HẬU TRƯỜNG NHÀ NGÔ (2/3)

HỒI KÝ

QUÁCH TÒNG ĐỨC

Chín năm bên cạnh

TT Ngô Đình Diệm (Kỳ 2 – Hết)

Admin : Tài liệu này do bạn Nguyễn Văn danh post. Tuy bài viết chưa phải thật sự đúng hoàn toàn, nhưng cũng cho chúng ta hiểu biết về cuộc chính biến vào ngày 1/1/1963 khi lật đổ nền Đệ Nhất Cộng Hòa tại miền Nam và anh em TT Ngô Đình Diệm – cố vấn Ngô Đình Nhu bị hạ sát, sau khi từ Dinh Gia Long (Dinh Độc Lập bấy giờ đang  được xây dựng lại) chạy về nhà thờ Cha Tam trong Chợ Lớn.

Nguyễn Việt

TT Diệm sống rất nặng về lý tưởng. Con người Khổng giáo nghiêm khắc và Công giáo khổ hạnh nơi ông có những nhận xét lắm khi không sát thực tế. Ông thường nhắc rằng người cán bộ trung thành luôn luôn hy sinh vì đại cuộc mà không cần đến cơm áo, danh vọng và chức tước, một lời khen của lãnh tụ đủ gây mãn nguyện. Khổ nổi, không phải cán bộ nào cũng thánh thiện như thế.

Thú tiêu khiển của TT Diệm không nhiều vì thiếu giờ rảnh. Ông thích cởi ngựa trong vòng rào của Dinh Độc Lập trong những năm yên ổn. Ông sưu tập máy ảnh, thích chụp hình và rất vui khi nhận được một máy loại mới. Chủ tiệm chụp hình Hà Di thường được gọi vào Dinh về vấn đề chuyên môn. Tổng Thống ăn uống thanh đạm, thường bữa dùng tại ngay phòng ngủ, do ông già An và đại uý Nguyễn Bằng phục dịch, thực đơn ít khi thay đổi gồm có cơm vắt, muối mè, cá kho và rau. Tổng thống ít khi đau, lâu lâu cảm cúm, có bác sĩ Bùi Kiện Tín chăm sóc. Phòng nội dịch không đông nhân viên, do ông Tôn Thất Thiết phụ trách. Vấn đề tiền bạc riêng của Tổng thống thì giao trọn cho Chánh văn phòng đặc biệt Võ Văn Hải, ông Diệm không có nhu cầu lớn. Ông Hải, học trò cũ của Giám mục Ngô Đình Thục, tốt nghiệp Trường Khoa Học Chính trị Paris, cử nhân Hán Học, rể của cựu Thượng thơ Nguyễn Khoa Toàn, theo sát Tổng thống Diệm từ lúc còn bôn ba ở hải ngoại và được ông Diệm thương như con. Ông Hải chính là người được TT Diệm chỉ định ngày 11/11/1960 ra trước cổng Dinh Độc Lập tiếp xúc với các sĩ quan chỉ huy cuộc binh biến Nguyễn Chánh Thi – Vương Văn Đông để tìm hiểu yêu sách của họ. Tuy nhiên, ông Võ Văn Hải chống ông bà Nhu và bác sĩ Tuyến, giám đốc Sở Mật vụ và cũng không thích ông Cẩn.

Khi phe quân nhân lên cầm quyền, Võ Văn Hải tổ chức nhóm “Tinh thần Ngô Đình Diệm” và ra ứng cử dân biểu tại Sàigòn nhưng thất cử. Năm 1974, không hiểu vì sao Hải lại xoay qua, cùng với Tôn Thất Thiện, ủng hộ nhiệt tình tướng Dương Văn Minh là người bị cho là có trách nhiệm vì cái chết của hai anh em ông Diệm-Nhu.

Về câu hỏi TT Diệm liên hệ ra sao với đảng Cần Lao, ông Quách Tòng Ðức cho biết ông Diệm chỉ để ý theo dõi hoạt động của Phong Trào Cách Mạng Quốc gia (tổ chức nòng cốt của chế độ từ lúc đầu) và Liên đoàn Công chức Cách mạng, một tổ chức ngoại vi của Chánh phủ. Về chuyện thành lập và sinh hoạt của đảng Cần Lao, TT Diệm giao hết cho hai ông Nhu và Cẩn. Trong các năm chót của chế độ, kế hoạch Ấp chiến lược cũng do ông Nhu hoàn toàn phụ trách, Tổng thống không lưu ý đến như đã từng lưu ý đến kế hoạch Dinh điền hay Khu Trù mật. Các gương mặt nổi trong hoạt động Cần Lao gồm có các ông Huỳnh Văn Lang, Trần Kim Tuyến, Lê Văn Ðồng, Huỳnh Hữu Nghĩa, Lê Quang Tung, Ðỗ Mậu, Nguyễn Văn Châu, Ðổ Kế Mai, Nguyễn Trân v.v… BS Tuyến làm việc với ông Nhu, ít khi gặp Tổng thống, trừ trường hợp đặc biệt. Quyết định đưa Cần Lao vào Quân đội – tức là chính trị hóa Quân đội – làm yếu Quân đội vì phá vỡ hệ thống quân giai và làm nản lòng các sĩ quan chuyên nghiệp. Quân đội chỉ biết có Tổ Quốc. Và phục vụ tổ quốc mà thôi.

Vụ công điện số 9159

cấm treo cờ Phật giáo.

Trong quyển hồi ký “Dòng họ Ngô Ðình”, xuất bản năm 2003 tại Californie, tác giả Nguyễn Văn Minh, nguyên bí thơ (1956-1963) của Ngô Ðình Cẩn, ghi nơi trang 164-165 : Lối 10 hôm sau vụ nổ lựu đạn giết 7 em bé và một số Phật tử tại đài phát thanh Huế nhân ngày lễ Phật Ðản 1963, Dương Văn Hiếu, trưởng đoàn công tác đặc biệt Miền Trung, vào Dinh để phúc trình với TT Diệm, ông Diệm nói với Hiếu như sau về vụ treo cờ Phật giáo : “Sau đó tôi mới bảo Quách Tòng Ðức gởi công văn nhắc các Tỉnh, chứ tôi có cấm chi mô ! Không hiểu tại răng hắn để tới ngày chót mới gởi công điện. Khi xảy chuyện, tôi kêu vô hỏi, hắn xin thôi. Công chuyện đổ bể như ri rồi, xin thôi thì ích chi ?” Nguyễn Văn Minh còn viết thêm ý kiến của Tôn Thất Ðính : “Ông Ðức đã gởi đi một công điện mà không tham khảo ý kiến ông Cố vấn Ngô Ðình Nhu… Lẽ nào lại tự tiện đánh đi một công điện như vậy nếu không được tình báo Mỹ tổ chức ?”

Ðược hỏi nghĩ sao về những đoạn trích dẫn trên đây, ông Quách Tòng Ðức ngạc nhiên. Ông xác quyết không bao giờ có nhận được lệnh của ông Diệm thảo và gởi cho các Tỉnh trưởng công điện số 9159 đề ngày 6.5.1963 do ông Nguyễn Văn Minh nêu ra, với nội dung “chỉ thị cho các cơ quan phụng tự (nhà thờ, chùa chiền…) chỉ treo cờ Quốc gia mà thôi” (nguyên văn). Trước đó, việc treo cờ được giải quyết bởi hai nghị định số 78 và 189 của Bộ Nội vụ (năm 1957 và 1958) và một sắc lệnh đầu năm 1962 của Phủ Tổng thống nhắc nhở quần chúng tôn trọng Quốc kỳ.

Ông Ðức kể lại : Tháng tư 1963, sau một cuộc thị sát vào mùa lễ Phục Sinh, TT Diệm có chỉ thị cho ông Ðức gởi thông tư lưu ý các giới chức Tỉnh về thể thức treo quốc kỳ VN trong các ngày lễ đạo, không phân biệt tôn giáo nào : treo trước cổng giáo đường, ở chính giữa và phía trên, đúng kích thước, còn các cờ đạo và cờ đoàn thể thì ở vị trí thấp hơn. Thông tư nhấn mạnh : phía trong các giáo đường, chùa chiền và những nơi thờ phượng, giáo kỳ được treo tự do, không giới hạn. Lệnh của Tổng thống được phổ biến ngay ngày hôm sau.

Theo ông Quách Tòng Ðức, đầu tháng 5/1963, tại Huế, xảy ra một điều đáng tiếc : Ðể lấy điểm trong lễ Ngân khánh 25 năm thụ phong giám mục của Ðức cha Ngô Ðình Thục, nhà chức trách hành chánh địa phương đã cho treo cờ Vatican “loạn xạ”, bất chấp thông tư nói trên. Một tuần sau – ngày 8/5/1983 – vào lễ Phật Ðản, các Phật tử cũng tự tiện treo cờ Phật giáo như thế. Hôm sau, Tỉnh trưởng Thừa Thiên trở lại thi hành thể thức treo cờ trong thông tư của Phủ Tổng thống, nên gây sự phẫn nộ của Phật tử vì họ cho rằng đây là một biện pháp bất công, kỳ thị. Tại miền Nam, theo ông Ðức, với 4.800 chùa Phật, không có xảy ra vấn đề như ở Huế.

Ông Ðức còn nhớ rất rành mạch rằng, sau thảm kịch tại Ðài Phát thanh Huế chiều ngày 8/5/1963, Tổng thống có đòi ông vào Văn phòng để đưa cho ông xem, với một gương mặt “mệt nhọc, buồn rầu và chán nản”, công điện ngày 6/5/1963 nói trên và hỏi “một cách sơ sài” ai đã gởi đi chỉ thị ấy. Ông Ðức trả lời không biết vì trong sổ công văn gởi đi không có dấu vết của tài liệu vừa kể. Theo ông Quách Tòng Ðức, trong hoàn cảnh chánh trị dồn dập sôi động lúc đó (Hòa Thượng Thích Quảng Ðức tự thiêu, Quách Thị Trang bị bắn chết tại chợ Bến Thành, lựu đạn nổ ở Huế, tướng lãnh lập kiến nghị đòi cải tổ, việc kiểm soát chùa v.v…), TT Diệm rối trí, không còn màng đến việc ra lệnh điều tra.

Ðể tỏ dàn xếp, Chánh phủ đồng ý cho hai Ủy ban Liên bộ và Liên phái công bố một thông cáo chung ngày 16/6/1963 xác định những điểm đã thỏa hiệp về việc treo cờ Phật giáo và Quốc kỳ, hứa xét lại Dụ số 10 trước Quốc hội vào cuối 1963, tạm ngưng áp dụng Nghị định của Phủ Tổng thống số 116/TTP/TTK ngày 23/.9/1960 ấn định thể thức mua bán bất động sản và đất đai của Phật giáo, hứa sẽ trừng trị nhân viên có lỗi và bồi thường các gia đình nạn nhân. Tuy nhiên, mọi việc đã quá trễ.

Trong hồi ký “Ngô Ðình Diệm, Nỗ lực hòa bình dang dở”, (nxb Xuân Thu Californie 1989), nơi trang 189-190, Nguyễn Văn Châu, nguyên giám đốc Nha Chiến tranh Tâm lý Quân đội VNCH, trở thành đối lập với Chánh phủ trước cuộc binh biến 1/11/1963, có ghi lại : Sau 1975, một cựu đại úy Hoa kỳ tên James Scott, liên hệ với CIA và từng làm cố vấn cho Tiểu đoàn 1/3 thuộc Sư đoàn 1 Bộ binh, thú nhận trong một lá thơ đăng trên một tuần báo Mỹ rằng, chính ông đã gài một trái bom nổ chậm chiều 8/5/1963 tại Huế. Sự kiện này cũng được Lương Khải Minh, ghi lại trong hồi ký “Làm thế nào giết một Tổng thống ?” (tập 2, trang 366-370). Theo trung tướng Trần Thiện Khiêm xác nhận với Marguerite Higgins, tác giả quyển sách Vietnam, Our nightmare, chương VI, Nguyễn Khánh (nắm quyền sau cuộc chỉnh lý 30/1/1964) đã hy sinh thiếu tá Ðặng Sỹ, phó Tỉnh trưởng Nội an Thừa Thiên, để Thich Trí Quang trì hoãn chống đối. Tòa án Mặt trận xử Thiếu Tá Ðặng Sỹ khổ sai chung thân.

Ðược hỏi : trong các tướng thường vô ra Dinh Ðộc lập, ai là người được sủng ái nhứt, ông Quách Tòng Ðức đáp không do dự : “Tôn Thất Ðính và Trần Thiện Khiêm, mà Tổng thống xem như người nhà !” Ðiều này không ngăn Ðính và Khiêm đóng vai trò chính yếu trong cuộc đảo chánh 1/11/1963.

“TT Diệm có thích được nịnh hót hay không ?” Ý kiến của Ông Ðức : “Tại Bắc Việt, đã thần tượng hóa ông Hồ Chí Minh. Trong Nam, cũng có khuynh hướng ấy đối với ông Diệm, dưới nhiều hình thức, đặc biệt trong Phong trào Cách mạng Quốc gia với số đoàn viên tăng từ 10.000 năm 1955 lên đến 2 triệu năm 1963, tổ chức đến tận xã, phường. Bộ trưởng Thông tin Trần Chánh Thành bỏ hàng ngũ kháng chiến về cọng tác với ông Diệm từ lúc đầu như Trần Hữu Phương, Trần Lê Quang… Ông có công xây dựng Phong trào Cách Mạng Quốc Gia, tổ chức Chiến dịch tố cộng và đề xướng “Suy tôn Ngô Tổng thống”.

Bất thuận với Trần Kim Tuyến, Thành rời Nội các cuối năm 1959. Ba bộ trưởng khác ra đi cùng một lúc vì, với ông Thành, lập hồ sơ truy tố một số cán bộ Cần lao dân sự và quân sự lộng quyền : Trần Trung Dung (Quốc phòng), Nguyễn Văn Sĩ (Tư pháp) và người viết (Nội vụ). Bộ Thông tin bị đổi thành Nha Tổng Giám đốc Thông tin do bác sĩ (Cần lao) Trần Văn Thọ phụ trách. Ngày 30/4/1975, ông Thành (Nghị sĩ và Ngoại trưởng thời Nguyễn Văn Thiệu) tự tử bằng thuốc độc tại nhà; còn bác sĩ Tuyến thì được điệp viên nằm vùng Phạm Xuân Ẩn lấy xe chở đến một địa điểm dùng trực thăng Mỹ thoát khỏi Việt Nam. Tuyến định cư tại Anh quốc nhờ bà Tuyến làm việc cho Tòa Ðại sứ Anh ở Sài Gòn. Tại Anh, Bác sĩ Tuyến làm chủ một nhà trọ bed and breakfast gần Cambridge và qua đời cách đây vài năm, sau khi phát hành cùng với Cao Vĩ Hoàng quyển hồi ký “Làm thế nào giết một Tổng thống ?”

Theo ông QTD, TT Diệm cởi mở, bình dân trong những năm đầu chấp chánh nhưng về sau, trở nên khó tánh và khép kín hơn. Ảnh hưởng của quyền lực ? hoàn cảnh ? giới cận thần a dua ? Qua ba giai đoạn Quốc Hội Lập Hiến, Quốc Hội Lập Pháp kỳ 1 và Quốc Hội Lập Pháp kỳ 2, nền Ðệ nhứt Cộng hòa đi lần vào bế tắc. Trong gia đình, ông bà Trần Văn Chương, nhạc gia của ông Nhu, – đại sứ VNCH tại Hoa Thịnh Ðốn và vợ, quan sát viên tại Liên Hiệp Quốc – lợi dụng chức vụ để phản tuyên truyền và đả kích Chánh phủ Sài Gòn. Ngay cả Bác sĩ Trần Văn Ðỗ, chú vợ của cố vấn Ngô Ðình Nhu, và luật sư Nguyễn Hữu Châu, nguyên bộ trưởng Phủ Tổng thống kiêm Bộ trưởng Nội vụ, anh em bạn cột chèo với ông Nhu, cũng không còn ủng hộ ông Diệm. LS Châu đào thoát qua Paris ngang con đường Nam Vang nhờ sự giúp đỡ của bạn học cũ là Quốc vương Sihanouk. Ông đã trình luận án Thạc sĩ luật chỉ trích chương trình viện trợ Hoa kỳ ở VN và sau đó, dạy luật tại Ðại học Paris. Luật sư Châu cũng như khoa học gia Bửu Hội, năm 1972, cũng ngã theo ủng hộ Mặt trận Giải phóng Miền Nam. Trần Văn Ðôn – người chủ trương đảo chánh – nhìn nhận một cách thương hại : Tội nghiệp, mọi người đều bỏ TT Diệm !

Ông Quách Tòng Ðức tỏ ra dè dặt với dư luận cho rằng TT Diệm kỳ thị Phật Giáo. Theo ông, TT Diệm thường tiếp xúc với các vị tu hành thuộc mọi tôn giáo, đặc biệt Phật giáo; không bỏ qua dịp viếng thăm một số chùa như chùa Sư Nữ của Sư bà Diệu Huệ (mẹ giáo sư Bửu Hội) ở Phú Lâm, chùa Diệu Ðế ở Huế.. v.. v.. Chính ông Ðức đã nhiều lần chuyển đến tay ông Mai Thọ Truyền, chủ chùa Xá lợi và Hội trưởng Hội Phật giáo Nam Việt những số tiền giúp đỡ. Một chuyện mà ít người biết là TT Diệm đã hiến cho Ðức Ðạt Lai Lạt Ma trọn số tiền 15.000 mỹ kim, giải thưởng Leadership Magsaysay tặng cho Tổng thống. Vì lý do chánh trị, quyết định này không được công bố.

Ủy ban tôn giáo Liên Hiệp Quốc được Chánh phủ Sài Gòn mời đến điều tra năm 1963 cũng đã phúc trình – sau ngày hai ông Diệm, Nhu bị giết – rằng Ðệ nhứt Cộng hòa không kỳ thị tôn giáo. Mặt khác, TT Diệm đã từng thẳng thắn bác bỏ những yêu sách quá đáng của một vài hàng giáo phẩm Công giáo di cư, bởi thế nên có sự bất mãn ngấm ngầm. Theo ông Ðức, 2 Giám mục Phát Diệm, Bùi Chu Lê Hữu Từ và Phạm Ngọc Chi chống đối ông Diệm ra mặt.

Cho đến ngày TT Diệm qua đời, phần đông các người phục vụ sát cạnh bên Tổng thống hàng ngày đều thuộc thành phần Phật giáo : Ðổng lý (Quách Tòng Ðức), Tổng thơ ký Nguyễn Thành Cung, Chánh văn phòng Võ Văn Hải, bí thơ Trần Sử, nội dịch Tôn Thất Thiết, cận vệ Nguyễn Bằng…

Vấn đề thủ tiêu các người đối lập

Sau chánh biến 1/11/1963, Hội đồng Quân nhân Cách Mạng tố cáo chánh quyền Diệm đã thủ tiêu một số người đối lập như Nguyễn Bảo Toàn, Tạ Chí Diệp, Vũ Tam Anh, Hồ Hán Sơn v.v… QTÐ tuyên bố không biết gì về những chuyện này thuộc thẩm quyền các cơ quan công an, tình báo. Tuy nhiên, ông tin chắc rằng ông Diệm không bao giờ đích thân chủ trương như vậy vì Tổng thống là một tín đồ Công giáo thuần thành, phân biệt tội phước. Có thể một số nhân viên an ninh cuồng tín đã hành động để lấy điểm (excès de zèle) hay giải thích sai lầm chỉ thị cấp trên. Một bằng chứng cụ thể là TT Diệm chỉ ra lệnh giam chớ không cho xử tử Hà Minh Trí, một cán bộ Cao Ðài, mưu sát hụt ông tại Ban Mê Thuột và gây thương tích cho Bộ trưởng Ðỗ Văn Công. Hà Minh Trí được Hội đồng Cách Mạng trả tự do khi họ đã giết TT Diệm. Câu hỏi nêu ra là cuối cùng, TT Diệm có hay biết các vụ thanh toán toán đối lập hay không và phản ứng thế nào ? Dù sao, lịch sử vẫn đặt vấn đề trách nhiệm tinh thần đối với ông.

Trong giai đoạn chót của chế độ, có tin đồn trong quần chúng và báo giới Mỹ rằng cố vấn Ngô Ðình Nhu đi đêm với MTGPMN để tìm ra giải pháp giữa Nam, Bắc. Chính ông Nhu có đề cập đến chuyện này trong vài phiên nhóm với tướng lãnh tại Bộ Quốc phòng và ngày 23/7/1963 tại suối Lồ Ồ khi nóí chuyện với các cán bộ xây dựng Ấp Chiến lược khóa 13. Một nguồn tin khác cho biết ông Nhu sử dụng trung gian của bốn đại sứ Roger Lalouette (Pháp), d’Orlandi (Ý), Goburdhun (Ấn độ) và Manelli (Ba Lan), (hai ông sau là thành viên của Ủy ban Quốc tế kiểm soát đình chiến) cũng như Tổng lãnh sự Pháp ở Bắc Việt Jacques de Buzon để liên lạc với Hà Nội.

Ông QTÐ nói có nghe dư luận này nhưng không biết rỏ chi tiết. Ông cũng có nghe sầm sì rằng ông Nhu đã gặp một đại diện Văn phòng Chính trị Bắc Việt (Phạm Hùng ?) trong lần đi săn tại Quận Tánh Linh, Bình Tuy. Ông Ðức nghĩ đây chỉ là một đòn chiến thuật của ông Nhu để dằn mặt Hoa Kỳ, Tổng thống Diệm không bao giờ chấp nhận giải pháp điều đình với Hà Nội. Ông Ðức còn xác nhận : một Tết Nguyên Ðán trước 1963, một cành đào đỏ lộng lẫy được trưng bày nơi phòng khánh tiết Dinh Ðộc lập với tấm thiệp in tặng của “Chủ tich Nhà nước Cộng hòa Xã hội Miền Bắc”.

Những ngày chót của Tổng Thống Diệm

và các thân cận cuối cùng

Tướng Trần Văn Ðôn, đầu não trong chánh biến 1/11/1963 và tác giả của quyển hồi ký “VN Nhân Chứng” (nxb Xuân Thu, Californie, 1989) về vai trò Hoa kỳ chỉ huy vụ lật đổ và sát hại một lãnh tụ đồng minh đã viết như sau : “Ðúng 1 giờ 30 trưa, (trùm Xịa) Conein vào bộ Tổng Tham mưu, (nơi đặt văn phòng của Ðôn) mang theo một máy truyền tin đặc biệt để liên lạc với Tòa Ðại sứ Mỹ và một bao tiền là ba triệu bạc VN” (trang 211). Ðôn còn tuyên bố khi y thậm thọt gặp riêng Thái thú Cabot Lodge để thỉnh thị : “Chúng tôi (nhóm đảo chính) không bao giờ có tham vọng cá nhân, chỉ muốn cứu nước !” (trang 210).

Trong hồi ký VN Nhân Chứng, đoạn chót, “Trần Văn Ðôn cho biết ba triệu bạc – cái giá rẻ mạt để thay đổi một thế cờ ! – đã chia cho Dương Văn Minh, Lê Văn Kim, Tôn Thất Ðính, Nguyễn Hữu Có, Ðổ Cao Trí, Nguyễn Khánh, Trần Ngọc Tám và Lê Nguyên Khang”.

Ông Ðức tỏ ra ngán ngẩm khi được hỏi nghĩ gì về sự tự thú trên đây. Theo ông, trong những ngày chót của một cuộc đời đấu tranh gian khổ, TT Diệm là con người cô đơn nhứt trên thế gian : dân tộc bỏ rơi, đồng minh phản bội, gia đình chia cách, kẻ thù Hà Nội reo hò chiến thắng, sự nghiệp chính trị ra tro, uất hận ngất trời vì tương lai mù mịt của Ðất nước, một quốc gia bị sức mạnh chèn ép. Với ông Nhu quỳ bên cạnh cầu nguyện trong nhà thờ Cha Tam Chợ Lớn sáng ngày 1/11/1963, nhưng không chắc TT Diệm đồng một tâm tư với người em.

Ông Ðức bùi ngùi nhắc lại : “Tối 1/11/1963, khi tiếng súng nổ rền khắp nơi, ông và gia đình rời khỏi nhà riêng ở số 8 đường Lê Văn Thạnh, Sài Gòn, tại Chợ Lớn, không xa căn phố lầu của Mã Tuyên, nơi Tổng thống và ông Nhu tạm ngụ. Sáng hôm sau 2 tháng 11, trở lại nhà thì được biết Tổng thống có điện thoại tới hôm trước nhưng người giữ nhà trả lời không biết ông Ðức ở đâu. Vài giờ sau, ra-dô báo tin hai ông Diệm, Nhu “tự tử”, điều mà ông Ðức không tin chút nào. Ðến nay, ông Ðức vẫn ân hận vì không được tiếp xúc lần chót với Tổng thống.

Hỏi : Trong Nội các, ai được Tổng thống Diệm tin cậy nhứt những ngày, tháng cuối cùng ? QTÐ đáp : các ông Nguyễn Ðình Thuần và Trương Công Cừu. Ông Thuần kiêm ba trọng trách : Bộ trưởng tại Phủ Tổng thống, Bộ trưởng phụ tá Quốc phòng, và Bộ trưởng Ðặc nhiệm Phối hợp An ninh. Ông Cừu là Bộ trưởng Ðặc nhiệm Phối hợp Văn hóa Xã hội. Ngoài ra, còn có ông Ngô Trọng Hiếu, Bộ trưởng Công dân vụ, từng là đại sứ VNCH ở Nam Vang, bị Chánh phủ Cam bốt trục xuất vì giúp cho tướng Nap Chuon đảo chánh (hụt) Quốc vương Sihanouk. Tên ông Hiếu nằm trong bản danh sách của Cabot Lodge ghi các nhân vật cần thanh toán, theo hồi ký nêu trên của trung tá Nguyễn Văn Châu.

Ông Ðức không ngạc nhiên cho lắm khi được người viết cho biết một số tài liệu giải mật tại Hoa kỳ tiết lộ ông Nguyễn Ðình Thuần là tay trong thân tín của CIA, theo dõi để phúc trình từng phản ứng của hai anh em Diệm-Nhu. Nguyễn Ðình Thuần từng được Mỹ chấm như một “Thủ tướng có triển vọng” nếu TT Diệm chịu sửa Hiến pháp để đặt thêm chức vụ này (đọc The Storm has many eyes, A personal narrative của Henri Cabot Lodge, NY 1973, trang 62 và Lodge in Vietnam, A Patriot abroad của Ann Blair, nxb Yale University Press, New Haven 1995, trang 92).

Ông Ðức cho biết thêm : Linh mục Cao Văn Luận cũng là một cố vấn thân tín của Tổng thống được giao phó ra nước ngoài xin tài trợ về giáo dục, tìm kiếm trí thức Việt đưa về nước và tổ chức Viện Ðại học Huế mà ông là Viện trưởng đầu tiên. Trong giai đoạn khủng hoảng Phật giáo, dư luận cho rằng cha Luận đã trở mặt, ngã theo phe chống chánh quyền. Ông Quách Tòng Ðức quả quyết không bao giờ gặp Vũ Ngọc Nhạ. Trả lời về các cán bộ gốc Cộng sản cọng tác với chế độ, ông Ðức cho biết Kiều Công Cung – nguyên tư lệnh một sư đoàn Bộ đội Bắc Việt – đã tỏ ra xứng đáng đến cùng trong chức vụ Ðặc ủy chiêu hồi. Phạm Ngọc Thảo – mà Tổng Nha Cảnh Sát có hồ sơ – được bổ nhiệm đại úy Bảo An, sau đó Tỉnh trưởng Kiến Hòa và thanh tra dinh điền. Hai chuyên viên Mỹ về Giáo dục và Dinh điền thường lui tới Dinh và ăn sáng với Tổng thống là giáo sư Wesley Fishel thuộc Ðại học Michigan và Ladejinsky mà Tổng thống quen từ lúc bôn ba ở Hoa kỳ. Về sau, được biết hai chuyên viên này làm việc cho CIA. Ðặc biệt, Fishel đã ra mặt chống phá ông Diệm tại Hoa Thịnh Ðốn trước ngày đảo chánh.

Ông bạn Quách Tòng Ðức chấm dứt buổi nói chuyện thân tình bằng một lời than chua xót : Dĩ vãng buồn nhiều hơn vui, phá hoại nhiều hơn xây dựng, hận thù thay vì đoàn kết. Ðến nay, đất nước chưa thấy lối thoát, những bài toán của xứ sở chưa tìm ra đáp số.

Lưu đày, dù trên mảnh đất dân chủ, chưa phải là Tự do. Người Việt tha hương, vào tuổi gần đất xa trời, vừa đau buồn hướng về Ðất Mẹ, vừa thao thức tự vấn như Thôi Hiệu trong bài thơ Ðường Hoàng Hạc Lâu:

Chiều xuống, Quê nhà đâu đó tá ?

Bên sông khói tỏa, não lòng ai.

Nguyễn Văn Danh post (theo bài Chi Ðiền dịch)

Còn kỳ 3 :

NGÔ ĐÌNH CẨN TRƯỚC GIỜ XỬ BẮN

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: