NS BẢO THU – HS LÊ MINH

BẢO THU

TỪ ẢO THUẬT GIA

THÀNH NHẠC SĨ

Ông là nhạc sĩ của những ca khúc quen thuộc với đông đảo quần chúng từ trước năm 1975 như “Ước vọng tương phùng”, “Giọng ca dĩ vãng”, “Đừng hỏi vì sao tôi buồn”. Ngoài ra, ông còn nổi tiếng là ảo thuật gia có tài. Dưới đây là tâm sự của ông.

- Tại sao từ ảo thuật gia Nguyễn Khuyến, ông lại trở thành nhạc sĩ Bảo Thu ?

- Con người tôi khá ôm đồm. Ngoài ảo thuật, tôi còn sáng tác nhạc, biên tập, dàn dựng, đạo diễn nhiều chương trình và phim video ca nhạc. Thậm chí cả lĩnh vực múa, kịch rối tôi cũng đã học ở Hà Lan năm 1971. Riêng âm nhạc, 8 tuổi tôi đã học đàn mandoline, 15 tuổi học guitar. Thấy một thằng Sơn Đông mãi võ nghèo xác xơ nhưng chú tâm học hỏi, thầy thương, miễn học phí rồi cho cả cây đàn. Năm 20 tuổi, tôi viết bản nhạc đầu tiên Ước vọng tương phùng, năm sau ra ấn phẩm đầu tiên là Đừng hỏi vì sao tôi buồn.

- Anh có thể nói về hoàn cảnh ra đời ca khúc “Giọng ca dĩ vãng” ?

- Dạo đó, cô ấy sinh hoạt trong Ban văn nghệ thiếu nhi của nhạc sĩ Nguyễn Đức. Tôi thỉnh thoảng cũng đến tham gia sinh hoạt và phụ thầy Đức dạy nhạc cho nhóm. Rồi vì nhà ở gần nhau nên tôi thường đến nhà cô ấy dạy nhạc thêm. Tình cảm giữa hai đứa nảy sinh, nhưng chưa đi đến đâu thì cô ấy cho hay là gia đình đã đính hôn cho cô từ trước. Tôi bị sốc, bèn viết : “Ngày xưa, mỗi lần em buông tiếng hát, thì anh tay phím nắn nót cung đàn. Từng nhịp nhặt khoan anh ru hồn theo tiếng tơ, nhẹ dìu lời ca em thăng trầm theo từng lúc… Cung lỡ dây chùng, mấy ai đàn đừng sai”. Sau khi chia tay, chỉ 1-2 năm sau cô ấy trở thành ca sĩ nổi tiếng. Dẫu vậy, đến năm 1970 vẫn chưa thấy cô ấy lấy chồng.

- Thế còn bà xã anh hiện nay ?

- Cô ấy là ca sĩ Thanh Tâm. Thanh Tâm cũng là học trò của tôi trong những năm 1969-1970, nhưng đến năm 1973 thì trò hết hát, thầy hết dạy vì phải cùng… chuẩn bị cho đứa con đầu lòng.

- Công việc hiện nay của anh như thế nào ?

- Sản xuất, thực hiện các chương trình video cải lương. Đạo diễn các video clip ca nhạc… Bận rộn lắm. Tôi vừa đi vào vùng rốn lũ ở Tân Hồng, Đồng Tháp để làm phim ca nhạc.

Từ “tiếng hát học trò” đến Giọng ca dĩ vãng

Tôi gặp nhạc sĩ Bảo Thu vào một sáng trung tuần tháng 10/2011 ở hành lang Bích Câu trong Cung văn hóa Lao động. Lúc này, anh đang “cuốn gói” sau thời gian trưng bày gian hàng bán dụng cụ ảo thuật từ một hội chợ diễn ra ở đây.

Vậy là anh gắn bó với “nghiệp” ảo thuật đến gần 60 năm rồi. Bảo Thu kể năm 16 tuổi (1960), anh nổi tiếng trong làng ảo thuật với nghệ danh Nguyễn Khuyến (anh tên thật là Nguyễn Trung Khuyến). Chơi chung với anh là Tùng Phương – một nghệ sĩ đàn guitar, dạo mới 11 tuổi đã nổi tiếng là “thần đồng độc tấu Tây ban cầm”. Những lúc ngồi đợi đến lượt diễn, anh thường “nghịch ngợm” với đám nhạc cụ (trống, guitar…). Tiếng là nghịch nhưng thực ra anh đã chơi được mandolin và học nhạc lý căn bản từ hồi 8 tuổi, lại “học lóm” của Tùng Phương vài chiêu nên cũng không quá khó để xử lý mấy món “đồ chơi” này.

Thấy Khuyến có năng khiếu, nhạc sĩ Lâm Tuyền tỏ ý muốn dạy nhạc miễn phí cho cậu. Khuyến muốn học nhưng lại không có đàn, vậy là ông thầy bao luôn cây đàn cho học trò. Chẳng mấy chốc, Khuyến trở thành một nhạc công chuyên nghiệp, có thể “trám” vào bất cứ vị trí nào trong ban nhạc (guitar, trống, bass…). Hành trình âm nhạc của chàng trai sau này trở thành nhạc sĩ Bảo Thu bắt đầu từ đó.

Dạo ấy (khoảng 1965), ở Sài Gòn có nhiều nhạc sĩ mở lò đào tạo ca sĩ (nếu gọi là “trung tâm” thì lớn quá, gọi là “lớp” cũng không đúng, cho nên gọi “lò” là chính xác nhất). Với ban Việt Nhi, cả khi thu âm ở đài phát thanh hay tập dượt ở nhà riêng của nhạc sĩ Nguyễn Đức, hễ thiếu nhạc công là nhạc sĩ gọi Nguyễn Khuyến đến. Ban Việt Nhi gồm toàn những cô gái tuổi dậy thì (khoảng 14, 15 tuổi), hát rất hay và mắt liếc sắc như dao.

Có một cặp mắt trong ban Việt Nhi làm Nguyễn Khuyến xuyến xao. Nàng tên T., nhỏ hơn Khuyến 5 tuổi, dáng người thanh mảnh với đôi mắt to, long lanh. Mái tóc của T. luôn uốn cong cong như một vầng trăng khuyết, che lấp một phần má (sau này Khuyến mới biết, kiểu tóc đặc biệt này là để che một vết sẹo mà tạo hóa đã chơi “khăm” để lại trên má nàng)… Khi đã thân thiết, Khuyến mới biết nhà T. ở đường Tôn Đản (Q.4), gần nhà mình. Vậy là ngoài những buổi tập hát ở nhà thầy Nguyễn Đức, đôi bạn còn có dịp cận kề ở nhà của T. để “… Mỗi lần em buông tiếng hát, thì anh tay phím nắn nót cung đàn. Từng nhịp nhặt khoan anh khẽ dìu theo tiếng em. Nhẹ dìu lời ca em thăng trầm theo từng lúc. Và rồi hờn yêu trong mỗi lần em hát sai. Em nũng nịu cười, nói : “Sai là tại anh !” (Giọng ca dĩ vãng).

Bảo Thu tâm sự : “Tôi trở thành nhạc sĩ chính là do T. tạo niềm cảm hứng. Tôi nhớ mãi một hôm nàng chợt bảo tôi : “Có khi nào anh hình dung rằng có một người con gái ngồi bên song cửa mơ màng và chợt nhớ đến anh”. Câu nói ấy cứ ám ảnh tôi mãi, và từ ý này tôi ôm đàn viết nhạc, đó là ca khúc đầu tay “Ước vọng tương phùng” ký bằng tên thật. Tưởng viết nhạc chơi cho vui, ai dè Ước vọng tương phùng được giải thưởng của đài phát thanh. Có hứng, tôi viết tiếp vài ca khúc nữa nhưng thú thực là không thành công. Lại một hôm, T. hỏi tôi : “Anh đã nghĩ đến chuyện lập gia đình chưa ?”. Tôi trả lời mình còn nhỏ tuổi, lại chưa có công danh sự nghiệp gì nên cũng chưa nghĩ đến chuyện vợ con (lúc đó tôi mới 21 tuổi, còn T. 16). Chợt T. nói nhỏ cho tôi biết là gia đình em đã hứa hôn cho em với một người. Tôi biết nàng ngầm gợi một điều gì đó ở tôi nhưng tôi chẳng biết phải làm sao hơn ngoài sự hụt hẫng, buồn đến nao lòng… Thế là tôi viết : “Ngày nào mình chưa quen biết, ngỡ ngàng khi đứng bên nhau. Ngày nay đã mến nhau rồi, vẫn còn nhìn nhau không nói… Lần đầu gặp anh em hứa, chúng mình sẽ mãi bên nhau. Giờ đây đôi ngả chia lìa. Chớ hỏi vì sao tôi buồn…” (Đừng hỏi vì sao tôi buồn). Lần này tôi ký tên Bảo Thu. Nghệ danh này là do tôi “mượn” từ tên những cô bạn gái : Bích Bảo, Thanh Thu (Đà Lạt) và Xuân Thu (Sài Gòn)…”.

Rồi cũng đến lúc T. tách khỏi ban Việt Nhi để hát đơn ca. Nàng hay mặc áo dài trắng hát trên sân khấu nên được khán giả và giới báo chí thời đó mệnh danh là “Tiếng hát học trò”. Từ danh xưng này, Bảo Thu lại viết ca khúc Tôi yêu tiếng hát học trò để bày tỏ nỗi lòng. T. thừa biết tình cảm của Thu dành cho nàng. Tuy nhiên, với cốt cách gia giáo, T. vẫn giữ một khoảng cách chừng mực khi tiếp xúc với Thu.

Khoảng 3 năm sau, bạn bè trong giới văn nghệ kháo nhau “T. sắp lấy chồng”. Để tránh cho nàng khó xử, Thu không đến tập hát cho nàng nữa. Trong những cơn buồn thấm thía, ông viết Giọng ca dĩ vãng : “Nhưng em nuôi mộng ước về tương lai, hoa mai giăng ngập nẻo đường em đi. Rồi em đành chối tiếng giao hòa, từ ly là tiếng thét đau lòng, sầu đưa lối… Lời ca ngày ấy đã xa rồi, mà ai còn chuốt mãi cung đàn, vọng về tim…”. Bài hát do Bảo Thu tự xuất bản (1967), bìa do một họa sĩ vẽ với người mẫu là ca sĩ Kim Loan. Lúc này hãng đĩa Sơn Ca của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông mới thành lập và lần đầu tiên ca sĩ Giao Linh được mời thu đĩa, Giao Linh đã chọn bài Giọng ca dĩ vãng. Trước Giao Linh cũng có nhiều ca sĩ hát Giọng ca dĩ vãng, trong đó có cả T. nhưng phải nói chính Giao Linh đã đẩy Giọng ca dĩ vãng lên đỉnh. Số lượng in ra lên đến 500.000 bản, mỗi bản bán 20 đồng. Tính ra trên 1.000 lượng vàng thu được từ tiền bán ấn phẩm ca khúc này. Sau đó, Bảo Thu viết tiếp ca khúc Vọng về tim nhưng không thành công cho lắm.

Nhạc sĩ Bảo Thu nhớ lại : “Sau năm 1975, tôi chưa một lần gặp lại T., nghe nói gia đình T. đã định cư ở Mỹ. Vừa rồi tháng 7/2011, Trung tâm Thúy Nga Paris có đến phỏng vấn tôi tại nhà, hỏi về trường hợp tôi viết ca khúc Giọng ca dĩ vãng. Tôi bảo chuyện này rất tế nhị, bởi tôi nói ra biết đâu lại gây tổn thương cho T. cũng như phương hại đến hạnh phúc gia đình T. Họ cho tôi biết chồng của T. đã qua đời. Tôi lại thấy hụt hẫng… Không hiểu sao, mỗi khi hát Giọng ca dĩ vãng, đến câu cuối “Cung lỡ dây chùng, mấy ai đàn đừng sai”, tôi lại thấy có một cái gì đó xót xa cho những cặp tình nhân đã từng một thời quấn quýt nay phải rời xa”. (theo Hà Đình Nguyên)

ẢO THUẬT VIỆT VỀ ĐÂU ?

Muốn gắn bó với ảo thuật, người làm nghề phải tự thân vận động khi Việt Nam chưa có trường lớp đào tạo chính quy, không có nơi biểu diễn ổn định. Hệ quả là sự nghèo nàn trong biểu diễn, tiết mục chắp vá, sao chép của nhau khiến bộ mặt ảo thuật Việt chưa rõ hình dạng.

Thiếu “sân chơi” đúng nghĩa

Họ đã sống tạm bợ nhờ diễn trong các chương trình “đại nhạc hội”, nhà hàng, quán bar, thậm chí các quán nhậu vỉa hè

Đến xem chương trình Gala ảo thuật 2012 được tổ chức tại Rạp Xiếc ở Công viên 23/9 ở Sài Gòn, nhiều khán giả đã xúc động trước lòng yêu nghề của các ảo thuật gia. Qua 4 suất diễn dưới sự hỗ trợ hết mình của Đoàn Xiếc, cuộc hội ngộ của các nghệ sĩ ảo thuật nổi tiếng là hội viên Hội Ảo thuật gia quốc tế – IBM (Intenational Brotherhood Magicians) đang hoạt động tại Sài Gòn và các tỉnh, thành trong cả nước đã được công chúng đón nhận. Dù lượng vé bán không nhiều nhưng đây là dịp hiếm hoi để các ảo thuật gia gắn bó với nghề quy tụ trên một sàn diễn.

Lên tiếng sau 14 năm

Với họ, dù gala này chưa phải là sân chơi đúng nghĩa để giới thiệu sự phát triển không ngừng của ảo thuật Việt nhưng “có còn hơn không, khi ảo thuật Việt im hơi, lặng tiếng suốt 14 năm qua” – nhà ảo thuật David Hùng bùi ngùi.

Còn với nhà ảo thuật Nguyễn Khuyến (nhạc sĩ Bảo Thu, thành viên Hội đồng Giám khảo Liên hoan Ảo thuật toàn quốc lần 1 năm 2008), người cố vấn chương trình Gala ảo thuật 2012, cho biết : “Nhiều năm rồi, gần 60 nhà ảo thuật Việt có tên tuổi tại Việt Nam và được IBM công nhận mới có dịp tái ngộ khán giả Sài Gòn. Họ đã sống tạm bợ nhờ diễn trong các chương trình “đại nhạc hội”, nhà hàng, quán bar thậm chí diễn ở quán nhậu vỉa hè, khi ảo thuật còn bị xem là tiết mục phụ, chỉ để lấp khoảng trống cho các ca sĩ ngôi sao trong các chương trình văn nghệ. Những ai yêu nghề ảo thuật đều không khỏi chạnh lòng vì họ chưa có sân chơi đúng nghĩa để cống hiến hết tài năng của mình”.

Vào bên trong hậu trường Gala ảo thuật 2012 mới chứng kiến những hình ảnh xúc động của các ảo thuật gia. Ông bầu Duy Ngọc – người từng tổ chức nhiều chương trình ảo thuật xuyên Việt – nhạc sĩ Bảo Thu, nghệ sĩ Tòng Sơn đã nhiều năm rồi mới gặp lại các học trò, đàn em mà tuổi đời cũng đã ngoài 50. Và  từ sau Liên hoan Ảo thuật toàn quốc lần 1-2008 tổ chức tại Hà Nội, đến nay họ mới có điều kiện gặp gỡ, thăm hỏi và trao đổi kinh nghiệm. Trong niềm vui mừng, có cả những giọt nước mắt ngậm ngùi, luyến tiếc. Bởi đã qua rồi cái thời ảo thuật được xem là tiết mục “đinh” của các đêm diễn.

Với họ, 8 suất diễn tại Sài Gòn (từ ngày 11 đến 20/5/2008 sẽ là bước đệm nhằm chuẩn bị tiến tới Liên hoan Ảo thuật toàn quốc lần 2 – 2012 do Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch tổ chức vào tháng 12/2012 tại thủ đô Hà Nội. “Tuy nhiên, điều chúng tôi cần chính là một sân chơi đúng nghĩa để anh em nghệ sĩ ảo thuật có nơi sinh hoạt, làm nghề, thi thố tài năng trước khi nói đến tranh tài tại liên hoan cấp quốc gia” – nhà ảo thuật Taylor (Nhà hát Ca múa nhạc Biển Xanh – Bình Thuận) nói.

Vẫn làm những trò vặt

Tham gia gala lần này, sự có mặt của các ảo thuật gia: Kao Long, Hoàng Lang, David Hùng, Taylor, Thu Huyền, Ngọc Ánh… đã có những tiết mục biểu diễn cuốn hút người xem. Họ đều đã trải qua ít nhất 10 năm trong nghề, nên 2/3 tiết mục họ giới thiệu trong gala này là những tiết mục tự sáng chế, có tính độc đáo và tạo ấn tượng, như: người chui vào thùng đâm kiếm; nhiều thiếu nữ xuất hiện trong một chiếc tủ nhỏ; vải biến thành ô đủ màu sắc…

Thế nhưng, qua đôi mắt nhà nghề của ảo thuật gia Nguyễn Khuyến : “Tất cả đều là những trò cũ, được cấu trúc lại, thêm vài tiểu tiết để trình diễn. Vì lâu nay không có sân chơi chuyên nghiệp, anh em đều phải kiếm sống khắp nơi nên không thể đòi hỏi họ sáng tạo những tiết mục lớn do tiền đầu tư quá cao, lại không thể vận chuyển cơ động”.

Ảo thuật Việt từ thập niên 70 thế kỷ trước đã có những tên tuổi lừng lẫy, tạo được dấu ấn đối với khán giả trong và ngoài nước : Nguyễn Thành Long, Nguyễn Khuyến, Tony Quang, Nguyễn Đức Trường (tức Z27), Nguyễn Kim, Thanh Trúc, Ngọc Phước, Hoàng Biếu, Anh em Lê Hảo Tâm – Mạc Can (anh trai nghệ sĩ hài Mạc Can)… Nhưng đến nay, khi thế hệ vàng của ảo thuật sắp lui vào dĩ vãng, vẫn chưa có thế hệ tiếp nối và viễn cảnh của bộ môn nghệ thuật giải trí này xem ra còn quá mịt mờ.

Vài hàng tiểu sử

Nhạc sĩ Bảo Thu tên thật là Nguyễn Trung Khuyến, SN 1944 tại Sài Gòn (gốc Cần Thơ). Ông còn có những tác phẩm nổi tiếng khác như : Cho tôi được một lần, Đừng hỏi vì sao tôi buồn, Nếu xuân này vắng anh, Hoa sầu đông, Vọng cố nhân, Một lời cho em…

Ngoài sáng tác nhạc, ông còn là nhà ảo thuật nổi tiếng : Giáo sư đại biểu ảo thuật (1964), giám khảo Liên hoan Ảo thuật phía Nam  tại Sài Gòn(1977), giám khảo Liên hoan Ảo thuật toàn quốc – Hà Nội (2008), hội viên Hội Nghệ sĩ Ảo thuật Pháp, hội viên Liên đoàn Nghệ sĩ Ảo thuật quốc tế… Nhạc sĩ Bảo Thu hiện là Giám đốc Công ty văn hóa – văn nghệ ca và hát (Tôn Thất Thuyết, P15, Q4).

Mời nghe ca khúc “Giọng ca dĩ vãng” qua giọng ca của :

Chế Linh : http://youtu.be/54B6aY7Fy3I

Giao Linh : http://youtu.be/hDR-YJ83uaI

Vĩnh biệt nhà ảo thuật “gạo cội”

Sự ra đi 24/3/2012 đầy thương tâm của nhà ảo thuật Tony Quang – Chủ nhiệm Chi hội Xiếc, Ảo thuật Hội Sân khấu ở Sài Gòn – do bệnh ung thư ngay khi gala ảo thuật tại Sài Gòn đang diễn ra đã khiến hầu hết anh em ảo thuật gia đau buồn. Một tên tuổi lớn của làng ảo thuật Việt Nam lừng lẫy với nhiều tiết mục được xem là ấn tượng và được đồng nghiệp kính nể đã vĩnh viễn ra đi.

Vào nghề từ dịp ông được gia đình đưa sang Pháp du học khi lên 9 tuổi, do yêu thích nhà ảo thuật Tony Jaccollte, ông đã nuôi mộng trở thành nhà ảo thuật. Năm 1965, khán giả Sài Gòn ngày ấy đã biết đến tên Tony Quang khi ông vượt qua những trò đơn thuần chỉ đòi hỏi sự tinh mắt, khéo tay để tiến dần đến những trò ảo thuật phải đầu tư mà trò cưa cô gái làm ba khúc là một tiết mục trình diễn ấn tượng khẳng định tên tuổi Tony Quang lúc bấy giờ. (Theo Người Lao Động)

Mời xem ảo thuật gia Tony Quang biểu diễn :  http://youtu.be/xAgvfP-WU5Y

Thùy Lan post

NGƯỜI SÀI GÒN

HỌA SĨ LÊ MINH

Lên đời cùng tiểu thuyết Kim Dung

Người Sài Gòn mê truyện chưởng Kim Dung khó mà quên nét vẽ tài tình của ông trên bìa sách. Ông thú nhận nhờ vậy mới có tiền nuôi vợ, nuôi con.

Thế hệ đầu tiên vẽ tranh trên báo

Làng báo Sài Gòn thập niên 1950-1960 gần như rất hiếm họa sĩ vẽ tranh minh họa và tranh vui. Ngoài cây cọ tài danh Lê Trung, người còn lại là họa sĩ Lê Minh, sinh năm 1937, tốt nghiệp Trường Mỹ thuật Gia Định năm 1957. Năm 17 tuổi, ông vừa học vừa vẽ tranh minh họa cho loạt truyện Hoa Lư động chúa đăng trên nhật báo Dân Ta của nhà thơ Nguyễn Vỹ. “Người Sài Gòn thời đó gọi là truyện feuilleton, mỗi ngày ra một kỳ kèm theo tranh minh họa. Ngày xưa tôi phải vẽ trên giấy decal, người làm bản kẽm mới đặt giấy đó trên gỗ rồi dùng dao khắc từng chi tiết, rất kỳ công. Hôm nào tôi vẽ nhiều ô vuông nhỏ là bị mắng mỏ bởi thợ khắc gỗ làm quá khổ”, ông nhớ lại.

Mất cha năm 16 tuổi, Lê Minh và người chị gái sống với mẹ. Bà tảo tần nuôi con bằng gánh hàng hoa mua từ chợ Gò Vấp mang về bán tại chợ Bà Chiểu. “Thương mẹ nên tôi biết lo thân từ tấm bé. Ngày tôi thi đậu vào trường mỹ thuật, ba mẹ đều rơi nước mắt. Tôi thường xuyên đi học trễ vì đêm nào cũng thức đến 2 giờ sáng vẽ tranh cho báo. Có lần, báo Sài Gòn mới đặt tôi vẽ gấp bức tranh vui cho số báo ra sáng mai. Tối đó, làm việc đến 3 giờ sáng tôi mệt quá ngủ gục, tay quơ đổ lọ mực tàu trên bàn ướt nhẹp bức vẽ. Hoảng hồn, sáng sớm tôi vội vã đạp xe đến tòa soạn báo tin cho chủ báo Bút Trà và bị la một trận nhớ đời. May mà tòa soạn thay bằng bản tin khác. Thời sinh viên, tôi ngập đầu trong công việc nhưng cũng nhờ đó mà kinh tế gia đình khấm khá hẳn lên. Tôi còn sắm cho chị gái cái máy may để học nghề và sinh sống sau này”, ông kể.

Vẽ minh họa, sắm xe hơi

Đầu thập niên 1960, Sài Gòn tràn ngập truyện chưởng Kim Dung. Nhiều tờ báo bắt đầu trích đăng lại với dạng feuilleton. Lúc đó, họa sĩ Lê Minh được biết đến sau rất nhiều tranh minh họa trên các báo Phụ nữ diễn đàn, Phụ nữ ngày mai, Đẹp…, đặc biệt qua các bức vẽ thiếu nữ. Nhiều nhà xuất bản (NXB) như Thế Kỷ, An Hưng, Trung Thành, Hương Hoa, Sống Mới, Tấn Phát… phát hành truyện Kim Dung săn tìm ông đặt vẽ bìa. “Rất nhiều tác giả dịch truyện Kim Dung như Tiền Phong Từ Khánh Phụng, Đồ Mập, Vũ Tài Lục, Hải Âu Tử… nhưng chẳng hiểu sao phải là Hàn Giang Nhạn chuyển ngữ còn tôi vẽ bìa, sách bán mới đắt hàng. Tôi được trả 2.000 đồng cho một bức vẽ bìa. Giá này là cao so với thời đó”, họa sĩ Lê Minh thú nhận.

Vẽ bìa truyện chưởng Kim Dung theo họa sĩ Lê Minh cần tuân thủ một số nguyên tắc mà các NXB quy ước để thu hút độc giả : phải có hình thiếu nữ, vẽ tranh động, không đơn điệu. Giai đoạn này, Sài Gòn cũng có vài họa sĩ vẽ bìa truyện chưởng như Đỗ Phi, Cảnh Thế nhưng nét vẽ không thể so với Lê Minh.

Qua12 năm làm bìa truyện chưởng, Lê Minh nhớ mãi lần vẽ bìa cuốn Tiếu ngạo giang hồ. NXB đặt ông thực hiện gấp bìa có nhân vật Vạn lý độc hành Điền Bá Quang mê ni cô Nghi Lâm. Chưa kịp đọc kỹ bản thảo, nghĩ Điền Bá Quang là kẻ hắc đạo, nhân vật phản diện nên Lê Minh phóng bút vẽ một người hung dữ, đầu tóc râu ria xồm xoàm. Đến khi in bìa xong, ông chủ NXB than trời. “Té ra, Điền Bá Quang trong Tiếu ngạo giang hồ là bạn với Lệnh Hồ Xung. Người thư sinh trắng trẻo, mày râu nhẵn nhụi. Ông chủ NXB kêu trời : Vẽ như vầy là chết tôi rồi”, họa sĩ Lê Minh cười vang.

Ngoài tài vẽ tranh truyện chưởng, họa sĩ Lê Minh còn vẽ tranh tứ bình (truyện 4 cột kèm tranh minh họa, rất được ưa chuộng vào những năm 1950-1960 ở Sài Gòn) kể về những điển tích như Sự tích trầu cau, Bao Công kỳ án, Phạm Công Cúc Hoa, Lâm Sanh Xuân Nương… Ông cũng minh họa nhiều tiểu thuyết của bà Tùng Long, Nguyễn Ngọc Mẫn, Dương Hà…

“Từ số tiền dành dụm qua bao năm vẽ truyện tranh, đặc biệt là bìa truyện chưởng, tôi thành lập tờ báo Em, phát hành tại Sài Gòn những năm 1970. Báo bán chạy lắm, tôi sắm được chiếc xe hơi Simca. Thời đó vậy là bảnh lắm rồi”, ông khoe bằng giọng thật vui.

Ngồi trong ngôi nhà trên đường Lê Quang Định, Q.Gò Vấp của cha mẹ để lại, nay đến lượt ông và con cháu sinh sống, họa sĩ Lê Minh bùi ngùi. Cả đời ông gắn bó với nơi này. Ngôi nhà cất giữ kỷ niệm những ngày ông gò lưng ngồi vẽ báo, kiếm được đồng tiền đầu tiên về phụ giúp mẹ, lo cho gia đình. Con trai út – họa sĩ Lê Phong theo nghiệp bố khiến ông mãn nguyện. Lập gia đình từ năm 1957 nhưng đến giờ theo lời bà Lê Kim Hoa, một y tá trước đây thì : “Ổng chưa bao giờ phản bội vợ con qua ngần ấy năm chung sống. Tôi nghĩ mình là người vợ hạnh phúc”.

75 năm sống trên mảnh đất Sài Gòn, trải qua bao thăng trầm, biến cố, có nhọc nhằn và có cả niềm hân hoan, họa sĩ Lê Minh thổ lộ ông gắn bó nơi này như máu thịt. “Một mảnh đất mình đã chào đời, trải qua thời niên thiếu, rồi thành danh và bây giờ vui vầy với con cháu làm sao không mang cảm giác thân thương ? Tôi tự hào mình là người Sài Gòn lắm”.

Họa sĩ Lê Minh đã tổ chức triển lãm tranh lụa năm 1990 và tranh sơn dầu vào tháng 9.2008 với tên gọi Đất phương Nam tại Sài Gòn. Tranh ông khiến người xem xao lòng trước cảnh làng quê hiền hòa, bờ sông an bình, những con người chất phác. Đặc biệt tranh thiếu nữ đầy nét lãng du, bay bổng, mềm mại. Ông là một trong số ít họa sĩ vẽ tranh minh họa trên báo mang đậm hồn cốt của người Sài Gòn. (theo Đỗ Tuấn)

Bậc thầy vẽ truyện tranh

Đầu năm 1963, khi làn sóng “truyện chưởng” Kim Dung ồ ạt đổ vào miền Nam qua tờ Minh Báo (Hương Cảng), rất nhiều nhật báo Sài Gòn – Chợ Lớn khai thác dịch đăng lại dưới dạng feuilleton (nhiều kỳ) sau đó một số nhà xuất bản (NXB) in thành sách, thời điểm này cũng xuất hiện “tam đại cao thủ” mà tên tuổi gắn liền với tiểu thuyết kiếm hiệp Kim Dung, đó là dịch giả “Tiền Phong” Từ Khánh Phụng và “Thứ Lang” Hàn Giang Nhạn cùng họa sĩ (HS) Lê Minh.

HS Lê Minh tên thật là Lê Ngọc Minh, SN 1937 tại Sài Gòn, mê vẽ tranh từ bé và thần tượng HS Lê Trung – bậc thầy vẽ chân dung thiếu nữ. Ngay từ năm 17 tuổi, chàng trai Lê Minh đã được độc giả biết đến với nét vẽ ấn tượng sống động qua loạt truyện tranh Hoa Lư động chúa đăng trên nhật báo Dân Ta (do thi sĩ Nguyễn Vỹ làm chủ bút), đến khi học năm thứ hai Trường Mỹ nghệ Gia Định, chàng sinh viên Lê Minh đã được rất nhiều nhật báo, tạp chí, tuần báo Phụ Nữ Diễn Đàn, Phụ Nữ Ngày Mai (của Nguyễn Đức Khiết – Kim Châu), Đẹp (của Kim Lệ), Tiếng Dội (của Trần Tấn Quốc), Tiếng Chuông (của Đinh Văn Khai)… tranh nhau mời cộng tác trình bày, vẽ truyện tranh và minh họa.

HS Lê Minh chia sẻ : “Tiểu thuyết kiếm hiệp Kim Dung ở NXB Đại Hưng do dịch giả “Tiền Phong” Từ Khánh Phụng dịch, ông này người Hoa nhưng phát âm giọng Bắc, dịch rất nhanh, câu văn gãy gọn xúc tích. Lúc đó tiền công vẽ một bìa đôi (hai mặt trước sau) 2.000 đồng. Bìa “truyện chưởng” phải vẽ sao cho độc giả nhìn vào là thấy gay cấn hấp dẫn, do đó HS cần tuân thủ một số điều kiện bắt buộc: phải có nhân vật nữ, tranh vẽ phải động, bố cục tựa truyện, tên tác giả và người dịch phải cân đối, màu sắc hài hòa không đơn điệu cũng tránh lòe loẹt !”. Lúc này ở Sài Gòn không hiếm HS vẽ bìa “truyện chưởng” như Đỗ Phi (NXB Trung Thành), Cảnh Thế (NXB Hương Hoa) nhưng nét sống động của nhân vật khó ai bì được với Lê Minh.

Hai kỷ niệm không quên qua 12 năm vẽ bìa “truyện chưởng” của HS Lê Minh. Một lần, đang vẽ gấp bìa Cô gái đồ long nhằm kịp mang ra nhà in “làm bảng kẽm” (cliché) thì đột ngột mất điện, phòng làm việc tối om, nóng bức, ngột ngạt, ông chủ NXB Đại Hưng tự tay thắp nến rồi cầm quạt phe phẩy liên tục cho HS Lê Minh thực hiện nốt hình trang bìa còn dang dở.

Một sáng nọ, ông chủ NXB Đại Hưng yêu cầu HS Lê Minh vẽ bìa Tiếu ngạo giang hồ cảnh một người bị treo cổ lơ lửng trên cành cây. Đọc sơ qua bản dịch của Hàn Giang Nhạn, HS Lê Minh chủ quan nghĩ kẻ bị treo cổ là nhân vật phản diện Điền Bá Quang vì thế đã vẽ một gã “râu ria lông ngực” mặt mũi dữ dằn hung tợn, mắt trợn trừng bị treo cổ tòng teng trên cây tùng. Hôm sau bìa truyện in ra, ông chủ NXB Đại Hưng ôm đầu “than trời” bởi Điền Bá Quang là nhân vật có vẻ ngoài trắng trẻo thư sinh, “mày râu nhẵn nhụi” chứ đâu có râu ria xồm xoàm dữ tợn như hình bìa của HS Lê Minh !

Ngoài minh họa bìa “truyện chưởng” Kim Dung, HS Lê Minh còn vẽ truyện tranh nhiều kỳ (mỗi kỳ vẽ 5 cột báo) Người lấy ma, Vợ chồn… của Bồ Tùng Linh trên nhật báo Thần Chung của chủ bút Nguyễn Kỳ Nam, vẽ tranh tứ bình các điển tích Trung Hoa và Việt Nam như Tấm Cám, Lâm Sanh Xuân Nương, Phạm Công Cúc Hoa, Trầu cau, Vườn đào kết nghĩa, Bao Công kỳ án, Bích câu kỳ ngộ… minh họa bìa và các truyện tranh Hoa Lư động chúa, Đêm biển lạnh lùng, Bên dòng sông Trẹm, Đứa con rơi, Tiếng suối Sau Leng, Hương rừng Cà Mau của nhà văn Dương Hà, Sơn Nam… Sau 1975, HS Lê Minh vẽ truyện tranh Tiết Nhơn Quý chinh đông, Kiếm khách đầu rồng (NXB Mỹ Thuật)…

Năm 1990, trong buổi khai mạc triển lãm tranh Đất phương Nam của HS Lê Minh tổ chức tại Hội Mỹ thuật thành phố, trước những tác phẩm thiếu nữ mang vẻ đẹp mượt mà lãng mạn thuần khiết Á Đông, nhà văn Sơn Nam đã cảm hứng thốt lên câu thơ của Hồ Dzếch : “Trời không nắng trời không mưa / Chỉ hiu hiu gió cho vừa nhớ nhung”. (theo Ngọc Thiện)

Nguyễn Văn Danh post

About these ads

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 48 other followers

%d bloggers like this: