NHẠC SĨ VINH SỬ GIỜ RA SAO ?

Logo nhan vat

9 Vinh Su 1NHẠC SĨ VINH SỬ :

ÔNG HOÀNG NHẠC SẾN

BÂY GIỜ SỐNG RA SAO ?

Một thời huy hoàng với những ca khúc nhạc tình đau đớn đến da diết, cái đớn đau của những cuộc tình không trọn vẹn là cảm hứng chính để Vinh Sử có được nhiều sáng tác để đời. Yêu thật nhiều, cho thật nhiều, nhưng cũng bị phụ thật nhiều, đến tuổi già ông lại phải một mình đơn độc với những ám ảnh luật nhân quả.

“Tôi cảm thấy chút tiếc nuối vì tuổi trẻ phung phí không biết tích cóp về sau. Tôi ham tụ tập bạn bè ăn nhậu, làm bao nhiêu tiền tôi đều dành cho tiệc tùng tụ họp mà quên cả lối về”.

Lối nói chuyện thẳng thắn, không màu mè, khách khí, đó là cảm giác đầu tiên của người viết khi cảm nhận về nhạc sĩ Vinh Sử. Khác với suy nghĩ mặc định của nhiều người, nhạc sĩ hẳn là một người phải nói chuyện duyên dáng, văn chương, nhất là nhạc sĩ Vinh Sử càng như vậy, vì đa số tác phẩm âm nhạc của ông đều là những ca khúc trữ tình mượt mà. Những ca khúc mộc mạc mang đậm tình quê hương đất nước, gần gũi nhất với người lao động nghèo. Những ca khúc của ông cũng được vang lên nhiều nhất trong các xóm nghèo khắp mọi miền đất nước đã thể hiện phần nào tính cách trong con người của ông.

Ngôi sao của xóm nghèo

Nhạc sĩ Vinh Sử tên đầy đủ là Bùi Vinh Sử, sinh năm 1944 trong một xóm lao động nghèo tại quận 4. Là người duy nhất trong bốn anh em được cha mẹ cho đi học. Được ưu ái thế nhưng con đường học vấn của ông cũng không suôn sẻ, bởi bản tính thích phiêu du, không chịu sự ràng buộc trong khuôn khổ của mình. Mười tuổi ông mới bắt đầu đi học lớp 1 (ngày trước gọi là lớp Năm), đến 15 tuổi thì ông nghỉ học (thời điểm này ông đang học lớp Nhất – bậc tiểu học xưa theo trình tự sau mẫu giáo là : lớp Năm, Tư, Ba, Nhì và Nhất) để chạy theo âm nhạc.

9 Vinh Su 2Dù việc học hành của Vinh Sử không đến nơi đến chốn nhưng nó là nền tảng để ông có thể gần gũi với văn thơ, chữ nghĩa. Lại là người yêu thơ, mê nhạc từ rất sớm nên ông thuộc làu thơ Kiều, làm những bài thơ thất ngôn bát cú để xướng họa cùng bạn bè và bày tỏ những cảm xúc trong lòng mình.

Sinh ra trong một gia đình có truyền thống làm bún, may mắn thay Vinh Sử có một người cậu theo đuổi nghệ thuật có nghệ danh Ba Tích. Ba Tích là thầy giáo dạy piano ở trường Âm nhạc quốc gia. Thấy Vinh Sử thích nhạc, ông dắt Vinh Sử vào trường để học, nhưng chỉ hơn một năm là Vinh Sử bị đuổi do thành tích “quậy phá” của mình. Để tiếp tục theo đuổi đam mê âm nhạc, Vinh Sử tìm đến thầy Dũng ở quận 4 để tầm sư học đạo. Tuy việc học nhạc ở trường Âm nhạc Quốc gia gián đoạn nhưng đó là mốc khá quan trọng trong cuộc đời của nhạc sĩ. Đó chính là nơi tập cho Vinh Sử những bước đầu chập chững làm quen với các nốt nhạc.

Để có tiền phát triển con đường âm nhạc của mình, cũng như truyền bá tên tuổi cho những đứa con tinh thần, cậu thanh niên Vinh Sử lén cạy tủ “chôm” tiền cha mẹ để có kinh phí tham gia các show diễn. Tiếc thay kế hoạch phá sản, bị gia đình phát hiện và cấm cửa, danh tiếng lại chưa có nên từ đó ông đã sống đúng nghĩa như bài Kiếp lang thang, một sáng tác rất nổi tiếng của ông do ca sĩ Chế Linh trình bày.

Tồn tại một mình không dễ dàng chút nào so với một chàng trai đang tuổi lớn quen được cha mẹ nâng đỡ, Vinh Sử phải tập làm quen sống trong một căn hộ nhỏ tồi tàn được thuê với giá rẻ ở quận 4. Ban ngày ông vật lộn với đủ nghề như phụ hồ, khuân vác… để mưu sinh. Tối lại thắp đèn bầu bạn với cây guitar và cho ra đời những sáng tác sâu lắng, nhiều trải nghiệm của một “ông cụ non” sớm nếm trải mùi đời nơi phố chợ, cùng với lòng quyết tâm sớm kiếm được danh tiếng, tiền tài để quay về đoàn tụ với gia đình.

Có lẽ lớn lên trong một xóm lao động nghèo, lại từng “nằm gan nếm mật” đầy cơ cực trong cô đơn nên những sáng tác của Vinh Sử đều đa số sử dụng các giai điệu nhẹ nhàng, sâu lắng như lời ru, như Habanera, Bolero, Ballad, vỗ về lấy những cay đắng trong lòng mình, trong lòng những người xung quanh cuộc sống của mình. Những tình khúc như Hai bàn tay trắng, Không giờ rồi, Nhẫn cỏ cho em, Người phu kéo mo cau… đều thể hiện được điều đó. 9 Vinh Su 3Cũng chính vậy, âm nhạc của ông luôn gần gũi và dễ dàng đi sâu vào lòng người mộ điệu từ nhà ga, bến xe cho đến tận cùng hẻm hóc…

Nhờ những sáng tác đi sâu vào lòng người, gần gũi với khán giả, cuộc sống của ông đã hoàn toàn thay đổi. Tiền bạc và danh tiếng đã đến với ông một cách nhanh chóng không kiểm soát được. Đó cũng là điều khiến cho ông liêu xiêu vào bể tình, mà từ đây càng nhiều ca khúc đau thương, bẽ bàng trong tình ái được ông sáng tác. Và cũng nhờ thế danh tiếng ông càng nổi lên hơn bao giờ hết.

Kể về những ca khúc tình buồn của ông phải nhắc đến Gõ cửa trái tim, Tội tình, Mưa bụi, Bội bạc, Gái nhà nghèo, Vòng nhẫn cưới, Trả nhẫn kim cương… Người trong xóm nghèo tự hào về ông, khán giả mộ điệu khắp nơi đều nhắc đến tên Vinh Sử và gọi ông với danh xưng “Ông hoàng nhạc sến”. Ngoài nghệ danh chính là Vinh Sử, “Ông hoàng nhạc sến” còn những nghệ danh khác như Cô Phượng, Hàn Ni, Diễm Nhi, Đức Vượng… với tài sản lên đến khoảng hơn trăm bài hát.

Lao đao vì một chữ tình

Vinh Sử là một nghệ sĩ không may mắn trong đường tình duyên. Trái tim ông lúc nào cũng chất chứa đầy men tình nhưng những cuộc tình đều không trọn vẹn, mặc dù có đến bốn người vợ chính thức và hàng tá người tình. Nhiều vợ, nhiều nhân tình nhưng Vinh Sử luôn khẳng định : “Tôi là người rất chung thủy trong tình yêu, tôi chưa bao giờ bỏ ai. Chỉ có người ta bỏ tôi mà đi và khi không còn ai bên cạnh tôi mới yêu người khác”. Lý giải cho việc “từng người tình bỏ ông đi” ông cho rằng: “Không ai chịu đựng nổi tính tự do, phóng khoáng của tôi. Trước khi cưới nhau, tôi luôn tỉ tê rằng, tôi yêu tự do. Yêu nhau, cưới nhau nhưng tôi phải được tự do làm những việc mình yêu thích, miễn sao không thay lòng đổi dạ, phản bội gia đình là được. Thế mà cuối cùng cũng không ai chấp nhận được, người đàn bà nào đến với tôi rồi rời xa tôi cũng chỉ vì không chấp nhận điều đó”.

Về khoảng “yêu tự do như sinh mạng”, nhạc sĩ Vinh Sử không hề giấu giếm : “Khi đang ở nhà với vợ, bạn bè dưới Cần Thơ gọi điện tụ họp anh em nghệ sĩ là tôi khoác áo ra xe đi ngay lập tức, có khi đi vài hôm mới về nhà. Tính tôi là vậy !”. Phóng khoáng, tự do, thích làm những điều mình muốn mà không suy nghĩ trước sau, tất cả là lý do khiến ông từng đau khổ trong tình yêu khi cảm thấy lòng tin yêu bị lợi dụng. 9 Vinh Su 4Đó là người con gái thua ông rất nhiều tuổi, ông cưu mang người ấy từ quê vào thành phố, yêu và nghĩ mình được đáp lại tình cảm, sau khi làm giấy kết hôn và nhập hộ khẩu thì bị người ta trở mặt bắt ra tòa ly dị để chia nửa căn nhà. “Tôi biết người ta không yêu mình, tôi buồn và tổn thương. Nhưng họ thích nửa căn nhà thì tôi cũng đưa cho”.

Hiện tại, tuổi già sức yếu, thân mang trọng bệnh, chứng kiến cảnh người từng phụ bạc mình nghèo khó, Vinh Sử thoáng nghĩ về luật nhân quả và không khỏi chạnh lòng. “Mới đây người ấy đến nhờ tôi giúp ít tiền để làm quán vỉa hè sinh sống, tôi không có tiền nhưng cũng không đành lòng bỏ mặc người mình từng thương, tôi đã hứa vài hôm nữa sẽ đưa cô ấy, vì tôi có thể xoay xở bạn bè xung quanh”.

Thất bại nhiều trong hôn nhân lẫn tình cảm, nhạc sĩ Vinh Sử vẫn không bao giờ oán trách những người đã đi qua đời mình. Mỗi khi người quen, bạn bè đề cập về tình duyên ông đều xua tay “số tôi nó vậy”. Người yêu của ông, phần lớn đều là những cô gái có gia cảnh khó khăn, hiểu hoàn cảnh của nhau nên khi chia tay ông luôn là người bước ra khỏi nhà. “Mỗi lần lấy vợ là tôi gom góp tiền mua nhà, chia tay vợ thì tôi để lại căn nhà cho cô ấy và không mang theo gì cả”.

Vinh Sử có sáu người con của ba người vợ đầu. Dù đã chia tay với người cũ nhưng ông vẫn luôn là một người cha tròn trách nhiệm, ông luôn chu cấp và chăm lo cho các con đến nơi đến chốn trong cuộc sống lẫn học hành. Hiện nay, các con của ông đều đã có công ăn việc làm ổn định, cuộc sống an nhàn. “Các con năn nỉ tôi về ở cùng nhưng tôi vẫn lo cho thân mình được. Tôi thích sống một mình mà thôi và quen với điều đó rồi”.

Quả đúng như vậy, nhà nhạc sĩ luôn đóng cửa, ông luôn chìm đắm trong cảm xúc của mình giữa không gian chật hẹp, bề bộn. Có lẽ ông quen sống một mình thật và điều đó khiến người viết luôn ám ảnh, bởi một người đã đổ gãy nhiều trong tình cảm thường chỉ thích cảm giác yên ổn khi ở một mình. Những ca khúc tình yêu đầy đau khổ như rút ruột của ông đã không thể giấu giếm được điều ấy, dù ông cố tỏ ra mạnh mẽ như thế nào.

9 Vinh Su 6Ông hoàng nhạc sến bùi ngùi về thời vàng son

Tháng 11/2011, giữa căn nhà thuê chưa đến mười mét vuông, nhạc sĩ Vinh Sử lâm trọng bệnh. Cô độc đón nhận kết quả từ bệnh viện là căn bệnh ung thư ruột già, ông đã dồn hết tiền bạc tích cóp được cho cuộc phẫu thuật thành công. Thế nhưng, sức khỏe ông đã xuống cấp trầm trọng, cùng với nhiều triệu trứng khác lạ trong cơ thể khiến Vinh Sử không yên, ông tái khám và sử dụng thuốc nhiều lần mà vẫn không thuyên giảm.

Cách đây một hai năm, bệnh ung thư lại tái phát thêm một lần nữa nên ông phải tái phẫu thuật. Do phẫu thuật cắt ruột nhiều lần nên ông phải dùng hậu môn giả lắp vào bên hông bụng, việc đi lại vô cùng khó khăn, chỉ có thể nằm yên một chỗ. Thân hình ốm yếu, chỉ độc chiếc quần cụt trên người (vì mặc áo cũng khó khăn), “ông hoàng nhạc sến” đã phải đối diện với cuộc sống đếm từng ngày trong căn phòng trọ hiếm người ghé đến.

Thế nhưng Vinh Sử vẫn không hề than oán cuộc đời, không kêu xin sự giúp đỡ của bất cứ một ai, kể cả con cái. Bạn bè ai biết hoàn cảnh chung tay giúp ông được phần nào thì ông ghi dạ ngần ấy. Chỉ có điều, hiện giờ ông quá yếu, khi gặp sự cố không thể xoay xở, ông gọi điện thoại cho một vài người bạn thân chạy đến hỗ trợ. “Tôi có một vài người bạn hết lòng vì bạn, họ luôn sẵn sàng mỗi khi tôi nhờ đến”, ông tâm sự bằng giọng cảm động.

Nhớ lại chặng đường vàng son trước đây, một ca khúc có thể mua được hai chiếc xe hơi đời mới, một ngày ông có thể tiêu đến mười cây vàng cho một đêm “nhất dạ đế vương”, “ông hoàng nhạc sến” không khỏi bùi ngùi. “Tôi cảm thấy chút tiếc nuối vì tuổi trẻ phóng khoáng, phung phí không biết tích cóp về sau. Tôi ham tụ tập bạn bè ăn nhậu, làm bao nhiêu tiền tôi đều dành cho tiệc tùng tụ họp mà quên cả lối về”.

Bàn về âm nhạc, niềm đam mê lớn nhất của đời ông, nhạc sĩ Vinh Sử cho biết : “Tôi đang chiến đấu từng ngày vì miếng ăn, vì bệnh tật nên không còn tâm trí để sáng tác. Tôi chỉ mong sức khỏe mau hồi phục để có thể tiếp tục phục vụ cho những khán giả đã trót yêu những sáng tác của mình. Tôi biết nhiều khán giả vẫn trông chờ tôi trở lại”. (theo Nguyễn Hoàng Vũ)

Lan Hương chuyển tiếp

Mời nghe nhạc phẩm của Vinh Sử :

– Nhẫn cỏ cho em – Mạnh Quỳnh :  http://youtu.be/MUbf5Tqla3Y

– Mưa bụi 1 (1:48) :  http://youtu.be/tcj_bm3Wl_U

– Mưa bụi 2 (2:05) :  http://youtu.be/tcOPasuU4BQ

SG Ng Viet 4LỜI BÌNH :

Với Vinh Sử tôi có một vài kỷ niệm. Trước 75 tôi là “thư ký thường trực” của Hội Đồng Giám Sát “Giải Kim Khánh Nghệ Thuật “ của nhật báo Trắng Đen.

Có tên “Hội đồng Giám Sát” thay vì “Hội đồng Giám Khảo” là vì Giải Kim Khánh phát giải cho các nghệ sĩ qua số phiếu bình chọn được cắt trên báo, rồi gửi về tòa soạn tổng hợp. Giám sát là để phân tích việc cắt phiếu bầu bình chọn của đọc giả có vô tư hay “mua phiếu” không ? thường việc “mua phiếu” có cá nhân nào đó muốn có số phiếu bầu chọn cho mình cao nhất, mỗi ngày mua cả trăm số báo về cắt phiếu và điền tên của mình vào và gửi đi.

Chuyện một cá nhân, nhưng đa số là sự liên kết của nhiều người của nhiều bộ môn. Nên chuyện “mua phiếu” này được Hội đồng Giám Sát rất dễ nhận ra, vì chữ viết của một người khó thay đổi. Vì thế có năm, ban kiểm phiếu và Hội đồng Giám Sát nhận ra số phiếu của những nghệ sĩ chưa phải là “chi bảo” của một bộ môn nào đó đều vượt qua mặt những ca nghệ sĩ tài tử tài danh đương thời. quả là một hiện tượng “mua phiếu”.

Thí dụ về quái kiệt sân khấu, như TL không thể được khán giả ái mộ bằng TV, KN, PT. còn cải lương chi bảo, nữ nghệ sĩ PL, NG không thể có số phiếu cao hơn, TN, BT, LT, ca khúc hay nhất thời gian đó như Hàn Mặc Tử của Tràn Thiện Thanh không thể đứng sau những nhạc phẩm M, K, TĐĐR v.v…

9 Vinh Su 5Tôi nhận ra nhóm quái kiệt TL đã và đang thực hiện việc “mua phiếu” này, trong đó có sự liên kết của các nhạc sĩ trẻ như VS, QD.

Tôi biết Vinh Sử thời hoàng kim với ca khúc “Nhẫn cỏ cho em” từ đó, vì vài lần Vinh Sử có đến tòa báo mời tôi đi uống bia. Rồi sau 1975. sau khi Vinh Sử ra tù (vì in truyện tranh không phép vào những năm 78-79), có đến cơ quan tôi đang công tác trên đường Nguyễn Thi Q5, và lâu lâu về nhà tôi ở vài ngày. Nên tình nghĩa anh em cũng trở nên thân thiết. Sau khi tôi nghỉ nơi đây thì không còn liên lạc nữa, dù tôi biết Vinh Sử ở chung cư Đỗ Thành Nhân, Khánh Hội, bởi Vinh Sử bắt đầu nổi tiếng qua mấy cuốn băng dĩa Mưa Bụi hay Cây cầu dừa…

Về sau này nghe nói Vinh Sử do bệnh hoạn nên không còn sáng tác, và thường hay đi nhậu sáng đêm. Mới năm 2013 tôi có người bạn đang phẫu thuật sỏi tmật, nằm cùng phòng với Vinh Sử tại BVND Gia Định (khi này Vinh Sử cũng đang phẫu thuật ung thư đại tràng) nhưng Vinh Sử nhận không ra.

Để thấy hiện nay trí nhớ của Vinh Sử rất kém !

Nguyễn Việt

Ut tra On 1VUA VỌNG CỔ ÚT TRÀ ÔN

– Lê Phước      

Bản vọng cổ được xem là “bài bản vua” của làng tài tử- cải lương. Và mỗi khi nhắc đến tài viết lời thì người ta nghĩ ngay đến “vua soạn lời vọng cổ” Viễn Châu, còn khi đề cập đến tài ca vọng cổ thì người mộ điệu nghĩ ngay đến Út Trà Ôn, nghệ sỹ được mệnh danh “Vua vọng cổ” và “Đệ nhất danh ca” suốt hơn nửa thế kỷ qua.

Trong làng tài tử-cải lương Nam Bộ, có một đôi nghệ sỹ cầm trịch cho bản vọng cổ từ hơn nửa thế kỷ qua, mà có một điều trùng hợp thú vị là nghệ danh hai nghệ sỹ này lại bắt đầu bằng chữ “Út” : Út Trà Ôn và Út Bạch Lan.

Nghệ danh Út Bạch Lan là sự kết hợp giữa “Út”, cái tên quen thuộc mà bé Đặng Thị Hai (Tên thật của Út Bạch Lan) được mẹ gọi hàng ngày. Đó cũng là sự thể hiện lòng hiếu thảo của Sầu nữ Út Bạch Lan.

Nghệ danh Út Trà Ôn

Còn đối với Út Trà Ôn, ông tên thật là Nguyễn Thành Út, sinh năm 1919 tại làng Đông Hậu, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long. Ông là con thứ mười trong gia đình và cũng là cuối cùng, tức thứ Út theo cách gọi của người Nam Bộ. Xuất thân là nông dân ‘‘thứ thiệt” của miền Nam, giọng ca của nghệ sỹ Út Trà Ôn luôn thắm đượm nét chân phương, phóng khoáng và trữ tình của người Nam Bộ. Hồi tuổi lên mười, giọng ca Nguyễn Thành Út đã nổi tiếng trong các sân chơi tài tử địa phương.

Ut Tra On 2Năm 18 tuổi, tức vào năm 1937, Nguyễn Thành Út rời quê lên Sài Gòn và đoạt Giải nhất trong cuộc thi ca vọng cổ do hãng rượu Bình Tây tổ chức. Sau đó, Nguyễn Thành Út được giới thiệu ca vọng cổ trên sóng Đài phát thanh Sài Gòn và bắt đầu mang nghệ danh Út Trà Ôn. Nghệ danh này là sự kết hợp giữa tên “Út” và huyện “Trà Ôn”, một cách thể hiện sự tri ân đối với quê hương nguồn cội của chàng trai Nguyễn Thành Út.

Các hãng đĩa bắt đầu chú ý tới giọng ca Út Trà Ôn nên thường xuyên mời ông thu âm. Thời gian gắn bó với các đài phát thanh và các hãng đĩa đã dần đưa tên tuổi Út Trà Ôn lên đỉnh cao vinh quang. Đầu những năm 1940, Út Trà Ôn bắt đầu bước chân vào sân khấu cải lương chuyên nghiệp. Tên tuổi Út Trà Ôn dần trở thành tên tuổi ăn khách hàng đầu của sân khấu cải lương.

Út Trà Ôn là một trong những nghệ sỹ đầu đàn cùng với Phùng Há, Ba Vân, Năm Nghĩa, Năm Châu … có nhiều đóng góp quan trọng cho sân khấu cải lương từ thời kỳ sơ khai của bộ môn nghệ thuật này đến thời vàng son vào những năm 60, 70 của thế kỷ trước.

Trong cuộc đời hoạt động nghệ thuật hơn 60 năm, Út Trà Ôn đã đi qua nhiều đoàn hát danh tiếng miền Nam. Có khi ông cũng đứng ra thành lập đoàn hát như đoàn Kim Thanh – Út Trà Ôn với nghệ sỹ Kim Chưởng, Thanh Tao, hay đoàn Thống Nhứt với nghệ sỹ Hoàng Giang.

Các nghệ sỹ cải lương trước khi ra sân khấu thường lạy tổ nghiệp, và người tổ nghiệp của họ không phải là một người cụ thể nào, mà là những bậc tiền hiền có công khai sáng và nuôi dưỡng cải lương. Ut Tra On 4Trong ý nghĩa đó, Út Trà Ôn xứng đáng được xếp vào một trong những vị tổ nghiệp hàng đầu của sân khấu cải lương Nam Bộ.

Diễn xuất mộc mạc, chân phương

Út Trà Ôn đã để đời nhiều vai diễn, trong đó vai Ông Cò Quận 9 trong vở tuồng Tuyệt tình ca, có thể nói là một trong những vai đến hiện tại chưa có người thay thế. Với cách diễn xuất mộc mạc, chân phương, lại là người rất khó tính trong nghề, bởi vậy Út Trà Ôn là một bậc thầy trong diễn xuất: diễn như không diễn.

Trong Tuyệt tình ca, Út Trà Ôn đóng cặp với Sầu nữ Út Bạch Lan. Lớp ca diễn để đời là lớp ông tái ngộ vợ hiền sau nhiều năm xa cách, Út Trà Ôn ca với Út Bạch Lan ba câu vọng cổ, đây là ba câu vọng cổ để đời của đôi nghệ sĩ bậc thầy này. Chỉ với bốn câu nói lối gối đầu để vô vọng cổ cũng đủ để khẳng định đẳng cấp thượng thừa của Út Trà Ôn.

Đó là một tài diễn trong ca, ca trong diễn. Đặc biệt, Út Trà Ôn có biệt tài nói trong ca và ca trong nói, rất cần thiết cho một nghệ sỹ cải lương. Đến hiện tại, chưa thấy có một nghệ sỹ cải lương nào, cả nam lẫn nữ, có được biệt tài như vậy.

Út Trà Ôn đã đưa trọn tình cảm và nghệ thuật ca diễn thượng thừa vào lời thoại để nó trở nên truyền cảm một cách thần sầu. Bên cạnh Ông Cò Quận 9, người mộ điệu cũng không thể nào quên hai vai gây khó dễ cho thế hệ sau của Út Trà Ôn là vai Võ Minh Thành trong Đời Cô Lựu và vai Ông Tám Khỏe trong Người ven đô.

Vien Chau 2Đệ nhất danh ca, vua vọng cổ

Tuy vậy, hễ nhắc đến Út Trà Ôn là người mộ điệu nghĩ ngay đến tài ca vọng cổ. Giọng ca Út Trà Ôn được mến mộ đến mức mà nó làm lu mờ tất cả những vai diễn của ông, để cho người mộ điệu mỗi khi nhắc đến ông là nhắc đến tài ca vọng cổ.

Từ những thập niên 1960, khi hai danh ca nữ Út Bạch Lan và Thanh Hương chập chững vào nghề, thì giọng ca Út Trà Ôn đã làm khuynh đảo làng cổ nhạc. Vào năm 1960, tờ báo Tiếng Dội của ký giả Trần Tấn Quốc, người chủ sự giải thưởng Thanh Tâm danh giá của sân khấu cải lương, đã trưng cầu ý kiến độc giả, và Út Trà Ôn được bầu chọn là “Đệ nhất danh ca” bên cánh nam nghệ sỹ, còn bên cánh nữ là danh ca Thanh Hương.

Cũng trong thập niên 1960, soạn giả Viễn Châu đã viết bài Tình anh bán chiếu” cho Út Trà Ôn ca thu đĩa. Giọng ca Út Trà Ôn đã mở đường cho bài Tình anh bán chiếu trở thành “bài vọng cổ vua”. Từ đó, cái tên Út Trà Ôn bắt đầu gắn với Tình anh bán chiếu. Đây là một cú hít quan trọng cho vọng cổ nhịp 32 bởi trong các bài bản vọng cổ, thì đến hiện tại vọng cổ nhịp 32 vẫn là thịnh hành nhất.

Chính những bài vọng cổ của Viễn Châu qua giọng ca Út Trà Ôn đã góp phần quan trọng cho sự “chiến thắng” của vọng cổ nhịp 32. Và trong rất nhiều bài đó, thì Tình anh bán chiếu phải được xếp hàng đầu, bởi vì không chỉ ngày xưa, mà đến hiện tại, hễ nhắc đến vọng cổ là nhắc đến Tình anh bán chiếu. Ở miền Nam, từ thành thị đến nông thôn, dù biết hay không biết tài tử-cải lương,Vien Chau 1 thì hầu như ai cũng biết đến bài Tình anh bán chiếu. Đây cũng là một bài quan trọng đưa Viễn Châu-Út Trà Ôn lên cương vị “Vua viết lời vọng cổ” và “Vua ca vọng cổ”.

Út Trà Ôn mất vào năm 2001 với hơn 60 năm đóng góp cho sân khấu cải lương. Thế nhưng, không chỉ có đến lúc ông tạ thế, mà ngay đến hiện tại, đối với người mộ điệu và các nghệ nhân tài tử hay các nghệ sỹ cải lương chuyên nghiệp lẫn các nhà nghiên cứu, danh hiệu “Đệ nhất danh ca” và “Vua ca vọng cổ” vẫn được gắn với giọng ca Út Trà Ôn.

Có phải vì Út Trà Ôn có số lượng đĩa vọng cổ nhiều nhất trong giới nghệ sỹ ? Hay vì ông đóng góp nhiều năm cho cải lương nên được thế hệ sau “nể” mà khen ngợi ? Câu trả lời thuyết phục nhất đó là do tài năng ca vọng cổ của Út Trà Ôn đã đạt đến một trình độ chưa có ai đạt tới.

Út Trà Ôn có giọng đồng, trầm, mạnh mẽ và rất nam tính. Thế nhưng, chỉ có thiên phú thôi thì chưa đủ để cho Út Trà Ôn đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật ca vọng cổ, mà đòi hỏi phải có sự khổ luyện nghiêm túc. Người trong nghề đến hiện tại mỗi khi nhắc về ông thì vẫn không quên chi tiết khi hóa trang cho vai diễn, Út Trà Ôn phải bỏ ra tới hai tiếng đồng hồ để chỉ để … vẽ một bên chân mày. Chỉ vậy thôi cũng thấy sự nghiêm túc với nghề và sự trân trọng khan giả đến mức nào.

Bàn về bộ nhịp, thì ta thấy rằng, Út Trà Ôn có bộ nhịp thuộc hàng “sư phụ của sư phụ”. Nhờ có nhịp nhàng chắc chắn mà Út Trà Ôn có thể triển khai điêu luyện lối ca sắp chữ theo kiểu chẻ nhịp một cách thượng thừa của mình. Út Trà Ôn ca không theo khuôn, mà rải chữ đều ở các câu. Cao Van Lau 1Khi nghe Út Trà Ôn ca, người nghe khó biết được ông đã tới nhịp nào, khuôn nào, mà chỉ biết là khi ông xuống song lang thì như đặt khuôn vậy.

Nếu chỉ có bộ nhịp chắc thôi còn chưa đủ để đạt đến trình độ sắp chữ như vậy, mà cần phải có một sự khổ luyện và một cái tâm làm nghề nghiêm túc mới ca được như vậy. Cách sắp nhịp và cách ca của Út Trà Ôn đến hiện tại vẫn chưa có nghệ sỹ nào đạt tới. Thế hệ sau ca theo lối của Út Trà Ôn thành công nhất và có thể duy trì được lối ca này có lẽ là nghệ sỹ Phương Quang, nhưng để đạt được trình độ của “Thầy Út Trà Ôn” thì chưa tới.

Kiểu ca và giọng ca của Út Trà Ôn đã được xếp thành một trường phái ca vọng cổ riêng và luôn được xếp hàng đầu khi có người tìm hiểu về các trường phái ca vọng cổ. Ông được xếp đầu cũng đúng thôi vì trước và sau Út Trà Ôn rõ ràng chưa có giọng ca vọng cổ nào ca thần sầu và trứ danh đến thế.

Cái hồn của bản vọng cổ

Để giải thích cho sự thành công của Út Trà Ôn người ta không thể nào không nhắc tới sự tương đồng đến kỳ lạ giữa giọng ca Út Trà Ôn và với cái hồn của bản vọng cổ. Bản vọng cổ thoát thai từ bài Dạ cổ hoài lang do nhạc sỹ Cao Văn Lầu sáng tác vào khoảng năm 1918-1919. “Dạ cổ“ tức là “tiếng trống đêm khuya”, “hoài lang” tức là “nhớ chồng”. Đây là bài mà ông Sáu Lầu viết trong lúc nhớ thương người vợ trẻ khi hai người bị gia đình bắt phải xa nhau.

Nhạc sỹ Sáu Lầu quê ở vùng nông thôn Bạc Liêu hồi trước, nên bài Dạ cổ hoài lang cũng mang đậm dấu ấn làng quê : nhẹ nhàng, Ut Tra On 5mênh mang, chân phương và trữ tình. Nghe Dạ cổ hoài lang có khác nào đang nghe một điệu hò câu lý của bà con vùng sông nước Cửu Long. Nhà nghiên cứu Sơn Nam nhận định: “Điệu hò đối đáp đã tìm được ở bản Hoài lang một hình thức sang trọng để mà nương náu”.

Nói như vậy thì giá trị của bản Hoài lang là ở chỗ bình dân, gần gũi với điệu hò câu lý, bởi vậy mà nó được người Nam Bộ tiếp đón nồng nhiệt. Từ bản Hoài lang nhịp đôi (có hai nhịp), dần dần, qua sự đóng góp của nhiều thế hệ, bản Hoài lang phát triển lên thành nhịp Tư, nhịp Tám, nhịp 16, nhịp 32, nhịp 64 rồi nhịp 128. Cái tên Dạ cổ hoài lang sau được đổi thành Vọng cổ Hoài Lang, Vọng cổ Bạc Liêu, rồi sau là Vọng cổ.

Bản vọng cổ dù xuất thân bình dân nhưng có tính bác học, bởi vì không phải muốn ca thế nào thì ca mà phải ca cho đúng nhịp, đúng cái tinh thần của bài ca. Tuy nhiên, người ca không phải lúc nào cũng bị ràng buộc theo khuôn.

Trong bản vọng cổ, có một số chỗ ở cuối câu người ca bắt buộc phải giữ đúng nhịp, còn lại trong lòng bản thì người ca được tự do sáng tạo : sắp chữ, ca nhanh, ca chậm, ca dồn … Chính nhờ có sự tự do này, mà người ca có điều kiện thể hiện cái riêng của mình. Ut Tra On 3Có người ca đúng theo khuôn bốn nhịp, có người ca tự do trong lòng bản miễn sau giữ được nhịp ở cuối câu.

Vọng cổ xuất thân bình dân nên đương nhiên cái hồn của nó là chân phương. Thế nhưng, người ca tùy theo giọng ca, cách ca mà thêm thắt, lạng bẻ, vuốt chữ, ca trầm ca bổng… để tô điểm thêm màu sắc cho bài ca. Thế nhưng, sự điểm tô không được quá đà, mà phải làm sao đảm bảo được cái hồn chân phương của vọng cổ.

Tức là, ca vọng cổ thì phải “chân phương hoa lá”. Điều đó hoàn toàn tương thích với bản tính người Nam Bộ. Người miền sông nước Cửu Long vốn bình dân, xuề xòa, thích phóng túng tự do, rất lãng mạn, nhưng luôn coi trọng sự chân thành và nặng tình nặng nghĩa. Tức là người miền Nam cũng có cải bản tính “chân phương hoa lá” như bài vọng cổ vậy.

Giọng ca Út Trà Ôn tương thích hoàn toàn với yêu cầu của bản vọng cổ. Út Trà Ôn ca chân phương, mùi mẫn, hùng tráng, âm vực rộng, không ngân mà thường “hơ” đúng chất đờn ca tài tử. Cách phân nhịp độc đáo, kết hợp nhuần nhuyễn giữa ca và diễn. Nghe Út Trà Ôn ca người nghe không cần nhìn ông diễn cũng có thể cảm nhận được rõ ràng sắc thái tình cảm mà người viết gửi gắm,Ut Tra On 6 người nghe không còn chú ý đến nhịp nhàng tới câu mấy nữa, mà bị ru hồn bởi nội dung bài hát mà ông “tự sự” và bởi kỹ thuật ca điêu luyện, cách xếp chữ và ca chẻ nhịp độc nhất vô nhị.

Vua soạn lời vọng cổ Viễn Châu nhận xét về giọng ca Út Trà Ôn như sau: “Cách rèn giọng của anh được người trong nghề kính phục vì biết tạo âm vực đủ để khi phát âm được tròn vành rõ chữ. Anh còn có khiếu sắp văn chẻ nhịp …. Nếu lắng nghe Út Trà Ôn ca và có óc phân tích, bạn sẽ nhận biết ngay thế mạnh của anh trong câu vọng cổ là chữ “hơ” điêu luyện và dấu sắc, dấu hỏi, dấu ngã chất chứa sự giàu có của làn hơi”.

Nếu nhắc đến Vọng Cổ lập tức người yêu thích hay không yêu thích cổ nhạc đều nghĩ ngay đến bài Tình anh bán chiếu, mà hễ nhắc đến Tình anh bán chiếu thì lập tức nghĩ đến Út Trà Ôn và Viễn Châu. Tên tuổi Út Trà Ôn trước khi đến với bài Tình anh bán chiếu cũng đã có tiếng rồi, thế nhưng với bài Tình anh bán chiếu thâu ở hãng đĩa Hồng Hoa, giọng ca Út Trà Ôn đã thật sự làm chấn động làng cổ nhạc, và bài ca này đã làm bất tử tên tuổi của ông.

Cái gien ca vọng cổ của Út Trà Ôn đã được truyền lại cho người con gái út của ông, ca sỹ Bích Phượng. Đúng với câu “cha nào con nấy”, nếu Út Trà Ôn thống lĩnh bên lĩnh vực vọng cổ, thì Bích Phượng hiện cũng là bậc thầy về dân ca Nam Bộ. Bích Phượng ca vọng cổ cũng rất hay: giọng ca ngọt ngào đậm chất Nam Bộ, cách phân nhịp và điều hơi rất giống Út Trà Ôn. Bích Phượng tâm sự là do mê giọng ca của ba mình từ lúc nhỏ, nên nó thắm vào người lúc nào cũng không hay.

Yên Huỳnh chuyển tiếp

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: