Nói tiếp về Thi Sĩ BÙI GIÁNG

NHỮNG MẨU CHUYỆN

VỀ BÙI GIÁNG

– Nguyễn Thùy

(Xin xem thêm bài Bùi Giáng – điên hay tỉnh ?” trên trang này, ngày 21/10/2010. Để xem chọn phần BÀI VIẾT HAY LỊCH : năm 2010 – Tháng 10 – Ngày 21 và bấm chuột vào đây)

Ai đã gần Bùi Giáng ít lâu cũng đều có thể ghi lại đôi sư việc khác thường dần dần được xem như là ‘giai thoại’ trong cuộc sống của ông..

Bùi Giáng và tôi quen thân nhau trước tiên do cùng đồng hương xứ Quảng, tiếp theo do thời gian thuê nhà ờ sát bên nhau vào những năm 1960-1962 tại một hẻm đường Trương Tấn Bửu (nay tên đường là Trần Huy Liệu – Phú Nhuận), sau nầy Bùi Giáng thường đến nhà tôi ở chung cư Minh Mạng đường Sư Vạn Hạnh, đi đi về về có lúc gần cả hai ba tháng. Có nhiều sự việc lạ kỳ nơi anh nhưng tôi không nhớ hết, chỉ xin kể đôi việc do chính tôi chứng kiến.

Những người nữ Việt Nam mà anh hay nhắc đến là : Ni cô Trí Hải, Nam Phương Hoàng Hậu và Kim Cương (thỉnh thoảng có Hà Thanh và Thu Trang). Với Nam Phương Hoàng Hậu, anh không có lời nào bông đùa, vô lễ, có lẽ anh quí trọng nét phúc đức hiền hậu, nét thiên hương quốc sắc mà cũng có thể do anh nhớ lời Jésus qua câu nói bí hiểm : ”Trong cuộc xét đoán Nữ vương Nam Phương sẽ đứng lên với dòng dõi nầy mà định tội nó…” (Ma :12-42). Thử nghe một đoạn anh nói về Hoàng Hậu Nam Phương: «…Nhưng tại sao từ Cổ chí Kim, chỉ riêng nhịp bước khoan thai của Nam Phương Hoàng Hậu là nhu mì, kiều diễm mà thôi ? Thậm chí đôi phen Nam Phương Hoàng Hậu vội vàng chạy cuống cuồng hấp tấp, thiên hạ nhìn vào vẫn cứ thấy là rất mực kiều diễm du dương ? Thế thì ? Nếu như Quốc Sắc Thiên Hương có riêng thể lệ ẩn mật của thiên tài thiên hương quốc sắc thì Thiên Tài Thi Nhiên kinh thiên động địa há chăng chẳng thể nào có riêng thể lệ thiên tài của nó dựng lập lên từ bờm xờm ngổn ngang gò đống dâu biển hay sao ?».

Với Ni Cô Trí Hải, thường anh gọi là Mẫu thân và cũng không lời nào xúc phạm vì là một nữ tu và anh xem như là hình ảnh một nhân vật võ hiệp trong tiều thuyết ‘Tiếu ngạo giang hồ’ cùa Kim Dung (hình như là Ni cô Nghi Lâm, thì phải).

Riêng với Kim Cương, anh thường gọi là mẫu thân, kỳ nữ, tiên nương, nương tử và hay đùa cợt. Một lần tôi theo anh đi ngang qua nhà Kim Cương nơi đường Trương Minh Ký, anh đi qua đi lại và la lớn : «Cô Kim Cương có mấy cái… Cô Kim Cương có ba cái… ; ». (xin lỗi cô Kim Cương, có thể Cô quên sự việc này, nhưng tôi thì nhớ). Kim Cương trong nhà bỗng mở cửa gọi lớn : «Anh Giáng, anh lại đây..». Anh đang do dự, Kim Cương lại gọi : «Anh đến đây, Kim nói điều nầy cho nghe..». Anh vừa bước đến, Kim lôi cả anh và tôi vào nhà rồi năn nỉ : «Anh Giáng, Kim van anh, anh đừng nói thế nữa. Anh cứ oang oang như thế, bọn trẻ thấy Kim nơi đâu cũng réo như vậy, Kim chịu sao nổi..». Anh xin lỗi, hứa không nói nữa, rồi uống xong hai chén trà, lại ra đi, Kim Cương giữ lại ăn tối, nhất định không chịu.

Có lẽ chỉ với Kim Cương, Bùi Giáng mới thương mến nhất, gần gụi nhất để rồi bông đùa nhiều lúc sàm sỡ. Kim Cương không hề giận anh mà luôn tỏ ra quí mến anh. Thấy anh nhiều cảm tình và thương mến Kim Cương, một hôm tôi đề nghị : “Cô Kim, hay là cô lấy anh Giáng làm chồng đi. Biết đâu Cô sẽ giúp anh ta bớt khùng và sẽ viết lách đường hoàng, chĩnh chạc, dễ hiểu hơn”. Kim Cương bảo : ’Không chịu nổi ảnh đâu, anh Thùy ơi ! Ảnh sống kỳ cục lắm. Với lại, ảnh có yêu Kim đâu. Ảnh chỉ thương mến thôi. Anh xem, ảnh chỉ ngồi nói chuyện nhiều lắm là 5, 10 phút rồi lại chạy ra đường múa may một hồi rồi mới trở lại rồi lại tiếp tục như thế. Anh ta không bao giờ ngồi với Kim hay với cô gái nào được lâu đâu. Kim cũng muốn giúp anh Giáng nhiều thứ nhưng ảnh có nhận đâu. Ảnh vẫn chứng nào tật nấy, thích đi lông bông, nhảy múa ngoài đường, la hét, chọc lũ nhỏ,..».

Tôi không rõ, anh để ý Kim Cương có do từ Cô là người nghệ sĩ chịu đựng được thói bông đùa dai dẳng và nhìn anh với con mắt có khác với bao người. Có thể nói Bùi Giáng dành cho Kim Cương nhiều cảm tình nhất và Kim Cương đối với anh cũng thế. Ðiều Kim Cương nói có thể đúng, Giáng chỉ thương người chứ không yêu ai cả, theo nghĩa mối tình nam nữ. (Kim Cương, lúc nói chuyện, chỉ xưng là Kim không thôi. Tôi và Kim Cương cũng có nhiều chuyện có thể được xem là ‘giai thoại’. Kim Cương là bạn thân của vợ tôi (vợ tôi tên Hạnh).

Dù sao, suốt cuộc sống tình cảm của Kim Cương, qua bao trắc trở đau thương về tình ái (như Kim có kể tôi nghe những lần cô chui vào đống rác nơi đường Nguyễn Huỳnh Đức hay tại bờ sông bến Bạch Đằng) hoặc vui mừng được một nhà thơ tài hoa Bùi Giáng dành cho rât nhiều kính yêu, đã đem tên cô vào thơ của mình và cô cũng đã đáp lại bằng những tình cảm chân thật, thương mến vô ngần. Cuộc tình – nếu có thể gọi như thế – giữa một tài hoa thơ văn, một ‘đười ươi thi sĩ’ với một ‘kỳ nữ’ (nguời ta hay gọi Kim như thế, đối lại với ‘quái kiệt’ Trần Văn Trạch) quả cũng là một ‘giai thoại văn chương’ thú vị.

Ngày anh Giáng và vợ chồng tôi thuê nhà ở sát cạnh nhau, anh còn ‘chĩnh chạc’ lắm, đi dạy ở các trường Tân Thịnh, Tân Thanh (do Phan Thuyết và Phan Út, người Quảng Nam, có bà con xa gần với anh, làm Hiệu trưởng), anh nuôi cô em đi học. Lúc nầy, anh viết khảo luận văn học, vẽ tranh và làm thơ. Tranh anh vẽ, chẳng ai hiểu gì, chẳng thuộc một trường phái nào cả, nội dung, theo anh là minh họa các huyền thoại, thần thoại Hy Lạp. Thơ anh lúc nầy chưa ‘kỳ cục’ như sau nầy. Anh thường kéo tôi theo anh vào những lùm cây đường Nguyễn Huỳnh Ðức, ngồi hết gốc cây nầy đến gốc cây khác và anh làm thơ dù nhiều lúc trời tối mịt, anh vẫn cứ viết trên một cuốn tập nhỏ. Một lần kiến cắn anh, anh phủi tùm lum cả người, rồi la lên : ‘Kiến cắn thơ tao’. Một buổi chiều, Nguyễn Ðức Quỳnh đến chơi, vợ tôi mời anh qua ăn cơm. Tôi phải đi dạy tối , lúc về, vợ tôi thuật lại là anh và Nguyễn Ðức Quỳnh cãi nhau thế nào đó, anh quơ tay hất hết cả thức ăn, chén dĩa xuống đất.

Hầu như, từ lâu, anh không mấy thiện cảm với các nhà Học giả, các Giáo sư Ðại học, các nhà phê bình. Trong ‘Con đường Ngã Ba’ (An Tiêm xuất bản, Saigon 1972), Bùi Giáng cho đấy là «những ‘đạo thính đồ thuyết’ (nghe ngoài đường và nói ngoài đường) là hoạt tinh thể của con người mạt hậu. Nó thông minh một cách thô thiển, nó vểnh tai ở ngoài đường và bi bô ăn nói ở ngoài đường để tàn phá mọi ngã ba đường của bước chân đi từ nội tâm nội mật. Nguyễn Bách Khoa là lãnh tụ bọn chúng. Phó lãnh tụ là Ðặng Thái Mai. Tổng Thư Ký là Vũ Ngọc Phan». Cũng thế, Bùi Giáng công kích Jean Wahl, giáo sư Ðại học Sorbonne, Jean Paul Sartre khi nhà văn, nhà triết nầy viết ‘Giảng luận về ‘Kẻ xa lạ’ (explication de l’Étranger) của Albert Camus, công kích Giáo sư Trần Thái Ðỉnh, học giả Phùng Hưũ Lan, Thiền sư Daisets Teltars Suzuki,… Với một số người VN, anh không phẩm bình gì, chẳng nói gì về các nhân vật chính trị Miền Nam cũng như Miền Bắc. Có lần, tôi hỏi anh về Phạm Công Thiện, về Sư Nhất Hạnh, anh chỉ trả lời thoáng qua, đại để : “Giỏi, thông minh, và… cũng .. mưu đồ”.

Cái ‘điên’ của Bùi Giáng thật khó lòng phân tích. Đọc hết các tập thơ, các sách anh viết, nhất là các tập ‘TưTưởng Hiện Đại’ rồi kết hợp với lối sống kỳ cục của anh, tôi có nhìn ra lý do khiến anh ‘điên’ nhưng xin không nói nơi đây vì thực ra, tôi cũng chưa quả quyết là đúng. Điều rõ ràng nơi anh là tấm lòng thương người của anh, nhất là lớp người già và trẻ nhỏ. Anh là người rất ‘căm thù’ bạo lực, căm thù thói giả hình, man trá, lật lường của những kẻ ‘trí thức’ hương nguyện, trưởng giả. Tôi có cảm tưởng “Anh là một Bồ Tát thị hiện giữa ‘mạt thế ma cung’ nhưng là một ‘Bồ Tát bị đọa’ vì chưa đoạn diệt ̀ được bốn tướng ‘Ngã tướng, Nhân tướng, Chúng sanh tướng, Thọ giả tướng’’.

Không dễ gì hiểu thơ và các sách của Bùi Giáng. Nơi anh tư tưởng Phật, Chúa, Khổng, Lão, Nguyễn Du, Heidegger, Nietzche cùng của các nhà văn, nhà triết : St Exupéry, André Gide, Gérard de Nerval, René Char, Albert Camus, Simone Weil, Wall Whitman… cả thơ Huy Cận thuờng đi chung với nhau.

Anh rất yêu nước, yêu người nhưng hình như anh chưa tìm ra cách thế nào diễn giải thật rõ ràng. Có thể trích đoạn anh viết bằng Pháp ngữ trong ‘Lettre à René Char’ nơi tập Dialogue của Phật Giáo VN Thống Nhất năm 1965 để thấy được điều nầy : ‘Pour nous, la Grèce antique, la Chine ancienne,… c’est-à-dire le VietNam de toujours, lieu essentiel du dévoilement de l’être à travers le sommeil éthéré de la terre’ (tôi xin tạm dịch sang tiếng Việt : ‘Với chúng tôi, Hy Lạp cổ, Trung Hoa xưa,.. nghĩa là xứ VN miên viễn, nơi thiết yếu cho Đạo Thể mở phơi, thị hiện qua giấc ngủ mộng mị khinh thanh của địa cầu’. Theo anh cho biết, nhà thơ Pháp có trả lời và tôi chỉ nhớ loang thoáng có đoạn là ‘L’horloge du VN sonne le Calvaire’ (Đồng hồ VN đang điểm giờ lên đỉnh Calvaire). Có lẽ, René Char mượn cái Chết của Chúa Jésus trên Thập Tự giá để ba ngày sau ‘sống lại’, báo biểu cho Bùi Giáng đừng bi quan vì ‘VN sẽ phải trải qua cái thảm họa vô cùng và sẽ ‘sống lại’, sẽ ‘hồi sinh sau cơn thảm họa tuyệt trù’.

Theo Bùi Giáng, thảm họa của đất nước và dân tộc VN nằm chung trong cái ‘thế dạ nhân hoàn’ (l’obcurcissement du monde) mà M. Heidegger thường nói. Người đương thời khó hiểu được ‘cơn điên’ và lối sống kỳ cục của anh. Các Văn Nghệ sĩ Miền Nam lúc bấy giờ không hiểu được và cũng ít chịu khó tìm hiểu nên xem anh là một ‘hiện tượng’ và không mấy thiện cảm với thơ văn của anh. Chỉ sau khi anh qua đời, người ta mới nhận ra ít nhiều và viết khá nhiều về anh. Hầu như anh cố đi tìm những ẩn ngữ nào đó trong lời Chúa, lời Phật. Bài thơ ‘Tứ Tuyệt bát cú’ sau đây nói lên những khó khăn, lúng túng của anh khi đi vào những ẩn ngữ đó (bài thơ tôi không nhớ nhan đề) :

Người nằm đó tự nghìn thu thấp thoáng (Người là đức Phật)

Tôi bước qua từ ngữ rụng hai lần

Tờ sa mạc như bồi phong tẩy địa

Trút linh hồn từng như thể nhu thân.

Anh từng nói với tôi là ông Chúa là kẻ ‘chịu chơi’ nhất thế gian. Ông ‘thí mạng cùi’ đi vào hiểm họa thế gian để thế gian nầy ‘sống lại’ nhưng thế gian vẫn chưa chịu sống lại. Lúc bấy giờ, tôi chẳng biết gì về Kinh Thánh Ki-Tô giáo cùng Kinh điển Phật giáo nên chỉ biết nghe anh nói thôi.

Đọc thơ Bùi Giáng, nhất là những bài thơ ‘tếu’, thơ ‘ngông’, thơ ‘đùa’, thơ ‘giỡn’, ta buồn cười nhưng trong đó vẫn ẩn chứa một ‘tình thương vô hạn’ đối với những điều tầm thường, những lớp nguời hẩm hiu trong xã hội. Ngày tôi qua Úc (năm 2006), gặp cô bác sĩ Lâm Kim Loan tại nhà người bạn, ông Trần Thiện Hiếu vốn là nhà thơ có hạng (tôi đã viết bài nhận định về thơ ông bạn nầy). Cô bác sĩ Loan có viết sau tấm ảnh tặng tôi, hai câu : “Nhớ ai bởi cái ‘lạ lùng’, Thương ai ở chỗ ‘không cùng’ người ta’’, ông bạn Trần Thiện Hiếu nói câu trên của Cô bác sĩ do ông đã đọc cho cô nghe từ hai câu của Bùi Giáng : “Yêu em yêu quá chừng chừng. Bởi em có cái lạ lùng bên trong’’ (tôi chưa đọc được hai câu thơ nầy nơi tập thơ nào của Bùi Giáng). Bác sĩ Lâm Kim Loan làm thơ ít thôi nhưng thơ khá hay, khá sâu sắc. Cô cũng viết đôi truyện ngắn, đôi ‘tạp văn’ cũng khá hấp dẫn, lúc nào cũng đầy ắp yêu thương, yêu thương người, yêu thương vạn vật.

Ngày tôi về ở Chung cư Minh Mạng, anh thường đến tôi, có lúc ở liền hai tháng, ban ngày ‘thiền hành’ với bộ quần áo ‘cái bang’, đêm về lăn kềnh ra sàn xi măng ngủ hoặc đọc thơ, nói oang oang những gì khiến người các nhà kế bên không ngủ được. Một lần, anh xách về một con mèo chết, cẩn thận treo nơi sợi giây thép phía sau nhà, tôi dùng để phơi áo quần. Hai ba ngày sau, mùi hôi thối không chịu nổi, tôi năn nỉ mấy, anh cũng không chịu xách quăng đi. Cuối cùng hàng xóm la ó quá, tôi nhân lúc anh đi vắng, xách ném vào đống rác; lúc anh về biết rõ sự việc, chỉ lắc đầu nhưng rồi lại bảo : “chú mày làm được lắm”.

Sau 1975, anh không còn làm thơ cũng như không viết lách gì; thường ngồi nơi chân cầu thang chung cư tôi ở, anh có làm ít câu nhưng rồi không tiếp tục và thường trùng với những câu trong các tác phẩm trước. Anh đi vào cuộc điên nhiều hơn. Những lần ‘được điên’, anh vui lắm như được sống trong một thế giới nào khác thường, thật hạnh phúc. Những lần không đi được vào cuộc điên, anh dã dượi, tê liệt, nằm suốt cả mấy ngày hay hằng tuần liên tiếp như một lần ở Chùa Long Vân Gò Vấp; mấy thầy trong Chùa và tôi đến lay anh dậy ăn cơm, anh đều nằm lỳ, bất động. Lúc đó, đọc thơ hay nói chuyện tư tưởng nào Phật, Chúa, Heidegger, Nietzche, Nguyễn Du… anh đều khoát tay không nghe và không cho nói.

Lúc vào cơn điên, anh chạy nhảy, múa may, chọc ghẹo đủ mọi hạng người từ trẻ con đến ông già, các bà bán hàng, các cô bán thuốc lá. Tôi khổ nhất là phải theo anh, nghe anh ‘chửi bới lung tung, mượn tôi làm đòn kê để chửi thiên hạ, rồi nói tục hết sức tục, bắt tôi phải cúi lạy các cô bán thuốc lá lẻ, bảo đấy là thánh nữ, tiên nương, là Quán Thế Âm Bồ Tát… Anh cứ bảo tôi là bỏ dạy, bỏ hết mọi thứ, theo anh, điên như anh mới thấy vui, mới cứu được đời. Phải nói rằng anh ‘làm khổ’ tôi rất nhiều nhưng không hiểu sao, cứ có anh là tôi lại thấy vui ra, một cái vui không thể phân tích được, một cái vui kín nhiệm, bàng bạc lạ kỳ; vì thế mà tôi chịu khó với anh. Có tôi đi bên anh, anh càng dễ điên hơn, vui hơn và thấy yên ổn hơn. Anh bảo rằng tôi là thầy giáo, hiền lành nên nếu có ai ‘trận thượng’ với anh, tôi can thiệp, người ta sẽ bỏ qua.

Nhiều khi, có một cô gái nào đó, mến anh, đi theo anh ‘thiền hành’ dọc đường, anh thấy vui và yên tâm lắm. Cô bồ tôi là HHTV, sinh viên Ðại học Sư phạm ban Anh Văn thường theo anh và uống cà phê với anh, quàng vai anh trông giống như một nhân tình, anh thấy vui và thú vị lắm. Năm 1976, lúc cô phải tiếp tục năm học sau cùng, anh thường đến Ðại học Vạn Hạnh, đứng dưới réo to lên : Cô Thanh Vân ơi ! Bồ Tát Thanh Vân ơi ! Xuống đây, đưa tôi đi uống cà phê, học làm gì nữa, bọn dốt đó biết gì mà dạy cô. Cô phải dạy chúng nó chứ,..”.

Một buổi tối, tôi đi vắng, ở nhà, anh đưa mấy bài thơ tiếng Anh cho cô dịch, anh khen cô thông minh, rồi bảo cô hãy đặt chân lên đầu anh. Cô không dám, anh liền nâng chân cô đặt lên đầu mình rồi lảm nhảm những gì đó. Sau nầy, vào các năm 1982, 1983, cô Đ.N.L.H., một giáo viên cấp 3, hình như là cháu bà Tôn Nữ Hỷ Khương cùng một cô nữa (tôi quên tên) hình như là cháu của nhà văn Cung Giữ Nguyên (theo cô bảo) bỗng xách đồ đạc đến ở nhà tôi, một tháng sau cô nầy bỏ đi, cô Hà còn ở lại những mấy tháng nữa. Bùi Giáng đến, hai cô hoảng quá, nhưng sau đấy, thấy Bùi Giáng «đường hoàng» nên lại cảm mến. Cô Hà lại chịu khó theo anh ‘thiền hành’ qua các ngã đường’, vào quán cà phê, quàng tay, ôm Bùi Giáng khiến mọi người rất ngạc nhiên. Trong thời gian, cô Hà ở nhà tôi, nhà họa kiêm điêu khắc Phạm Văn Hạng cũng thường đến gặp Bùi Giáng. Có cả Giáo sư Nguyễn Văn Trung đến, nghe cô Hà ngâm thơ nhưng ông Trung không gặp Bùi Giáng. Lại có cả nhà thơ Trần Ðới và sau nầy thêm nhà thơ Lê Nhược Thủy. Có một cô gái trẻ mà anh không biết, không quen, theo anh suốt một tuần trong các cuộc điên của anh, anh thấy lạ, hỏi tôi : “Có phải chúng nó cho cô ta theo dõi tao không ?’.

Còn nhớ trước 1975, Bùi Giáng quen với Huệ Nhật giúp việc cho Hội ‘Ðất Lành’ (Terre des hommes) của Ðức. Một bà Tiến sĩ người Ðức thuộc cơ sở nầy đến ở ngay nơi nhà Huệ Nhật nơi dưới phía cầu Tân Thuận. Bùi Giáng rủ tôi cùng đến nhà Huệ Nhật gặp bà đó. Nghĩ rằng Bà nầy chắc biết nhiều về Triết, về tư tưởng, Bùi Giáng nói huyên thiêng về thơ văn, về Nietzche, về Heidegger, về Holderlin,…Nhưng Bà ta nào có biết gì về tư tưởng, lại thêm giọng Ðức, giọng Anh của Bùi Giáng chẳng ‘ra hồn’ gì mà Bà lại không biết tiếng Pháp nên mặc cho Bùi Giáng nói, Bà chỉ nghe thôi. Nhưng tỏ ra rất chăm chú, rất thích, có lẽ Bà lặng yên nghe để từ Tiềm thức, Vô thức dậy lên những ý tình cao xa nào đó. Nhưng Bà rất kính trọng Bùi Giáng, mỗi lấn anh và tôi đến, không có Huệ Nhật thì chính Bà nấu trà và đem bánh ra đãi.

Sau 1975, vào những năm 1982, 1983 gì đó, Huệ Nhật ở chung với cô Nguyễn Thị Muộn. Hai người lập một quán cơm Xã hội ở một đường vùng Chợ Lớn . Bùi Giáng thường đến. Chính tại quán cơm xã hội nầy, một buổi chiều mưa, anh Giáng ngồi, mượn tôi chửi đổng thiên hạ cho đến tối mịt. Vừa hết mưa, tôi giục anh về; đến nhà thờ Ngã Sáu, lại mưa, cả hai chui vào căn lều bằng tấm bạt của một ông già (hình như trốn vùng Kinh tế mới về). Anh lại la to và nói tục, khiến ông già đuổi đi. Cả hai lại đi trong mưa, về đến Chung cư, tôi thay đồ, bật đèn ngồi viết còn anh thì cứ để nguyên áo quần cái bang ướt át, lăn kềnh ra sàn nhà, ngủ. Một ít lâu sau, do Huệ Nhật nói sao không biết, thêm đứa học trò cũ của tôi, nhà ở Chung cư Ấn Quang rủ rê thế nào, giới thiệu anh tiếp xúc với đôi mục sư Tin Lành từ Quận 8 sang nhà Huệ Nhật, anh Giáng lại ngã theo Tin Lành. Các vị Mục sư cũng vui lắm, được Bùi Giáng theo đạo thật vô cùng quí. Nhưng chỉ chừng hơn nửa tháng sau, anh đến tôi với quần áo cái bang như cũ. Tôi hỏi : “Sao, Chúa bỏ anh hay anh bỏ Chúa ?”. Anh trả lời : “Ông Chúa, ông Phật có bỏ ai đâu; tao bỏ các ổng. Mà lạ quá, tao khoái các ổng, mà theo thì… khó chịu quá. Các ổng điên khác tao. Cũng giống như Tô Ðông Pha không chịu làm Thiền sư để chỉ làm thơ thôi”.

Anh tiếp xúc nhiều với các tu sĩ Phật giáo, nhờ anh mà tôi được biết các Ngài Huyền Quang (tại chùa Kim Cương đường Trương Tấn Bữu), Thích Minh Châu ở Ðại học Vạn Hạnh, Thích Ðức Nhuận (tại đường Phan Thanh Giản), Sư Viên Minh (chùa Thereveda đường Phan Ðình Phùng), các thầy ở chùa Long Vân Gò Vấp. Anh cũng gặp và nói chuyện với đôi Linh mục, Mục sư. Anh luôn luôn thiện cảm, ca tụng và đề cao nữa nhưng không thể theo một Giáo hội nào. Đối với các Linh Mục, Mục Sư, anh ít đùa nhưng với đôi nhà Sư thì anh thường rất tếu.

Ði với tôi, anh chỉ đọc thơ, nói oang oang những gì đâu đâu, chằng bao giờ giảng tôi nghe về Phật, Chúa, Khổng, Trang cũng chẳng giảng gì về Nguyễn Du, Heidegger,…Tôi bảo anh phải nói sao chứ cứ lối điên điên, khùng khùng ấy, làm sao tôi hiểu. Anh bảo là : “Chú mày chỉ nghe, không cần hiểu”. Anh nói là tôi có cái Tâm tốt, có chút thông minh, và thường nhìn tôi lúc tôi thiu thiu ngủ như muốn tìm xem nơi tôi có nét gì đó mà chưa hiện ra. Sau nầy, từ 1979, tôi bỗng nhiên làm thơ, viết sách, những gì anh nói lối phiêu bồng phiêu hốt đó bỗng nhiên mơ hồ đến với tôi và tôi hình dung ra là anh đã gián tiếp ‘giáo dục’ tôi theo lối «giáo ngoại biệt truyền» hay ‘tâm truyền tâm’.

Môt nửa tháng, trước khi quyết định vượt biên (cuối năm 1988), tôi ngỏ ý rủ anh. Anh trầm ngâm, không nói gì. Ít hôm sau, anh bảo : «Tao không đi được. Ở bên nầy còn có các bà già, bọn trẻ con với bạn bè như chú mầy cho tao ăn, chứ qua bên đó, người ta nhốt tao vào nhà thương điên đến rục xương, tao sống sao được». Ít hôm sau nữa, anh bảo : “Hay là mầy đừng đi, ở lại vào cuộc điên với tao. Mày đi, tao buồn đến chết thôi”. Sau ít ngày, anh lại bảo : «Mà mầy đi cũng được lắm. Mày ở lại chẳng làm được gì. Mày có cái Tâm tốt, bây giờ đã vào đại hải rồi, qua bên đó biết đâu sẽ làm được cái gì». Trước ngày tôi đi, tôi gởi tặng anh một bài thơ, anh xem xong, chỉ trầm ngâm, gật gật đầu, không nói lời gì nhưng xem ra anh buồn lắm.

Bùi Giáng là người đức độ lớn. Anh thương tất cả mọi người. Anh nhìn ai cũng như thấy cái tâm hồn thánh nhân và anh muốn khơi động tấm lòng nhân thánh đó qua lối điên khùng của anh. Một lần, một người bạn bên Pháp về, bảo anh : «Brigite Bardot đi tắm biển, nằm trên ghế xích đu đọc sách anh, thích thú lắm’. Anh hỏi lại : “Cô có biết tiếng Việt đâu mà đọc sách tôi ?”. Người bạn đáp : “Cô ta đoc quyển Dialogue trong đó có bài anh viết cho René Char ấy”. Thế là anh tin và kể với tôi. Ðể anh vui, tôi bảo : “Có thể lắm”. Một lần, anh kể với tôi và sau nầy, hình như anh viết lại trong «Ngày tháng ngao du» chuyện sau đây :

«Một hôm, Brigite Bardot chạy tới ôm chầm Bùi Giáng rồi bảo :

– Anh yêu ơi ! Hôm nay em mới rõ là anh yêu em, nhiều, thật nhiều, hơn cả chị Monroe.

– Sao cô biết ?

– Thì đây nầy. Thư anh viết cho em dở ẹt, còn anh viết cho chị Monroe thì văn hoa, bay bướm không thể tả.

– Thư tôi viết cho cô dở ẹt, sao cô bảo tôi yêu cô hơn Monroe ?

– Anh còn giả vờ nữa. Thư viết dở ẹt thì tình mới thật, mới chân; còn thư viết bay bướm thì chỉ là tán tỉnh chứ tình đâu có thật».

Một chuyện giữa anh và tôi. Một hôm vừa chạng vạng, trời mưa lâm râm, anh đến tìm tôi nơi nhà anh Lê Ðình Duyên nơi tôi trọ (Lê Ðình Duyên lúc nầy dạy học ở trường Tân Thạnh, sau nầy làm Ðổng lý Văn phòng Bộ Thông Tin, bộ trưởng là Phạm Thái thời Nguyễn Khánh, sau đó làm Dân biểu), đọc mấy câu thơ của Nguyên Sa :

Anh sẽ cầm lấy đôi bàn tay

Tóc em anh sẽ bảo là mây

Ngày mai hai đứa mình xa cách

Anh vẫn được nhìn mây trắng bay.

(Không rõ tôi nhớ đúng nguyên văn không)

Rồi hỏi tôi : “Mầy thấy hay không ?”. Tôi đáp : “Kể ra thơ tình tuổi Sinh viên, học sinh, như thế cũng có thể xem là hay”. Anh hỏi tiếp : “Thế, theo mầy, Truyện Kiều có hay không ?”. Tôi bảo : “Hay là cái cẳng rồi”. Anh bỗng nổi sùng, mắng tôi : “Mày bảo Truyện Kiều hay ? Mày phải nói «Truyện Kiều dở như cứt; Truyện Kiều đáng đem chùi đít; như thế Ông Nguyễn Du sẽ cười ha hả, cho rằng trên thế gian có kẻ hậu sinh hiểu ông. Mày mà khen Truyện Kiều là mày làm nhục ông Nguyễn Du, dưới suối vàng ông không nhắm mắt được đâu”. Nói xong, anh bỏ đi ngay. Bực mình nhưng tôi nín thinh.

Trước nay, đi dạy, tôi giảng Truyện Kiều cũng chỉ theo các sách giáo khoa đã có, chứ chưa để ý đào sâu. Có lẽ, theo anh, tôi không đủ khả năng hiểu Truyện Kiều. Câu mắng của anh ám ảnh tôi mãi cho đến năm 1983, tôi bắt đầu viết cuốn ‘Ðoạn trường tân thanh : Tiếng vui trong lời buồn’ mới phát hiện được những độc đáo thâm sâu của Nguyễn Du và nhận ra rằng “Ðoạn trường tân thanh» là một tác phẩm tư tưởng không riêng của dân tộc ta mà chung cho cả nhân loại.

Có hai ‘giai thoại’ thường được mọi người kể và đã đăng nơi một số báo :
Chuyện thứ nhất như sau : «Một hôm, nơi quán café Huy Tưởng (một nhà thơ) ở một đường đâm ra đường Hai Bà Trưng Tân Ðịnh, anh ngồi uống café ở một góc quán, không mấy ai để ý. Bên trong quán, có nhà thơ Thu Bồn (người Quảng Nam) đang nghe cô Thu Ba tán tụng : “Anh là nhà thơ lớn, tất cả đều hâm mộ. Anh vào Nam, tôi nghĩ anh có thể dạy cho người miền Nam biết làm thơ, chứ lâu nay, thơ ca miền Nam chẳng ra gì. Có Bùi Giáng chút ít nào đó, nhưng xem ra cũng chẳng đáng giá gì mấy”.

Hình như Bùi Giáng nghe được, lát sau, đứng dậy, khúm núm đến trước hai người, tự giới thiệu và nói : “Thưa Anh, thưa Cô, tôi là Bùi Giáng. Xin lỗi, lúc nãy, tôi có nghe Cô nói anh là nhà thơ lớn miền Bắc, không ai sánh kịp. Cô có bảo là miền Nam, thơ ca chẳng ra gì. Ðúng vậy, tôi cũng thấy như thế. Nếu anh dạy cho người miền Nam biết làm thơ thì thật là quí hóa. Lúc nãy, cô có nhã ý nhắc đến thơ tôi, thú thật thơ tôi cũng chẳng đáng gọi là thơ. Nhưng thói quen cứ muốn học đòi làm thơ nên lúc nảy, ngồi nhâm nhi chút café, có làm được hai câu mà không rõ có phải là thơ không vì đọc lại chẳng có vần có điệu gì cả. Xin Anh và Cô cho phép tôi đọc hai câu đó và xin anh là nhà thơ lớn sửa hộ. Hai câu thơ của tôi thế nầy :

Thu Ba ca ngợi Thu Bồn

Thu Bồn khoái chí sờ… Thu Ba

Hai câu nghe chẳng ra sao cả. Xin Anh và Cô vui lòng sửa hộ cho ăn vần. Cảm tạ, cảm tạ…”

Tôi thuật lại chuyện nầy cho Bùi Giáng tại nhà tôi. Anh chỉ cười. Ðây chỉ là câu chuyện tiếu lâm, ai đó đặt ra chứ sự việc không phải do Bùi Giáng.

Trên đây là những điều có thật về Bùi Giáng mà tôi được chứng kiến. Tôi kể lại trung thực, không hoa hoè, thêm bớt. Còn một số chuyện nữa nhưng đã quá dài. Có thể phần nào, tôi tự xem là kẻ ‘chịu chơi’ với cơn điên của Bùi Giáng nhiều, chịu khổ với cơn điên của anh cũng nhiều (tôi lãnh anh ra khỏi nhà thương Chợ Quán hai lần và một lần tại Phường 1 Cảnh Sát Quận 10 ngày 29/4/1975), chịu nghe anh mắng chửi nhiều nhất và cũng nhận được nơi anh nguồn vui tin lạ kỳ mỗi khi được ở bên anh. Tôi muốn viết một tác phẩm về ‘Tư tưởng Bùi Giáng’ nhưng chưa có thì giờ và hiện chẳng có một tác phẩm nào của anh. Bài thơ đặc sắc, tiêu biểu và làm cơ sở cho khuynh hướng tư tưởng của anh, theo tôi là bài ‘Chào Nguyên Xuân’, bài thơ đầu trong tập ‘Mưa Nguồn’ .

Nguyễn Thùy

Advertisements

2 phản hồi

  1. […] thời Sài Gòn Nói tiếp về Thi Sĩ BÙI GIÁNG 15.01.2011NHỮNG MẨU CHUYỆN VỀ BÙI GIÁNG – Nguyễn Thùy (Xin xem thêm bài “Bùi […]

  2. Bai viet hay qua….

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: