BOM NỔ TRONG LÀNG SHOWBIZ

Logo vannghe

NS Ng Anh 9

NGUYỄN ÁNH 9 “MỔ XẺ”

Đàm Vĩnh Hưng, Hồ Ngọc Hà

Với sự am hiểu sâu sắc, nhạc sỹ Nguyễn Ánh 9 không ngần ngại ‘mổ xẻ’ các gương mặt đình đám nhất làng nhạc Việt như  Thanh Lam, Đàm Vĩnh Hưng, Mỹ Tâm, Hà Hồ.

– Có thâm niên 60 năm trong nghề, ông đánh giá thế nào về thị trường âm nhạc Việt Nam hiện nay ?

Việt Nam hiện tại chỉ có giải trí, không có nghệ thuật. Bây giờ, nhạc để xem nhiều hơn là để nghe. Người ta làm giải trí kiếm tiền, coi qua rồi bỏ chứ hiếm người tâm huyết làm nghệ thuật. Điều này khiến tôi buồn lắm vì con đường nghệ thuật của mình không có những người chung chí hướng để làm tốt vai trò nghệ sỹ.

– So với thế hệ trước như ông, giới ca nhạc sỹ Việt hiện nay có gì khác biệt đáng nói ?

Hồi xưa, người nhạc sỹ viết ca khúc từ những cảm xúc thật của họ, họ viết ra để chia sẻ niềm vui, nỗi buồn cho mọi người chứ họ không viết nhạc để bán. 9 Ca si 3Còn bây giờ, nhạc sỹ viết nhạc theo yêu cầu đơn đặt hàng nên âm nhạc không có hồn, không có cảm xúc thật của người sáng tác.

Ca sỹ bây giờ đa số chỉ chú trọng ăn mặc, make-up cho đẹp và lên sân khấu hát thì sau lưng có một đám múa. Nhưng ít chú trọng đến xúc cảm âm nhạc, không để tâm hồn vào bài hát.

Hồi xưa, có những giọng ca còn để tiếng đến bây giờ như Lệ Thu, Thanh Thúy, Thái Thanh… nhưng bây giờ những ca sỹ hát giọng tốt đếm trên đầu ngón tay, đã vậy lại bị vướng vào kỹ thuật thanh nhạc. Tôi nói có lẽ sẽ đụng chạm đến những người học thanh nhạc. Người ca sỹ học thanh nhạc hát phải phát âm cho tròn chữ, và cố gắng đưa giọng mình cho tròn trịa, giọng ngân cao vút… nhưng quá mải lo kỹ thuật nên hát không có cảm xúc !

Giọng Hồ Ngọc Hà yếu lắm…

– Những ca sỹ được phong hàng diva như Hồng Nhung, Thanh Lam, Mỹ Linh, Trần Thu Hà có bị vướng vào kỹ thuật thanh nhạc ?

Thanh Lam, Mỹ Linh giọng hát rất đẹp, cái gì cũng tốt nhưng đều bị vướng kỹ thuật thanh nhạc nên nhiều lúc nhạc cảm không có, tâm hồn bài hát không có. Hồng Nhung hát tốt hơn Mỹ Linh, Mỹ Linh tốt hơn Thanh Lam.

9 Ca si 1Đơn cử, nghe Thanh Lam hát bài Cô đơn của tôi, tôi buồn lắm ! Nó không ra cái cô đơn,không có hồn dù giọng đẹp thiệt ! Thanh Lam hát những bài sâu lắng nhiều khi đóng kịch nhiều hơn là hát.

Mà đóng kịch phải như người diễn viên, người ta nhập hồn vào vai diễn đó, ví dụ Kim Cương trong Lá sầu riêng, cô là nhân vật cô gái đau khổ tên Tâm chứ không phải là nghệ sỹ Kim Cương, phải quên Kim Cương đi ! Ca sỹ cũng phải hát ‘nhập vai’ như vậy mới ra ca sỹ.

Trần Thu Hà thì khôn hơn, biết cách lợi dụng kỹ thuật để áp dụng. Nhưng mấy người được như Trần Thu Hà ? Người nào cũng phô trương, tôi phải hát giọng cao tới nốt đó tôi mới là ca sỹ, còn hát chưa tới thì chưa phải là ca sỹ. Cái đó là sai lầm tai hại vô cùng và không ai chấp nhận.

– Hai nữ ca sỹ đang nổi tiếng nhất trên thị trường hiện nay là Mỹ Tâm và Hồ Ngọc Hà, ông đánh giá tài năng của họ ra sao ?

Mỹ Tâm chỉ hát nhạc Pop bình thường thôi, nhưng được cái là sáng sân khấu, xử lý bài hát chính xác. Mỹ Tâm cũng có những ca khúc hát không tới, gặp bài nào hát tới mới hay, như Cây đàn sinh viên, Ước gì…

Mỹ Tâm hát chỉ hợp với tuổi trẻ. Về tính nghệ thuật thì Hồng Nhung, Trần Thu Hà hát xong có để lại ấn tượng, còn Mỹ Tâm chỉ nghe vui mắt, vui tai, nghe qua xong rồi thì thôi, không để lại ấn tượng gì hết.

Tuan NgocMỹ Tâm được cái là may mắn rơi vào đúng thời điểm không có ai cạnh tranh, từ đó nổi tiếng và khi nổi tiếng rồi thì rất khôn khéo đầu tư vào hát, múa, sắc đẹp để giữ vị trí.

Hồ Ngọc Hà hát chỉ nghe chơi thôi ! Giọng Hồ Ngọc Hà yếu lắm, khều khào không à! Hồ Ngọc Hà đẹp, có vóc dáng sân khấu, chịu khó múa… cái gì cũng đẹp nhưng giọng hát thì lại không được.

Khi diễn tả nội tâm, Hồ Ngọc Hà diễn kịch tính nhưng đóng kịch chứ không thật. Ca sỹ hát phải biến mình thành nhân vật trong ca khúc mới hiểu nỗi đau làm sao. Không lẽ, ngoài đời mình buồn là phải hét, gào thét ? Đâu phải vậy !

 Với các giọng ca nam đang nổi tiếng như Bằng Kiều, Đàm Vĩnh Hưng, Quang Dũng… ông đánh giá thế nào ?

Bằng Kiều cũng giọng tốt như Trần Thu Hà nhưng sau này khoe giọng quá, cố hát lên cao vút để không ai bắt chước được. Thành ra, Bằng Kiều hát bài Buồn ơi chào mi của tôi khiến khán giả ở dưới sững sờ luôn ! Tính lại thì hiệu quả sân khấu có nhưng tôi mở băng ra nghe thì phải nghe Tuấn Ngọc hay Xuân Phú, Trọng Bắc hát.

Quang Dũng hát được vài bài của Trịnh Công Sơn chứ không phải là tất cả. Còn Đàm Vĩnh Hưng chỉ được bề nổi vậy thôi, tôi không cho là ca sỹ đúng nghĩa. Tôi chỉ cho Đàm Vĩnh Hưng là một người hát. Đàm Vĩnh Hưng cố hát nhạc xưa, nhạc vàng mà hát có ra đâu !

9 Ca si 2Đàm Vĩnh Hưng hát bài Ai đưa em về của tôi, tôi bảo ‘con đừng hát bài của bố nữa, tội nghiệp bố lắm’. Tôi không thích, tôi nói thẳng luôn. Đàm Vĩnh Hưng nói ‘nhưng con thích hát nhạc bố…’, tôi nói ‘nhưng con không nên hát nhạc của bố thì hay hơn’.

Thật ra, giọng Đàm Vĩnh Hưng nửa Nam nửa Bắc, cách thức hát cũng không có và lối hát cũng vậy. Hồi xưa, Đàm Vĩnh Hưng mà đi hát thì chỉ xứng là ca sỹ loại C hát lót chứ không được vào hạng ca sỹ chính của phòng trà đâu!

– Ngoài danh ca Tuấn Ngọc thì những giọng ca nào khiến ông hài lòng nhất ?

Giọng nữ thì tôi thích Ngọc Anh, Hồng Nhung, Ánh Tuyết, Trần Thu Hà… Nguyên Thảo nếu tiếp tục hát như ngày xưa thì rất hay. Ngày xưa, Nguyên Thảo hát cho thỏa đam mê còn sau này, bị gò bó vào kỹ thuật như Mỹ Linh để khoe giọng và vô tình giết chết tình cảm.

Vừa rồi làm đĩa than của tôi có 2 bài Nguyên Thảo hát. Cách đây 6 năm, Nguyên Thảo hát Buồn ơi chào mi xuất thần luôn, nhưng giờ Nguyên Thảo để tâm đến kỹ thuật nhiều nên tình cảm không còn, so ra khác hẳn.

Giọng nam thì ngoài Tuấn Ngọc còn có Trọng Bắc, Lê Hiếu… Tuấn Hiệp lúc trước hát tốt, tôi thích nhưng giờ chạy theo hát nhạc vàng bị mất chất.

– Nhưng rõ ràng trên thị trường, những giọng ca này không phải nổi tiếng nhất, được khán giả ưu ái nhất. Theo ông vì sao có nghịch lý này ?

Tr ca si 1Nhiều ca sỹ hát hay nhưng chưa nổi được, tại vì bây giờ còn phụ thuộc vào công nghệ lăng xê. Khán giả cũng bị ảnh hưởng bởi phim ảnh Hàn Quốc nhiều quá, 10 cái clip của Hàn Quốc thì 11 cái có nhảy rồi! Cái đó gọi là âm nhạc giải trí, nghe qua rồi bỏ, khác xa với nghệ thuật.

Tôi thấy giới trẻ bây giờ nghe nhạc vô tội vạ, nghe theo phong trào, chạy theo lai căng ngoại quốc nhiều quá nên không còn bản chất.

Mong có nhiều nghệ sỹ ‘tử tế’ và người nghe ‘tử tế’

– Với những đánh giá này, phải chăng gu thưởng thức âm nhạc bây giờ của khán giả quá khác với ông, bởi đơn cử, Đàm Vĩnh Hưng đang được phong là ‘ông hoàng nhạc Việt’ ?

Không phải ! Nếu đem so sánh Tuấn Ngọc với Đàm Vĩnh Hưng, người ta vẫn thích nghe Tuấn Ngọc hát nhiều hơn, đúng không ?

Nghe Tuấn Ngọc hát thấy nó khác liền, hát ra là cảm xúc đến với người nghe chứ không phải gắng gượng. Tại vì Tuấn Ngọc đã sống trong bài hát đó, khi hát Tuấn Ngọc để tâm trạng vào bài hát, nói lên tâm trạng của nhiều người. Ví dụ khi mình bị người yêu bỏ, nghe Tuấn Ngọc hát Buồn ơi chào mi, nghe nó đã lắm!

Tuấn Ngọc vẫn là giọng ca số một dù tuổi tác, thời gian làm cho giọng của Tuấn Ngọc không còn được đẹp như ngày xưa nữa, nhưng cái xúc cảm vẫn là Tuấn Ngọc và xúc cảm càng ngày càng sâu hơn.

 Vậy theo ông, thị trường nhạc Việt sẽ đi về đâu ?

Đây là vấn đề lớn, cả một thế hệ chứ không phải đơn giản, ăn thua là cách giáo dục của gia đình với con em làm sao. Nếu trong một gia đình chỉ có tối ngày đi kiếm tiền thì tinh thần nghệ thuật của họ chết rồi, bị tiền bạc chi phối hết.

Ng Anh 9-2Thành ra, họ cũng không chăm sóc con cái, cứ cho tiền là xong. Họ cũng ỷ lại tiền, đưa con vào trường này trường kia, mặc con muốn làm gì thì làm.

Theo tôi, thị trường nhạc Việt vẫn đang nằm yên. Rồi từ từ, nhạc thị trường sẽ rớt dần và tới một giai đoạn nào đó, nghệ thuật sẽ lên ngôi. Nhạc thị trường tự động phát sinh rồi sẽ tự động chết bởi những gì không hay sẽ không tồn tại. Tôi tin tưởng như vậy. Đời tôi không thấy nhưng đời con, đời cháu của tôi sẽ thấy điều này.

– Sau 60 năm cống hiến cho nghệ thuật, điều ông mong muốn nhất là gì ?

Tôi chỉ mong muốn duy nhất là có nhiều nghệ sỹ tử tế và người nghe nhạc tử tế. Tất cả những gì cứ để thử lửa đi, đốt cách mấy thì vàng cũng vẫn là vàng. Mình hãnh diện là người Việt Nam không thua ai hết !

– Xin cảm ơn ông ! (theo VTC)

Tr cao boi gia 1LỜI BÀN CỦA CAO BỒI GIÀ :

Trước 40 năm, Cao Bồi Già từng có tên trong giới phê bình tân nhạc – điện ảnh miền Nam thời bấy giờ. Còn nay nhà nước cho rằng Cao Bồi Già không có “biên chế” để viết và lách trong chế độ XHCN này, nên đành phong bút.

Nay đọc xong bài phỏng vấn nhạc sĩ “3 Không” Nguyễn Ánh 9, thì trong bụng mửng thầm, vì trong làng ký giả còn có người không làm bồi bút cho những cô cậu ca sĩ dị hợm, ví như DL trên một nhật báo nọ… cứ hể tên ca sị Mít tơ Khỉ Gió đau bụng đi cầu cũng lên báo thông tin cho các fans  của tên Mít tờ chia sẻ cái hơi hám kinh khủng đó ! (không biết BBT tờ báo có biết điều này không ?)

Đó là khen người viết trên VTC và cả nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 trong bài phỏng vấn nói trên. Còn Cao Bồi Già chỉ có thể nói thêm :

Tho cao 21/- Ngày anh thợ cạo tập tênh nhảy vào làng ca hát, thì nhạc sĩ 3T có nói trong một bàn tiệc rằng : “thằng này hỏi tôi, muốn thành danh phải trình bày những ca khúc nào ?” tôi nói (NS3T) “Em chọn mấy bài Slow, Boston rồi luyến láy giọng như kiểu Chế Linh thì ăn tiền, hiện giờ mới mở cửa các sân khấu, em sẽ thành sao”.

Quả đúng như lời nhạc sĩ 3T, tên ca sĩ này hát sến “đéo chịu được”. Sến đến nỗi nó vô trại giam thăm mẹ ruột ở tù vì tội tham ô, không dám nhận mẹ con, sợ “vấy bẩn” cái tên Mít tờ của mình !

2/- Còn cô ca sĩ ở xứ “chó ngáp phải ruồi” (sau 1975 vài năm, danh từ ám chỉ một tỉnh nằm phía Bắc cầu Bến Hải) sau khi hiện tượng Karaoke du nhập vào Việt Nam, đêm ngày tập dượt qua micro rồi đi thi hát ở hội làng, hội tỉnh rồi ra thành phố tranh tài, Tr ca si 2vài  năm sau được cậu ấm xứ Hà thành ấp, nhưng bà già biết “con ca sĩ” này “nổ” chỉ nhằm vào gia tài khi tuyên bố… có thai (giả) với cậu ấm, nên kịp bị tống về… rừng.

Nơi rừng cao, số cô ca sĩ này được gặp may, lại vớ tiếp anh công tử phố núi, sống đến có con (hổng hiểu con ai ?) đến nay, nhưng bà mẹ chồng vẫn còn nghi ngờ tính chân thật của cô nàng, nên luôn lắc đầu, không cho con trai làm giấy kết hôn. Để xem chuyện hậu của mối tình trên phố núi này ra sao.

Cao Bồi Già

Logo nhan vat 1

9 Son Nam 1SƠN NAM

NHÀ VĂN MIỆT VƯỜN

Thuở sinh thời, nhà văn Sơn  Nam  được người đọc gán cho nhiều cai tên nghe rất lạ : Ông Già Đi BộÔng Già Nam BộÔng Già Ba Tri hoặc Nhà Nam Bộ HọcPho Tự Điển Sống Về Miền  Nam … Tuy nhiên, theo tôi, danh hiệu Nhà văn Miệt Vườn là ý nghĩa hơn cả.

Xưa kia người ta đã dùng danh từ Miệt Vườn để chỉ Nam kỳ Lục tỉnh từ thời nhà Nguyễn, tức là khoảng từ năm 1832 (cải cách hành chính của vua Minh Mạng) tới năm 1862 (khi Pháp chiếm 3 tỉnh Miền Đông) và năm 1867 (khi Pháp chiếm nốt 3 tỉnh Miền Tây).

Năm 1832, Vua Minh Mạng đã đổi các Trấn thành Tỉnh, đặt ra Nam Kỳ và chia đất Nam Kỳ, vốn trước là Tổng trấn Gia Định, thành 6 tỉnh nên gọi là Nam Kỳ Lục tỉnh hay được gọi tắt là Lục tỉnh. Đó là các tỉnh :

(1) Phiên An, năm 1836 đổi thành Gia Định (tỉnh lỵ là tỉnh thành Sài Gòn); (2) Biên Hòa (tỉnh lỵ là tỉnh thành Biên Hòa); (3) Định Tường (tỉnh lỵ là tỉnh thành Mỹ Tho) ở miền Đông; (4) Vĩnh Long (tỉnh lỵ là tỉnh thành Vĩnh Long); (5) An Giang (tỉnh lỵ là tỉnh thành Châu Đốc); (6) Hà Tiên (tỉnh lỵ là tỉnh thành Hà Tiên) ở miền Tây.

Nhà Nguyễn đặt tên Lục tỉnh dựa theo 6 từ cuối của một câu thơ cổ :

Khoái mã gia biên vĩnh định an hà

(Phóng ngựa ra roi giữ yên non nước).

Do đó, các tỉnh có tên : Gia Định, Biên Hòa, Vĩnh Long, Định Tường, An Giang và Tiên. (Theo Nguyễn Quang Thắng trong Trịnh Hoài Đức, một trong Gia Định tam gia, Nam Bộ xưa và nay, NXB TP. HCM, 2005, tr.147).

Ngay từ ban đầu thành lập Lục tỉnh, thành phố Sài Gòn trực thuộc tỉnh Gia Định. Trải qua năm tháng, hai tỉnh Biên Hòa và Gia Định tách khỏi nhóm Lục tỉnh, thuật ngữ Lục tỉnh thật sự chỉ còn ‘Tứ tỉnh’ nằm trong khu vục Đồng bằng sông Cửu Long, được gọi chung là Miền Tây hoặc Miệt Vườn.  Hãy nghe chính Sơn  Nam  viết về Miệt Vườn:

9 Son Nam 2Trước năm 1945 và có lẽ trước năm 1960, người địa phương không gọi ‘Đồng bằng sông Cửu Long’ mà gọi là Miệt Vườn, với câu hát khá phổ biến:

Mẹ mong gả thiếp về vườn,

Ăn bông bí luộc, dưa hường nấu canh…

Đọc những tác phẩm của Nhà văn Miệt vườn Sơn  Nam  ta có dịp làm quen với rất nhiều địa danh miền  Nam. Những tên bắt đầu bằng Cái có đến hơn một chục nơi như Cái Bè, Cái Bé, Cái Côn, Cái Hươu, Cái Mơn, Cái Nai, Cái Nước, Cái Răng, Cái Sắn, Cái Thia, Cái Vồn, Cái Vừng… Những địa danh bắt đầu bằng Giồng có Giồng Ông Tố, Giồng Tháp, Giồng Tượng, Giồng Xe;  có Gò Bầu, Gò Găng, Gò Quao, Gò Tre, Gò Xoài; Hòn thì gồm Hòn Chông, Hòn Đất; Vàm có Vàm Cỏ, Vàm Láng, Vàm Nao, Vàm Rầy, Vàm Thuận, Vàm Trư; còn Xẻo thì có những tên ngộ nghĩnh như Xẻo Bần, Xẻo Lá, Xẻo Nước, Xẻo Rô…

Miệt vườn còn có những cái tên ‘sặc mùi’ Nam bộ, mang âm hưởng Cao Miên, như Cà Bây Ngọp, Chắc Cà Đao, Chắc Băng, Láng Thé, Lấp Vò, Man Thít, Mo So, Soài Rạp, Tà Lơn, Thốt Nốt và hàng loạt những địa danh ‘bí hiểm’ như Tắt Ổ Cu, Tắt Ăn Chè, Tắt Quanh Queo hay Trà Ết, Trà Lồng, Trà Niền… Đọc Sơn Nam ta có dịp khám phá những địa danh vừa lạ lẫm, vừa mộc mạc, tưởng chừng như lạc vào một thế giới khác. Hãy nghe Sơn Nam giải thích về cái tên Cà Bây Ngọp trong Tình nghĩa giáo khoa thư :

Xứ Cà Bây Ngọp, nghĩa là trâu chết. Hồi đó nghe nói trâu “len” tới đây thất bại, phong thổ ẩm thấp, trâu chết nhiều quá. Họ đặt tên kỷ niệm luôn… Bởi vậy dân tình bệnh hoạn, thưa thớt, làng này chưa cất nổi cái trường học…”

Qua câu chuyện về xứ Cà Bây Ngọp, ta có dịp biết đến từ “len” trâu, tên một truyện ngắn của Sơn  Nam  đã được dựng thành phim Mùa len trâu bởi đạo diễn trẻ Nghiêm Minh. Ông giải thích : “Len ở đây có gốc tiếng Khơme, là tháo ra, cởi ra. “Len Krabey” nghĩa là tháo cho trâu chạy ra. Hồi xưa trâu nhiều, mà người thương trâu như bạn, giăng mùng cho trâu ngủ để khỏi bị muỗi chích, mùa nước nổi phải dắt trâu lên núi tránh nước”.

9 Son Nam 3Chủ nhân đất miệt vườn gồm ba dân tộc : người Việt, người Hoa và người Khơme. Qua các tác phẩm của Sơn  Nam  ta được làm quen với những lễ hội như đua ghe ngo, lễ cúng trăng, ngày bổ tróc của người Khơme. TrongHồi ức Sơn  Nam , tác giả kể lại :

“…Khi vào trường làng, tôi học chung với vài cậu bé Việt lai Hoa, Hoa lai Khơme. Học trò không mấy đứa có khai sinh, tên nghe ngộ nghĩnh như thằng Tứng, thằng Khưng, thằng Xa Ðơn. Lắm đứa ở trần mặc quần cụt vào lớp, thỉnh thoảng lén ra ngoài sân rồi trở về nhà…

…Nhưng sôi động nhất là sự hiện diện của người Hoa, phần lớn là Triều Châu, họ mua bán sỉ lẻ, đặc biệt là tổ chức sòng bạc ngày đêm, gần như là công khai. Thanh niên phần đông là lai tạp, chiều chiều đến học võ và trình diễn nào võ Khơme, võ Việt Nam (?), võ Triều Châu, võ Lào, võ Xiêm (nhất là dịp lễ hội ở chùa Phật người Khơme)”.

Người Khơme xuất hiện trong tác phẩm của Sơn Nam với nhiều tình cảm ưu ái. Bút hiệu Sơn Nam của ông cũng gắn với họ một kỷ niệm. Sơn Nam nói, ông là người Kinh, cha mẹ đặt tên là Phạm Minh Tài, (tên trong giấy khai sinh là Phạm Minh Tày, giải thích cái tên này, ông bảo do làng xã ghi lộn chữ “i” thành chữ “y”), sinh ở An Biên, tỉnh Rạch Giá, nay là tỉnh Kiên Giang. Lúc còn nhỏ mẹ ông không đủ sữa cho ông bú, nên ở xóm có một bà mẹ Khơme tốt bụng, đã cho ông bú ‘ké’. Sau này, lớn lên viết văn, để nhớ ơn bà, ông lấy bút hiệu khởi đầu bằng chữ Sơn (biểu thị một họ lớn, 9 Son Nam 4trong một số họ phổ biến của người Khơme) còn chữ Nam là ở miền Nam. Bây giờ, nếu ai hiểu bút danh của ông là “một đỉnh núi cao ở miền Nam ”, thì theo tôi, cũng rất phù hợp.

Trong Hồi ký Sơn  Nam ông đã tự thuật :

Tôi chào đời vào năm 1926 ở vùng U Minh Hạ, thuộc khu vực rừng tràm trầm thủy ven vịnh Xiêm La mà Pháp khoanh vùng để bảo quản và quản lý khá chặt chẽ, tuy nhiên người dân địa phưong có thể đốn cây tươi để bán lẻ tẻ hoặc dùng trong gia đình. Ðây là khu vực thuộc huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang, với con rạch Thứ Sáu, hệ thống rạch mà Gia Ðịnh Thành Thông Chí đời Gia Long đã mô tả. Hơn chục con rạch ngắn, cong queo, bắt nguồn từ giữa rừng chảy ra biển, từ Ðông sang Tây, chẳng dính dấp gì đến con sông Hậu Giang. Mùa mưa, nước tràn vùng trũng, chịu ảnh hưởng hải triều, 24 giờ có hai lần lớn ròng, vì vậy, nước dưới rạch như mãi lưu thông.

… Lớn lên, đâu khoảng tôi 6 tuổi, cha tôi là con út trong gia đình bèn rời bỏ quê hương đi khẩn đất, lên phía Bắc, ven vịnh  Thái Lan, cách thị xã Rạch Giá chừng 15 kilômét phía Hà Tiên (nay gọi là vùng ven khu Tứ Giác). Bấy giờ con kinh Rạch Giá-Hà Tiên vừa đào xong nhưng chưa được sử dụng vì bên bờ thưa thớt dân cư, nước phèn mặn. Dọc theo mé biển nhiều giồng cát cao ráo đã có người Khơme định cư, co cụm trên cao, ven giồng là đất thấp, úng lụt. Thêm vài ngọn đồi thơ mộng, dính vào đất liền, gọi là vùng Hòn Chông, Ba Hòn với hai cột đá cao, nằm nghiêng một chiều, gọi hòn Phụ Tử rồi lên Hà Tiên gặp nhiều hòn đá vôi (xi măng Hà Tiên). Ăn đến biên giới là những thắng cảnh như Tô Châu, Đông Hồ, Thạch Ðộng, gần xa ngoài biển là hàng chục đảo lớn nhỏ, khi trời quang mây tạnh, nhìn thấy dạng đảo Phú Quốc khá cao và dài. Không khí u buồn nhưng chưa quá ảm đạm. Còn đâu thời Mạc Thiên Tứ với Chiêu Anh Các !”.

Người đọc những tác phẩm của Sơn  Nam  cảm thấy thích thú qua ‘ngôn ngữ kể chuyện’ và qua những đối thoại của các nhân vật ‘miệt vườn’. Ngôn ngữ miền  Nam  này bao gồm cả ngữ âm, ngữ pháp lẫn từ vựng. Cũng phải nói thêm, không phải chỉ mình Sơn  Nam  mới có loại ngôn ngữ đó. Đọc Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của, Lê Ngọc Trụ, Vương Hồng Sển, Hồ Biểu Chánh, Phú Đức, Bình Nguyên Lộc… người ta thấy ngay nét đặc trưng của miền Nam thời tiền chiến nhưng phải đợi đến thời của Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam và sau này là Nguyễn Ngọc Tư người đọc mới cảm nhận hết được cái mộc mạc, chân chất của những người uống nước sông Cửu Long.

Sơn  Nam  bắt đầu nổi danh trên văn đàn với tập truyện ngắn Hương rừng Cà Mau, xuất bản tại Sài Gòn năm 1962. Ngoài truyện ngắn, ông còn thành công với những công trình biên khảo như Lịch sử khẩn hoang miền NamVăn minh miệt vườn Gia Ðịnh xưaBến Nghé xưa… Nhà văn Sơn Nam  tâm sự :

 9 Son Nam 5Lịch sử  Nam  bộ Việt  Nam  là lịch sử của công cuộc khẩn hoang trường kỳ và tự lực. Ý thức khẩn hoang mở đất ăn sâu vào máu thịt tôi. Ðời ông nội rồi đời cha tôi lo khẩn hoang, mở đất. Nên những trang viết của tôi dành cho việc khẩn hoang mở đất và thế là viết về khẩn hoang trở thành sở trường của tôi. Hơn nữa, đây cũng là đề tài mà người dân Nam bộ rất quan tâm, bởi trong ký ức của những người Sài Gòn cũ, người Nam bộ cũ, vẫn còn lưu giữ nhiều ấn tượng trong việc vật lộn với thiên nhiên, chinh phục thiên nhiên trong những ngày đầu mở đất, mở nước.

Nam bộ nói chung, Sài Gòn nói riêng nào phải là ‘địa đàng’. Xưa kia, nước Phù Nam với trình độ cao đã sa lầy và bị tiêu diệt tại đây. Người Khơme bản địa sống co cụm trên những giồng cao ráo, làm ruộng thâm canh, không thích triển khai diện tích vào nơi đầm lầy đầy rắn, cọp và bệnh sốt rét. Người Hoa vẫn giữ tập quán thâm canh, ở đất cao, làm rẫy rau cải, khoai lang, không xông xáo ‘phá sơn lâm, đâm hà bá’ như dân Việt.

Dân ta đã định cư ở nơi đất thấp, nước phèn, đốn củi, phá rừng. Ở rạch Thị Nghè, ăn sâu vào phía Bà Chiểu (Cầu Bông ngày nay) dân miền Trung vào, sống với nghề chài lưới: bán cá để mua gạo, mua trầu cau từ nơi khác sản xuất. Cảng Sài Gòn lần hồi thành hình, dần dần đem lại phồn vinh cho một vùng đất trù phú và lý tưởng. Vùng đất Nam bộ, vùng đất Sài Gòn – Gia Định ngày nay. Công ơn của tổ tiên thật là to lớn”.

Ông còn bước sang ‘âm nhạc miệt vườn’ hay còn gọi là ‘Đờn ca tài tử’ vốn gắn bó với người miệt vườn từ bao thế hệ. Sơn Nam khảo cứu về cội nguồn của vọng cổ như sau : “Bản Dạ cổ hoài lang xuất hiện và phát triển hàng đôi chục năm mới tạm định hình. Thoạt tiên, người chưa hội nhập với khung cảnh đặc thù của đồng bằng Nam Bộ thấy như lạ tai, ngoại lai, nhưng lần hồi nhiều người nhìn nhận nó. Có lẽ hơi hướm đầu tiên của nó là bản Hành Vân ngắn gọn, từ Huế đưa vào một khu vực có cổ nhạc thịnh hành ở Long An. Rồi nhạc sĩ Cao Văn Lầu gặp hoàn cảnh buồn bực của gia đình, vì nghèo túng phải tha phương xuống tận mũi Cà Mau, với tay nghề, với tâm hồn mở rộng, ông hội nhập dễ dàng với người Hoa (triều Châu) đang chiếm tỷ lệ đáng kể tại Bạc Liêu. Nhờ học thêm nhạc lễ với ông Nhạc Khị (Khởi), ông hoà đàn cùng bạn bè, hành nghề nhạc lễ để mưu sinh. Nhớ đến người vợ mà cha mẹ không hài lòng vì không sinh con nối dõi, ông đau khổ vô cùng thử soạn ra bản Dạ cổ hoài lang để giải sầu”.

9 Son Nam 6Nhà văn Miệt vườn Sơn  Nam  qua đời lúc 13g chiều ngày 13/8/2008 tại Bệnh viện Nhân Dân Gia Định, thọ 83 tuổi. Vợ của nhà văn, bà Đào Thị Phán, hiện sống cùng vợ chồng ông Trần Văn Nghị – bà Đào Thúy Hằng (con gái cả của nhà văn Sơn  Nam ) tại một vùng quê ở Mỹ Tho.

Tháng 8/2011, gia đình ông xin rút tên Sơn  Nam  khỏi Giải thưởng Nhà nước với lý do “Sinh thời ông cụ không màng giải thưởng, danh vọng, chỉ muốn viết để kiếm sống và để đi vào lòng người đọc”.

Thay mặt gia đình, ông Trần Văn Nghị, con rể của nhà văn Sơn  Nam , cho biết : “Trước khi qua đời năm 2008, ông cụ cũng nghe phong thanh chuyện giải thưởng nhưng ông gạt đi. Ông cụ thường nói, người viết văn sống trong lòng người đọc là chính và ông viết cũng để kiếm sống, không mong được giải thưởng gìGiờ đây ông cụ đã mất, gia đình chúng tôi không muốn đưa tên ông ra bình xét giải thưởng mà chỉ muốn cho người quá cố được yên nghỉ. Cả má tôi và vợ chồng tôi đều nhất trí như vậy”.

Quế Phượng post

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: