NS TRẦN TRỊNH QUA ĐỜI

NHẠC SĨ TRẦN TRỊNH

ĐÃ RA ĐI

Theo tin từ nhạc sĩ Trần Quốc Bảo cho biết là nhạc sĩ Trần Trịnh vừa qua đời lúc 5g25 chiều thứ tư ngày 10 tháng 10 năm 2012.

Lệ Đá- trình bày Dalena, nhạc Trần Trịnh, lời Hà Huyền Chi:

http://www.nhaccuatui.com/nghe?L=a7DuE66Kdjpg

Nhạc sĩ Trần Trịnh vừa trút hơi thở cuối vào lúc 5g25 chiều thứ tư ngày 10 tháng 10 năm 2012 tại nhà thương UCI Medical. Lúc Ông ra đi, có 2 con trai là Tùng Trần và Ngọc Trần bên cạnh. Chị ruột ông (vợ cố giáo sư Nguyễn Đình Hòa) từ Pala Anto (miền Bắc Cali) cùng 2 con gái có bay xuống thăm em trai cách đây mấy ngày. Ca sĩ Mai Lệ Huyền trước khi đi xa 15 ngày, đã kịp vào thăm Ông lần cuối và Phương Hồng Quế cũng như TQB đã có những đoạn phim thu hình rất xúc động.

Trước đây, vợ cố nhạc sĩ Nhật Ngân đã mua sẵn cho nhạc sĩ Trần Trịnh miếng đất cạnh ngay nơi chôn chồng mình, nhưng 2 tuần cuối cùng này, có lẽ biết mình khó qua, Ông yêu cầu được thiêu để tro cốt 2 vợ chồng được gần nhau. Tang lễ phần tụng niệm sẽ do các thầy của chùa Liên Hoa phụ trách.

Nhạc sĩ Trần Trịnh ra đi, để lại 2 đứa con trai chưa ai lập gia đình, và hoàn cảnh 2 cháu hiện nay cũng gặp nhiều khó khăn về kinh tế. Mọi chia buồn an ủi xin gọi về cho cháu Tùng Trần (con trai lớn của nhạc sĩ Trần Trịnh) : (714) 612-4840

Vài hàng tiểu sử

Nhạc Sĩ Trần Trịnh, tên thật là Trần Văn Lượng, sinh năm 1937 tại Hà Nội. Vào Nam năm 1945. Học Nhạc với Thầy Remy Trịnh Văn Phước (Tiến sĩ âm nhạc tại Roma), vì vậy ông lấy tên là Trần Trịnh.

Tác phấm đầu tay của ông là “Cung Đàn Muôn Điệu”, phổ biến năm 1954. Tác phẩm nổi tiếng “Chuyến Xe Về Nam” được phổ biến năm 1955. Ông đã phổ bài thơ “Hai Sắc Hoa Ti Gôn” của T.T.KH. vào năm 1957. Từ năm 1958-1968, ông tạm ngưng sáng tác để nghiên cứu về nhạc.

Năm 1968, ông sáng tác bản “Lệ Đá”, lời của Hà Huyên Chi. Cùng năm ấy, ông điều khiển chương trình Đại Hợp Tấu và Hợp Xướng “Đống Đa” trên Đài Truyền Hình.

Cộng tác với Nhạc sĩ Nhật Ngân và Nhạc sĩ Lâm Đệ, lấy tên chung là TRỊNH LÂM NGÂN, với những tác phẩm nổi tiếng như : “ Xuân Này Con Không Về”, “Mùa Xuân Của Mẹ”, “Thu Xuân Trên Rừng Cao”, “Qua Cơn Mê”, “Yêu Một Mình”… Ca khúc ”Tiếng Hát Nửa Vời”, sáng tác năm 1975.

Ông đến Hoa Kỳ năm 1995 và định cư tại California. Tác phẩm mới nhất năm 2006: Chiếc Lá Cuối Cùng, phổ bài thơ “La Dernière Feuille”.

http://cothommagazine.com/index.php?option=com_content&task=view&id=443&Itemid=47

“Lệ Đá” lời theo nhạc hay phổ thơ ?  

NHẠC SĨ TRẦN TRỊNH

HÔM QUA & HÔM NAY…

* Bài Nguyễn Việt

Bài viết này được post làm 2 kỳ vào ngày 1 & 2 tháng 11/2009 trên địa chỉ :

http://my.opera.com/khaisang2002/ tức trang “Văn nghệ người Sài Gòn” do Nguyễn Việt phụ trách. Sau đây chỉ trích lại bài đầu, để xem hết 2 bài, các bạn có thể Click vào đường dẫn sau đây :

01st "Lệ Đá" lời nhạc hay phổ thơ ? (1)

02nd "Lệ Đá" lời nhạc hay phổ thơ ? (2)

Khi viết về nhà thơ Hà Huyền Chi với các lời trong ca khúc “Lệ Đá”, chúng ta cũng không quên nhạc sĩ Trần Trịnh là cha đẻ những nốt nhạc cho nhạc phẩm này. Theo chúng tôi biết hiện giờ nhạc sĩ Trần Trịnh sống rất khó khăn bên trời Mỹ và sau đây có ít dòng viết về ông.

Nhạc sĩ Trần Trịnh tên thật Trần Văn Lượng, sinh năm 1937 tại Thái Lan nhưng trưởng thành tại Hà Nội và vào Nam vào năm 1945. Ông theo học tại trường Trung Học Taberd Sài Gòn, và học nhạc lý với thầy Remi Trịnh Văn Phước (tiến sĩ âm nhạc tại Roma) tại trường này, nên lấy bút danh là họ của 2 người thành tên Trần Trịnh từ đó.

Theo lời kể của nhạc sĩ Trần Trịnh, cho biết âm nhạc đã quyến rũ từ lúc ông đang theo học chương trình Pháp tại trường Taberd suốt 10 năm ròng, từ 1945 cho đến 1955, và đậu bằng Tú Tài 2 thời Pháp trong thời gian này. Nhưng niềm đam mê âm nhạc của ông đã gặp trở ngại, bố mẹ ông đã không đồng ý cho ông đitheo ngành này. Mặc dù bố ông là một nhân viên của tòa đại sứ Pháp theo tây học, nhưng cụ vẫn mang tính phong kiến, không mấy cảm tình với cuộc đời nghệ sĩ cho rằng “xướng cavô loại”. Còn mẹ ông, một phụ nữ người Lào – vợ sau của bố ông – cũng chẳng khuyến khích cậu con út trong 3 người con của bà theo đuổi ước mơ.

Dù vậy nhạc sĩ Trần Trịnh đã đến với lãnh vực sáng tác, khi còn theo học những giờ nhạc lý do thầy Rémi hướng dẫn, và về sau ông còn theo thầy qua Chủng viện Taberd bên Thanh Đa, được thầy huấn luyện về âm nhạc trong suốt 9 năm từ năm 1958 đến năm 1967. Nên ông đã có được một căn bản vững vàng về nhạc pháp cũng như về nghệ thuật sử dụng piano.

Sáng tác đầu tiên của nhạc sĩ Trần Trịnh là “Cung Đàn Muôn Điệu” viết năm 1950, năm ông được 14 tuổi. Đến năm 17 tuổi nhạc phẩm này mới được nhà xuất bản An Phú nhận phổ biến; năm 1956 lại được nhà xuất bản Diên Hồng đem tái bản. Sau này được dùng làm nhạc chuyển mục trong một chương trình tân nhạc cùng với bài “Chuyến Xe Về Nam” (do nhà xuất bản Tinh Hoa ấn hành năm 1955). Cũng trong năm1956, ông lại cho ra thêm một nhạc phẩm khác mang tên “Viết Trên Đường Nở Hoa”.

Sau khi đậu bằng Tú Tài 2 Pháp, năm 1955 nhạc sĩ Trần Trịnh được gia đình gửi lên Đà Lạt để vừa học vừa làm tại Nha Kiến Trúc. Năm 1957, ông đi quân dịch, đã viết bài “Đôi Mươi”. Đến năm 1958, ông phổ thơ bài “Hai Sắc Hoa Ti Gôn” của thi sĩ T.T.KH. đây cũng là một bản nhạc rất ăn khách lúc bấy giờ.

Tuy nhiên, người yêu nhạc biết đến tên tuổi của nhạc sĩ Trần Trịnh vẫn là bài “Lệ Đá” do ông sáng tác nhạc năm 1968 được nhà thơ Hà Huyền Chi đặt lời.

Ngoài nhạc phẩm điển hình này, ông còn là tác giả của nhiều nhạc phẩm đặc sắc khác, mà trong số có rất nhiều bài là đồng sáng tác với hai người bạn nghệ sĩ là Nhật Ngân và Lâm Đệ ký dưới bút danh Trịnh Lâm Ngân trong những thập niên 60 và 70. Cả ba từng quen nhau trong Ban văn nghệ thuộc TT huấn luyện Quang Trung. Trong bộ ba, Trần Trịnh và Nhật Ngân phụ trách viết nhạc và lời, còn Lâm Đệ phụ trách phần thâu thanh và phát hành.

Trong thời gian này, bộ ba đã sáng tác một số lớn những bài hát với âm hưởng dân tộc như : Xuân này con không về, Mùa xuân của mẹ, Qua cơn mê, Yêu một mình, Hai trái tim vàng, Chiều qua phà Hậu giang, v.v… Không chỉ là người sáng tác nhạc, nhạc sĩ Trần Trịnh còn là một trong những nhạc sĩ có nhiều gắn bó với các phòng trà khiêu vũ trường tại Sài Gòn lúc đó.

Vào những năm học cuối cùng với thầy Rémi, ông bắt đầu đi tìm việc tại các phòng trà trong vai trò nhạc công sử dụng đàn piano. Khởi đầu cộng tác với một phòng trà nhỏ tên Lệ Liễu. Sau vào làm tại phòng trà Bồng Lai trên đường Nguyễn Trung Trực – Lê Lợi (trên tầng thượng quán Kim Sơn). Và dần dần được mời cộng tác với tất cả những phòng trà và khiêu vũ trường khác tại Sài Gòn.

Nhận biết được khả năng âm nhạc của Trần Trịnh, đài truyền hình đã giao ông phụ trách một chương trình ca nhạc vào năm 1967, từ đó ông trở thành nhạc trưởng của ban văn nghệ Đống Đa, cùng với ban Vũ Thành và Tiếng Tơ Đồng, là 3 ban văn nghệ có giá trị nghệ thuật vào giai đoạn đó.

Trong một lần tham gia công tác văn nghệ tại Bình Long vào năm 1964, nhạc sĩ Trần Trịnh quen với Mai Lệ Huyền, lúc đó là ca sĩ nghiệp dư trong ban văn nghệ của tỉnh do nhạc sĩ Bắc Sơn làm trưởng ban. Thời kỳ này Mai Lệ Huyền đang sống cùng cha mẹ ở đây.

Sau khi trở về, hai người thường thư từ qua lại và dần dần có những tình cảm đậm đà. Trần Trịnh đề nghị Mai Lệ Huyền về Sài Gòn để được gần gũi và tiện việc “lăng-xê” hơn. Mai Lệ Huyền nhận lời, và chỉ sau một thời gian cả hai đã trở thành vợ chồng trong năm 1964, có cùng nhau một con gái tên Lệ Trinh, sinh năm 1965, hiện cũng là một ca sĩ.

Sau khi thành vợ chồng, nhạc sĩ Trần Trịnh đã giới thiệu Mai Lệ Huyền đi hát ở tất cả những phòng trà khiêu vũ trường ông cộng tác. Cũng khởi đầu tại phòng trà Lệ Liễu, vì nhận thấy giọng hát của Mai Lệ Huyền thích hợp với thể loại nhạc tươi vui, vì thế ông cùng với nhạc sĩ Nhật Ngân sáng tác loại nhạc kích động để vợ trình diễn song ca cùng Hùng Cường như Gặp nhau trên phố, Vòng hoa yêu thương, Hai trái tim vàng, v.v…
Trong khi đó nhạc sĩ Trần Trịnh không thể đi vì song thân ông đã cao tuổi. Vào năm 1977, ông còn ở lại quê hương và lập gia đình lần thứ hai. Người vợ sau đã cho ông 3 người con trai. Nhưng người con đầu lòng bị thiệt mạng trong lúc tắm sông với bạn bè. Người thứ nhì Trần Tùng hiện đang phục vụ trong binh chủng hải quân Mỹ, có khả năng sử dụng kèn trumpet. Người con út Trần Ngọc cũng rất thích nhạc nhưng không có khuynh hướng đi theo con đường của ông.

Sau 1975 còn ở lại quê hương, nhạc sĩ Trần Trịnh không còn sáng tác nhạc, chỉ chú trọng đến việc cộng tác với hết đoàn hát này đến đoàn cải lương hay gánh xiếc khác để mưu sinh. Khởi đầu ông cộng tác với đoàn cải lương Cửu Long cùng với tay trống Phùng Trọng và vài nhạc sĩ khác. Mãi đến năm 1982, khi các phòng trà được phép hoạt động, ông về làm nhạc trưởng tại phòng trà Đệ Nhất Khách Sạn là nơi ông đã từng giữ vai trò then chốt về chương trình từ khi mới khai trương vào đầu thập niên 70.

Liên tục ông làm tại phòng trà Đệ Nhất sau là các vũ trường, suốt gần 10 năm liền, rồi sang cộng tác với vũ trường Maxim’s vào năm 1991. Nhưng chỉ hơn 3 năm, ông đã gặp một tai nạn xe cộ khiến bị thương nặng ở chân nên phải xin nghĩ việc.

Vào tháng 10/1995 nhạc sĩ Trần Trịnh đi Mỹ theo diện ODP (đoàn tụ gia đình) do người chị ruột bảo lãnh. Nhưng chỉ sau 3 tháng ở San Francisco, gia đình ông quyết định dời xuống Orange County, bởi ở đây có môi trường hoạt động âm nhạc và ông dự định sẽ có cơ hội phát triển hơn ở San Francisco.

Nhưng thật sự hoạt động của nhạc sĩ Trần Trịnh chỉ duy trì được ở mức trung bình do tình trạng băng đĩa từ Việt Nam càng ngay càng đổ qua ào ạt khiến nhiều trung tâm âm nhạc và trình diễn cũng như các nghệ sĩ độc lập phải chùn bước trước trước sự cạnh tranh đáng ngại này. Bởi vậy, khả năng âm nhạc của ông cũng đã không còn được sử dụng.

Hiện nay ông chỉ chú tâm vào việc nghiên cứu nhạc và đã sáng tác thêm một số bản nhạc, trong số những bài này có Trái sầu đầy và Một đoá bâng khuâng màu e ấp. Ngoài ra, một số bản nhạc mang lời Anh ngữ do ông sáng tác được Hilltop Records Hollywood giới thiệu vào albums, có những bản Forget Me Not, The Stars Band, Crying Rocks, mà gần đây nhất là bài Forever Love vào năm 2008 trong album “The Best of Hilltop.”

Tuy không còn nhiều hứng thú trong việc sáng tác, nhưng gần đây nhạc sĩ Trần Trịnh đã bất chợt tìm lại được nguồn rung cảm khi thưởng thức lại bài thơ La Dernière Feuille (Chiếc lá cuối cùng) của thi sĩ Théophile Gauthier, liền sau đó ông đã phổ nhạc cho bài thơ bất hủ này. Nhạc phẩm “Chiếc Lá Cuối Cùng” cũng chính là nhạc phẩm cuối cùng trong cuộc đời sáng tác của ông.

Cuộc sống hiện nay của nhạc sĩ Trần Trịnh rất vất vả, vợ ông vừa qua đời sau nhiều năm chống chọi với căn bệnh ung thư ác nghiệt và bản thân ông sức khoẻ cũng suy giảm nhiều. Hiện nay ông chỉ sinh hoạt với ban nhạc Stars Band(Nguyễn Việt, web: My Opera)

Nguyễn Toàn (chuyển tiếp)

CÔNG TỬ BẠC LIÊU

KHÔNG NHƯ GIAI THOẠI

Giữa tháng 5/1975, mấy anh em viết báo chúng tôi vọt xuống Đất Mũi, nhưng vì đi bằng xe Honda 67 nên phải tấp vào Bạc Liêu nghỉ, ai dè bị đồng nghiệp Khu 9 giữ lại nhậu rồi giới thiệu một địa điểm nổi tiếng : dinh thự của đại điền chủ Trần Trinh Trạch.

Ngôi nhà được xây dựng năm 1919, do một kỹ sư người Pháp thiết kế, phần lớn vật liệu xây dựng đều mua từ Pháp. Ngôi biệt thự này còn được dân địa phương gọi là nhà Công tử Bạc Liêu hoặc nhà Lớn.

Mà nó lớn thật, lại nằm trong khuôn viên rộng lớn toàn cây cảnh quý, với mặt tiền là sông Bạc Liêu. Chúng tôi được cho biết, nội thất nhà đại điền chủ Trạch có vô số đồ gỗ, sứ, đồng cổ và quý hiếm nhưng từ lâu, những bảo vật đó không còn, chỉ có hai món là chiếc giường ngủ nạm vàng và bộ bàn trà khảm xà cừ được giữ nguyên vẹn ở chùa Chén Kiểu (Sóc Trăng), do Trần Trinh Huy tặng.

Rồi bạn đồng nghiệp – cũng sàn sàn chưa đến “tuổi băm” như tôi, tức cũng chỉ “nghe nói” – kể về sự hào hoa phong nhã và mức độ ăn chơi cùng những giai thoại về công tử Bạc Liêu.

Nhiều năm qua, tôi tìm hiểu về gia tộc Trần Trinh Trạch không chỉ vì tò mò, mà còn để biết đâu là sự thật trong những giai thoại về công tử Bạc Liêu, nhất là từ khi cụm từ “Công tử Bạc Liêu” trở thành một thương hiệu du lịch.

Trần Trinh Trạch sinh năm 1872 ở Vĩnh Lợi, Bạc Liêu (bao gồm cả tỉnh Cà Mau sau này), vốn là kẻ ăn người ở cho một điền chủ nhập quốc tịch Pháp, được vị điền chủ này cho học tiếng Pháp. Nhờ thế mà Trạch được tuyển làm thư ký tòa bố Bạc Liêu (hành chánh tỉnh), phụ trách bắt rượu lậu, sau đó được giao lập bộ để cấp bằng khoán, tức giấy chủ quyền đất.

Những người nấu rượu lậu và điền chủ lớn bé ở Bạc Liêu đều phải qua tay Trạch mới mong không bị phạt nặng, mới mong có bằng khoán những sở điền mà những người tiên phong mở đất phương Nam đã khai khẩn từ trước (là một hình thức cướp đất trắng trợn). Bằng tiền hối lộ, Trạch đã tích lũy được một số vốn lớn.

Vốn cần kiệm và kỹ lưỡng, dần dần Trạch trở thành điền chủ, rồi đại điền chủ giàu nhất nước, có 74 sở điền khắp lục tỉnh với 145.000ha và hơn 10.000ha ruộng muối, có cả ruộng muối ở miền Trung. (Điền chủ giàu thứ nhì lúc đó là Vưu Tung với 75.000ha, thứ ba là Châu Oai với 40.000ha).

Ngoài kinh doanh lúa gạo bằng cách xây một số nhà máy chà gạo ở lục tỉnh, Trạch còn xây nhiều dãy phố lầu ở thị xã Bạc Liêu, ở Sài Gòn để cho mướn. Ông còn là đồng sáng lập Ngân hàng Việt Nam (năm 1927) – ngân hàng đầu tiên của người Việt.

Những năm 1929-1930, các nước châu Âu rơi vào khủng hoảng kinh tế trầm trọng, Trần Trinh Trạch đã “ủng hộ” chính phủ Pháp một khoản tiền lớn đến mức “mẫu quốc” ân thưởng ông ta mề đay Ngũ đẳng Bội tinh và một thanh kiếm quốc bảo.

Trong 7 người con thì chỉ Trần Trinh Huy (Ba Huy, sinh năm 1900) được đại điền chủ Trạch cho du học Pháp với kỳ vọng mở mang kiến thức để khuếch trương tài sản gia tộc Trần Trinh. Nhưng ba năm ở Pháp, Huy chỉ mang về cho gia tộc khả năng ăn chơi, lái xe, lái máy bay và kinh nghiệm bồ bịch.

Là người cha hết lòng yêu thương Huy, nhưng đại điền chủ Trạch đã chọn nhầm kẻ thừa kế mình. Chính vì thế mà gia sản của Trần gia, dưới tay Ba Huy lần lượt “ra đi”, đến mức trước tháng 5/1975 chỉ còn mảnh đất hương hỏa có mấy phần mộ ở Cái Dầy, ngoại vi thị xã Bạc Liêu !

Được cha giao trông coi điền sản, Ba Huy đi kiểm tra sở điền bằng xe Ford Vedette hoặc ca nô. Ba Huy còn sắm xe Peugeot Sport, lúc đó ở Việt Nam chỉ có hai chiếc, chiếc kia là của vua Bảo Đại.

Ba Huy cũng là người Việt đầu tiên sở hữu máy bay, đó là chiếc Morane tối tân nhất trong dòng máy bay nhỏ của Pháp thời bấy giờ, và sân bay riêng, dù chỉ là những sở điền được san phẳng. Chiếc Morane này cũng là chiếc thứ hai và duy nhất ở Việt Nam sau chiếc đầu tiên của triều đình Huế.

Bạc Liêu những năm đầu thế kỷ XX có khoảng 2% điền chủ nhưng chiếm đến 95% ruộng đất nhờ chính sách điền địa bất công của thực dân Pháp. Không riêng Ba Huy, con cái của những điền chủ này, như Dù Hột, Hai Lũy, Ba Cân, Hai Đình… thừa mứa tiền của không phải do mình làm ra nên đua nhau ăn chơi cho sướng thân và khuếch trương thanh thế không những ở miền Tây mà còn ở Sài Gòn.

Theo nhà văn Phan Trung Nghĩa, trong số đó, Ba Huy là số 1. Vì thế mà câu chuyện có thật sau đây được gắn cho Ba Huy.

Chuyện rằng, Dù Hột là con của đại điền chủ Chá, một lần từ khách sạn Majestic Saigon bước ra, một đám xe kéo tay giành chở vì nhiều lần anh ta trả tiền chẵn không cần thối lại, thấy khó xử, Dù Hột bảo “đi hết”. Thế là xe chở người, xe chở nón, xe chở áo vest, xe chở cù ngoéo (can)… chạy lòng vòng Sài Gòn, dân chúng bu đen coi ngó.

Đám xe kéo hớn hở cho biết đang chở công tử Bạc Liêu ! Và cũng từ câu chuyện này mà có thành ngữ “Công tử Bạc Liêu” để chỉ lối sống giàu sang, phóng túng.

Công tử nghĩa đen là con quan, nhưng với Ba Huy, từ này còn mang ý nghĩa khác, nặng về chơi trội, chơi ngông, không ai đủ sức xài tiền như Ba Huy, vì thế, về sau, thành ngữ này chỉ dùng để chỉ công tử Trần Trinh Huy. Từ đó “Công tử Bạc Liêu” trở thành danh xưng riêng của Ba Huy, không ai có thể tranh chấp.

Vì thế mà nhân vật “ngon nhất” Nam bộ này có nhiều chuyện thực hư, hư thực lẫn lộn, trở thành những giai thoại. Ba Huy không những nổi tiếng xài lớn, như những lần cùng người đẹp vào Đại Thế Giới, vứt ra những xấp tiền 30.000 đồng (lúc đó lúa 1,7 đồng/giạ, lương thống đốc Nam Kỳ chưa tới 3.000 đồng/tháng) không để ăn thua mà để giựt le với mỹ nữ.

Nhưng có hai chuyện mà chính Ba Huy lúc cuối đời xác nhận là do thiên hạ bày đặt rồi gán cho mình. Đó là chuyện đốt tiền tìm tiền và đốt tiền thi nấu đậu xanh.

Số là trong đám công tử lục tỉnh có một nhân vật mà so với Ba Huy thì kẻ tám lạng người nửa cân, đó là Phước Georges, hay còn gọi là Bạch Công tử (vì da trắng, để phân biệt với Hắc Công tử, tức Ba Huy, vì da hơi ngăm đen), quê Mỹ Tho. Phước và Huy đều mê người đẹp có tên Ba Trà.

Một hôm, cả ba vào rạp Modern (đường Lê Thánh Tôn, TP.HCM bây giờ) xem phim Tarzan, cô Ba làm rơi tờ tiền Con Công (5 đồng), trong khi Ba Huy đang tìm hộp quẹt thì Phước đã châm tờ bạc Con Đầm (20 đồng) cho mỹ nhân tìm. Chuyện có vậy mà thiên hạ đồn Ba Huy đốt tờ tiền Bộ Lư (100 đồng) cho người đẹp tìm tờ 5 đồng !

Một chuyện khác là do tranh giành Bảy Hột Điều bất phân thắng bại mà hai công tử thách nhau đốt tiền nấu một cân đậu xanh chia hai, giai nhân ấy sẽ thuộc về ai có nồi đậu chín trước. Lần ấy Hắc Công tử thua.

Một ký giả Sài Gòn thuật lại chuyện gặp Ba Huy năm 1972, khi hỏi chuyện nấu đậu bằng tiền giấy, Ba Huy nói : “Tụi tui là người có chữ nghĩa, biết chơi ngông tới đâu thì dừng, ngu gì đem tiền ra đốt khơi khơi vậy !”.

Nhà Lớn của Trần gia đã bị chính quyền Sài Gòn xung công từ năm 1973 (có lẽ gần như bỏ hoang, chỉ có một cháu ngoại của gia tộc họ Trần ở, lại không có di chúc thừa kế), Sau 1975 là chính quyền thuộc tỉnh Bạc Liêu quản lý. Trải qua bao biến cố, những năm gần đây, nhà Lớn trở thành khách sạn Công tử Bạc Liêu với 7 phòng ngủ, nhưng khuôn viên thì rất đông khách uống cà phê.

Bao người tò mò muốn biết công tử Bạc Liêu đích thực là ai, giai thoại về vị công tử này hư thực đến đâu, vì thế nó ngày càng nổi tiếng và trở thành một thương hiệu du lịch.

Tiếc rằng, cho đến bây giờ, chỉ có căn nhà của Trần gia được khai thác làm khách sạn, nhưng cơ quan sử dụng nó không thuộc ngành du lịch nên kinh doanh không chuyên nghiệp, ngay cả căn phòng ngày xưa công tử Bạc Liêu ở cũng không có bảng tên để thu hút du khách, chưa nói đến việc không tổ chức giới thiệu được về Trần Trinh Huy và gia tộc, mà qua đó du khách hiểu thêm một giai đoạn lịch sử đầy biến động của đất phương Nam.

Tôi vừa gặp con trai công tử Bạc Liêu, Trần Trinh Đức, tại nhà Lớn sau bao năm lưu lạc trở về. Ông Đức cho biết, chính quyền tỉnh Bạc Liêu có ý định cấp cho ông một thửa đất để xây nhà thờ Trần gia và mời ông thuyết trình cho du khách nghe về gia tộc Trần Trinh và công tử Bạc Liêu, khi mà khách sạn Công tử Bạc Liêu được Saigontourist đầu tư sửa sang, nâng cấp trang thiết bị.

“Ý định” ấy là quá tốt để ngành du lịch phát huy thương hiệu Công tử Bạc Liêu, nhưng phải làm sớm, vì nhân chứng sống duy nhất là ông Đức đã ngoài 60 tuổi!

Yên Huỳnh post (Theo Phương Hà Doanh nhân Sài Gòn)

Công tử Bạc Liêu (phần 1)

http://www.youtube.com/watch?v=uWDh8Vej6cc

Công tử Bạc Liêu (phần 2)

http://www.youtube.com/watch?v=C21oWpTEPsc&feature=relmfu

Advertisements

3 phản hồi

  1. nhac si tran trinh con nguoi vo thu 2 co 3 nguoi con hien van con o sai gon sao khong nghe nhac toi,con nguoi da mat o ben my la nguoi vo thu ba

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: