XEM TRANH HÍ HỌA CỦA CHÓE

Logo nhan vat 1

http://hoangnguyen1608.files.wordpress.com/2014/02/9-hoa-si-choe-1.jpgHÍ HỌA CỦA CHÓE

Viết về hội họa có lẽ không ai có đủ “thẩm quyền” hơn các họa sĩ. Họ là những người trong nghề nên có những nhận xét chuyên môn mà những người “ngoại đạo” như tôi không thể nào có được. Muốn làm nhà phê bình hội họa lại càng khó hơn vì chưa chắc một họa sĩ tài hoa đã là một nhà phê bình xuất sắc. Thế cho nên, bài viết này chỉ là một cái nhìn của người thưởng ngoạn những bức hí họa của họa sĩ Nguyễn Hải Chí (*) mà lâu nay ta biết đến qua cái tên Chóe trên báo chí.

Sự nghiệp hí họa của Chóe kéo dài qua hai thời kỳ, từ năm 1969 dưới thời VNCH và chấm dứt vào năm 2003 trong thời CHXHCN. 2003 là năm ông qua đời vì biến chứng của bệnh tiểu đường sau một thời gian bị lòa con mắt, đành phải “bó tay” xếp cọ. Họa sĩ mà mắt bị lòa thì cũng chẳng khác nào ca sĩ bị mất giọng.

Bước đường dẫn đến nghệ thuật của Nguyễn Hải Chí quả là… đặc biệt. Người thanh niên sinh trưởng tại An Giang bước vào nghệ thuật qua lãnh vực văn chương chứ không phải bằng con đường hội họa. Ông tâm sự : “Tôi đến với nghệ thuật vì… mê gái. Năm 20 tuổi, tôi thầm yêu trộm nhớ một cô gái Sài Gòn. Cô ấy có cả một tá sĩ quan chế độ cũ săn đón, còn tôi chỉ là một anh chàng thất học, không mong gì lọt vào mắt xanh người đẹp… Tôi biết nàng là độc giả của một tờ báo, vậy là tôi liều mạng sáng tác truyện ngắn với hy vọng sẽ được đăng…”

Chàng trai si tình làm liều thế nhưng lại có kết quả mỹ mãn : người con gái tên Nguyễn Thị Kim Loan đã trở thành vợ của ông cho đến ngày ông lìa đời. 9 Hoa si choe 2Và cũng nhờ si tình nên ông bước thẳng vào nghề viết lách, lại còn đoạt giải nhất về truyện ngắn của báo Tiền Tuyến năm 1969.

Cũng vào cuối năm đó, ông đã quen biết với nhiều nhân vật của làng báo Sài Gòn trong đó có nhà văn Viên Linh, chủ bút tờ Diễn Đàn. Khi họa sĩ chính của Diễn Đàn ra đi, bí quá, Viên Linh mới bảo: “Ông thử vẽ đi !”. Nguyễn Hải Chí kể tiếp, “Trước đây tôi chỉ mày mò học của một thầy giáo làng, nhưng nể bạn cứ vẽ liều. Vẽ xong, chẳng biết ký bút danh gì, Viên Linh lại bảo : “Ông tên Chí, vậy thì ký là Choé !”. Tôi nghe cái tên này thấy cũng kêu, vậy là thành bút danh…”

Từ tờ Diễn Đàn, ông còn vẽ cho tờ Báo Đen năm 1970, nhưng sự nghiệp vẽ tranh của Chóe vẫn chưa được độc giả lưu ý lắm. Thời đó, báo chí Sài Gòn đã có hai cây bút biếm nổi tiếng là Ngọc Dũng ký Tuýt và Đinh Hiển ký Hĩm. Phải đợi đến khi  chuyển qua cộng tác với báo Sóng Thần của Chu Tử ông mới bắt đầu được biết tới qua những bức hí họa.

Hí họa vẽ trong những năm 1972-1973 là những bức tranh lột tả tình hình xã hội tại miền Nam thời bấy giờ. Dĩ nhiên trong loại tranh biếm người họa sĩ chỉ vẽ ra những cảnh đáng phê phán, khác hẳn với loại tranh cổ động, tuyên truyền cho cái hay, cái đẹp của xã hội hoặc chế độ. 9 Hoa si choe 3Chính yếu tố này đã đi sâu vào suy nghĩ của người xem tranh, vì trông thì vui mắt thật nhưng vẫn có một cái gì đó nghèn nghẹn nơi cổ…

Dưới đây là những hình ảnh trong tranh của Chóe : từ chiếc cyclo thường thấy nơi thành thị xa hoa, đến hình ảnh người nông dân gầy giơ xương ở thôn quê và cuối cùng là một con gấu mang tên Prices (giá cả) to béo, ục ịch đang leo trên những bậc thang được kết bằng hình người…

H1: Vẽ tháng 8/1972H2: Vẽ tháng 3/1973H3: Vẽ tháng 5/1973

Năm 1973 cũng là năm diễn ra Hiệp định Paris về Việt Nam nhằm chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình giữa 4 bên tham chiến: Hoa Kỳ, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Việt Nam Cộng hòa ký kết tại Paris ngày 27/1/1973.

Lê Đức Thọ và Henry Kissinger, hai nhân vật chủ yếu trong cuộc đàm phán, cả hai ông đã được trao giải Nobel Hòa Bình năm 1973. Đây là đề tài thời sự nóng bỏng để báo chí khai thác và dĩ nhiên cũng là đề tài cho những bức hí họa của Chóe. Chân dung các nhân vật được lần lượt xuất hiện trên báo chí Sài Gòn.

Đầu tiên là Lê Đức Thọ của phía VNDCCH, người đã từ chối không nhận giải Nobel Hòa bình. Phía Mỹ có ngoại trưởng Henry Kissinger được Chóe vẽ với một cái miệng có hình lỗ khóa. Trong cặp mắt kính của Kissinger mang hình ảnh một bên là tháp Eiffel và bên kia là hình ngôi sao cũng có hình lỗ khóa. Chiếc mũi của Kissinger lại chính là chìa khóa, chắc là để mở miệng và mở mắt cho vị ngoại trưởng Mỹ gốc Do Thái này. H4: Vẽ tháng 6/1973

Cả hai nhân vận Lê Đức Thọ và Kissinger còn xuất hiện trong một bức tranh vẽ vào tháng 6/1973. Chóe vẽ hai người đang ngồi trên một con ngựa gỗ, 9 Hoa si choe 4một loại đồ chơi của trẻ em thời xưa để tạo cảm giác ngựa đang phi nhưng chỉ lắc lư tại chỗ chứ không hề chuyển động. Giữa hai nhân vật được che phủ bằng một tấm chăn có dòng chữ “Negotiations”, hay còn gọi là Đàm phán : H5: Vẽ tháng 5/1973

Bối cảnh chính trị thế giới vào thời điểm 1973 là cuộc “đi đêm” giữa Nixon và Mao Trạch Đông. Đó là nguyên nhân sâu xa dẫn đến Hiệp định Paris năn 1973. Cái “bắt tay hữu nghị” Hoa Kỳ – Trung Cộng được Chóe vẽ trên “chiếc cầu dựng bằng người”, tượng trưng cho hai miền Nam – Bắc Việt Nam. Chóe còn tiên đoán hòa bình cho Việt Nam bằng bức tranh một người Việt gầy giơ xương đón nhận hòa bình với chiếc nón lá. Khi “trái bom” hòa bình rơi xuống, chiếc nón lá bị rách toạc. Nhân vật trong tranh khiến có người liên tưởng đến một đệ tử của “cái bang” với chiếc nón lá xin tiền. Tác giả chỉ vẽ có vậy, ai muốn hiểu sao thì hiểu ! (H6)

Lúc sinh thời, họa sĩ Chóe cho rằng nghề của ông là vẽ “hí họa”, chứ không phải “biếm họa”. Ông nói : “Xin bạn hãy cùng tôi gọi con đường này là hí họa, vì hí họa là con đường rộng và lòng ta rộng theo… Trong hí họa cần cả nội dung lẫn hình thức. Không tạo được hình thức sẽ làm hỏng nội dung. Hình thức càng tốt, càng giảm được số chữ phải ghi trong tranh. Hí họa cần nhất là dễ nhìn, dễ phân biệt, tập trung làm nổi bật ý chính, tạo cho người xem chú ý ngay về sự khập khễnh của hình thức rồi mới dẫn dắt họ đến cái phi lý, cái lố bịch của nội dung”.

Hí họa của Chóe được các báo danh tiếng thế giới như The New York Times, Newsweek… chọn đăng. Cũng trong năm 1973, cuốn The World of Choé (Thế giới của Choé) được nhà xuất bản Glade Publications ấn hành tại Mỹ do công trình thu thập của nhà báo Barry Hilton. Một trong những bức tranh trong cuốn sách này, tuy là hí họa nhưng lại mang nét buồn của đất nước chiến tranh khi thế giới bước vào mùa Giáng sinh vui vẻ trong năm 1972.

Ông già Noel Việt Nam áo quần tả tơi, đầu đội nón lá và trên vai là chiếc đòn gánh với hai cái thúng thủng đáy, trống không, không quà Giáng sinh mà cũng chẳng nụ cười. Nếu quan sát kỹ hơn người xem sẽ thấy hai ngón chân cái của ông giao nhau vì ông vốn là người… Giao Chỉ (H7).

9 Hoa si choe 5Năm 2004, Chóe mang 29 bức tranh chân dung sơn dầu về những người phụ nữ đoạt giải Nobel sang Stockholm nhân Ngày Việt Nam tại Thụy Điển. Giới thưởng ngoạn nghệ thuật ở Bắc Âu có dịp nhìn lại những khuôn mặt nữ nổi tiếng thế giới như Berthan Von Suttner (Nobel Hòa bình, 1905), Grazzia Deledda (Nobel Văn chương, 1926), Sigrid Undset (Nobel Văn chương, 1928), Emily Greene Balch (Nobel Hòa bình, 1946), Rosalyn Yalow (Nobel Sinh lý học & Y học 1977), Rigoberta Menchu (Nobel Hòa bình, 1992) và cả chân dung Afred Nobel, người sáng lập giải thưởng.

Nhà báo Lê Minh Quốc nói về Chóe : “Tôi ấn tượng nhất Choé ở bức hí họa vẽ một người phụ nữ gánh trên vai cả trái đất mang tên Phụ nữ nước tôi. Đó là bức tranh đầy ý nghĩa về vai trò của người phụ nữ Việt Nam. Việc bức tranh ấy được chọn triển lãm hội hoạ quốc tế chứng tỏ tài năng của họa sỹ. Rất lâu nữa Việt Nam mới có được một họa sỹ biếm tài năng như Choé”.

Chóe đem bộ tranh Phụ nữ nước tôi đi dự triển lãm tranh quốc tế tại các thành phố lớn bên Nhật theo lời mời của lãnh sự Nhật Bản năm 1995. Theo tôi, bức tranh Chồng Con trong số tranh triển lãm mới “ấn tượng” nhất.

Tranh vẽ một người đàn bà mặc áo dài nhưng lại đi chân đất. Trên vai có đòn gánh nặng chĩu, một đầu là người chồng với chai rượu trong tay và điếu thuốc trên miệng. Đầu bên kia là 5 đứa con ngồi lọt thỏn trong một cái thúng. Tranh chỉ vỏn vẹn có hai chữ Children và Husband nhưng lại nói rất nhiều về sự tảo tần và chịu đựng của người phụ nữ Việt Nam.  H8: “Chồng con” (1995)

Bà Kim Loan nói về người chồng quá cố : “Có thể nói là cuộc đời của chồng tôi rất nhiều thăng trầm. Trước giải phóng ông là quân nhân, sau được chuyển về làm ở Bộ Tổng tham mưu của chế độ cũ nhưng thời đó có luật cấm quân nhân làm báo. Tuy nhiên vì mê nghề báo nên ông vẫn lén lút viết và đến năm 1974 bị lộ, bị bắt, ở tù được mấy tháng thì miền Nam giải phóng thì ông được tự do. Sau năm 1975, ông làm cho báo Lao Động gần một năm thì bị đưa đi học tập cải tạo cùng một số văn nghệ sĩ miền Nam. Nhưng thời gian cải tạo quá dài, đến 9 năm, từ 1976 – 1985 mới trở về”.

Những ngày cuối đời khi không còn nhìn rõ để vẽ, Chóe quay qua làm thơ. Những câu thơ dưới đây tuy không vần điệu nhưng đã nói lên nỗi lòng của người họa sĩ tài hoa :

9 Hoa si choe 6Trót làm người vui tính.

Khi gặp chuyện đau lòng.

Ta không dám khóc.

Bằng nước mắt…

Cuối năm 2002, Nguyễn Hải Chí được đưa sang Mỹ với hy vọng những tiến bộ y khoa có thể giúp ông kéo dài tuổi thọ. Ngày 18/1/2003, bác sĩ ở Virginia đã chích thuốc phục hồi thị lực cho ông. Khi được nhìn bằng mắt của mình, chỉ trong khoảng nửa giờ, ông vẽ cấp tốc một mạch 6 bức tranh. Một trong số 6 tác phẩm đó, ông đã vẽ những khuôn mặt cười, tràn đầy lạc quan, lúc nào cũng… chí chóe (H9).

Chú thích

(*) Nguyễn Hải Chí (1943 – 2003) là một họa sĩ vẽ tranh biếm nổi tiếng với bút danh Choé, ngoài ra ông còn có bút danh Trần Ai, Cap, Kit. Ông được coi là “họa sĩ biếm số một của Việt Nam” với những tranh biếm đặc sắc phê phán những thói hư tật xấu của xã hội qua nhiều thời kỳ. Ông vẽ chủ yếu là tranh sơn dầu, giấy dó và tranh lụa. Ngoài vẽ, Chóe còn được biết đến như một nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ.

9 Hoa si choe 7Nguyễn Hải Chí sinh ngày 11/11/1943 tại Cái Tàu Thượng, Hội An, Chợ Mới, An Giang. Sau đó gia đình ông chuyển về xã Vĩnh Tế dưới chân núi Sam, Châu Đốc.

Năm 1997, Choé bị đột quỵ, dẫn đến bại liệt một thời gian. Trước đó ông cũng đã mắc phải bệnh tiểu đường. Từ năm 1998 tới 2001, ông có 2 lần sang Pháp điều trị nhưng không thuyên giảm. Từ năm 2001, ông bắt đầu đi đứng khó khăn, mù mắt trái, mờ mắt phải, từ đó không vẽ nữa mà chuyển qua làm thơ, viết nhạc.

Cuối năm 2002, ông được bạn bè giúp đỡ đưa sang Virginia, Hoa Kỳ chữa bệnh. Ngày 22/2/2003, ông đột ngột bị ngộp thớ, 10 ngày sau đột quỵ và đứt mạch máu não. 3 giờ 50 phút sáng ngày 12/3/2003, ông qua đời tại bệnh viện Fairfax, Virginia. Lễ tang được cử hành tại nhà thờ các thánh tử đạo Arlington, sau đó được đưa về Việt Nam an táng tại nghĩa trang nhà thờ Thánh Mẫu, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai.

Yên Huỳnh chuyển tiếp

3 Tr Van Khe 1

CHÂN DUNG GIÁO SƯ

TRẦN VĂN KHÊ

Kiến thức uyên bác về âm nhạc dân tộc, giáo sư Trần Văn Khê dành trọn cuộc đời và tâm huyết của mình để chấn hưng, truyền bá âm nhạc dân tộc Việt Nam cho công chúng, đặc biệt là công chúng và giới chuyên môn ở nước ngoài.

Với chúng tôi, giáo sư Trần Văn Khê như là báu vật sống của nền âm nhạc dân tộc.  

Từ trong môi trường gia đình có bốn đời là nhạc sĩ, thuở ấu thơ của giáo sư đã thụ hưởng niềm đam mê âm nhạc dân tộc và bộc lộ tài năng âm nhạc từ nhỏ. Khi trưởng thành, ông vừa học ngành Y vừa theo đuổi sự nghiệp âm nhạc. Qua Pháp du học, tưởng chừng như ông dứt duyên nợ với âm nhạc, nhưng rồi bước chân số phận lại dẫn dắt ông trở lại với âm nhạc dân tộc, và từ đó, ông đã đem hết tâm sức, trí tuệ để quảng bá, chấn hưng âm nhạc dân tộc.

Đã vào tuổi 91, nhưng giáo sư vẫn còn rất tinh anh, minh mẫn và làm việc không ngừng. Khi chúng tôi đến thăm ông, phải chờ một lúc vì giáo sư đang có khách. Khoảng hai mươi phút sau, giáo sư được thư ký dìu ra phòng khách gặp chúng tôi. Trong buổi nói chuyện gần một tiếng đồng hồ đó, chúng tôi đã được nghe ông nói về âm nhạc dân tộc với sự say mê, hào hứng đầy tâm huyết và sự kính yêu.

Sự uyên bác về âm nhạc dân tộc của ông từng khiến bao người say mê, nay lại đến lượt chúng tôi ngưỡng mộ, kính phục ông. Để có sự uyên bác, niềm say mê đó quả không dễ, nếu không có một tình yêu lớn dành cho nó.

Tuổi niên thiếu tài hoa

Niềm say mê âm nhạc dân tộc ở giáo sư Trần Văn Khê có từ sớm, bắt nguồn từ gia đình có bốn đời làm nhạc sĩ. Từ nhỏ, ông đã được cô, cậu dạy chơi đàn kìm, đàn tranh. Lúc mẹ ông mang thai ông, cậu Năm Khương đã tới thổi sáo cho ông nghe. Khi ông sinh ra, cậu cũng tới thổi sáo để mừng ông. 3 Tr Van Khe 2Nhưng ông và hai em sớm mồ côi cha mẹ. Mẹ ông là Nguyễn Thị Dành, bị thương rồi mất năm 1930. Một năm sau, vì thương nhớ vợ mà cha ông qua đời. Ông và hai em trai được cô Ba Viện nuôi nấng, cho đi học võ, học đàn.

Từ nhỏ, Trần Văn Khê đã học rất giỏi. Ông từng được cấp học bổng, cấp phần thưởng đi du lịch nhiều nơi từ Sài Gòn ra Hà Nội. Năm 1934, ông vào trường Trung học Trương Vĩnh Ký. Ở đây, ông lập ban nhạc với hy vọng lấy nhạc Tây làm mới nhạc dân tộc. Học xong tú tài, ông ra Hà Nội theo học ngành Y. Cùng với Huỳnh Văn Tiểng, Lưu Hữu Phước… ông hoạt động trong phong trào của Tổng hội Sinh viên.

Năm 1949, ông qua Pháp học và chữa bệnh. Thời gian này, ông dự thi cuộc thi biểu diễn nhạc cụ âm nhạc dân tộc quốc tế. Ông đoạt giải nhì với tiết mục biểu diễn đàn tranh và đàn cò. Đồng giải nhì với ông là người biểu diễn đàn Mã đầu cầm của Mông Cổ. Liên Xô đoạt giải nhất với tiết mục biểu diễn đàn Balalaica… “Do hoàn cảnh khó khăn, có thời gian tôi phải đi đánh đàn tranh ở các tiệm ăn để có tiền ăn học. Năm 1951, tôi thi đậu vào trường Chánh trị Khoa giao dịch quốc tế. Vì bệnh nặng, tôi phải chữa bệnh đến năm 1954 mới ra viện. Trong lúc nằm ở bệnh viện, nhớ lại thời gian qua, tôi thấy mình như có lỗi với âm nhạc dân tộc. Tôi suy nghĩ muốn làm một điều gì đó để chuộc lỗi. Tôi tìm đọc các loại sách về lịch sử cổ của Việt Nam như: Đại Việt sử ký toàn thư… Và từ đó tôi nảy sinh ý định nghiên cứu, quảng bá âm nhạc dân tộc”- Giáo sư Trần Văn Khê tâm sự.

Năm 1958, ông theo học khoa nhạc học tại đại học Sorbonne, bảo vệ luận án tiến sĩ dưới sự hướng dẫn của các Giáo sư Jacques Chailley, Emile Gaspardone và André Schaeffner. 3 Tr Van Khe 3Tháng 6 năm đó, ông đậu Tiến sĩ Văn khoa (môn Nhạc học) của Đại học Sorbonne.

Khát khao, tâm huyết cùng âm nhạc Trò chuyện với ông, chúng tôi nhận ra nhiệt huyết muốn truyền thụ, quảng bá âm nhạc dân tộc trong con người ông quả là lớn lao. Nhiều năm liền, ông biểu diễn và quảng bá âm nhạc dân tộc ở 67 quốc gia, giảng dạy âm nhạc dân tộc tại 17 trường Đại học. Khi về nước, dưới sự hỗ trợ của UNESCO, ông cùng cộng sự thử nghiệm giảng dạy âm nhạc dân tộc cho học sinh tiểu học và tổ chức nhiều chương trình giới thiệu biểu diễn, quảng bá âm nhạc dân tộc.

Điều tha thiết nhất của ông là được nhìn thấy âm nhạc dân tộc Việt Nam hưng phát. “Muốn vậy, trước hết cần có sự ủng hộ mạnh mẽ của nhà nước từ chủ trương chiến lược phát triển và cả ngân sách. Chúng ta phải đem âm nhạc dân tộc vào trường học dạy cho các em để các em biết cái hay, cái đẹp của âm nhạc dân tộc. Từ đó mới hiểu mà yêu nó, tìm cách phát triển nó.”- giáo sư Trần Văn Khê thổ lộ. Tài trí và tâm huyết dành cho âm nhạc dân tộc của Giáo sư Trần Văn Khê khiến bao người cảm phục, kính ngưỡng. Ông Lê Ngọc Đình đã viết tặng ông bài thơ Cảm xúc Trần Văn Khê để tỏ lòng kính mộ ông. Xin dẫn bài thơ ra đây để bạn đọc thưởng lãm :

Tr van Khe“Nụ cười gửi khắp trời Âu

Mang tình đất Á thắm màu quê hương

Một phím nhớ, một cung thương

Một thang âm mở con đường từ tim

Đây tiếng tranh, nọ tiếng kìm

Cho bâng khuâng cả nỗi niềm tri âm

Phải đâu Tư Mã khúc cầm

Mà nghe như dạ ước thầm Văn Quân.

Phải đâu đàn Bá xuất thần

Mà trong thiên hạ chồn chân Tử Kỳ

Giai âm lắng buổi tương tri

Trần Văn Khê khúc cầm thi tuyệt vời”.

Nhận xét về Giáo sư Trần Văn Khê, Giáo sư Francois Picard trong tạp chí “Cahiers de Musiques Traditionnelles” 02/1989 (Tạp chí Âm nhạc Truyền thống, xuất bản tại Thụy Sĩ) viết : “Ngoài tài năng đặc biệt trong lĩnh vực âm nhạc truyền thống Việt Nam, Giáo sư Trần Văn Khê còn là một nhà nghiên cứu âm nhạc có mặt trong nhiều Hội nghị quốc tế từ mấy chục năm nay, một Giáo sư hoàn toàn tận tụy với học sinh của Người. Là một người tiếp nối công việc làm của những người tiền bối trong lĩnh vực Dân tộc nhạc học của nước Pháp. Giáo sư Trần Văn Khê đã biết phối hợp nhuần nhuyễn phương pháp nghiên cứu của phương Tây với một phong cách đặc biệt chứng tỏ rằng ông đã thấm nhuần văn hoá truyền khẩu của Châu Á và tỏ ra được sự tôn trọng truyền thống của nước ông”. (theo Nguyễn Thịnh)

Mai Trung Tín chuyển tiếp

Tr thieu nu 2NGƯỜI VIỆT ĐẸP NHƯ THẾ NÀO

TRONG MẮT NHIẾP ẢNH ?

Thế giới ngạc nhiên khi ngày càng có nhiều những bức ảnh chụp con người, đất nước Việt Nam xuất hiện trong những cuộc thi của giới nhiếp ảnh toàn cầu. Những tay máy đến từ nhiều quốc gia khác nhau đã cùng có niềm cảm hứng bất tận về Việt Nam.

H1: Chân dung đào nương Bạch Vân – Tác giả người Ý Davide Fiorenzo De Conti chụp tại Hà Nội. H2: Lời chào ngượng nghịu – Tác giả người Canada Dave Mercer chụp tại Lào Cai. Một cậu bé nhút nhát sống trong ngôi làng nhỏ ở miền núi phía Bắc Việt Nam. Em trốn trong rặng cây để nhìn ngó những người khách du lịch nước ngoài từ đằng xa trong khi các bạn em đã ùa ra tíu tít với những “ông bà Tây”. Từ trong rặng cây em nói vọng lên “Hello !” khiến đoàn khách du lịch rất thích thú. H3: Cậu bé thắp đèn lồng – Tác giả người Mỹ Jason Rogers chụp tại Hội An.

8 Nhiep anh 1

H4: Chờ đợi – Tác giả người Nhật Rio Akasaka chụp tại Hội An. Một bà cụ đang chờ khách du lịch lên thuyền ở Hội An. H5: Cựu chiến binh – Tác giả người Mexico Sergio Díaz Fernández chụp tại Huế. Người đàn ông này từng là cựu chiến binh, hiện giờ ông bán vé số dạo. Cuộc trò chuyện bằng cử chỉ giữa Fernández và ông cụ, (kỳ lạ thay) họ vẫn hiểu được ý nhau. H6: Thời gian vô tận – Tác giả người Mỹ Robert Raduenzel chụp tại Hội An.

8 Nhiep anh 2

H7: Bóng in dưới ruộng – Tác giả người Bỉ Adriaan Devillé. “Tôi đang đi từ thị trấn này sang thị trấn khác, say sưa ngắm nhìn cảnh vật với rất nhiều những ruộng lúa xinh đẹp, bất ngờ tôi nhìn xuống một khoảnh ruộng, chợt nhận ra có bóng người in dưới đó. Đây là một khoảnh khắc chớp nhoáng.”

8 Nhiep anh 3

H8: Đun nước pha trà – Tác giả người Bỉ Adriaan Devillé. “Tôi được người đàn ông này mời về nhà uống trà. Ban đầu tôi tưởng mình sẽ uống trà nhưng sau đó anh mang rượu gạo ra mời tôi, chúng tôi uống hết chén này đến chén khác, khoảng hai tiếng đồng hồ, giao tiếp bằng ánh mắt, cử chỉ và không nói gì. Bọn trẻ trong làng thấp thoáng ở bậu cửa, chúng muốn nhìn thật kỹ vị khách lạ là tôi. Đó là một trong những trải nghiệm kỳ lạ.

H9: Họa sĩ vẽ chân dung – Tác giả người Canada Jennifer Holmes Beamer chụp tại Hà Nội. “Băng qua những con phố đông đúc ở Hà Nội, tôi nhìn thấy người họa sĩ già này. Vẻ tập trung cao độ trên khuôn mặt ông và sự hứng thú khi tay đưa bút vẽ khiến tôi tưởng như ông đang sống trong một thế giới riêng tịch mịch không liên quan gì tới phố phường huyên náo.” H10: Tắm mát – Tác giả người Úc Ben Johnson chụp tại Hà Nội. Con hẻm nhỏ tối tăm dẫn vào một khoảnh sân trong đầy nắng, chiếu rọi hai anh em đang đùa nghịch với nhau bằng vòi phun nước để xua đi cái nóng nực của trưa hè. H11: Chùa Long Tuyền – Tác giả người Úc Mike Lee-Ack chụp tại Hội An.

8 Nhiep anh 4

H12: Nụ cười của em – Tác giả người Việt Nguyễn Bông chụp tại Hồ Chí Minh. “Nụ cười trong trẻo của em bé sớm phải bước vào cuộc mưu sinh nhọc nhằn đã đem lại cho tôi một cảm xúc kỳ lạ trong những ngày Tết âm lịch vừa qua. Khi nhà nhà quây quần bên mâm cơm thịnh soạn và ăn vận những áo quần đẹp nhất, em bé này vẫn ngày ngày xách hộp đi đánh giày nhưng nụ cười em vẫn rất tươi vui.” H13: Đông gặp Tây – Tác giả người Mỹ Loren Klein chụp tại Đà Lạt. Bắt gặp một chiếc xe Citroen của Pháp đậu trên ngọn đồi xinh đẹp ở Đà Lạt khiến nhiếp ảnh gia Klein rất tâm đắc. H14: Buổi sáng hối hả – Tác giả người Mỹ Ayelet Daniel chụp tại Hội An. (theo Hồ Bích NgọcẢnh: National Geographic)

Nguyễn Văn Danh chuyển tiếp

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: