‘LÃO BÀ BÀ” LẠI TRỞ VỀ !

Logo chem gio

‘LÃO BÀ BÀ” LẠI TRỞ VỀ !

Các báo giấy và báo mạng ở VN vừa qua đồng loạt loan tin, “lảo bà bà” 70 cái xuân xanh lại trở về Hà Nội với đêm diễn lần thứ hai, mà lần trước ra về không kèn không trống, sau đó sẽ bay vào Đà Nẵng trình diển lần đầu tiên nơi phố biển.

Khanh LyMấy tên ký giả cà phê, ký giả lá cải được bầu show tặng phong bao nên hí ha hí hửng chụp hình “đôi uyên ương” kẻ bỏ vợ người bỏ chồng” qua Mỹ viết lách và hát hò. Mấy tên “nô tì ô-sa-ra” này còn nổ là ngoài Hà Nội và Đà Nẵng, bà già sẽ hát… hỏng thêm một show ở Sài Gòn.

Mấy tên “nô tì” loại “hậu sanh khả ố” này đâu biết rằng, dân Sài Gòn đã “cạch” mặt lão bà bà này, vì ai cũng biết lão bà 70 đâu còn hơi hám để hát với hò. Sở dĩ lão bà hát ở Hà Nội và Đà Nẵng, do 2 nơi đây nhiều dân trưởng giả mới muốn học làm sang, bỏ ra mấy chai mua vé vào cửa, để tỏ ra mình là người am hiểu âm nhạc… hiểu cách nghe nhạc nhép qua playback… ha ha ha !!!

Khanh Ly 2SỰ THẬT VỀ KHÁNH LY

Nghe tin “lão bà bà” đã 70 cái xuân xanh, mới vừa được con cái cho ăn lễ thượng thọ “thất thập cổ lai hi”, nếu tính ra đến nay đã gần đúng 5 tháng (6 tháng 3 năm 1945), đang ở Sài Gòn, sửa soạn ra Hà Nội hát hỏng rồi vào Đà Nẵng hét hò.

Rồi Hiệp Sĩ Mù nhớ đến một bài viết có tựa Con Quạ Đen Và Bồ Câu Trắng: Khánh Ly và Gloria Estefán của Lê Thy trên mạng.

Do con Bồ Câu Trắng Gloria Estefán chẳng dính gì, nên Hiệp Sĩ Mù không trích ra đây, chỉ trích đoạn nói về Con Quạ Đen, vì khoái 2 câu : “Nữ hoàng xù show” “Ca sĩ nâng giá”. Vậy xin trích lại cho bà con được hiểu thêm. Dưới đây là bài trích về việc CON QUẠ ĐEN KHÁNH LY “nhổ ra liếm lại” (trích từ : Khánh Ly – Một đời tiến thoái lưỡng nan... của Bích Châu) :

Một cô bé mồ côi cha sống trong sự hà khắc của mẹ và bố dượng, cô bé đầy cá tính đã thoát ra khỏi nhà và sống tự lập bằng tiếng hát từ năm 16 tuổi. 17 tuổi đã lỡ lầm mang thai và lấy chồng, một người cô không hề yêu. Nhiều mối tình qua với 3 đời chồng 4 đứa con. Năm 1975, vượt biên sang Mỹ, những ngày đầu phải đi lau chùi nhà vệ sinh để có tiền nuôi con… Một cuộc đời lắm gian nan, dông bão…

Khánh Ly từng thú nhận mình chỉ học đến tiểu học, nhưng đi thi cũng rớt nên cuối cùng chẳng có bằng cấp gì trong tay, nhưng khi đọc những bài viết (?) của KL không ai nghĩ chị học không qua nổi lớp 6. Chị viết (?) hay, văn chương sáng rõ, nhất là những trang tự sự về cuộc đời mình.

Nhưng văn chương và đời thật nhiều lúc không hề song hành với nhau. Mặc dù cổ nhân vẫn khẳng định “Văn là người”, nhưng trên thực tế không hẳn như thế, nhiều nhà văn người đọc chỉ có thể ngưỡng mộ trên những trang viết, 6 Khanh Ly 2còn cuộc đời thật thì khó thể đến gần. Có lẽ người ta đã dồn tất cả tinh hoa của con người mình lên trang viết, bởi đó là ánh sáng hướng thiện, nhưng sống cho đúng với những điều mình viết ra thì không dễ chút nào. Có lẽ đó cũng là trường hợp của Khánh Ly.

Khi viết chị thật sự muốn sống tình nghĩa, muốn được tôn trọng, muốn trở thành một con người có nhân cách. Nhưng với cuộc đời thật nơi hải ngoại thì chị nổi tiếng là người tráo trở.

Nhiều thông tin từ báo chí, từ những lời chua chát của một số đồng nghiệp của chị ở hải ngoại cho thấy giữa Khánh Ly và những trang viết “Bên đời hiu quạnh” của chị gần như là hai con người biệt lập. Bởi vì ở hải ngoại Khánh Ly nổi tiếng với hai biệt hiệu khá phổ biến : “Nữ hoàng xù show” “Ca sĩ nâng giá”. Cụ thể:

“Năm 2002, một bà bầu show tên Nga tổ chức show tại Majestic, đã nhờ ông Duy Thanh mời Khánh Ly và Khánh Ly đồng ý với giá lên 3.000 USD. Nhưng 10 ngày trước show diễn Khánh Ly nói với Duy Thanh nâng giá lên 5.000USD(?)”.

“Ngay cả với Trầm Tử Thiêng, cho đến phút cuối, theo di chúc của anh, gia đình đã không cho chị đến dự đám tang. Dư luận cho rằng, khi còn tại thế, nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng, người đã môi giới chị với một show diễn bên Phi-Luật-Tân (Philippines – người viết) hát cho đồng bào bị nạn nghe… chị đòi giá là $3.000. Mọi người đồng ý, trước vài hôm lên đường, chị đã đòi tăng giá lên $2.000 nữa. Trầm Tử Thiêng vì giữ thể diện, nên đã móc túi $2.000 trả cho chị. Sau đó Trầm Tử Thiêng không muốn nói chuyện với Khánh Ly nữa”

Tr biemChỉ hai thí dụ cũng thấy rõ nhân cách con người cô ca sĩ nổi tiếng này.

Ai cũng biết khi sang Mỹ, Khánh Ly và chồng là Nguyễn Hoàng Đoan nổi tiếng là người chống cộng hung hăng, chị đi hát có lúc mặc áo dài cờ vàng 3 sọc đỏ và câu nói nổi tiếng : “Tôi chỉ về nước khi không còn chế độ CS.”.

Nhưng năm 1996, Khánh Ly vẫn về Việt Nam và đã phát biểu hoàn toàn ngược lại :“Tôi rất hối hận, tôi muốn trong nước quên đi những lỗi lầm quá khứ của tôi. Tôi chỉ muốn về thăm quê hương như một người bình thường”.

Song khi trở về Mỹ, Khánh Ly lại tiếp tục tham gia vào các chương trình ca nhạc chống cộng. Ngày 4-3-2000, Khánh Ly một mình về Việt Nam lần thứ hai, cũng với mục đích thăm gia đình. Gặp lại những nhà báo từng tiếp xúc, chị lại chữa thẹn : “Dưới sức ép của các phe nhóm, tôi phải hát cho các chương trình của họ. Nếu không sẽ bị coi là không xác định lập trường”.

Khi được hỏi cảm tưởng những ngày ở Việt Nam như thế nào, Khánh Ly trả lời : “Vui lắm, thoải mái lắm, hôm đi ăn với mấy người bạn tại nhà hàng Bạch Dương trên đường Lê Quý Đôn, nhiều người nhận ra tôi, yêu cầu tôi hát, và tôi đã hát liền một lúc 3 bài”

Thế nhưng, ngày 13/1/2004, tại Mỹ, Khánh Ly đã hô hào lập hội “Ái hữu ca nhạc” và kêu gọi tẩy chay nghệ sĩ trong nước ra hải ngoại biểu diễn (?). Chị đã từng viết, bày tỏ thái độ coi khinh nhạc sĩ và ca sĩ trong nước là chỉ có một giọng điệu giống nhau, không thể phân biệt được ai hát, đồng thời hết lời ca ngợi những ca sĩ thuộc thế hệ chị.

9 Khanh Ly 5Nếu đúng như vậy thì việc gì chị phải lo sợ bị quên lãng mà kêu gọi Việt kiều hải ngoại tẩy chay. Và ngày 20/2/2004, tại khách sạn Capital Hilton – Washington D.C, trong một đại nhạc hội mang tên “Xin đừng quên tôi”, với vai trò người dẫn chương trình, Khánh Ly đã dúi vào tay Bằng Kiều lá cờ vàng 3 sọc đỏ, yêu cầu anh tỏ rõ thái độ để được “cộng đồng người Việt chấp nhận cho ở lại Mỹ”.

Một mặt chị bảo chị không về Việt Nam và không muốn hát ở Việt Nam, nhưng chị đã về hai lần. Và năm 2012, khi trong nước cho phép chị về diễn thì chị trả lời phỏng vấn đài BBC là trở về hát ở Việt Nam là niềm mơ ước của chị.

Trước đó chị lên án trong nước không có tự do khi kiểm duyệt bài hát: “Bất cứ ca sĩ nào cũng có quyền hát những nhạc phẩm họ yêu thích theo kiểu của họ. Không nên bắt người khác phải làm theo ý mình hoặc phải nghĩ như mình. Chỉ có Cộng sản mới như thế thôi” , nhưng khi trả lời BBC chị lại nói : “Phải có kiểm duyệt. Lỡ hát những bài người ta không cho phép thì phiền lắm. Nhưng mà nhiều khi tôi nghĩ nó cũng đúng. Mình vào nhà người ta thì chỉ được làm những gì người ta cho phép. Cái điều đó chẳng làm phiền gì mình hết. Tại vì nhiều khi cái mình thích chưa chắc là cái người ta thích”

Trả lời BBC là thế, nhưng sau đó người nhà Khánh Ly đã nói : “Một năm nay, ít nhất có 10 lời mời chính thức từ phía Việt Nam… Tuy nhiên, chúng tôi từ chối mọi lời mời rất hấp dẫn này. Vì chúng tôi không thể làm ngược lại những gì Khánh Ly đã từng tuyên bố trước đây”.

Thực ra, tất cả mọi sự bất nhất này chính là bi kịch của Khánh Ly, một bi kịch mà chị đã tự tạo ra mà không có cách nào thoát ra được. Ngay từ những ngày đầu ở Mỹ, chị đã chứng tỏ mình vượt hơn những ca sĩ khác trong phong trào chống cộng tại hải ngoại. Và chị đã thực sự nổi bật so với những ca sĩ thầm lặng khác. SG Hiep si muChị viện mọi lý do để biện minh cho những việc làm, những lời tuyên bố của mình, “nhổ đó lại liếm đó”.

Vì vậy, báo chí trong nước gọi chị là con người tráo trở cũng rất đúng. Ngay cả biệt danh ca sĩ nâng giá, xù sô ở nước ngoài cũng nằm trong hệ lụy này. (Hết trích )

Còn theo Hiệp Sĩ Mù, bởi ở Hoa Kỳ ai cũng đã chào thua “lão bà bà”, vừa già vừa hết thời, nay chỉ có thằng bầu show trong nước hám cái danh… thiu ấy, chịu đấm ăn xôi chịu bỏ tiền mời “lão bà bà” về hát… hỏng, cho mọi người thấy ta là đại gia trong làng showbiz, dám bỏ tiền tổ chức show, nhưng rồi đây cũng chẳng có ai khen ! Ô hô !!!

Hiệp Sĩ Mù (chém gió)

Logo vannghe A

9 Tr Van KheMẠN ĐÀM ÂM NHẠC

TRONG TRUYỆN KIỀU

– GS.Trần Văn Khê

Có lẽ ít tác phẩm nào trong kho tàng văn chương của đất nước mà âm nhạc được nhắc đến nhiều như Truyện Kiều của Nguyễn Du. Nhân những ngày nhàn nhã đầu Xuân, chúng ta thử mạn đàm đôi điều về âm nhạc trong tác phẩm bất hủ này, tìm hiểu xem Thúy Kiều sử dụng loại đàn gì; đã đàn bao nhiêu lần, cho ai nghe, trong các dịp nào; và đã đàn những bản gì?

Có thể nói hầu hết các ấn bản Truyện Kiều của chúng ta đều vẽ hình Thúy Kiều ngồi ôm cây tỳ bà có thân đàn hình bầu dục. Theo tôi thì điều này không chính xác bởi lời thơ đã ghi rõ : “Trên hiên treo sẵn cầm trăng”, mà cầm trăng là nguyệt cầm, loại đàn có thùng hình tròn như mặt trăng. Có người lại cho rằng Kiều sử dụng đàn nguyệt, nhưng đàn nguyệt chỉ có hai dây trong khi đàn của Kiều có bốn dây to nhỏ nên vần cung thương.

9 Kieu 2Một điều khẳng định là Thúy Kiều đã sử dụng một loại hồ cầm : “Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương”. Thông thường chữ hồ cầm – nghĩa là đàn của rợ Hồ – dùng để chỉ cây đàn nhị. Nhưng xem trong sách Thích Danh và tự điển Từ Nguyên – Từ Hải của Trung Hoa thì hồ cầm không chỉ là tên gọi đàn nhị mà cả đàn tỳ bà nữa. Truy tìm “tỳ bà loại” trong các sách cổ Trung Hoa mới biết nước này có đến 3 loại là Tứ huyền tỳ bà (Việt Nam sử dụng loại này, có 4 dây và thân đàn hình bầu dục), Ngũ huyền tỳ bà (tỳ bà có 5 dây) và Nguyễn tỳ bà hay còn gọi là Nguyễn cầm (lấy theo họ của người sáng chế ra nó là Nguyễn Hàm sống vào đời Tấn). Đàn Nguyễn cầm có thùng tròn với 4 dây, hiện nay gần như đã thất truyền bên Trung Quốc (bản thân tôi may mắn được tận mắt chiêm ngưỡng một cây Nguyễn cầm đang được tàng trữ tại Bảo tàng viện Shosoin ở Nara của Nhật Bản).

Ngoài ra, khi đọc kỹ những áng văn của cụ Nguyễn Du, tôi lại tìm thấy một bài viết bằng chữ Hán kể chuyện về một danh cầm ở làng Long Thành, trong đó có câu : “Long Thành cầm giã ca (Người ca nhi chuyên nghề đàn hát ở làng Long Thành). // Độc thiện Nguyễn cầm (Sử dụng tài tình cây đàn Nguyễn cầm)”.

Từ đó có thể suy ra Nguyễn Du rất tâm đắc với cây đàn Nguyễn cầm (có lẽ vì nó mang họ Nguyễn, cũng là một họ của Việt Nam) nên đã đặt nó vào tay cả người ca nhi làng Long Thành lẫn nàng Kiều trong các tác phẩm của mình.

Tóm lại, nếu cây đàn của Thúy Kiều có tên gọi là hồ cầm, thùng đàn tròn như mặt 9 Kieu 1trăng với bốn dây thì không đàn nào hội đủ ba yếu tố ấy ngoài cây Nguyễn cầm.

Phím đàn dìu dặt tay tiên bao lần ?

Trong Truyện Kiều, kể cả những lần tác giả chỉ nói phớt qua, Thúy Kiều đã đánh lên tiếng đàn nỉ non thánh thót dễ say lòng người tất cả 8 lần :

Lần thứ nhứt, nàng khảy đàn cho Kim Trọng nghe, khi chàng vừa tán dương vừa đề nghị :

“Rằng nghe nổi tiếng cầm đài,

Nước non luống những lắng tai Chung Kỳ”.

Lần thứ nhì, Mã Giám sinh lúc đến xem mặt Kiều đã buộc nàng đàn cho mình nghe cũng như thử tài làm thơ khi yêu cầu nàng đề vịnh cây quạt : “Ép cung cầm nguyệt, thử bài quạt thơ”.

Lần thứ ba là lúc ở lầu xanh, Kiều phải đàn mỗi khi tiếp khách làng chơi : “Cung cầm trong nguyệt, nước cờ dưới hoa”.

Lần thứ tư cũng ở lầu xanh, Thúy Kiều họa đàn với Thúc Sinh khi tình cảm hai người đã đằm thắm thiết tha : “Bàn vây điểm nước, đường tơ họa đàn”.

Lần thứ năm, Thúy Kiều bị Hoạn Thư bắt về làm con hầu và sai nàng đàn cho mình nghe :

“Trúc tơ hỏi đến nghề chơi mọi ngày,

Lĩnh lời nàng mới lựa dây…”.

Lần thứ sáu là trong cuộc hội ngộ tay ba lúc Thúc Sinh trở về nhà. Hoạn Thư sau khi hành hạ Thúy Kiều bắt quì tận mặt, bắt mời tận tay, lại còn ra lệnh cho nàn g: “Bản đàn thử dạo một bài chàng nghe”.

Lần thứ bảy, Hồ Tôn Hiến sau khi phục binh giết được Từ Hải thì mở tiệc mừng chiến thắng và ép Thúy Kiều gảy đàn giúp vui trong buổi tiệc : “Dở say lại ép cung đàn nhặt tâu”.

9 Kieu 4Lần thứ tám Thúy Kiều đàn cho Kim Trọng nghe lúc hai bên tái ngộ đoàn viên :

“Phím đàn dìu dặt tay tiên,

Khói trầm cao thấp tiếng huyền gần xa”.

Xem qua cả tám lần ấy, chúng ta thấy tuy nổi tiếng cầm đài nhưng quả thật Thúy Kiều chưa lần nào đàn một cách tự nguyện.

Đối với Từ Hải, bậc trượng phu vừa là chồng vừa là người ơn đã giúp Kiều trả ân báo oán, thế mà nàng lại chưa một lần đàn cho chàng nghe !

 Khúc đàn bạc mệnh lại càng não nhân :

Bản nhạc đầu tiên được nhắc đến trong Truyện Kiều chính là khúc đàn do Thúy Kiều soạn ra mang tên Bạc mệnh làm cho người nghe phải sầu não trong lòng:

“Khúc nhà tay lựa nên chương,

Một thiên Bạc mệnh lại càng não nhân”.

Thế nhưng Nguyễn Du đã không để Thúy Kiều đàn bài ấy cho Kim Trọng nghe trong lần đầu, mà lại chọn nào là khúc đâu Hán Sở chiến trường, rồi khúc đâu Tư mã phượng cầu, đến Kê Khang này khúc Quảng lăng và quá quan này khúc Chiêu Quân. Đây chính là những bản nhạc nổi tiếng từ xưa của Trung Hoa vẫn còn lưu truyền đến nay và chúng ta hãy lần lượt điểm qua các bài bản trên.

Khúc đâu Hán Sở chiến trường :

Đề cập đến cuộc chiến giữa quân Hán và quân Sở. Cuối đời Tần, Lưu Bang (Hán Cao tổ) và Hạng Võ (Sở Bá vương) cùng khởi binh diệt Tần, sau đó lại muốn mở mang bờ cõi của mình nên giữa đôi bên đã xảy ra nhiều cuộc giao tranh kịch liệt. 9 Kieu 3Trong một trận lớn, Sở Bá vương bị vây khốn trong thành Cát Hạ, đến cửa nào cũng gặp Hán quân mai phục nên phải cởi giáp phá vòng vây để thoát thân.

Bài bản cổ điển của tỳ bà có hai loại “văn khúc” và “vũ khúc”. Văn khúc gồm những bài tả cảnh, tả tình êm dịu, tiết tấu hoà hoãn còn vũ khúc gồm những bài tả lại không khí, khung cảnh chiến trường và đòi hỏi kỹ thuật đàn rất cao. Trong các bản vũ khúc thì có hai bản rất thông dụng ngày nay : “Bá vương xả giáp” tả lúc vua nước Sở cởi giáp cho nhẹ bớt trong cuộc giao tranh và “Thập diện mai phục” diễn tả tích Hán Cao Tổ và Sở Bá vương đánh nhau.

Thập diện mai phục là một trong những bản khó đàn nhứt, đặc biệt từ chương Ba đến sau có mấy đoạn khi đàn phải chen ngón giữa của bàn tay trái vào các dây làm âm thanh phát ra đục và giống như tiếng gươm giáo chạm nhau, như Nguyễn Du đã tả: “Nghe ra tiếng sắt tiếng vàng chen nhau”. Vì vậy bản Thúy Kiều đàn hẳn phải là bản Thập diện mai phục.

Khúc đâu Tư mã Phượng cầu :

Dễ nhận ra đây là bài Phượng cầu hoàng mà danh cầm Tư Mã Tương Như đời Hán đã gảy đàn cho khách dự yến tiệc của Trác Vương Tôn thưởng thức, nhưng đồng thời có ý muốn tỏ tình với con gái của Trác Vương Tôn là nàng Trác Văn Quân, một quả phụ trẻ đẹp, tuy không có mặt trong tiệc rượu nhưng đã nấp trong phòng nghe trộm :

“Phượng hề, phượng hề qui cố hương / Du ngao tứ hải cầu kỳ hoàng / Hữu nhứt diễm nữ tại thử đường / Thất nhi nhân hà độc ngã trường / Hà do giao tiếp vi uyên ương”.

Tạm dịch: “Chim phượng, chim phượng trở về chốn cũ / Đi ngao du bốn biển tìm chim hoàng / Có một người con gái đẹp ở tại nhà này / Phòng gần (nhưng) người xa lắm làm khô héo ruột gan ta / Làm sao gặp gỡ nhau để hẹn làm đôi uyên ương?”.

Cảm tiếng đàn tài hoa, cảm lời ca tình tứ, ngay đêm ấy Văn Quân đã bỏ nhà đi theo Tương Như. (Cần nói rõ thêm là bài “Phượng cầu hoàng” của Trung Hoa9 Kieu 6 khác xa với hai bản “Phụng hoàng” và “Phụng cầu” của nhạc tài tử miền Nam trong loạt bài Tứ oán).

Kê Khang này khúc Quảng Lăng :

Kê Khang là người nước Nguỵ sống vào thời Tam Quốc được tôn là một trong bảy người hiền của phái Trúc Lâm Thất hiền. Một đêm đến trọ ở Hoa Dương Đình vùng Lạc Tây, Kê Khang mang đàn ra gảy thì có người khách lạ tới xin gặp để luận bàn về âm nhạc và rồi hai người trở thành bạn tâm giao. Khách soạn ra khúc “Quảng Lăng tán” âm điệu tuyệt hay và truyền cho Kê Khang. Lúc cuối đời Kê Khang bị kẻ thù ám hại nên có giai đoạn bản này bị thất truyền. Gần đây các nhà nhạc học Trung Quốc đã lần tìm lại được và bản Quảng Lăng ngày nay vẫn được các danh cầm trình bày trong những buổi độc tấu cổ cầm tại Trung Quốc hay Đài Loan.

Quá quan này khúc Chiêu Quân :

Chiêu Quân, tên tự Vương Tường, có nhan sắc diễm lệ và tài nghệ xuất chúng nên được tuyển vào cung thời Hán Nguyên đế. Vì không chịu lo lót cho Mao Diên Thọ (người hoạ sĩ thừa lịnh vua vẽ chân dung các cung nữ để nhà vua nhìn mà tuyển chọn cho vào hầu) nên người này đã cố tình vẽ thêm nốt ruồi sát phu trong bức họa của nàng, do đó nàng chưa bao giờ được vua đoái hoài. Về sau Chiêu Quân bị triều đình chọn để gả cho chúa Thiền Vu của Hung Nô. Khi nàng vào bái biệt, sửng sốt trước vẻ đẹp lộng lẫy của Chiêu Quân nhà vua có ý muốn giữ lại nhưng việc đã rồi không thể nào thay đổi.

Trên đường rời quê hương, khi qua cửa ải, Chiêu Quân ôm đàn tỳ bà gảy một khúc đàn nói lên nỗi lòng đau khổ của mình. Nhiều nhạc sĩ đã dựa theo câu chuyện này mà sáng tác ra các bản nhạc và có lẽ Thúy Kiều đã đàn bài “Quá quan”, một trong những văn khúc đặt cho đàn tỳ bà. Đến đầu thế kỷ 20, danh ca Hồng Tuyến Nữ của Quảng Đông cũng từng nổi danh cả Trung Quốc với bài ca “Chiêu quân xuất tái”.

9 Kieu 7Bản “Quá ngũ quan” của Triều Châu cũng rất được thông dụng ở Việt Nam, mà nghệ sĩ Bạch Tuyết trong bài vọng cổ đặt theo tích Dương Quí Phi trách An Lộc Sơn không về kịp để cứu mình cũng đã sử dụng bản này giữa hai đoạn vọng cổ.

Trong những lần khác, khi Thúy Kiều đàn cho Mã Giám sinh, rồi hai lần đàn ở lầu xanh, hay lúc đàn trước Hoạn Thư và Thúc Sinh, tác giả không hề nhắc đến tên các bài bản mà chỉ mô tả tiếng đàn của nàng tuy nỉ non thánh thót dễ say lòng người nhưng cũng thật thê lương: “Bốn dây như khóc như than, / Khiến người trên tiệc cũng tan nát lòng”.

Bị Hồ Tôn Hiến ép gảy đàn giúp vui trong tiệc mừng chiến thắng, lần đầu tiên Thúy Kiều đã đàn khúc “Bạc mệnh” nàng soạn từ thuở xuân thì, mà tiếng đàn sầu thảm đã khiến một Hồ Tôn Hiến sắt đá cũng phải rơi lệ :

“Hỏi rằng này khúc ở đâu,

Nghe ra muôn thảm nghìn sầu lắm thay !”.

Chỉ đến khi tái ngộ với Kim Trọng sau 15 năm xa cách, tuy Thúy Kiều đồng ý đàn chỉ vì nể lòng người cũ vâng lời một phen, nhưng tiếng đàn ấy giờ đã êm hoà ấm áp chớ không não nùng như xưa :

9 Kieu 5“Khúc đâu đầm ấm dương hoà

Ấy là hồ điệp hay là Trang sinh

Khúc đâu êm ái xuân tình

Ấy hồn Thục đế hay mình đỗ quyên

Trong sao châu nhỏ duềnh quyên

Ấm sao hạt ngọc Lam Điền mới đông!”.

Cả sáu câu này tác giả mượn ý trong bài thơ Cầm sắt của Lý Thương Ẩn đời Đường :

“Trang sinh hiểu mộng mê hồ điệp

9 Kieu 8Thục đế xuân tâm thác đỗ quyên

Thương hải nguyệt minh châu hữu lệ

Lam điền nhật noãn ngọc sinh yên”

Tạm dịch : “Trang sinh trong giấc mộng buổi sáng tưởng mình hoá ra con bướm / Vua Thục chết rồi ký thác cho chim đỗ quyên tình yêu mùa Xuân / Trên biển rộng ánh trăng soi hạt ngọc long lanh như giọt nước mắt / Tại Lam Điền dưới ánh nắng mặt trời hạt ngọc bốc thành hơi”.

Hồ điệp là con bướm còn Trang sinh là một người tên Trang Chu ở nước Lương thời Chiến quốc. Sách Trang tử có đoạn viết rằng một hôm Trang Chu nằm chiêm bao thấy mình hoá thành con bướm, khi thức giấc mơ màng tự hỏi không biết mình là bướm hay bướm là Trang Chu?

Thật ra trong cổ nhạc Trung Hoa chúng tôi chưa gặp bài nào có tên Hồ điệp. Âm nhạc truyền thống Huế thì lại có Hồ điệp là một bài rất gần với cổ bản theo hơi khách, nét nhạc vui tươi, có thể gần gũi với tâm trạng của Kiều khi tái ngộ người xưa.

Còn câu : Ấy hồn Thục đế hay mình đỗ quyên, nhắc tích vua nước Thục là Đỗ Vũ bị mất nước phải lên núi Tây Sơn ẩn cư, khi chết hoá thành chim đỗ quyên thường cất tiếng kêu “quốc quốc” ai oán như tỏ tấm lòng nhớ tiếc không nguôi.

Do đó chúng tôi hơi ngạc nhiên khi cụ Nguyễn Du cho rằng đây là khúc đâu êm ái xuân tình. Hay có thể cụ ám chỉ tuy Thúy Kiều nể lòng người cũ nên đàn một bản êm ái xuân tình, nhưng trong lòng vẫn ai oán vì chưa dứt ra được nỗi sầu thân phận? Dẫu sao thì chúng ta cũng không biết nàng đã đàn bản gì trong lần cuối này. Tr KieuThêm một điểm cần lưu ý, từ cái tựa đến nội dung bài thơ của Lý Thương Ẩn đều liên quan đến đàn cầm và đàn sắt chớ không phải tỳ bà. Có lẽ cụ Nguyễn Du chỉ dựa trên những ý đẹp đó mà diễn tả tiếng đàn của nàng Kiều, chẳng hạn như châu nhỏ duềnh quyên là mượn ý câu thơ “Thương hải nguyệt minh châu hữu lệ” để tả tiếng đàn nghe thật trong.

Như đã nói ở đầu bài viết, ít có quyển truyện thơ nào trong văn chương Việt Nam mà tác giả đã dành rất nhiều câu về âm nhạc khi nói đến nhân vật chánh như trong Truyện Kiều của Nguyễn Du. Điều đó chứng tỏ văn hào của chúng ta rất yêu âm nhạc, lại khá am tường cổ nhạc Trung Hoa nên đã đề cập đến nhiều bài bản danh tiếng và có những câu miêu tả tiếng đàn của Thúy Kiều chứng tỏ tác giả là người có tài nhận xét âm nhạc một cách sâu sắc và đầy thi vị.

Tuy nhiên, do không phải là người “trong nghề” nên cụ Nguyễn Du không để ý rằng ngoài hai bản “Thập diện mai phục” và “Quá quan” viết cho đàn tỳ bà, thì những bài bản khác lại chỉ dành riêng cho đàn “cổ cầm” mà nhạc khí như “hồ cầm” không biểu diễn được.

Chính vì thế các học giả khi chú thích những câu thơ của Truyện Kiều, nếu phối hợp được hiểu biết về thơ văn, điển tích với lịch sử âm nhạc và cả âm nhạc học của Trung Hoa thì mới có thể đầy đủ được.

Tất nhiên bài viết ngắn này không phải là một nghiên cứu có tính khoa học mà chỉ là đôi điều mạn đàm với mong muốn cung cấp thêm cho những người yêu Truyện Kiều một số tư liệu về phần âm nhạc học. Mong sao rồi đây sẽ có nhiều vị thức giả bổ sung thêm để làm phong phú kho tàng văn học nước nhà.

Yên Huỳnh chuyển tiếp

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: