NS VĂN PHỤNG & NG THỊ HOÀNG

NHẠC SĨ VĂN PHỤNG

Nhạc sĩ Văn Phụng tên thật là Nguyễn Văn Phụng, sinh năm 1930 tại Hà Nội, trong một gia đình có 8 người con mà ông là thứ hai. Thuở ấy, phong trào âm nhạc cải cách (tân nhạc) mới du nhập vào Việt Nam và được giới trẻ nhiệt tình hưởng ứng. Văn Phụng đặc biệt có năng khiếu về tân nhạc nên được các giáo sư dương cầm là bà Perrier và bà Vượng dìu dắt rất tận tình. 15 tuổi, ông đã nổi đình đám khi đoạt giải nhất độc tấu dương cầm với bản La Pirière d’une Viege tại Nhà hát Lớn Hà Nội, 16 tuổi ông đã thi đậu tú tài. Ngặt nỗi ông bố (vốn là thông phán) lại quá nghiêm khắc, ông cấm không cho cậu con trai đi theo phường “xướng ca vô loài” mà chỉ muốn con mình làm… bác sĩ, nhưng Văn Phụng theo học ngành y chỉ được một năm rồi bỏ học đi theo tiếng gọi của âm nhạc.

Năm 1948, Văn Phụng cho ra đời tác phẩm đầu tay Ô mê ly với tiết tấu sôi động, phấn chấn yêu đời Ô mê ly đời sống với cây đàn tình tình tang… Ô mê ly, mê ly đời ta. Ông thường cùng các bạn bè nam, nữ tụ tập đàn hát với nhau. Nếu như trong đám bạn trai, Văn Phụng như là một “chủ súy” bởi ngón đàn tài hoa thì trong đám bạn nữ vút lên một giọng hát rất đỗi “liêu trai” của Châu Hà, người thiếu nữ Hà Nội có mái tóc dài vẫn thường thả lỏng như một dòng suối.

“Trai tài, gái sắc” cứ quấn quýt bên nhau, thế nhưng ông thông phán lại rất ác cảm với nghề xướng ca vô loài nên tìm đủ cách để ly gián tình yêu của con trai mình. Biết rằng gia đình Văn Phụng không chấp nhận mình, Châu Hà phẫn uất đi lấy chồng và theo chồng vào Sài Gòn để xa hẳn một quá khứ đẹp mà… buồn.

Châu Hà đi rồi, một thời gian sau Văn Phụng cũng được bố mẹ cưới vợ. Ông chấp nhận như là để khỏa lấp những trống vắng mà Châu Hà đã để lại cho mình. Vợ ông cũng là người Hà Nội nổi tiếng “đẹp người, đẹp nết” rất được bố mẹ chồng thương quý. Đến khoảng đầu thập niên 1950, vợ chồng Văn Phụng đã có 2 người con gái. Những tưởng mọi sự đã an bài, nhưng tình xưa đâu dễ quên… Tất cả những nỗi nhớ thương đều được ông đưa vào các ca khúc của mình Tìm đâu thấy liễu xanh xanh lả lơi. Hay đi tìm dòng suối tóc trên vai. Ghi trong khóe mắt u hoài hình bóng ai. Tôi thấy em một đêm thu êm ái… Người em gái đứng im trong hồi lâu. Tôi ngập ngừng lòng muốn nói đôi câu. Xin cho suối nước non ngàn tìm đến nhau. Như chúng ta đôi đời hàn gắn thương yêu… (Suối tóc – 1954).

Rồi không ngăn được tiếng gọi của con tim, Văn Phụng vào Nam. Châu Hà lúc này đã trở thành ca sĩ chuyên hát ở đài phát thanh và các phòng trà cùng thời với những Mộc Lan, Linh Sơn, Ánh Tuyết… Văn Phụng cũng mau chóng hòa nhập vào làng ca nhạc miền Nam. Không chỉ sáng tác ca khúc, ông còn thành lập ban tam ca nam đầu tiên ở Việt Nam với Văn Phụng – Anh Ngọc – Nhật Bằng (Ban DoSiLa 1953-1954). “Tình cũ không rủ cũng tới” nhưng… không phải dễ dàng gì bởi còn đó những trói buộc gia đình, còn những lời đàm tiếu, dị nghị chung quanh. Chính những lúc buồn nản nhất, Văn Phụng đã viết Tôi đi giữa hoàng hôn (1962) với điệu slow rock :

Tôi đi giữa hoàng hôn, khi ánh chiều buông, khi nắng còn vương. Một mình tôi ngắm cánh chim lạc loài mà lòng thấy u hoài… Tôi thương nhớ ngày qua, trên bến Hoàng Hoa, trên những đường xa, thường thường hai đứa nắm tay nhau tươi cười, như thầm hẹn nhau mùa sau….

Ở Tôi đi giữa hoàng hôn không hề có sự yếm thế, bi thảm mà là một nỗi buồn lâng lâng, siêu thoát. nhẹ nhàng và trầm ấm đầy chất phương Đông : Dù cho mưa gió bên mái tranh nghèo. Dù cho nắng, dù cho sương khói mịt mờ, niềm tin yêu hằng xin mãi mãi không hề phai. Nhớ… Nhớ… Nhớ đêm nao trên bến Hoàng Hoa, hai đứa nhìn nhau, không nói một câu…

Chính tình yêu đó, cuối cùng, vượt qua mọi trở ngại, “Kim – Kiều” đã lại tái hợp, tạo nên một đôi uyên ương nổi tiếng trong làng ca nhạc Sài Gòn một thời. Văn Phụng – Châu Hà có với nhau 2 người con gái (với người vợ trước ông có 5 gái, 1 trai). Văn Phụng mất ngày 17/12/1999, để lại khoảng 60 ca khúc.

Chúng tôi đã mất đi một người bạn và Việt Nam đã mất đi một thiên tài âm nhạc Từ thập niên 50, 60, từ Hà Nội đến Saigon, nhạc Văn Phụng đã mang đến một nét mới lạ trong vườn nhạc Việt Nam. Qua các làn sóng phát thanh, các đài truyền hình, băng nhạc, các buổi trình diễn, phòng trà, dạ vũ… , các bản nhạc như Ghé bến Saigon, Suối tóc, Ô Mê ly, Trăng sáng vườn chè, Tôi đi giữa hoàng hôn, Yêu, Bức họa đồng quê.. ai nghe cũng mê thích vì nét nhạc khi vui tươi, lúc êm đềm, vài bản với hòa âm kiểu Âu Mỹ, kể cả lời ca cũng khác lạ với những bản nhạc thường nghe.

Từ năm 75 có cuộc di cư vĩ đại ra ngoại quốc, nhạc Văn Phụng lại càng được trọng dụng. Các ban nhạc có khi đổi lại nhịp điệu cho hợp thời trang : slow đổi thành pop, boston thành rumba v.v… , ai mà không thích Ái Vân ca nhạc dân tộc tính Trăng sáng vườn chè…

Tôi là bạn thân của Văn Phụng hơn 50 năm nay, nên biết rõ nhau từ thuở mới bước chân vào nghề nhạc, chưa có danh vọng tiền bạc, cùng thời với Dương Thiệu Tước, Thẩm Oánh, Phạm Duy, Phạm Nghệ, và vì thời cuộc cùng gia nhập ban Quân nhạc, ta gọi là “lính kèn”, với Nguyễn Khắc Cung, Nhật Bằng, Ðan Thọ, Vũ Thành, Hoàng Trọng v.v… Chúng tôi cùng chia xẻ vui buồn, giúp đỡ nhau trong cuộc sống về nhạc, tuy nhiên không bao giờ tâng bốc nhau trong vấn đề nghệ thuật.

Hôm nay, Văn Phụng đã đi rồi, tôi viết ở đây vài giòng cảm nghĩ của tôi với người bạn vong niên mà tôi vẫn thần cảm phục, và tôi đã gán cho anh danh hiệu “thiên tài”, không phải là không lý do, cũng như đối với vài nhạc sĩ Việt Nam khác. Hai chữ đó là chữ Hán nhưng chắc ai cũng hiểu là nói về những người đã được trời ban cho tài cán đặc biệt mà người khác không thể nào bằng trong một giới nào, nhất là về nghệ thuật. Tìm trong hàng triệu người mới thấy một Beethoven hay một Picasso.

Văn Phụng đã được trời ban cho tài, không những là một nhạc sĩ về sáng tác mà còn là một nhạc sĩ về hòa âm, trình tấu và kỹ thuật âm thanh. Quý vị nào đã chơi hay hiểu về nhạc thấy rằng chỉ giỏi trong một phương diện về nhạc không thôi cũng đã khó và phải có đủ điều kiện thiên phú, thời gian học hỏi, kinh nghiệm v.v…

Trước hết, về tài sáng tác, anh đã viết rất nhiều, bài nào thường cũng hay cả lời lẫn nhạc, nét nhạc và đầu đề thật là độc đáo nên ca sĩ nào cũng thích hát nhạc Văn Phụng. Về tài trình tấu, Văn Phụng chơi nhạc trong ban Quân nhạc Ðệ tam Quân khu, đài phát thanh và Vô tuyến truyền hình Quốc gia và Quân đội, tại phòng trà và vũ trường nhiều năm ở Hà Nội, Saigon và Hoa Kỳ, sử dụng nhiều nhạc khí.

Tôi thích nhất là tiếng kèn clarinet của anh lả lướt êm dịu như của những nhạc sĩ Âu Mỹ có tiếng về jazz và ngón chơi piano đặc biệt của anh, với những lèo láy bay bướm hay những hợp âm mới lạ, lồng theo tiếng ca, khi anh đệm nhạc cho một ca sĩ.

Sau hết, về tài kỹ thuật âm thanh, Văn Phụng rất thành thạo cả về máy móc thâu thanh và các nhạc khí điện tử. Tôi còn nhớ một lần, sau khi mua một đàn điện synthetizer, có hơn 100 tiếng đàn khác nhau, anh đã xóa hết những tiếng cũ và thay vào trong đàn những tiếng theo thứ tự anh lựa chọn, một điều không dễ mà chưa bao giờ một nhạc sĩ mua đàn, mà lại mất công tự làm lại theo ý thích của mình. Hơn nữa, anh lại lấy một số tiếng đàn tây phương thay đổi, chuyển thành tiếng đàn ta như sáo tre, đàn tranh, đàn bầu ..

Vì thế, mỗi lần mua đàn điện mới, tôi cứ việc nhờ Văn Phụng đi mua cho tôi một chiếc đàn giống đàn của anh đã có và đã nghiên cứu rồi về chỉ lại cho tôi chơi ngay, nên tôi không phải mất công đọc sách chỉ dẫn. Tôi đã học hỏi nhiều ở anh nhữõng bước đầu về kỹ thuật và máy móc để thâu thanh.

Anh đã may mắn có nhiều kinh nghiệm về dụng cụ và kỹ thuật âm thanh khi anh làm việc tại đài phát thanh và cơ quan UFO Hoa Kỳ ở Việt Nam cùng đài TV56 PTA ở Virginia .

Nhân tiện, tôi xin phép quý vị kể vài cá tính của anh mà tôi biết đã giúp anh thành công trong đời nhạc sĩ của anh. Nhiều người có thiên tài chưa chắc đã thành công, nếu không thêm vào đó những cá tính hay, đặc biệt của mình.

Thứ nhất là Văn Phụng thật sự có một tâm hồn nghệ sĩ, một điều không bao giờ anh tự nói ra. Anh thích cây cỏ, thiên nhiên… Vài năm sau khi định cư tại Mỹ, anh mua được một căn nhà nhỏ ở đường Baclick, Springfield, Virginia . Anh thích thú trồng nhiều cây khác nhau, như 150 cây hoa hồng đủ các loại và biến mảnh vườn nhỏ của anh thành một tiểu thiên đàng, để sáng dậy sớm ngắm trời xanh, nghe chim hót, ngồi uống trà… Chính anh tự sửa sang vườn lấy, chăm sóc từng cây, nghiên cứu từng loại và anh kể là có lúc anh làm vườn cả ngày trong thời kỳ không có việc. Anh cũng thường nói nếu sau này được sống trong một căn nhà biệt lập trên núi, hoặc ở bãi bể, gần rừng cây để làm nhạc thì thật tuyệt. Giấc mơ đó đã muộn mất rồi !

Văn Phụng thường nói với nhiều người là ước gì cộng đồng Việt Nam thành lập được một Club giống như Country Club của Mỹ, nghĩa là một câu lạc bộ mà ngày nghỉ, gia đình, con cái, bạn bè đến tập họp ăn uống, vui chơi đủ môn giải trí, thể thao . Hơn nữa, câu lạc bộ còn có một sân khấu lớn đầy đủ âm thanh, đèn màu để tổ chức thường xuyên nhạc hội ca vũ nhạc Việt Nam, các đoàn ở xa đến đã có sẵn nơi trình diễn. Về cưới hỏi, câu lạc bộ có thể đảm nhiệm để lấy tiền. Các hội viên là những quý vị yêu nghệ thuật, sẽ đóng góp vài trăm một tháng, nếu cần Văn Phụng sẽ tình nguyện làm manager trông nom. Mỗi lần thấy Văn Phụng nói chuyện đó, tôi và Nhật Bằng thường cười với nhau, vì ước vọng của anh quá lớn, khó có thể thực hiện được.

Cá tính thứ hai của Văn Phụng là sự bền chí để đi đến tuyệt hảọ Anh tự thâu thanh lấy một nhạc phẩm của anh viết , soạn hòa âm và phối khí trên thị trường. Bức tranh lớn, (1.20m x 0.80m) có khi đến 5, 7 lần mà vẫn không nản, thú thật tôi thâu đến 2, 3 lần là phải nghỉ rồi . Anh chơi nhạc tại vũ trường từ xưa nên quen thức đêm, thường đến 1, 2 giờ sáng. Mỗi lần mua một đàn điện, anh thức đêm có khi mấy tháng để nghiên cứu cây đàn mới .

Cá tính thứ ba của Văn Phụng là sự cẩn thận rất mực. Ở nhà anh, bất cứ chỗ nào, nơi làm việc, kể cả trong nhà tắm, nơi nào cũng đầy những mảnh giấy nhỏ ghi bằng mực đậm những điều phải làm, có khi những ý nghĩ riêng của anh nữa. Anh rất có trách nhiệm khi đi trình diễn, bao giờ cũng có mặt trước 2 tiếng đồng hồ.

Một lần tôi đi chơi nhạc đám cưới với anh tại nhà hàng China Garden, bắt đầu lúc 7 giờ, thế mà Văn Phụng đã rủ tôi đi từ lúc 3 giờ chiều để sửa soạn đàn và thử âm thanh. Anh nói sớm còn hơn muộn, ở nhà thêm ít phút có hơn gì đâu. Việc gì cũng có thể xảy ra được, lỡ đi đường gặp tai nạn thì làm sao kịp giờ. Anh không thích ai đến nói chuyện trong khi anh chơi nhạc hay để ly nước trên mặt đàn dương cầm của anh. Trong phòng nhạc, anh tự đóng lấy nhiều kệ bằng gỗ rất đẹp, chạy chung quanh tường, để xếp đàn, sách nhạc, dàn âm thanh v.v…

Vài kỷ niệm và đức tính của Văn Phụng kể trên đây có thể là những điểm son của một người bạn tài hoa, vui tính, đáng mến mới vĩnh biệt chúng tôi và Việt Nam cũng mất đi một thiên tài âm nhạc.

Huỳnh Văn Yên (Trích Nguyễn Túc – Arlington)

VIẾT VỀ

NGƯỜI MỘT THỜI

thụyvi

Vừa nhận được tấm hình mới nhất của nữ văn sĩ do một người bạn từ Saigon gửi qua khiến tôi nảy ra ý định viết về những người đàn bà nổi danh một thời.

Viết về người khác không phải là một việc khó, nhưng viết mà lột trần một vài bí ẩn của họ thì có vẻ tàn nhẫn quá chăng ? Vì thế khi viết về họ, tôi cố gắng viết phớt qua những sự kiện trung thực, một vài nếp sinh hoạt nổi bật, hoặc qua lời người trong cuộc kể lại, hoặc từ những bài viết khả tín.

Tấm hình tôi vừa nhận được là tấm hình bà Nguyễn Thị Hoàng chụp mấy năm gần đây. Lâu rồi không gặp, giờ nhìn lại thấy cung cách bà vẫn như ngày xưa, là thứ dáng dấp trưởng giả cấp tiến của Paris ít người bắt chước cho giống. Bà Nguyễn Thị Hoàng tuy không đẹp, nhưng khi xuất hiện bao giờ cũng tạo cho mình một nét riêng với lối chụp hình huyền ảo, huyễn hoặc.

Trong hình bà Hoàng đội chiếc nón rộng vành màu đen che khuất một góc mũi gãy trên khuôn mặt nhỏ nhắn với đôi mắt tô mí thật đậm nhưng cố tình khép hờ để che giấu nét già nua mỏi mệt cùng với nụ cười mõng tinh quái trong chiếc áo len mềm màu lá úa ôm sát thân hình gầy dẹp nhưng mềm mại.

Trái với bà Linh Bảo và bà Nguyễn Thị Vinh được miệng lưỡi kẻ ái mộ văn chương dệt biết bao huyền thoại đẹp mê hồn từ lúc tác phẩm đầu tiên trình làng thì bà Nguyễn Thị Hoàng gặp biết bao điều tai tiếng.

Trước khi những trang Vòng Tay Học Trò dậy sóng trên Bách Khoa vào khoảng năm 1960 – 62 thì trước đó bà Nguyễn Thị Hoàng được nhiều người biết tới trong một scandale sôi nổi tại thành phố Nha Trang.

Những năm theo học tại trường Võ Tánh bà Nguyễn Thị Hoàng dan díu và có thai với ông Cung Giũ Nguyên, thầy dạy Pháp Văn, hơn bà gần ba mươi tuổi.

Theo anh K. một người hàng xóm với bà Nguyễn Thị Hoàng trên đường Hùng Vương thành phố Nha Trang kể lại vụ án đầy tai tiếng này được dàn xếp êm thấm ngoài sự giao hảo của những người lớn liên hệ chức quyền giữa những người như ông Chánh án Nguyễn Hữu Thứ cựu giáo sư Khải Định (Quốc Học, Huế) với ông Nguyễn Văn Hoằng thân sinh của bà Hoàng đang là Trưởng Ty Học Chánh cùng với ông Cung Giũ Nguyên đang giữ chức Hiệu Trưởng Trung học bán công Lê Qúy Đôn kiêm giáo sư dạy Pháp Văn trường Võ Tánh tại tỉnh Nha Trang mà còn vì câu thú nhận can đảm của bà Nguyễn Thị Hoàng : “Ông Cung Giũ Nguyên không có lỗi trong vụ này. Lỗi là do tôi dụ dỗ ông ta khi theo học thêm lớp Pháp Văn tại nhà, vì tôi muốn có một đứa con thông minh xuất chúng như ông ấy !”.

Đứa con gái với ông Cung Giũ Nguyên sinh ra được bà Nguyễn Thị Hoàng đặt tên Cung Giũ Nguyên Hoàng và giao cho bà vợ chính thức của ông Nguyên nuôi dưỡng vì bà Nguyên không thể có con.

Trong những ngày tang lễ của ông Cung Giũ Nguyên vào tháng 11 năm 2008 người ta thấy cô con gái Cung Giũ Nguyên Hoàng phục tang ôm bát nhang đi trước linh vị của ông.

Theo như ông Hồ Trường An trong cuốn Giai Thoại Hồng, bà Nguyễn Thị Hoàng sau đó lên Đà Lạt để dạy học, bà lại dan díu với một anh học trò tên Mai Tiến Thành. Khi cả hai cùng về Saigon, cuộc tình lại tiếp tục. Bà Nguyễn Thị Hoàng lại có thai, sinh một gái nữa đặt tên là Mai Quỳnh Chi, giao cho mẹ của Thành nuôi. Đứa con này, không bao giờ bà Hoàng đặt chân tới thăm (GTH trang 272 ). Đây chính là mối tình bà Hoàng đã dựng nên cuốn Vòng Tay Học Trò.

Mặc dù anh học trò Mai Tiến Thành là nhân vật có thật đã được gặp ông Hồ Trường An và một số nhà văn. Được ông An đưa đến  thăm bà Nguyễn Thị Hoàng lúc bà Hoàng đang sống với ông Bửu Sum, nhưng mới đây, trong một bài phỏng vấn trong nước, bà Nguyễn Thị Hoàng tâm sự : “…Truyện mình viết thường là truyện tình bế tắc và đi xuống. Trong đó những vai nữ bao giờ cũng khát khao đi tìm một đời sống thật của mình, nghĩa là tìm kiếm chính mình. Những nhân vật nữ lang thang bất định, và xa rời với phận sự gia đình. Chất liệu lấy từ những năm bất ổn lênh đênh trong cuộc đời đã qua của mình, đôi khi được ráp nối với những câu chuyện thời sự, cộng với một phần tưởng tượng, phóng tác, vẽ vời…rồi ráp thành chuyện. Không biết bên đàn ông thì sao, chứ cánh đàn bà thường mắc phải cái này là có những nét của nhân vật hoặc chính, hoặc phụ, thế nào cũng hắt bóng cá tính thói quen, đường nét và vóc dáng của tác giả. Riêng về Vòng Tay Học Trò, nếu bảo đó là thực thì cũng không hẳn là thực mà bảo là không thực thì… cũng chẳng phải là thế. Dư luận trộn lẫn tiểu thuyết của mình với đời sống thật. Cũng vì thế mà có những tiếng ác ý lao xao về đời sống của mình. Cho nên chỉ có cách là…phải thản nhiên. (ngưng trích).

Có lẽ trong số những nữ văn sĩ nỗi tiếng ngày xưa, cuộc đời và tình cảm của bà Nguyễn Thị Hoàng truân chuyên nhất bởi bà không thoả mãn những khát khao. Bởi lối sống lúc nào cũng nghi vệ màu mè mặc dù thực tế vào năm 1970 bà phải bỏ Saigon về sống trong ngôi nhà nhỏ tại miền quê Long Xuyên mà bà đặt tên thật thơ mộng “Trại Đá Mềm” để trốn nợ !

Hãy nghe bà than thở : “..Từ năm 1966 đến 1969, mình viết liên tục theo những “đơn đặt hàng”. Trong thời gian này mình viết rất nhanh, có khi viết hai, ba truyện cùng một lúc… rồi thì lại buồn chán, mệt mỏi, kiệt sức và mất hoàn toàn tinh thần làm việc vì trong suốt những năm dài liên tục mình chỉ sống với bổn phận làm vợ, làm mẹ và gánh vác kinh tế gia đình. Cái nguồn sống riêng phải nín lại, bị khô héo đi. Sau một chuyền đi xa vào năm 1970 mình lấy lại được hứng khởi và phần không nhỏ cũng vì năm đứa con, một đòi hỏi lớn về kinh tế gia đình nên phải tiếp tục viết… Do đó mà chưa có quyển nào coi như được viết từ tim óc của mình. Những cuốn đã xuất bản : Về Trong Sương Mù, Một Ngày Rồi Thôi, Vực Nước Mắt, Cho Ðến Khi Chiều Xuống, Tuần Trăng Mật Màu Xanh, Cuộc Tình Trong Ngục Thất vv…” (ngưng trích).

Cũng theo ông Hồ Trường An. Bà Nguyễn thị Hoàng mặc dù viết như gió táp mưa sa, không thèm đọc lại những gì mình đã viết; ngoài bút của chị như cuồng lưu, như ngựa phi đường xa, lướt phom phom, không có gì ngăn cản nổi. Vậy mà bà Nguyễn Thị Hoàng vẫn có thì giờ chăm sóc năm đứa con, dọn dẹp nhà cửa, đảm đang việc bếp núc. Ông Nguyễn Phúc Bửu Sum, chồng bà  Hoàng (có họ hàng cô cậu với họa sĩ Nghiêu Đề) hết vụ trốn lính tới vụ đào ngũ, rồi bị bắt, rồi đào ngũ, không làm ăn gì được.

Chúng ta thử đọc quyển “Chuyện Tình Trong Ngục Thất” sẽ rõ một đoạn đời cũ của bà Hoàng. Bà giúp chồng đào ngũ khi ông Bửu Sum bị đưa đi tác chiến ngoài Quảng Ngãi. Đây là cuốn sách được nhiều văn hữu ưa thích nhất, không phải vì họ có óc phản chiến, mà vì nó diễn tả trung thực tâm tình và cảm nghĩ của tác giả nhất, chân thành và sống thực nhất, và có ít có tính chất tiểu thuyết hơn các cuốn khác, trừ “Vòng Tay Học Trò”. (GTH trang 278 & 279 ).

Sau năm 1975 trong màn tự phê tự kiểm trong khoá Bồi Dưỡng Chính Trị, bà Nguyễn Thị Hoàng nói trơn như mỡ, như rau muống lặt. Đại khái : “Bọn văn nghệ miền Nam chúng tôi bị tên đầu sỏ đế quốc và chế độ hư hỏng thối nát đầu độc. Chúng tôi là kẻ bịnh hoạn, viết những tác phẩm bịnh hoạn. Xin “cách mạng” giúp đỡ chúng tôi, dìu dắt những kẻ bịnh hoạn, tật nguyền là chúng tôi trên con đường sáng tác…

Rồi bà hướng về chúng tôi, những kẻ cầm bút phe bại trận, giọng van vỉ thật ai oán :

– Xin các anh cùng tôi, trước giờ phút sống chết này nói lên một lời gì đi.

Phe bại trận im lặng, mặt mày lạnh tanh. Còn phe thắng tức phe cán bộ văn hoá tổ chức khoá học tập, trong đó có nhà văn Vũ Hạnh thì mặt mày lầm lì, nặng nề như cái cối đá. Sự kêu ca van nài đã đẩy bà Nguyễn Thị Hoàng vượt qua khỏi cái lằn mức liêm sỉ cuối cùng. Thế là Vũ Hạnh cùng Sáu Lăng xúm lại hạch sách, sỉ vả bà, nêu hết cái tính chất đồi trụy tinh thần trong tác phẩm “Vòng Tay Học Trò”, bốc trần những tư tưởng ngoại lai trong các tác phẩm khác của chị. (GTH trang 280)

Từ đó một phần do chế độ kiểm duyệt nên không thấy bà viết gì. Mặc dù dư luận về sự trục trặc tan vỡ giữa bà với ông Bửu Sum. Vấn đề thêm nhiều mối tình lê thê của bà với người này người nọ vẫn được nhiều người râm ran bàn tán, chứng tỏ với tuổi “thất thập” số phận bà vẫn chưa chịu yên lành.

thụyvi (Hầm Nắng, 29/11/2011)

Advertisements

Một phản hồi

  1. Nhắn bà Nguyễn Thị Hoàng, tác giả “Vòng tay học trò”, về trả gấp số nợ hai cây vàng vay ngày 18 tháng 5 năm 1997. Kính nhờ các chị Thiên Kim, Thiên Hà, Thiên Nga, Thiên Phụng nhắc giùm mẹ. Xin trân trọng cảm ơn
    Ngọc Châu, ĐT: 0937 955 520

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: