Nhạc sĩ DƯƠNG THIỆU TƯỚC

DƯƠNG THIỆU TƯỚC

NHẠC SĨ KHAI PHÁ

DÒNG NHẠC VIỆT

Tên thật Dương Thiệu Tước, sinh ngày 15/5/1915 tại làng Vân Đình, huyện Sơn Lãng, phủ Ứng Hòa, tỉnh Hà Đông. Ngày ông mất 1/8/1995 tại Sài Gòn.

Ông xuất thân trong một gia đình Nho học truyền thống, cháu nội cụ nghè Vân Đình Dương Khuê, nguyên Đốc học Nam Định. Thuở nhỏ ông học ở Hà Nội, những năm 30 ông gia nhập nhóm nghệ sĩ tài tử Myosotis (Hoa lưu ly) gồm Thẩm Oánh, Lê Yên, Doãn Mẫn, Vũ Khánh… Dương Thiệu Tước là người có sáng kiến soạn các nhạc phẩm thuộc loại “bài Tây theo điệu ta”. Phần lớn nhạc của ông lúc đầu đều bằng tiếng Pháp đó là một thể loại đầu tiên ở nước ta và chính nó đã mở ra một hướng mới cho nền tân nhạc Việt Nam.

Những nhạc phẩm như Vầng trăng sáng, Thuyền mơ, Bến xuân xanh, Dưới nắng hồng… của ông khi ra mắt được mọi người tiếp đón thưởng ngoạn nồng nhiệt, tạo cho nét nhạc dân tộc bay bổng trên nền nhạc hiện đại.

Những năm chiến tranh Việt Pháp và hòa bình được tái lập (1954), nhạc sĩ Dương Thiệu Tước vẫn sáng tác đều tay, có lúc ông dạy ở Trường Quốc gia âm nhạc Sài Gòn.

Tác phẩm của Dương Thiệu Tước sẽ sống mãi với lịch sử âm nhạc Việt Nam, vì nhạc ông “là loại nhạc tình tứ, nhưng rất sang trọng. Đó là những ca khúc tình ái, thốt lên từ con tim nhạy cảm của một nhạc sĩ từng trải”.

Một số sáng tác của nhạc sĩ Dương Thiệu Tước : Áng mây chiều, Bạn cùng tôi, Bến Hàn Giang, Bến Xuân Xanh, Bóng chiều xưa (với Minh Trang), Buồn xa vắng (với Minh Trang), Cánh bằng lướt gió, Chiều (thơ Hồ Dzếnh), Đêm ngắn tình dài, Đêm tàn bến Ngự, Dưới nắng hồng, Dưới trăng, Giáng xuân, Hội hoa đăng, Hờn sóng gió, Khúc nhạc dưới trăng (với Minh Trang), Kiếp hoa, Mơ tiên, Ngọc Lan, Nhớ cánh uyên bay, Ôi quê xưa (với Minh Trang), Ơn nghĩa sinh thành, Phút say hương, Sóng lòng, Thuyền mơ, Tiếng xưa, Tình anh, Trời xanh thẳm, Ước hẹn chiều thu, Uống nước nhớ nguồn (với Hùng Lân), Vầng trăng sáng, Vui xuân (với Minh Trang)…

Những sáng tác của nhạc sĩ Dương Thiệu Tước được đánh giá là những ca khúc trữ tình thời nhạc tiền chiến, và ông được coi là một trong những nhạc sĩ tiền phong của nền tân nhạc Việt Nam. Mặc dù theo học nhạc Tây, nhưng nhạc của ông vẫn thắm đượm hồn dân tộc. Trong một ấn phẩm viết tay, ông ngỏ ý : “Theo tôi tân nhạc Việt Nam phải thể hiện rõ cá tính Việt Nam. Để đạt được điều này, người sáng tác phải hiểu rõ nhạc Việt qua cách học nhạc cụ cổ truyền cũng như hát được các điệu hát cổ truyền“.

Nhạc sĩ Dương Thiệu tước vào Nam sinh sống từ năm 1954. Tại Sài Gòn ông làm chủ sự phòng văn nghệ tại Đài phát thanh Sài Gòn đồng thời được mời làm giáo sư dạy đàn Lục huyền cầm/Tây Ban Cầm tại trường Quốc Gia Âm Nhạc. Sau ngày 30/4/1975, nhạc của ông bị cấm đoán và ông cũng bị mất chỗ dạy học tại trường Quốc Gia Âm Nhạc.

Vợ chính thất cũng là vợ đầu của ông là bà Lương Thị Thuần, hiện con cái đang sống tại Đức và Hoa Kỳ. Vợ sau của ông là Minh Trang, một ca sĩ nổi tiếng của thập niên 1950. Đầu thập niên 1980 ông về sống với bà Nguyễn Thị Nga tại quận Bình Thạnh và được bà chăm lo cho tuổi về chiều.

NS PHẠM DUY VIẾT VỀ DƯƠNG THIỆU TƯỚC

…Dương Thiệu Tước mới thật sự là người có nhiều sáng kiến trong thời gian khởi sự xây dựng một nền âm nhạc mới mẻ này. Ngay từ khi mọi người còn phải vay mượn nhạc điệu tây phương để soạn lời ca tiếng việt và gọi nó là ”bài ta theo điệu tây” thì ông lại soạn những bài mà tôi dám gọi là ”bài Tây theo điệu Ta”.

Trước cái gọi là “biến cố tháng ba 1938” gây ra bởi Nguyễn Văn Tuyên, Dương Thiệu Tước đã là người đánh đàn guitare hawaienne rất giỏi, chủ nhân của một cửa tiệm bán đàn ở phố Hàng Gai, Hà Nội và có mở cả lớp dạy đàn nữa. Trong sinh hoạt hằng tuần với các bạn nhạc sĩ tài tử của mình, ông đã sáng tác mấy bài mang những đầu đề bằng tiếng Pháp, như Joie d’aimer (Thú Yêu Ðương), Souvenance (Hồi Niệm), Ton Doux Sourire (Nụ Cười Êm Ái Của Em)… Lời ca của những bài này là do Thẩm Bích (anh ruột của Thẩm Oánh) soạn, dĩ nhiên là bằng Pháp ngữ.

Có lẽ vì ông tự coi như đã nắm được nhạc pháp soạn nhạc Tây Phương, cho nên ông đã tuyên bố, khi được phỏng vấn về cách soạn nhạc Việt Nam :

– “Nếu đã có nhà văn Việt Nam viết văn bằng tiếng Pháp, thì nhà soạn nhạc Việt Nam cũng có thể viết được những bản nhạc có âm điệu Tây Phương” (báo Việt Nhạc số 5, ngày 16 tháng 10, 1948). Do đó, ngay trong năm 1938, ông đã cho in ra những ca khúc như Tâm Hồn Anh Tìm Em, Một Ngày Mà Thôi, Bên Cây Lục Huyền Cầm, Dập Dìu Ong Bướm…

Bây giờ, nghĩa là trên nửa thế kỷ sau khi Tân Nhạc thành hình, trong hoàn cảnh ở xa đất nước và rất thiếu thốn tài liệu, tôi cũng cố gắng sưu tập những bản nhạc đầu tay của Dương Thiệu Tước để nghiên cứu những ca khúc đầu tiên của Tân Nhạc. Và tôi khám phá ra rằng : Tuy nhạc sĩ họ Dương không câu nệ trong việc soạn ca khúc Việt Nam với âm giai Tây Phương, nhưng trong những ca khúc tuyệt vời mà ông viết trong thời kỳ thử thách của nhạc cải cách, đa số các nét nhạc đều là nhạc ngũ cung Việt Nam. Ví dụ bài Tâm Hồn Anh Tìm Em mà hồi đó ai cũng đều biết :

Tâm hồn anh tìm em / Theo lần sang lầu Thúy / Dưới trăng ngà sao huyền / Lòng anh giá băng / Trong bóng sương mờ…

Rõ ràng nét nhạc của đoạn này nằm trong ngũ cung Sol La Do Ré Mi (thuần túy). Dương Thiệu Tước thật tình muốn dùng nhạc pháp Tây Phương để soạn nhạc Việt mới, nhưng ông bị nhạc ngũ cung Việt Nam trói ông lại. Sau này, trong một nhạc phẩm bất hủ của ông là bài Trời Xanh Thẳm, chỉ có đoạn sau là được soạn theo âm giai thất cung Tây Phương, đoạn đầu hoàn toàn là nhạc ngũ cung Việt Nam thuần túy :

Còn đâu như lúc xưa / Ngày đôi chúng ta còn thơ / So phím tơ bên thềm / Anh hoà theo lời em / Ngàn lời ca êm ái / Khiến anh đắm say hoài / Và giờ đây em thấy / Muôn ngàn lời không phai / Còn đâu như lúc xưa / Ngày đôi chúng ta còn thơ / Anh nắn cung đàn / Còn em thì biệt tăm…

Không còn nghi ngờ gì nữa, hai nhạc sĩ tiền phong trong phong trào Âm Nhạc Cải Cách là Thẩm Oánh, Dương Thiệu Tước đều dung hòa cả hai âm giai ngũ cung Á đông và âm giai thất cung Tây phương. Bởi vì họ đều có học thức trong cả hai loại nhạc cổ truyền Việt Nam và nhạc cổ điển tây phương cho nên khi họ sáng tác thì nét nhạc mà họ học được từ lâu, đã tự nhiên tuôn ra từ tâm thức. Qua bài Trời Xanh Thẳm, tôi thấy trong tiến trình thất cung, giai điệu Dương Thiệu Tước có nét nhạc đẹp hơn Thẩm Oánh, vì không còn là nét nhạc “âm chuỗi” (arpège) nữa. Ðoạn đầu của bài Trời Xanh Thẳm là ba mệnh đề nhạc ngũ cung, mô phỏng (imitation) nhau để tạo cho ta một không khí xa xưa, khi chúng ta còn thơ, anh so phím, nắn cung đàn để dâng ngàn lời ca êm ái, rồi thì… em biệt tăm ! Ðoạn sau là nhạc dùng âm giai thất cung, giai điệu hơi giống nét nhạc của Chopin hay Schumann, kéo ta về ngày hôm nay, cũng vẫn còn buồn bã như ngày hôm xưa :

Hôm nay Ðông đã trôi qua / Hôm nay Xuân đến với hoa / Thấy nắng Xuân êm đềm / Mà chẳng thấy em tìm đến

Bên sông anh đứng trông trời / Bao la mây xanh tuyệt vời  / Nắn nót mấy cung đàn / Lòng thấy như nát tan…

Ðoạn này có những chuyển cung (modulation) khá cổ điển, rất hợp lý, rất quyến rũ vì nét nhạc không có những “quãng” (intervalles) quá xa, quá trúc trắc mà là những nét nhạc có bán cung mềm dịu. Cấu phong của ca khúc cũng rất là cổ điển : từ đoạn A qua B, rồi kết thúc bằng A…

Bài Trời Xanh Thẳm sẽ còn được hát mãi trong những thập niên sau vì nó đã là bản nhạc tình, nghiêng nhiều về “nhạc tình đôi lứa”, không còn là thứ nhạc tình chỉ có ”than mây khóc gió” mà thôi. Ðặc biệt hơn nữa, nhạc tình của Dương Thiệu Tước luôn luôn là mối tình của những nhạc sĩ, của nghệ sĩ. Có ”so phím tơ, có nắn cung đàn” và sau này cũng vẫn có ”tơ chùng phím loan” trong một bản nhạc tuyệt vời của ông là bản Ngọc Lan. Nhạc Dương Thiệu Tước, theo tôi, là loại nhạc tình tứ, nhưng cũng rất sang trọng. Ðó là những ca khúc tình ái thốt lên từ con tim của một nghệ sĩ dòng dõi nhà quan.

Tưởng cũng nên ghi lại ở đây một ca khúc nữa của ông cũng dùng hai ngũ cung Do Re Fa Sol La và Sol La Do Re Mi, bài Vừng Trăng Sáng mà nhiều ca sĩ đã hát trong những năm 44-45. Giống như những tác phẩm của Thẩm Oánh, Dzoãn Mẫn hay Văn Chung, bài này cũng vẫn nói đến chuyện yêu nhau bên hồ, dưới trăng, trong chiều thu :

Kìa vừng trăng sáng / Chiếu in trên hồ / Dưới làn trăng nước / Sóng lan nhấp nhô / Mặt hồ rung rinh / Dưới khung trời tím / Có anh cùng em / Chúng ta vui hoà / Trong một chiều thu / Ðắm say dưới trăng…

Nhóm MYOSOTIS (Hoa Lưu Ly) qui tụ được nhiều nhạc sĩ nhưng về mặt sáng tác thì trong bốn năm đầu, từ 1938 cho tới 1942 là lúc Tân Nhạc đã có thêm một xu hướng mới – xu hướng nhạc hùng – chỉ có hai người đầu đàn là Dương Thiệu Tước và Thẩm Oánh là có nhiều sáng tác, bài nào cũng buồn man mác (không trữ tình thì cũng lãng mạn) và đều có giá trị, không những là giá trị khai phá mà còn phải được coi như đã hoàn mỹ và sẽ phải bất tử.

Nhưng sở dĩ nhạc của hai ông Thẩm Oánh, Dương Thiệu Tước (cũng như của các nhạc sĩ trẻ trong nhóm TRICEA mà tôi sẽ đả động tới – trong những chương sau) được mọi người biết tới trong giai đoạn đầu này, đó cũng là nhờ ở sự tích cực của một người, tuy không có nhiều sáng tác nhưng đã có công kết hợp các nhóm để tổ chức các buổi trình diễn nhạc mới. Ðó là nhạc sĩ Lê Ngọc Huỳnh, tác giả bản Trên Ðường Hưng Quốc, vốn là người anh của quân nhạc trưởng tương lai Lê Như Khôi. Lúc Tân nhạc mới ra đời, chưa có những giọng ca lớn để truyền bá bài bản mới, sự phổ biến dựa vào việc ấn hành các bản nhạc hoặc dựa vào các buổi trình diễn của những ban nhạc tài tử trong đó, ban nhạc Orchestre Amateur do Lê Ngọc Huỳnh kết hợp một số đông các nhạc sĩ trong nhóm để thành lập, là ban nhạc quan trọng nhất.

Trong những năm đầu của Tân Nhạc, tác phẩm của nhóm MYOSOTIS rất là nhiều, nhưng không lưu truyền cho tới về sau, trừ một số bài nào đó, ngẫu nhiên được một giọng ca lớn nào đó, ví dụ giọng Thái Thanh hay Kim Tước, hát lại trong những thập niên sau. Ðó cũng là một điều đáng tiếc, vì xét ra những bản nhạc đầu mùa của hai vị tiền phong Dương Thiệu Tước, Thẩm Oánh… có một hương vị rất trinh trắng, phản ảnh một thời rất êm ả của chúng ta, trước khi những cơn cuồng phong kéo tới, liên tiếp trong bốn, năm chục năm trời. Nếu cần phải biết rõ hơn về tác giả để hiểu biết và yêu mến tác phẩm hơn, tôi thấy trong hai vị sáng lập ra nhóm MYOSOTIS, Thẩm Oánh đã đạo mạo thì sẽ đạo mạo suốt đời, còn Dương Thiệu Tước thì có một đời tình khá chuyển động.

Sau 1975, với tuổi hạc đã khá cao, ông còn kết duyên với một thiếu nữ rất trẻ và ”lão bạn” này vẫn ”sinh châu” như thường. Mới hay, nhạc sĩ là hạng người thuộc nòi tình… cho tới hơi thở cuối cùng.

Quay về với sự tìm hiểu trong giai đoạn thành lập của Tân Nhạc này, ta thấy sau một thời gian ngắn, nhóm MYOSOTIS không còn là một nhóm thuần nhất nữa. Các thành viên chia tay nhau, mỗi người đi theo hành trình riêng của mình. Nếu như sau này Thẩm Oánh còn sáng tác thêm những bài mới thuộc nhiều loại khác nhau, thì Dương Thiệu Tước ít khi chịu rời khỏi lĩnh vực nhạc tình tứ và cao sang đặc biệt của ông. Về sau, khi nhạc dân ca được coi như phản ảnh đúng tâm hồn của dân tộc, Dương Thiệu Tước quay hẳn về nhạc ngũ cung để cống hiến cho ta những bài hát bất hủ như Tiếng Xưa, Ðêm Tàn Bến Ngự … Rồi cũng trong ý muốn dung hoà cả hai hệ thống âm nhạc Việt Âu, tại mấy Ðài Phát Thanh ở Saigon, ông chủ trương hình thức ”cổ kim hoà điệu” nghĩa là hoà tấu những bản nhạc mới với đàn tranh Việt Nam cùng hoà điệu với giàn nhạc Tây Phương.

Từ 1946 cho tới 1953, nhạc phẩm của Dương Thiệu Tước được xuất bản rất mạnh mẽ vì quanh ông không có ai là địch thủ cả. Hầu hết các nhạc sĩ trẻ và có tài đã rời bỏ thành thị đi kháng chiến… Dương Thiệu Tước và một số nhạc sĩ khác như Ðoàn Chuẩn, Từ Linh ở lại Hà Nội và soạn ra khá nhiều bản nhạc tình. Rồi ông vào Saigon làm việc tại các Ðài Phát Thanh Pháp Á, Ðài Phát Thanh Quốc Gia rồi làm giáo sư dạy nhạc tại Nhạc Viện Saigon cho tới khi ông mất vào năm 1996, khi ông 83 tuổi.

(Trích từ Biên Khảo : Nhạc Sử Việt Nam – Phạm Duy)

QUẾ PHƯỢNG tổng hợp

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: