Nói về nhạc phẩm NỬA HỒN THƯƠNG ĐAU

NGƯỜI TÌNH TRONG

“NỬA HỒN THƯƠNG ĐAU”

CỦA PHẠM ĐÌNH CHƯƠNG

Lời ngỏ : “Tôi là người đàn bà sống để yêu thương và viết. Trong loạt bài Người Tình Trong Tình Khúc do tôi sưu tập và viết lại không với ý nghĩa là một công việc “thóc mách” mà viết với tâm cảm chia sẻ để chúng ta cùng chiêm nghiệm và chiêm ngưỡng những cuộc tình đẹp, mãi đẹp… dù phải chia lìa, hay vẫn có nhau bên đời này”.

Công chúng hiếm khi bắt gặp được tấm hình chụp chung cả đại gia đình như tấm hình chúng ta thấy trên gồm có Phạm Duy và người đàn bà người ta đồn chính sự phụ bạc của Khánh Ngọc khiến Phạm Đình Chương phỏng thơ Thanh Tâm Tuyền thành ca khúc “Nửa Hồn Thương Đau” thật xuất thần !

Trước khi chúng ta trở về quá khứ để lần lại sự thật, người viết xin nhắc lại một chút về người nghệ sĩ tài hoa này.

Nhạc sĩ Phạm Đình Chương sinh năm 1929 tại Bạch Mai, Hà Nội. Khi soạn nhạc ông lấy tên thật là Phạm Đình Chương. Đi hát có tên là Hoài Bắc. Quê nội ở Hà Nội còn quê ngoại ở Sơn Tây. Ông xuất thân trong một gia đình mang truyền thống âm nhạc, thân phụ là Phạm Đình Phụng. Người vợ đầu của cha ông, sinh được 2 người con trai tên Phạm Đình Sỹ và Phạm Đình Viêm. Phạm Đình Sỹ lập gia đình với nữ kịch sĩ Kiều Hạnh và có con gái là ca sĩ Mai Hương. Còn Phạm Đình Viêm tức ca sĩ Hoài Trung, trong ban hợp ca Thăng Long như đã nói. Người vợ sau tức mẹ ruột Phạm Đình Chương sinh 3 người gồm trưởng nữ là Phạm Thị Quang Thái, tức ca sĩ Thái Hằng vợ nhạc sĩ Phạm Duy. Con trai thứ là nhạc sĩ Phạm Đình Chương, và cô con gái út là Phạm Thị Băng Thanh, tức nữ ca sĩ Thái Thanh.

Khánh Ngọc là một ca sĩ thành danh trong làng nhạc từ những năm giữa thập niên 1950 đến đầu thập niên 1960, cô là một ca sĩ được nhiều người biết với tên gọi “ngọn núi lửa”, bởi cô có bộ ngực hấp dẫn và thường quyến rũ khán giả say đắm mỗi khi cô lên hát.

Ngoài ra cô còn là một diễn viên điện ảnh nổi tiếng trước cả Kim Cương, Thẩm Thúy Hằng, Trang Thiên Kim, Kiều Chinh… Khán giả ngày hôm nay có thể không biết đến cô, nhưng trong ký ức những khán giả miền nam trước năm 1975… và nhất là những khán giả tuổi 60-70 thì Khánh Ngọc là một trong những ngôi sao thuộc thế hệ đầu tiên sáng chói trong làng điện ảnh Sài Gòn.

Từ nhỏ, lúc còn đi học cô rất thích ca nhạc, nên năm 12 tuổi đã theo học nhạc với nhạc sĩ Dương Thiệu Tước và Minh Trang, lúc đó cặp nghệ sĩ này giữ phần ca nhạc ở Đài Phát Thanh Pháp Á và Quốc Gia. Cuộc đời nghệ thuật của cô bắt đầu từ đó. Bản nhạc đầu tiên cô trình diễn là bản “Tiếng Hát Lênh Đênh” của Từ Pháp, hát ở rạp Nam Việt, Saigon. Lúc đó trước khi trình chiếu phim luôn có những chương trình phụ diễn tân nhạc và ca sĩ Khánh Ngọc đã hát hằng tuần ở các rạp Nam Việt, Nam Quang, Văn Cầm, Đại Nam và đi lưu diễn nhiều nơi khác.

Đến năm 13, 14 tuổi ca sĩ Khánh Ngọc hát ở các Đài Phát Thanh và hát trong các chương trình đại nhạc hội ở Saigon, các tỉnh, Đà Lạt, và ra Miền Trung, Sau đó ca sĩ Khánh Ngọc gia nhập Ban Gió Nam trong đó có Thái Thanh, Thái Hằng, Hoài Trung và Hoài Bắc, rồi ra Bắc thì có Trần Văn Trạch, nhạc sĩ Võ Đức Thu và ban ca nhạc nhảy múa là Lưu Hồng, Lưu Bình.

Vào năm 1955 có phái đoàn ngoại quốc đến Saigon để tìm các diễn viên cho phim “Ánh Sáng Miền Nam”. Đạo diễn phim này là người Phi Luật Tân cũng chọn nhiều diễn viên, nhưng qua một chương trình nhạc cảnh “Được Mùa” do Ban Hợp ca Thăng Long trình diễn tại rạp Việt Long, đạo diễn Phi Luật Tân “chấm” cùng lúc là minh tinh của ba bộ phim đều thành công, Khánh Ngọc cũng được khán giả mến mộ nhiều nên cô đã ca hát mỗi tối ở các vũ trường lớn của Saigon, Chợ Lớn lúc bấy giờ. Khánh Ngọc là một vì sao sáng chói nhất của vòm trời ca nhạc điện ảnh Việt Nam.

Khánh Ngọc cũng chính là người vợ thương yêu của Phạm Đình Chương. Thời gian này nhạc sĩ Phạm Đình Chương đã nghe phong phanh Khánh Ngọc ngoại tình nhưng vì tình yêu nên ông vẫn tin tưởng vợ và bỏ ngoài tai tất cả những nguồn tin “lá cải” ấy. Cho đến khi biết được sự thật không thể phủ nhận được. Vào những năm của thập kỷ 60, báo chí Sài Gòn xôn xao vụ ly dị của vợ chồng ca nhạc sĩ Phạm Đình Chương – Khánh Ngọc. Có thể nói rằng sự tan vỡ của gia đình tiếng tăm thời bấy giờ được dư luận quy cho môt cuộc tình vụng trộm giữa ca sĩ Khánh Ngọc và “tình địch” không ai chính là nhạc sĩ Phạm Duy !

Đó là một chia tay bất ngờ, không thể oan trái hơn, giữa ông và nữ ca sĩ Khánh Ngọc.

Thảm kịch với sức chấn động và, dư chấn dội lại dài lâu từ dư luận, thân, tâm, đã dập tắt mọi tiếng cười. Khóa chặt mọi nẻo đường dẫn tới tiếng hát.

Ban “Thăng Long”’ bị chôn sống sau địa chấn.

Nhà văn Mai Thảo kể, rời bỏ đầu tiên khỏi “bản doanh” đại gia đình Thăng Long ở đường Bà Huyện Thanh Quan là Phạm Duy và Thái Hằng. Phần còn lại gồm cả “Bà mẹ Thăng Long” (thân mẫu nhạc sĩ Phạm Đình Chương), dọn về một ngôi nhà nhỏ ở đường Võ Tánh.

Đó là thời gian họ Phạm sống những ngày gần như cắt đứt mọi liên hệ xã hội. Ông chỉ tiếp xúc với một số bằng hữu thân thiết, giới hạn. Vẫn theo lời kể của nhà văn Mai Thảo, đang từ một “tay chơi” một “star,” thần tượng của giới trẻ thời đó, Phạm Đình Chương đã lột xác thành kẻ khác. Ông thay đổi hoàn toàn. Từ sự không còn một chút để ý quần áo, ăn mặc, tới sự tắt ngấm nụ cười. Ông trở thành một người không chỉ kiệm lời, đôi khi còn bẳn gắt nữa.

Thảo, tác giả tiểu thuyết “Mười đêm ngà ngọc,” một truyện dài viết về gia đình Thăng Long, nói :

“Nhiều khi cả ngày Hoài Bắc không mở miệng… Nhưng số anh em thân, vẫn lui tới, không bảo nhau, chúng tôi tôn trọng sự im lặng của Hoài Bắc. Chúng tôi tìm mọi cách, nghĩ đủ mọi chuyện chỉ với mục đích sao cho bạn vui. Bạn có thể có lại nụ cười…”

Trái với một vài bài viết cho rằng ngay sau đó, họ Phạm đã sáng tác một số ca khúc như “Nửa hồn thương đau” hay “Người đi qua đời tôi,” “Khi cuộc tình đã chết”… Như một phản ứng tức khắc với phần số.

Sự thực dư chấn của thảm kịch đã giảm thiểu mọi hoạt động của nhạc sĩ Phạm Đình Chương một thời gian khá dài. Nó như một dấu lặng (bất thường) trong âm nhạc !

Bản nhạc “Nửa hồn thương đau” viết xong vào năm 1970, tại Đêm Mầu Hồng, đường Tự Do theo yêu cầu của anh Quốc Phong, giám đốc Liên Ảnh Công Ty, để dùng cho cuốn phim Chân Trời Tím do công ty này sản xuất. Toàn bản nhạc do chính Phạm Đình Chương đặt lời. Chỉ duy nhất có hai câu cuối bài trích ở tác phẩm Lệ Đá Xanh, thơ Thanh Tâm Tuyền, nhạc Cung Tiến mà thôi.

Khi được hỏi tại sao chỉ còn hai câu chót mà “Nửa hồn thương đau” lại phải mượn nhạc Cung Tiến thì Phạm Đình Chương cho biết : “Khi tôi nhận lời viết một nhạc phim cho phim “Chân trời tím,” Quốc Phong chi ngay tiền tác quyền. Trước sự điệu nghệ của bạn, tôi đã bắt tay vào việc sáng tác. Thời gian tôi dành cho ‘Nửa hồn thương đau’ không nhiều lắm. Nhưng khi tới phần “coda” tức là lúc phải đi ra, kết thúc ca khúc, tôi loay hoay không biết phải viết sao cho hợp với nội dung bản nhạc… Nghĩ thời hạn “nộp bài” còn xa, tôi cất nó đi. Bất đồ, một buổi tối Quốc Phong ghé lại ‘Đêm mầu hồng’ đòi nợ ! Bảo, mọi chuyện đã sẵn sàng. Ê kíp quay đã ‘bấm máy’. Chỉ còn thiếu nhạc phim thôi. Quốc Phong gia hạn cho tôi, tối đa, hai ngày ! Ông biết mà, tôi làm gì được với hai ngày phù du đó ! May sao, khi ấy, trên nóc chiếc piano của tôi, lại có bài ‘Lệ đá xanh’ của Cung Tiến, phổ thơ Thanh Tâm Tuyền. Tôi thấy cái coda bài này có vẻ thích hợp với ‘Nửa hồn thương đau’, thêm nữa, cả hai đều là bạn rất thân; thế là… ‘a lê hấp’, tôi dùng ngay cai ‘coda’ đó. Và, tôi có ghi rõ là tôi ‘mượn’ của Cung Tiến…”

Nhìn lại giai đoạn “hậu địa chấn” bi kịch vùi dập đời riêng của họ Phạm, kể từ cuối thập niên (19)50 tới 1967, những người theo dõi sáng tác của ông trong giai đoạn này, hầu như không tìm thấy một ca từ nào mang tính kết án, nguyền rủa hay, thù oán… Mà trái lại.
Ngay ca khúc “Nửa hồn thương đau” được dư luận nhắc tới, bàn tán nhiều nhất và, đề quyết rằng, họ Phạm viết ca khúc này nhằm gửi tới người bạn đời đã chia tay trong quá khứ của ông thì, “đỉnh điểm” của ca từ cũng chỉ là những câu hỏi ném ngược về quá khứ. Như một tỏ-tình- với-dĩ-vãng. Một nâng-niu-vết-sẹo-định-mệnh: “Nhắm mắt ôi sao nửa hồn bỗng thương đau / ôi sao ngàn trùng mãi xa nhau / hay ta còn hẹn nhau kiếp nào? / Anh ở đâu ? / Em ở đâu ?” (Lời hoàn toàn của Phạm Đình Chương.)

Từ góc độ này, có người đã kết luận, nhạc sĩ Phạm Đình Chương không chỉ lớn lao ở tài năng, mà ông còn lớn lao ở phong cách đối mặt với thảm kịch và, ăn ở với người, với đời nữa. *

Ngay với ca khúc tựa đề “Người đi qua đời tôi” thì họ Phạm cũng đã chọn câu thơ như một câu hỏi, có thể làm nao lòng người nghe là : “Em đi qua đời anh / không nhớ gì sao em ?”

Bà Khánh Ngọc giờ ra sao ?

Sau khi ly hôn và giao đứa con trai khoảng 4 tuổi lại cho nhạc sĩ Phạm Đình Chương nuôi. Năm 1961 bà Khánh Ngọc qua Mỹ học về điện ảnh. Trong một cuộc phỏng vấn được đưa lên Youtube do bà Tuyết Mai thực hiện tại Florida vào năm 2007 (**), người viết thấy bà Khánh Ngọc còn đẹp, nhất là nhìn hấp dẩn lắm, ánh mắt rất đa tình, ác liệt, miệng rộng, hơi móm nhưng duyên dáng. Bà nhắc lại những giai đoạn ca hát như ở trên. Có lẽ bà Tuyết Mai nóng ruột tò mò muốn hỏi về những chuyện riêng của “ngày xưa” nhưng ý tứ không dám sổ sàng. Riêng bà Khánh Ngọc lúc nào cũng cười, khi nhắc đến ban hợp ca Thăng Long, thái độ bà rất thản nhiên, bà cho biết, khi qua Mỹ bà gặp một du học sinh và hai người hiểu nhau rồi kết hôn. Hiện bà có 3 người con và đang sống hạnh phúc tại Losan. Bà vẫn thường xuyên đi đây đó ca hát trong những hội đoàn cộng đồng bè bạn và ao ước được về sống tại Việt Nam trong những ngày cuối đời.

Người viết chưa thấy tài liệu nào nói ông Phạm Đình Chương có gặp lại bà Khánh Ngọc lần nào không. Nhưng trong bài Tưởng mộ Phạm Đình Chương của Mai Thảo, và trong bài tưởng mộ Mai Thảo của bà Lê thị Huệ có nhắc đến bà Ý Liên, người vợ sau của nhạc sĩ Phạm Đình Chương và vẽ lại hình ảnh bà như sau :

– “Hai lần tôi gặp Liên trong hai đêm tối. Một lần ở nhà Phạm Đình Chương ở ngôi nhà vùng Norwalk, khi tôi ngó thấy Ý Liên lần đầu tiên tôi nói với Mai Thảo và Phạm Đình Chương, Liên là Liên tiểu thuyết. Liên im ắng nhìn tôi và ngồi yên trong vị trí tôi đặt định cho Liên. Đêm nay tôi gặp lại Liên hai ông kia không còn. Nhưng một người đàn ông khác, ông Đặng Trần Thức quay lưng lại mời Liên ngâm một bài thơ. Đêm sâu và giọng Liên nhung êm : “Trời cuối thu rồi em ở đâu. Nằm trong mồ lạnh chắc em sầu” Tình yêu Liên rút lòng ra rũ rượi như bóng ma da đêm. Đâu đó thấy hai chiếc bóng Phạm Đình Chương và Mai Thảo in trên tường nhà Trần Diệu Hằng đêm nay !…” (***)

Chúng ta hãy nghe lại bài hát này với giọng ca Thái Thanh, để khắc khoải, buồn cho một cuộc tình không trọn vẹn, như của tôi, như của bạn, như của những người chung quanh chúng ta…

thuỵvi

Cảm ơn, và, xin phép được trích :

(*) Trang Du Tử Lê (**) Mời xem YouTube về bà Khánh Ngọc do Tuyết Mai thực hiện :

 http://www.youtube.com/watch?v=nkLjrxrrRZ0    (***) Trang Gió

NHÌN LẠI

NHỮNG ẢNH XƯA

– Nguyễn Đức Hiệp

Việt Nam có một lịch sử nhiếp ảnh và phim ảnh phong phú, có thể nói là một trong nước mà nhiếp ảnh và điện ảnh được bắt đầu áp dụng trước nhất ở Á châu. Sau khi Louis Daguerre khám phá ra kỹ thuật chụp ảnh năm 1837, thì bảy năm sau Alphonse Jules Itier đã ghé Đà Nẳng trên đường qua Trung Quốc đã chụp một đồn lính Việt Nam trên bảng đồng. Đây là bức ảnh đầu tiên chụp ở Việt Nam.

Cũng vậy sau một sự kiện lớn trong lịch sử kỹ thuật phim xuất hiện ở Pháp, khi hai anh em Lumière (Auguste và Louis) sáng chế ra máy quay phim vào năm 1895, thì chỉ một năm sau, Auguste và Louis Lumière đã gởi Gabriel Veyre đến Đông Dương và quay các phim ở vùng này (hai anh em cũng gởi người đi đến nhiều nơi khác trên thế giới).

Vì thế các phim đầu tiên thực hiện ở Việt Nam là của hai anh em Lumière. Trong các phim này thì phim đầu tiên là do Gabriel Veyre quay năm 1896 ở một làng gần Đà Nẳng có tựa đề là “Le Village de Namo – Panorama pris d’une chaise à porteurs”. Làng này chính là làng Nam Ô, sát cạnh biển gần thành phố Đà Nẳng, Gabriel Veyre đã quay cảnh các trẻ em chạy chung quanh ông lúc đang ngồi trên kiệu cầm máy quay phim vào làng (1)

Nhưng tư liệu nhiều nhất để lại là những hình ảnh do các nhà nhiếp ảnh Pháp (và sau này là các nhiếp ảnh người Việt Nam) chụp vào hậu bán thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 ở Việt Nam, Cam Bốt và Lào. Những nhà nhiếp ảnh tiên phong trong thời kỳ này là Émile Gsell, Aurélien Pestel, George Victor Planté, Gabriel Auguste Paullussen, G. Wirth, Alexandre Francis Decoly, Poujade de Ladevèze, Ludovic Crespin, Fernand Nadal, Võ An Ninh… Riêng Émile Gsell đã có chụp những bức hình xưa nhất rất quí giá về lịch sử văn hóa và nghệ thuật vào năm 1866 ở Saigon và Bắc Kỳ.

Bài này chỉ giới hạn trong sự giới thiệu sơ lược các tác giả và vài hình ảnh tiêu biểu của 3 nhà nhiếp ảnh vào đầu thế kỷ 20 : Ludovic Crespin, Fernand Nadal và Võ An Ninh. Một bài nghiên cứu tương đối đầy đủ hiện sắp hoàn thành về lịch sử nhiếp ảnh Việt Nam ở Saigon và sẽ được trình bày sau.

– Ludovic Crespin, sinh năm 1873, là một trong những nhà nhiếp ảnh chuyên nghiệp sống ở Saigon cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. Ông có cơ sở thương mại tại số 136-138 rue Catinat (đưo=`ng Đồng Khở ngày nay) và có một phòng phim ở số 10 Boulevard Charner (Nguyễn Huệ) (1). Ông Crespin cũng xuất bản các sách in lại từ các ảnh, như bộ ảnh về thành phố Chợ Lớn năm 1909. Ông xuất bản bộ ảnh nổi tiếng tên là “Souvenir de Cochinchine et du Cambodge”.

Hình 1 là trích từ bộ ảnh này. Bên phải là tòa nhà Hải quan (trước đó là nhà của ông Vương Thái, Wang-Tai). Bên trái là Quai de commerce (bến Bạch Đằng ngày nay). Chính tại bến này Nguyễn Tất Thành lên tàu Amiral Latouche-Treville của hãng Chargeurs Reunis (chứ không phải tại bến Nhà Rồng là nơi đậu tàu của hãng Messageries Martitimes) (5). Trụ sở của hãng Chargeurs Reunis là ở lầu một của khách sạn Hotel de la Rotonde, số 2 rue Catinat.

Để ý xe buýt chở khách trong hình có mang biển quảng cáo “amer picon”, một một loại rượu đắng màu cam (từ võ cam) khai vị uống cùng với bia. Loại rượu này do ông Picon, người lính Pháp gốc đảo Corse sáng chế vào năm 1837 và sau này rất phổ thông trong quân đội Pháp, được cho là chữa nhiều bệnh như sốt rét, cảm cúm… Xe hơi vào Saigon nhiều bắt đầu từ năm 1910, sau khi ông hoàng Duc de Montpensier mang xe Lorraine Diétrich 24/30 HP đến Saigon trong chuyến đi vượt rừng Saigon đến Angkor (nhiều người cho rằng ông điên rồ) nhưng ông đã thành công đến được di tích văn minh Khmer, Angkor.

Trong hình 2 là đường Catinat nhìn từ bến Bạch Đằng. Khách sạn Hotel de la Rotonde ở bên phải, có trụ sở hãng tàu Chargeurs Reunis mà trước đó Nguyễn Tất Thành đến xin làm phụ bếp của tàu Amiral Latouche Treville năm 1911. Lúc này khách sạn Majestic chưa xây, trên vị trí của Taverne Alsacienne phía trái hình (ta cũng thấy ở bên trái có ‘money changer’, sạp hàng nơi đổi tiền của người Ấn mà người Pháp gọi là Malabar).

Không rõ tác giả bức ảnh này (hình 3), chỉ biết thuộc Editeur Comiel, Saigon. Collection G. Comiel, đã có xuất bản một phóng sự đầy đủ về chuyến thăm chính thức của Toàn quyền Beau ở Vân Nam, năm 1905 (1). Đây là bến xe trước tòa nhà hỏa xa, gần chợ Bến Thành. Bến xe này đi các tỉnh miền đông và tây. Để ý các xe này cũng giống như xe trong các hình chụp của Crespin.

Bức ảnh này (hình 4) là của Fernand Nadal chụp, in trong album Nadal năm 1926. Ông Fernand Nadal là người Ả Rập, sinh ở Algérie (Hussein-Dey năm 1898 ? hay El Affroun năm 1902 ?), ông đến Đông Dương trong năm đầu của thập niên 1920, ông trú ngụ và có cơ sở thương mại ở số 150 đường Catinat, Saigon.

Đường Catinat (nay là Đồng Khởi), khách sạn Continental bên phải và bên trái là tiệm thuốc tây Solirène Pharmacie (số 20 rue Catinat). Chủ nhân trước của Solirène Pharmacie là ông Lourdeau (1865), sau đó sang lại cho dược sĩ Thomas Victor Holbé và ông Renoux. Ông Holbé đặc biệt cũng là nhà thực vật, sưu tầm khảo cổ và nhân chủng học. Ông là cộng tác viên của Trường Viễn đông Bác cổ. Tính tình phóng khoáng, ông tự bỏ tiền túi đi điền dã ở nhiều nơi như Angkor, Huế, Hà Nội, Vân Nam, Java, Borneo, cao nguyên Quảng Trị (cùng với ông Cardière)…

Nhà ông ở Saigon, được bạn bè thân mật gọi là “Villa Hermosillo”, có vườn nhiệt đới đầy cây lan, cây cọ, dương sĩ… Ở đây giống như một ốc đảo giữa sa mạc là nơi tụ tập của các nhân sĩ, trí thức, những ai say mê về bất cứ khía cạnh nào về khoa học, xã hội, nhân chủng, khảo cổ, về các khía cạnh của Saigon, Nam Kỳ, hay những nơi khác có thể đến và được đón tiếp. Bộ “sưu tập Holbé” sau này được tặng cho thành phố Saigon sau khi ông mất, và được trưng bày trong nhiều phòng ở viện bảo tàng mới của Nam Kỳ, Musée de la Cochinchine (Bảo tàng Blanchard de la Brosse). Ông Holbé mất tại Saigon 18 tháng 2 năm 1927, sau đó tiệm thuốc tây nhường lại cho ông Renoux, thành nhà hàng của ông Pancazi, sau đó trở lại tiệm thuốc tây của ông Solirène (4). Cuối cùng trở thành nhà hàng café Givral (và năm 2010 thì bị phá bỏ).

Hiện nay chưa biết đích xác địa chỉ nhà “Villa Hermosillo” của ông Holbé ở Saigon. Trong niên giám Annuaire général de l’Indochine năm 1909 chỉ có ghi địa chỉ Pharmacie Holbé ở số 20-22 rue Catinat và một người tên Nguyen Van Duc ở số 83 rue Gia Long làm cho Pharmacie Holbé et Cie. (Nguyen Van Duc, pharmacie europénne, Holbé et Cie., Saigon).

Võ An Ninh – Cụ đồ viết câu đối Tết (1940) : Võ An Ninh, tên thật là Vũ An Tuyết, sinh năm 1907 tại phố Hàng Gai, Hà Nội. Ông làm phóng viên nhiếp ảnh của Sở Kiểm Lâm. Võ An Ninh đi khắp mọi miền đất nước Bắc-Trung-Nam để chụp ảnh với cái camera của Đức hiệu Zeiss Ikon (1928). Ở Hà Nội, ông có nhiều ảnh nổi tiếng gợi nhớ về Hà Nội của những ngày thanh lịch xa xưa: Trong vườn si đền Voi Phục (1942), Gió nồm (Đê sông Hồng, 1948), Nhớ xưa (1944), Bậc đá đền Voi Phục (1956), Chùa Láng (1941), Cụ đồ viết câu đối Tết (1940), Tranh Tết làng Hồ (1941), Phố Hàng Buồm (1940). Ở thành phố Saigon trong giai đoạn 1946-1950, ông có chụp nhiều ảnh trong đó có “Chợ bến thành và bến xe thổ mộ” (1949), “Cụ đồ viết câu đối Tết” (Saigon, 1950), “Lăng ông ngày tết” (1952)…

Bức ảnh này (hình 5) ông chụp ở Hà Nội năm 1940, vài năm sau khi Vũ Đình Liên sáng tác bài thơ nổi tiếng “Ông đồ già” (1936). Tác giả bài này được may mắn gặp ông trong nhiều dịp viếng thăm Saigon và được ông tặng tấm ảnh này sau khi đã đi điền dã với ông ở nhiều nơi. Võ An Ninh mất năm 2009 ở Saigon.

Chú thích :

1/- Phim này có thể xem ở http://www.youtube.com/watch?v=9dk15FlvRj4. Phim thứ nhì của anh em Lumière ở Việt Nam là “Indochine: Enfants annamites ramassant des sépèques devant la Pagode des dames (1903)”

Có thể xem ở http://www.youtube.com/watch?v=WH5NZo8Mm0M).

Bình luận và nghiên cứu chi tiết về hai phim này, có thể xem bài viết của hai giáo sư Barbara Creed và Jeanette Hoorn (University of Melbourne) trong phần tham khảo (6)

Tham khảo :

1/- Marie-Hélène Degroise, Photographes en Outre-Mer (1840-1944),

http://photographesenoutremer.blogspot.com/

2/- Nguyễn Đình Đâu, Báo Lao Động ngày 4/6/2011,

http://laodong.com.vn/Tin-Tuc/Tim-lai-cau-tau-noi-Bac-Ho-roi-cang-Sai-Gon/45151

3/- Nguyễn Đức Hiệp, Võ An Ninh : Nhiếp ảnh và cuộc đời,

http://www.vannghesongcuulong.org/index.php?comp=tacpham&action=detail&id=10502http://www.vannghesongcuulong.org/index.php?comp=tacpham&action=detail&id=10502

4/-Victor Goloubew, V.-T. Holbé, Bulletin de l’Ecole française d’Extrême-Orient, Année 1927, Volume 27, Numéro 27, p. 525.

5/- Chronique, Cochinchine, Bulletin de l’Ecole française d’Extrême-Orient, Année 1933, Volume 33, Numéro 33, p.1110-1111.

6/- Barbara Creed and Jeanette Hoorn, Memory and History: Early Film, Colonialism and the French Civilising Mission in Indochina, in “French History and Civilization”, Papers from the George Rudé Seminar Volume 4, 2011, Edited by Briony Neilson and Robert Aldrich,

http://www.h-france.net/rude/rudevoliv/CreedHoornVol4.pdf

7/- Hình ảnh một số từ http://www.flickr.com/photos/13476480@N07/collections/http://belleindochine.free.fr/Saigon1882.htm

Advertisements

5 phản hồi

  1. Lại một bài rất hay về người nhạc sĩ tài hoa Phạm Đình Chương,
    Xin cảm ơn tác giả & site này.

  2. Bài ” TIẾNG HÁT LÊNH ĐÊNH ” của Lương Ngọc Châu và Tử Phác .
    Lương Ngọc Châu chỉ có 3 tác phẩm .
    Còn Tử Phác là nhạc sĩ nổi tiếng với bài ” Tiếng hát quay tơ ” .
    Ông là một trong những nhân vật của Phong trào Nhân văn-Giai phẩm bị chèn ép đày đoạ .

  3. […] Xem thêm Nói về nhạc phẩm NỬA HỒN THƯƠNG ĐAU […]

  4. […] VĂN HÓA VĂN NGHỆ (22… on Nói về nhạc phẩm NỬA HỒN THƯƠN… […]

  5. […] Nói về nhạc phẩm NỬA HỒN THƯƠNG ĐAU […]

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: