NGÔI NHÀ CỤ VƯƠNG

Logo nhan vat

9 Ho Vuong 1CHUYỆN NHÀ

CỤ VƯƠNG HỒNG SỂN

Như một quy ước, một thói quen, cứ vào mỗi sáng chủ nhật hàng tuần chị Ngọc Liên (vợ anh Vương Hồng Bảo, con dâu cụ Vương Hồng Sển) lại chạy xe từ Bình Thạnh ra hướng bờ kè kênh Nhiêu Lộc, sau lưng rạp Văn Hoa Dakao xưa.

Và cũng với quy ước, nhiều bạn bè thân quen muốn cùng chị ra ngồi ngắm cảnh dòng kênh, rồi cùng tám chuyện cho thư giãn chuyện đời. Trong số có Bích Liên (nguyên vợ ký giả Ngọc Hoài Phương), có Lam Thiên Hương (nguyên vợ ký giả Nguyễn Hoàng Đoan) v.v… thường xuất hiện ngồi cùng chị Ngọc Liên ở đây.

Tôi ít ra nếu không có lời mời từ người bạn Bích Liên xưa, vì rằng ở đấy toàn những phụ nữ ngồi “tám” đủ mọi thứ chuyện trên đời. Có lần tôi ra ngồi chơi, mới nghe chị Ngọc Liên kể hết nỗi niềm về căn nhà của cha chồng để lại, hiện nay tuy nói rằng có 9 Nha ho Vuong 3Quyết định “quyền sở hữu nhà nước đối với di tích căn nhà của cụ Vương Hồng Sển” (khoảng năm 2003) nhưng từ đó đến nay gia đình chị chưa thể di dời, vì sự đền bù từ chính quyền các cấp chưa thỏa đáng.

Để rộng đường dư luận từ nhiều năm, qua sự tranh chấp nói trên, tôi xin giới thiệu lại mấy bài viết có liên quan đến chị Ngọc Liên, đến ngôi nhà cổ của cụ Vương như sau.

Lê Hoàng Nguyễn

Sống với con trai cụ Vương

“Tôi lấy anh Bảo năm 1979, có 3 đứa con. Chúng là tài sản lớn nhất của tôi”. Chị Ngọc Liên con dâu cụ Vương Hồng Sển mở đầu câu chuyện kể về đời làm dâu gian truân của mình như thế. Ngoảnh lại, thấy cha chồng và chồng mình đều đã ở nơi chín suối. Cuộc đời vàng son như giấc mộng dưới gốc hòe.

Vương Hồng Bảo, chồng chị, mất năm 1998, trong tù. Các con chị Ngọc Liên đã lớn. “Ngày trước tôi sợ chết, vì lo con mồ côi cha, mồ côi mẹ. Giờ tôi nhắm mắt cũng được rồi. Các con tôi đều đã lớn. Tiếng là làm dâu cụ Vương Hồng Sển, đại quý tộc trâm anh, mà đời tôi chẳng nhận một cái gì. Hộ khẩu tôi cũng chẳng có ở nhà này. Nhưng tôi thực lòng không tiếc”.

Chị Ngọc Liên và anh Bảo cùng học trường Tây, quen nhau từ thủa ấu thơ. Lớn lên, chị lập gia đình với một bác sĩ người Pháp, có một đứa con, rồi ông ấy mất. Còn anh Bảo, chính chị đã làm mai mối anh Bảo cho người bạn gái Ấn Độ. Họ có 2 cháu, mất một cháu. Năm 1978, cô ta đưa đứa con gái đi khỏi Việt Nam. Chị Ngọc Liên và anh Bảo về sống với nhau.

9 Ho Vuong 5Khi đó họ cùng làm ở Hãng phim Giải phóng. Anh làm kế toán, chị làm hóa trang. Chị về làm dâu cụ Vương Hồng Sển, bước vào tòa nhà cổ lừng lẫy xứ Sài Gòn với hàng ngàn món đồ cổ quý giá. Nhưng chị không có hộ khẩu trong gia đình, dù đã sinh cho cụ Vương Hồng Sển 3 đứa cháu nội.

Lúc đó cây cối um tùm. Nhà cửa thâm u. Chị nhớ lại : “Khi tôi sinh cháu nội cho ông, ông nói với mẹ tôi : Liên nó trúng số độc đắc. Ông mang những đồ cổ quý giá, đến cho tôi xem. Ông nói: con ơi, món này 30 cây, món kia 200 cây. Ông sợ rằng khi mình chết, tài sản tiêu tán đi, nên dặn dò như thế. Cụ lấy ba đời vợ, nửa đời mới có được đứa con là chồng tôi. Giờ có cháu nội, cụ mừng vui lạ thường”.

Làm dâu nhà cụ Vương Hồng Sển, nhà sử học tiếng tăm, một nhà văn hóa, người chơi đồ cổ lâu năm, một biểu tượng của văn hóa Nam Bộ, quả không phải chuyện dễ dàng. Khách đến chơi, đứng ở ngoài cửa nói chuyện. Khách cỡ nào được đến bàn trà giao lưu. Khách cỡ nào mới lên ngồi dưới bàn thờ. Khách cỡ nào được cho lên nhà trên. Tất cả việc ấy, cụ quy ước cả.

“Tôi là một chứng nhân sống trong ngôi nhà tiếng tăm này – Chị Ngọc Liên nói – Ông cụ sống rất giản dị. Bà mẹ chồng tôi góp phần xây dựng nên sự nghiệp, nhưng thực sự cụ chưa hưởng được gì.

Tiếng làm dâu, nhưng chị chẳng có gì : “Cái xe riêng tôi còn chưa có. Đi học lái xe, ông sợ xe đụng. Học bơi thì sợ chìm. Học đàn thì ông bảo: mày đàn như đứa mù vậy”.

Chị về làm dâu, từ năm 1979-1989, đi làm việc ở hãng phim, lương bỏ tiền túi tiêu riêng. Mỗi tháng ông cụ phát tiền chợ, tiền mua 100 kí lô gạo, phát tiền đóng học phí của 3 cháu nội, phát tiền đổ rác, tiền người làm, quản gia, phát tiền cho bà cụ ăn sáng, phát tiền cho hai vợ chồng ăn sáng.

Chị Ngọc Liên nói : “Vì cuộc sống quá an bình, nên tôi chẳng lo lắng gì. Tôi chẳng có thủ đoạn giành giật với ai. Khi chồng tôi có nhân tình, 9 Ho Vuong 4tôi bèn bỏ về nhà ngoại ở chợ Bến Thành”. Chị ra đi, buồn bã lắm, để 3 đứa con ở lại ngôi nhà cổ. Chị hỏi chồng : Giữa hai người đàn bà, anh phải chọn một. Nhưng chồng chị không chọn được, bởi vướng nợ nần với người đàn bà kia.

Người chồng cả tin

Khi gặp lại nhau, họ làm cơ quan nhà nước. Cuộc sống rất yên bình. Rồi anh Bảo chuyển sang công ty vàng bạc, gặp bạn bè, bỏ công ty đi mở hiệu vàng riêng ! Đó là những ngày tháng vô cùng quan trọng, đã quyết định cuộc đời của anh và của cả gia đình. Bảo không biết đi buôn. Sau một thời gian làm ăn, anh bị lừa hết tiền.

Chị Ngọc Liên nhớ lại : “Chồng tôi cầm 300 cây vàng đi mở cửa hiệu, khi trở về, chỉ còn 20 cây. Chồng tôi bảo : Em đi sang Trung Quốc đòi tiền đi. Tôi mới bảo : Em là thân con gái, sao đi xa vậy được. Người ta đã cố tình lừa, em đi, người ta giết em đó. Tôi thấy chồng tôi thực là ngây thơ”.

Những khó khăn trong chuyện làm ăn, khiến anh Bảo rất buồn. Anh cố gắng khẳng định mình, làm ăn và kết bạn với một người phụ nữ khác.  Đó là năm chị 37 tuổi. Giờ chị 60 tuổi rồi.

“Tôi đã mất tất cả – Chị nói – Chồng tôi cùng nhân tình vào tù với án chung thân. Chồng tôi chết trong tù, có người nói chồng tôi buồn quá nên tự tử mà chết. Bố chồng tôi cũng chết cùng năm ấy. Gia đình bỗng chốc tan nát. Của cải tiêu tan. Đời tôi không thể ngờ có ngày như vậy. 9 Nha ho VuongTôi trở lại ngôi nhà này sau khi chồng tôi mất, để chăm sóc 3 đứa con thơ, lần hồi kiếm sống, chạy ăn từng bữa với khối nợ nần mà chồng tôi để lại đè lên gia đình này”.

Ngôi nhà cổ điêu linh

“Giờ tôi cứ đi nhà thờ mỗi ngày. Con tôi cứ 5 giờ chiều về mở cửa hàng bán ốc. Ban ngày, chúng tôi cho thuê mặt bằng nấu cơm bụi, ngày thu 60 ngàn, lấy tiền mua gạo”. Chị Ngọc Liên trò chuyện với tôi, sau ngôi nhà cổ danh tiếng, đã bị chia năm sẻ bảy, cơi nới lung tung.

Theo di chúc của cụ Vương Hồng Sển, ngôi nhà cổ được hiến cho nhà nước làm nơi trưng bày cổ vật của cụ, xây dựng một cái quỹ văn hóa mang tên Vương Hồng Sển. Cổ vật đã được đưa vào bảo tàng cất giữ. Nhưng chuyện bàn giao ngôi nhà cho nhà nước để tôn tạo làm di tích thì không hề đơn giản.

Chị Ngọc Liên xót xa : “Căn nhà này danh tiếng bao nhiêu, đau khổ bấy nhiêu. Một ngôi nhà bình thường, không chừng lại sướng” .

Cháu nội cụ Vương Hồng Sển, con của chị Liên, cháu lớn tên là Vương Hồng Liên Hương (1983), ở nhà bán ốc. Các em là Vương Bảo Thành, Vương Hồng Bảo Minh đang đi làm ở các công ty với đồng lương ít ỏi.9 Nha ho Vuong 6

Việc giải quyết nhà cửa cho con cháu của cụ Vương Hồng Sển vẫn chưa đến đâu. Các cơ quan chức năng muốn đền bù, đưa gia đình ra khỏi di tích, để tu sửa, tôn tạo. Nhưng qua thời gian dài, chưa thống nhất được phương án nào.

Ngôi nhà cổ xuống cấp, hư hại nghiêm trọng. Nhiều người chung sống trong căn nhà, “trời mưa, trong nhà dột chẳng kém ngoài trời”. Phần nhà cơi nới cũng hư hỏng nhiều.

Vương Hồng Liên Hương nói với tôi : “Chúng tôi muốn bình yên. Tôi muốn sống ở đây. Giờ biết sống ở chỗ nào. Các em của tôi cũng đã lớn.Tôi muốn bình yên bán ốc để sống. Tôi cũng ba mươi tuổi rồi. Tôi đã có chồng, có con rồi. Nhà này giờ không còn gì hết, nhà này chỉ còn cái xác thôi. Lại không được xây dựng sửa chữa gì cả”.

Ngôi nhà cổ đã được công nhận là Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp thành phố từ năm 2003. Đến giờ, nom nó chẳng khác gì một phế tích, mà người sinh sống trong đó đang chật vật dưới nắng mưa.

Anh Nam, Phòng Di sản văn hóa, Sở VHTTDL ở Sài Gòn cho biết : “Thành phố đã theo di chúc của cụ Vương Hồng Sển, xác lập quyền sở hữu nhà nước đối với di tích, nhưng chưa thực hiện được việc quản lý, do người nhà của cụ vẫn còn sống ở đó”. Anh Nam cho biết : “Nhiều lần nhà nước đã cấp nhà cho chị Hương và các em, nhưng gia đình chưa đồng ý với phương án đưa ra, kể cả lúc cấp nhà mặt tiền ở đường Vạn Kiếp với giá 8 tỷ đồng”.

Theo bản án tuyên với Vương Hồng Bảo trong vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản công dân, thì tòa yêu cầu bồi thường cho người bị hại là 5,350 tỷ đồng, 1.001,5 chỉ vàng, 46.700 USD.

Anh Nam cho biết : “Năm 2005 chị Vương Hồng Liên Hương đã khởi kiện đòi thành phố chia di sản, nhưng năm 2010 tòa đã bác yêu cầu của chị Hương đòi chia tài sản thừa kế đối với nhà di tích. Chúng tôi phải chờ phúc thẩm rồi mới thực hiện dự án tu bổ tôn tạo di tích được”.

Vụ án của người chồng, chưa thi hành án, lại đến vụ án của người con gái. Chị Liên cảm thấy mình như trong mớ bòng bong. Chị nói : “Chúng tôi muốn có nghề nghiệp ổn định, chẳng hạn mở một trung tâm ngoại ngữ mang tên Vương Hồng Sển. Bán ốc hoài thế này, cực các cháu quá”.

9 Nha ho Vuong 1

Tôi chia tay gia đình khi quán ốc đêm được dọn ra, ngay sau ngôi nhà cổ đang mục ruỗng theo thời gian. (theo Trần Nguyễn An)

HƠN NỮA ĐỒI HƯ…

Ngày 9/12 năm 1993, nhạc sĩ Phạm Tuyên đến Vân Đường Phủ (số nhà 9/1 đường Nguyễn Thiện Thuật, quận Bình Thạnh) thăm học giả Vương Hồng Sển, Một nhà văn hóa Nam Bộ. Bấy giờ, cụ đã ngoại chín mươi.

Trước khi ra về, nhạc sĩ có xin cụ đề tặng sách. Cụ vui vẻ nhận lời, lấy ngay bút ra và viết liền vào trang đầu có in tên tác giả và tên cuốn sách Hơn nửa đời hư dầy dặn, một hồi ký độc đáo mới xuất bản. Viết xong, cụ đưa nhạc sĩ xem và hỏi : “Thế này có được không ông ?”. Nhạc sĩ lễ độ đưa hai tay đón lấy sách và nhã nhặn cảm ơn.

9 Ho Vuong 2Đọc di cảo Vương Hồng Sển

Vẫn bằng giọng văn quen thuộc dung dị, mộc mạc, đầy sức cuốn hút, những bài viết trong tập di cảo của cụ Vương nhắc đến mọi chuyện thăng trầm dâu bể của đời người, từ lúc bé thơ cho đến ngoài tuổi 90, mang hoài vọng ngợi ca bản sắc văn hóa độc đáo Việt Nam…

Tính đến nay, đã qua 16 lần giỗ của nhà văn hóa, học giả, nhà sưu tập đồ cổ nổi tiếng Vương Hồng Sển (9/12/1996 – 9/12/2012), song, những di sản của cụ bao gồm ngôi nhà (Vân Đường Phủ) và toàn bộ sưu tập đồ cổ (849 cổ vật khác nhau) để lại hiến tặng Nhà nước với hy vọng thành lập một bảo tàng mang tên cụ vẫn chưa được tiếp nhận và bảo quản một cách đúng mức.

Tuy nhiên, về những di cảo của cụ Vương, điều may mắn, Tạp bút năm Nhâm Thân đã được tìm thấy trong thư phòng tại Vân Đường Phủ, cùng với những giấy tờ tư liệu và cả những quyển nhật ký của cụ. Đó là những trang viết ghi lại dưới dạng nhật ký kèm theo hồi ức, song cũng là những lời tâm huyết cuối cùng được cụ Vương gửi lại hậu sinh.

Vẫn bằng giọng văn quen thuộc dung dị, mộc mạc, đầy sức cuốn hút, những bài viết trong tập di cảo của cụ Vương nhắc đến mọi chuyện thăng trầm dâu bể của đời người, từ lúc bé thơ cho đến ngoài tuổi 90, mang hoài vọng ngợi ca bản sắc văn hóa độc đáo Việt Nam… Với những tựa đề như “Nhận xét của một tên già 90 tuổi”, “90 tuổi nói về chùa”… gây cảm giác như đùa cợt, nhưng những gì cụ ghi chép, bàn luận đều hết sức nghiêm túc, hệ thống cho người đọc nguồn tài liệu bổ ích về thời cuộc đất nước suốt thế kỷ 20, đồng thời kèm theo những lời trần tình, nhắn nhủ rất mực thiết tha.

9 Nha ho Vuong 2Ngày xuân, luận về chuyện già, trẻ có đoạn cụ viết : “Ông vua sang tột bực rồi cũng có ngày từ giã cõi đời, anh nghèo xơ xác, không tiền uống thuốc nhưng vẫn chết bất đắc kỳ tử như hạng lắm tiền. Tôi quan niệm không nên quá tham, hãy để cho người tuổi trẻ thay thế, già nên rút lui mới là sáng suốt, lấy con mắt coi đời mới là người hiểu việc”.

Bàn về chuyện đồ cổ, vốn là sở trường đặc biệt của học giả họ Vương, có các bài : “Về phương pháp chơi đồ cổ”, “Khánh Xuân – Đồ sứ cổ của chúa Trịnh Sâm”, “Luận về nghiên mực Tức mặc hầu”, “Luận chơi về cái tô sứ lớn”, “Luận chơi về bộ chén trà Tùng Hạc”… Phần này rất đáng chú ý với những người sưu tập đồ cổ. Cụ khuyên “ta là người Việt Nam, thì tốt hơn đừng quăng tiền mua đồ Tàu, đồ Pháp”.

Cụ Vương cũng nêu rõ : “Những đồ “gia bảo”, “quốc bảo” rất có giá trị như : tô, dĩa, chén “Mai Hạc” với câu Nôm “Nghêu ngao vui thú yên hà, Mai là bạn cũ, Hạc là người xưa”, hoặc tô nhỏ hiệu chữ Nhựt, bốn câu “Hai gã bạn tri âm, vui thay một khúc cầm, non cao cùng nước biếc, rằng ít để ai ngâm”, hoặc tô của Đặng Huy Trứ đặt làm có 8 câu 5 chữ “Một thức nước in trời, đò ai chiếc lá khơi…”, Cần lưu ý thêm, ngoài Vân Đường Phủ, một ngôi nhà xưa phong cách Nam bộ đầu thế kỷ 19, mọi đồ vật chung quanh của cụ Vương Hồng Sển thường luôn có nguồn gốc thuần Việt.

Trong bài viết “Nói riêng chuyện với cháu Dũng” là câu chuyện kể của cụ Vương với người cháu về những ký ức của Sài Gòn thuở còn hoang sơ, chân chất. Bên cạnh sự phát triển, đi lên của đô thị phồn hoa, cụ cũng bộc lộ nỗi lo lắng : “Tỷ như ngày nay, hát bội đã lu mờ, hát cải lương cũng đến chiều xuống dốc, vì vật gì, cái gì cũng có một thời mà thôi. Văn minh tiến bộ cho lắm, nay Âu Mỹ bày ra video, tivi e rằng sẽ làm chết mất hai lối hát Việt này”. Cụ còn nói thêm : 9 Nha ho Vuong 5“Nếu bác còn sống một đôi năm nữa và nếu nghề viết lách còn đủ nuôi sống bác đây, thì bác sẽ dọn lại gốc tích hát cải lương”.

Một trong những phần khá cảm động, đó là chương tác giả viết thương khóc bà vợ thứ hai khi được tin bà chết. Theo lời cụ Vương Hồng Sển, cụ không có duyên với đàn bà, có vẻ như cụ không được đàn bà yêu thương. Cụ cưới bà vợ thứ nhất năm 20 tuổi. Chưa được một năm, bà này ngoại tình, dẫn đến việc ly dị. Năm 1923 cụ kết hôn với bà vợ thứ hai, bà Dương Thị Tuyết. Sau 19 năm chung sống, năm 1947 bà Tuyết bỏ cụ để lấy một người bạn của cụ. Vậy mà năm 1992, 50 năm sau, được tin bà Tuyết qua đời, cụ đến chào vĩnh biệt bà : “Khóc em Tuyết : Vân hoành Tần lãnh gia hà tại, Tuyết ủng Lam quan, mã bất tiền”. Trước đó, bà Năm Sa Đéc, bà vợ thứ ba của cụ qua đời vào năm 1988, cụ có văn khóc tế bà : “Khóc em Năm Sa Đéc: Trăm năm dẫu lỗi hẹn hò, Chén cơm Bà Chiểu, con đò Sốc sa”. (theo Trần Trung Sáng)

TIỂU SỬ VƯƠNG HỒNG SỂN (1902-1996)

Vương Hồng Sển, bút hiệu Anh Vương, Vân Đường, Đạt Cổ Trai, là một nhà văn hóa, học giả, nhà sưu tập đồ cổ nổi tiếng. Ông được xem là người có hiểu biết sâu rộng về miền Nam và rất được kính trọng trong giới sử học và khảo cổ ở Việt Nam. Khi chết ông đã hiến tặng ngôi nhà (Vân đường phủ) và toàn bộ sưu tập đồ cổ của mình cho Nhà nước Việt Nam (tổng cộng 849 cổ vật khác nhau) với hy vọng thành lập một bảo tàng mang tên ông.

9 Ho Vuong 3Năm 2003, Ủy ban Nhân dân Thành phố ra quyết định xếp hạng di tích lịch sử cấp thành phố ngôi nhà này (địa chỉ: số 9/1 đường Nguyễn Thiện Thuật, phường 14, Quận Bình Thạnh)

Vương Hồng Sển sinh ngày 27 tháng 9, 1902, tại Sóc Trăng, mang ba dòng máu Việt, Hoa, Khmer. Nguyên tên thật ông là Vương Hồng Thạnh hay Vương Hồng Thịnh, khi làm giấy khai sinh người giữ sổ lục bộ nghi nhầm là Sển (theo cách phát âm tiếng Triều Châu hay còn gọi là tiếng Tiều là một huyện của tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc).

Thời học sinh, ông học tại trường Collège Chasseloup Laubat (nay là trường Phổ thông trung học Lê Quý Đôn). Sau khi đậu bằng Brevet Elémentaire, ông làm công chức ngạch thư ký và phục vụ nhiều nơi từ năm 1923 đến năm 1943, trong đó có dinh Thống đốc Nam Kỳ (1939-1943). Từ năm 1948, ông làm Quyền quản thủ Viện Bảo tàng Quốc gia Việt Nam tại Sài Gòn cho đến khi về hưu vào năm 1964.

Ông là người rất ham mê đọc sách và thích ghi chép tất cả những điều tai nghe, mắt thấy. Phần lớn những tác phẩm của ông rút tỉa từ những tài liệu dưới dạng hồi ký mà ông còn giữ gìn được.

Những nhà phê bình nhận xét về văn của ông Vương Hồng Sển như sau : “Giọng tuy nói cà rỡn nửa đùa nửa thật, nửa giấm chua, nửa tiêu ớt thỉnh thoảng có đôi chỗ chọc cười, cho bớt buồn ngủ. Văn ấy các học giả có tánh lập nghiêm và chưa quen tai, lấy làm khó chịu, nhưng thét rồi cũng phải nhìn nhận, biết nói pha lửng như dọn cơm trong cảnh nghèo, lấy trái ớt tép hành để dễ nuốt cơm và chọc cười cho dễ nhớ, thêm nhớ được lâu.

Hay như nhà văn Sơn Nam đã nhận xét về ông “Những gì ông viết ra như trăn trối, có khi chỉ là chuyện lụn vụn “tào lao”, “loạn xà ngầu”, nhưng với những người đến sau, nó mang một giá trị to lớn, nó chất chứa những niềm say mê và quyến rũ”.

Ngay từ thuở nhỏ ông đã sớm biểu lộ sự ưa thích đồ cổ. Một giai thoại do chính ông thuật lại, mẹ ông biết con mình không thích ăn mắm. Một hôm bà đem về một mắm lóc nguyên con và nói rằng đây là thứ mắm quí vì đã giữ được 10 năm. Thế là vì tò mò ông đã ăn thử và từ đấy không sợ mắm nữa.

9 Nha ho Vuong 4Sau khi về hưu, ông chuyên sưu tập các loại sứ gốm cổ, khảo cổ về hát bội, cải lương và cộng tác với đài Phát thanh Sài Gòn với các bút hiệu : Anh Vương, Vân Đường, Đạt Cổ Trai. Ngoài ra, ông còn khảo cứu về các trò chơi cổ truyền : đá dế, chọi gà, chọi cá, chơi chim, trồng kiểng, nghệ thuật chơi cổ ngoạn, nghiên cứu về chuyện tiếu lâm xưa và nay, rất sành về đồ cổ. Có thể nói ông là kho tàng sống về các lãnh vực kể trên.

Trong suốt cuộc đời, ông sưu tầm được hơn 800 cổ vật, trong đó nhiều nhất, độc đáo nhất là đồ gốm men xanh trắng thế kỷ 17-19. Ông đã góp phần đáng kể trong việc xác định niên đại và phân loại một số đồ gốm cũng như hướng dẫn kỹ năng ban đầu cho những người thích sưu tầm đồ cổ. Các công trình nghiên cứu của ông được giới chuyên môn đánh giá cao.

Ngoài ra, những người muốn nghiên cứu về lịch sử miền Nam sẽ tìm thấy trong các tác phẩm của ông một nguồn tài liệu bổ ích qua nhãn quan một chứng nhân thời cuộc nước Việt của thế kỷ 20. Nói như học giả Nguyễn Hiến Lê, (1912- 1984) thì :

…Quả như lời Vương quan viết trong bài tựa “Coi vậy mà xài được”. Kẻ ít học như tôi (Nguyễn Hiến Lê) còn thấy là xài được gần trọn kia đấy. Chúng ta nên cảm ơn ông đã ghi lại – mặc dầu là hấp tấp trong sự trình bày – vô số tài liệu mà trong mấy chục năm, ông đã tốn công đạp xe máy đi sưu tầm khắp Sài Gòn, Chợ Lớn và các vùng lân cận. Về nhà cân nhắc chọn lựa với tinh thần thận trọng đáng khen : chỗ nào chưa đủ chứng cớ thì tồn nghi….

Ông mất ngày 9 tháng 12 năm 1996 tại Sài Gòn, thọ 94 tuổi.

BÀ NĂM SA ĐÉC

Tên thật: Nguyễn Kim Chung – Ngày sinh: 1907

Bà Nguyễn Kim Chung sinh năm 1907 tại làng Tân Đông, Sa Đéc (nay thuộc xã Tân Khánh Đông, thị xã Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp).

Bà vốn xuất thân trong gia đình có truyền thống nghệ thuật hát bội, được thân sinh đặt tên Kim Chung là nhằm mong khi lớn lên con mình sẽ trở thành như cô Năm Chung một đào hát bội nổi tiếng đương thời.

Ngay từ nhỏ, bà đã được bồi dưỡng nghệ thuật tuồng. Những năm 1930 – 1945, bà trở thành một đào hát giỏi trong các gánh : Trần Đắt, Bầu Bòn, Huỳnh Kỳ, Song Phụng v.v.. Bà đóng rất nhiều vai, được khán giả đương thời yêu thích, trong đó có vai Mạnh Thị trong vở Mạnh Lệ Quân thoát hài và nhiều vai khác trong các vở : Phụng Nghi Đình (Vai Lữ Bố), Ngũ biến báo phu cừu (vai cùi và điên, hát bài hành khất) v.v.. Bà được mọi người mến mộ gọi thân thương “Cô Năm Sa Đéc”, “Bà Năm Sa Đéc”.

Giữa năm 1947, Cô Năm Sa Đéc về làm vợ ông Vương Hồng Sển, hai ông bà sống ở căn nhà thuê “xóm Cù Lao”, đường Võ Duy Nguy, Phú Nhuận (Sài Gòn). 9 Ba Nam 1Sau một thời gian, bà trở lại sân khấu với sự động viên khuyến khích của chồng.

“Cô Năm Sa Đéc” là một nghệ sĩ có tài, từ sân khấu hát bội cho đến sân khấu cải lương, đều có những thành công, góp phần phát triển nghệ thuật sân khấu miền Nam trong những năm 30 – 60 của thế kỷ 20… Trên sâu khấu kịch nói, rồi cả điện ảnh, người nữ diễn viên “Bà Năm Sa Đéc” đều có những đóng góp đáng kể.

Đến với điện ảnh, sức làm việc của bà những năm cuối đời, hầu như không giảm sút. Năm 1987, vai bà Hai Lành trong phim Phù Sa, lúc bà đã đúng “bát tuần”. Năm 1986, bà về Nha Mân, Cái Tàu quay “Nơi bình yên chim hót” của đạo diễn Việt Linh; năm 1985, bà vào Mộc Hóa để quay “Mùa nước nổi” của đạo diễn Hồng Sến; năm 1984, bà ở Thuận Hải quay “Con thú tật nguyền” của Hồ Quang Minh và năm 1983, quay “Cho đến bao giờ” của đạo diễn Huy Thành.

Bà còn tham gia nhiều phim khác nữa. Lúc thì đảm nhận một bà lão nông thôn, đào hầm bí mật, lén lúc đổ từng thùng đất lúc vắng người (Cho đến bao giờ). Lúc thì về Đồng Tháp Mười, bà băng đồng gần cây số để đến chỗ quay, hoặc ngồi xuồng suốt buổi, cùng cả đoàn ăn cơm vắt. Đến giờ quay, dù trời còn mưa, xe chưa đến rước, bà vẫn đi xích lô đến hiện trường và luôn cùng cả đoàn chịu nắng suốt buổi để quay, dù trong người không được khỏe lắm (Phù Sa). Sức làm việc, lao động nghệ thuật không mệt mỏi của bà thể hiện niềm say mê vô bờ bến, sự yêu mến nghề nghiệp tuyệt vời.

Nhớ đến Bà Năm Sa Đéc, người xem không chỉ nhớ đến những nhân vật bà Hội đồng chanh chua, đanh đá dữ dội trên sân khấu kịch nói mà còn nhớ đến hình tượng bà lão nông thôn Nam bộ đôn hậu, hiền lành và giàu lòng nhân ái – yêu con người, yêu thiên nhiên v.v. cũng như con người thật của bà yêu thiết tha quê hương sông Tiền, sông Hậu.

9 Ba Nam 2Ở bà Năm, không chỉ thể hiện tài năng của một nghệ sĩ diễn xuất, mà còn là hiện thân của sự lao động miệt mài, không mệt mỏi, một đức độ chân chính của nhân cách người diễn viên trên sàn diễn cũng như trong cuộc đời.

Bà Năm Sa Đéc – Nguyễn Kim Chung mất năm 1988. Bà ra đi, để lại sự thương tiếc cho mọi người đối với một nghệ sĩ tài hoa, đức độ.

Giai thoại “Bánh bao ông Cả Cần

Thời kỳ trước 1975 có một dạo thiên hạ, báo chí đề cập khá nhiều về “bánh bao Cả Cần”, không phải ở cái bánh bao ngon, mà vì nó có liên quan đến người nữ nghệ sĩ tài danh Bà Năm Sa Ðéc, và câu chuyện như sau :

Số là sau biến cố Tết Mậu Thân nghệ thuật cải lương khốn đốn, nghỉ hát dài dài, nghệ sĩ ai cũng phải tìm thêm một nghề khác để sống tạm chờ thời. Và riêng Bà Năm Sa Ðéc thì làm thêm nghề bán bánh bao tại đường Nguyễn Tri Phương ở gần Ngã Sáu Chợ Lớn. Lúc đầu bà chỉ gởi nhờ một nồi hấp bánh bao trong tiệm ăn, và chỉ dùng phấn viết chữ “bánh bao Cả Cần” trên tấm bảng nhỏ dựng trước nồi hấp bánh.

Là một nghệ sĩ được nhiều người biết tên, biết mặt nên được bà con mua bánh ủng hộ khá nhiều, và dần dần thì chiếc nồi hấp bánh lớn hơn, tấm bảng vẽ bằng sơn cũng lớn hơn.

Theo như một số người thì bánh bao Cả Cần là đặc sản của một tiệm nào đó ở miền Tây từ lâu đời và cũng có tiếng. Không biết do ai điềm chỉ mà Bà Năm Sa Ðéc đã tự mang nó lên Sài Gòn, để sống đắp đổi trong lúc nghề nghiệp chính là sân khấu của bà đang gặp cơn khủng hoảng.

9 Banh bao 1Trong khi đó thì một người khác có lẽ quê hương ở miền Tây, biết rành rẽ hơn về bánh bao Cả Cần, và người này đã thương lượng với người sản xuất mua lại nhãn hiệu nói trên, mang lên khai thác ở Sài Gòn. Có điều là người này đã làm đủ mọi thủ tục mua bán món hàng đặc sản ấy, bằng cách đem nhãn hiệu “bánh bao Cả Cần” cầu chứng ở tòa thương mãi, xin giấy phép ở sở vệ sinh, đồng thời đem đi viện Pasteur phân chất kiểm nghiệm đàng hoàng, có nghĩa là chuẩn bị kỹ lưỡng cho cuộc làm hợp pháp.

Khi vấn đề pháp lý đã xong, thì người này một mặt trương bảng “Bánh Bao Cả Cần” thật lớn ở vùng Phú Nhuận, và mặt khác đưa Bà Năm Sa Ðéc ra tòa về tội mạo nhận nhãn hiệu và xin lệnh dẹp bảng của bà.

Cảnh sát Quận 5 thi hành án lệnh tòa, khiến Bà Năm Sa Ðéc kêu trời như bộng. Báo chí loan tin, nhiều cuộc phỏng vấn được lên báo đã khiến cho bánh bao Cả Cần nổi tiếng, và dĩ nhiên người có nhãn hiệu hợp pháp kia mỗi ngày bỏ tiền đầy túi, đếm mệt nghỉ ! Lúc bấy giờ người đi xe Honda dừng lại mua bánh bao từ sáng đến chiều, từ ngày đến đêm bán không kịp.

Riêng Bà Năm Sa Ðéc vì không có giấy phép phải dẹp bảng, mang nồi hấp bánh đem về nhà bán lén lút. Thế nhưng, người kia đâu để cho yên, mướn thám tử theo dõi và một lần nữa bà Năm bị lôi thôi, rắc rối.

Lúc bấy giờ có người hướng dẫn cho bà nhờ luật sư thưa ngược trở lại rằng bà là người “đi trước”. Nhờ báo chí bênh vực và tòa án cũng “thông cảm” nên cho Bà Năm Sa Ðéc được bán bánh bao Cả Cần trở lại song song với tiệm kia, và cũng phải xin giấy phép đóng thuế đàng hoàng. Thế là thời gian sau người ta thấy ở Sài Gòn có đến hai tiệm bánh bao Cả Cần là vậy.

Lúc bấy giờ có dư luận nói rằng nếu như không phải là Bà Năm Sa Ðéc bán bánh bao, mà là một người nào đó thì chẳng có chuyện gì hết, bởi bánh bao Cả Cần chẳng ngon gì hơn bánh bao của tiệm nước Chú Ba ở Chợ Lớn. Người kia đã nhắm vào cái nghệ danh “Bà Năm Sa Ðéc”để làm lớn chuyện, coi như một cách quảng cáo tinh vi, dùng tên tuổi của bà để mà hốt bạc vậy !

Tiện đây cũng nói thêm về tiểu sử, sự nghiệp của Bà Năm Sa Ðéc một nghệ sĩ nổi danh hằng mấy chục năm. Bà sinh năm Mậu Thân (1908). Có lẽ năm 1968 là năm tuổi đáo tuế của bà nên bị xui xẻo chăng ? 9 Banh bao 2Thập niên 1930 bà theo gánh hát bội, rồi chuyển sang cải lương nổi tiếng với những vai trò diễn xuất tự nhiên mà người xem tuồng tưởng như thật: Vai bà mẹ chồng của cô Diệu trong tuồng Lá Sầu Riêng, và vai mẹ chồng cô Loan trong vở Ðoạn Tuyệt, cả hai vai đều là bà mẹ chồng sang trọng, trưởng giả, phong kiến….

Bà Năm Sa Ðéc là vợ của nhà khảo cổ Vương Hồng Sển, sống với ông từ 1947 đến 1988 thì qua đời tại Sài Gòn ở tuổi 81. Trong nghệ thuật sân khấu người ta rất hiếm khi tìm được một đào mụ nào xuất sắc như bà. Cái hay của Bà Năm Sa Ðéc là khi đến tuổi tứ tuần, bà từ chối các vai trẻ, mà rèn luyện vai già cho thích hợp, do đó mà bà nổi tiếng rất lâu. Chớ không như những đào già khác đã ngoài 60 mà vẫn còn đòi đóng vai gái 17, 18 gây khó chịu chướng mắt cho khán giả. (theo Triều Giang)

Lê Hoàng Nguyễn (tổng hợp)

Advertisements

3 phản hồi

  1. Vương Hồng Sển trước sau là một tác giả lớn của miền Nam, người Sa Ðéc, sống và viết ở Sài Gòn, những gì cụ viết ra là đời sống của cụ, là lịch sử biên niên từ nhỏ tới lớn, tới khi qua đời, và về những gì cụ thấy, trước và sau cuốn sách, đó là lich sử của một nền văn hóa nhân văn được viết lại bởi một tấm lòng chân thành, đơn giản, với kinh nghiệm thực tế “điền dã,” và với tâm tình ưu ái về các thế hệ sau, và vì không phải một thương gia, một chính ủy, một nhà cai trị, mà thông suốt cuộc đời sống với sách vở quí, với mỹ thuật nghìn đời, vừa chơi sách chơi cổ ngoạn vừa viết sách và thu thập bảo trì, nên lịch sử đời Vương Hồng Sển là lịch sử nhân văn Sài Gòn, lịch sử nhân văn miền Nam.

  2. Nhiều nhà nghiên cứu văn hóa trong và ngoài nước từng ghé chân qua đều không tiếc lời khen: “Quả là một minh chứng đẹp đẽ của nền kiến trúc cổ truyền Việt Nam với các chi tiết mỹ thuật mang giá trị lịch sử, văn hóa, cùng những đồ cổ quý giá phong phú, ngồn ngộn… được bày biện, sắp xếp một cách tinh tế khiến không ai có thể nghĩ gia chủ có ý khoe khoang” (James D. Holland, Tạp chí Art of Asia số tháng 4-1973). Thế nhưng, ngày nay, có dịp đi ngang qua, có lẽ ít ai hình dung nổi đây là “vuông nhà cổ tích” của cụ Vương xưa. Sát cổng chính của Vân Đường Phủ, từ lâu người ta đã đập tường để xây 1 cái cổng mới với cửa sắt và đá ốp, mặc cho cổng chính cũ nát, xiêu vẹo, mái ngói xô lệch và trông càng thê thảm bởi những dãy ni lông giăng mắc ngang dọc, gió tung phần phật tả tơi.Bên trong, mỗi lúc trời mưa nước lại ngập lấp xấp mảnh sân đầy cỏ và các loại rác lưu cữu ẩm mục, tủ kệ bàn ghế, chai lọ lu hũ vứt chỏng chơ, tường rào lở lói. Bên trong nhà bụi bặm phủ mờ các dãy kệ sách và bàn ghế còn lại, ngoài hàng hiên lá khô ngập lối… Bà Hoàng Kim Ngân, ở 8/11 Nguyễn Thiện Thuật, Q.Bình Thạnh, cùng chị Hồ Thị Lệ Thu, cán bộ tiếp dân CA phường 24, Q.Bình Thạnh và nhiều người hàng xóm của cụ Vương cho biết: “Cụ Vương chỉ có 1 con trai duy nhất với bà Nguyễn Kim Chung (tức bà Năm Sa Đéc) là ông Vương Hồng Bảo nhưng ông Bảo cùng vợ sau là bà Phạm Thị Hồng đã dựa vào uy tín và tài sản của cụ Vương để ăn chơi và gây nợ rất lớn, chủ nợ của ông có tới hơn 40 người với tổng số tiền mắc nợ trên 5 tỷ đồng, hơn 1.000 chỉ vàng 24K và gần 10.000 USD (thời điểm 1998).

  3. […] Mời các bạn đọc trên báo Thanh Niên (click vào đường dẫn) : Bảo tàng Vương Hồng Sển – 10 năm chưa thành . Và bài “Chuyện nhà cụ Vương Hồng Sển” được post vào ngày 31/3/2013 trên trang Hồ Ngọc Cẩn Group và ngày 1/4/2013 trên trang Một thời Sài Gòn (click vào đường dẫn) : Ngôi nhà cụ Vương […]

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: