Nhà văn BÌNH NGUYÊN LỘC (3/3)

CHÚT TÂM TÌNH VỚI

NHÀ VĂN

BÌNH NGUYÊN LỘC

– Lê Phương Chi (Kỳ 2)

Những cốt truyện thành hình

– Tôi viết truyện nào cũng công phu và tỉ mỉ như nhau. Chỉ có đề tài nào tôi thai nghén rỉ rả lâu ngày, và đề tài nào tôi thích hơn thì tác phẩm đó được tôi thương nhiều hơn , mà tôi cũng có cảm tưởng là mình viết truyện đó hay hơn nữa chớ.

– Nội dung truyện Quán Tai Heo ra sao, thưa ông ?

– Vai chánh trong Quán Tai Heo là thi sĩ Minh Phẩm, chắc anh cũng biết anh Phẩm chớ ? Trong câu chuyện có một bài thơ của anh ấy, bài thơ làm tôi xúc động tột độ.

– Ông đã làm việc như thế nào từ lúc thai nghén cốt truyện cho đến khi hình thành một đứa con tinh thần ?

– Như tôi đã nói, những yếu tố để cho tôi thai nghén một tác phẩm không phải là cốt truyện mà là ý truyện. Chẳng hạn như những sự kiện sinh hoạt xảy ra xung quanh tôi hằng ngày, hoặc các tin tức tôi đọc rải rác trên báo chí. Tôi ít chú ý đến những câu chuyện ly kỳ gay cấn, mà chỉ có những ý tưởng ngộ nghĩnh mới thâm nhập vào cơ năng sáng tác của tôi. Như câu chuyện về niềm đau của một thanh niên trót yêu một thiếu phụ mà anh ta lầm tưởng là chưa chồng, đã cho tôi ý truyện để hình thành một tiểu thuyết Ái Ân Thâu Ngắn Cho Dài Tiếc Thương ….

– Nhưng câu chuyện trong Ái Ân Thâu Ngắn cũng ly kỳ hấp dẫn chớ, thưa ông ?

– Ấy ,tôi chưa nói hết mà anh ! Sau khi tôi bắt gặp ý truyện, tôi mới dựng nên cốt truyện, rồi đi tom góp những chi tiết, những địa điểm có thật trong đời sống mà tôi thấy thích hợp có liên quan với nội dung câu chuyện. Những bối cảnh nào có sẵn trong tâm khảm của tiềm thức tôi, thì tôi bắt tiềm thức làm việc, còn những địa danh nào cần phải tìm hiểu, thì tôi phải đích thân đến nơi để nghiên cứu tường tận. Chẳng hạn như chuyện chìm đò trong Ái Ân Thâu Ngắn, tôi cho hai vai chánh là thanh niên và thiếu phụ ấy tắp vào cù lao Rồng ở Mỹ Tho, là do tôi đã tìm tòi nghiên cứu tận nơi ròng rã hơn năm tháng trời chứ đâu phải ít. Cho nên, tất cả những chi tiết trong hầu hết tác phẩm của tôi đều là có thật ở khắp nơi mà tôi đã tìm đến, đã gặp hoặc tôi cũng là một vai trong những sự việc xảy ra, chớ tôi không bịa được chi tiết. Mà tôi chỉ bịa cốt truyện để trình bày cho phù hợp ý truyện của tôi, do tôi đã thu nhặt được những chi tiết cụ thể trong đời sống hằng ngày mà thôi.

– Xin ông cho thêm ví dụ cụ thể của tác phẩm khác ?

– Trường hợp Nhện Chờ Mối Ai ? Cũng là những chi tiết của một câu chuyện có thật đã xảy ra ở khu vực gần chợ Nguyễn Tri Phương do nữ văn sĩ V.L có nhã ý biếu tôi câu chuyện. Sau khi nghe kể, tôi tìm thấy trong ấy một ý truyện ngộ nghĩnh :

– Hai thanh niên nam nữ trong câu chuyện sao không sáp với nhau cho rồi mà còn chờ gì nữa ? Cũng tỉ như con nhện sao cứ mãi giăng tơ, còn chờ mối ai mới chịu ráp mối để ngừng nghỉ ? Sau đó, tôi nhờ cô V.L đưa tôi đến tận nơi xảy ra câu chuyện để quan sát và nghiên cứu thêm cho đầy đủ các chi tiết cần thiết. Rồi tôi mới khởi viết feuilleton cho nhựt báo Tiếng Chuông … Cho nên có thể nói, tất cả tác phẩm của tôi dù truyện ngắn hay tiểu thuyết dài cũng chỉ tóm tắt đầy đủ đại ý của cốt truyện trong vài câu …..

– Ông viết truyện dài từng kỳ mỗi ngày cho nhật báo (Roman feuilleton) có khác với viết một truyện ngắn, chẳng hạn như Ba Con Cáo, Nhốt Gió, Ký Thác không ?

– Như tôi đã nói lúc nãy, bất cứ viết một tác phẩm nào , cho dầu là một truyện ngắn diễm tình để đăng các nhựt báo hay là một tiểu thuyết dài để dành đó, tôi cũng viết công phu như nhau. Có điều là người đọc thấy dở hoặc khen hay , có lẽ là do đề tài ấy thích hợp với tôi cho nên tôi viết hay, hoặc những tình tiết trong truyện ấy hợp với quan điểm bạn đọc. Vậy thôi.

– Ông viết một mạch rồi sửa chữa, rồi lại viết tiếp, hay là viết trang nào chữa liền trang nấy ?

– Viết luôn một mạch chớ ! Những khi đang viết mà gặp những từ ngữ dùng chưa được chính xác lắm, tôi cũng dùng tạm rồi sau đó tôi mới chỉnh đốn lại. Trước hết là tôi tra tự điển để chỉnh những chữ mà lúc viết mình còn nghi ngờ. Tôi là dân Nam kỳ mà anh ! Tôi thường bị sai mấy chữ có g hoặc không g, hay là chữ cuối bằng t hay c ; mà rắc rối cho tôi nhứt là dấu hỏi và dấu ngã. Sau khi chữa xong chánh tả là đến việc tìm từ ngữ để thay những từ mà lúc viết mình dùng chưa chính xác. Vậy mà trong truyện dài Đò Dọc tôi còn bị sai danh từ quan sát, thay vì phải dùng từ nhận xét mới sát nghĩa

– Chắc là ông thích viết vào những lúc yên tĩnh như thế này ?

– Không đúng hẳn. Tôi viết lúc nào cũng được. Tôi không sợ ồn ào. Mấy năm gần đây, hễ sắp nhỏ trong nhà làm ồn thì tôi vặn magnétophone cho tiếng kèn của Louis Amstrong hoặc giọng ngâm thơ của Hoàng Oanh lớn hơn một chút rồi tiếp tục viết. Còn trước kia chúng nó đánh giặc, bắn súng, đấu kiếm sát bàn viết tôi cũng thản nhiên viết như thường, chớ không bao giờ la rầy làm gián đoạn cuộc vui của bọn trẻ. Sở dĩ tôi phớt tỉnh Ăng lê được như vậy là nhờ mấy ông công chức cũ ở Kho bạc tỉnh tôi (Biên Hòa) hồi trước tập cho tôi đó……

– Sao lại có chuyện ngộ nghĩnh vậy, xin ông cho nghe ?

– Hồi tôi mới vô làm công chức Kho bạc chừng năm, sáu tháng gì đó, tôi chỉ ngồi ngó đám người ồn ào lộn xộn trước mắt, mà không làm được việc gì cả. Sau đó, nhờ mấy ông công chức lâu năm bày tôi cách tập cho mắt không nhìn thấy đám đông, tai không nghe tiếng ồn ào mà chỉ tập trung vào công việc, sổ sách. Từ đó công việc của tôi mới khỏi ứ đọng. Cũng nhờ vậy mà sau này rất có lợi cho tôi trong việc tập trung tư tưởng lúc ngồi vào bàn viết để sáng tác.

Rồi nhà văn Bình Nguyên Lộc ngó tôi với ánh mắt sáng ngời :

– Anh coi, trong cảnh sinh hoạt xô bồ, náo nhiệt ồ ạt của Sài Gòn , mà tôi cứ ngồi lầm lì để miệt mài viết trên bảy trăm truyện ngắn, và gần bốn chục tiểu thuyết dài, đâu phải tôi không bị chi phối bởi cảnh con đau vợ bịnh và những cơn túng quẫn thúc bách hằng ngày ? Mà sở dĩ viết được như vậy là nhờ khi ngồi vào bàn viết là tôi gác hết mọi chuyện ra ngoài tai…

– Tại sao ông lại thích sáng tác truyện ngắn hơn là tiểu thuyết dài ?

– Có lẽ vì truyện ngắn bắt buộc mình viết câu văn nào cũng cô đọng và phải tìm tòi những từ mới như làm một bài thơ. Không có những câu dư, ý thừa, không tả những hành động vô ích rườm rà như trong tiểu thuyết; chẳng hạn như …. nói đến đây chàng cảm thấy mệt nên cáo từ đứng dậy ra về , hoặc là….. chàng mở bao thuốc lá rồi nói với khách rằng mời ông hút thuốc vv…

Nhà văn Bình Nguyên Lộc tưởng tôi ghi không kịp, ông lặp lại như đọc chánh tả, tôi ngẩng lên hỏi để tiếp tục câu chuyện :

– Khi nãy ông nói đến làm thơ tôi mới nhớ trước kia ông cũng có làm thơ, và tôi cũng đã được đọc một vài bài rất hay. Sao ông không tiếp tục ? Hay là ông không thích làm thơ bằng viết truyện ?

Nhà văn Bình Nguyên Lộc phì cười :

– Tôi cũng thích thơ lắm chớ, nhưng chỉ thích đọc những bài thơ tình cảm thấm thía của các bạn. Riêng tôi, tôi không làm thơ vì thấy thơ mình không được xuất sắc cho nên tôi chuyên viết tiểu thuyết

– Xin ông cho biết chủ trương sáng tác qua các giai đoạn từ loại truyện ngắn Nhốt Gió đến Ký Thác, từ tiểu thuyết Đò Dọc đến tiểu thuyết từng kỳ đăng nhật báo như Nhện Chờ Mối Ai. Và từ khi đăng xong Ái Ân Thâu Ngắn Cho Dài Tiếc Thương đến nay ?

Nhà văn Bình Nguyên Lộc cười thành tiếng :

– Anh hỏi như vậy có nghĩa là tôi viết hai truyện ngắn Ký Thác và Nhốt Gió thì thận trọng ngòi bút còn khi sáng tác những feuilleton cho nhựt báo là tôi viết cẩu thả chớ gì ?

Rồi nhà văn Bình Nguyên Lộc nhìn tôi với ánh mắt hóm hỉnh và nụ cười thân mật :

– Cũng như một số bạn thân của tôi cho rằng vì tôi viết feuilleton và viết những truyện ngắn diễm tình cho các nhựt báo nên văn của tôi có mòi dở hơn trước. Nhưng hôm nay, riêng với anh, tôi có thể nói thẳng là trong những truyện của tôi đã xuất bản – vì trong số bảy trăm truyện ngắn, tôi mới xuất bản có một trăm năm mươi hai truyện, còn bốn chục tiểu thuyết dài tôi cũng mới xuất bản có mươi cuốn – nếu có tác phẩm nào bị độc giả chê dở là tại vì truyện ấy tôi viết dở, chớ không phải do tôi sáng tác nó trong thời kỳ tôi bắt đầu viết loại tiểu thuyết feuilleton. Bởi có nhiều tác phẩm tôi sáng tác từ trước khi có Ký Thác và Ba Con Cáo mà đến bây giờ tôi mới cho đăng báo. Còn tiểu thuyết Đò Dọc mà được độc giả khen hiện nay, nó cũng là loại feuilleton tôi viết cho nhựt báo Dân Chúng, chắc trước đây anh cũng đã biết. Vì vậy, những tác phẩm của tôi hễ thuận tiện là tôi lôi nó ra cho nó chào đời, chứ không phải theo thứ tự của thời gian sáng tác. Do đó, không thể căn cứ vào thời gian các tác phẩm ấy xuất bản mà phân định giai đoạn sáng tác để rồi đánh giá từng tác phẩm của tôi được.

– Sao lúc sáng tác ông không ghi ngày tháng dưới mỗi tác phẩm ?

– Tôi không quen ghi như vậy anh à. Bởi thế cho nên có lần anh Nguyễn Mạnh Côn đã phàn nàn tôi trong một bài báo anh ấy phê bình văn của tôi. Anh Côn viết rằng nhà văn Bình Nguyên Lộc không chịu ghi năm tháng sáng tác dưới mỗi tác phẩm để dễ dàng cho những cây bút tìm hiểu và phê bình văn chương sau này …

– Viết nhiều như vậy có khi nào ông đọc lại các tác phẩm đã xuất bản để rút ưu khuyết điểm không ?

– Có chớ. Nhờ đọc lại nên tôi mới thấy trong Đò Dọc đã dùng sai từ quan sát thay vì phải viết là nhận xét mới đúng.

– Và ông có thời gian để đọc tác phẩm của các nhà văn khác không ?

– Tôi thích đọc lắm chớ. Dù bận rộn cho mấy, khi gặp những cuốn sách hoặc những bài báo ưng ý, là tôi phải dành thời gian để đọc, mà hễ đọc là tôi đọc một lèo cho đến hết, chớ không bỏ dở để làm chuyện khác rồi bữa sau đọc tiếp. Chẳng hạn những tác phẩm của Sơn Nam thì tôi đọc một hơi cho tới trang cuối, và cũng đọc kỹ lắm

– Ông có đọc cuốn Hương Rừng Cà Mau của anh Sơn Nam không ?

– Có chớ. Trong ấy tôi thích nhứt là truyện ngắn Mùa Len Trâu, và tôi cũng mến anh Sơn Nam là qua đó đó. Tuyệt quá phải không anh ?

– Còn các nhà văn trước kia ? Chắc ông chỉ thích đọc của nhà văn Nhất Linh ?

– Không phải vậy đâu anh. Anh Nhất Linh thì tôi chỉ cảm phục bản lĩnh và thái độ xử thế. Còn văn của ảnh, nói xin lỗi vong linh của ảnh, tôi sắp hạng sau truyện ngắn của Bùi Hiển, Nguyễn Tuân, Thạch Lam, vì các nhà văn này hợp “gu“ tôi hơn ….

– Xin ông cho nhận xét về ba nhà văn ông vừa kể ?

– Văn phong của Thạch Lam duyên dáng và tế nhị, còn văn Bùi Hiển về kỹ thuật truyện ngắn rất cao, phản ảnh màu sắc địa phương thật tài tình; còn tùy bút của Nguyễn Tuân thì chứa cả một kho danh từ và rất dồi dào ý tứ…

– Còn các nhà văn nước ngoài, ông thích văn của những ai ?

– Anatole France thì tư tưởng độc đáo. Còn Marcel Proust thì nhận xét sâu sắc về tâm tình con người, truyện tình cùa nhà văn này thật là tuyệt-cú-mèo. Anh biết không , những lần tôi sắp sửa viết một đoạn lâm ly say đắm cho cuốn tiểu thuyết nào của tôi, là trước đó tôi phải tìm đọc ông ta một vài đoạn trong bộ À La Recherche Du Temps Perdu (Tìm Lại Thời Gian Đã Mất), tôi phải đọc đi đọc lại để gợi hứng.

– Ông có đọc truyện kiếm hiệp của Kim Dung không ?

Nhà văn Bình Nguyên Lộc chép miệng :

– Chà chà, chưởng phong của thằng cha này khá lợi hại, anh ta thừa cơ hội tình hình chánh trị nước Việt mình đang rối ren, tung một loạt truyện kiếm hiệp, đánh bật tiểu thuyết của tôi ra khỏi những nhà xuất bản từ trước chuyên xuất bản tác phẩm của tôi

Thấy tôi ngó đồng hồ tay, nhà văn Bình Nguyên Lộc mỉm cười :

– Và chẳng biết đến bao giờ anh em mình say câu chuyện mà không phải bận tâm giờ giới nghiêm, hoặc đang câu vui chuyện mà khỏi phải thảng thốt ngó nhau khi chợt nghe vài tiếng nổ chát chúa bất thần như hồi nãy, thì khi đó những tác phẩm văn chương có giá trị mới mong được độc giả xếp hạng đúng theo chất lượng của nó, phải không anh . Còn bây giờ thì … (Bình Nguyên Lộc ngừng nói, đưa hai tay lên tỏ vẻ ngao ngán)

Tôi nói đùa :

– Bây giờ thì tôi cũng phải lo sửa soạn kết thúc câu chuyện phỏng vấn để từ giã ra về là vừa, nếu không sẽ kẹt giờ giới nghiêm phải không ông ?

Chúng tôi cùng cười dài, và nụ cười tiễn khách của nhà văn Bình Nguyên Lộc được giữ trên môi cho đến lúc tôi đẩy chiếc xe Vélo Solex ra khỏi hàng hiên nhà, ông mới chép miệng có vẻ xót xa ái ngại :

– Anh về tận trên đường đua Phú Thọ giờ này bằng xe đó , xa quá hén !!!
– (Vùng chợ Cầu Muối đêm mùng 6 Tết Ất Tỵ, 1965)

Lê Phương Chi (“ Tâm tình văn nghệ sĩ”)

Những tác phẩm của Bình Nguyên Lộc đã xuất bản :

Truyện ngắn và tiểu thuyết :

Câu dầm, truyện ngắn, tuần báo Thanh niên – 1943, Sài Gòn – Nhốt gió, tập truyện, Nhà xuất bản Thời Thế – 1950, Sài Gòn – Đò dọc, tiểu thuyết, Nhà xuất bản Bến Nghé – 1958, Sài Gòn – Gieo gió gặt bão, tiểu thuyết, Nhà xuất bản Bến Nghé – 1959, Sài Gòn – Tân Liêu Trai, tập truyện (ký bút danh Phong Ngạn), Nhà xuất bản Bến Nghé – 1959, Sài Gòn – Ký thác, tập truyện, Nhà xuất bản Bến Nghé – 1960, Sài Gòn – Nhện chờ mối ai, tiểu thuyết, Nhà xuất bản Nam Cường – 1962, Sài Gòn – Ái ân thâu ngắn cho dài tiếc thương, tiểu thuyết, Nhà xuất bản Thế Kỷ – 1963, Sài Gòn – Bóng ai qua ngoài song cửa, tiểu thuyết, Nhà xuất bản Thế Kỷ – 1963, Sài Gòn – Bí mật của nàng, tiểu thuyết, Nhà xuất bản Thế Kỷ – 1963, Sài Gòn – Hoa hậu Bồ Đào, Nhà xuất bản Sống Mới – 1963, Sài Gòn – Mối tình cuối cùng, tiểu thuyết, Nhà xuất bản Thế Kỷ – 1963, Sài Gòn – Nửa đêm trăng sụp, tiểu thuyết, Nhà xuất bản Nam Cường – 1963, Sài Gòn – Tâm trạng hồng, tập truyện, Nhà xuất bản Sống Vui – 1963, Sài Gòn – Xô ngã bức tường rêu, tiểu thuyết, Nhà xuất bản Sống Vui – 1963, Sài Gòn – Đừng hỏi tại sao, tiểu thuyết, Nhà xuất bản Tia Sáng – 1965, Sài Gòn – Mùa thu nhớ tằm, tập truyện, Nhà xuất bản Phù Sa – 1965, Sài Gòn – Uống lộn thuốc tiên, tiểu thuyết, Nhà xuất bản Miền Nam – 1965, Sài Gòn – Những bước lang thang trên hè phố của gã Bình Nguyên Lộc, tạp bút, Nhà xuất bản Thịnh Ký – 1966, Sài Gòn – Tình đất, tập truyện, Nhà xuất bản Thời Mới, 1966, Sài Gòn – Nụ cười nước mắt học trò, tập truyện, Nhà xuất bản Trương Gia – 1967, Sài Gòn – Quán Tai Heo, tiểu thuyết, Nhà xuất bản Văn Xương – 1967, Sài Gòn – Thầm lặng, tập truyện, Nhà xuất bản Thụy Hương -1967, Sài Gòn – Diễm Phượng, tập truyện, Nhà xuất bản Thụy Hương – 1968, Sài Gòn – Đèn Cần Giờ – 1968, Sài Gòn – Một chàng hai nàng, tiểu thuyết, Nhà xuất bản Thụy Hương – 1968, Sài Gòn – Sau đêm bố ráp, tiểu thuyết, Nhà xuất bản Thịnh Ký – 1968, Sài Gòn – Trăm nhớ ngàn thương, tiểu thuyết, Nhà xuất bản Miền Nam – 1968, Sài Gòn – Khi Từ Thức về trần, truyện, Nhà xuất bản Văn Uyển – 1969, Sài Gòn – Nhìn xuân người khác, tiểu thuyết, Nhà xuất bản Tiến Bộ – 1969, Sài Gòn – Món nợ thiêng liêng, tiểu thuyết, Nhà xuất bản Ánh Sáng – 1969, Sài Gòn – Cuống rún chưa lìa, tập truyện, Nhà xuất bản Lá Bối – 1969, Sài Gòn – Lương tâm kẻ trộm, truyện ngắn, tạp chí Hương Quê – 1971, Sài Gòn – Lữ đoàn Mông Đen, Nhà xuất bản Xuân Thu – 2001, Hoa Kỳ – Tỳ vết tâm linh

Truyện dài chưa in :

Bọn xé ràoBóng ma dĩ vãngBưởi Biên HòaCon khỉ đột trò xiếcCon quỷ ban trưaCô Sáu Nam VangCuồng ca thế kỷÐôi giày cũ chữ PhạnGái mẹGiấu tận đáy lòngHai kiếp nhả tơHổ phách thời gianHột cơm Ngô chúaKhi chim lìa tổ lạnhLuật rừngLưỡi dao cùnMà vẫn chưa nguôi hình bóng cũMón nợ thiêng liêngMột chuyến ra khơiMuôn triệu năm xưaNgõ 25Ngụy KhôiNguời đẹp bến Ninh KiềuNgười săn ảo ảnhQuang Trung du BắcSuối đổi lốtThuyền trưởng sông LôTrử La bến cũ Trọng Thủy Mị ÐườngSở đoản của đàn ôngTrai cưới gái nàoQuật mồ người đẹpXóm Ðề Bô

Nghiên cứu :

Ca daoCổ văn chú giảiLuận thuyết y họcNguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam, khảo luận, Nhà xuất bản Bách Bộc – 1971, Sài Gòn – Thổ ngơi Đồng NaiTừ vựng đối chiếu 10 ngàn từ – 1971, Sài Gòn –Từ vựng danh từ Mã Lai mà Trung Hoa vay mượn – 1972, Sài Gòn – Lột trần Việt ngữ, khảo luận ngôn ngữ Việt, Nhà xuất bản Nguồn Xưa – 1972, Sài Gòn

Thơ :

Thơ tay tráiViệt sử trường caThơ Ba Mén (tiểu thuyết thơ).

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: