Vợ chồng nhà thơ LAM GIANG – HOA PHƯƠNG

NỮ THI SĨ HOA PHƯƠNG

DỞ DANG VÀ TRỌN VẸN

Ngoài những vần thơ, đôi vợ chồng thi sĩ Lam Giang Nguyễn Quang Trứ và nữ sĩ Hoa Phương đã để lại trên văn đàn những hình ảnh thơ mộng êm đềm như thời Đường sử: vợ làm thơ tình, chồng bình thơ vợ, ngâm nga xướng họa, phu xướng phụ tùy… Tiếc rằng ông đã ra đi vào tháng 9/2009 ở tuổi 91, để lại một mình nữ sĩ hiu quạnh.

– Kính chào nữ sĩ, bà có được mạnh giỏi không ?

– Cảm ơn, cũng thấy yếu lắm, mắt mờ, tai lãng, gối mỏi, tay run, 86 tuổi rồi còn gì.

– Vậy dạo này bà còn làm thơ không ?

– Gác bút hai năm nay rồi. Nhưng vừa rồi lúc khâm liệm anh Lam Giang, tôi có ứng khẩu bài thơ “Khóc chồng” :

Sáu mươi năm ấy cùng chung sống

Gối chiếc bây giờ khóc lẻ đôi

Khăn trắng nghiêng đầu chào vĩnh biệt

Hồn anh ngoảnh lại : Hoa Phương ơi !…

– Hai ông bà đều là những thi sĩ lãng mạn có tiếng trên văn đàn, đồng thời để lại nhiều giai thoại đẹp về sự khăng khít thủy chung. Xin hỏi bà làm thế nào dung hòa các mối quan hệ để giữ được sự bền lâu trong cuộc sống gia đình ?

– Tôi chuyên viết về thơ tình, mà như anh biết đấy, lãng mạn và bay bướm lắm. Nhưng lãng mạn không đồng nghĩa với sự phóng túng mà phải có chừng mực.

Trong cuộc sống gia đình thì người phụ nữ phải như nhà thơ Hồ Dzếnh đã nói :

Mình vừa là chị, là em

Tấm lòng người mẹ, trái tim bạn đời …

Tôi mê thơ từ nhỏ và bắt đầu làm thơ từ năm 1944 với mơ ước rằng “Nhân duyên kén chọn một lần/Lấy chồng thi sĩ là phần của tôi”. Mơ ước ấy đã trọn vẹn khi tôi về với anh Lam Giang – một người tài hoa, thủy chung và độ lượng.

Tình đầu dang dở

– Nhưng có nhà nghiên cứu nhận xét rằng : “Tình yêu của Hoa Phương là tình yêu chung thủy, trong sáng với “người xưa” và không làm vẩn đục hạnh phúc gia đình”. Có những bài thơ tình của bà hình như dành riêng cho ai đó chứ không phải cho Lam Giang ?

– Đúng đó, điều này tôi không hề giấu và anh Lam Giang cũng biết rất rõ. Tôi có một mối tình đầu trước khi đến với anh Lam Giang. Mối tình trong sáng và khó quên này là chất xúc tác để tạo nên một “nữ sĩ Hoa Phương” trên thi đàn, không ảnh hưởng gì đến cuộc sống gia đình riêng của tôi và người ấy.

– Thưa nữ sĩ, bà có thể nói rõ hơn một chút về “người ấy” không ?

– Tôi chỉ có thể nói thế này : Đó cũng là một người hay thơ và biết làm thơ – Điều mà tôi mê nhất trên đời.

– Vì đâu mối tình ấy dở dang, thưa bà ?

– Vì gia đình bên đó không muốn lấy con dâu là người ở phố, vì sợ không biết làm lụng. Hồi đó gia phong nghiêm lắm, chỉ biết khóc mà tuân theo thôi. Sau anh ấy đi tập kết đến hơn 30 năm sau mới về. Lúc gặp lại nhau cả hai đều đã bạc tóc. Gia đình vợ con anh ấy cũng rất quý tôi. Bây giờ thì “người ấy” cũng đã đi xa rồi. “Người ấy” chắc cũng như tôi:

Anh giờ quên trước quên sau

Nhưng không quên được tình đầu dở dang…

Người chồng độ lượng

– Trong bài “Còn nguyên bóng hình” bà viết rằng :

Rồi tôi vội vã lấy chồng

Để quên đi một chuyện lòng khó quên

Tam tòng vẫn giữ chính chuyên

Thương con tim rạn còn nguyên bóng hình… 

Việc bà không quên được mối tình đầu ấy có ảnh hưởng gì đến chồng bà – nhà thơ Lam Giang hay không ?

– Ý anh muốn nói là anh Lam Giang có ghen không chứ gì ? Tôi nhiều lần nói rằng Lam Giang là một người quân tử độ lượng. Anh ấy cũng mang trong cơ thể dòng máu thi nhân, rất thông cảm với vợ, sự thông cảm của một nhà thơ với một nhà thơ. Tôi có làm bài thơ “Tạ phu quân” :

Tạ lòng quân tử tương tri

Thương từng cánh mộng xuân thì vương tơ

Tạ lòng tri kỷ tình thơ

Tinh anh kết nụ bây giờ nở hoa. 

Đời tôi thấy có hai người đàn ông độ lượng khiến tôi cảm phục là chồng tôi và phu quân của chị Mai Đình bạn tôi. Tình cảm của chị dành hết cho người yêu cũ Hàn Mặc Tử, trong phòng khách chị treo bức ảnh Hàn thi sĩ để tưởng nhớ, nhưng chồng chị không hề lấy đó làm điều phiền.

– Nếu quả như thế thì bà là người thật hạnh phúc và những câu thơ đượm chất ai oán của thi sĩ Lam Giang Giá như ngày trước mà dang dở / Kỷ niệm bây giờ chắc đẹp hơn” hẳn là không phải ám chỉ đến chuyện “hôn nhân và ái tình” của riêng ông bà ?

– Cuộc sống vợ chồng khó mà không có những va vấp, nhất là với anh Lam Giang – con người tài giỏi, mà cũng nổi tiếng là “gàn”. Nhưng điều đó càng làm chúng tôi gắn bó với nhau hơn.

Tôi kể chuyện này để anh hiểu hơn. Khi hoàn thành bản thảo tập thơ “Sóng thời gian”, tôi đưa cho anh Lam Giang và nói : “Anh hãy đọc, nếu thấy thơ xúc phạm tới anh thì anh hãy xé bỏ”.

Anh đọc hết rồi vui mừng nói : “Thơ thế này làm sao anh xé được ?”. Tôi lại nói : “Hoa Phương có để dành ít tiền để sửa nhà, bây giờ không biết nên in thơ hay sửa nhà trước ?”, anh trả lời ngay : “In thơ trước”.

– Vâng, nhưng tôi cũng có đọc một đoạn bình của Lam Giang mà có vẻ như ông “nhắc nhở” bà ?

– À, đó là bài “Tiềm thức chưa phai” có những câu :

Trong thơ vắng bóng người xưa

Hỏi mình đã thật quên chưa chuyện lòng ?

Lệ đa tình ! tưởng ngừng tuôn

Đêm qua nằm mộng ai còn đến thăm…

Lam Giang bình rằng : Bài thơ lập ý thành thật, không hề dối trá quanh co. Nhưng sự thành thật chỉ có thể bộc lộ với người chồng có độ lượng quân tử. Còn thì phải coi chừng :

Nữa khi sóng gió bất ngờ

Điêu tàn dồn dập đôi bờ cỏ hoa. 

Nếu coi đó là “nhắc nhở” thì cũng là lời nhắc nhở của bậc trượng phu và không phải chỉ với riêng tôi.

– Có cha mẹ đều là nhà thơ tài danh, các con của bà có ai nối nghiệp không ?

– Không có đứa nào làm thơ cả. Đứa thì theo nghề dược, đứa theo nghề điện máy, còn một đứa là Nguyễn Quang Bình, nhạc sĩ, đang giảng dạy âm nhạc ở Mỹ, là Trưởng đoàn Đoàn nghệ thuật MECA, trường Giáo dục đa văn hóa và Tư vấn nghệ thuật bang Texas.

– Với riêng mình, bà còn ao ước gì không, thưa nữ sĩ ?

– Tôi đã ước trong bài “Tự khánh thọ” :

Trời cho sống được mươi năm nữa

Ta chở thơ tình dạo khắp nơi. 

Nếu có kiếp sau tôi vẫn muốn làm thi sĩ và lấy chồng thi sĩ.

Kiếp này làm vợ nhà thơ

Luân hồi nếu có chồng là thi nhân. 

Và tôi đã dặn trước cháu tôi :

Một mai nội có đi xa

Bích Vân nhớ nội chớ ra mộ phần

Di hài nội đã hóa thân

Hồn thơ của nội mãi gần bên con.

– Xin cảm ơn và kính chúc bà an khang !

Thiên Trường (Trích từ BEE.net.vn – 13/01/2010)

Tiểu sử nữ thi sĩ Hoa Phương:

Tên thật : Khưu Thị Hồng Ngưu, sinh năm 1925. Quê quán : Diêu Trì, Tuy Phước, Bình Định. Hiện sống tại quận Bình Thạnh, TP.HCM.

Đã xuất bản: 

Sóng thời gian, Trăng đọng vườn thơ.

Thơ được tuyển chọn – bình luận : Đi tìm những nhà thơ, Thi ca miền Trung Việt Nam, Nữ sĩ Việt Nam…

Thơ được các nhạc sĩ Châu Kỳ, Trần Hinh, Văn Đông, Quốc An phổ nhạc.

Hai bài thơ của Hoa Phương nữ thi sĩ :

Lại viết thơ tình

Đã toan gác bút bao lần

Thơ tình thôi viết, tro tàn thôi khêu.

Trót quen cái nết nàng Kiều

Thơ tình lại viết đêm nhiều gió mưa. 

Trăng đọng vườn thơ

Vị ngọt bùi ai hưởng hết rồi

Riêng mình cay đắng tự trong nôi

Dưới trời bừng nở cành hoa muộn

“Trăng đọng vườn thơ”, giọt lệ cười.

Nguyễn Văn Danh post

NHÀ THƠ LAM GIANG

Nhà thơ Lam Giang tạ thế vào giờ Mùi ngày 7/9/2009. Vậy là thêm một nhà thơ thời tiền chiến ra đi, thọ 90 tuổi tại Sài Gòn.

Nhà thơ Lam Giang tên khai sinh là Nguyễn Quang Trứ – sinh 1919 tại Phù Mỹ (Bình Định). Thuỷ tổ nhà thơ là Cương Quốc Công Nguyễn Xí – một danh tướng thời Lê – vốn quê xứ Thanh. Cha nhà thơ là Nguyễn Kim Thanh – vốn là một Thiền sư, tham gia Cần Vương theo Phan Đình Phùng. Khi cuộc khởi nghĩa thất bại, Thiền sư vào Bình Định lánh nạn, làm nghề thuốc. Có lẽ để ghi nhớ những năm tháng oanh liệt của cha bên dòng sông Lam nên nhà thơ đã lấy bút danh là Lam Giang.

Lam Giang làm thơ ở Bình Định cùng thời với Chế Lan Viên, Yến Lan, nhưng lại gần gũi Quách Tấn hơn, dù Quách Tấn hơn ông gần chục tuổi. Khi Quách Tấn còn ở Bình Định mà Lam Giang đã phiêu bạt vào Sài Gòn, ông đã có thơ tặng bạn vong niên Bình Định thi hào quân thượng tráng/Sài Gòn cô lữ ngã do bần” (Trong các nhà thơ lớn Bình Định anh còn sung sức/ Sống lẻ loi quán trọ đất Sài Gòn tôi còn nghèo – Nguyễn Khôi dịch).

Lam Giang cộng tác với NXB Quốc học Thư xã Hà Nội từ 1941 đến 1945. Đọc những bài thơ Lam Giang thời tiền chiến, dễ liên tưởng tới một nhà thơ xứ Nghệ lập nghiệp ở Hải Phòng, đó là nhà thơ tiền chiến Lan Sơn. Giá như lúc ấy mà những bài thơ “Nhớ về thu trước”, “Hướng dương“… lọt “mắt xanh” Hoài Thanh thì Lam Giang đã có “ghế” trong “Thi nhân Việt Nam”.

Song, giống như đàn anh Khương Hữu Dụng, Lam Giang vẫn đủ tầm vóc của một nhà thơ đáng trân trọng ở thời tiền chiến. Những câu thơ Lam Giang xem ra khá độc đáo về cách cảm, cách lập tứ, cách tìm thi ảnh :

Có một bài thơ từ buổi trước

Bây giờ đem đọc thấy sầu xưa

Có người năm ngoái cho gương lược

Lược vỡ gương tan tự bấy giờ

Có một hoa vàng trong gió lướt

Bay về bến cũ khách ngồi trơ…”.

Ông còn có bài ngũ ngôn ngâm theo kiểu hát dặm đầy khẩu khí về Phan Đình Phùng. Thời tiền chiến đã ghi dấu ấn Lam Giang qua tập “Tây tái Vân Sơn” và tập “Triết học đại cương”.

Khi đất nước tạm chia cắt, Lam Giang đưa gia đình vào Sài Gòn. Ở xứ “Viên ngọc Viễn Đông” thời ấy, ông đã kết thân với Vũ Hoàng Chương. Riêng 1958, ở tuổi “Tứ thập bất hoặc” Lam Giang xuất bản tại NXB Tân Việt 4 tác phẩm. Đó là “Giảng luận về Nguyễn Công Trứ”, “Giảng luận về Cung oán ngâm khúc”,”Giảng luận về Trần Quý Cáp”, “Phương pháp bình văn”.

Năm 1963, khi nhà sư Thích Quảng Đức tự thiêu để phản đối chế độ Ngô Đình Diệm đàn áp Phật tử, Vũ Hoàng Chương đã viết bài thơ “Lửa” đầy hào khí ca ngợi tấm gương nhà sư. Trong hoàn cảnh bắt bớ, lùng sục, nhà thơ không dám chép ra để tuyên truyền cho đồng bào, Lam Giang đã yêu cầu Vũ Hoàng Chương đọc cho con trai mình nghe đến thuộc rồi sau đó chạy đến chùa đọc lại cho các nhà sư. Bởi thế, bài thơ đã loang rộng khắp Sài Gòn. Cậu con trai đó hiện là nghệ sĩ guitare Nguyễn Quang Bình khá nổi tiếng.

Vào tuổi 75, Lam Giang như hồi sinh. Ông liên tiếp ấn hành những tác phẩm : “Khảo luận về thơ” (NXB Đồng Nai), “Phép giành chiến thắng theo Tôn tử binh pháp” (NXB Thể dục Thể thao 1995), “Những cái khôn của người xưa” (NXB Thanh Niên- 1999), “Những bài thơ hay trong văn chương Việt Nam” (NXB Thanh Niên – 2000), “Truyện hay trang sử Việt” (NXB Thanh Niên 2001), “Vua Quang Trung” (NXB Thanh Niên – 2001) và ấn hành chung cùng vợ, nhà thơ Hoa Phương tập thơ “Trăng đọng vườn thơ” (NXB Thanh niên – 2008).

Đấy là những tâm tình cuối cùng của ông gửi lại dương thế để viên mãn ra đi ở tuổi 90.

(Theo Nguyễn Thuỵ Kha – Lao Động)           

THÚY ĐÃ ĐI RỒI

Trong gia tài sáng tác khá đồ sộ của nhạc sĩ Y Vân, có một bản nhạc đặc biệt: Thúy đã đi rồi… Bản nhạc này rất thịnh hành vào thập niên 60 thế kỷ trước. Tuy nhiên, đằng sau bản nhạc là một bí mật ít người biết tới.

Nghệ sĩ vốn đa tình, cho nên chuyện trăng hoa, ong bướm âu cũng là nghiệp chướng. Nhưng trường hợp của nhạc sĩ Y Vân lại khác, bởi bà Minh Lâm – vợ ông, từng khẳng định với người viết là ông rất đứng đắn, nghiêm túc trong chuyện tình cảm và không giấu bà điều gì. Ngay cả bút danh Y Vân bà cũng biết, đó là cuộc tình thời trai trẻ của ông và thiếu nữ mang tên Tường Vân. Cuộc tình không thành nhưng để lại dấu ấn trong cái tên ký dưới mỗi bản nhạc do ông sáng tác : Y Vân (nghĩa là “Yêu Vân”).

Cả chuyện cô gái chủ quán bi-da mà ông hay đến chơi, thường nhìn ông với ánh mắt “bất thường” để ông có cảm xúc viết thành ca khúc Khi em nhìn anh ông cũng kể hết với bà. Vậy, sao lại có bản “Thúy đã đi rồi”, gọi đích danh tên một người con gái với những ca từ mang tâm trạng của một kẻ đắm đuối trong bể tình :

“Thúy đã đi rồi. Những ngày băng giá không tiếng cười. Thúy đã đi rồi. Biết làm sao cho nhớ thương nguôi. Đời em về đâu ? Cho gió trăng sầu. Tìm em ở đâu ? Đường mây tìm dấu… Thúy quá vô tình. Ví dù em có hay dỗi hờn. Cũng vẫn hơn là bến tình anh lê gót cô đơn…”.

Do nhạc sĩ Y Vân đã mất (năm 1992), nên tôi đem điều này hỏi người em ruột của ông là nhạc sĩ Y Vũ. Ông tiết lộ :

– “Tôi nói rõ sự thật nhé, anh Y Vân đã viết ca khúc này thay cho tâm sự của một người bạn rất thân, đó là tài tử điện ảnh kiêm kịch sĩ Nguyễn Long (còn gọi là Long Đất). Vào đầu thập niên 60 thế kỷ trước, Nguyễn Long yêu say đắm ca sĩ Thanh Thúy nhưng cô ca sĩ tài danh này không chút mảy may động lòng. Nguyễn Long âm thầm sống trong đau khổ, cay đắng một mình. Rồi một hôm, nhạc sĩ Y Vân bắt gặp anh chàng thất tình này trong quán cà phê với bộ dạng “ngó phát chán”, Y Vân hỏi han và Long Đất đã thổ lộ mối tình sâu kín.

Thương cảm mối tình đơn phương của người bạn thân, Y Vân đã viết Thúy đã đi rồi. Bài này trở thành một trong những ca khúc nổi tiếng của dòng nhạc blue thời bấy giờ. Bài hát được khá nhiều ca sĩ trình bày, trong đó có cả ca sĩ Thanh Thúy. Hát thì cứ hát, nhưng con tim của nàng chẳng chút lay động, cho dù hằng đêm anh chàng Nguyễn Long vẫn bám theo nàng “trên từng cây số”, qua những phòng trà mà cô đến biểu diễn. Người đẹp vẫn đó, vẫn đùa vui trước đôi mắt ngây dại của gã si tình mà chẳng hề quan tâm”.

Đến đây, người viết xin được mở ngoặc để nói về tài sắc của nữ ca sĩ Thanh Thúy. Chị sinh năm 1943 tại Huế. Đi hát từ năm 16 tuổi (1959) và sở hữu một giọng hát hết sức đặc biệt: khàn đặc như có pha rượu, nghẹn ngào, nức nở với dáng dấp mảnh mai, mái tóc dài buông lơi trên đôi vai gầy… Giọng hát ấy, dáng dấp ấy như có ma lực khiến ai “lỡ nghe” rồi là say như điếu đổ… Chẳng thế mà hầu hết văn nghệ sĩ cùng thời đã “nghiện” tiếng hát mà họ ví von với rất nhiều hình ảnh: lơ lửng với khói sương, nhấp nhô cùng sóng nước, đam mê theo cung bậc, thì thầm với kẻ tình si, du dương trong tĩnh lặng, vỗ về với yêu thương.

Năm 1962, Thanh Thúy được bầu chọn là Hoa hậu Nghệ sĩ, đồng thời là “Nữ ca sĩ ăn khách nhất” suốt 3 năm liền.

Tháng 11.1961, Nguyễn Long thực hiện cuốn phim Thúy đã đi rồi, theo ca khúc của nhạc sĩ Y Vân và nhạc phim do ca sĩ Hùng Cường hát. Nữ ca sĩ Minh Hiếu đóng vai Thanh Thúy. Ngoài bộ phim này, hình ảnh Thanh Thúy còn xuất hiện trên kịch sân khấu, kịch truyền hình. Các nghệ sĩ Kim Cương, Bích Thủy, Xuân Dung… đều đã đóng vai Thanh Thúy. Thanh Thúy thật sự là một con người tài sắc nổi trội khiến cánh đàn ông hồi đó có đủ “lý do chính đáng” để mê mệt cô như một thần tượng.

Trở lại với chàng tình si Nguyễn Long – dù đã nặng tình đeo đuổi, thậm chí đã làm phim về nàng nhưng không sao lọt vào mắt xanh của nàng. Mang tâm trạng u uất, Nguyễn Long đã trải lòng qua bài thơ tự sáng tác Thôi. Bài thơ này cũng được Y Vân phổ thành tình khúc mà cho đến nay vẫn còn ghi dấu ấn trong lòng nhiều thế hệ: “Thôi, em đừng khóc nữa làm gì! Kỷ niệm sầu ân tình cũ xa xưa. Thôi em đừng khóc, em đừng khóc, đừng khóc nữa giọt lệ sầu làm sao xóa hết tâm tư… Ôi cuộc đời đầy phong ba giữa lòng người. Lệ sầu chia ly buồn tê tái. Ly rượu này đầy thương đau tấm hình hài. Thu man mác buồn, mùa thu ơi!…”.

Nguyễn Long khi ấy mới khoảng 30 tuổi, nghe nói phải hơn mười năm sau ông mới lập gia đình, còn ca sĩ Thanh Thúy đã lấy chồng trước đó (năm 1964).

Thanh Thúy cũng là “người yêu trong mộng” của rất nhiều người. Trịnh Công Sơn viết bản nhạc đầu tay Ướt mi dành tặng Thanh Thúy. Tôn Thất Lập viết Tiếng hát về khuya vì Thanh Thúy. Thi sĩ Hoàng Trúc Ly “tán” :

“Từ em tiếng hát lên trời

Tay xao dòng tóc, tay vời âm thanh

Sợi buồn chẻ xuống lòng anh

Lắng nghe da thịt tan thành hư vô”.

Họa sĩ Vũ Hối buông cọ để làm thơ : “Liêu trai tiếng hát khói sương/Nghẹn ngào nhung nhớ dòng Hương quê mình/Nghiên sầu từng nét lung linh/Giọng vàng xứ Huế ấm tình quê hương”… Nhà văn Mai Thảo gọi cô là “Tiếng hát lúc 0 giờ”, giáo sư triết học Nguyễn Văn Trung thì cho là “Tiếng hát liêu trai”, nhạc sĩ Tuấn Huy gọi là “Tiếng sầu ru khuya”…

Hà Đình Nguyên

Advertisements

Một phản hồi

  1. Tôi còn nhớ , hình như :

    Phim ” Thuý đã đi rồi ” do Hùng Cường và MAI LY đóng .
    MINH HIẾU đóng phim ” Mưa lạnh hoàng hôn ” ( cũng của Nguyễn Long ) với Mai Trường .

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: