ĐỒNG VỌNG BOLÉRO

Logo vannghe A

Tr dan ong 3ĐỒNG VỌNG BOLÉRO

– Nguyễn Hùng

Nếu lấy mốc đầu những năm 50 thế kỷ trước đánh dấu điệu bolero du nhập vào Việt Nam, thì đến nay đã ngót sáu thập niên. Dầu có những biến đổi thăng trầm theo thời cuộc và nhân tâm; nhưng không thể không thừa nhận rằng Bolero đã góp phần làm nên diện mạo của nền tân nhạc Việt Nam.

Một thời hoàng kim

Cho đến nay, người ta còn chưa biết đích xác điệu nhạc bolero du nhập Việt Nam vào năm nào và bản bolero đầu tiên do ai sáng tác; chỉ biết đó là lúc phong trào tân nhạc Việt Nam phát triển mạnh mẽ, nhiều nhạc sĩ  sử dụng nhạc điệu phương tây thay cho nhạc điệu phương đông truyền thống. Hòa vào trào lưu phơi phới của các ca khúc lời ta điệu tây ấy, nhiều ca khúc bolero đồng loạt ra đời, và từ thập niên 1960 về sau nó nhanh chóng đạt đến đỉnh cao cả về số lượng tác phẩm lẫn sự mến mộ trong công chúng.

9 Bolero 3Các nhạc sĩ tiêu biểu cho dòng nhạc này như : Anh Bằng, Hoàng Thi Thơ, Lam Phương, Trúc phương, Mạnh Phát, Minh Kỳ, Song Ngọc, Trần Thiện Thanh, Thanh Sơn, Vĩnh Sử, Trịnh Lâm Ngân, Hàn Châu .v.v…

Trả lời cho câu hỏi vì sao dòng nhạc này nhanh chóng chiếm lĩnh được số đông công chúng đến như vậy, mỗi người có một cách lý giải riêng. Tuy nhiên, hầu hết đều thống nhất ở chỗ bolero mang giai điệu bình dân, đơn giản và trữ tình nên dễ đi vào lòng người. Nó chạm tới hoàn cảnh của số đông người nghe, tạo cho họ một khoảng lặng như được an ủi, vỗ về bởi những đồng cảm rất sâu và rất thực.

Từ những bản hoan ca, tụng ca mang âm hưởng đồng quê (Xóm đêm – Phạm Đình Chương, Gạo trắng trăng thanh – Hoàng Thi thơ, Khúc ca ngày mùa – Lam Phương, Lối về xóm nhỏ – Trịnh Hưng, Nắng lên xóm nghèo – Phạm Thế Mỹ, Thương về miền Trung, Ai ra xứ Huế – Duy Khánh .v.v…) mà người nghe như được thấy quê hương Việt Nam đang “nối vòng tay lớn”; đến những bản tự sự trữ tình (Hàn Mặc Tử – Trần Thiện Thanh, Những đồi hoa sim – Dũng Chinh, Chuyện tình Lan và Điệp – Mạc Phong Linh và Mai Thiết Lĩnh .v.v…); 9 Bolero 2hay những bản nhạc hoài niệm về ngày tháng cũ, về thân phận cô đơn và chia ly (Đường xưa lối cũ – Hoàng Thi Thơ, Nắng chiều – Lưu Trọng Nguyễn, Xin thời gian qua mau – Lam Phương, Buồn trong kỷ niệm – Trúc Phương, Hoa mười giờ – Đài Phương Trang, Áo em chưa mặc một lần – Hoài Linh, Yêu một mình – Trịnh Lâm Ngân, Nếu anh đừng hẹn – Lê Dinh – Dạ Cầm .v.v…) là những vần điệu tình tứ và riêng tư về cuộc đời dâu bể đa đoan, về lẽ hợp tan… dìu  người nghe vào tận ngút ngàn  nỗi buồn nhân thế nhưng lại không quá bi lụy hay đẩy cao oán hờn. Ở tận đáy sâu thăm thẳm ấy, người hát bolero như đang hát về hoàn cảnh, tâm sự của mình và người nghe cảm thấy như lòng mình được xoa dịu bằng những nỗi buồn ngọt ngào để ấp ủ những khát vọng hồi sinh, đưa niềm vui về trở lại với  cuộc đời.

Cũng cần nói thêm rằng có bao nhiêu ca khúc bolero là có bấy nhiêu câu chuyện hoàn chỉnh được viết bởi thứ ngôn ngữ rõ ràng, giản dị, mộc mạc nhưng chính đó là ngôn ngữ gần gủi, là thứ duyên ngầm gắn bó với quê cha, đất tổ, với bờ tre ruộng lúa, với tình làng, nghĩa xóm… Điều đó cùng với giai điệu mượt mà như đã nói làm tăng thêm sự ái mộ của công chúng 9 Bolero 1– nhất là tầng lớp bình dân chiếm đa số – qua các dọng ca Hà Thanh, Hoàng Oanh, Kim Loan, Thanh Tuyền, Duy Khánh, Nhật Trường, Trung Chỉnh, Phương Đại, Giao Linh, Hương Lan v.v.

Lại tìm những lối đoạn trường mà đi

Từ sau 1975, có người cho rằng “nhạc vàng” đã chết trong không khí hân hoan mới, bời cơ sở của nó là sự bất lực và bế tắc, thậm chí hoảng hốt của giai cấp tư sản đứng trước cơn lốc quay cuồng của đồng tiền, lợi nhuận, trong một thực trạng xã hội do chính họ xây dựng nên. Đây cũng là dấu mốc thời kỳ “thoái trào” của bolero.

Về “lý luận” người ta cho rằng Bolero là thứ nhạc vàng vọt “lảng tránh những đề tài nóng hổi của thời đại”, chỉ rền rỉ về “cái quá khứ vàng son hoặc nếu chưa thật là vàng là son thì cũng được sơn son thếp vàng bằng nỗi niềm nuối tiếc về quá khứ”, nguy hại của nó là “đã dẫn đưa con người về với quá khứ được thi vị hóa để ru người ta ngủ ngon trong cái thế giới lung linh ảo mộng”. Elvis PhuongDo vậy, “xã hội đang đào huyệt chôn nó”, “nó đang trên con đường đi tới nghĩa địa”, nó là “những âm thanh của một thời “oanh” nhưng nay đã “liệt”. Thế là một bộ phận không ngại ngần dè bĩu, rẻ rúng và cho đó là thứ nhạc nũng nịu, vòi vĩnh, hoặc ai oán, trách móc, hờn dỗi đã quê mùa.

Mặc dầu trong một thời gian dài gần như trên các sân khấu ca nhạc, các phương tiện phát thanh- truyền hình, các ấn phẩm âm nhạc… vắng bóng nhạc phẩm bolero; mặc dầu phải trải qua nhiều thời điểm gian truân nhưng bolero chưa bao giờ chết. Vẫn là cái giai điệu êm ái, du dương muôn thuở, vẫn là nhịp điệu chách chách… chách bùm chách chậm rãi, khoan thai; bolero sống âm ỉ nhưng dữ dội bằng cách len lỏi vào cuộc đời con người trong mọi tình huống. Hát mừng tân hôn đôi vợ chồng trẻ, hát vui họp mặt bạn bè, hát tiễn người thân lên đường đi xa thậm chí là đi vào quân ngũ .v.v… không hề thiếu giai điệu bolero.

Trong những nỗi “đoạn trường” ấy, sân khấu ca nhạc được đạo diễn, dàn dựng hẳn hoi thì vắng bặt bolero, nhưng ở sân chơi cuộc đời luôn có bolero son sắt như hình với bóng. Sức sống ấy làm cho những ai từng dè bĩu bolero có khi phải giật mình và sửng sốt bởi đồng vọng rất mênh mông của nó.

Bolero không còn tội nghiệp

Ở vào giai đoạn “thoái trào” của bolero, khi viết về số phận những bài ca mang giai điệu này có người vì quá “yêu” mà cảm thán “Tội nghiệp Bolero!” (*). Nhưng dầu có đợi chờ lâu thì cũng đến ngày “tan sương đầu ngõ vén mây cuối trời” (Truyện Kiều), bằng chính “chất liệu” còn cần cho đời sống, bolero đã trở lại với công chúng ái mộ.

9 Bolero 4

Không khó để nhận thấy rằng trong vài năm gần đây bolero đã tạo ra một làn sóng trên internet. Các báo, các trang mạng, diễn đàn … đăng tải rất nhiều bài viết, ý kiến đồng cảm hoặc là “chiêu tuyết” cho dòng nhạc này. Còn trong đời sống thì người hát, người nghe trở lại với bolero ngày càng đông. Nhiều câu lạc bộ bolero ra đời, hầu như ở địa phương nào cũng có; quy mô nhất phải kể đến hai câu lạc bộ bolero ở Sài Gòn và Cần Thơ. Ở đây ngoài những người bình thường còn quy tụ rất nhiều trí thức, doanh nhân, công chức v.v…

9 Bolero 5Khi đã có công chúng, dĩ nhiên sẽ có “sân chơi” và thị trường phục vụ. Từ các quán cà phê, quán bar, phòng trà “tiết điệu bolero”, đến những chương trình ca nhạc tầm cỡ đã dành cho bolero những không gian trang trọng để đưa cảm xúc con người hòa vào cuộc sống. Trong giới ca sĩ chuyên nghiệp gắn bó với bolero, ngoài những “dọng ca dĩ vãng” một thời vang bóng như Hương Lan, Giao Linh, Duy Quang, Evis Phương … nay có điều kiện quay trở lại với ánh đèn sân khấu phục vụ khán giả trong nước còn có những ca sĩ thành danh sau này như Quang Linh, Quang Dũng, Ngọc Sơn, Phi Nhung, Đan Lê … Và, khi dòng nhạc trẻ đang loay hoay mà chưa thể định hình bởi giai điệu và lời ca na ná, ai cũng viết được, thì nhiều dọng ca mang “thương hiệu” của nhạc trẻ một thời như Phương Thanh, Lệ Quyên, Đan Trường … đã quay sang thử sức và “bén duyên” với bolero.

Sự quy tụ của các thế hệ ca sĩ đã mang lại cho bolero một luồng gió mới. Dĩ nhiên là cái hồn cốt thuần Việt trong ca từ, trong giai điệu (đã được các thế hệ nhạc sĩ dày công Việt hóa) vẫn được gìn giữ, nhưng bolero đã được cách tân bằng một ít chất kỹ thuật trong giọng ca mà vẫn sáng rõ, mượt mà, vừa ý người nghe khó tính.

Vậy là sau những truân chuyên như số phận nàng Kiều, “trời còn để có hôm nay” – bolero thực sự đã có cuộc “đoàn viên” xúc động với công chúng, trọn vẹn như chính nó một thời.

Chú thích: (*) Tội nghiệp Bolero! là tiêu đề một bài viết và cũng là tên tập sách của một tác giả xuất bản năm 2005) (theo Nguyễn Hùng)

Mai Trung Tín chuyển tiếp

Logo nhan vat

6 Kim Dung 1KIM DUNG ĐAU KHỔ

VỀ ĐỨA CON TỰ TỬ

Kim Dung đã tìm đến Kinh Phật để mong lý giải nguyên nhân cậu con trai Tra Truyền Hiệp tự tìm đến cái chết khi chưa tròn 20 tuổi.

Kim Dung, tên thật Tra Lương Dung, là nhà văn đương đại nổi tiếng Trung Quốc. Ông được đông đảo độc giả hâm mộ bởi hàng loạt tiểu thuyết võ hiệp đặc sắc như Thiên long bát bộ, Anh hùng xạ điêu, Thần điêu hiệp lữ, Lộc Đỉnh ký, Tiếu ngạo giang hồ… Kim Dung được mệnh danh là “Thái Sơn, Bắc Đẩu” trong giới tác giả viết tiểu thuyết võ hiệp.

Nhiều năm qua, Kim Dung hiếm khi công khai tham gia sự kiện mà dành phần lớn thời gian ở nhà. Theo Sina, sức khỏe nhà văn 92 tuổi vẫn ổn định. Hôm 27/3, ông tham gia buổi tọa đàm “Kim Dung võ hiệp và Giấc mơ Trung Quốc”, diễn ra ở Bắc Kinh. Đi cùng Kim Dung còn có các cháu của ông. Trong hoạt động, ban tổ chức chia sẻ ảnh Kim Dung và con trai thứ Tra Truyền Thích. Bức ảnh dấy lên tò mò của người hâm mộ về các con của nhà văn – họ làm nghề gì và có ai nối nghiệp bố ?

6 Kim Dung 2Kim Dung có bốn con, hai trai hai gái. Con trai lớn Tra Truyền Hiệp, con trai thứ Tra Truyền Thích và hai con gái là Tra Truyền Thi, Tra Truyền Nột. Cả bốn người đều là con của Kim Dung với người vợ thứ hai Chu Mai (Kim Dung có ba đời vợ, lần lượt là Đỗ Dã Phân, Chu Mai và Lâm Nhạc Di).

Tra Truyền Hiệp là người thừa hưởng ở bố nhiều nhất khả năng văn chương. Kim Dung dạy Truyền Hiệp Tam Tự Kinh từ khi cậu bé còn bi bô học nói. Bốn tuổi, Truyền Hiệp đã thuộc lòng Tam Tự Kinh, sáu tuổi đã thuộc Tăng Quảng Hiền Văn. Mọi người đều gọi cậu là tiểu thần đồng. Được gia đình hun đúc, Tra Truyền Hiệp yêu thích tiểu thuyết từ thuở ấu thơ. Năm 1965, tiểu thuyết Hiệp khách hành đăng trên tờ Minh Báo của Hong Kong (tờ báo do Kim Dung sáng lập). Truyện có nhiều đoạn nói về tình yêu con của vợ chồng Thạch Thanh. Câu chuyện cảm động, gần gũi đó được viết từ chính lòng thương vô bờ của vợ chồng Kim Dung với Truyền Hiệp.

Tra Truyền Hiệp say mê Hiệp khách hành, đến mức có một lần cậu đang đọc tiểu thuyết dưới mái hiên tí tách mưa rơi, cha mang món ngon đến trước mặt rồi gọi con nhưng cậu vẫn không rời mắt khỏi sách. Năm 14 tuổi, Truyền Hiệp viết một bài văn nói rằng đời người là bể khổ, chẳng có ý nghĩa gì và tỏ ý muốn được giải thoát. Có người sau khi đọc bài văn thì chột dạ, khuyên Kim Dung nên ngăn cản cậu bé khỏi những suy nghĩ này. Song nhà văn bảo con trai đúng. Ông khen Truyền Hiệp sớm nhận biết, tư tưởng sâu sắc.

Kim Dung không thể ngờ được rằng, cũng vì “sớm nhận biết”, Truyền Hiệp về cõi vĩnh hằng khi còn ở tuổi thanh xuân. Tháng 10/1976, Tra Truyền Hiệp tự tử, sau khi cãi vã với bạn gái qua điện thoại. Lúc đó, cậu chưa đầy 20 tuổi và đang là sinh viên năm nhất Đại học Columbia (Mỹ).

Lúc bấy giờ, có hai khả năng được đưa ra về lý do tự tử của Tra Truyền Hiệp.

6 Kim Dung 3Lý do thứ nhất liên quan tới việc Kim Dung và Chu Mai ly hôn. Ở Mỹ, Truyền Hiệp biết quan hệ giữa bố mẹ rạn nứt, sắp sửa chia tay nên rất buồn. Anh nhiều lần khuyên bố mẹ hàn gắn nhưng không thể. Gia đình tan vỡ là cú đòn mạnh giáng vào anh. Để rồi trong phút chán nản, cậu sinh viên nghĩ đến sự giải thoát.

Lý do thứ hai được đưa ra có liên quan tới tình cảm cá nhân của Tra Truyền Hiệp. Lúc đó, Truyền Hiệp yêu một cô gái sống ở San Francisco. Đôi tình nhân trẻ mâu thuẫn và Truyền Hiệp tự tử vì tình yêu không tốt đẹp.

Cái chết của con trai là nỗi đau không bao giờ bù đắp nổi đối với Kim Dung. Nhà văn từng hồi ức về quãng thời gian u ám sau khi con qua đời: “Sau khi nghe tin con mất ở Mỹ tôi đau đớn và u sầu. Nhưng hôm đó tôi có bài viết quan trọng cho báo. Vừa viết vừa rơi nước mắt. Lòng quặn thắt nhưng tôi vẫn phải viết”. Tiếp đến, ông đi Mỹ đưa thi thể con về Hong Kong mai táng.

Thời gian đó, Kim Dung từng muốn chết theo con. Một câu hỏi lớn xâm chiếm tâm hồn ông : “Tại sao con tự tử, tại sao con bỗng nhiên từ bỏ sinh mệnh. Tôi muốn tới cõi âm gặp Truyền Hiệp, muốn con giải đáp câu hỏi này”. Con trai tự tử cũng là lý do trực tiếp khiến nhà văn theo tín ngưỡng Phật giáo. Sau khi con qua đời, ông bắt đầu nghiên cứu Kinh Phật, từ sách Phật giáo tìm câu trả lời cho cuộc đời.

Năm 1991, Kim Dung bán tờ Minh Báo cho Vu Phẩm Hải. Không ít người cho rằng ông trao đứa con tinh thần của mình cho Vu Phẩm Hải vì người này có ngoại hình giống Tra Truyền Hiệp. Kim Dung nói rằng : “Về lý tính, tôi không nghĩ như thế. Nhưng Vu Phẩm Hải sinh cùng năm với con trai lớn của tôi, đều tuổi Khỉ. Tướng mạo đúng là hơi giống nhau. 9 Kim Dung 2Tình thân tự nhiên trỗi dậy trong tiềm thức. Cũng có thể là như vậy”.

Ba người con còn lại của Kim Dung nay đều đã là cha, là mẹ và không ai theo nghiệp văn chương. Con gái lớn Tra Truyền Thi tốt nghiệp Đại học York (Canada) với thành tích xuất sắc. Cô kết hôn năm 1988, cùng phó tổng biên tập một tờ báo của Hong Kong. Con gái thứ Tra Truyền Nột là một họa sĩ tài năng và rất tích cực làm từ thiện. Một số người thân cận với Kim Dung nói rằng, Tra Truyền Nột là cảm hứng để Kim Dung xây dựng hình tượng Tiểu Long Nữ.

Con trai thứ Tra Truyền Thích có vẻ ngoài rất giống Kim Dung. Hồi nhỏ anh không mấy nghe lời cha mẹ, học hành cũng không có thành tích gì nổi bật. Sau này, Kim Dung cho con du học ở Anh, cậu chọn ngành kế toán vì cho rằng “kế toán chỉ cần nhập dữ liệu vào các ô cố định là ra đáp số, thích hợp nhất cho những người lười”. Tốt nghiệp đại học trở về Hong Kong, Truyền Thích về làm phó giám đốc ở nhà xuất bản của Kim Dung, giúp cha quản lý công việc về xuất bản. (theo Hải Lan)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

– Xem thêm trên blog “Cà phê văn nghệ” vào ngày 1/9/2011. Xin bấm vào đường link : Luận bàn về ‘nhạc sến”

ai Trung Tín chuyển tiếp

8 Bac si 1CHUYỆN BÁC SĨ ZHIVAGO

Câu chuyện rất lạ, bây giờ mới biết : Chính CIA đã quảng bá các ấn bản tiểu thuyết “Doctor Zhivago” (Bác Sĩ Zhivago) của nhà văn Nga Boris Pasternak trong nỗ lực gây loạn trong nội bộ Liên Xô thời Chiến Tranh Lạnh, theo các hồ sơ mới giảỉ mật tuần này.

Sở tình báo Hoa Kỳ đã nhìn thấy tác phẩm văn chương tuyệt vời này là thách thức đối với chủ nghĩa Bôn-sê-vích, và là một cách để làm các công dân Liên Xô chất lúc đó chất vấn chính phủ Moscow rằng tại sao chính phủ đàn áp một trong những nhà văn vĩ đại của họ, theo tin Reuters.

Hồ sơ CIA, lấy được bởi nhật báo The Washington Post, kể chi tiết về cách CIA nhúng tay vào việc in sách này. Chính phủ Liên Xô đã cấm tiểu thuyết này, và sở tình báo Anh quốc trước tiên đã nhận ra giá trị tuyên truyền của tác phẩm hồi năm 1958, gửi sang cho CIA 2 cuộn phim chụp các trang sách, và đề nghị quảng bá sách này khắp Liên Xô và Đông Âu.

Chính phủ Moscow vừa nổi giận, vừa xấu hổ vì tiểu thuyết này thành công lớn, được ca ngợi và trở thành cuốn phim kinh điển năm 1965 do đạo diễn David Lean thực hiện, thắng 5 Giải Oscar và được đề cử cho giải phim hay nhất.

Tiểu thuyết của Pasternak đã kể lại cuộc đời của Yuri Zhivago, một bác sĩ và là một nhà thơ,8 Bac si 2 và mối tình của ông với 2 phụ nữ xuyên qua nhiều thập niên của cách mạng, chiến tranh, nội chiến và sự đàn áp. Tác phẩm “Doctor Zhivago” mang không khí thần bí tôn giáo, nhân vật chính không hòa hài với chủ nghĩa Bôn-sê-vích bấy giờ.

Các nhà phê bình Nga đã đấu tố Pasternak là kẻ phẩn bội, và kỹ nghệ xuất bản Liên Xô không đụng tới bản thảo của ông, nhưng một người trong làng văn chương Ý đã cầm một bản thảo ra khỏi Liên Xô và một công ty Ý đã ấn hành sách naỳ năm 1957.

Chẳng bao lâu sau, CIA nhúng tay liền, theo hồ sơ mật lấy được bởi hai tác giả Peter Finn và Petra Couvee khi tìm tài liệu cho cuốn sách của họ tưạ đề “The Zhivago Affair: The Kremlin, the CIA and the Battle Over a Forbidden Book” (Vấn Đề Zhivago: Điện Cẩm Linh, CIA và Trận Chiến Trên Một Cuốn Sách Cấm), sẽ phát hành vào tháng 6-2014.

Bản hồ sơ mật viế t: “Chúng ta có cơ hội làm công dân Liên Xô thắc mắc là có điều gì sai ở chính phủ Moscow, khi một tác phẩm văn chương viết bởi một trong những nhà văn vĩ đại của Nga lại không được in ở quê nhà bằng ngôn ngữ của chính tác giả cho chính dân tộc của ông đọc”. 8 Bac si 3CIA quyết định in sách này trong nhiều ngoạị ngữ để tặng miễn phí, trong nỗ lực bôi xấu Liên Xô.

CIA muốn giấu bàn tay của Mỹ trong việc quảng bá sách “Doctor Zhivago” nên đã đưa sang một nhà xuất bản Hòa Lan in ấn bản tiếng Nga — mặc dù nhà xuất bản Ý vẫn còn giữ bản quyền sách này. Sách phát hành khắp Châu Âu với mục tiêu chính là đưa vào hội chợ có hàng chục quốc gia tham dự năm 1958, có tên là “the 1958 Brussels Universal and International Exposition” — bởi vì Moscow đã cấp visa cho 16,000 công dân Nga tham dự.

8 Bac si 4Sau đó, CIA làm một ấn bản nhỏ cuốn này, nhỏ vừa để nhét vào túi và đôi khi tách làm 2 tập để dễ giấu. Nhiều cuốn sách nhỏ này trao tặng cho thanh niên Xô Viết và Đông Âu trong một hội nghị thanh niên ở Vienna năm 1959. Nhờ CIA, tác phẩm đã tới Moscow và các nước vệ tinh, tay chuyền tay.

Pasternak, cũng là một nhà thơ hàng đầu, đã thắng Giải Văn Chương Nobel (Nobel Prize for Literature) năm 1958 và ấn bản Anh ngữ của “Doctor Zhivago” trong 6 tháng liền nằm trên danh sách tác phẩm bán chạy của The New York Times năm 1958 và 1959. Pasternak ở lại Nga cho tới khi từ trần năm 1960, thọ 70 tuổi, sau khi bị tim và ung thư phổi. (theo Trần Khải)

Phan Tất Đại chuyển tiếp

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: