc quốc gia đại sự đều do Toàn quyền Pháp điều khiển, Nam triều chỉ răm rắp theo đó mà thực thi. Còn nhà vua thì thoải mái lái ô tô, chơi thể thao, đánh bài bạc, đi du hí và đặc biệt là ham săn bắn. Thực dân Pháp cũng chỉ đạo báo chí ca ngợi cách sống phóng khoáng của Bảo Đại và cổ vũ thanh niên bắt chước ông vua Tây hóa.

Nhưng thời thế đã đổi khác. Chiến tranh thế giới nổ ra. Nhật hất cẳng Pháp. Đế quốc Nhật đưa ra chiêu bài Đại Đông Á, trả lại độc lập trá hình cho Việt Nam. Bảo Đại được phép đứng ra thành lập chính phủ “Đế quốc Việt Nam” do học giả Trần Trọng Kim làm thủ tướng. Chính phủ Trần Trọng Kim cũng mời được một số nhà trí thức có tinh thần yêu nước tham gia, nhưng họ đều thất vọng vì nhận ra chính phủ này chỉ là hữu danh vô thực, không thể đem lại độc lập cho dân tộc. Trong khi ấy, cả nước đang sôi động, mọi tầng lớp nhân dân tập hợp dưới ngọn cờ của Mặt trận Việt Minh vùng lên đánh Pháp đuổi Nhật.

9 Bao Dai 2Chẳng bao lâu, Nhật đầu hàng đồng minh. Cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám thành công. Một phái đoàn Chính phủ cách mạng lâm thời do nhà sử học Trần Huy Liệu dẫn đầu từ Hà Nội được cử vào Huế đòi Bảo Đại thoái vị.

Ngày 30/8/1945, hàng vạn nhân dân đứng trước cửa Ngọ Môn đón chào phái đoàn. Bảo Đại mặc áo hoàng bào, hai tay dâng lên phái đoàn chiếc kiếm dài nạm ngọc và sau đó là chiếc quốc ấn nặng 7kg bằng vàng ròng. Trong chiếu thoái vị, ông từng tuyên bố một câu nổi tiếng : “Trẫm làm công dân một nước tự do còn hơn làm vua một nước nô lệ”.

Ông vua thứ hai của triều Nguyễn là Minh Mạng đã đặt ra bài Đế hệ thi để đặt tên đệm cho các thế hệ con cháu dòng trực hệ:

Miên Hồng Ưng Bữu Vĩnh / Bảo Quý Định Long Trường / Hiền Năng Khang Kế Thuật / Thế Thụy Quốc Gia Xương.

Ý nghĩa gửi gắm trong Đế hệ thi là dòng họ này sẽ được ngự trên ngai vàng truyền hết đời này sang đời khác. Bảo Đại là ông vua thứ 13 triều Nguyễn, thuộc hệ chữ Vĩnh (Vĩnh Thụy). Bao Dai 3Đến khi thoái vị không chỉ kết thúc triều Nguyễn mà còn kết thúc chế độ phong kiến kéo dài hàng ngàn năm trong lịch sử của nước ta.

Một kết thúc không có hậu 

Nếu mọi chuyện dừng lại ở đây thì với Bảo Đại cũng là một kết thúc “có hậu”, vì ông còn được Hồ Chí Minh mời ra Hà Nội làm Cố vấn tối cao cho Chính phủ Dân chủ Cộng hòa. Nhưng trong một chuyến công cán sang Trung Quốc, ông đã bỏ đi không trở về. Quân Pháp tiến hành cuộc tái chiếm nước ta một lần nữa, Bảo Đại lại được đưa về làm vua bù nhìn. Sau đó ít lâu, chúng bày trò tấn phong Bảo Đại làm Quốc trưởng của Chính phủ quốc gia Việt Nam.

Năm 1954, sau Hiệp định Giơnevơ được ký kết, nước ta tạm thời chia cắt thành hai miền. Trong khi Bảo Đại đang sống ở Paris, Thủ tướng Ngô Đình Diệm nhân danh Cộng hòa Việt Nam đã tiến hành một cuộc trưng cầu dân ý phế truất “quốc trưởng” của Bảo Đại. Từ đó, Bảo Đại sống lưu vong ở Pháp cho đến khi chết. (theo Nguyễn Như)

Mai Trung Tín chuyển tiếp

Logo phong tuc

8 Tet com moi 1

TẾT CƠM MỚI CỦA

ĐỒNG BÀO VÙNG CAO

Khác với người miền xuôi, đồng bào Pacô ở huyện miền núi A Lưới (Thừa Thiên – Huế) đón tết truyền thống sớm hơn với các nghi lễ đặc sắc.

Lễ Aza hay còn gọi là lễ Tết cơm mới, một trong những nghi lễ truyền thống có từ thời xa xưa của người Pacô, được tổ chức nhằm tiễn đưa năm cũ và đón chào năm mới, chuẩn bị đón một vụ mùa mới. Aza được đồng bào Pacô xem là lễ hội quan trọng thứ hai sau lễ Ariêu Pi-ing truyền thống và thường được tổ chức vòa tháng 11 âm lịch hàng năm. Ngày tiến hành lễ Aza của mỗi làng khác nhau vì ngày tổ chức do trưởng làng quyết định.

Mỗi khi làng tổ chức Aza, con cháu trong làng dù làm ăn xa cũng quay về nhà để cùng đón lễ với gia đình, làng xóm. Khác với Ariêu Pi-ing là cúng tập thể, Aza chú trọng đến từng gia đình, dòng họ riêng rẽ trong nghi lễ.

8 Tet com moi 2Phần lễ vật như cơm trắng, xôi, bánh aquat dẻo, gà, heo, vịt, dê, chuột… cúng cho đấng linh thiêng của bản làng gồm : Giàng Tro – giống như Thần Nông của người Kinh, đại diện cho cây trồng; Giàng Pơnanh – Thần Chăn nuôi; Giàng Panuôn – Thần Buôn bán; Giàng Sưtarinh – Thần Đất, đại diện đất đai và thời tiết.

Một thứ rất linh thiêng và không thể thiếu để thực hiện một nghi lễ trong quá trình tổ chức Aza là tâng họt – loại hoa làm từ tre được cắm lên từng vật lễ và những tấm dzèng. Aquat – loại bánh nếp không nhân của bà con Pacô, là thứ không thể thiếu để đặt trên bàn lễ. Loại bánh này cũng giống như bánh chưng, bánh tét của người miền xuôi trong dịp Tết Nguyên đán.

Sau khi tổ chức cúng Giàng, nhà nào cũng lấy một phần lễ vật mang đến nhà sinh hoạt cộng đồng hay nhà trưởng làng để góp lễ chung vui với mọi người, đồng thời tổ chức cúng Giàng chung của cả làng.

8 Tet com moi 3

Trước khi tiến vào nhà rông để tiếp tục cúng lễ chung của cả làng dưới sự chủ trì của già làng, các gia đình, dòng họ đồng bào Pacô thường đi theo đoàn mang theo lễ vật và múa những điệu múa truyền thống kết hợp với tiếng chiêng trống. Tiếng kẻng đánh theo hồi dùng để hiệu triệu dân làng cùng đến tham gia phần lễ cúng Aza. Tại đây, đồng bào Pacô sẽ cùng nhau góp lễ cúng Giàng chung của bản làng.

Theo quan niệm của người Pacô, tiếng khèn hòa cùng tiếng chiêng, điệu múa truyền thống sẽ giúp cho buổi lễ Tết cơm mới thêm phần náo nhiệt, Giàng làng về dự lễ sẽ vui hơn khi nghe thấy tiếng nhạc. Kết thúc các nghi lễ Aza, các thành viên trong làng cầm thanh que tre tâng họt trên tay cùng nhau ném lên ngôi nhà chung của làng cầu nguyện và bắt đầu phần hội ăn uống, ca hát, nhảy múa. (theo Đắc Đức)

Phan Tất Đại chuyển tiếp

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: