Nhà văn BÌNH NGUYÊN LỘC (2/3)

CHÚT TÂM TÌNH VỚI

NHÀ VĂN

BÌNH NGUYÊN LỘC

– Lê Phương Chi (Kỳ 1)

Tiểu sử : Tên thật : Tô Văn Tuấn. Bút danh : Bình Nguyên Lộc. Sinh ngày : 07/03/1914 (hộ tịch ghi năm 1915). Nguyên quán : làng Tân Uyên, tổng Chánh Mỹ Trung , tỉnh Biên Hòa

Thường trú trước đây : đường Nguyễn Khắc Nhu quận Nhì, Sài Gòn (1965)

Học Tiểu học trường Tân Uyên, rồi Biên Hòa. Học cấp Trung học trường Petrus Ký Sài Gòn, đậu Tú tài I năm 1935, gặp hồi đất nước trong thời kỳ kinh tế khủng hoảng, phải bỏ học để thi vào ngạch Thư ký Kho Bạc. Làm công chức hơn mười năm thì gặp Cách mạng tháng 8 năm 1945, từ giã đời công chức về sống với ngòi bút (1965)

Hoạt động văn nghệ :

Tác phẩm đầu tay : Truyện ngắn CÂU DẦM đăng trên tuần báo Thanh Niên xuất bản tại Sài Gòn năm 1943

– Đã miệt mài sáng tác trên bảy trăm truyện ngắn và trên bốn mươi truyện dài, từ năm 1943. Chỉ in trên các báo và chỉ xuất bản được khoảng một phần ba trong số bản thảo đã hoàn thành

– Đã cộng tác với hầu hết các nhật báo và các tạp chí xuất bản ở Sài Gòn

– Đã chủ trương tuần báo trào phúng Tin Mới năm 1952, Tuần báo Vui Sống năm 1959.

– Đã sáng lập nhà xuất bản Bến Nghé năm 1960

Ngoài ra, còn sáng tác một số tiểu thuyết bằng thơ :

– Thơ Ba Mén, Việt Sử Trường Ca. vv…

Nhiều tác phẩm biên khảo : Luận thuyết Y học, Thổ Ngơi Đồng Nai, Ca Dao, Cổ Văn Chú Giải, Mã Lai Nguồn Gốc Dân Tộc Việt, Lột Trần Việt Ngữ
– Đã được trao giải thưởng Văn Chương Toàn Quốc (thể loại Văn) năm 1959
Có chân trong thành phần Hội Đồng Văn Hóa Giáo Dục (Sài Gòn) từ năm 1960

Quan niệm của nhà văn Bình Nguyên Lộc :

“Văn tôi bắt nguồn từ những cảnh đẹp của quê hương và xuất phát từ lòng nhớ nhung tha thiết của tôi đối với nó chứ không phải vì ái tình hoặc yêu đương tác động… “

“Vì tôi thường rụt rè trước cánh cửa tình yêu đã lỏng then cài, chỉ cần mạnh tay, đẩy một cái là cửa mở toang cho tôi bước vào … Nhưng rồi, như độc giả đã thấy rải rác trong tác phẩm của tôi, nhân vật trong ấy đã bỏ lỡ bao nhiêu dịp. Có thể nói, tôi chỉ có những mối tình thoang thoảng nhẹ nhàng , đủ để ghi lại những kỷ niệm đẹp mà thôi…”

“Những yếu tố tôi thai nghén rồi viết thành tác phẩm không phải là cốt truyện mà là ý truyện. Cho nên tôi ít chú ý đến những câu chuyện ly kỳ gay cấn mà chỉ nắm lấy những ý tưởng ngộ nghĩnh trong những sự kiện …”

“Sau khi bắt gặp ý truyện, tôi mới tạo nên cốt truỵện, rồi gom góp những chi tiết, những địa điểm sống ngoài đời mà tôi cho là thích hợp với nội dung. Nơi nào đã có sẵn trong tâm khảm tôi, thì tôi bắt tiềm thức làm việc, còn những gì cần phải tìm hiểu thì tôi đích thân đến tận nơi nghiên cứu từng chi tiết, chứ tôi không bịa đặt…..”

“Tôi thích viết truyện ngắn, vì nó buộc mình viết câu nào cũng cô đọng và phải tìm tòi những ý tưởng mới mẻ như làm một bài thơ … “

Nhà văn Bình Nguyên Lộc có một bút pháp sắc bén, đôn hậu, quan sát tinh tế với những tình tiết phong phú và rất đặc sắc trong thể loại truyện ngắn. Ông viết nhanh và viết nhiều hơn các nhà văn đương thời

Từ một lời khuyên của nhà văn Nhất Linh

Nhìn đúng địa chỉ, tìm mãi không thấy nút chuông điện, tôi rung chấn song sắt một căn nhà có vẻ uy nghi vững chải trong dãy phố ở một ngõ hẻm mà phía ngoài đầu đường, cạnh rạp hát Cầu Muối rất ồn ào náo nhiệt. Vài phút sau, nhà văn Bình Nguyên Lộc ra mở cửa đón tôi vào với nụ cưới hiền hòa khiêm tốn, mà không thiếu sự niềm nở thân tình.

Sau vài ba câu chào hỏi xã giao, tôi bắt đầu gợi chuyện :

– Ông thường làm việc vào giờ nào trong ngày ?

– Bất cứ lúc nào. Hễ rảnh tay là tôi ngồi vào bàn viết ….

– Ông không cần chờ hứng đến sao ?

Nhà văn Bình Nguyên Lộc cười :

– Trước kia thì như vậy, nhưng từ năm 1952, tôi gặp anh Nhất Linh, lúc ảnh ở Hồng Kông vừa về Sài Gòn. Nhắn tôi đến thăm chơi tại nơi ảnh đang tạm trọ trong ngõ đình Phú Thạnh đường Lê Văn Duyệt (Cách mạng tháng 8 hiện nay). Qua vài câu chuyện hàn huyên, ảnh hỏi tôi lúc này sáng tác có đều tay không. Tôi thành thật trả lời là sao lúc này tôi không có hứng thú sáng tác. Nghe vậy, ảnh khuyên tôi : “Một người cầm bút muốn thành công thì không thể chờ hứng đến mới viết theo những cây bút tài tử. Mà mỗi ngày bắt buộc phải ngồi vào bàn viết, viết ít nhất là ba, bốn trang cho thành nếp. Và rồi hứng thú cũng sẽ đến trong lúc viết. Thạch Lam nhờ vậy mà thành công. Chính tôi cũng phải bắt chước Thạch Lam đấy !“. Nghe lời khuyên chính đáng ấy, tôi về làm theo anh Nhất Linh từ đấy đến giờ.

– Hình như trước kia văn hào André Maurois cũng đã nói như thế phải không ông ?

– Đúng vậy, trước khi nghe anh Nhất Linh nói, tôi đã đọc André Maurois từ lâu nhưng tôi không làm theo. Cho đến khi anh Nhất Linh khuyên, có lẽ do mình kính phục anh ấy mà mình làm theo. Tuy vậy, nói thì dễ mà làm thì khó lắm anh ơi ! Tôi suýt bỏ cuộc mấy lần, nhưng đến nay thì thói quen ấy đã thành nếp. Hôm nào mắc chuyện gì phải bỏ viết, là tôi cảm thấy nhớ tiếc như mất mát một cái gì.

– Có phải nhà văn Nhất Linh là người từng khuyến khích ông viết văn và cũng đã nâng đỡ từ trước ?

– Không phải vậy. Tôi mới gặp và quen anh ấy từ năm 1952, còn tôi đã viết văn từ những năm 1942 kìa. À, có chuyện này cũng lạ nghen anh. Hồi 1942- 1943 nhà thơ Xuân Diệu đang làm việc ở Sở Thương Chánh Mỹ Tho, bấy giờ có nhà thơ Huy Cận thường vào thăm chơi, khi ấy tôi có một người bạn thân trong giới công chức, tuy không viết văn nhưng anh ấy có khiếu thưởng thức văn chương rất tinh tế. Anh giao du mật thiết với Xuân Diệu và Huy Cận, hai nhà thơ này cảm phục trình độ thưởng thức văn thơ của ảnh. Nhờ đó, những tác phẩm của tôi lúc đầu được anh ấy đưa qua hai nhà thơ kia đọc, và sau đó được đăng lên báo, bởi nhờ qua uy tín và ảnh hưởng của hai nhà thơ

– Ông có thích thơ của hai nhà thơ này không ?

– Tôi thích và bái phục cả hai vị, nhưng tính chất sôi nổi trong thơ Xuân Diệu ít hợp với tạng của tôi. Còn thơ Huy Cận thì, tôi có thể nói là từng câu từng chữ thấm sâu vào tận đáy lòng tôi, rồi nhè nhẹ lay động con tim tôi. Nếu so sánh thơ của hai nhà thơ này, tôi xin nói cụ thể một cách dung tục như vầy : thơ Xuân Diệu là những món xào cay nồng hấp dẫn và ngon miệng. Còn thơ Huy Cận tôi nhâm nhi như miếng khô mực nảy giờ anh em mình đang nhai đây , càng nhai, cái hậu ngọt của nó càng thấm sâu, càng đậm đà không sao tả xiết. Thơ Huy Cận thấm đượm hương vị quê hương, ví như canh chua cá kho vậy. Chính anh Nhất Linh cũng có lần nói với tôi rằng thể thơ lục bát của Huy Cận xứng đáng là hậu duệ của Nguyễn Du….

– Xin cho biết những yếu tố khác đã tác động ông viết văn từ lúc đầu ?

– Khá nhiều yếu tố, nhưng hôm nay tôi chỉ nói với anh những điều mà tôi nghĩ đó là yếu tố căn bản thôi nghen !

Hồi nhỏ, tôi có một người thím, bà thường kể chuyện cổ tích cho tôi nghe. Còn người chú tôi thì ưa chơi hòn non bộ và chim cảnh. Đó cũng là những món tôi say mê vô cùng. Nhà tôi lại có hai chị, còn tôi là em trai út. Hai chị đi lấy chồng sớm, nhà còn lại mình tôi . Buồn quá, tôi thường ra ngồi ngắm hòn non bộ rồi nhìn chim nhảy nhót trong lòng mà suy tư vơ vẩn. Lại nữa, khi tôi còn học lớp nhứt (cours supérieur) được gặp hai ông thầy, mỗi ông dạy sáu tháng. Ông nào cũng thích văn chương. Vào giờ ổng dạy môn Luận Pháp văn (Rédaction Francaise), ổng thường đem tiểu thuyết của Alphonse Daudet đọc cho cả lớp nghe, rồi bình giảng những đoạn văn hay, phân tích từng câu từng chữ, làm tôi nghe say sưa đến nỗi khi về nhà còn nghiền ngẫm cả mấy ngày sau đó.

Rồi đến khi tôi xuống học nội trú trường Petrus Ký Sài Gòn thì nỗi buồn nhớ nhà, nhớ làng làm cho tôi càng quay quắt. Chắc anh cũng đã có nghe nói về làng Tân Uyên của tôi chớ ? Một làng quê nằm sát hữu ngạn sông Đồng Nai, nơi đó bờ sông cao, nước dưới sông sâu cuồn cuộn chảy xiết quanh năm. Phía sau làng có đám rừng thưa nằm thoai thoải trên đồi, giữa đồi có ngôi đình nằm trang nghiêm. Sau lưng đồi là con suối nước trong vắt, suốt năm tưới cánh đồng lúa xanh tươi, đem lại nguồn sống cho dân làng tôi. Xa xa phía trước về tay trái là khúc quanh con sông, có đám rừng làm bình phong, và những cánh rừng tiếp nối từ xanh đậm đến xanh lơ bát ngát lẫn vào da trời đẹp như một bức tranh thiên tạo

Nói đến đây, nhà văn Bình Nguyên Lộc nhìn ra phía khung cửa với ánh mắt vời vợi như muốn vượt khỏi bức tường nhà ai đang nằm chắn phía bên kia con hẻm. Rồi giọng nói nhà văn bỗng trở nên xa vắng như chìm vào dĩ vãng :

– Anh thấy đó, quê tôi đẹp như vậy và luôn nằm trong tiềm thức tôi, nên văn tôi bắt nguồn từ những cảnh đẹp của quê hương và cũng bắt nguồn từ lòng nhớ nhung tha thiết của tôi đối với nó, rồi thể hiện ra tác phẩm, chớ không phải vì ái tình hoặc vì yêu đương tác động.

Chuyện tình yêu

– Nhưng từ lứa tuổi hai mươi cho đến khi thành gia thất, ít nhứt ông cũng vương vấn một mối tình nào chớ ?

Giọng nói của nhà văn Bình Nguyên Lộc vốn đã nhỏ, giờ lại nhẹ hơn, có đoạn tiếng nói thoang thoảng như không muôn lay động làn không khí yên lặng của gian phòng, làm cho tôi phải nhìn môi ông mấp máy để phỏng đoán những tiếng nói không sao nghe rõ. Tôi không dám hỏi lại vì sợ làm gián đoạn khúc phim dĩ vãng của ông đang quay. Ông vẫn nói đều đều :

– Xin anh đừng hỏi nơi tôi những mối tình yêu đương thiết tha say đắm, hoặc dang dở bi thương. Không có đâu anh ! Chỉ vì hồi đó tôi quá nhiều tự ái và nhiều mặc cảm, tôi thường rụt rè trước những cánh cửa tình yêu đã lỏng then cài, chỉ cần tôi mạnh dạn hơn, đẩy nhẹ một cái là cánh cửa mở toang cho tôi bước vào. Nhưng, như độc giả đã đọc thấy rải rác trong tác phẩm của tôi, tôi chỉ có những mối tình thoang thoảng nhẹ nhàng đủ ghi lại những kỷ niệm đep mà thôi. Để rồi tôi sẽ đưa cho anh mớ tài liệu về tâm tình của tôi đã ghi chép từ trước. Nhưng xin anh giữ kỹ, chờ khi nào tôi không còn nữa, bấy giờ anh tha hồ viết về tôi….

Kỷ niệm thuở thiếu thời

– Còn hiện nay, ông cũng kể cho tôi ghi vài câu chuyện vui buồn hồi còn học trường Petrus Ký, Sài Gòn chớ ?

Nhà văn Bình Nguyên Lộc ngả lưng vào ghế dựa, nhìn lên trần nhà lim dim mắt một lát rồi bật cười thành tiếng :

– À, hồi tôi học nội trú trường Petrus Ký có chuyện này cũng ngồ ngộ. Mà chỉ tức cười chớ không buồn mà cũng không hẳn là vui đâu nghen anh. Đó là năm tôi mười tám tuổi, bấy giờ tôi đang học năm thứ tư ban trung học. Bỗng nhiên trong mấy ngày liền, tim tôi đập mạnh làm cho ngực đau nhói. Tôi lo sợ, đến phòng khám của bác sĩ riêng trong nhà trường. Sau một hồi đặt ống nghe, bác sĩ bảo không thấy có triệu chứng gì. Tôi khẩn khoản kể lại tỉ mỉ trường hợp tim đập mạnh làm cho ngực tôi đau nhói. Ông vẫn lắc đầu bảo là không có bệnh, rồi đuổi ra. Tôi hoang mang quá đỗi, vì thực tế tim mình vẫn đập mạnh, lồng ngực vẫn nhói từng cơn , sao ông bác sĩ lại bảo là không có bệnh ? Hay là mình đã mang chứng bệnh nan y, ông ta không nỡ nói cho mình biết ? Tôi nghĩ như vậy, và nghĩ tiếp theo, là chắc mình sẽ phải chết !

– Rồi ông hành động ra sao sau khi nghĩ là mình sẽ chết ?

– Chủ nhật hôm sau, tôi đi một mình vào nghĩa trang trong khu vườn Bà Lớn, phía sau rạp hát Long Vân gần Ngã Bảy. Hồi ấy nơi đó còn là một bãi tha ma với cây cỏ um tùm. Tôi tìm một gốc cây, ngồi từ trưa cho tới chạng vạng, khổ sở với chứng bệnh nan y đang ám ảnh trong đầu, ý định của tôi là ngồi chớ nếu có chết thì chết luôn ở gốc cây này. Nhưng ….

– Nhưng sao thưa ông ?

– Nhưng cái chết không thấy đến, mà chỉ có những hình thù quái gỡ trong các lùm cây theo bóng hoàng hôn ngày càng bò đến gần mình. Bản tính tôi vốn nhút nhát và sợ ma, nhìn xung quanh thấy bóng tối ngày càng gần, tôi hoảng hồn vụt đứng dậy chạy một lèo từ bãi tha ma về đến cổng trường.

Rồi nhà văn Bình Nguyên Lộc phá lên cười :

– Có lẽ nhờ chạy toát mồ hôi cho nên từ đó về sau nhịp tim của tôi đập trở lại bình thường.

Rồi nhà văn Bình Nguyên Lộc ngưng cười ngó tôi :

– Anh thấy không ? Bác sĩ bấy giờ thiếu nghiên cứu khoa tâm lý, làm cho học sinh mệt và có thể gây tai hại cho các em đang tuổi dậy thì. Sau này tôi mới biết đó chỉ là trường hợp con bệnh của crise d’adolescence (cơn khủng hoảng tuổi thiếu niên) mà bác sĩ không cắt nghĩa nổi cho học sinh hiểu, suýt nữa đã làm hại tuổi trẻ.

– Có phải vì vậy cho nên Tô Dương Hiệp, người con trai lớn của ông đã học Y, về khoa Tâm lý và đã trở thành Phó giám đốc Dưỡng Trí Viện Biên Hòa hiện nay ?

Nhà văn Bình Nguyên Lộc phì cười, sau đó chợt nhớ ra :

– Ý, anh nhắc tới thằng con tôi, làm tôi nhớ tới câu chuyện hồi nhỏ nó làm cho tôi một phen kinh hoàng. Hồi đó tôi mới cảm thấy tất cả sức mạnh dầu có ràng buộc đến mức nào rốt cuộc cũng phải bất lực trước tinh thần của con người. Cho dù với đứa trẻ mới mười lăm tuổi, như thằng Hiệp con tôi lúc ấy.

– Xin ông cho nghe lại câu chuyện lý thú đó ?

– Sở dĩ tôi viết truyện ngắn Nhốt Gió là do câu chuyện này gợi ý. Hồi đó …. để coi (ông bấm đốt tay) đó là năm 1950, vợ chồng tôi còn ở trên Tân Uyên, gởi nó trọ học nhà bà con ở Sài Gòn. Nó lén tôi đi tham gia vụ trò Ơn, khi vỡ lở, sợ bị tôi rầy nó trốn luôn gần ba tháng sau tôi mới tìm được nó.

– Chắc cậu bé hăng say, trốn ra bưng theo kháng chiến ?

– Đâu có. Nó chỉ quanh quẩn mấy nhà bà con của chúng tôi bên miệt Bà Chiểu. Người ta giấu kỹ nó là vì sợ bọn mật thám tìm bắt, cho nên tôi tìm hết hơi mà cũng không sao thấy được ! Anh nghĩ coi, sự giáo huấn con cái của tôi rất nghiêm, đứa nào đi vắng vài tiếng đồng hồ là phải báo trước. Và không được vắng mặt trong những bửa cơm nhà. Cho nên sự bỏ đi của nó làm cho tôi ray rứt và ân hận suốt mấy tháng kiếm tìm. Sau khi tìm được nó về, tôi phải lo thu xếp, mua nhà Sài Gòn để xuống ở gần săn sóc chúng nó. Trong thời gian suy nghĩ chuyện thằng Hiệp bỏ nhà đi, tôi tìm ra một ý :

– Khó mà ràng buộc được tinh thần của con người dù là con mình. Từ ý đó, tôi xây dựng cốt truyện, viết thành truyện ngắn Nhốt Gió.

– Có phải vì kỷ niệm đó, ông thích truyện Nhốt Gió hơn các truyện khác ?

– Tôi không thích truyện nào hơn truyện nào, nhưng tôi thương là thương truyện ngắn Quán Tai Heo, trong tập truyện ngắn Quán Bên Đường

– Sao ông lại dùng từ “thương“ ?

Còn 1 kỳ nữa

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: