VỀ VĂN HỌC MIỀN NAM

Logo bay gio ke

Vien Linh 1VÀI GHI CHÉP VỀ

VĂN HỌC MIỀN NAM

– Viên Linh

Tuần lễ đầu Tháng Chạp một văn hữu đang chủ trương một tờ báo ảo trên mạng www (world wide web) ghé thăm tòa soạn tờ báo người viết này đang làm việc, nói vài ba chuyện văn nghệ, trong đó có văn học nghệ thuật miền Nam. Chúng tôi không nói nhất định về một điều gì, một vấn đề gì, nói cả về người sống lẫn kẻ đã ra đi, kẻ còn người mất.

Có lúc anh nhắc đến báo này báo nọ của miền Nam, có lúc anh hỏi miền Nam có bao nhiêu tờ báo, hải ngoại có bao nhiêu tờ, 10 Sach Z28 - 7Sài Gòn còn bao nhiêu nhà văn lớp trước, Little Saigon có được bao người cũ nay còn hiện diện. Khi anh hỏi liệu miền Nam có mấy chục tờ báo, tôi bào hàng trăm.

Khi anh hỏi trên khắp Âu Mỹ có bao nhà văn ta đang sống lưu vong, tôi bảo vài ba chục người. Anh lắc đầu, giơ bàn tay ra đếm. Anh chỉ đếm được không quá bốn người. Anh bạn tôi không phải dân ở thủ đô tị nạn, anh là người ở Minnesota cả hai ba chục năm nay. Anh Trần Văn Phê chợt nói anh có bà xã ngồi ngoài xe, tôi bảo anh cứ về đi, tôi sẽ cố ghi xuống giấy cho anh tên các tờ báo, tên mấy chục nhà văn rồi sẽ gửi cho anh. Anh về rồi tôi nghĩ có khi đó là một ý nghĩ hay, nên phổ biến rộng ra, biết đâu nhờ đó mà các sinh viên sau này để ý tìm tòi, rồi viết được một điều gì đó về báo chí cũng nên.

Tên những tờ báo ở miền Nam

Tên những tờ báo, đôi khi cũng là tên những nhà xuất bản của miền Nam trước đây:

A- Á Châu, An Tiêm, Ánh Sáng, Âu Cơ.

B-Bách Khoa, Bình Minh, Báo Đen, Buổi Sáng, Bốn Phương, Bút Thép.

C- Chân Trời Mới, Chiến Sĩ Cộng Hòa, Chỉ Đạo, Chính Luận, Chiêu Dương, Chính Văn, Công Báo VNCH, Công Luận, Cười, Con Ong, Chọn Lọc.

D- Da Vàng, Dân, Dân Chủ, Dân Đen, Dân Ta, Dân Tiến, Dân Chúng, Dân Ý, Diễn Đàn, Diều Hâu, Duy Tân, Duy Dân, Đa Minh, Đại Học, Đại Đoàn Kết, Đất Đứng, Đất Mới, Đất Sống, Đất Tổ, Đi Và Sống, Điện Ảnh, Điện Tín, Đời Mới, Đông10 Sach bao 2 Phương, Đồng Nai, Đồng Tháp, Độc Lập, Đuốc Nhà Nam, Đường Sáng.

G- Giao Điểm, Gió Mới.

H- Hải Triều Âm, Hành Động, Hiện Đại, Hòa Bình, Hóa Giải [dấu sắc], Hồng, Hồng Lĩnh, Hương Quê, Hoàn Cầu, Huyền Bí, Học Báo.

K- Khởi Hành, Kịch Ảnh , Kỷ Nguyên Mới, Khai Phá.

L- Lá Bối, Lập Trường, Lẽ Sống, Lên Đường, Liên Minh.

M- Màn Ảnh, Mây Hồng, Minh Tinh, Minh Tâm, Mùa Lúa Mới.

N- Ngày Nay, Ngày Mới, Ngôn Luận, Người Dân, Nguồn Sáng, Nhân Loại, Nhân Chủ,

P- Phổ Thông, Phụ Nữ Diễn Đàn, Phụ Nữ Đẹp, Phụ Nữ Tân Tiến, Phương Đông.

Q- Quan Điểm, Quyết Tiến, Quật Khởi, Quật Cường, Quyền Sống.

R- Rạng Đông.

S- Sài Gòn Mới, Sáng Tạo, Sáng Dội Miền Nam, Sinh Lực, Sóng Thần, Sống, Sống Mới, Sống Đạo.

T- Tân Văn, Tân Phong, Tia Sáng, Tin Mới, Tin Sớm, Tin Văn, Tiến, Tiếng Chuông, Tiếng Vang, Tranh Đấu, Trắng Đen, Thách Đố, Thanh Niên, Thẳng Tiến, Thân Dân, Thần Chung, Thế Kỷ 20, Thi Ca, Thời Đại, Thời Luận, Thời Tập , Thời Báo, Thủ Đô, Tìm Hiểu, Tiểu Thuyết Thứ Năm, Trình Bày, Trinh Thám, Trời Nam, Tự Do, Tư Tưởng.

10 Sach bao 1V- Vạn Hạnh, Văn, Văn Hóa Tập San, Văn Hóa Ngày Nay, Văn Mới, Văn Nghệ, Văn Nghệ Tập San, Văn Nghệ Mới, Văn Học, Văn Hữu, Văn Hữu Á Châu, Văn Nghệ Học Sinh, Văn Nghệ Tiền Phong, Văn Nghệ Tự Do, Văn Xã, Văn Chương, Vấn Đề, Vận Hội Mới, Vui Sống.

X- Xây Dựng,

Y- Ý Thức, Yêu, Yiễm Yiễm Thư Trang.

Các nhà văn nhà thơ dịch giả miền Nam ở hải ngoại

Nói chung là các cây bút từng có tiếng trước 1975, đang còn sống và viết tại hải ngoại, kể cả Ân Châu, Bắc Mỹ qua miền Nam và miền Tây Hoa Kỳ :

Trần Thiện Đạo, Thái Văn Kiểm (có thể đã về Huế), Hồ Trường An, Kiệt Tấn, Đỗ Khánh Hoan, Vi Khuê, Tuyết Linh, Uyên Thao, Nguyễn Hữu Hiệu, Mặc Đỗ, Đặng Phùng Quân, Tô Thùy Yên, Cung Trầm Tưởng, Thạch Chương, Túy Hồng, Hà Huyền Chi, Nhất Tuấn, Ký Giả Lô Răng Phan Lạc Phúc, Phan Lạc Tiếp, Nguyễn Văn Sâm, Diên Nghị, Duy Thanh, Nhật Tiến, Viên Linh, Đỗ Tiến Đức, Trần Văn Nam, Nguyên Vũ, Phan Nhật Nam, Doãn Quốc Sỹ, Cao Thế Dung, …

Một nền văn học của những người vắng mặt

Vài ý nghĩ của người viết bài này. Văn Học Việt Nam Hải Ngoại trong những năm đầu tiên, sau khi miền Nam sụp đổ, là Một Nền Văn Học của Những Người Vắng Mặt. Sách truyện được bày bán trên các quầy sách báo trong các tiệm thực phẩm Á Đông, hay trong một số tiệm sách kiêm tiệm băng nhạc Việt ngữ ở Bắc Mỹ và Âu Châu hồi ấy, 10 Sach bao 3và cả sau này, hầu hết là sách truyện được viết từ trước 1975, khi tác giả và độc giả còn cùng sống trên một lãnh thổ.

Sau 30.4 họ ở trong tù. Và tác phẩm của những tác giả ấy đi theo độc giả ra khỏi nước, được sao chép phổ biến lại, còn họ thì vắng mặt. Một số ít những người viết có mặt cùng độc giả của mình, trong cộng đồng lưu vong, đã không thể có những tác phẩm mới trong những năm đầu. Đa số hiện diện qua những cuốn sách cũ – chuyện trò với độc giả bằng tác phẩm và tâm tư cũ; mà tác phẩm cũ không thể làm nên hiện diện mới – do đó họ cũng chẳng khác gì những người vắng mặt. Văn học hải ngoại cuối thế kỷ XX là nền văn học của những người vắng mặt.

10 Sach bao 4

Viên Linh

10 Sach bao 5

– Dường như còn thiếu … chẳng hạn Trần Dạ Từ, Nhã Ca, Hoàng Hải Thuỷ, Nguyễn Xuân Hoàng …

– Kính anh Viên Linh, Xin bổ túc phần văn nhân: Ông Thái Văn Kiểm (nay rất yếu, không còn nhận ra ai cả) hiện đang dưỡng bịnh tại nhà riêng trong vùng Phú Mỹ Hưng Sài Gòn. Tôi có ghé nhà thăm hồi tháng 12 năm 2013 và hầu chuyện với bác gái.  Hồi xưa lúc còn ngụ tại OKC tôi đã gặp chị Minh Đức Hoài Trinh không rõ nay ở đâu trên đất Mỹ này. Linh Bảo thì hình như còn ở Pháp. À thêm Hòang Hải Thủy nữa. Kính thư (D.V. Hoàng – Las Vegas 12/11/2014)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

10 Ho Diep 1NHỚ : NỮ SĨ NGÂM THƠ

HỒ ĐIỆP

Hồ Điệp tên thật Nguyễn Thị Nhu, sinh năm 1930 tại Sơn Tây, chồng tên Chu Văn Khuê. Có 5 người con : 2 trai: Nguyễn Năng Tiến, Nguyễn Quốc Quân và 3 gái : Nguyễn Thu Hương, Nguyễn Phương Liên (hải ngoại) và (?).

Về giọng ngâm nữ thoạt đầu có giọng ngọt ngào của Giáng Hương, nhưng người sành điệu nhớ mãi giọng ngâm đổ hột đặc sắc của Đàm Mộng Hoàn, tiếng tăm vang lừng ở Khâm Thiên thời tiền chiến trong “Tỳ Bà Hành”. Hồ Điệp giọng ngâm nữ nhiều năm làm thổn thức trái tim thính giả trong thơ của T.T.Kh đầy nức nở. Sau có một giọng nữ như sương như khói làm khởi sắc những vần ca dao và các bài huyền sử. Đó giọng ngâm của ca sĩ Hoàng Oanh.

Trong những nữ nghệ sĩ ngâm thơ trước năm 1975, Hồ Điệp nổi tiếng nhất, có giọng ngâm tuyệt vời, xuất sắc trong mọi thể loại. Tuy nhiên, Hồ Điệp lại bất hạnh nghiệt ngã nhất sau năm 1975, mất tích trong rừng trên đường vượt biên bằng đường bộ qua ngả Campuchia năm 1987.

Trên tờ Người Việt Boston, Hoàng Hạc viết : “Một người tỵ nạn Việt Nam làm việc cho cơ quan Hồng Thập Tự tại trại tỵ nạn đường bộ Thái Lan đã kể trong bài tự thuật Cánh Bướm Bên Trời : “Chúng tôi nhận được một lá thư nhờ theo dõi giùm tin tức của một người thân đã rời Sài Gòn năm 1987. Thư cũng cho biết nhóm này gồm có 11 người: 5 nam và 6 nữ. Thư cũng nói trong nhóm có Hồ Điệp… 10 Ho Diep 3Ngày tháng trôi đi, thư từ Mỹ qua vẫn tiếp tục hỏi về đoàn người đó và xác nhận chưa thấy họ quay về Việt Nam, như vậy có nghĩa Cánh Bướm [Hồ Điệp] đã tan tác, vì không một ai có thể ở trong rừng sâu suốt 6 tháng mà sống sót được.”

Các con của Hồ Điệp hiện ở Hoa Kỳ, trong số họ có Tiến sĩ Toán học Nguyễn Quốc Quân, một nhà đấu tranh dân chủ bất bạo động,

Giọng ngâm của Hồ Điệp trong trẻo, sắc sảo, ảnh hưởng nhiều điệu cổ nhạc miền Bắc, cao sang, yểu điệu và cổ kính. Hồ Điệp phát chuỗi ngân từ khẩu cái, mà không ở cổ họng, nên người nghe có cảm giác như Hồ Điệp kết lại từng hạt cườm nhỏ li ti. Cách ngâm của Hồ Điệp còn pha điệu lẩy Kiều, Sa Mạc, Bồng Mạc, và cho dù bất cứ lối ngâm nào Hồ Điệp đều sành sỏi, quyến rũ. Đặc biệt bài Chiêu Hồn Thập Loại Chúng Sinh của Nguyễn Du, Hồ Điệp ngâm thật xuất sắc, khó ai có thể vượt qua, nghe như rờn rợn tóc gáy, giọng ngâm ma quái, lánh lót. Vì thế mỗi kỳ lễ Vu Lan, ban Tao Đàn thường mời Hồ Điệp ngâm bài này.

Cho nên nhiều người lầm lẫn cô đầu với nghệ sĩ ca trù, đã có thời vì thế ca trù bị quên lãng, người ca bị nhìn sai lệch. Nữ nghệ sĩ Hồ Ðiệp là bạn quí của những tài danh như Vũ Hoàng Chương, Ðinh Hùng, Hà Thượng Nhân, Cao Tiêu.

10 Ho Diep 2Bà tên thật là Nguyễn Thị Tý, tự là Nhu, sinh ngày 5 tháng 5 năm Canh Ngọ tức ngày 1 tháng 6, 1930 trong một gia đình nghệ sĩ tại làng Hiệp Lộc, tỉnh Sơn Tây. Gia đình bà nhiều người là các nghệ sĩ chầu Văn, ca ngâm tại các đền chùa, hội hè ở Phủ Giầy, đền Hai Bà, đền Ðức Thánh Trần ở ngoài Bắc.

Theo một bài viết của Vĩnh Tường đăng trên Khởi Hành, Hồ Ðiệp mất vào năm 1987, nhưng theo một bài viết của nữ sĩ Hoàng Hương Trang, có khác. “Di ảnh của Hồ Ðiệp hiện thấy được thờ ở chùa An Lạc, đường Phạm Ngũ Lão quận nhất thành phố Sài Gòn, trên di ảnh đề ngày mất 15 tháng 5 Mậu Thìn (1988). Có lẽ đó chỉ là ngày ra đi của Hồ Ðiệp chứ không phải là ngày mất thật sự.” (Hoàng Hương Trang, Nhớ Nghệ Sĩ Ngâm Thơ Hồ Ðiệp). Vẫn theo nhà thơ nữ thì Hồ Ðiệp được thờ ở đây là do lòng hâm mộ của một thính giả, một người say mê giọng ngâm của bà ở Sài Gòn. Một nhà thơ, tiến sĩ ngữ học Ðại Học Prague, Tiệp Khắc, mệnh danh Hồ Ðiệp là Nữ Hoàng Thanh Sắc với hai câu thơ:

Thanh, sắc vọng mãi Ðất Trời

Nghìn thu cánh bướm vỗ hoài Hồn Thơ.

(Nguyễn Phan Cảnh, Dự báo Bùng nổ Thi Ca)

“Theo cô Thái Hằng [bà vợ Phạm Duy], thì khi còn nhỏ Hồ Ðiệp là một cô bé rất xinh đẹp. Thái Hằng và Hồ Ðiệp có cùng một ông ngoại. Hồ Ðiệp lớn lên ở quê ngoại, còn Thái Hằng theo bố mẹ ra Hà Nội. Mỗi lần Thái Hằng về quê, Hồ Ðiệp chạy thật nhanh từ cổng nhà lên đến tận bờ đê đón các anh các chị với quà Hà Nội… 10 Ho Diep 4Hồ Ðiệp có giọng cười trong như một dòng suối tinh khiết và đôi mắt rất đẹp, ngày đó chưa u ẩn và chưa buồn viễn xứ.”

Sau 1954 tại Sài Gòn, “Thỉnh thoảng, Hồ Ðiệp hay ra sân quét vạt sân rụng đầy lá trứng cá. Cô hay mặc quần satin tuyết nhung, áo phin trắng nõn, gấu và cổ tay có thêu rua. Buổi tối đi hát, cô hay đeo kiềng vàng, mặc áo nhung đen rưng rức trơn một màu, không thêu, không vẽ. Cô choàng tấm khăn san mỏng, chân mang hài cong. Cô trang điểm rất ít, tóc bới cao hay quấn khăn vành dây. Cử chỉ cô cực kỳ khiêm cung, nhỏ nhẹ. Cô có cái đẹp cổ kính của một thục nữ cõi Bắc Hà.” […] Theo lời bà Hồ Liễu (nữ đại tá QLVNCH), sau 1975 Hồ Ðiệp từ chối trình diễn, chỉ nhận lời ngâm thơ tại các chùa, hay tại nhà bạn hữu…

Như báo chí lâu nay vẫn loan tin, nữ nghệ sĩ Hồ Ðiệp vượt biên bằng đường bộ, và từ đó bặt vô âm tín. Không một nhân chứng nào xuất hiện, để thuật lại những gì đã xảy ra cho nữ nghệ sĩ; khác với trường hợp danh hài Khả Năng.

Nghệ sĩ Khả Năng cũng vượt biên đường bộ, và một nhân chứng là nhà thơ Trần Bát Nhã, sau này là chủ tịch Trung Tâm Văn Bút Louisianna, là chứng nhân, đã thuật lại cái chết của anh, bị bắn chết trong cuộc rượt đuổi cạnh biên giới, như bài tường thuật trên cùng tờ báo.

Mai Trung Tín chuyển tiếp

9 Ng Thi hoang 2VÀI NÉT VỀ

NGUYN THỊ HOÀNG

– Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Nguyễn Thị Hoàng (sinh 1939) là một nhà văn, nhà thơ nữ Việt Nam. Bà sinh ngày 11/12/1939 tại Huế. Năm 1957, bà chuyển vào sinh sống ở Nha Trang rồi đến năm 1960 bà vào Sài Gòn học Đại học Văn khoa và Luật nhưng bà bỏ ngang, không học hết mà lên Đà Lạt dạy học.

Đến năm 1966, bà chuyển sang chuyên tâm viết tiểu thuyết. Cùng với văn xuôi, Nguyễn Thị Hoàng còn tham gia sáng tác thơ và từ đó bà trở thành một người nổi tiếng trong giới văn nghệ chuyên viết về những mâu thuẫn nội tại của giới trẻ Sài Gòn trong suốt thập niên 1960. Theo Phạm Chu Sa, Nguyễn Thị Hoàng là một trong những nhà văn nữ tài năng thật sự và tên tuổi đã được khẳng định ở miền Nam trước 1975. Bà có những tiểu thuyết với giọng văn trau chuốt bóng bẩy và là một trong vài tác giả có sách bán chạy nhất thời đó

Sau sự kiện 30/4/75, bà hầu như biến mất khỏi giới nghệ thuật và sống một cuộc sống yên lặng đến tận 1990, khi bà cho ra đời Nhật ký của im lặng. Vào năm 2007, bà lại xuất hiện qua một tùy bút nhan đề “Nghĩ từ thơ Thái Kim Lan” được đăng trên Tạp chí Văn hoá Phật giáo (số xuân Mậu Tí, 12/2007).

Tác phẩm văn xuôi : Tác phẩm đầu tay của bà có nhan đề Vòng tay học trò được dưới bút danh Hoàng Đông Phương. Đây là một tiểu thuyết hiện sinh mô tả vấn đề tình yêu, tình dục giữa một cô giáo tên Tôn Nữ Quỳnh Trâm và học trò Nguyễn Duy Minh được đăng dưới hình thức nhiều kỳ trên tạp chí Bách Khoa. 9 Ng Thi hoang 6Tác phẩm trở thành một trong những tác phẩm gây tranh cãi nhất thời kỳ này, và về sau được tái bản nhiều lần.

Ngoài “Vòng tay học trò” (1966), Nguyễn Thị Hoàng còn sáng tác nhiều tác phẩm khác. Một số tác phẩm khác :

Trên thiên đường ký ức (1967) – Tuổi Saigon (1967) – Vào nơi gió cát (1967) – Cho những mùa xuân phai (1968) – Mảnh trời cuối cùng (1968) – Ngày qua bóng tối (1968) – Về trong sương mù (1968) – Ðất hứa (1969) – Một ngày rồi thôi (1969) – Vực nước mắt (1969) – Tiếng chuông gọi người tình trở về (1969) – Vết sương trên ghế hồng (1970)

Các tập thơ: Sầu riêng (1960)Kiếp đam mê (1961) (theo Wikipedia)

VỀ NHÀ VĂN NGUYỄN THỊ HOÀNG

VÀ TIỂU THUYẾT “VÒNG TAY HỌC TRÒ”

Tr Ang Son– Trần Áng Sơn

Trong số những nhà văn nữ  ở miền Nam, trước 1975 –  Nguyễn Thị Hoàng là nhà văn nữ có sức sáng tác sung mãn nhất, bà viết rất đều tay, văn phong riêng biệt,  thắm đẫm cảm xúc. Văn thật như chính cuộc sống của nhà văn…

Người theo dõi ngòi bút của bà, đều cảm nhận Nguyễn Thị Hoàng có hoài bão lớn, và để thực hiện, tôi có cảm giác nhà xuất bản Hoàng Đông Phương, bước đi đầu tiên  đặt nền tảng cho một sự nghiệp, mà tác giả có khát vọng trở thành nữ tiểu thuyết gia hàng đầu Mỹ, Pearl Buck.

Tôi viết những dòng này, thời điểm – trong tay – không có 1 tác phẩm nào, như một tài liệu, để gọi  nói có sách, mách có chứng.  Nhưng, vì quá yêu ngòi bút của bà, khởi đi từ chi tiết rất xa xăm – bài thơ Lạ rứa ! – do 1 người bạn ở Huế chép tặng 1957 – tôi thực hiện cuộc trở về trong sương mù, viết bằng ký ức, cảm xúc. Cũng rất có thể, tôi bị lạc lối, nhưng tấm lòng dành cho bài thơ Lạ rứa ! vẫn như xưa.

Từ 1967 đến 1970, bà đã xuất bản được 16 tác phẩm , 2 tái bản, quả là con số kỷ lục, khó 1 nhà văn nào dám ước mơ theo kịp ! Nói một cách khiên cưỡng, liệu có thể ví bà với nhà văn Lê Văn Trương, nhà văn độc nhất vô nhị, số tác phẩm lên tới con số 200 trong 59 năm hiện hữu ở cõi tạm, Lê Văn Trương để lại cho đới 125 tác  phẩm trong số 200 cuốn. Ông là một hiện tượng, có lẽ còn lâu lắm mới có người thứ 2 theo kịp.

Trở về Nguyễn Thị Hoàng, đó là  tên thật , bút hiệu khác Hoàng Đông Phương, nữ sinh Trung học nữ Đồng Khánh (Huế) sinh viên năm thứ 2 Đại học Luật, Văn khoa  Saigon. Bà từng là giáo sư việt văn (trung học) ở Đà Lạt. Viết tiểu thuyết từ năm 25, quả tài năng Nguyễn Thị Hoàng, được xem như, một bối cảnh mang dáng dấp tàng kinh các- chỉ cần nhớ lại bài thơ Lạ rứa! đã là 1 chứng minh  có tài năng,  khi cỏn ngồi trên ghế nhà trường.

Tôi nghĩ, Nguyễn Thị Hoàng có thể tự nhủ như thế, khi đặt tay  lên tác phẩm, cảm thấy chữ nghĩa trong từng trang sách đang ngỏ lời tri  ân đối với người đã viết ra , tạo cho chúng cuộc sống vĩnh cửu. Đó là phút giao cảm giữa tác giả và tác phẩm.

9 Ng Thi hoang 3Là nhà văn, nhà thơ, nếu chưa được những giây phút ấy,  thì kể ra là điều đáng tiếc, và nên xem lại, mình đã tạo ra những đứa con tinh thần ấy trong khung cảnh nào ? …

Hình như, tôi vừa mộng du trên trang giấy, đi tìm một Nguyễn Thị Hoàng của ngày xửa, ngày xưa.

Sau 1975, tôi gặp  một Nguyễn Thị Hoàng hơi hơi khác, thậm chí, có lúc tự hỏi, phải chăng đây còn là Nguyễn Thị Hoàng – Hòang Đông Phương ? Trước mặt tôi, là 1 người đàn bà có dáng dấp sang trọng, sành điệu, có đôi nét như mệnh  phụ, phu nhân ? Một Nguyễn Thị Hoàng như thế, thì thật khó gần, và cho đến bây giờ, tuy gặp vài lần, nhưng tựa hồ chẳng hề quen ! Cái cảm giác gìn giữ, khi đọc bài thơ Lạ rứa ! Hình như nó đang luồn lách xa khỏi tiềm thức của tôi. Tôi nhớ có 1 lần, khi  Euro 1982 vừa kết thúc, bình luận về đá banh (lúc ấy chưa dùng từ bóng đá) là mốt – người ta  nói về đá bóng ở bất cứ nơi nào, dễ dàng đi đến chỗ dễ đồng cảm. … tôi nghĩ về Nguyễn Thị Hoàng từa tựa là một trong số ấy !

Tôi gặp bà ở Câu lạc bộ, khi đang ngồi cùng Phong Sơn, trên bàn có bia hơi. Phong Sơn rủ tôi cùng ngồi chung bàn và giới thiệu Nguyễn Thị Hoàng. Trước tôi, khi ấy, Nguyễn Thị Hoàng, với cách trang phục, như cố níu kéo thời gian chậm lại. Bà nói chuyện say sưa về bóng đá, về đội tuyển Pháp, sau khi đoạt chức vô địch Euro 82, nói về thủ môn  J.Bat (…) .

Ngồi đối diện với Nguyễn Thị Hoàng, nghe say sưa nói chuyện bóng đá, ngắm nhìn gương mặt, tôi chợt liên tưởng đến nét quí phái, đài các trong gia đình cự phú. Bỗng dưng, tôi cảm thấy có 1 khoảng cách so với Nguyễn Thị Hoàng …! Tr Blogger 2Người phụ nữ đắm say trong thế giới hình tượng Vòng tay học trò đâu rồi ?! …

Mấy năm sau, cánh cửa văn học hé mở, không khí văn chương nhộn nhịp hẳn lên. Tôi cặm cụi viết, bù lại thời gian đã mất. Nguyễn Thị Hoàng cũng hoàn thành tác phẩm NHẬT KÝ,với độ dày 5, 6 trăm trang?  Nguyễn Thị Hoàng  rất tự tin thành công, như từng thành công trong quá khứ.

Và, NHẬT KÝ đã nhận lãnh ngay hậu quả của chủ quan thô thiển. Nguyên nhân thì nhiều, lịch sử luôn luôn là bài học bổ ích, một bậc thầy luôn luôn công bình, nghiêm khắc !

Lâu rồi, không gặp lại Nguyễn Thị Hoàng. Gần đây, tôi ghé thăm Phong Sơn, lại được nghe anh nhắc tới người đàn bà  đẹp, theo cách gọi riêng tôi. Mới đây thôi, Nguyễn Đạt cho tôi xem  chân dung ảnh Nguyễn Thị Hoàng chụp chung với  Nguyễn Thị Thụy  Vũ… và dĩ nhiên có cả Nguyễn Đạt – tôi mừng, vì nhận thấy trong ảnh, vẫn còn một Nguyễn Thị Hoàng như thuở nào –  nhưng duyên bút nghiên đã lạt phai. Đúng, biết  lẽ nào bỗng dưng tôi thở dài rồi ! (theo Trần Áng Sơn)

Quế Phượng chuyển tiếp

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: